Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý và tạo điều kiện giúp đỡ của khoa Thủy sản trường Đại học Nông Lâm Huế và giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu bệnh ký sin
Trang 2Bảng 2.7 Tình hình ương nuôi cá lồng tại xã Quảng Thái
Bảng 2.8 Tình hình ương nuôi cá nước ngọt ở thị xã Hương Thủy trong 3 năm
2009, 2010, 2011
Bảng 2.9 Các loài ký sinh trùng ký sinh trên cá nước ngọt ở Hokkaido – Nhật Bản
Bảng 2.10 Các loài ký sinh trùng ký sinh trên cá nước ngọt ở Philippines
Bảng 2.11 Các loài ký sinh trùng ký sinh trên 16 loài cá kinh tế ở Bắc Bộ, Việt Nam
Bảng 4.1 Thành phần giống ký sinh trùng trên cá Trắm Cỏ
Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm các giống ký sinh trùng trên cá Trắm Cỏ
Bảng 4.3 Cường độ nhiễm các giống ký sinh trùng tại các cơ quan kiểm tra
Trang 3Hình 3.2a Chiều dài cá Trắm Cỏ giống
Hình 3.2b Khối lượng cá Trắm Cỏ giống
Hình 3.3 Phương pháp nghiên cứu toàn diện ký sinh trùng trên cá của Viện sỹ V.A Dogiel, được bổ sung của Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007
Hình 4.6 Metacercaria của giống Centrocestus
Hình 4.7 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ nhiễm các giống ký sinh trùng trên cá Trắm CỏHình4.8 Đồ thị biểu diễn tỉ lệ nhiễm các giống ký sinh trùng tại các cơ quan kiểm tra
Trang 4PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam với diện tích 331.689 km2 có trên 3.200 km bờ biển với nhiều khu hệsinh thái thủy vực đa dạng làm tiền đề cho sự phong phú và đa dạng của nguồn lợi thủysản Với diện tích có thể nói là khiêm tốn nhưng Việt Nam có lợi thế về tài nguyênthiên nhiên phong phú, đa dạng, bên cạnh đó còn có lợi thế về vị trí địa lý : Ở phía namgiáp Vịnh Thái Lan, phía đông giáp Vịnh bắc Bộ và Biển Đông Hơn nữa với hệ thốngsông ngòi dày đặc phân bố trên khắp cả nước là đều kiện vô cùng thuận lợi cho sự pháttriển ngành nuôi trồng thủy sản
Trong những năm gần đây nghành thủy sản đã đem lại những đóng góp to lớncho nền kinh tế của Việt Nam, theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biếttổng kim nghạch xuất khẩu thuỷ sản 8 tháng đầu năm 2010 đem lại là 2,95 tỷ USD.Đến năm 2011, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã cán đích 6,1 tỷ USD, tăng 21% sovới năm 2010 và tăng gấp hơn 3 lần so với mức 2 tỷ USD năm 2002
Thừa Thiên Huế có bờ biển dài 126 km và hệ thống đầm phá Tam Giang - CầuHai, chạy dài khoảng 27 km bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương với diệntích 5.200ha Vùng biển Thừa Thiên - Huế có hơn 500 loại cá và các loài hải sản có giátrị kinh tế cao, năng suất khai thác hợp lý là 40.000 - 50.000 tấn/năm Hơn nữa, vớihơn 20 km vùng núi đá ven biển từ Lăng Cô đến đảo Sơn Trà đã tạo nên một vùng biển
đa dạng sinh học, thuận lợi cho việc bảo tồn, nuôi trồng và phát triển các loài thủy sảnquý hiếm
Cá Trắm Cỏ là một trong những đối tượng nuôi có giá trị và lợi nhuận kinh tếcao Tuy nhiên việc nghiên cứu các loại dịch bệnh, ký sinh trùng đối với cá Trắm nóichung và ở giai đoạn cá giống nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế Xuất phát từ những vấn
đề trên, được sự đồng ý và tạo điều kiện giúp đỡ của khoa Thủy sản trường Đại học
Nông Lâm Huế và giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu bệnh ký sinh trùng trên cá Trắm Cỏ ở giai đoạn cá giống trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”
Mục tiêu của đề tài này là:
+ Tìm hiểu thành phần giống ký sinh trùng ở Cá Trắm Cỏ giai đoạn cá giống.+ Đánh giá mức độ cảm nhiễm của ký sinh trùng ở Cá Trắm Cỏ thuộc giai đoạn
cá giống
+ Tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
Trang 5PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá Trắm Cỏ
2.1.1 Đặc điểm phân loại và hình thái cấu tạo
2.1.1.2 Hình thái cấu tạo
Cá Trắm Cỏ có màu xanh trên lưng và màu trắng ở bụng, thân tròn lẵn, cân đối
Số tia vây lưng 3.7 Vây ngực 1.14 Vây bụng 1.8 Vây Răng hầu 2 hàm: 5.2- 5.4 Sốlược mang ở cung mang thứ nhất 20- 22 chiếc Số đốt sống 40- 42 Chiều dài thân bằng3.4- 3.8 lần chiều cao; 3.5- 4.2 lần chiều dài đầu
2.1.2 Đặc điểm phân bố
Cá Trắm Cỏ phân bố ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng chủ yếu ở các lưu vực
Trang 6sông, hồ thuộc vùng Trung Á và đồng bằng Trung Quốc, hạ lưu sông Amua (Liên Xô).Sau này du nhập vào các nước ở Châu Mỹ, Đông Âu, Đông Nam Á,
Ở Việt Nam, theo tài liệu của hai nhà ngư loại học người Pháp là P.Clevey vàJ.Lemasson (1937) phát hiện thấy cá Trắm Cỏ ở sông Hồng Nhưng đến năm 1955-
1957 theo nghiên cứu của ngành thuỷ sản thì không thấy ở sông Hồng mà thấy ở sông
Kỳ Cùng (Lạng Sơn) Điều này chứng tỏ cá Trắm Cỏ sống ở Việt Nam có nguồn gốc
từ nơi khác
Cá Trắm Cỏ hiện đang nuôi ở nước ta là du nhập từ Trung Quốc năm 1958 (Ởmiền Bắc) và năm 1969 từ Đài Loan (Ở miền Nam) Năm 1967 đã tiến hành thả hàngloạt cá Trắm Cỏ giống ra sông Hồng và hiện tại sinh sản tự nhiên ở sông
2.1.3 Môi trường sống
Cá Trắm Cỏ là loài cá có khả năng thích ứng rộng với điều kiện môi trường,sống được trong môi trường nước tĩnh, nước chảy, sinh trưởng và phát triển bìnhthường trong môi trường có nồng độ muối từ 0-8 0/00 (Nguyễn Chính và ctv., 1977).Thích ứng với nhiệt độ từ 13-320C nhưng nhiệt độ tối ưu là 22-280C, khoảng pH thíchhợp từ 5-6, ngưỡng ôxy thấp từ 0,5-1mg/l (Nguyễn Khoa Diệu Thu., 1979) Độ pHthích ứng từ 5-9, pH thích hợp nhất 7-8 Độ trong tốt nhất (đối với cá trưởng thành) từ60- 70 cm Ngưỡng oxy cao hơn cá mè (0.5- 1 mg/l), mức oxy hoà tan thấp hơn 3 mg/l
ít có ảnh hưởng
2.1.4 Phân biệt giới tính
Con đực: Đặc điểm sinh dục phụ đầu mùa sinh sản mới hình thành Vây ngực
cứng, tia vây hẹp, màu hơi hồng, có chiều dài phủ 9 vảy
Con cái: Vây ngực hơi mềm, tia vây rộng, màu hơi nhạt, có chiều dài phủ 8 vảy.
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
2.1.5.1 Đặc điểm dinh dưỡng
Cơ quan tiêu hoá: Cá Trắm Cỏ có miệng tương đối ngắn, chiều dài miệng
trung bình 7.4% thân, mồm dưới và hàm dưới tương đối ngắn Lược mang thưa, sốlược mang trên cung mang thứ nhất 21-22 chiếc Răng hầu hai hàm rất sắc dạng lưỡiliềm, công thức răng hầu 4.2-4.5, có thể nghiền nát thực vật trên cạn và dưới nước.Ruột tương đối ngắn so với các loài ăn thực vật khác chỉ bằng 220- 295% chiều dàithân Ở cá Trắm Cỏ không có dạ dày, do đó quá trình tiêu hoá thức ăn do ruột đảmnhiệm
Trang 7Tính ăn: Cá Trắm Cỏ thuộc loại ăn tạp, rất tham ăn và ăn rất nhiều Song thức
ăn chủ yếu là thực vật, tuy nhiên cá Trắm Cỏ không phải ăn thực vật cả đời mà tính ăncủa nó có sự thay đổi Cá Trắm Cỏ có thể ăn một lượng thức ăn lớn trong ngày Ngoàithức ăn về thực vật, cá Trắm Cỏ còn sử dụng các loại thức ăn khác như bột ngũ cốc,các loại sản phẩm thải công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, phân động vật
2.1.5.2 Đặc điểm sinh trưởng
Cá Trắm Cỏ mới nở có chiều dài 6 mm, nuôi khoảng 20 ngày có chiều dài 2.5
cm, cá biệt có con dài 3 cm, (theo Duy Khoát, Vũ Chiêu 1980), Trạm nghiên cứu cánước ngọt Đình Bảng (1980) đều kết luận rằng: So với các loài cá nuôi khác (mè,chép, ) cá Trắm Cỏ là loài lớn nhanh Trung bình 1 tuổi cá được 1kg, 2 tuổi được 2-4kg Những nơi nhiều thức ăn cá Trắm Cỏ 3 tuổi nặng 9- 12kg
Chung Lân (1965), khi nghiên cứu về sinh trưởng cá Trắm Cỏ đã phân chia quátrình sinh trưởng cá Trắm Cỏ làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn cá hương: Tốc độ sinh trưởng về chiều dài nhanh hơn tốc độ sinh
trưởng về khối lượng
- Giai đoạn cá giống: Trong giai đoạn này sự tăng trưởng về khối lượng nhanh
hơn sự tăng trưởng về chiều dài
- Giai đoạn trước và sau khi thành thục sinh dục: Mức tăng trọng của cá cao
nhất khi được 3 tuổi, cũng là khi tuyến sinh dục thành thục lần đầu tiên, sau đó mứctăng trọng giảm xuống rất nhanh, gần như ngừng lại
Mùa vụ và điều kiện sinh thái sinh sản
- Mùa vụ: Mùa vụ đẻ tự nhiên của cá Trắm Cỏ Việt Nam trong khoảng cuối
tháng 3 đầu tháng 9 Mùa đẻ rộ vào tháng 4, 5, 6 (Lương Đình Trung, 1987) Ở QuảngĐông Trung Quốc mùa vụ sinh sản thường bắt đầu vào tháng 5 (Chung Lân, 1969), còn
Trang 8ở Liên Xô cũ bắt đầu vào cuối tháng 6 (J V Shirman và S R smith, 1988) Như vậy ởcác vĩ độ khác nhau, thời gian thành thục tuyến sinh dục và mùa vụ không giống nhau.Trong sinh sản nhân tạo cá Trắm Cỏ đẻ sớm hơn, thường vào trung tuần tháng 3 đã cho
đẻ đạt kết quả cao Thời gian đẻ thường tập trung vào trung tuần tháng 3 đến cuốitháng 4, thời gian cho đẻ có hiệu quả từ tháng 4 đến tháng 6
- Điều kiện sinh thái sinh sản: Cá Trắm Cỏ thuộc loại đẻ trứng bán trôi nổi.
Bãi đẻ ngoài tự nhiên thường ở trung lưu các sông, nơi có nhiều ghềnh thác hoặc nơigiao nước giữa hai nguồn, nơi uốn khúc của sông Nhiệt độ thích hợp cho sinh sản từ22- 290C Lưu tốc nước 1-1.7m/s Trứng sau khi nở trôi theo dòng sông và nở thành cábột Trong sinh sản nhân tạo ở miền Bắc cá Trắm Cỏ đẻ tái phát dục sau 60- 85 ngàynuôi vỗ Ở miền Nam cá Trắm Cỏ tái phát dục sau 25- 28 ngày, nếu ở nhiệt độ cao(trong khoảng nhiệt độ thích hợp) chỉ 18- 20 ngày Trong điều kiện nhân tạo cá phátdục hình như quanh năm
Đặc điểm trứng và sinh sản
Trứng cá Trắm Cỏ thuộc loại bán trôi nổi, trứng có hình cầu, màu vàng hay màuvàng xanh Đường kính trứng khi nở 1- 1.2mm, sau khi hút nước đường kính trứngbiến thiên từ 3.3 -5.1mm [3] Sức sinh sản tuyệt đối của cá Trắm Cỏ ở miền Bắc là315.000-2.100.000 Sức sinh sản tương đối là 50 - 224 trứng/g thể trọng Sức sinh sảnthực tế trong sinh sản nhân tạo là 47.670 - 103.000 trứng/kg cá cái (Lương Đình Trung,1968) Ở đồng bằng sông Cửu Long, sức sinh sản thực tề cá Trắm Cỏ vào khoảng
88000 trứng/kg, chu kỳ phát dục là 35 ngày (Phạm Minh Thành, Bùi Lai,1968) CáTrắm Cỏ 9 tuổi vẫn sinh sản được nhưng chất lượng trứng giảm Vì vậy nên chọn cásinh sản từ 4 - 7 tuổi
+ Do nuôi ở sông nên tốc độ dòng chảy 0,2 - 0,3 m/giây Đặt mỗi cụm 20 lồng,các cụm cách nhau 150 - 200 m
Trang 9+ Nuôi ở hồ chứa nước lưu thông 0,1 - 0,2 m/giây Nuôi cụm 15 lồng, các cụmđặt cách nhau 200 - 300 m.
Trước khi thả cá giống vào nuôi, lồng bè phải được vệ sinh cọ rửa sạch, phơikhô và dùng nước vôi hoặc Clorua vôi phun đều toàn bộ lồng nuôi cá Sau đó phơi khô
1 - 2 ngày, cọ rửa sạch và hạ thuỷ Lồng đặt ngặp nước 1,2 - 1,5 m, cách đáy 3 - 4 m.2.2.1.2 Tiêu chuẩn cá giống, mật độ nuôi
Tiêu chuẩn cá giống
- Ngoại hình cân đối, không dị hình, vây, vẩy hoàn chỉnh, cỡ đồng đều, bơi lộinhanh nhẹn
- Không có dấu hiệu bệnh lý
Ở miền Bắc bắt đầu từ tháng 4, ở miền Nam có thể nuôi quanh năm
2.2.1.3 Thức ăn và chế độ cho ăn
Thức ăn xanh: cỏ, rong, bèo, lá ngô, lá sắn Với cỏ tươi cho ăn 30-40% trọnglượng thân; với rong, bèo cho ăn 70% trọng lượng thân
2.2.1.4 Chăm sóc cá nuôi
- Theo dõi hoạt động của cá:
+ Thường xuyên kiểm tra hoạt động của cá, nếu thấy cá bơi lội khác thườngphải vớt lên kiểm tra
+ Nếu nổi đầu do thiếu ôxy phải kéo lồng ra xa khu vực môi trường ô nhiễm Cóthể tăng cường khuấy sục khí làm tăng lượng ôxy hòa tan
- Kiểm tra sàn ăn để xác định khả năng bắt mồi của cá để điều chỉnh thức ăn
- Cứ 3 ngày vệ sinh lồng cá 1 lần và kiểm tra lồng
2.2.1.5 Phòng trị bệnh cho cá nuôi
Trang 10Cá Trắm Cỏ nuôi lồng, bè thường mắc một số bệnh: Nấm thuỷ mi, trùng bánh
xe, trùng quả dưa, sán lá đơn chủ Mỗi loại bệnh có triệu chứng và bệnh lý riêng, cầnthường xuyên theo dõi biểu hiện của cá để phòng trị
Để chủ động phòng ngừa bệnh cho cá nuôi, trong quá trình nuôi nên tiến hànhdùng vôi để cải tạo môi trường
+ Đối với vôi: Đựng trong bao treo ở đầu nguồn nước, cách mặt nước khoảng1/2 độ sâu của nước trong lồng Liều lượng 3-4kg vôi cho 10m3 nước trong lồng
+ Sulphat đồng (CuSO4) phòng ký sinh đơn bào, liều lượng 50g/10m3 nước,tuần 2 lần
Không dùng thuốc, hoá chất kháng sinh đã cấm sử dụng
2.2.2 Nuôi ao
2.2.2.1 Chuẩn bị ao
Tát hoặc tháo cạn, dọn sạch cỏ, tu sửa bờ, đăng cống, vét bùn nếu lượng bùnquá nhiều
Bón vôi khắp đáy ao để diệt cá tạp và các mầm bệnh bằng cách rải đều từ 7 đến
10 kg vôi bột cho 100 mét vuông đáy ao
Sau tẩy vôi 3 ngày, bón lót bằng cách rải đều khắp ao từ 20 - 30 kg phân chuồng
và 50 kg lá xanh cho 100 mét vuông (loại lá cây thân mềm để làm phân xanh) Lá xanhđược băm nhỏ rải đều khắp đáy ao, vùi vào bùn hoặc bó thành các bó nhỏ từ 5 đến 7 kgdìm ở góc ao
Lấy nước vào ao ngập từ 0,3 - 0,4 mét, ngâm 5 đến 7 ngày, vớt hết bã xác phânxanh, lấy nước tiếp vào ao đạt độ sâu 1 mét Cần phải lọc nước vào ao bằng đăng hoặclưới đề phòng cá dữ, cá tạp xâm nhập
Cá Trắm Cỏ sống ở tầng nước giữa, thức ăn chính là cây xanh như cỏ thânmềm, rau, bèo dâu, bèo tấm, lá chuối, lá sắn, cây chuối non băm nhỏ, rong, thân câyngô non , cá Trắm Cỏ cũng ăn các loại bột ngô, khoai, sắn, cám gạo Cá nuôi sau 10 -
12 tháng đạt trọng lượng từ 0,8 - 1,5 kg/con (trung bình 1 kg mỗi con)
2.2.2.2 Thả cá giống
- Có 2 thời kỳ thả cá giống :
+ Vụ xuân từ tháng 2 đến tháng 3+ Vụ thu từ tháng 8 đến tháng 9
Trang 11- Cần thả cá giống lớn, khoẻ mạnh, không sây xát, không có bệnh
- Mật độ thả từ 1 - 2 con cho 1 mét vuông Cỡ cá thả 8-10cm
2.2.2.3 Quản lý - chăm sóc ao
Thức ăn
Thức ăn xanh gồm : các loại cỏ, rong, bèo tấm, bèo dâu, lá chuối, lá sắn nên cho
cá ăn đủ hàng ngày Sau khi cá ăn cần vớt bỏ các cọng cỏ, cây, lá già cá không ănđược Cho cá ăn thêm cám gạo, cám ngô Cứ 100 con cho ăn từ 2 đến 3 kg thức ănxanh, sau tăng dần theo sự lớn lên của cá bằng cách theo dõi hằng ngày
Muốn tăng trọng 1kg thịt cá Trắm Cỏ cần từ 30-40kg thức ăn xanh như: rong,
Cuối năm thu toàn bộ cá (có thể chọn những cá nhỏ giữ lại làm giống cho vụnuôi sau)
Sau khi thu hoạch toàn bộ phải ghi lại sản lượng cá thu được (bao gồm cả cáđánh tỉa và cá thu cuối năm) nhằm sơ bộ hạch toán trong quá trình nuôi để có cơ sở chođầu tư tiếp ở vụ nuôi sau
Trang 122.3 Tình hình ương nuôi cá Trắm Cỏ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Ở Thừa Thiên Huế cá Trắm Cỏ đã được đưa vào nuôi từ rất lâu với 2 hình thứcnuôi chủ yếu là nuôi ao và nuôi lồng Các ao nuôi cá Trắm Cỏ địa phương phân bố rảirác trên địa bàn tỉnh, nhưng được thả nuôi nhiều ở thị xã Hương Thủy, trong đó cáTrắm Cỏ nuôi ao thường được nuôi cùng với một số loài cá nước ngọt như Mè Trắng,
Rô Phi,…để tận dụng thức ăn, tầng nước nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho ngườinuôi Các ao nuôi có diện tích trung bình từ 1000-3000m2 với mật độ thả từ 1-2 con/m2,con giống được thu từ các trại giống trên địa bàn tỉnh Những năm gần đây, nghề nuôi
cá nước ngọt trên địa bàn thị xã Hương Thủy phát triển nhanh, từ diện tích nuôi cá 200
ha năm 2003, đến năm 2012 tăng lên 607 ha Hàng năm, Phòng Kinh tế thị xã xâydựng mô hình nuôi trồng thủy sản thí điểm, nhằm giúp bà con đa dạng đối tượng nuôi
để giúp bà con có đầu ra ổn định và đem lại hiệu quả kinh tế cao Với hình thức nuôilồng, phát triển nhiều dọc sông Bồ đặc biệt phát triển mạnh ở huyện Quảng Điền, tậptrung ở các xã Quảng Thọ, Quảng Thái, Quảng Thành… đã và đang đem lại một nguồnthu nhập ổn định đáng kể cho người dân Hiện phong trào nuôi cá lồng đang phát triểnmạnh trên các triền sông tỉnh Thừa Thiên Huế, nhiều hộ dân đã thu nhập được hàngchục triệu đồng nhờ nghề này, nhiều hộ đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu nhờ nghềnuôi cá lồng trên sông
Theo trung tâm Khuyến Nông - Lâm - Ngư tỉnh Thừa Thiên-Huế cho biết, trong
3 năm trở lại đây tình hình nuôi cá Trắm Cỏ nói riêng và cá nước ngọt nói chung, cũngnhư nuôi cá Trắm Cỏ lồng trên địa bàn tỉnh tăng nhanh về diện tích nuôi, số lồng vàsản lượng
Bảng 2.3 Tình hình nuôi cá nước ngọt trong trong 3 năm 2009, 2010 và 2011
trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 132.3.1 Tình hình ương nuôi cá Trắm Cỏ tại huyện Quảng Điền
Quảng Điền là huyện ở phía Đông Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế Phía Bắc và phíaTây giáp huyện Phong Điền Phía Nam giáp huyện Hương Trà, huyện PhúVang và thành phố Huế Phía Đông giáp biển Là huyện vùng trũng của tỉnh ThừaThiên-Huế, nằm ở phía Bắc lưu vực sông Bồ và phía Tây phá Tam Giang nên nuôitrồng thủy sản nước lợ cũng như nước ngọt ở đây rất phát triển
Theo báo cáo tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện năm2011: “ Mặc dù nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện vẫn còn gặp một số khó khăn,như: chất lượng con giống chưa đảm bảo, thời tiết diễn biến phức tạp vào đầu và giữa
vụ làm cho tôm, cá chết nhiều nên đã ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng nuôi trồngthuỷ sản trên địa bàn Tuy vậy, được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, quyết liệt và kịp thờicủa Ban Thường vụ Huyện ủy, sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn của Sở Nông nghiệp
và PTNT, sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự cần cù, chịu khó, sáng tạo của bà connông dân nên công tác nuôi trồng và khai thác thủy sản trên địa bàn huyện Quảng Điền
đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi.” (Nguồn: Tổng kết tình hình nuôi trồngthủy sản huyện Quảng Điền năm 2011)
Trong đó “nuôi cá nước ngọt là lĩnh vực được khuyến khích phát triển, mở rộngdiện tích Trong năm qua, UBND huyện đã chỉ đạo phòng Nông nghiệp và PTNT,Trạm Khuyến nông, lâm, ngư phối hợp với các đơn vị liên quan mở các lớp tập huấn,chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân Trong quá trình nuôi, các cán bộ kỹ thuậtcũng đã thường xuyên tiếp cận địa bàn để hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ nuôi và đãđạt được một số kết quả tích cực.” (Nguồn : Tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sảnhuyện Quảng Điền năm 2011)
Bảng 2.4 Tình hình nuôi ao cá Trắm Cỏ và cá nước ngọt ở huyện Quảng Điền
Trang 14Bảng 2.5 Tình hình nuôi cá Trắm Cỏ lồng của huyện Quảng Điền năm 2011
Số hộ nuôi Số lồng nuôi Số lượng giống
thả
Sản lượng thuđược
Năng suất bìnhquân
602 hộ 725 lồng 252.500 con 274,8 tấn 369 kg/lồng( Nguồn: Tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản huyện Quản Điền năm 2011 )
- Tại xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế phong trào
nuôi cá Trắm Cỏ lồng nhiều năm trở lại đây đang được chú trọng phát triển, theo anhLong một cán bộ xã cho biết “hiện số lồng nuôi cá Trắm Cỏ lồng là trong 2 năm trở lạiđây đã tăng đáng kể so với năm 2010 và đem lại một nguồn thu nhập ổn định chongười dân”
Bảng 2.6 Tình hình ương nuôi cá lồng tại xã Quảng Thành
- Xã Quảng Thái là một trong những xã có số lồng nuôi cá Trắm Cỏ nhiều nhất
huyện Quảng Điền Theo anh Văn Thanh Dũng chi hội trưởng chi hội nghề cá thônTrung Làng xã Quảng Thái cho biết: nghề nuôi cá Trắm Cỏ lồng kỹ thuật đơn giản, lạitận dụng được diện tích mặt nước cho thu nhập ổn định nên những năm trở lại đâynghề nuôi cá Trắm Cỏ lồng phát triển rất mạnh, hầu như hộ gia đình nào cũng có lồngnuôi, hộ ít nhất cũng có từ 1-2 lồng, hộ nhiều thì có tới 5-6 lồng Nhờ nghề nuôi cálồng phát triển nhiều hộ dân có một nguồn thu nhập ổn định, tạo công ăn việc làm chongười dân trong vùng
Trang 15Bảng 2.7 Tình hình ương nuôi cá lồng tại xã Quảng Thái
Số hộ nuôi Số lồng nuôi Số lượng thả Sản lượng thu
- Xã Quảng Thọ trong gần mười năm trở lại đây phong trào nuôi cá Trắm Cỏ
lồng dọc triền sông Bồ phát triển khá mạnh và đem lại một nguồn thu nhập ổn định chongười dân Theo thống kê hiện nay tại xã Quảng Thọ có tới 220 hộ dân phát triển vànhân rộng mô hình nuôi cá Trắm Cỏ lồng, năng suất bình quân đạt từ 4-6 tạ/lồng/năm,đem lại nguồn thu nhập hàng chục triệu đồng cho bà con
Anh Phan Vinh Thanh, ở làng La Phương Thượng cho biết: "Cách đây gần 10năm, cả xã chỉ có một hộ nuôi cá Trắm Cỏ trong lồng Sau đó 2 năm, nhận thấy môhình mang lại nguồn thu nhập ổn định, nên HTX Quảng Thọ 2 đã đầu tư vào nuôi cálồng Đến nay, cả xã đã có gần một nửa số hộ dân địa phương nuôi cá lồng trên sôngBồ"
Hình 2.3 Lồng nuôi cá Trắm Cỏ trên sông Bồ ở xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế
2.4 Tình hình dịch bệnh trên cá Trắm Cỏ nuôi tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Trong nhiều năm trở lại đây nghề nuôi cá Trắm Cỏ lồng cũng như nuôi ao đã vàđang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, nhiều hộ đã thoát nghèo và vươn lênlàm giàu từ nghề này Có thể nói nghề nuôi cá Trắm Cỏ nói riêng và cá nước ngọt nóichung đã trở thành nghề ăn nên làm ra đối với nhiều hộ dân ở các huyện Quảng Điền,
Trang 16Hương Trà, thị xã Hương Thủy… Tuy nhiên, việc biến đổi khí hậu ngày càng trở nênphức tạp, môi trường nuôi bị ô nhiễm trầm trọng, bệnh trên cá mỗi ngày càng pháttriển, trong khi đó nguời nuôi vẫn đang còn nuôi theo kinh nghiệm là chính, việc phòngbệnh cho cá vẫn chưa được quan tâm đúng mức, nên trong quá trình nuôi, mỗi khi cá bịbệnh việc chữa trị còn lúng túng gây thiệt hại lớn đến kinh tế hộ Các đối tượng nuôitruyền thống lâu nay như mè, trôi, trắm, chép vẫn được duy trì và thả nuôi với nhiềuhình thức như: nuôi chuyên, xen ghép, lồng bè.v.v do được thị trường ưa chuộng, thịtthơm ngon, chi phí thấp, nên cá Trắm Cỏ vẫn là đối tượng được các hộ chọn nuôi thảchính trong ao, lồng.Tuy nhiên, nghề nuôi cá Trắm Cỏ vẫn gặp phải khó khăn lớn nhất
đó là dịch bệnh
Đặc biệt trong những năm gần đây tình hình dịch bệnh trên cá Trắm Cỏ thườngxuyên xảy ra, làm cá chết rải rác, đến hàng loạt, gây thiệt hại lớn cho người dân Vàocuối năm 2011, ở xã Lộc Sơn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, cá Trắm Cỏ nuôi
có các biểu hiện bất thường như: cá bỏ ăn, đàu có màu đen… lúc đầu cá chết rải rác,sau đó cá chết hàng loạt gây thiệt hại lớn cho người nuôi Theo thông tin ban đầu là dochất lượng con giống không đảm bảo, môi trường nước xung quanh lồng nuôi bị ônhiễm do đó làm cho cá dễ mắc bệnh
2.5 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng trên thế giới và ở Việt Nam
2.5.1 Trên thế giới
Trên thế giới việc nghiên cứu về bệnh KST ở cá nói chung và nghiên cứu bệnhsán bắt đầu từ những năm 1007-1778 của thế kỷ XVIII Ban đầu là nghiên cứu sơ khaicủa Linne về KST
Liên Xô là nước có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở cá sớm nhất
và toàn diện nhất Viện sỹ V.A.Dogiel (1882-1956) người đầu tiên đặt nền móng chonghiên cứu ký sinh trùng cá Năm 1929, ông đưa ra “Phương pháp nghiên cứu ký sinhtrùng cá” đã mở ra hướng nghiên cứu mới về các khu hệ KST trên cá và các loại bệnh
cá do KST gây ra, cho đến nay nhiều nhà khoa học nghiên cứu KST cá vẫn còn ápdụng Tiếp theo là các nghiên cứu của viện sỹ Dolgiel, vào năm 1962, viện sỹBychowsky và ctv xuất bản cuốn “Bảng phân loại ký sinh trùng của cá nước ngọt LiênXô”, trong đó đã mô tả 1.211 loài ký sinh trùng của khu hệ cá nước ngọt Liên Xô cũ
Tiếp tục những năm 1984, 1985, 1987 công trình của O.N.Bauer và nhiều tácgiả khác đã mô tả hơn 2000 loài ký sinh trùng của 233 loài cá thuộc 25 họ cá nước ngọtLiên Xô
Trang 17Năm 1989, K Nagasawa, T Awakura và S Urawa đã tổng kết các công trìnhnghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Hokkaido – Nhật Bản và đã xác địnhđược 96 loài ký sinh trùng bao gồm:
Bảng 2.9 Các loài ký sinh trùng ký sinh trên cá nước ngọt ở Hokkaido – Nhật Bản
Ở Thái Lan, công trình nghiên cứu đầu tiên về bệnh ký sinh trùng cá nuôi là củaC.B Wilson Năm 1926, 1927, 1928 ông đã thông báo về hiện tượng cá bị nhiễm hailoại rận cá thuộc giống Argulus ký sinh trên cá nước ngọt [10] TheerawootLerssuthichawal (1997) đã nghiên cứu sán lá đơn chủ ký sinh trên cá trê ở Thái Lan.Paiboon-Yutisri; Ampirum-Thuhanruksa (1985) khi khu hệ ký sinh trùng ở Thái Lan
đã phát hiện 16 loài ký sinh trùng trong đó ông đã xác định được 3 loài ngoại ký sinh
trùng và 13 loài nội ký sinh trùng trên cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus).
Năm 1975, ở Philippines, 1975 C.C Velasquez đã cho ra đời cuốn sách “sán lásong chủ Trematoda ở Philippines” trong đó đã mô tả 73 loài thuộc 50 giống, 21 họ sán
lá sông chủ ký sinh trùng trên 27 họ cá của ở Philippines ) [12] Các tác giả như
Trang 18Arthus, JR Luman-May, S Khi tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở Philippines
đã điếu tra xác định được 201 loài ký sinh trùng ở 172 loài cá gồm:
Bảng 2.10 Các loài ký sinh trùng ký sinh trên cá nước ngọt ở Philippines
Ở Ấn Độ đã có không ít các công trình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá Năm
1967, Guta đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào và giun sán ký sinh trên cá.A.V.Gussev, 1976 đã nghiên cứu khu hệ sán lá đơn chủ ở 37 loài cá nước ngọt Ấn Độ, phân loại được 57 loài sán lá đơn chủ trong đó có 40 loài mới
Ở Malaysia, từ năm 1961- 1973 J.I Fernanda đã có kết quả về phân loại vàhình thái một số loại giun sán ký sinh trên cá nước ngọt Malaysia Đến những năm
Trang 191978, 1992, Leong Tak-Seng đã nghiên cứu ký sinh trùng đa bào trên một số loài cánước mặn Mohamed Shaif (1980, 1985, 1992) nghiên cứu ký sinh trùng trên cá rô phi
và một số loài cá nuôi trong bể kính Susan Lim Lee-Hong (1983, 1985, 1987, 1990,1997) đã nghiên cứu hệ thống phân loại sán lá đơn chủ trên cá nước ngọt ở Malaysia và
đã phát hiên ra 54 loài sán lá đơn chủ [14],[15]
Ở châu Mỹ, Hoffman G.L (1998) đã tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng của cánước ngọt ở Bắc Mỹ trên 416 loài cá đã xác định được 19 ngành thuộc 4 giới: sinh vậtnhân nguyên thủy, động vật nguyên sinh - nấm, động vật đa bào
Một số nước khu vực Đông Nam Á đã có các nghiên cứu ký sinh trùng cá từđầu thế kỷ 20, nhưng chưa nghiên cứu toàn diện các nhóm ký sinh trùng mà thường chỉnghiên cứu theo từng nhóm ký sinh trùng như sán lá song chủ, sán lá đơn chủ hoặc kýsinh trùng ở một vài loài cá [11]
Ở Nhật Bản, Năm 1989, Nagasawa K Awakura T và Urawa S Đã tổng kết cáccông trình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Hokkaido-Nhật Bản và đã xácđịnh được 96 loài ký sinh trùng bao gồm protozoa 21 loài; Monogenaphala 11 loài;Trematoda 22 loài; Copepoda 6 loài; Branchiura 1 loài; Isopoda 1 loài; và 38 loài chưaxác định đến loài [17]
Còn tại Indonesia, Louis Bovien (1926, 1927, 1933) đã nghiên cứu sán dây, sán
lá song chủ và giun đầu gai trên cá nước ngọt Java, ông đã mô tả một giống mới và một
loài mới đó là Diombangia pennetrans tìm thấy trên cá trê trắng (Clarias batrachus); Isoparorchis eurytremum ở cá Wallago attu Nhà khoa học người Đức là Alfred L Buschkiel (1932, 1935) đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào (Ichthyophtyrius multifiliis) trên một số loài cá nước ngọt ở Indonesia [10].
2.5.2 Ở Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam là nhà ký sinh trùng họcngười pháp Albert Billet (1856-1915) Ông đã mô tả loài mới đó là sán lá song chủ
Distomun hypselobagri (1898) ký sinh trong bóng hơi cá nheo Việt Nam [10]
Người Việt Nam đầu tiên có những công trình nghiên cứu quy mô và đầy đủnhất về ký sinh trùng là Hà Ký Năm 1968-1971, khi điều tra ký sinh trùng trên 16 loài
cá kinh tế ở Bắc Bộ, Việt Nam, ông đã xác định được 120 loài ký sinh trùng thuộc 48giống, 37 họ, 26 bộ và 10 lớp, bao gồm như sau:
Trang 20Đỗ Thị Hoà (1978 – 1980) Công trình này đã phát hện được 80 loài ký sinh trùng kýsinh trên cá biển
Năm 1984, Bùi Quang Tề đã nghiên cứu và phân loại được 15 loài ký sinh trùngtrên Cá Trê đen, 10 loài ký sinh trùng trên Cá Trê vàng, 12 loài trên Cá Trê trắng và 4loài trên Cá Trê Phi [3]
O.Sey và Moravec (1986-1991) khi nghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt
miền Bắc Việt Nam đã xác định được 16 loài sán song chủ (Trematoda), 21 loài giun tròn (Nematoda), 7 loài giun đầu gai (Acanthocephala), trong đó đã mô tả 16 loài, 2
giống mới đối với khoa hoc [16]
Lê Văn Châu và cộng sự, 1997 đã nghiên cứu vật chủ trung gian sán lá gan nhỏ
đã xác định được 10 loài cá nhiễm metacercaria của Clonorchis và Opisthorchis ở một
số tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam
Trang 21Năm 2001 Bùi Quang Tề, đã nghiên cứu ký sinh trùng của một số loài nướcngọt ở đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu trên 41 loài cá kinh tế nước ngọt
ở đồng bằng sông Cửu Long đã xác định được 157 loài ký sinh trùng, 70 giống, 46 họ,
27 bộ thuộc 12 lớp, 8 ngành Trong 157 loài có 121 loài lần đầu tiên phát hiện được ởViệt Nam [3]
Theo Bùi Quang Tề (2007), thành phần giống loài ký sinh trùng ở cá nước ngọtViệt Nam rất phong phú Nhiều nhất là sán lá đơn chủ Monogenea, gặp 103 loài, chiếm28,14% tổng số loài ký sinh trùng phát hiện Tiếp theo là lớp Myxosporea gặp 46 loài(12,57%), lớp Nematoda gặp 45 loài (12,30%) Lớp Trematoda gặp 45 loài (12,30%).Lớp Oligohymenophorea gặp 35 loài (9,56%) Lớp Maxillopoda gặp 26 loài (7,1%).Lớp Acanthocephala gặp 18 loài (4,92%).Lớp Cestoides gặp 16 loài (4,37%) Còn 10lớp khác số lượng loài ký sinh trùng gặp ít hơn (tổng 32 loài) Trong tổng số 366 loài
ký sinh trùng thì phần lớn có chu kỳ phát triển trực tiếp không qua vật chủ trung gian(237 loài), chiếm 64,75% [6]
Cho đến nay đã nghiên cứu ký sinh trùng ở 103 loài cá nước ngọt và nước lợ,thuộc 59 giống, 31 họ Các kết quả nghiên cứu đã xác định dược 373 loài ký sinh trùngthuộc 132 giống, 83 họ, 17 lớp, trong đó đã phân loại được 78 loài, 3 giống và một họmới đối với khoa học Ngoài ra còn một số loài chưa đủ tài liệu để định danh đến loài
2.6 Một số bệnh do ký sinh trùng gây ra thường gặp trên cá Trắm Cỏ
2.6.1 Bệnh do ngành trùng roi Mastigophora ( Bệnh Criptobiosis ở cá )
Do Cryptobia và Ichthyobodo necatrix gây ra Chúng thường ký sinh trên mang,
da của cá, đặc biệt là ở giai đoạn cá hương, cá giống bị nhiễm Ichthyobodo trong vòng
5 ngày cá có thể bị chết 95% thậm chí có ao chết đến 97%
Cá bị nhiễm bệnh thường có dấu hiệu bất hường, cơ thể có cảm giác ngứa ngáy,bơi không định hướng Mang có màu đỏ nâu không bình thường, da và mang có nhiềudịch nhờn Cá bị bệnh nặng hoạt động yếu, cơ thể có màu đen dần, các tác nhân cơ hộinhư vi khuẩn, nấm xâm nhập vào cơ thể
2.6.2 Bệnh do ngành trùng lông (cliophora)
2.6.2.1 Bệnh do trùng bánh xe-Tricodinosis
Do 7 loài trùng bánh xe: Trichodina hetrerodentata, Trichodina, T domerguei,
T sp, Paratrichodina corlissi, Paratrichoina sp gây ra Hầu hết chúng ký sinh trên mang
và da cá khi mới mắc bệnh Cá mới mắc bệnh thường có dấu hiệu: da tiết ra nhiều nhớt
có màu trắng đục và chuyển qua màu xám Mang có màu sắc nhợt nhạt Cá cảm thấy