Xu hướng phục hồi tại các nền kinh tế lớn đã được khẳng định hai nền kinh tế mới nổi hàng đầu là Trung Quốc và Ấn Độ đang đóng vai trò là động lực chính cho tiến trình phục hồi của kinh
Trang 11
NHỮNG DIỄN BIẾN MỚI CỦA KINH TẾ THẾ GIỚI TỪ SAU KHỦNG HOẢNG
TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
I Tóm lược tình hình kinh tế thế giới từ sau khủng hoảng
Cho tới giữa năm 2010, tình hình kinh tế thế giới vẫn diễn ra hết sức phức tạp Xu hướng phục hồi tại các nền kinh tế lớn đã được khẳng định (hai nền kinh tế mới nổi hàng đầu là Trung Quốc và Ấn Độ đang đóng vai trò là động lực chính cho tiến trình phục hồi của kinh tế thế giới) nhưng không đồng đều và không chắc chắn, tốc độ phục hồi của các nền kinh tế là rất khác nhau, những tín hiệu tốt xấu đan xen liên tục và những lo ngại về khủng hoảng nợ tại châu Âu vẫn chưa chấm dứt Kinh tế Mỹ và châu Âu dù đang khởi sắc nhưng với tốc độ chậm hơn dự báo trước đó, trong khi đó châu Á vẫn tiếp tục là động lực và đang phục hồi nhanh chóng vượt trội Có thể nói, quá trình hồi phục của kinh tế thế giới đã được khẳng định, dù khi này khi khác vẫn còn những nghi ngại và cần nhiều thời gian để khắc phục và vượt qua
Báo cáo triển vọng kinh tế toàn cầu ngày 21/4/2010 của IMF nhận định rằng việc giải quyết vấn đề nợ công đang ở mức quá cao đòi hỏi nhiều nỗ lực và các biện pháp quyết liệt của các Chính phủ cũng như cần nhiều thời gian hơn dự tính IMF cũng dự báo tình trạng thất nghiệp toàn cầu vẫn ở mức cao trong năm 2010 và 2011 và Chính phủ các nước vẫn phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế để giảm tỉ lệ thất nghiệp IMF cho rằng việc giải quyết vấn đề thất nghiệp là thách thức chính sách lớn nhất khi kinh tế toàn cầu thoát ra khỏi
thời kỳ suy thoái tệ hại nhất từ chiến tranh thế giới thứ hai Như vậy, mặc dù tăng trưởng
đã trở lại, nhưng sự phục hồi diễn ra không đồng đều và không chắc chắn, tỉ lệ thất nghiệp tại nhiều nước vẫn cao quá mức cho phép và tác động xã hội của cuộc khủng hoảng vẫn còn tồn tại nhiều nơi Do đó, ưu tiên cao nhất hiện nay vẫn là tăng cường phục
hồi kinh tế, khôi phục việc làm, cải cách và tăng cường các hệ thống tài chính và tạo sự tăng trưởng toàn cầu mạnh mẽ, bền vững và cân bằng
Trang 2Dự báo ngày 21/4/2010
Nguồn : IMF, Báo cáo triển vọng
kinh tế toàn cầu ngày 26/1/2010 và
21/4/2010
Tiếp theo báo cáo tháng 1/2010 về triển vọng kinh
tế thế giới, vừa qua IMF tiếp tục nâng mức dự báo
về kinh tế thế giới và một số nền kinh tế lớn trong năm 2010 và 2011 khi nhận định khủng hoảng kinh tế đã qua và kinh tế các nước đã phục hồi nhanh hơn dự đoán Kinh tế thế giới, theo dự báo ngày 21/4 của IMF, tăng trưởng 4,2% trong năm
2010 (cao hơn mức 3,9% trong dự báo tháng 1) và giữ nguyên mức dự báo tăng trưởng 4,3% trong năm 2011 Những nền kinh tế lớn nhất của thế giới (trừ các nước khu vực châu Âu) tiếp tục được
dự báo tăng trưởng cao hơn so với dự báo tháng 1
của IMF (chi tiết xem bảng) Cùng với nhận định
lạc quan của IMF, Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cũng cùng chung nhận định kinh tế toàn cầu đang có nhiều tín hiệu phục hồi rất tích cực, trong đó châu Á vẫn tiếp tục là động lực chính cho sự phục hồi
Tại Mỹ, kinh tế Mỹ đang có những dấu hiệu phục hồi và đà hồi phục tỏ ra vững
chắc, bất chấp khủng hoảng nợ ở châu Âu và GDP quý I của Mỹ bị điều chỉnh xuống 2 lần
từ 3,2% xuống 3% và mới đây chính thức điều chỉnh xuống chỉ còn 2,7% Trong 6 tháng đầu năm 2010 tỉ lệ việc làm tăng trưởng liên tiếp, hoạt động sản xuất công nghiệp được mở rộng, số lượng nhà bán, số lượng đặt hàng hoá lâu bền tiếp tục tăng; chỉ số tiêu dùng và
Trang 3nền kinh tế Mỹ là (i) nợ công của Mỹ ở mức quá cao (ii) thâm hụt ngân sách bang quá cao,
(iii) năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế Mỹ còn thiếu hụt
và (iv) cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp hiện nay cũng sẽ tác động tới ngành xuất khẩu Mỹ và
hệ thống tài chính quốc tế, từ đó sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế Mỹ
Thị trường tài chính Mỹ vẫn chưa thực sự thoát khỏi khủng hoảng khi số các ngân hàng Mỹ bị phá sản tiếp tục tăng cao Trong 7 tháng đầu năm 2010, tại Mỹ đã có thêm 102 ngân hàng phá sản, mặc dù đây chủ yếu là các ngân hàng nhỏ và ngân hàng địa phương1 Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC) dự đoán số lượng các ngân hàng Mỹ sụp đổ sẽ đạt mức cao nhất trong quý III/20102 và việc các ngân hàng sụp đổ sẽ tiêu tốn khoảng 60 tỷ USD trong khoảng thời gian 2010 - 2014
Trước tình hình trên, ngày 21/7/2010, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã ký dự luật
"Bảo vệ người tiêu dùng và cải cách Phố Wall Dodd-Frank" nhằm bảo vệ người tiêu dùng
và đảm bảo sự ổn định kinh tế tốt hơn Đây là đạo luật cải cách mạnh mẽ và sâu rộng nhất
kể từ thời kỳ đại suy thoái những năm 1930 tới nay và được xem là một bước ngoặt mang tính lịch sử, khi đánh giá lại toàn bộ các quy định trong hệ thống tài chính Mỹ Theo đó, đạo luật Dodd-Frank sẽ ngăn chặn các công ty có khả năng đe doạ tới nền kinh tế, thành lập một cơ quan mới bảo vệ người tiêu dùng và giám sát chặt chẽ hơn thị trường tài chính
Tại châu Âu, kinh tế khu vực này quý I tăng trưởng 0,2% so với quý IV/2009, là
mức cao hơn kỳ vọng nhưng thấp hơn nhiều so với các nước và khu vực còn lại Mặc dù
EU và Chính phủ các nước vẫn đang nỗ lực đưa nền kinh tế khu vực châu Âu thoát ra khỏi khủng hoảng nhưng vấn đề thâm hụt ngân sách, nợ công và thất nghiệp là những trở ngại cho sự phục hồi của khu vực châu Âu nói riêng và kinh tế thế giới nói chung Vấn đề ở châu
Âu là khủng hoảng nợ công ngày càng lan rộng mặc dù lãnh đạo khu vực Eurozone đã phê chuẩn gói cứu trợ 750 tỉ Euro (tương đương khoảng gần 1.000 tỉ USD) nhằm tránh nguy cơ
khủng hoảng nợ công gây đổ vỡ nền kinh tế khu vực này (Chi tiết sẽ được đề cập trong
phần II)
1 Trong năm 2009, 2008 và 2007 số ngân hàng ở Mỹ bị phá sản lần lượt là 140, 25 và 3.
2 Dự báo trong 2010 sẽ có khoảng 200 ngân hàng Mỹ bị phá sản
Trang 44
Tại châu Âu hiện nay, các động lực cho tăng trưởng, đặc biệt là cầu nội địa đã chững lại khiến kinh tế các nước này được dự báo sẽ không tăng trưởng mạnh trong những tháng tới và cho đến tận năm 2011 EU cũng cảnh báo rằng mọi thứ có thể sẽ còn xấu hơn nữa nếu cuộc khủng hoảng ngày càng sâu sắc và thị trường lao động còn tiếp tục ảm đạm, tỉ lệ thất nghiệp trong khu vực châu Âu tiếp tục gia tăng
Tại châu Á, theo đánh giá của IMF, WB và ADB, các nền kinh tế châu Á đã có
những bước tăng trưởng ngoạn mục Cả ba tổ chức trên đều tiếp tục khẳng định sự phục hồi của châu Á đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu Những số liệu về tăng trưởng GDP quý I của các nước châu Á càng củng cố cho các nhận định trên3 Các nước châu Á được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh với mức tăng khoảng 8,7%, trong đó các đầu tầu kinh tế như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, ASEAN đang có những bước phục hồi ấn tượng, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu nhờ sự phục hồi của kinh tế thế giới
Tuy nhiên, các nước châu Á cũng đối mặt với thách thức lạm phát và bong bóng tài sản Chính sự phục hồi mạnh mẽ của kinh tế châu Á đã thu hút những dòng vốn lớn đổ vào khu vực, trong khi đó khả năng hấp thụ vốn của nhiều nền kinh tế trong khu vực còn rất hạn chế có thể dẫn tới luồng tiền chảy vào sẽ đổ sang thị trường chứng khoán hoặc bất động sản, gây ra các bong bóng và bắt đầu một giai đoạn mới của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Như vậy, có thể thấy những chính sách kinh tế của các Chính phủ đã có tác dụng tích cực đưa thế giới khỏi khủng hoảng, kinh tế nhiều nước trên thế giới tiếp tục đi vào
ổn định Tuy nhiên, sự phục hồi diễn ra không đồng đều và không chắc chắn, vấn đề nợ công, tỉ lệ thất nghiệp tại nhiều nước vẫn cao quá mức cho phép và tác động xã hội của cuộc khủng hoảng vẫn còn tồn tại nhiều nơi
Vấn đề nợ công và thâm hụt ngân sách tại châu Âu
Ủy ban châu Âu (EC) cho rằng giai đoạn suy thoái kinh tế tồi tệ nhất ở khu vực này
đã đi qua và nền kinh tế khu vực này sẽ dần phục hồi trong năm 2010, tỉ lệ thất nghiệp và thâm hụt ngân sách sẽ giảm dần và các doanh nghiệp sẽ làm ăn có hiệu quả Tuy nhiên, so với các nền kinh tế châu Á, Mỹ đang có những bước phục hồi ngoạn mục thì sự phục hồi của châu Âu vẫn ở mức rất khiêm tốn Cuộc khủng hoảng nợ ngày càng lan rộng trong khối
EU khiến những lo ngại về sự sụp đổ của hệ thống tài chính châu Âu và nghiêm trọng hơn
là sự vỡ nợ của một số quốc gia và hệ thống đồng tiền chung châu Âu ngày càng trở nên rõ nét hơn
Nguy cơ khủng hoảng tại châu Âu đã có nhiều dấu hiệu từ trước, khi Hy Lạp có dấu hiệu vỡ nợ, thâm hụt ngân sách đứng ở mức cao dẫn đến ngân sách công của các nước PIIGS
3
Quý 1/2010, kinh tế Nhật tăng trưởng 4,9%, mức tăng trưởng cao nhất trong gần 1 năm nhưng cao nhất là Trung Quốc với mức tăng trưởng 11,9%.
Trang 55
(Bồ Đào Nha, Ailen, Italy, Hy lạp, Tây Ban Nha) ngày càng thu hẹp Những số liệu thống kê
cho thấy nợ công và thâm hụt ngân sách tại hầu hết tất cả các nước khu vực này đã vượt quá tỉ lệ quy định lần lượt là 60% và 3% GDP (chi tiết xem biểu đồ) Nghiêm trọng hơn, tỉ
lệ này được dự đoán là sẽ tiếp tục gia tăng trong năm 2010 và 20114 Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là các nước đã phải chi tiêu quá nhiều tiền để giảm bớt tác động xấu của khủng hoảng Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa hơn đó là sự nóng vội và buông lỏng trong việc thực hiện các quy định của các nước để đủ điều kiện gia nhập liên minh
Bảng thâm hụt ngân sách
một số nước châu Âu (% GDP)
Bảng nợ công một số nước châu Âu
(% GDP)
Nguồn : Báo cáo của Ủy Ban Châu Âu, Bloomberg và Crédit Agricole
Tương tự như Hy Lạp, nhiều nước trong khối EU cũng có biểu hiện bất ổn và danh sách các quốc gia này vẫn chưa dừng lại Tuy nhiên, chỉ khi tình hình tại Hy Lạp thực sự trầm trọng thì EU mới bắt đầu thảo luận giải pháp Trên thực tế, do những bất đồng giữa
4
Dự báo thâm hụt ngân sách và nợ công trung bình của các quốc gia trong khối EU sẽ tăng từ 6% và 79% GDP năm
2009 lên 7% và 88% vào năm 2011
Mức yêu cầu 3%
Mức yêu cầu 60%
Châu Âu Đức Pháp Ý Tây Ban Nha
Bồ Đào Nha
Hà Lan Bỉ Ai-len
Hy Lạp
Trang 66
các quốc gia và bất đồng trong nội bộ của từng nước (Đức, Pháp) nên quá trình cứu trợ Hy Lạp rất chậm trễ, các bên luôn đẩy trách nhiệm cho nhau và không thống nhất được cách thức và biện pháp cứu trợ Sự chậm trễ chủ yếu do những tranh cãi về số tiền các bên đóng góp để cứu trợ Hy Lạp cũng như các bất đồng về các điều kiện kèm theo đối với Hy Lạp Ngay cả Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng không thể làm đầu não giải quyết bất đồng giữa các quốc gia hay trực tiếp chỉ đạo thực hiện một biện pháp khả thi nào
Chỉ khi cuộc khủng hoảng có nguy cơ ngày càng lan rộng, khiến liên minh tiền tệ khu vực châu Âu có khả năng tan vỡ, các nước mới thực sự nghiêm túc khi thảo luận các biện pháp cứu trợ Hy Lạp Sau khoảng 1 tháng lãnh đạo các nước mới ra tuyên bố sẽ làm bất kỳ điều gì cần thiết để đảm bảo sự ổn định kinh tế của khu vực và phê chuẩn gói cứu trợ
750 tỉ Euro nhằm tránh nguy cơ khủng hoảng nợ công gây đổ vỡ nền kinh tế khu vực này5
Như vậy, số tiền mà EU phải bỏ ra nhằm tránh nguy cơ khủng hoảng nợ công, gây
đổ vỡ nền kinh tế khu vực này là con số khổng lồ so với dự tính ban đầu Hầu hết các nhà phân tích đều chung nhận định cho rằng gói cứu trợ khổng lồ này chỉ có tác dụng giúp các quốc gia yếu kém trong khu vực Eurozone có thêm thời gian, chứ không thể giải quyết được vấn đề nợ cơ bản ở châu lục này Sự hỗn loạn trên thị trường hiện nay chỉ có thể được cứu vãn, nếu 16 nước thành viên Eurozone cải tổ hệ thống kinh tế của họ và giảm thâm hụt ngân sách Hơn nữa, không chỉ riêng Hy Lạp cần được cứu, mà ngày càng nhiều người tin rằng EU, IMF và ECB cần phải tung ra khoản cứu trợ lớn hơn để giúp các nước khác như
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý Nếu tình hình xấu hơn là cả Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha rồi
Ý cũng cần phải ứng cứu thì liệu chăng EU có đủ sức cứu không? Bởi vì nợ công hiện tại của Hy Lạp chỉ 236 tỉ USD, là số rất nhỏ so với mức 1.100 tỉ USD của Tây Ban Nha hay 1.400 tỉ USD của Ý
Nhìn lại năm 2008, khi cuộc khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ cho vay nợ dưới chuẩn tại Mỹ lan rộng, chính phủ Mỹ đã liên tục bơm tiền ra để ứng cứu nền kinh tế, khởi đầu là gói cứu trợ 700 tỉ USD của Chương trình giải trừ các tài sản xấu (TARP) Tuy nhiên gói cứu trợ này và hàng loạt gói khác tiếp theo dùng để giải cứu hệ thống tài chính không đạt được mục tiêu mong muốn6 Thậm chí các gói cứu trợ còn làm thị trường biến động liên tục theo chiều hướng tiêu cực và được xem như tiền đề cho khủng hoảng hiện nay ở châu
Âu do khu vực này cũng vay nợ để bơm tiền vào nền kinh tế Bởi vậy việc gói cứu trợ khổng lồ của châu Âu được thông qua không những không đem lại niềm tin cho thị trường
mà còn cho thấy mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng nợ tại châu Âu và làm gia tăng mối
Trang 7Âu được thành lập, các nước này chỉ muốn xây dựng một liên minh về tiền tệ mà không thành lập một liên minh chính trị, tức là chỉ đồng ý thiết lập NHTW châu Âu, chứ không muốn cùng các cơ quan chia nhau quyền thu thuế, đây được coi là điểm mấu chốt dẫn tới những vấn đề về nợ công và thâm hụt ngân sách nặng nề tại khu vực châu Âu hiện nay Chính vì vậy, mặc dù Chính phủ các nước đều bày tỏ quyết tâm giúp đỡ Hy Lạp và tuy nhiên, các nước đều rất khó khăn khi đưa ra các cam kết giúp đỡ tài chính cụ thể Một số phân tích còn cảnh báo trừ khi khu vực EU có thể từng bước mở rộng nền tảng hợp tác chính trị trong khu vực, nếu không toàn bộ liên minh các nước sử dụng chung đồng Euro có thể sẽ sụp đổ hoàn toàn
Như vậy, châu Âu đang đứng trước những thách thức lớn và chỉ khi những nguyên nhân căn bản được giải quyết thì những rắc rối mới không nảy sinh Các phân tích đã cảnh báo rằng cho dù EU có thể giải quyết được cuộc khủng hoảng nợ lần này của Hy Lạp, nhưng trong tương lai chắc chắn vẫn sẽ phải đối mặt với một thử nghiệm lớn hơn nếu vẫn chưa thành lập được liên minh cả về kinh tế và chính trị
Đánh giá, nhận định về những giải pháp ứng phó và dự báo diễn biến mức độ ảnh hưởng lan toả tiếp theo trong thời gian tới
Khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ nước Mỹ đã lan rộng khắp thế giới với những ảnh hưởng nặng nề buộc chính phủ các nước phải chi rất nhiều tiền để hạn chế những tác động tiêu cực Có thể khẳng định giai đoạn tồi tệ nhất của khủng hoảng đã qua đi nhưng những tác động của nó vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi Nước Mỹ là nơi khởi nguồn cuộc khủng hoảng nhưng đến nay kinh tế Mỹ đang có những dấu hiệu phục hồi và đà hồi phục tỏ
ra vững chắc, bất chấp khủng hoảng nợ ở châu Âu Hơn nữa, các nhà lập pháp Mỹ đã có những đạo luật mang tính lịch sử để cải cách mạnh mẽ và sâu rộng hệ thống tài chính Mỹ Trong khi đó, châu Âu với những nhược điểm về cơ chế tài chính như đã phân tích ở trên sẽ vẫn phải đối mặt với những thách thức và khó có thể giải quyết tận gốc nếu không có sự đồng lòng, hợp tác và đưa ra đạo luật để giải quyết một cách triệt để các khó khăn tương tự như ở Mỹ
(1) Đánh giá chung về các biện pháp ứng phó khủng hoảng tài chính của các
nước
Sự lan rộng của khủng hoảng khiến cho Chính phủ nhiều nước phải bắt tay vào đối phó khủng hoảng nhằm hạn chế tác động xấu của khủng hoảng tài chính Tuy nhiên các biện pháp ứng phó khủng hoảng tài chính của các Chính phủ trong thời gian vừa qua còn
Trang 88
mang tính cục bộ quốc gia, chưa cho thấy mối quan hệ hợp tác ứng phó đối với khủng hoảng trên phạm vi khu vực và thế giới Cụ thể có một số biện pháp ứng phó với khủng hoảng đã được thực hiện như sau :
STT Các biện pháp ứng phó của Chính phủ các nước
01 Quốc hữu hoá toàn bộ hoặc một phần ngân hàng và quỹ tư nhân
02 Kiểm soát các quỹ đầu tư
03 Mua cổ phần hoặc tài sản từ các tổ chức tài chính
04 Bãi bỏ thuế đối với các khoản đầu tư nước ngoài
05 Hạ lãi suất cơ bản
06 Vay tiền từ tổ chức tài chính quốc tế
07 Bảo lãnh tất cả các khoản tiền gửi, trái phiếu và nợ của một số ngân hàng
lớn trong 02 năm
08 Khuyến khích sáp nhập ngân hàng yếu kém
09 Cho phép một số ngân hàng tuyên bố phá sản
10 Mua lại các khoản nợ của các ngân hàng đang có vấn đề hoặc bị phá sản
11 Cấp tiền cho ngân hàng để trả các khoản nợ nước ngoài
12 Huy động tiền từ các nhà đầu tư toàn cầu để chống đỡ cơn khủng hoảng
13 Nới lỏng quy định cho phép các công ty mua cổ phiếu của chính họ
Nhìn nhận về các biện pháp ứng phó khủng hoảng của các nước cho thấy đằng sau
nó là một số vấn đề then chốt như sau :
- Thứ nhất : Duy trì niềm tin cho các nhà đầu tư, người dân về chính sách hỗ trợ của Chính phủ đối phó với khủng hoảng
Chính phủ các nước đã đổ rất nhiều tiền vào các gói giải pháp ứng phó khủng hoảng Tuy nhiên, niềm tin vào hiệu quả do các chính sách đó mang lại đối với đầu tư và người dân chưa thật sự cao Thị trường tài chính thế giới vẫn ảm đạm : thị trường chứng khoán sụt giảm, thị trường bất động sản không khởi sắc và thiếu tính thanh khoản, thị trường tiền tệ ngân hàng vẫn còn trong giai đoạn chờ đợi phục hồi
- Thứ hai : Phòng chống rủi ro đỗ vỡ thanh khoản toàn hệ thống tài chính, đặc
biệt là đổ vỡ khủng hoảng cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn
Việc hỗ trợ của Chính phủ đối phó với khủng hoảng nợ cho vay thế chấp dưới tiêu chuẩn đã được thực thi thông qua nhiều biện pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính của
Trang 99
các tổ chức tài chính và ngân hàng như quốc hữu hoá ngân hàng, khuyến khích sáp nhập ngân hàng, mua lại các khoản nợ của các ngân hàng có vấn đề hoặc bị phá sản,…
Biện pháp này đã và đang phát huy tác dụng về mặt ngăn ngừa tác động ảnh hưởng
đổ vỡ hệ thống tài chính Thế nhưng chi phí cho gói giải pháp này vẫn đang tiếp tục tăng lên và chưa có dấu hiệu kết thúc, điển hình là danh sách ngân hàng và các tổ chức tài chính cần được hỗ trợ không ngừng tăng lên và mức độ bơm tiền của Chính phủ vào hệ thống tài chính lại tuỳ thuộc vào khả năng của từng Chính phủ khi thi hành biện pháp này
- Thứ ba : Khủng hoảng tín dụng lan sang khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế
Một thực tế cho thấy việc ứng phó khủng hoảng trong thời gian qua của Chính phủ
đã không lường hết tính liên thông thị trường của hệ thống tài chính Khủng hoảng cho vay cầm cố dưới chuẩn làm năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng và các quỹ đầu tư bất động sản trở nên yếu kém Các tổ chức tài chính và ngân hàng liên tiếp tuyên bố lỗ và trông chờ ứng cứu của Chính phủ hoặc phải sáp Cuộc khủng hoảng sau đó đã lan nhanh sang các nước khác và ảnh hưởng của nó không chỉ trong phạm vi quốc gia mà trên cả thế giới với nhiều mức tác động khác nhau tuỳ theo tình hình cụ thể của từng quốc gia
- Thứ tư : Hiệu ứng của khủng hoảng kinh tế tài chính và vấn đề an sinh xã hội
Khủng hoảng kinh tế tài chính đã tác động không nhỏ đến vấn đề an sinh xã hội như làm cho thất nghiệp gia tăng, thu nhập của dân cư giảm và đầu tư hạn chế Vấn đề này đã khiến cho Chính phủ các nước ngoài việc thực thi các biện pháp ứng phó khủng hoảng còn phải chi thêm tiền cho các tác động ảnh hưởng của khủng hoảng, cụ thể :
- Ứng cứu ngân hàng và các tổ chức tài chính còn phải tăng thêm chi phí cho bảo hiểm xã hội, hỗ trợ những người bị thất nghiệp
- Hỗ trợ thanh khoản cho các khoản nợ dưới tiêu chuẩn ngoài việc tăng tính thanh khoản và tăng năng lực tài chính cho ngân hàng, còn là việc giãn nợ cho người dân đang nợ tiền ngân hàng để mua nhà nhưng không trả được nợ, góp phần hạn chế sự tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính lên nhóm đối tượng đang gặp khó khăn này
- Tăng cường chi tiêu cho hoạt động tái dạy nghề cho những người bị thất nghiệp nhằm giúp họ chuyển hướng nghề nghiệp mới trong giai đoạn kinh tế khó khăn, thất nghiệp gia tăng
(2) Dự báo diễn biến, mức độ ảnh hưởng lan toả tiếp theo trong thời gian tới
Hệ thống tài chính đã ổn định, nhưng những căng thẳng mà tình hình tài khoá, cải cách và việc từ bỏ chính sách hỗ trợ gây ra vẫn còn ở phía trước Những rủi ro hệ thống tiếp tục giảm đi nhờ các nền tảng kinh tế đã được cải thiện và hỗ trợ chính sách công lớn vẫn đang thực hiện Cho dù có những cải thiện thì sự ổn định tài chính vẫn còn rất mong manh tại nhiều nước đã phát triển và một số các nước thị trường mới nổi chịu tác động mạnh của
Trang 1010
khủng hoảng Ưu tiên hàng đầu là cải thiện sức khoẻ của các hệ thống ngân hàng này để đảm bảo là kênh tín dụng hoạt động bình thường trở lại Việc chuyển các rủi ro tài chính sang các bảng cân đối của chính phủ và các mức nợ công cao hơn cũng bổ sung thêm vào những rủi ro ổn định tài chính và làm phức tạp quá trình từ bỏ các hỗ trợ kinh tế
Về tổng thể, việc rời bỏ các biện pháp hỗ trợ chưa từng có tiền lệ được thực hiện trong thời gian khủng hoảng để sang một hệ thống tài chính an toàn hơn là cần thiết nhằm
hỗ trợ cho sự tăng trưởng bền vững Đạt được sự cân bằng giữa tính an toàn và tính năng động sẽ không phải là chuyện dễ dàng Điều này đòi hỏi phải có sự chú ý đặc biệt từ phía các nhà hoạch định chính sách Các nhà hoạch định chính sách cũng nên tránh các rủi ro gắn với việc triển khai quá nhanh quy định điều tiết mới mà không có các nghiên cứu thích đáng xem liệu ảnh hưởng chung của chúng thế nào Để cải cách chính sách thành công, các quy định an toàn vĩ mô và vi mô sẽ phải bổ sung cho nhau và giúp giảm thiểu có hiệu quả các rủi ro hệ thống Chỉ khi đó hệ thống tài chính có thể thực hiện được tốt chức năng của
nó - trung gian các luồng vốn giữa bên tiết kiệm và bên đi vay theo các cách giúp cải thiện
sự tăng trưởng kinh tế bền vững và ổn định tài chính
II Đánh giá tổng quan tác động của kinh tế thế giới đến kinh tế Việt nam
1 Tác động của kinh tế thế giới và yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế của Việt nam
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới không tránh khỏi sự ảnh hưởng từ diễn biến kinh tế toàn cầu Những tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế thế giới trước đây (từ tháng 9/2008) đối với Việt Nam được đánh giá là ít hơn các nước khác trong khu vực, nền kinh tế chỉ mới chững lại nhưng chưa rơi vào suy thoái Sớm nhận thức được ảnh hưởng của khủng hoảng, từ đầu Quý IV/2008, Chính phủ đã chuyển mục tiêu
từ ưu tiên kiềm chế lạm phát sang ưu tiên ngăn chặn suy giảm tăng trưởng, coi trọng ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng kể trong năm 2009 như kiềm chế được lạm phát ở mức 6,52%, tăng trưởng GDP đạt 5,32% trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng âm, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tuy nhiên hầu hết các lĩnh vực liên quan đến thế giới đều bị tác động mạnh, trong đó, giá trị xuất khẩu giảm 9,7% trong năm 2009, du lịch giảm 15,4%, thu hút vốn đầu tư nước ngoài giảm trên 70% Trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, cụ thể Việt nam đã gia nhập AFTA và WTO Việc hội nhập kinh tế thế giới sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam thông qua hai thị trường chính là thị trường hàng hoá, dịch vụ và thị trường tài chính
Trang 1111
Cuối Quý II/2009, các tín hiệu
lạc quan về tình hình kinh tế thế
giới và các nước lớn đã xuất hiện
ngày càng nhiều hơn, kinh tế thế
giới dần hồi phục Tại Việt nam,
tăng trưởng kinh tế hồi phục rõ nét
với tốc độ tăng trưởng GDP tăng
dần qua từng Quý : Quý I (3,1%),
quý II (4,5%), quý III (5,8%) và
tế, ổn định vĩ mô năm 2010 Nổi bật là thông điệp đầu năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ
đã xác định rõ trọng tâm 5 giải pháp nhiệm vụ cho năm 2010, làm kim chỉ nam cho các Bộ ban ngành lên kế hoạch thực hiện Trong đó nhóm nhiệm vụ thứ 2 "tập trung thúc đẩy đầu
tư, phát triển sản xuất kinh doanh và tái cấu trúc nền kinh tế", theo chúng tôi, là chìa khoá
cánh cửa tăng trưởng bền vũng, ổn định về lâu về dài
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới Đông Á được tổ chức ngày 06/06/2010 đã khẳng định : "Trong giai đoạn hậu khủng hoảng, mỗi quốc gia cần dựa vào thị trường trong nước hơn nhưng vẫn hướng tới xuất khẩu để phát triển cân bằng hơn, hiệu quả hơn và bền vững hơn Để đẩy mạnh nhu cầu nội địa, Việt Nam phải đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao vì chỉ khi tăng trưởng cao, đời sống người dân được cải thiện thì thị trường trong nước mới được mở rộng Mở rộng thị trường trong nước đi liền với đẩy mạnh xuất khẩu qua đó từng bước cân bằng để có cơ cấu, mô hình phát triển bền vững hơn"
Mục tiêu cuối cùng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và từng sản phẩm Nhìn vào đặc thù nền kinh tế nước ta, để đạt được mục tiêu đó phải chuyển đổi cơ bản từ một nền kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ, lạc hậu sang một nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại; một nền công nghiệp chủ yếu dựa trên khai thác tài nguyên khoáng sản và lắp ráp, gia công sang các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến Đặc biệt, phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao Tái cấu trúc nền kinh tế là yêu cầu thường xuyên của bất cứ nền kinh tế nào, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động càng đòi hỏi mỗi quốc gia có sự linh hoạt, năng động để thích ứng
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu và trong điều kiện kinh tế thế giới chưa thật sự hồi phục sau khủng hoảng, việc tái cơ cấu nền kinh tế nước ta phải giải
Trang 1212
quyết các vấn đề lớn sau : (1) tạo nền tảng vững chắc để chuyển dịch cơ cấu kinh tế bằng cách tạo ra sự cải cách đột biến về thể chế, hoàn thiện hơn nữa thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với lộ trình cam kết WTO; (2) phát triển cơ sở
hạ tầng, thúc đẩy đầu tư một cách thông suốt cả về chiều sâu và trên diện rộng; và (3) phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế
2 Khái quát các kết quả kinh tế đạt được trong 6 tháng đầu năm 2010
Cùng với sự hồi phục của kinh tế thế giới, kinh tế Việt nam 6 tháng đầu năm 2010 đã
có những nét khởi sắc Trong 6 tháng đầu năm 2010, Chính phủ đã điều chỉnh chính sách điều hành nền kinh tế hướng về mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng bền vững Trong các phiên họp thường kỳ hàng tháng, Chính phủ đều tổng kết tình hình thực tế và ban hành các quyết sách kịp thời Tiêu biểu nhất là Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06/4/2010 về bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao, đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 6,5% trong năm 2010 Bên cạnh đó là Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 07/5/2010, Chính phủ điều chỉnh mục tiêu phấn đấu kiềm chế lạm phát ở mức 8% và yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải có biện pháp phù hợp để khẩn trương hạ lãi suất huy động xuống khoảng 10% và lãi suất cho vay khoảng 12% Tổng hợp kết quả đạt được cũng như những điểm còn hạn chế trong 6 tháng đầu năm 2010 như sau :
Những nét tích cực : Nền kinh tế phục hồi tăng trưởng khá nhanh và khởi sắc
Tăng trưởng GDP đạt mức khá cao và trên cả 3 ngành công nghiệp, dịch vụ và nông
lâm nghiệp, thuỷ sản
Lượng vốn FDI giải ngân vẫn duy trì tốc độ khá, đạt khoảng 50% kế hoạch năm;
lượng vốn ODA giải ngân đạt 57% kế hoạch năm
Lạm phát được kiểm soát chặt chẽ, không tăng cao dưới áp lực tăng trưởng tín dụng
đột biến gần 38% năm 2009
Căng thẳng thanh khoản của hệ thống ngân hàng được giải quyết nhờ NHNN đã chủ
động bơm vốn với khối lượng lớn thông qua OMO, tái cấp vốn
Thị trường ngoại hối thanh khoản tốt, nguồn cung hết sức dồi dào
Những điểm hạn chế :
Chưa có sự bứt phá về thu hút vốn FDI, lượng vốn đăng ký còn rất hạn chế, chỉ đạt
1/3 kế hoạch năm
Thâm hụt thương mại tiếp tục xấu đi do tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu mặc dù
được cải thiện nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của nhập khẩu
Tăng trưởng tín dụng ở mức thấp, mới đạt 41% so với kế hoạch năm
Mức lãi suất huy động và lãi suất cho vay khá cao vẫn tồn tại khi lộ trình giảm lãi
suất "vào 10, ra 12" bắt đầu được triển khai
Trang 13Thâm hụt 12-13 tỉ
USD (Xuất khẩu tăng 6%, Nhập khẩu tăng 5-
6%)
Thâm hụt 6,8 tỉ USD (Xuất khẩu tăng 15,7%
Nhập khẩu tăng 29,4%)
FDI đăng ký 21,48 tỉ USD 22-25 tỉ USD 8,43 tỉ USD
FDI giải ngân 10,73 tỉ USD 10-11 tỉ USD 5,4 tỉ USD
ODA giải ngân 1,99 tỉ USD 2,47 tỉ USD 1,41 tỉ USD
Dao động trong khoảng 7-9%
Giữ nguyên mức 8% Từ tháng 2/2010 áp dụng cơ chế LS thoả thuận đối với cho vay TDH và từ tháng 4/2010 áp dụng cơ chế LS thoả thuận đối với cho vay ngắn hạn
Tỷ giá USD/VND
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng dao động từ 16.934-17.961
VND giảm gía khoảng 3% so với
USD
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 3,36% lên mức 18.544 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt nam 6 tháng đầu năm 2010 cho thấy, mặc dù đã có bước phục hồi nhanh, vững chắc, nhưng kinh tế Việt nam vẫn còn nhiều khó khăn phải đối mặt, nhất là trước các ảnh hưởng, tác động từ diễn biến kinh tế thế giới sau khủng hoảng tới các lĩnh vực như xuất khẩu khó khăn, FDI suy giảm, luồng vốn đầu tư gián tiếp hạn chế, đòi hỏi Chính phủ phải có sự theo dõi, phân tích và có giải pháp linh