Nếu tính cả loài vừa phát hiện: P.blaoensis Lê Xuân Thám, 1999, được khảo cứu kỹ trong nghiên cứu này, và một số loài đang xếp trong các chi gần gũi khác thì số loài nấm Bàongư ở Việt na
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn thầy PGs Ts Lê Xuân Thám (Viện hạt nhân
Tp HCM), đã tận tình hướng dẫn, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thờigian hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Chế Biến trường ĐH Nha Trang đã tạo điềukiện tốt cho tôi được thực hiện tốt đề tài
Xin chân thành cảm ơn các Thầy cô ở bộ môn Công Nghệ Sinh Học tr ường ĐHNha Trang đã giúp đỡ tôi thực hiện tốt đề tài
Xin cảm ơn cô Trần Lê Thu Thảo, giám đốc công ty TNHH – TM DoNa, cùngcác anh chị trong công ty đã tạo cho tôi cơ sở để nghiên cứu tốt đề tài
Xin cảm ơn anh Phạm Ngọc Dương, Vườn Quốc gia Cát Tiên đã giúp đỡ tôitrong kỹ thuật thực hành trong thời gian chúng tôi đi khảo sát nấm tại V ườn
Xin chân thành cảm ơn Bố mẹ cùng những người thân đã cho tôi một điều kiệntốt nhất về mặt tinh thần, vật chất, giúp tôi ho àn thành tốt khóa học
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tập thể lớp 45CNSH và các bạn đã giúp đỡ tôi trongthời gian vừa qua
Tp Hồ Chí Minh, 10/2007
Hoàng Hoài Sơn
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Ở Việt nam, cho đến nay đã ghi nhận khoảng 15 loài nấm bào ngư (Trịnh Tam
Kiệt, 1998; Lê Duy Thắng, 1999): P abalonus, P comucopiae, P cytidiosus, P djamor, P eryngii, P floridanus, P globulifer, P limpidus, P ostreatus, P.pulmonarius, P sajor-caju, P salmoneostramineus, P spicillfer, P versiformis Nếu tính cả loài vừa phát hiện: P.blaoensis (Lê Xuân Thám, 1999), được khảo cứu kỹ trong
nghiên cứu này, và một số loài đang xếp trong các chi gần gũi khác thì số loài nấm Bàongư ở Việt nam có thể vượt quá 15 Tuy nhiên số loài có mẫu lưu giữ thực rất ít, khôngquá 9 loài (ngay phòng thí nghi ệm của Viện Hạt nhân chỉ có nhiều nhất ở Việt namcũng mới giữ giống nguyên chủng của 7 loài) Hầu hết các cơ sở khác chỉ có 2- 3 loài
mà thôi Không thấy ghi nhận loài nào độc cả, trái lại hầu hết các loài Pleurotus được
Singer cho là có thể ăn được, hoặc ăn ngon; thực tế quá nửa số lo ài trên đã được nuôitrồng thành công khá phổ biến ở nước ta
Hiện nay chắc chắn số loài nấm bào ngư phát hiện trong nước ta và các loàinhập nội đã tăng nhiều về số lượng nhưng vẫn chưa có con số thống kê chắc chắn.Việc nghiên cứu về các loài nấm bao ngư chưa nhiều, và chưa được hệ thống hoá một
số loài đã được khảo sát về sinh trưởng và phát triển như P sajor-caju, P cystidiosus,
P pulmonarius,… của từng nhóm nhà nghiên cứu với nguồn gốc giống khác nhau Có
thể kể ra như sau: Lê Xuân Thám đã khảo sát đặc điểm sinh học và nuôi trồng nấm bào
ngư dai P pulmonarius mọc hoang dại ở Đà Lạt Lê Xuân Thám và Trần Hữu Độ cũng khảo sát trên nấm bào ngư P sajor-caju có nguồn gốc từ Nhật Bản…
Nhưng hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, thường vẫn lẫn lộn cho rằng
chỉ có một loài nấm dai vòng Letinus sajor-caju là chuẩn danh pháp còn khái niệm nấm bào ngư trơn Pleurotus sajor-caju là sự chồng tên…
Trang 3Do đó, trong đề tài “Nghiên cứu nấm Bào ngư trơn hoang dại Pleurotus caju và nấm dai vòng Lentinus sajor-caju phát hiện ở Vườn quốc gia Cát Tiên – hiện
sajor-tượng đồng danh loài” này chúng tôi mô tả chi tiết và xác định sự tồn tại độc lập củachúng như hai loại đồng danh đặc sắc Đồng thời nghi ên cứu tách phân lập giốngnguyên chủng và tiến hành nuôi trồng công nghệ, góp phần phát triển nguồn t ài nguyênnấm quí của Việt Nam
Trang 4Mục Lục
Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI MỞ ĐẦU
I.1.1 Nấm bào ngư trơn Pleurotus sajor-caju 2
II.2.1 Khả năng chống khối u Sarcoma 180 của polysaccharide li ên kết
II.3 Khảo sát sinh trưởng và phát triển hệ sợi nấm trên môi trường thuần
II.4 Khảo sát sinh trưởng và phát triển hệ sợi trên môi trương giá thể 21
III.1 Kết quả phân tích hình thái giải phẫu 27III.2 Kết quả phân lập giống trên môi trường thuần khiết 31
III.2.1 Tốc độ lan tơ của nấm Pleurotus sajor-caju 33
III.2.2 Tốc độ lan tơ của nấm Lentinus sajor-caju 34
Trang 5III.2.3 So sánh tốc độ phát triển hệ sợi của hai lo ài 36III.3 Kết quả phân lập giống trên môi trường giá thể hạt lúa có bổ sung
III.3.1 Tốc độ lan tơ của loài Pleurtus sajor-caju 39
III.3.2 Tốc độ lan tơ của loài Lentinus sajor-caju 40III.3.3 So sánh tốc độ lan tơ của hai loài trên môi trường hạt 41III.4 Kết quả nuôi trồng trên giá thể mạt cưa cây cao su 42
III.4.1 Tốc độ phát triển hệ sợi của loài Pleurotus sajor-caju 42
III.4.2 Tốc độ lan tơ của loài Lentinus sajor-caju 44III.4.3 So sánh tốc độ lan tơ của hai loài trên giá thể mạt cưa 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Phần I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 7I Giới thiệu nấm Lentinus sajor-caju và Pleurotus sajor-caju
Ở nhiều nơi và cả Việt nam, thường vẫn lẫn lộn cho rằng chỉ có một loài: nấm
dai vòng Lentinus sajor-caju là chuẩn danh pháp, còn khái niệm nấm bào ngư trơn Pleurotus sajor-caju là sự chồng tên, không phải một loài thực Vấn đề này khá phức
tạp kể từ khi Buchanan P.K.(1993), một nh à nấm học có uy tín ở New Zealand chorằng chỉ nên chấp nhận danh pháp loài đầu Trong khi đó Giáo sư Singer R – nhà nấmhọc hàng đầu người Áo đã khẳng định tính hợp luật danh pháp của lo ài sau (1986).Chúng tôi đã phân tích vấn đề này, và cho rằng có thể tồn tại cả hai loài và đầy là hiệntượng đồng danh (homonym) đặc biệt (L ê Xuân Thám & Trần Hữu Độ, 1999) Vì lẽđơn giản là trong các mô tả chuẩn thì loài đầu được xác định là có vòng bao, hệ sợilưỡng dạng và loài sau không có vòng, hệ sợi đơn nhất Tuy nhiên không có sự nhấtquán giữa các tác giả, và kết quả là sự nhận định phân loại không rõ ràng
I.1. Nấm bào ngư trơn Pleurotus sajor-caju (Fr.) Sing.,
Loài có giá trị đặc sắc Pleurotus sajor-caju được tìm thấy và nuôi trồng lần
đầu tiên bởi một học giả Ấn Độ tên là Jandaik (1974), dưới chân núi Himalaya, sau đólan qua khắp Trung Hoa, Ấn độ, toàn Châu Á, Australia, châu Âu, châu M ỹ,… hiệnnay taxon này còn gây tranh cãi v ề nhiêu vị trí hệ thống và giới hạn loài Cho đến naychưa có mô tả nguyên mẫu Việt Nam, mặc dù nhiều cơ sở đã nuôi trồng rộng rãi, và
nhìn chung còn quan điểm hạn chế chỉ chấp nhận tồn tại nấm dai v òng Lentinus caju (Fr.) Fr., nghĩa là không chấp nhận hệ thống được coi là chuẩn mực của Singer (1986), trong đó nấm bào ngư trơn Pleurotus sajor-caju (Fr.) Sing đã được khẳng định
sajor-rõ ràng, mà nhiêu tác giả gần đây tán đồng (Bao et al., 2003) Các mô tả mẫu tự nhi ênthu được của chúng tôi tại Cát Tiên có thể coi như xác nhận quan điểm hệ thống của
R Sing (1986) trong trường hợp loài đặc biệt này (và tách biệt rõ với P.pulmonarius
(Fr.) Quél.) Thường mọc rất mạnh sau những cơn mưa đầu mùa, tập trung thành đám
Trang 8khơng cĩ mơ tả về vịng nấm Các giống chúng tơi nhận từ Đại học Chiba, v à việncơng nghệ lên men Osaka, Nhật Bản, khi nuơi trồng cũng đều khơng cĩ vịng nấm.
I.2 Nấm dai vịng Lentinus sajor-caju (Fr.) Fr., Epicrisis: 393 (1838)
Đây là một trong những lồi phổ biến thường gặp nhất trong các vùng xích đạonam Phi (ở tây Phi hiếm gặp hơn), trong các rừng nhiệt đới cổ khắp Đơng Nam Á, gĩcđơng bắc Australia Song đáng ngạc nhi ên là cĩ tới 26 lần chỉnh lý danh pháp:
Agaricus sajor-caju Fr., Syst Mycol 1: 175 (1821) - Rumpf.,
Herb Amboin 6: 125, pl 56/1 (1750)
Lentinus exilis Klotzsch ex Fr., Syn Gen Lent.: 10 (1836).
L dactyliophorus Lév., Ann Sci Nat., Bot sér 3,2: 174 (1844).
L tanghiniae Lév., loc cit sér 3,5: 119 (1846).
L stenophyllus H.W Reichardt, Verh Zool.-bot Ges., Wien 16: 375 (1866),
non Berk (1847)
L nicobarensis H.W Reichardt apud Fenzl, Reise Oesterreich.
Freg Novara, Bot, 1: 143, pl 23/1 (1870)
L irregularis Currey in Trans Linn Soc., Bot ser 2,1: 121, pl 19/14 -15 (1876).
L grandulosus Ces., Atti Acc Sci fisich matem Napoli 8: 3 (1879),
non P Henn (1900)
L murrayi Kalchbr & MacOwan apud Kalchbr., Grevillea 9: 136 (1881).
L woodii Kalchbr., loc cit.
L tenuis Sacc & Paoletti, Atti R Ist Venet Sci.,
Lett ed Arti ser 6,6: 392, pl 5/3 (1888)
L bonii Pat., Bull Soc Mycol Fr 8: 48 (1892).
L bukobensis P Henn in Engl Bot Jahrb 17: 32 (1893).
L annulifer Seynes, Rech Champ Congo Fr.: 25 (1897).
Panus exilis (Klotzsch ex Fr.) Bres., Bull Soc Bot Belg 38: 153 (1899).
L inopus ‘Lév.’, Petrak, Mycoth Gen No 437 (1912).
L macgregorii Graff, Philipp Journ Sci., Bot 9: 241 (1914).
L elmerianus Lloyd, Mycol Writ 7: 1106, pl 187/2021 (1922).
L nigroglabratus Lloyd, loc cit.: 1198, pl 244/2448 (1923).
Armillaria dactyliophora (Lév.) Beeli, Bull Soc Bot Belg 59: 110 (1927).
L sajor-caju var densifolius Pilát, Ann Mycol 34: 128 (1936).
L sajor-caju var sparsifolius Pilát, loc cit.
L sajor-caju var medius Pilát, loc cit.
Panus dactyliophorus (Lév.) Singer, Sydowia 5: 462 (1951).
Pleurotus sajor-caju (Fr.) Singer, Lilloa 22: 27 (1951).
Pleurotus geesteranus Singer, Sydowia 15: 45 (1961).
Trang 9Ở miền nam nước ta người ta hay gọi loài này là nấm dai, thực ra là cũng để chỉchất nấm kiểu bì dai mềm (coriaceous, leathery), bao hàm một số loài khác nữa thuộc
chi Lentinus và Pleurotus,… do vậy chúng tôi chọn nấm dai vòng để phân biệt và cũng
để nhấn mạnh đặc điểm có vòng nấm rất đặc sắc
Letinus sajor-caju phân bố ở rất nhiều vùng và các nước: Trung Quốc, Hồng
Kông, Nepal, Ấn Độ, Sri Lanka, Myanmar, đảo Andaman, Nicobar, bán đảo Malay,Singapore, Thailand, khắp Việt Nam (núi Ba Vì từ 1888), Java, Sarawak, Brunei,Camerroons, Sabah, Sulawesi, Philippines, Australia, qu ần đảo Salamon, Bờ Biển Ngà,Nigeria, Cộng hòa Trung Phi, Zaire, Gabon, Burundi, Uganda, Kenya, Tanzania,Zanzibar, Mozambique, Malawi, Angola, Madagascar, qu ần đảo Comoro, Seychelle,Maurtius, Resunion, Cộng hòa Nam Phi, tuy được coi trọng như nguồn thực phẩm
song loài nấm dai vòng Lentinus sajor-caju (Fr.) Fr hầu như chưa có tư liệu nuôi trồng
thương mại (mới có ở Ấn Độ, Đài Loan, Việt Nam) Chúng tôi đã tách được giốngnguyên chủng của Việt Nam, chuẩn bị cho những nghi ên cứu sâu về công nghệ và sinhhọc phân tử so sánh Điều lý thú l à cho đến nay tư liệu về nuôi trồng thương mại và
nghiên cứu sinh học dược học chỉ tập trung cho nấm bào ngư Pleurotus sajor-caju (Fr.)
Sing., ăn rất ngon và rất phổ biến (Zhuang et al., 1993) – loài không có vòng nấm, mặc
dù chưa được đồng thuận coi là loài độc lập, và những tranh luận về danh pháp v àphạm trù hai loài này vẫn còn đang tiếp diễn: chúng nên là hai loài riêng biệt haykhông? Có lẽ nên nhận định rằng đây là hai loài đồng danh về tính ngữ loài (epithethomonym)
Có thể dùng làm thực phẩm khi nấm con non (theo Patouillard, 1889), v à khi thểquả non cấu tạo hệ sợi đơn nhất (monomitic) tồn tại nổi trội, chất nấm mềm, khá giống
với L concavus, L striatulus, dễ gây lầm lẫn với các loài nấm bào ngư Pleurotus.
Điều này có ý nghĩa rằng quan hệ chủng loại phát sinh của các nhóm Pleurotus, Lentinus, Lentinula, Neolentinus, Panus là rất gần nhau, và kể cả với Polyporus nữa
Trang 10nhận thấy L.sajor-caju có vị trí tách biệt xa hơn với nhóm các loài Pleurotus, và rất gần gũi với các nhóm loài Lentinus và Polyprus
.
Phyllotopsis nidulans Lentinula edodes
0 0.01
Pleurotus cornucopiae
- Pl tuberregium, Pl abalonus Neolentinus lepideus Pl dryinus
Pl ostreatus
Neolentinus adhaerens length significantly positive
P < 0.01
Panus lecomtei Auricularia polytricha
Panus fulvus Panus fulvus var similis Panus johorensis
Polyporus tuberaster Lentinus concinnus
Lentinus - Lentinus squarrosulus, L sajor-caju, Po arcularius suavissimus
Polyporus squamosus
Hình 4 Quan hệ chủng loại phát sinh giữa Lentinus sajor-caju và các nhóm gần gũi
(Dẫn liệu 18S rDNA sequence: Neda & Nakai, 1995)
Trang 11Pleurotus djamor IFO 32398
Trang 12Theo những kết quả phân tích DNA có tính thời sự (2003) tr ên đây, rõ ràng tồn
tại độc lập P sajor-caju, ít nhất với mẫu chuẩn giống của Nhật Bản (Lê Xuân Thám &
Trần Hữu Độ, 1999) – ít được mô tả rõ là không có vòng trên cuống và hệ sợi đơn nhất(monomitic) – như nghiên cứu của nhiều tác giả ở châu Âu, Mỹ, c ùng với nhóm các
loài gần gũi: P ostreatus, P pulmonarius, P flabellatus, P opuntiae, P florida, P diamor, P eugrammus, P sapidus, P eryngii ,… vì rằng dẫn liệu 18S rDNA tương ứng
và ITS1 về L sajor-caju cũng của các tác giả Nhật Bản (Neda & Nakai, 1995) cho thấy
sự phân ly khá xa với các loài Pleurotusvaf đương nhiên không thể trùng lặp với P.sajor-caju- đây là hai loài đồng danh (homonym) Đáng lưu ý là chính Neda & Nakai lại nhận xét Hilber (1989) và Buchanan (1993) cho rằng P sajor-caju (Fr) Sing thường bị định danh nhầm cả với P pulmonarius (Fr.) Quel, thực tế chúng tôi đã xác
định chúng hoàn toàn tách biệt nhau, và có thể đồng ý rằng chúng thuộc phức hợp:
P.pulmonarius complex (Bao et al., 2003).
II Giá trị dược học của nấm bào ngư. Bổ sung vào nhóm nấm chống ung thư ở
Việt Nam một loại thông dụng có giá trị cao: nấm bào ngư Pleurotus sajor-caju(Lê Xuân Thám – Trần Hữu Độ, tạp chí dược học – số 7/1999, bộ y tế xuất bản)
Các loại nấm thuộc nhiều taxon: Polyporus, Lyophyllum (Shimeiji), Pleurotus (Hiratake), Lentinus, Grifola, Flammulia, Lentinula (Shiitake), Ganoderma (Mannentake), Schizophyllum, Trametes,…các loại thể quả nấm tươi; thể khuẩn ty nấm
(hệ sợi) (ký hiệu của Mizuno là YF, YM, YE) đã được khảo nghiệm Các nhà nghiêncứu bằng các phương pháp Sarcoma 180/mice ip ho ặc po, đã chứng minh rằng các dẫnxuất trao đổi của acid nucleic, Polysaccharide, Heteroglucan C -D, Glucan có hoạt tínhkháng ung thư một cách rõ rệt, chức năng tăng cường miễn dịch kháng ung thư của
Polysccharides nấm Pleurotus sajor-caju đã được chứng minh (Zhuang et al., 1993).
Đặc tính kháng sinh đã được biết rõ với hoạt chất pleurotin, xác định đ ược từ
1947 (Hình 3) Năm 1993, Mizuno và cs đã tách từ phân đoạn plysaccharide có chứa
Trang 13protein từ Pleurotus sajor-caju và chứng minh hiệu lực chống u Sarcoma 180 tr ên
chuột khác rõ ràng (Bảng 1, 2, 3), có thể so sánh với hoạt lực của Plysaccharid, PSK,
PSP tách từ nấm kê tọa Grifolafrondosa, nấm Donko Lentinula edodes, nấm Vân chi Trametes versicolor (Lê Xuân Thám et al., 1998, 1999a).
II.1 Khả năng chống khối u Sarcoma 180 của Polysaccharide liên kết Protein
tách từ nấm Pleurotus sajor-caju
Chuột cái JCR/SLC (25 2 g), 4 tuần tuổi được chia làm 2 nhóm, mỗi nhómkhoảng 5 – 10 con, sau đó trích khoảng 6 106 tế bào ung thư Sarcoma 180 từ chuột ởngày thứ 7 sau khi cấy dưới da và đếm, ghép vào vùng bẹn bê phải chuột với một dùichọc (trokar) Sau 24 giờ, 10mg/Kg mẫu được hòa tan trong dung dịch muối sinh lý(NaCl 0,15M) và kiểm tra hàng ngày trong vòng 10 ngày Sau 28 ngày c ấy ghép, kíchthước của khối u (cm3) được tính theo công thức 4/3 a2b/2 (trong đó: a là đường kínhnhỏ, b là đường kính lớn), số liệu này so sánh với nhóm kiểm tra Như vậy, tỉ lệ ức chế(%) sẽ là (1 – T/C) 100 (T : kích thước khối u (cm3) của nhóm thí nghiệm, C: kíchthước khối u của nhóm đối chứng) Hơn nữa sự suy giảm hoàn toàn (số chuộtkhỏi/tổng số chuột) và thời gian quan sát của thí nghiệm đ ược so sánh với các dữ liệucủa nhóm kiểm tra Như vậy, khi hoàn thành thí nghiệm, số chuột chết sau 61 ngày saukhi cấy tế bào khối u đã được xác định
Trang 14Bảng 1 Hiệu lực chống ung thư Sarcoma 180 trên chu ột của
polysaccharide-protein thô tan trong nước tách từ P.sajor-caju (theo Zhuang et al., 1993)
Thời giansốngb (ngày)
T/C (%) Tỷ lệ
ức chếtoàn
bộc
Tỷ lệchếtdĐối chứng
86,484,890,839,648,774,634,5
-31,9 ± 7,8
>68,4 ± 16,4
>84,0 ± 0
>84,0 ± 053,6 ± 14,6
>64,8 ± 21,4
>74,4 ± 16,558,2 ± 19,3
100
>214,4
>263,3
>263,3168,0
>203,1
>233,3182,4
0/82/53/53/50/51/52/50/5
7/80/50/50/51/51/50/51/5
*T/C là tỷ lệ kích thước khối u (cm 3 ) của nhóm thí nghiệm/kích thước khôi u (cm 3 ) của nhóm đối chứng.
Ngoài các polysaccharde tan trong n ước được tinh chế từ nấm P sajor-caju,
phân đoạn polysaccharde trung tính Fl0 -a và phân đoạn polysaccharde acid tinh chếFA-2 có hoạt tính chống khối u và kéo dài thời gian sống (2,3 đến 2,6 lần cao h ơnnhóm kiểm tra) đã được ghi nhận Hơn nữa, số tử vong của chuột sau 5 tuần cho uốngpolysaccharde là 0/5 trong khi s ố tử vong các nhóm kiểm tra là 7/8, điều này chứng tỏhiệu quả của chúng một cách đáng kể tuy nhiên, phân đoạn tinh chế Fl0-a-β và Fl0-a-hầu như không có hiệu ứng này
Bảng 2 và 3 cho thấy hoạt tính chống khôi u cao nhất l à sự tiêu giảm khối u, tỉ lệ
tử vong thấp được ghi nhận trên cơ sở cho uống Fll-1,Fll-1-a và Fll-1-b (thu được từFlll-2 và tinh chế bằng phương pháp lọc gel) có tỉ lệ hạn chế khối u là 100%, tỉ lệ kéodài sự sống là 296%, tỉ lệ tiêu giảm khối u hoàn toàn là 5/5 và tử vong là 0/0
Trang 15Bảng 2 Hiệu lực chống ung thư Sarcoma 180 trên chuột của
polysaccharid-protein thô không tan trong nư ớc tách P.sajor-caju (theo Zhuang et al., 1993)
Bảng 3 Hiệu lực chống ung thư Sarcoma 180 trên chuột của
polysaccharide-protein tinh chế tách từ P.sajor-caju (theo Zhuang et al., 1993)
Nhóm
thực
nghiệm
Kích cỡkhối ua(cm3)
Mức
ức chế(%)
Thời giansốngb (ngày) T/C (%)
Tỷ lệ ứcchế toàn
53,149,859,431,7100,084,6
-28,4 ± 4,9
>43,1 ± 17,846,6 ± 19,3
>53,2 ± 13,145,4 ± 11,7
>295,8
>229,6
0/81/50/51/50/55/51/5
8/81/51/50/51/50/51/5
Thời giansốngb (ngày)
T/C (%) Tỷ lệ ức
chế toàn
bộc
Tỷ lệchếtd
76,790,88,08,458,476,951,684,5
-31,9 ± 7,8
>54,4 ± 22,3
>72,8 ± 12,4
>47,2 ± 18,442,2 ± 18,8
7/82/50/52/53/50/50/50/50/5
Trang 16a Kích thước khối u : Trung bình ± S.D 3 tuần sau khi cấy u.
b Thời gian sống : Trung bình ± S.D 12 tuần sau khi cấy u.
c Tỷ lệ ức chế hoàn toàn khối u đo sau 12 tuần cấy u.
d Tỷ lệ chết xác định sau 5 tuần cấy u.
III Giá trị dinh dưỡng của nấm bào ngư
Bảng 4: Thành phần hoá học tổng quát ở các loài nấm bào ngư và các nấm khác: (% trọng lượng khô và năng lượng Kcal/100g nấm khô.)
(N×4,38)
Carbohy drat tổng
Chất béo
lượng (Kcal)
Trang 17& Rajarathnam, 1988), các acid hữu cơ khác là acid palmitic, linoleic, formic, mlic(266mg/100g)…
-Các chất khoáng:
Theo Garcha (1993) P ostreatus chứa 7,9% chất khoáng Hàm lượng chính vẫn
là P và K cần thiết cho dinh dưỡng, thường cao hơn một số trái cây và rau cải Kattan và cộng sự, 1991) ngoài ra còn có Fe, Ca khá cao, Cu, Zn, Magnensium,Mangan, Cobalt…
(El-Bảng 5 Thành phần acid amin cơ bản trong nấm bào ngư: Pleurotus ostreatus :
Trang 18-Bảng 6 Một số chất khoáng trong nấm bào ngư và nấm rơm (mg/100g nấm khô)
B1(thiamine) dao động từ 1,16 – 4,80 mg/100g (so với A capestris là 1,14mg/100g).
Hàm lượng thiamine, niacin và riboflavin của chi Pleurotus được xác định cao hơn các loài trong chi Aricularia, Lentinus và Volvariella, Shivrina, A N et (1995),
phân tích hàm lượng vitamin B12 của 38 loài nấm ăn, trong đó chỉ phát hiện được 9 loài
chứa vitamin này mà P ostreatus là một trong hai loài chứa nhiều B12 nhất
Bảng 7 chỉ ra hàm lượng một số vitamin phổ biến trong 4 lo ài nấm bào ngư vàmột số loài nấm khác Hàm lượng niacine thay đổi từ 46 – 108,7 mg/100g trọng lượngkhô Hàm lương acid ascorbic ở các loài nấm bào ngư khá cao từ 90 – 144mg/100g
trong khi đó loài A campestris chỉ có 82 mg/100g Hàm lượng vitamin B12 ở P ostreatus là 1,4 mg/kg trọng lượng khô (Chang, S T & Quimio, T H., 1989) Hàm
lượng thiamine khá thấp, theo Wakita, 1976 là thiaminase có mặt trong chúng phá hủyvitamin này, là một nhân tố “kháng dinh dưỡng” làm giảm chất lượng của nấm trồng
Trang 19Sự phong phú của các vitamin trong nấm ăn l à một trong những ưu thế đặc biệt,
có thể so sánh với các loài rau quả, song hơn hẳn thịt cá Nghĩa là nấm là thực phẩmđặc biệt qui phối hợp được những ưu điểm của cả rau quả và thịt cá, rất thích hợp chochế độ ăn chay
Bảng 7 Hàm lượng các vitamin ở một số loài nấm ăn
Đây là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượng protein chỉ sau thịt cá,
giàu chất khoáng và các acid amin không thay thế P ostreatus chứa 8 loại amino acid
thiết yếu hiện diện và chất lượng gần như các protein có nguồn gốc động vật (Eden &
Wuensch, 1991) Những nghiên cứu khác ở P sajor- caju và P flabellatus cho thấy
chứa từ 17 – 18 acid amin bào gồm các acid amin không thay thế (Jandaik & Kapoor,
1976) Hàm lượng Tryptophan khá thấp trong các loài Pleurotus nhưng hàm lượng
Lysin, Methionin, threonin, Leucin, Isoleucin cao hơn các loài khác (Chang, ST &Quimio, T.H., 1989)
Trang 20Thông thường, người ta sử dụng tỉ lệ hàm lượng các acid amin không thay thế
có trong thành phần để đánh giá chất lượng protein trên cơ sở dùng sữa bò như lànguồn protein chuẩn, theo Kaiberer & Kunsch (1974), tỉ lệ n ày của nấm Bào ngư khácao, Lysine là 0,413 (trung bình), cao nh ất là Threoine (0,730) và thấp nhất là Cysteinchỉ đạt 0,12
Bảng 8 Hàm lượng các acid amin không thay thế
(Chang, S, T & Quimio, T H 1989).
Amino acid Trứng gà Agaricus bisporus P florida
Trong tất cả các chủng nấm Bào ngư có mặt đầy đủ các acid amine, đặc biệt l à
các acid amine không thay thế Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ở loài Pleurotus caju và Ipleurotus flabellatus chứa từ 17- 18 acid amine bao gồm các acid amine
sajor-không thay thế với hàm lượng tương đương (Jandaik & Kapoor, 1976)
Để đánh giá hàm lượng acid amine các tác giả thương so sánh với các loài nấm
khác, như: Volvariella diplasia, Agaricus bisporus và Lentinus edodes Bảng 3 chỉ ra thành phần acid amine cần thiết của một số lo ài Pleurotus và các loài nấm ăn khác.
Bảng 9 Thành phần amino acid cơ bản của nấm Bào ngư (g/100g protein)
Trang 21Lysine, Methionine, Threonine, Leucine, Isoleucie thì cao h ơn các loài khác (Chang, S.
T & Quinmio, T H., 1989)
Một vài loài Pleurotus(P eosus, P florida và P flabellatus) hàm lượng Isoleucine, Valine, Lysine (ngo ại trừ P flabellatus) và Threonine cao hơn so với A bisporu (FAO, 1972) Trong khi đó, Cystein và Methionine th ấp hơn so với A bisporus
nhiều lần
Khi so sánh giữa các loài Pleurotus, hàm lượng Phenylalanine và Tyrosine của
P eous, P florida và P flabellatus thấp hơn so với P sajor-caju.
Trang 22VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Trang 23I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nấm bào ngư trơn Pleurotus sajor-caju do chúng tôi du nhập từ Nhật Bản
(giống gốc từ viện Công nghệ lên men Osaka IFO và Đại học Chiba cung cấp), đượcnuôi trồng tại Đà Lạt (1999), sau đó được chuyển giao cho nhiều địa ph ương Songnấm hoang dại nguyên gốc rất hiếm gặp, chỉ mới được phát hiện gần đây trong các đợtkhảo sát tại Vườn Quốc gia Cát tiên (2005-2006) Đồng thời chúng tôi cũng tìm thấy
nấm dai vòng Lentinus sajor-caju khá phổ biến.
Có hai tác giả chủ chốt đã mô tả sơ lược loài Lentinus sajor-caju ở Việt nam,
song không có tư liệu ảnh nguyên gốc, hoặc thậm chí bị nhầm lẫn (Trịnh Tam Kiệt,
1981, Trần Văn Mão et al., 2006) Từ 1750, Rumpfius đã mô tả và vẽ minh họa mẫuthu từ Ambon, Moluccas, Indonesia, v à chính Fries (1821) xác lập nên tên nguyên gốc
loài này: Agaricus sajor-caju Fr., và đến 1838 ông đã tự chỉnh lý đúng đắn: Lentinus sajor-caju (Fr.) Fr Các nhà khoa học Pháp Joly & Perreau (1977) mô tả mẫu thu ở
Nam Việt Nam vào thập niên 60, và cho rằng thể quả lúc non mềm có thể ăn đ ược –thực tế tìm lại được mẫu mà chính Patouillard (1892) đã mô tả khi ấy là một loài mới:
L bonii Pat., gặp từ Ba Vì tới Nha Trang,…, Corner (1981) phát hiện thấy ở Malaysia
cũng sử dụng làm rau ăn Nair & Kaul (1980) phát hi ện thể vô tính (pha bất toàn) của
loài này (và xác định là Pleurotus sajor-caju – theo Buchanan thì có thể do nhầm mẫu
?) ở Ấn độ Song nếu là đúng thì phát hiện này hết sức quan trọng vì các nấm bất toàn
thuộc Antromycopsis spp mới được xác nhận là đặc trưng của loài với pha đảm (thể hữu tính) thuộc phân chi Coremiopleurotus Hilber (chi Pleurotus), nếu lại hiện diện cả
ở các loài Lentinus thì vấn đề thể dùi sinh bào tử vô tính (Coremia) là minh chứng mới thú vị cho quan hệ chặt giữa Pleurotus với Lentinus.
Tháng 5/2007, trong đợt khảo sát tại vườn Quốc gia Cát Tiên, chúng tôi đã tìm
thấy hai loài L sajor-caju và P sajor-caju mọc trên thân cây gỗ rất đẹp Sau khi chụp
hình tại chổ chúng tôi thu hái mang về phân lập để giữ giống, sau đó chúng tôi tiến
Trang 24Hình1 Thể quả nấm Lentinus sajor-caju tìm thấy tại
Cát Tiên Đồng Nai vào tháng 5/2007, có vòng nấm điển hình trên cuống nấm.
Trang 25II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C ỨU
II 1 Khảo sát sinh trưởng và phát triển hệ sợi nấm trên môi trường thuần khiết
Để xác định môi trường thích hợp nhất cho việc bảo quản v à nhân giống cấp 1,chúng tôi tiến hành khảo sát tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm trên các loại môi trường
có thành phần theo các công thức như sau: (Công nghệ nuôi trống nấm – Gs.Ts.Nguyễn Lân Dũng, 2004)
Môi trường 1 (PDA):
Môi trường 2 (DPA):
Môi trường 3 (PGA cải tiến, Lê Xuân Thám, 2006):
Thành phần Số lượng
Nước chiết***
GlucoseCao nấm men
1 lit20g1g
Khoai tâyGlucozaAgarNước cất
200g20g20g
1 lít
GlucozaPeptonAgarNước cất
20g20g20g
1 lít
Trang 26*** :Trong đó nước chiết gồm: khoai tây(200g), cà rốt(100g), giá đỗ(100g), nước cất, đun sôi 10 – 15 phút; lọc và bổ sung nước cất cho đủ 1 lít.
Trong thí nghiệm này chúng tôi sử dụng môi trường PGA cải tiến Môi trườngđược hấp khử trùng trong nồi Autoclave ở nhiệt độ 1210C, áp suất 1.2 atm trong vòng
15 – 20 phút, lấy ra đem vào phòng vô trùng, rót vào các ống nghiệm, bình tam giác.Sau đó cấy giống khi môi trường đã nguội Giống sau khi cấy được đưa vào phòng ủ cónhiệt độ 21 ± 20C, độ ẩm 80 – 85% Theo dõi sự tăng trưởng và đo đường kính khuẩnlạc ở các thời điểm 3, 5, 7, 8 ngày sau khi cấy giống Vẽ biểu đồ và so sánh hai loài
II 2 Khảo sát sinh trưởng và phát triển của nấm trên giá thể
II 2 1 Gía thể hạt lúa có bổ sung cám gạo
Môi trường hạt là môi trường chúng tôi chọn để nhân giống cấp hai đối với nấm
Lentinus sajor-caju và Pleurotus sajor-caju Chúng tôi chọn môi trường theo công
thức sau:
LúaCám gạoCaCO3
Trang 27lúa cho đến khi sợi nấm ăn kín bề mặt chai lúa Nhận xét đặc điểm phát triển, đo kíchthước vẽ biểu đồ và tiến hành so sánh.
II 2 2 Gía thể mạt cưa (nuôi trồng để thu hoạch)
Nấm Pleurotus sajor-caju và Lentinus sajor-caju là hai loài nấm mọc trên thân
cây gỗ, nên chúng tôi tiến hành thử nghiệm nuôi trồng trên cơ chất có thành phần chủyếu là mạt cưa bổ sung đạm vô cơ và hữu cơ và một số chất dinh dưỡng khác theocông thức sau:
Môi trường 1:
Thành phần Tỷ lệ % (trọng lượng)Mạt cưa
Cám gạoSuper lânĐườngCaCO3
Cám gạoGlucoseCaCO3
78%
20%
1%
1%
Trang 28Môi trường 3: (công ty DoNa đang áp dụng)
Thành phần Tỷ lệ % (trọng lượng)Mạt cưa
MgDAPCaCO3
trường hạt hoặc môi trường cọng ** Độ tuổi thích hợp nhất của giống l à 10 – 15 ngày.
Chuyển bịch đã cấy vào trại ủ có nhiệt độ thích hợp 21 ± 20C, độ ẩm 80 – 85% Khi hệsợi đã lan trắng hết bịch chúng được chuyển đến trại nuôi có độ ẩm 90 – 95%, ánh sángkhuếch tán nhẹ (200 – 350 lux) Sau đó chúng ta tiến hành rạch bịch, mỗi bịch chỉ cầnrạch 5 – 7 vạch, mỗi vạch dài khoảng 2cm Tưới mỗi ngày để duy trì độ ẩm Theo dõi
sự sinh trưởng và phát triển của hệ sợi, theo dõi quá trình hình thành thể quả Vẽ biểu
đồ và so sánh kết quả hai loài
** : Môi trường cọng:
Cọng thân cây mì khô dại khoảng 10 cm được ngâm trong nước vôi khoảng 1%.Sau đó vớt ra rửa sạch, để ráo Thí nghiệm đ ược tiến hành trên cọng khoai mì có bổsung thành phần dinh dưỡng khác nhau để tìm môi trường nhân giống tối ưu:
Môi trường 1:
Cọng khoai mì + áo một lớp cám gạo 1%
Môi trường 2:
Cọng mì + áo một lớp bắp xay 1%
Trang 29Môi trường 3:
Cọng mì + ure 0,1%
Trong thí nghiệm này chúng tôi sử dụng môi trường 1 để chuyển giống, nhằmduy trì giống cũng như thuận lợi cho việc cấy giống vào bịch giá thể mạt cưa Cọngkhoai mì là một phế liệu sau khi bà con nông dân thu hoạch mùa vụ, do đó nó lànguyên liệu rất dễ kiếm cũng như giá thành lại rất rẻ, đồng thời vừa giải quyết cho bàcon nông dân thêm một thu nhập
Hình 2 Môi trường cọng mì (sắn)
Khi chúng tôi tiến hành cấy chuyển giống trên môi trường cọng mì, vì đây làmôi trường trung gian và giữa các cọng mì có kẻ hở, nên khi cấy chuyển chúng tôikhông đo được một cách chính xác về tốc độ lan tơ của hai loài Vì lý do đó chúng tôikhông chọn môi trường cọng mì có bổ sung cám gạo làm thí nghiệm đo đạc, mà chỉ sửdụng để làm môi trường cấy chuyển vào bịch giá thể mạt cưa đem đi nuôi trồng