1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha

80 582 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Tác giả Lờ Thị Út Năm
Người hướng dẫn Th.S Tụn Nữ Mỹ Nga, Th.S Phựng Bảy
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Khoa Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Đề tài tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 4,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sinh trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha C.. Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sinh trưởng về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha C.. Tốc độ sinh

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng

nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tổ chức và cá nhân Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, khoa Nuôi trồng Thủy sản, bộ môn quản lý Môi trường và Nguồn lợi thủy sản, bộ môn Bệnh học thủy sản, bộ môn Công nghệ sinh học, ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III đã dạy dỗ, chỉ bảo về kiến thức và tạo điều kiện về trang thiết bị giúp tôi hoàn thành tốt đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S Tôn Nữ Mỹ Nga và Th.S Phùng Bảy, những người đã định hướng và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, các anh chị kỹ thuật và các bạn trong cùng nhóm thực tập đã luôn giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và người thân đã luôn động viên, giúp tôi vượt qua khó khăn suốt bốn năm qua

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Nha Trang, tháng 6 năm 2010

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Út Năm

Trang 2

MỤC LỤC

trang

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG LUẬN 3

1.1 Một số đặc điểm sinh học của hầu 3

1.1.1 Đặc điểm hình thái bên ngoài 3

1.1.2 Đặc điểm phân bố và phương thức sống 3

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 5

1.1.5 Đặc điểm sinh sản 6

1.1.6 Phát triển phôi và ấu trùng 9

1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi hầu thương phẩm trên thế giới 11

1.2.1 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống 11

1.2.2 Tình hình nuôi hầu thương phẩm 12

1.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi hầu thương phẩm ở Việt Nam 14 1.3.1 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống 15

1.3.2 Tình hình nuôi hầu thương phẩm 19

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 23

2.3 Thiết bị phục vụ thí nghiệm 24

2.3.1 Vật liệu nghiên cứu 24

2.3.2 Dụng cụ thí nghiệm 24

2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 24

Trang 3

2.4.1 Thí nghiệm 1 (thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn) 25

2.4.2 Thí nghiệm 2 (thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ) 25

2.5 Phương pháp chăm sóc và quản lý ấu trùng 26

2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 27

2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.6.2 Phương pháp xử lý số liệu 28

2.6.3 Các công thức tính toán 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) từ giai đoạn chữ D đến giai đoạn điểm mắt 30

3.1.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) 31

3.1.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) 36

3.1.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) 41

3.2 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt 44

3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sinh trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) 45

3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sinh trưởng về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) 49

3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) 53

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 57

4.1 Kết luận 57

4.2 Đề xuất ý kiến 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Lượng thức ăn cho ăn theo từng giai đoạn phát triển của ấu trùng hầu 26 Bảng 2.2 Dụng cụ và thời gian đo các yếu tố môi trường 28 Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 30

Bảng 3.2 Sự tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) ở

thí nghiệm 1 31 Bảng 3.3 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR µm/ngày) và tốc độ

sinh trưởng đặc trưng (SGR %/ngày) về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C

angulata) ở thí nghiệm 1 34

Bảng 3.4 Sự tăng trưởng về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata)

ở thí nghiệm 1 36 Bảng 3.5 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR µm/ngày) và tốc độ

sinh trưởng đặc trưng (SGR %/ngày) về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C

angulata) ở thí nghiệm 1 39

Bảng 3.6 Tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) với những loại

thức ăn khác nhau 41 Bảng 3.7 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm mật độ 44

Bảng 3.8 Sự tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) ở

các mật độ nuôi khác nhau 45 Bảng 3.9 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR µm/ngày) và tốc độ

sinh trưởng đặc trưng (SGR %/ngày) về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C

angulata) ở thí nghiệm 2 47

Bảng 3.10 Sự tăng trưởng về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata)

ở các mật độ nuôi khác nhau 50 Bảng 3.11 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR µm/ngày) và tốc độ

sinh trưởng đặc trưng (SGR %/ngày) về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C

angulata) ở các mật độ nuôi khác nhau 52

Bảng 3.12 Tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) ở các mật độ

nuôi khác nhau 54

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Lịch sử phát triển của hầu Bồ Đào Nha (C angulata) 4

Hình 1.2 Sản lượng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) trước năm 1970 4

Hình 1.3 Chu kỳ vòng đời của hầu 10

Hình 2.1 Hầu Bồ Đào Nha 22

Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 23

Hình 2.3 Xô bố trí thí nghiệm 25

Hình 3.1 Sự tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu với các loại thức ăn khác nhau 31

Hình 3.2 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR) về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) với các loại thức ăn khác nhau 34

Hình 3.3 Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (SGR) về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) với các loại thức ăn khác nhau 35

Hình 3.4 Sự tăng trưởng về chiều cao của ấu trùng hầu với các loại thức ăn khác nhau 37

Hình 3.5 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR) về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) với các loại thức ăn khác nhau 39

Hình 3.6 Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (SGR) về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) với các loại thức ăn khác nhau 40

Hình 3.7 Tỷ lệ sống của ấu trùng với các loại thức ăn khác nhau 41

Hình 3.8 Sự thay đổi chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha với các mật độ nuôi khác nhau 45

Hình 3.9 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR) về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) ở các mật độ nuôi khác nhau 48

Hình 3.10 Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (SGR) về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) ở các mật độ nuôi khác nhau 48

Hình 3.11 Sự thay đổi chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) ở các mật độ nuôi khác nhau 50

Trang 6

Hình 3.12 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR) về chiều cao của ấu

trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) ở các mật độ nuôi khác nhau 52

Hình 3.13 Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (SGR) về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ

Đào Nha (C angulata) ở các mật độ nuôi khác nhau 53

Hình 3.14 Tỷ lệ sống của ấu trùng hầu ở những mật độ khác nhau 54

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chaeto: Chaetoceros sp

Ctv: cộng tác viên

DGR: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối bình quân/ ngày (µm/ngày)

FAO: Tổ chức nông lương của Liên hợp quốc (Food and Agriculture Organization)

Iso: Isochrysis galbana

Trang 8

MỞ ĐẦU

Từ xa xưa, nuôi trồng thủy sản đã được con người biết đến và quan tâm Đặc biệt, Việt Nam có đường bờ biển dài, nhiều sông ngòi, đầm phá, vũng vịnh… rất thích hợp để phát triển nuôi trồng thủy sản Vì vậy, đây là nghề được nhà nước ta chú ý phát triển và được coi là nghề xóa đói giảm nghèo cho người dân Hàng năm, nuôi trồng thủy sản đóng góp một phần tương đối lớn vào thu nhập quốc dân

Hiện nay do nhu cầu của con người về thực phẩm, đặc biệt là đối tượng thân mềm ngày càng tăng nên nước ta du nhập thêm một số loài mới có giá trị kinh tế và

có thể phù hợp với điều kiện khí hậu ở Việt Nam, trong đó có hầu Bồ Đào Nha

Thịt hầu tươi là thực phẩm quý, có giá trị dinh dưỡng cao, giàu chất kẽm, chất béo thấp, không chứa các cholecteron xấu, giảm nguy cơ tim mạch, tăng cường sinh lực cho nam giới, tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể Hầu có vỏ mỏng, ruột nhiều, vị đậm đà, không có mùi tanh, đa dạng trong chế biến và có giá trị lớn trong

y dược Theo kinh nghiệm dân gian vỏ hầu có tính bình, vị mặn, có tác dụng giảm toan ở dạ dày Vỏ hầu có mặt trong nhiều bài thuốc để chữa đau dạ dày [15]

Yamoguchi K (1995) [22] đã chứng minh được những tác dụng dược học quý giá của dịch chiết từ thịt một loài động vật hai mảnh vỏ ở biển, ở hầu là làm tăng cường các chức năng sinh học của cơ thể và chế phẩm dưới dạng viên của chúng đã trở thành sản phẩm thương mại được bán rộng rãi ở Nhật Bản từ hai mươi năm nay

Ngoài ra, đầu tư cho nghề nuôi hầu rất thấp, kỹ thuật đơn giản, không phải cho ăn, quy mô đa dạng, sức sinh sản lớn là yếu tố quan trọng để sản xuất giống đại trà Hầu có giá trị đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái thuỷ vực, chúng có tác dụng làm sạch môi trường nước

Để tạo cơ sở khoa học cho việc nuôi thương phẩm hầu đạt hiệu quả kinh tế, nhằm khai thác hết tiềm năng diện tích mặt nước nuôi trồng Đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của nghề nuôi hầu, nâng cao sản lượng, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, đem lại lợi nhuận và nâng cao chất lượng đời sống cho ngư dân Việc nghiên cứu sản xuất giống là rất cần thiết

Trang 9

Từ yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang, khu Thực Nghiệm sản xuất giống động vật thân mềm – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (Crassostrea angulata Lamarck, 1819)”

 Mục tiêu của đề tài:

Tìm ra loại thức ăn và mật độ nuôi phù hợp nhằm nâng cao tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng

 Nội dung của đề tài:

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại tảo khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ

sống của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) từ giai đoạn ấu trùng chữ D đến

giai đoạn điểm mắt

Nghiên cứu ảnh hưởng của các mật độ nuôi khác nhau đến sinh trưởng và tỷ

lệ sống của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) từ giai đoạn ấu trùng chữ D đến

giai đoạn điểm mắt

 Ý nghĩa nghiên cứu:

Ý nghĩa khoa học: đề tài là cơ sở khoa học bổ sung vào việc nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo hầu Bồ Đào Nha

Ý nghĩa thực tiễn: đa dạng hóa đối tượng nuôi nhằm nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân

Do thời gian thực tập có hạn và kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế nên bài luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG LUẬN

1.1 Một số đặc điểm sinh học của hầu

1.1.1 Đặc điểm hình thái bên ngoài

Cũng như các động vật hai mảnh vỏ khác, hầu Bồ Đào Nha có hai vỏ úp lại với nhau và khép mở nhờ cơ khép vỏ Hai vỏ này rất cứng, thô, khác nhau về hình dạng và kích thước Vỏ phải nhỏ, nông nằm ở trên còn vỏ trái cứng, lớn, sâu dùng

để bám chặt vào vật bám và nằm ở dưới Để phân biệt các loài hầu chủ yếu dựa vào

tỉ lệ chiều dài và chiều rộng vỏ khi trưởng thành

1.1.2 Đặc điểm phân bố và phương thức sống

 Đặc điểm phân bố:

Hầu phân bố rộng trên thế giới, nhưng hầu hết ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Theo kết quả điều tra, nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy hầu hết các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ có sự thích nghi sinh thái và phân bố rộng trên hệ sinh thái vùng triều Nhiều loài phân bố dọc theo các vùng địa lý từ Bắc vào Nam, ở nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau hoặc ở các độ sâu khác nhau trong hệ sinh thái vùng triều Tuy nhiên, cũng có một số loài chỉ thích nghi phân bố hẹp trong một khu vực Bắc hoặc Nam Hoặc phân bố hẹp theo giới hạn độ sâu hoặc trong các kiểu sinh cảnh đặc trưng ở vùng triều [9]

Ở Việt Nam theo như điều tra năm 2007 có một số loài thuộc họ Ostreidae

như: Ostrea denselamellosa, Crassostrea rivularis, C belcheri, C glomerata,

Saccostrea mordax, S echinata, S cucullata, Planostrea pestigris [9]

Hầu Bồ Đào Nha cũng như các loài hầu khác Chúng là loài rộng muối và rộng nhiệt, thích ứng với độ mặn 5 – 30 ppt, nhiệt độ 7 – 35 oC, pH 7,5 – 8,5

Theo Amemiya (1928), độ mặn thích hợp cho sự phát triển của hầu Bồ Đào Nha là 26 – 35 ppt Tuy nhiên Ranson (1948), khi nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của hầu Bồ Đào Nha lại cho rằng độ mặn phù hợp là 18 – 23 ppt [27]

Trang 11

Hình 1.1 Lịch sử phát triển của hầu Bồ Đào Nha (C angulata)

Theo nhiều nguồn tin từ FAO (2003) cho thấy từ trước năm 1970, hầu Bồ

Đào Nha (C angulata) một thời gian dài đã thống trị nền công nghiệp hầu ở Pháp,

Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha Tuy nhiên, sau đó do dịch bệnh làm cho loài hầu này

gần như bị tuyệt chủng và được thay vào bằng hầu Thái Bình Dương (C gigas)

Hiện nay, hầu Thái Bình Dương được nuôi rất phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới do giá trị thương mại của chúng [27]

Hình 1.2 Sản lượng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) trước năm 1970

 Phương thức sống:

Phương thức sống của hầu thay đổi theo giai đoạn phát triển của cơ thể

Trang 12

Ấu trùng phù du sống trôi nổi Trứng vừa thụ tinh cho đến khi chuẩn bị chuyển sang ấu trùng bò lê Kết thúc giai đoạn hậu Umbo, ấu trùng xuất hiện điểm mắt và chuyển sang hình thức sống bám [19]

Ở giai đoạn trưởng thành, chúng sống bám cố định Ấu trùng bò lê nếu gặp được vật bám phù hợp, chúng sẽ tiết ra tơ chân để bám và sau đó sẽ tiết ra chất keo dính để cố định vỏ trái trên vật bám, chân mất đi [19]

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Hầu là loài ăn lọc Chúng không có khả năng chọn lọc thức ăn về chất nhưng

có thể chọn lọc thức ăn theo kích thước lớn nhỏ Hầu bắt mồi trong quá trình hô hấp nhờ vào cấu tạo đặc biệt của mang Khi hô hấp, thức ăn theo nước qua bề mặt mang, các hạt thức ăn được giữ lại ở mang nhờ các tiêm mao và dịch nhờn được tiết

ra Các hạt thức ăn nhỏ sẽ được dịch nhờn cuốn dần về phía miệng, còn các hạt thức

ăn lớn, tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn đi khỏi bề mặt mang, sau đó tập trung ở màng áo và bị đẩy ra ngoài [3]

Như vậy, quá trình chọn lọc thức ăn được thực hiện qua 4 lần: lần thứ 1 tại màng áo, lần thứ 2 tại mương vận chuyển thức ăn, lần thứ 3 tại xúc biện, lần thứ 4 tại mang nang chọn lọc thức ăn Sau đó, thức ăn được đưa trở lại dạ dày để tiêu hóa [19] Tại dạ dày, thức ăn bị tiêu hóa một phần bởi các men Amylase, Bylyrase, Glycogenase và Rennet Thức ăn được chuyển đến manh tiêu hóa, tại đây thức ăn tiếp tục được tiêu hóa bởi các men Amylase, Lactase, Glycogenase, Lipase, Maltase, Protease Hạt thức ăn không thích hợp được đẩy thẳng xuống ruột và ra ngoài qua hậu môn [25]

Thức ăn của hầu thay đổi khác nhau tùy thuộc vào phương thức sống của từng giai đoạn Ở giai đoạn sống trôi nổi, thức ăn là các loại thực vật phù du kích

thước nhỏ như Platymonas, Cryptomonas, Chlorella, Isochrysis… Ở giai đoạn

trưởng thành, thức ăn là sinh vật phù du và mùn bã hữu cơ [19]

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Hầu là loài động vật thân mềm chỉ sinh trưởng trong một giai đoạn nhất định khi còn non Sau khi trưởng thành, chúng hầu như không lớn lên được nữa Trong

Trang 13

năm đầu tiên, hầu sinh trưởng nhanh về kích thước, năm thứ 2 và thứ 3 chúng sinh trưởng nhanh về khối lượng Từ năm thứ 4 trở đi, tốc độ tăng trưởng của hầu giảm [19] Tốc độ tăng trưởng của hầu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bao gồm vùng phân

bố, thành phần loài, điều kiện ngoại cảnh, nhiệt độ, độ mặn, mật độ nuôi, số lượng

và chất lượng thức ăn… Trong đó, nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của hầu Ở vùng nhiệt đới, tốc độ sinh trưởng của hầu rất nhanh

và quá trình sinh trưởng diễn ra quanh năm

Theo Byung Ha Park và ctv (1988) (trích theo [14]) khi nghiên cứu về hầu Thái Bình Dương tại Hàn Quốc cho thấy ở giai đoạn ấu trùng, nhiệt độ, thức ăn và

độ mặn là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển của ấu trùng hầu Khi nhiệt độ thấp, hầu sinh trưởng và biến thái chậm, thời gian phù du kéo dài Ở nhiệt độ 19 – 20oC, giai đoạn phù du của ấu trùng hầu kéo dài trong 3 tuần; ở nhiệt độ 27oC là 10 ngày Độ mặn trong giai đoạn này có thể dao động từ 14 – 37 ppt nhưng thích hợp nhất là 15 – 25 ppt Ở giai đoạn con giống, vỏ hầu sinh trưởng nhờ vào ion canxi trong nước biển Tốc độ sinh trưởng của vỏ hầu khác nhau tùy khu vực và chịu ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường, bãi nuôi, mật

độ nuôi, tốc độ dòng chảy, mức độ trao đổi nước, tốc độ gió, thủy triều và thức ăn Hầu đói do thiếu dinh dưỡng, sinh trưởng chậm hoặc không sinh trưởng

Angell (1986) (trích theo [14]) khi nghiên cứu sinh trưởng của của loài

Crassostrea paraibanensis cho thấy trong điều kiện đầy đủ thức ăn, tốc độ tăng

trưởng nhanh khi nhiệt độ tăng, chúng đạt 15cm chiều cao sau 1 năm Ở vùng Đông Bắc Venezuela, hầu đạt cỡ thương phẩm trong khoảng thời gian không đầy 6 tháng

Lionent và ctv (2005) (trích theo [14]) cho thấy chất lượng giống, vị trí nuôi

và thời gian thả đã ảnh hưởng đến sinh trưởng của hầu Thái Bình Dương tại Pháp Cùng một loài, ở những vị trí nuôi khác nhau cho tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống khác nhau Yếu tố chi phối chủ yếu là môi trường nuôi

1.1.5 Đặc điểm sinh sản

Giống như nhiều loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác, hầu Bồ Đào Nha thay đổi giới tính trong vòng đời Chúng thường tham gia sinh sản lần đầu tiên là

Trang 14

con đực và sau đó chuyển thành con cái Các yếu tố môi trường đặc biệt là thức ăn ảnh hưởng tới giới tính của hầu Trong điều kiện dồi dào thức ăn, hầu đực có xu hướng chuyển giới tính thành con cái và ngược lại trong điều kiện thức ăn hạn chế hay chúng thành lập những quần thể với mật độ quá lớn, toàn bộ là hầu đực Một số

ít cá thể lưỡng tính Việc đẻ trứng phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và thường diễn ra vào những tháng mùa xuân và mùa hè [3]

Theo Purchon (1968) (trích theo [20]), các loài động vật thân mềm hai vỏ có khả năng chuyển giới tính Ngay từ giai đoạn tiền trưởng thành, trong cấu tạo của

cơ quan sinh dục của chúng đã có cả hai bộ phận sinh dục đực và cái Sự phát triển hay kìm hãm phát triển của bộ phận sinh dục nào đó được quy định bởi tổ chức di truyền dưới tác động của các điều kiện môi trường tự nhiên Khi có sự thay đổi đột ngột về môi trường sẽ dẫn đến sự chuyển đổi về giới tính hoặc phát triển lưỡng tính Nếu điều kiện môi trường thuận lợi cho sự phát triển của tinh tử nhanh hơn sự phát triển của trứng gọi là lưỡng tính với tính đực chín trước Nếu điều kiện môi trường thuận lợi cho sự phát triển của trứng nhanh hơn sự phát triển của tinh tử gọi là lưỡng tính với tính cái chín trước

Hầu Crassostrea là loài đẻ trứng và quá trình thụ tinh diễn ra ngoài môi trường nước

Theo Baraley (1984), tuyến sinh dục của hầu được chia thành 5 giai đoạn:

 Giai đoạn 1: tuyến sinh dục không màu sắc, chưa xuất hiện tế bào sinh sản, kích thước bé, chưa phân biệt được đực cái

 Giai đoạn 2: tuyến sinh dục có màu trắng nhạt, con đực bắt đầu xuất hiện tế bào sinh tinh Buồng trứng hầu cái xuất hiện các túi chứa trứng và noãn nguyên bào

 Giai đoạn 3: tuyến sinh dục xuất hiện màu trắng sữa rõ rệt Các tế bào trứng vẫn còn hình đa diện méo mó, đang trong thời kỳ tích lũy chất dinh dưỡng Một số tế bào trứng khác vẫn còn đính trên vách túi trứng và tiếp tục phát triển Tuyến sinh dục đực màu trắng đục, tinh trùng tập trung thành đám dày đặc nhưng vẫn còn nằm trong túi tinh chưa thoát ra ngoài

Trang 15

 Giai đoạn 4: tuyến sinh dục đực và cái căng phồng, kích thước đạt cực đại Con đực tinh trùng rời, sáng bóng, vận động mạnh Con cái có trứng hình bầu dục, quả lê, trứng rời, nhân to, rõ

 Giai đoạn 5: đây là thời kỳ vừa đẻ xong Tuyến sinh dục bắt đầu co lại teo tóp Màu sắc buồng trứng vàng nhạt loang lỗ

Nếu nhìn bên ngoài, ta rất khó phân biệt được hầu đực và hầu cái Ngoài việc dùng kính hiển vi để phân biệt giới tính của hầu, còn dùng phương pháp nhỏ giọt để giám định Lấy một ít tế bào sinh dục đưa lên lam kính, nhỏ giọt nước biển, nếu tế bào sinh dục không phân tán thành từng hạt, là trứng con cái, nếu phân tán thành dạng khói mù, đó là tinh trùng của con đực [13]

 Tác nhân ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của hầu

 Nhiệt độ nước: nhiệt độ nước có quan hệ chặt chẽ với sự thành thục sinh dục và phóng tinh, đẻ trứng của hầu Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, các loài hầu khác nhau cần nhiệt độ nước cho quá trình sinh sản cũng khác

nhau C gigas 22 – 25oC, C denselamellosa 21 – 23oC, S cucullata 17 – 18oC, C

Trang 16

 Thức ăn: trong môi trường giàu dinh dưỡng, glycogen tích lũy sẽ tăng lên, dẫn đến noãn hoàng trong trứng của hầu tăng Chúng sẽ thành thục sinh dục sớm và khả năng sinh sản tốt hơn [19]

 Thủy triều: trong kỳ nước cường, nước lên, hầu sẽ sinh sản mạnh [19]

1.1.6 Phát triển phôi và ấu trùng

 Phát triển phôi

Quá trình phát triển phôi của hầu Bồ Đào Nha cũng như các loài hầu khác Chúng sinh sản theo kiểu hữu tính Sau khi hầu cái đẻ trứng vào môi trường nước, hầu đực bắt đầu phóng tinh Trứng sau khi thụ tinh 30 phút sẽ bắt đầu phân cắt Đầu tiên phân cắt thành cực cầu thứ nhất rồi đến cực cầu thứ 2, phân cắt lần 1, phân cắt lần 2, phôi tang, phôi nang, phôi vị, ấu trùng bánh xe (Trochophore), ấu trùng chữ D (Veliger), ấu trùng đỉnh vỏ (Umbo), ấu trùng điểm mắt (hậu Umbo), ấu trùng bám (Spat) [19]

 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng:

 Ấu trùng Trochophore: xuất hiện sau khi trứng thụ tinh khoảng 8 – 12 giờ Ấu trùng có dạng hình bầu dục có gắn đĩa bơi, xung quanh đĩa bơi có tiêm mao bao phủ Ấu trùng vận động xoay tròn xoắn ốc và thường ngược chiều kim đồng hồ

 Ấu trùng Veliger: xuất hiện khoảng 18 – 22 giờ sau khi thụ tinh, ấu trùng có dạng hình chữ D, có hai vỏ và vành tiêm mao nằm ở giữa hai vỏ Ấu trùng vận động nhanh nhờ sự vận động của vành tiêm mao miệng Kích thước vỏ ấu trùng

có chiều dài khoảng 80 µm

 Ấu trùng Umbo: đặc trưng của giai đoạn này là sự hình thành các cơ quan bao gồm giai đoạn sơ kì (tiền Umbo) xuất hiện mầm cơ khép vỏ, giai đoạn trung kì xuất hiện đỉnh vỏ, giai đoạn hậu kì xuất hiện điểm mắt ở dưới trung tâm của cơ quan Ở cuối giai đoạn này, ấu trùng hình thành chân bò Đây là dấu hiệu kết thúc giai đoạn sống trôi nổi, chuyển sang giai đoạn sống bám cố định Lúc này, kích thước ấu trùng dài nhất đạt 300µm Giai đoạn này thường từ 18 – 22 ngày sau khi thụ tinh

Trang 17

 Ấu trùng Spat: tính từ ngày thứ 22 – 25 sau khi trứng thụ tinh, hoạt động bơi của ấu trùng giảm dần, ấu trùng chuyển xuống bò dưới đáy, vành tiêm mao và điểm mắt thoái hóa dần Đặc trưng của giai đoạn này là sự hình thành các tơ chân, màng áo, cơ khép vỏ và một số cơ quan khác Ấu trùng chuyển hoàn toàn sang giai đoạn sống bám Ở giai đoạn này kích thước của ấu trùng tăng nhanh

 Hầu giống: khi ấu trùng hoàn toàn biến thái và bám chắc vào vật bám,

ấu trùng trở thành hầu con có hình dáng ngoài giống với hầu trưởng thành Tuy nhiên, tùy thuộc vào loại vật bám, hầu có hình dạng khác nhau Kích thước đạt từ 1mm

Chu kỳ vòng đời:

Hình 1.3 Chu kỳ vòng đời của hầu

 Các tác nhân ảnh hưởng đến phát triển phôi và ấu trùng [19]

Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát sinh của hầu Nếu nhiệt độ cao hơn 35oC hay nhỏ hơn 15oC, phôi bị dị hình, không phát triển Nhiệt độ thích hợp là 25 – 28oC

Độ mặn thích hợp cho sự phát triển của phôi và ấu trùng hầu giống độ mặn nơi hầu bố mẹ sinh sống Theo Amemiya (1928), độ mặn thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha là 26 – 35 ppt Tuy nhiên Ranson (1948), khi

Trang 18

nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của hầu Bồ Đào Nha lại cho rằng độ mặn phù hợp là 18 – 23 ppt

Ngoài ra, các loại muối vô cơ như KCl, CaCl2, MgCl2… nếu thiếu có thể làm cho tỷ lệ thụ tinh giảm thấp đến 20 – 30%, ngược lại nếu thừa thì sẽ làm cho tỷ lệ thụ tinh của trứng giảm thấp hơn nữa

1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi hầu thương phẩm trên thế giới

Trên thế giới, Châu Á cho sản lượng thủy sản nuôi trồng lớn nhất, chiếm 89% tổng sản lượng và 77% tổng giá trị sản phẩm thủy sản nuôi trồng thế giới năm

2006 Năm 2006, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới là 51 triệu tấn và sản lượng khai thác là 92 triệu tấn Trong số này, Trung Quốc chiếm 66,7% tổng sản lượng nuôi, các nước Châu Á khác chiếm 22,8% và các nước khác còn lại ở Châu

Âu, Châu Mỹ, Úc… chiếm 10,5% [26]

Mười nước đứng đầu thế giới về sản lượng nuôi trồng thủy sản theo thứ tự gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Bangladesh, Chilê, Nhật Bản, Na Uy và Philippines Năm 2006, sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam

là 1,67 triệu tấn, đứng thứ 3 thế giới [26]

1.2.1 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống

Mặc dù nghề nuôi hầu đã có lịch sử xuất phát từ lâu nhưng việc sản xuất

giống hầu chỉ bắt đầu 40 năm trở lại đây ở một số nước như Nhật (loài Crassostrea

gigas), Úc (loài Crassostrea commercialis), Mỹ (loài Crassostrea virginica) và

Pháp Từ đó tới nay, quy trình sản xuất giống đã dần được hoàn thiện và phát triển ở trình độ cao Cụ thể là trong những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ XX, sản lượng con giống từ sinh sản nhân tạo chiếm gần 90% của tổng sản lượng hầu giống

ở Anh, Canada và Mỹ [3]

Hiện nay, xung quanh vịnh Dabob và vịnh Willipa (thuộc Washington, Mỹ)

có khoảng 11 trại sản xuất giống, được chia thành 3 phần: một phần sản xuất con giống bán sang các nước châu Âu, một phần để nuôi thành con giống, một phần nữa bán trong giai đoạn ấu trùng điểm mắt Lượng con giống sản xuất đã tăng lên đáng

Trang 19

kể, có khoảng 50.000 thùng giống (1 thùng = 13.000 – 20.000 con)/năm từ vùng ven biển Thái Bình Dương [1]

Phương pháp sản xuất giống hầu nhân tạo dựa trên những cơ sở và kết quả nghiên cứu đầu tiên của Loosany và Imai Điều kiện cần thiết cho sinh sản là nhiệt

độ, ở những thủy vực ôn đới, mùa vụ sinh sản phụ thuộc vào sự gia tăng nhiệt độ Mùa xuân là cực điểm của sự chín sinh dục, khi nhiệt độ nước đạt đến ngướng sinh sản Nhiệt độ cũng cần thiết cho sự phát triển của ấu trùng [1]

Trên thế giới phương pháp sản xuất giống mang tính thương mại đã có từ những năm cuối thế kỷ 19 Công trình nghiên cứu cho hầu đẻ thành công đầu tiên của Brook (1897) Ông đã nuôi được ấu trùng bơi lội tự do từ trứng và tinh trùng của hầu trong mùa sinh sản Cũng có nhiều nghiên cứu tiến hành ương nuôi ấu trùng hầu trong phòng thí nghiệm nhưng mãi đến năm 1920, Wells mới thành công trong kỹ thuật ương nuôi ấu thể Spat [1]

Đỉnh cao của phương pháp sản xuất giống nhân tạo là thu giống hầu đơn Ấu trùng được nuôi đến giai đoạn hậu ấu trùng đỉnh vỏ lồi, dùng hormone LHG kích thích hầu xuống đáy mà không cần bám hoặc dùng bột vỏ hầu, vỏ điệp, các hạt có kích thước 300 – 500 µm, ấu trùng Spat bám vào các hạt đó và thu được con giống dạng bám đơn Hai phương pháp này được sử dụng nhiều ở các nước tiên tiến như

Mỹ, Pháp, Úc [1]

Vào những năm 1982, các nhà khoa học của trường đại học Washington và trường Maire đã nghiên cứu thành công việc dùng các tác nhân vật lý và hóa học tạo thể tam bội ở hầu với kết quả đạt được 80% thể tam bội trong một triệu trứng sinh

ra Từ đó trở đi việc nuôi thương mại hầu tam bội tại bờ biển phía tây của Bắc Mỹ tăng đáng kể [3]

1.2.2 Tình hình nuôi hầu thương phẩm

Nhìn từ phạm vi toàn cầu, chúng ta thấy rằng nghề nuôi trồng động vật thân mềm biển ngày càng được các nước coi trọng Nguyên nhân rất rõ ràng đó là do sự tăng lên về nhân khẩu, do sự phát triển sức sản xuất công nghiệp, do sự suy giảm về nguồn lợi nghề cá truyền thống mang tính thế giới cùng với những hạn chế về qui

Trang 20

định của các đặc khu kinh tế 200 hải lý do các nước lần lượt tuyên bố từ sau nửa thập kỷ 70 (thế kỷ 20) Vì vậy, đầu ra của ngành thủy sản ngày càng hy vọng vào sự phát triển của nghề nuôi trồng tăng sản Căn cứ vào thống kê của FAO, tổng sản

lượng động vật thân mềm tính đến năm 1985 là 417 vạn tấn, trong đó hầu (Ostrea)

là 103 vạn tấn, vẹm (Mytilus) là 73 vạn tấn, điệp (Chlamys, Pecten) là 60 vạn tấn, ngao (Meretrix) là 160 vạn tấn, bào ngư và ốc là 7,7 vạn tấn và các loại khác là 0,6

tấn [29]

Nuôi trồng động vật thân mềm trên thế giới chủ yếu là ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Sản lượng chiếm khoảng 72% sản lượng thế giới và 95% sản lượng khu vực Châu Á [29]

Năm 2000, động vật nhuyễn thể chiếm 11% tổng sản lượng thuỷ sản thế giới, trong đó sản lượng nuôi chiếm 30% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới Sản lượng nhuyễn thể (đánh bắt + nuôi trồng thủy sản) tăng nhanh chóng trong 5 thập kỷ qua, từ 1,1 triệu tấn năm 1950 đến 14,9 triệu tấn năm 2000 Năm 2000, sản lượng nuôi nhuyễn thể chiếm 71,9% tổng sản lượng nhuyễn thể trên thế giới [29]

Năm 2000, hầu chiếm 37,4% tổng sản lượng nuôi trồng nhuyễn thể trên thế giới Tiếp theo là sò chiếm 24,6%, vẹm 12,3%, điệp 10,8%, còn lại 14,8% là các loài nhuyễn thể biển khác Sản lượng hầu từ nuôi trồng thuỷ sản chiếm 93,2%, vẹm 84,7%, nghêu, sò 76,8%, điệp 63,8%, các loài nhuyễn thể khác 51,5%, bào ngư 2,9% và nhuyễn thể nước ngọt 1,7% Trung Quốc là nước có sản lượng nuôi lớn nhất với 8,6 triệu tấn, chiếm 80,2% tổng sản lượng nhuyễn thể nuôi thế giới Các nước khác như Nhật Bản đạt sản lượng 434.000 tấn, Tây Ban Nha 261.000 tấn, Triều Tiên 254.000 tấn, Pháp 208.000 tấn, Italy 147.000 tấn và Thái Lan 133.000 tấn [29]

Theo công bố của tổ chức FAO (2005) (trích theo [3]), tổng sản lượng hầu trên thế giới năm 1950 đạt 492.538 tấn, trong đó sản lượng từ nuôi chỉ đạt 199.458 tấn, chiếm 40% tổng sản lượng và khai thác 293.080 tấn, chiếm 60% tổng sản lượng Sau 53 năm (đến năm 2003) tổng sản lượng hầu trên thế giới là 4.696.176 tấn Trong đó sản lượng từ nuôi là 4.496.659 tấn, chiếm 96% và khai thác 199.517

Trang 21

tấn, chiếm 4% tổng sản lượng Riêng trong năm 2003, sản lượng hầu nuôi từ khu vực châu Á chiếm 94% tổng sản lượng hầu nuôi trên thế giới, trong đó Trung Quốc chiếm hơn 2/3; châu Phi chiếm tỷ lệ khoảng 0,02% và châu Âu khoảng 2,9%

Trung Quốc là nước đầu tiên nuôi Hầu vì những giá trị về thực phẩm và y học của nó Tại Pháp, nghề nuôi hầu đã bắt đầu vào những năm giữa thế kỷ 17 với

loài hầu bản địa Ostrea edulis Nguồn giống cho nuôi được thu từ tự nhiên, sử dụng

những sạp gỗ hay sạp nhựa PVC đặt dưới đáy và được nuôi trong những ao vùng duyên hải Mãi đến năm 1960, nguồn giống này bị cạn kiệt do khai thác quá mức

nên người ta mới nhập khẩu loài hầu C angulata từ Bồ Đào Nha để nuôi Trong

những năm 1973, 1974 dịch bệnh đã gây chết hàng loạt nên hầu Thái Bình Dương

được thay thế cho hầu C angulata và vào năm 2002, sản lượng hầu này chiếm

khoảng 98% trong tổng sản lượng hầu nuôi Với nguồn giống tự nhiên hay nhân tạo, nuôi thương phẩm hầu ở Pháp và các nước châu Âu đều dựa vào 3 phương pháp nuôi chính Đó là nuôi đáy, nuôi trong những khung cố định dưới nước và nuôi treo [1]

1.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi hầu thương phẩm ở Việt Nam

Ở Việt Nam, theo thông tin của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2006), nghề nuôi thủy sản rất phát triển Nghề nuôi thủy sản truyền thống bắt đầu

từ thập niên 1960 Tuy nhiên, trong vòng 10 năm nay, nghề nuôi thủy sản có tốc độ phát triển rất nhanh chóng Theo thống kê của Bộ Thủy sản (2006) thì năm 1999 cả nước có tổng cộng trên 524.619 ha, đạt sản lượng 480.767 tấn Năm 2005, cả nước

có gần 1.000.000 ha nuôi thủy sản, đạt sản lượng 1.437.356 tấn Trong đó, sản lượng nuôi thủy sản nước lợ – mặn là 546.716 tấn, sản lượng nuôi nước ngọt đạt 890.650 tấn Theo kế hoạch, đến năm 2010, diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước là 1.000.000 ha, đạt sản lượng 2.000.000 tấn và kim ngạch xuất khẩu đạt 2.500.000 USD, thu hút 2.800.000 lao động nuôi trồng thủy sản [26]

Năm 2007, ngành thủy sản Việt Nam đã được xếp hạng thứ 5 trong số những quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới Dự kiến đến năm 2012, sản lượng thủy sản nói chung của cả nước sẽ đạt trên 6 triệu tấn Trong đó, nuôi trồng đạt trên

Trang 22

4 triệu tấn Sản lượng khai thác thủy sản ven bờ giảm xuống, ổn định ở mức 750.000 tấn [11]

Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới, Đông và Nam đều giáp biển, có nhiều vũng vịnh, cửa sông đổ ra biển, nền đáy đa dạng tạo nên khu hệ động vật thân mềm rất phong phú về thành phần loài, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế

Đối tượng hầu được tiến hành nuôi đầu tiên ở Việt Nam là hầu cửa sông Nhờ sự giúp đỡ của chuyên gia Nhật Bản, Trung Quốc từ những năm đầu thập kỷ

60, và nghiên cứu thử nghiệm nuôi hầu trên hệ thống sông Bạch Đằng, Quảng Yên, đạt được sản lượng gần 40 tấn [4]

Vùng biển nước ta có 11 loài hầu Trong đó có những loài có giá trị kinh tế

lớn như hầu cửa sông (C rivularis), hầu sú (S cucullata), hầu lá (O

denselamellosa), hầu đá (O glomerata) Từ lâu, nhân dân ta đã biết bỏ đá nuôi hầu

như bãi hầu ở bãi giữa sông Gianh – Quảng Bình Cách đây khoảng 50 năm, tại Lạch Trường (Thanh Hóa) do đê vỡ, phải kè đá Ít lâu sau, hầu đến bám vào đá và

do đó đã hình thành nghề nuôi hầu ở địa phương Cách đây gần 40 năm, theo chủ trương của Tổng Cục Thủy Sản, hầu đã là đối tượng nuôi hàng đầu của nghề nuôi hải sản nước ta [7]

Thời kỳ đầu những năm 60 của thế kỷ 20, nghiên cứu về hầu còn ít Chỉ có một vài thông tin của Hà Quang Hiến về yếu tố môi trường như độ mặn, tỷ trọng nước biển… đối với hầu cửa sông ở Lạch Trường (Thanh Hóa) Nguyễn Kim Đô, Nguyễn Quốc Lập năm 1962 đã tiến hành thụ tinh nhân tạo cho hầu tại sông Lạch Trường Việc thụ tinh thành công, phôi đã phát triển đến giai đoạn ấu trùng diện bàn (Veliger) [7]

1.3.1 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống

 Nghiên cứu về thức ăn

Các vi tảo tươi là nguồn thức ăn cần thiết của tất cả các giai đoạn nuôi các loài động vật thân mềm 2 mảnh vỏ ở biển Hiện nay, nước ta đã có nghiều công trình nghiên cứu về sản xuất thức ăn cho ấu trùng các loài động vật thân mềm hai

Trang 23

mảnh vỏ Hầu hết các loài vi tảo đã được sản xuất đại trà và đủ đáp ứng nhu cầu cho sản xuất giống

Raimbault (1966), Lubet (1978), Morton (1983) (trích theo [18]) xác định thực vật phù du là thức ăn quan trọng của động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Brown (1991), Coutteav và Sorgeloos (1992) (trích theo [18]) khi xem xét giá trị dinh dưỡng của các vi tảo được sử dụng nuôi các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ thì giá trị dinh dưỡng của bất kỳ loài tảo nào đối với một sinh vật phụ thuộc vào kích thước tế bào, tính tiêu hóa, việc sản sinh các hợp chất độc hại và thành phần sinh hóa của loài tảo

Nguyễn Thị Xuân Thu (1998) [18] sử dụng hỗn hợp các loài tảo đơn bào

Chlorella, Chaetoceros, Platymonas để ương nuôi ấu trùng điệp quạt Chlamys nobilis cho tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của ấu trùng cao hơn sử dụng một

loài tảo

Châu Văn Thanh (1998) [16] cho ấu trùng vẹm vỏ xanh Chloromytilus viridis

ăn hỗn hợp tảo đơn bào Platymonas sp., Nannochloropsis oculata, Chaetoceros sp từ

giai đoạn ấu trùng chữ D đến hậu kì đỉnh vỏ có tỷ lệ sống trên 73,53%

Lucas và Southgate (2003) cho rằng tiêu chí đầu tiên để lựa chọn loài tảo cho

ăn là kích thước trung bình và khả năng tiêu hóa của ấu trùng khi cho ăn loài tảo đó Theo các chuyên gia dinh dưỡng ấu trùng thủy sản thì giá trị dinh dưỡng của các loài tảo làm thức ăn cho ấu trùng động vật thủy sản phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng có trong tảo (đặc biệt nhất là hàm lượng các chất dinh dưỡng thiết yếu, chủ yếu là các acid béo không no mạch dài, amino acid, vitamin và khoáng vi lượng), kích thước tế bào có phù hợp với cỡ miệng ấu trùng hay không và độ dày của thành

tế bào tảo [2]

Hoàng Thị Bích Đào (2005) [6] khi nghiên cứu trên sò huyết với nguồn thức

ăn là tảo kết hợp, ấu trùng có tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng nhanh hơn

Ngoài ra nghiên cứu của Ngô Anh Tuấn (2005) [20] trên đối tượng điệp seo

Comptopallium radula cũng cho kết luận tương tự Kết hợp 2 loài tảo Nannochloropsis và Tetraselmis, ấu trùng có tỷ lệ sống, thời gian chuyển giai đoạn

Trang 24

và tốc độ sinh trưởng của ấu trùng điệp seo cao hơn so với cho ăn tảo đơn hoặc kết

hợp tảo Nannochloropsis với men bánh mì, bột ngũ cốc, tảo khô, thức ăn tổng hợp

Đặng Diễm Hồng, Hoàng Sỹ Nam, Ngô Thị Hoài Thu (2007) [8] sử dụng 1

số loài vi tảo trong sinh sản nhân tạo ngao Bến Tre Meretrix lyrata cũng cho kết luận tương tự Cho ăn có sự kết hợp giữa 3 loài tảo giàu giàu dinh dưỡng Isochrysis

galbana, Nannochloropsis oculata, Chaetoceros gracilis sẽ cung cấp đầy đủ thành

phần acid béo AA, EPA, DHA và DPA cho ấu trùng ngao ở giai đoạn chữ D và kích thước của hệ thống tiêu hóa lớn hơn so với chỉ sử dụng tảo đơn loài

 Nghiên cứu về mật độ

Doroudi và Southgate (2000) [20], khi nghiên cứu tỷ lệ sống của ấu trùng trai

ngọc môi đen Pictada margaritifera cho thấy mật độ ương nuôi nhỏ hơn 3 con/mL

là thích hợp nhất

Theo Hongsheng Yang, Fusui Zhang (2002) [20], các loài điệp Trung Quốc

Chlamys farreri, Chlamys nobilis, Patinopecten yessoensis, Argopecten irradians

có mật độ ương nuôi ấu trùng thích hợp trong khoảng 4 – 10 con/mL

Kết quả nghiên cứu trên điệp seo của Ngô Anh Tuấn (2005) [20] cho thấy

ương nuôi ấu trùng điệp seo Comptopallium radula với mật độ thích hợp từ 1 – 5

con/mL, đặc biệt ở mật độ 2 – 4 con/mL ấu trùng phát triển nhanh, kích thước ấu trùng lớn, thời gian chuyển giai đoạn nhanh và có tỷ lệ sống cao

 Tình hình sản xuất giống

Hiện nay, nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu sản xuất giống các đối tượng thân mềm hai mảnh vỏ Trong đó, các nghiên cứu về hầu ngày càng nhiều

và đang được quan tâm phát triển

Từ năm 2003 – 2004, nhờ có sự quan tâm đặc biệt của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I và Sở Khoa Học & Công Nghệ TP.HCM, công ty nuôi trồng thủy sản & thương mại Viễn Thành đã nghiên cứu thành công đề tài “sản xuất thử hầu giống bám đơn bằng sinh sản nhân tạo và nuôi hầu thương phẩm” tại xã đảo Long Sơn (Bà Rịa – Vũng Tàu) [21]

Trang 25

Năm 2005 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I phối hợp với Công ty Đầu tư và Phát triển sản xuất Hạ Long – Quảng Ninh đã nhập giống hầu Thái Bình Dương từ Đài Loan về nuôi thăm dò tại vịnh Bái Tử Long [21]

Năm 2003 – 2007 công ty nuôi trồng thủy sản & thương mại Viễn Thành bước đầu tạo được trên 4.000.000 con giống ưu thế lai có sức đề kháng cao, chịu đựng qua nhiều đợt dịch khốc liệt vào các năm 2003, 2005, 2006, 2007 Trong khi hầu thiên nhiên của các bè nuôi bên cạnh cũng như toàn bộ hầu nuôi trong dân trên sông Long Sơn hằng năm khi gặp dịch bệnh thường chết từ 70 – 90% [21]

Dự án chuyển giao công nghệ sản xuất giống hầu do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 chủ trì được triển khai từ tháng 5 năm 2007 Ngày 10 tháng 7 năm

2007, Cà Mau tổ chức Hội thảo về nuôi hầu và phát triển nghề nuôi hầu [17]

Do hầu Thái Bình Dương không phân bố tự nhiên ở Việt Nam nên việc nuôi phụ thuộc hoàn toàn vào con giống sản xuất nhân tạo Vì vậy, đưa ra các giải pháp nuôi thích hợp, nuôi tập trung với con giống từ sản xuất nhân tạo cũng cần được quan tâm nhằm đưa nghề nuôi hầu Thái Bình Dương ở nước ta phát triển mạnh, tạo

ra sản lượng lớn để xuất khẩu Năm 2008, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1 thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm hầu Thái Bình Dương phục vụ xuất khẩu” [21]

Năm 2008 – 2009, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 đã nghiên cứu thành công giống hầu Thái Bình Dương cho năng suất, chất lượng, tỷ lệ thịt/vỏ cao, cung cấp cho các cơ sở nuôi từ 100 đến 120 triệu con hàu giống/năm

Không những thế, ngành thủy sản nước ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về thị trường xuất khẩu với nhiều nguyên nhân như rào cản kỹ thuật, thương mại Hầu hết các nước nhập khẩu thủy sản của Việt Nam yêu cầu rất khắt

khe về việc chứng minh nguồn gốc xuất xứ mặt hàng thủy sản là khai thác trong tự

nhiên hay nuôi trồng Ðây là “đầu bài” để các nhà khoa học của viện hình thành các

đề tài khoa học nghiên cứu quy trình sản xuất và nuôi thương phẩm các giống thủy, hải sản cho năng suất cao, sạch bệnh để cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước [24]

Trang 26

Cũng như hầu Thái Bình Dương, hầu Bồ Đào Nha cũng không phân bố tự nhiên ở Việt Nam Vì vậy, vấn đề về con giống là vấn đề quan trọng quyết định đến hiệu quả nuôi loài hầu này Hiện nay, theo thông tin cá nhân và thực nghiệm cho thấy Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III đã cho sinh sản nhân tạo thành công

một số đối tượng hầu như: C gigas, C angulata, C rivularis, C iredalei… và đang

trong quá trình tiến hành thử nghiệm tạo thể tam bội các đối tượng trên

1.3.2 Tình hình nuôi hầu thương phẩm

Theo báo cáo của FAO, đầu tư cho nghề nuôi hầu rất thấp, kỹ thuật đơn giản, không phải cho ăn, quy mô đa dạng, sức sinh sản lớn là yếu tố quan trọng để sản xuất giống đại trà Ngoài ra, hầu có giá trị đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái thuỷ vực, chúng có tác dụng làm sạch môi trường nước Bên cạnh đó, hầu còn là đối tượng có giá trị kinh tế và ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về sản xuất giống ở Việt Nam Vì vậy, nghề nuôi hầu đang ngày càng phát triển và được nuôi phổ biến khắp 3 miền đất nước

Ở miền Nam, từ lâu vùng nước sông Long Sơn (Bà Rịa – Vũng Tàu) được mệnh danh là mỏ hầu của khu vực phía Nam, nơi có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, nhiệt độ quanh năm ấm áp, dao động 24 – 34oC, độ mặn thích hợp dao động 12 – 35 ppt, mật độ sinh vật phù du quanh năm phong phú Vì vậy, nơi đây được coi là vùng nước lý tưởng để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi hầu nói riêng [21]

Tại Long Sơn, nghề nuôi hầu đã hình thành từ nhiều năm qua Nơi đây có hơn 100 hộ sống bằng nghề nuôi hầu theo 3 hình thức nuôi giàn, nuôi bè và nuôi lồng Trong 3 hình thức này thì nuôi giàn đang được nhiều bà con áp dụng, do phù hợp với điều kiện của ngư dân như vốn đầu tư ít, kỹ thuật nuôi đơn giản lại cho hiệu quả kinh tế cao Hàng năm sản lượng hầu nuôi ở xã Long Sơn đạt hơn 1.644 tấn Vì vậy, hầu là đối tượng chuyển giao kỹ thuật trong việc phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững [31]

Theo nghiên cứu của Lê Minh Viễn và Phạm Cao Vinh (2005) [21], nguồn dinh dưỡng có trong hầu ở Long Sơn được đánh giá cao nhất trong các loài hầu

Trang 27

được nuôi ở Việt Nam và so với nhiều nước như Úc, Canada, Mỹ, Pháp… Việt Nam rất thuận lợi phát triển nuôi hầu vì chu kỳ đời hầu ở các nước này khoảng 3 năm, trong khi ở Việt Nam chỉ khoảng 10 – 12 tháng [31]

Với cách nhìn như vậy, từ năm 2004, Trung tâm Khuyến ngư tỉnh đã phối hợp với trường Đại học Thủy sản Nha Trang nghiên cứu đề tài xây dựng quy trình

kỹ thuật nuôi hầu để ứng dụng vào thực tiễn Nguồn giống hầu trong tự nhiên rất dồi dào và phong phú, là sản vật có hàm lượng dinh dưỡng cao, giá trị kinh tế lớn, đang dần trở thành mặt hàng được ưa chuộng Trong khi đó, kỹ thuật nuôi hầu không phức tạp như các loại hải sản khác và mức độ rủi ro thấp nên ngày càng thu hút nhiều người dân tham gia nuôi [31]

Ở miền Bắc, nghề nuôi hầu tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình… Quảng Ninh có trên 2.800 ha diện tích ao đầm, đất bãi triều

có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản; trong đó, 1.530 ha nuôi nhuyễn thể, 700 ha nuôi hải sản khác, 4.600 ô lồng nuôi biển Các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao đang

được phát triển ở vùng biển Vân Đồn là tu hài, ốc đá, ốc màu, ốc nhảy, ốc đẻ đen

Hai năm trở lại đây, Vân Đồn đã phát triển nghề nuôi nhuyễn thể thành một phong trào lớn, cho hiệu quả kinh tế cao Kết quả nổi bật nhất của nghề nuôi nhuyễn thể là góp phần quan trọng trong công tác xoá đói, giảm nghèo của địa phương [30]

Năm 2007, Việt Nam kết hợp với Công ty Khoa học kỹ thuật thuỷ sản Pauchen Đài Loan, chuyên gia Cục thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ khảo sát một

số khu vực tại vùng vịnh Bái Tử Long – Quảng Ninh Đoàn đã xác định vùng này có

đủ điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi hầu Thái Bình Dương đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào nhiều thị trường kể cả Mỹ và EU [30]

Ở miền Trung, tổng diện tích mặt nước quy hoạch đưa vào nuôi hầu đến năm

2010 là 5.100 – 6.300 ha, tập trung ở cửa Lạch Trường, cửa sông Mã và Sầm Sơn Thanh Hóa, vùng ven sông Mơ, ven biển Diễn Châu – Nghệ An Phương pháp nuôi chủ yếu là nuôi cọc, nuôi giàn cố định, nuôi khay Đối với khu vực đầm phá thuộc tỉnh Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế có thể nuôi bằng nhiều phương pháp khác nhau Ở Nha Trang chủ yếu là nuôi lồng, giàn cố định, giàn nổi, khay [14]

Trang 28

Vùng biển Nam Trung Bộ kéo dài từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận với nhiều hệ thống sông ngòi đổ ra biển, tạo nên nhiều vùng nước cửa sông rộng lớn và

từ đó hình thành các hệ đầm phá nổi tiếng như phá Tam Giang, Cầu Hai, đầm Lăng

Cô (Thừa Thiên Huế), Vũng Thùng (Đà Nẵng), đầm Thị Nại, đầm Cu Mông (Bình Định), đầm Ô Loan (Phú Yên), đầm Nha Phu, đầm Thủy Triều (Khánh Hòa), đầm Nại (Bình Thuận)… với diện tích mặt nước tương đối lớn, độ sâu thích hợp và nguồn dinh dưỡng động thực vật phong phú, chúng trở thành những khu vực có tiềm năng phát triển nuôi trồng các đối tượng động vật thân mềm (trong đó có hầu) [12]

Năm 2006 – 2007, ngành thủy sản Bình Định thực hiện mô hình nuôi hầu thương phẩm thuộc chương trình “hướng dẫn người nghèo cách làm ăn” tại Cồn Chim – đầm Thị Nại [9]

Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km, có 4 cửa sông lớn (Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Khẩu, Cửa Nhượng), có lượng thực vật phù du phong phú Vùng triều ven biển có lượng thức ăn dồi dào được xem là một lợi thế rất lớn để phát triển nghề nuôi nhuyễn thể Sản lượng nhuyễn thể nuôi chiếm trên 50% sản lượng nuôi các đối tượng mặn lợ của tỉnh nhà (2900tấn/5600tấn sản lượng mặn lợ) trong đó các đối tượng được nuôi chủ yếu là ngao, nghêu bến tre trên các bãi triều ngoài ra một số

mô hình nuôi vẹm vỏ xanh, hầu cửa sông được nuôi bằng dây treo hoặc cọc xi măng trên các sông, eo, vịnh khuất gió cũng đang phát triển Nhuyễn thể được đánh giá là mặt hàng xuất khẩu tiềm năng có kim ngạch xuất khẩu cao trong cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam

Trước đây người dân nuôi hầu chỉ với 3 phương pháp cổ điển Nhưng hiện nay cùng với tốc độ phát triển của nghề nuôi hầu, các phương pháp ngày càng nhiều hơn Một số phương pháp nuôi phổ biến đang được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam như nuôi cọc, nuôi dây, nuôi bè, nuôi đáy, nuôi treo trên khung gỗ, nuôi khay… Ngoài ra có thể nuôi ghép hầu trong ao đìa nuôi tôm Việc nuôi ghép hầu trong ao đìa nuôi tôm giúp làm tăng năng suất tôm nuôi do môi trường nuôi được ổn định và sạch hơn [28]

Trang 29

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

 Địa điểm thực hiện: Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III – 33 Đặng Tất – Nha Trang – Khánh Hòa

 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2010 (4 tháng)

 Đối tượng nghiên cứu: hầu Bồ Đào Nha (Crassostrea angulata Lamarck, 1819) Hầu Bồ Đào Nha có khóa phân loại như sau [32]:

Loài Crassostrea angulata Lamarck, 1819

Hình 2.1 Hầu Bồ Đào Nha

Trang 30

2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Ghi chú:

NT: nghiệm thức

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến

tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu Bồ Đào

Nha (Crassostrea angulata, Lamarck 1819)

Thí nghiệm 2 Thí nghiệm 1

So sánh, đánh giá:

- Tốc độ tăng trưởng về chiều dài, chiều cao của ấu trùng

- Tỷ lệ sống của ấu trùng

Chọn ra thức ăn, mật độ nuôi phù hợp nhất cho

sự phát triển của ấu trùng hầu

NT 4

Trang 31

2.3 Thiết bị phục vụ thí nghiệm

2.3.1 Vật liệu nghiên cứu

 Hầu bố mẹ: được lấy từ Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Trung, Vạn Ninh, Khánh Hòa

 Nước biển: được lấy vào bể lọc cát Sau đó, nước được lọc qua túi lọc trước khi đưa vào bể sử dụng

 Nước ngọt: nước máy được lọc qua túi lọc trước khi sử dụng

 Thức ăn: các loại tảo đơn bào Nannochloropsis oculata (Nanno),

Isochrysis galbana (Iso), Chaetoceros sp (Chaeto)

2.3.2 Dụng cụ thí nghiệm

 Xô nhựa: mỗi xô có thể tích 12 L Xô sau khi mua về được ngâm bằng chlorine, sau đó rửa lại bằng xà phòng và nước ngọt nhiều lần trước khi sử dụng

Xô được dùng để bố trí thí nghiệm

 Kính hiển vi quang học, lam kính, lamen, pipet, buồng đếm động vật, buồng đếm hồng cầu

 Các dụng cụ khác như: tỷ trọng kế, nhiệt kế thủy ngân, hệ thống sục khí (đá bọt, dây, van…), vợt, ca nhựa, thau, ca đong thủy tinh… Các dụng cụ được vệ sinh sạch sẽ bằng nước ngọt nhiều lần trước khi sử dụng

2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Tất cả các thí nghiệm được bố trí trong các xô nhựa 12 L với thể tích nước 8

L Sử dụng nước biển lọc sạch với độ mặn 30 – 33 ppt, pH 7,5 – 8,5, nhiệt độ 25,5 –

Trang 32

Hình 2.3 Xô bố trí thí nghiệm

2.4.1 Thí nghiệm 1 (thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn)

Mật độ ấu trùng là 4 con/mL cho tất cả các nghiệm thức Độ mặn 32 – 33 ppt, pH 7,5 – 8,5, nhiệt độ 25,5 – 29oC Tảo được sử dụng để ương nuôi ấu trùng như sau:

 Nghiệm thức 1: 100% Nannochloropsis oculata

 Nghiệm thức 2: 100% Isochrysis galbana

 Nghiệm thức 3: 50% Nannochloropsis oculata + 50% Isochrysis galbana

 Nghiệm thức 4: 40% Nannochloropsis oculata + 30% Isochrysis galbana + 30% Chaetoceros sp

2.4.2 Thí nghiệm 2 (thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ)

Ấu trùng được nuôi trong điều kiện độ mặn 30 – 33 ppt, pH 7,5 – 8,5, nhiệt

độ dao động từ 25,5 – 29oC với nguồn thức ăn là sự kết hợp giữa 3 loài tảo đơn bào

Nannochloropsis oculata + Isochrysis galbana + Chaetoceros sp Mật độ tảo trong

suốt quá trình nuôi tăng dần theo kích thước và ngày tuổi của ấu trùng

Trang 33

 Nghiệm thức 5: 3 con/mL

 Nghiệm thức 6: 5 con/mL

 Nghiệm thức 7: 7 con/mL

 Nghiệm thức 8: 9 con/mL

2.5 Phương pháp chăm sóc và quản lý ấu trùng

2.5.1 Phương pháp chăm sóc ấu trùng

Xô, van sục khí được vệ sinh và thay nước 2 ngày/lần Lượng nước trong xô được thay 30 – 50% tùy theo tình trạng sức khỏe của ấu trùng Quá trình thay nước được thực hiện nhẹ nhàng và dùng lưới có kích thước phù hợp với kích thước của

ấu trùng theo từng giai đoạn để ngăn không cho ấu trùng ra ngoài

Ấu trùng được cho ăn 2 lần/ngày vào lúc 7 – 8h và 14 – 15h Trước khi cho

ăn, tiến hành đếm mật độ tảo và kiểm tra chất lượng nước, tình trạng sức khỏe của

ấu trùng dưới kính hiển vi Lượng thức ăn cho ăn tăng dần theo giai đoạn phát triển của ấu trùng và được xác định theo công thức:

Tổng số tảo cho ăn = tổng số ấu trùng x Tb/ấu trùng/ngày

Số Tb/ấu trùng/ngày được tính dựa theo bảng 2.1

Bảng 2.1 Lượng thức ăn cho ăn theo từng giai đoạn phát triển của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha [23]

Ấu trùng điểm mắt 14 – 21 ngày 5 con/mL 140.000 2

Sau khi cho ấu trùng ăn 30 phút, lấy mẫu kiểm tra độ no của ấu trùng trên kính hiển vi quang học

Trang 34

2.5.2 Phương pháp quản lý ấu trùng

Hằng ngày, tiến hành kiểm tra các thông số môi trường vào lúc 7 – 8h và 14 – 15h Các yếu tố này được quản lý chặt chẽ để tránh hiện tượng thay đổi đột ngột, ảnh hưởng đến ấu trùng

Tiến hành đo kích thước kiểm tra tốc độ tăng trưởng và đếm số lượng ấu trùng, xác định tỷ lệ sống 2 ngày/lần

Thường xuyên quan sát ấu trùng bằng cách rọi đèn pin hoặc quan sát dưới kính hiển vi để theo dõi sức khỏe, khả năng vận động, độ no của ấu trùng Từ đó, điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp Đồng thời quan sát thời gian chuyển giai đoạn của ấu trùng

2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu

 Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua thực tế bố trí thí nghiệm Số lượng ấu trùng được đếm để xác định tỷ lệ sống Kích thước ấu trùng được đo 2 ngày/lần để theo dõi tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Ấu trùng được đếm bằng buồng đếm động vật và được cố định bằng dung dịch formol 5% để đo kích thước

 Mật độ ấu trùng được xác định bằng cách lấy ngẫu nhiên 1mL/mẫu, nhỏ

1 – 2 giọt Iodine vào đĩa lồng, xoay nhẹ đĩa lồng cho ấu trùng lắng tụ lại ở giữa Sau

đó, dùng pipet hút bỏ phần nước, hút hết ấu trùng đưa vào buồng đếm động vật, đếm toàn bộ ấu trùng/mL Kiểm tra từ 3 – 5 mẫu/xô

 Kích thước ấu trùng được xác định bằng trắc vi thị kính Ấu trùng được

đo bằng vật kính 10, thước đo trên trắc vi thị kính có 100 vạch Chiều cao được đo

từ mép vỏ phía mặt bụng đến đỉnh vỏ phía mặt lưng Chiều dài được đo từ mép mặt sau đến mép vỏ mặt trước

 Các yếu tố môi trường được đo đạc trực tiếp gồm nhiệt độ, pH, độ mặn,

dư lượng chlor trong nước

 Số liệu thứ cấp được thu thập từ các kỹ thuật viên, các tài liệu tham khảo, các báo cáo khoa học, internet, và các tài liệu khác liên quan đến đối tượng nghiên cứu

Trang 35

Bảng 2.2 Dụng cụ và thời gian đo các yếu tố môi trường

1 Nhiệt độ oC Nhiệt kế thủy ngân 1oC 7 – 8h và 14 – 15h

2.6.3 Các công thức tính toán

 Kích thước ấu trùng được tính theo công thức:

L = Ax0,1

VKTrong đó:

L: chiều dài ấu trùng (mm)

A: số tế bào trung bình trong một ô lớn qua các lần đếm

a: hệ số pha loãng dung dịch (nếu có)

25x104: hệ số nhân tính số tế bào trong 1mL

Trang 36

 Tỷ lệ sống của ấu trùng được tính theo công thức:

Ts(%) = A

B x100 Trong đó:

A: số lượng cá thể sau thời gian nuôi

B: số lượng cá thể tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm

 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối (µm/ngày) của ấu trùng được tính theo công thức:

DGR = L2–L1

t2–t1Trong đó:

L1: kích thước ấu trùng (µm) tại thời điểm t1

L2: kích thước ấu trùng (µm) tại thời điểm t2

 Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (%/ngày) của ấu trùng được tính theo công thức:

Trang 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C angulata) từ giai đoạn chữ D đến giai đoạn điểm mắt

Cũng như những loài thân mềm hai mảnh vỏ khác, ấu trùng hầu Bồ Đào Nha chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố bao gồm những yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Yếu tố khách quan bao gồm các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn… Yếu tố chủ quan như chế độ chăm sóc, phương pháp, kỹ thuật nuôi,… Trong

đó, không thể không kể đến yếu tố thức ăn Yếu tố này có thể được xem là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng và phát triển của ấu trùng động vật nói chung và ấu trùng hầu nói riêng

Đặc biệt, trong quá trình ương nuôi ấu trùng thân mềm hai mảnh vỏ, dinh dưỡng chính là yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả sản xuất giống Nếu ấu trùng được cho ăn nguồn thức ăn có kích thước không phù hợp với độ tuổi, kích thước của ấu trùng hoặc thức ăn thiếu chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình sinh trưởng, phát triển chúng sẽ có tốc độ tăng trưởng chậm, kém phát triển, tỷ lệ sống thấp… Ngược lại, nếu lượng thức ăn quá nhiều so với cần thiết, không những sẽ lãng phí nguồn thức ăn mà còn làm ô nhiễm môi trường nuôi Điều này cũng là nguyên nhân làm giảm hiệu quả sản xuất

Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm

Bảng 3.1 cho thấy các yếu tố môi trường trong quá trình bố trí thí nghiệm ít dao động Nhiệt độ dao động từ 25,5 đến 29oC, độ mặn: 30 – 33 ppt, pH: 7,5 – 8,5 Đây là khoảng thích hợp cho quá trình sinh trưởng, phát triển của ấu trùng hầu Bồ

Nhiệt độ (oC) 25,5 – 27 27 – 29

Độ mặn (ppt) 30 – 33 30 – 33

Trang 38

Đào Nha Điều này cho thấy các yếu tố môi trường không ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu

3.1.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu

Bồ Đào Nha (C angulata)

Bảng 3.2 Sự tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C

angulata) ở thí nghiệm 1

Chiều dài (µm) Ngày

TN Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3 Nghiệm thức 4

Các chữ đính kèm bên trên minh họa cho sự khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05)

050100150200250300

Hình 3.1 Sự tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu với các loại thức ăn

khác nhau

Trang 39

Sự tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha từ giai đoạn chữ D đến giai đoạn điểm mắt ở thí nghiệm 1 được thể hiện qua bảng 3.2 và hình 3.1 Bảng 3.2 và hình 3.1 cho thấy chiều dài của ấu trùng hầu tăng dần theo thời gian nuôi và theo độ tuổi của ấu trùng Chiều dài trung bình của ấu trùng hầu ở giai đoạn chữ D là 81,0 ± 0,48 µm và chiều dài của ấu trùng trong thời gian nghiên cứu đạt kích thước lớn nhất khi ấu trùng ở giai đoạn điểm mắt, với chiều dài trung bình 243,5 ± 0,87 µm

Trong đó, chiều dài của ấu trùng theo từng ngày tuổi với thức ăn khác nhau

thì khác nhau Ở ngày nuôi thứ 3, nghiệm thức 1 với loại thức ăn là tảo Nanno, ấu

trùng có chiều dài thấp nhất 85,8 ± 1,82 µm và nghiệm thức 4 với thức ăn là 3 loài tảo kết hợp cho chiều dài lớn nhất 94,5 ± 0,32 µm Tuy nhiên, ở giai đoạn này, kích thước của ấu trùng ở nghiệm thức 4 khác nhau không có ý nghĩa với nghiệm thức 3

và nghiệm thức 2 (P < 0,05), mà nghiệm thức 2 lại khác nhau không có ý nghĩa với nghiệm thức 1 (P < 0,05) Chỉ có sự khác nhau có ý nghĩa giữa nghiệm thức 4 và nghiệm thức 1, giữa nghiệm thức 3 và nghiệm thức 1 (P < 0,05)

Điều này cho thấy hỗn hợp 2 loại thức ăn hay 3 loại thức ăn ở 3 ngày đầu chỉ

tốt hơn loại thức ăn đơn Nanno, không hơn loại thức ăn đơn Iso, và hỗn hợp 2 loại thức ăn hay 3 loại thức ăn cũng không có gì khác nhau Tuy nhiên, loại thức ăn Iso

không nên chọn vì nghiệm thức 2 tuy không có sự khác nhau đáng kể với nghiệm thức 3 và nghiệm thức 4 nhưng cũng không khác nhau có ý nghĩa với nghiệm thức 1 (P < 0,05) Vì vậy, nghiệm thức 3 là nghiệm thức nên được chọn vì cho kết quả tốt nhất (khác nhau không có ý nghĩa với nghiệm thức 4) Sử dụng 2 loại thức ăn có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất hơn 3 loại thức ăn mà hiệu quả nuôi không thay đổi

Từ ngày thứ 5 trở đi, nghiệm thức 4 luôn cho kết quả tốt nhất về chiều dài của ấu trùng Kích thước của ấu trùng ở nghiệm thức 4 khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê so với các nghiệm thức 1, 2, 3 còn lại (P < 0,05)

Trong khi đó, những ngày tuổi tiếp theo của ấu trùng (từ giai đoạn trung Umbo đến giai đoạn hậu Umbo và xuất hiện điểm mắt) có sự khác nhau rõ rệt về chiều dài ở những nghiệm thức với nguồn thức ăn khác nhau Giai đoạn này, ấu

Trang 40

trùng có kích thước lớn hơn nên nhu cầu về dinh dưỡng cao hơn Nếu ta chỉ sử dụng một loài tảo thì không thể đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho sự phát triển của ấu trùng Đặc biệt, đây là giai đoạn ấu trùng đang hoàn thiện các cơ quan nên nhu cầu

về dinh dưỡng của ấu trùng càng cao Chúng đòi hỏi nhiều năng lượng, chất dinh dưỡng để hoàn thiện bộ máy cấu tạo cơ thể Sự kết hợp giữa các loài tảo sẽ cho kết quả tốt hơn vì trong mỗi loài tảo đều có những chất dinh dưỡng khác nhau Sự kết hợp nhiều loài tảo khác nhau sẽ cung cấp cho ấu trùng một lượng đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết [20]

Sử dụng tảo kết hợp ấu trùng có tốc độ tăng trưởng tốt hơn so với sử dụng tảo đơn loài Đặc biệt, nó càng được thể hiện rõ hơn ở kết quả trong những ngày nuôi tiếp theo đến khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn hậu Umbo và bắt đầu chuyển sang phương thức sống bám Sự khác nhau này được thể hiện rõ nhất ở ngày tuổi thứ 18, ấu trùng đã bắt đầu xuất hiện điểm mắt Lúc này kích thước về chiều dài ở 4 nghiệm thức khác nhau rõ ràng nhất và có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05)

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trên điệp quạt (Chlamys nobilis) của Nguyễn Thị Xuân Thu (1998) [18], vẹm vỏ xanh (Chloromytilus viridis) của Châu

Văn Thanh (1998) [16], sò huyết của Hoàng Thị Bích Đào (2005) [6], điệp seo

(Comptopallium radula) của Ngô Anh Tuấn (2005) [20], ngao Bến Tre (Meretrix

lyrata) của Đặng Diễm Hồng, Hoàng Sỹ Nam, Ngô Thị Hoài Thu (2007) [8] và hầu

Sydney (Saccostrea glomerata) của Phùng Bảy (2007) [2]

Ngoài ra, khi xét về tốc độ sinh trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu ở những ngày nuôi và nghiệm thức khác nhau thì tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày dao động từ 2,4 ± 0,64 µm/ngày đến 17,8 ± 0,75 µm/ngày Tốc độ sinh trưởng đặc trưng dao động trong khoảng 2,2 ± 0,90 %/ngày đến 10,7 ± 0,46 %/ngày (bảng 3.3)

Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR) được thể hiện rõ trong hình 3.2 và tốc độ sinh trưởng đặc trưng (SGR) được thể hiện trong hình 3.3

Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối về chiều dài của ấu trùng hầu tăng dần theo thời gian nuôi (bảng 3.3 và hình 3.2)

Ngày đăng: 28/06/2014, 13:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Quang Hùng (2007), “Nguồn lợi động vật thân mềm hai mảnh vỏ ở vùng triều ven bờ tây Vịnh Bắc Bộ”, Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần thứ năm, NXB Nông Nghiệp, Trang 117 – 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi động vật thân mềm hai mảnh vỏ ở vùng triều ven bờ tây Vịnh Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Quang Hùng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2007
11. Nguyễn Mạnh Hùng (2008), “Chiến lược phát triển của thủy sản Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”, Bản tin Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2, (Số 4), trang 2 – 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển của thủy sản Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Năm: 2008
12. Hà Lê Thị Lộc, Trương Sĩ Kỳ, Lê Thị Hồng, Nguyễn Thanh Tùng (2001), “Tình hình nuôi động vật thân mềm vùng biển từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận”, Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần thứ hai, NXB Nông Nghiệp, Trang 155 – 166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nuôi động vật thân mềm vùng biển từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận
Tác giả: Hà Lê Thị Lộc, Trương Sĩ Kỳ, Lê Thị Hồng, Nguyễn Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2001
13. Sổ tay nuôi một số đối tượng thủy sản nước mặn, Nguyễn Khắc Hường biên dịch, Nhà xuất bản nông nghiệp, Chương IV trang 215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay nuôi một số đối tượng thủy sản nước mặn
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
14. Huỳnh Đức Tâm (2009), Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu (Crassostrea iredalei Faustino, 1932), Luận văn tốt nghiệp đại học, Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu (Crassostrea iredalei Faustino, 1932)
Tác giả: Huỳnh Đức Tâm
Năm: 2009
15. Nguyễn Thị Vân Thái, Nguyễn Kim Độ (2001), “Động vật thủy sản – tiềm năng khai thác nguồn dược liệu quý của nước ta”, Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần thứ hai, NXB Nông Nghiệp, Trang 233 – 234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật thủy sản – tiềm năng khai thác nguồn dược liệu quý của nước ta
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Thái, Nguyễn Kim Độ
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2001
16. Châu Văn Thanh (1998), Một số đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sinh sản nhân tạo vẹm vỏ xanh Chloromytilus viridis (Linné, 1758), Luận văn thạc sĩ, Đại học Nha Trang, 69 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sinh sản nhân tạo vẹm vỏ xanh Chloromytilus viridis (Linné, 1758)
Tác giả: Châu Văn Thanh
Năm: 1998
17. Hà Đức Thắng (2007), “Nuôi hầu thương phẩm ở Cà Mau”, Bản tin Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1, (Số 34), trang 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi hầu thương phẩm ở Cà Mau
Tác giả: Hà Đức Thắng
Năm: 2007
18. Nguyễn Thị Xuân Thu (1998), Nghiên cứu đặc điểm sinh sản, sinh trưởng và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo điệp quạt Chlamys nobilis Reeve, 1852, Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp, Đại học Nha Trang, 172 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh sản, sinh trưởng và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo điệp quạt Chlamys nobilis Reeve, 1852
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Thu
Năm: 1998
21. Lê Minh Viễn và Phạm Cao Vinh (2005), “Nghề nuôi hầu ở miền Nam hiện nay và những định hướng phát triển bền vững trong tương lai”, Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần thứ tư, NXB Nông Nghiệp, Trang 304 – 314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nuôi hầu ở miền Nam hiện nay và những định hướng phát triển bền vững trong tương lai
Tác giả: Lê Minh Viễn và Phạm Cao Vinh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2005
22. Nguyễn Thị Vĩnh, Nguyễn Tài Lương, Đoàn Việt Bình, Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn Kim Độ (2001), “Nghiên cứu thành phần sinh hóa một số loài nhuyễn thể vùng biển Nha Trang”, Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần thứ hai, NXB Nông Nghiệp, Trang 235 – 238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần sinh hóa một số loài nhuyễn thể vùng biển Nha Trang
Tác giả: Nguyễn Thị Vĩnh, Nguyễn Tài Lương, Đoàn Việt Bình, Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn Kim Độ
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2001
23. Lê Xân, Cao Trường Giang, Bùi Khánh Tùng, Đỗ Xuân Hải, Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Hữu Tích (2010), Sổ tay hướng dẫn sản xuất giống nhân tạo một số loài động vật thân mềm 2 mảnh vỏ, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1, 40 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn sản xuất giống nhân tạo một số loài động vật thân mềm 2 mảnh vỏ
Tác giả: Lê Xân, Cao Trường Giang, Bùi Khánh Tùng, Đỗ Xuân Hải, Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Hữu Tích
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Lịch sử phát triển của hầu Bồ Đào Nha (C. angulata) - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Hình 1.1. Lịch sử phát triển của hầu Bồ Đào Nha (C. angulata) (Trang 11)
Hình 1.2. Sản lượng hầu Bồ Đào Nha (C. angulata) trước năm 1970 - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Hình 1.2. Sản lượng hầu Bồ Đào Nha (C. angulata) trước năm 1970 (Trang 11)
Hình 1.3. Chu kỳ vòng đời của hầu - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Hình 1.3. Chu kỳ vòng đời của hầu (Trang 17)
Hình 2.1. Hầu Bồ Đào Nha - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Hình 2.1. Hầu Bồ Đào Nha (Trang 29)
Hình 2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Hình 2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 30)
Hình 2.3. Xô bố trí thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Hình 2.3. Xô bố trí thí nghiệm (Trang 32)
Bảng  2.1.  Lượng  thức  ăn  cho  ăn  theo  từng  giai  đoạn  phát  triển  của  ấu  trùng  hầu Bồ Đào Nha [23] - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
ng 2.1. Lượng thức ăn cho ăn theo từng giai đoạn phát triển của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha [23] (Trang 33)
Bảng 2.2. Dụng cụ và thời gian đo các yếu tố môi trường - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Bảng 2.2. Dụng cụ và thời gian đo các yếu tố môi trường (Trang 35)
Bảng 3.1. Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Bảng 3.1. Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm (Trang 37)
Hình 3.1. Sự tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu với các loại thức ăn  khác nhau - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Hình 3.1. Sự tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng hầu với các loại thức ăn khác nhau (Trang 38)
Hình 3.2. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR) về chiều dài của  ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Hình 3.2. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (DGR) về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C (Trang 41)
Hình 3.3. Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (SGR) về chiều dài của ấu trùng hầu  Bồ Đào Nha (C - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Hình 3.3. Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (SGR) về chiều dài của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C (Trang 42)
Bảng  3.4.  Sự  tăng  trưởng  về  chiều  cao  của  ấu  trùng  hầu  Bồ  Đào  Nha  (C. - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
ng 3.4. Sự tăng trưởng về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C (Trang 43)
Hình 3.4. Sự tăng trưởng về chiều cao của ấu trùng hầu với các loại thức ăn  khác nhau - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Hình 3.4. Sự tăng trưởng về chiều cao của ấu trùng hầu với các loại thức ăn khác nhau (Trang 44)
Bảng 3.5. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bỡnh quõn ngày (DGR àm/ngày) và tốc  độ sinh trưởng đặc trưng (SGR %/ngày) về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào  Nha (C - nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng hầu bồ đào nha
Bảng 3.5. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bỡnh quõn ngày (DGR àm/ngày) và tốc độ sinh trưởng đặc trưng (SGR %/ngày) về chiều cao của ấu trùng hầu Bồ Đào Nha (C (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w