1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học " KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU : CÁI NHÌN TOÀN CẢNH, KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP CHO TTCK VIỆT NAM " docx

17 188 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khủng Hoảng Tài Chính Toàn Cầu: Cái Nhìn Toàn Cảnh, Khuyến Nghị Giải Pháp Cho TTCK Việt Nam
Tác giả Nguyễn Ngọc Cảnh
Người hướng dẫn Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Cảnh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 335,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU : CÁI NHÌN TOÀN CẢNH, KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP CHO TTCK VIỆT NAM Thạc sĩ Kinh tế Nguyễn Ngọc Cảnh Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước

Trang 1

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU : CÁI NHÌN TOÀN CẢNH,

KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP CHO TTCK VIỆT NAM

Thạc sĩ Kinh tế Nguyễn Ngọc Cảnh

Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2010 bắt nguồn từ khủng hoảng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Mỹ Cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến sự

đổ vỡ của hàng loạt định chế tài chính lớn, nhiều tổ chức tín dụng bị quốc hữu hoá

và sự sụt giảm trên thị trường chứng khoán trên khắp thế giới Nhiều nhà kinh tế coi cuộc khủng hoảng này là một cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ Đại khủng hoảng những năm 30 thế kỷ trước Cuộc khủng hoảng này đã làm tiêu tan một lượng tài sản lớn ước tính có gía trị hàng ngàn tỉ USD

Để đối phó với nguy cơ nền kinh tế thế giới lâm vào vòng xoáy giảm phát, Cục dự trữ Liên bang Mỹ cùng với các ngân hàng trung ương trên thế giới đã tăng cung tiền cho nền kinh tế nhằm ngăn chặn việc suy giảm tiêu thụ trên toàn cầu Bên cạnh đó, Chính phủ các nước cũng có các gói kích cầu bằng cách cho vay và chi để bù đắp việc cắt giảm chi tiêu từ khối kinh tế tư nhân và hộ gia đình Riêng

Mỹ có tất cả 2 gói kích cầu có tổng trị giá là 1.000 tỉ USD trong năm 2008 và 2009

Cuộc khủng hoảng tài chính đã nhanh chóng dẫn tới hiện tượng đóng băng trên thị trường tín dụng, đẩy hệ thống tài chính thế giới tới bờ vực phá sản Trước tình thế này, Cục dự trữ Liên bang Mỹ và Ngân hàng Trung ương Châu Âu, cùng nhiều ngân hàng trung ương khác, đã có những phản ứng kịp thời mang tính chất gay cấn Trong Quý IV năm 2008, các ngân hàng trung ương đã mua lại tổng cộng

là 2.500 tỉ USD nợ công và các tài sản xấu từ các ngân hàng Đây được coi là một trong những động thái mạnh mẽ nhất trong chính sách tiền tệ từ trước tới nay Chính phủ các nước Châu Âu và Mỹ cũng đã tăng vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng lên 1.500 tỉ USD dưới hình thức mua cổ phiếu ưu đãi tại các ngân hàng chính

Chính phủ các nước cũng cứu trợ các doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đẩy nợ công lên cao Cho đến nay, các cơ quan Chính phủ Mỹ đã chi hoặc cam kết hàng ngàn tỉ USD dưới dạng tín dụng, mua tài sản, bảo đảm hay chi trực tiếp Tổng giá trị cam kết là 11.000 tỉ USD, giải ngân thực tế là 3.000 tỉ USD,

cụ thể :

- Chương trình cứu trợ đối với các tài sản xấu : tổng giá trị cam kết của Chính phủ Mỹ là 700 tỉ USD, đã đầu tư thực tế là 300 tỉ USD;

Trang 2

- Cỏc nỗ lực cứu trợ cỏc ngõn hàng của Cục dự trữ Liờn bang Mỹ : tổng giỏ trị cam kết là 6.400 tỉ USD, đầu tư thực tế là 1.500 tỉ USD;

- Cỏc chương trỡnh kớch cầu : tổng giỏ trị cam kết là 1.200 tỉ USD, giải ngõn thực tế là 577,8 tỉ USD;

- Chương trỡnh hỗ trợ Tập đoàn bảo hiểm AIG : tổng giỏ trị cam kết là 182 tỉ USD, giải ngõn thực tế là 127,4 tỉ USD;

- Chi cho việc thụn tớnh cỏc ngõn hàng gặp khú khăn của Cụng ty bảo hiểm tiền gửi Liờn bang : đó chi 45,4 tỉ USD;

- Cỏc sỏng kiến cứu trợ ngành tài chớnh khỏc : tổng giỏ trị cam kết là 1.700 tỉ USD, giải ngõn thực tế là 366,4 tỉ USD;

- Cỏc sỏng kiến ứu trợ ngành bất động sản khỏc : tổng giỏ trị cam kết là 745

tỉ USD, giải ngõn thực tế là 130,6 tỉ USD;

Kết quả từ cỏc gúi cứu trợ là nền kinh tế Mỹ núi riờng, và nền kinh tế thế giới núi chung đó bắt đầu cú những dấu hiệu khởi sắc từ năm 2009, và xu hướng này ngày càng rừ hơn trong năm 2010 Theo phõn tớch tỡnh hỡnh thực tế hiện nay, cuộc khủng hoảng tài chớnh quốc tế đó cơ bản vượt qua thời kỳ xấu nhất, kinh tế thế giới bắt đầu đi lờn từ đỏy, nhõn tố chủ yếu chớnh là chỉ số khủng hoảng (tỉ lệ bất ổn) đó giảm xuống dưới 30% Theo bỏo cỏo "Tỡnh hỡnh và triển vọng kinh tế thế giới năm 2010" do Liờn Hợp Quốc ban bố thỡ dự tớnh năm 2010, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế thế giới chỉ là 2,4% Tăng trưởng õm của năm 2009 chuyển thành tăng trưởng thực sự vào năm 2010 là một chuyển biến tớch cực quan trọng

Nhưng theo định nghĩa truyền thống của Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế thế giới ở mức dưới 2,5% được định nghĩa là suy thoỏi kinh tế thế giới, vỡ thế năm 2010, kinh tế thế giới vẫn nằm trong suy thoỏi hoặc bờn bờ của suy thoỏi Trong nghịch cảnh kinh tế thế giới như vậy, theo dự tớnh, năm 2010, cỏc nước đang phỏt triển được coi là một chỉnh thể sẽ tăng tốc là 5,1%, trong đú tỉ lệ tăng trưởng kinh tế của nhúm kinh tế mới nổi là 6%, cũn cỏc nước phỏt triển chỉ khoảng 1,75% (dự bỏo của Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế là 1,3%)

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI HẬU KHỦNG HOẢNG

Bờn cạnh những chớnh sỏch đối phú mang tớnh chất tức thời kể trờn, Chớnh phủ cỏc nước cũng đó cú những nỗ lực khụng nhỏ trong việc cải cỏch nền kinh tế, đặc biệt là hệ thống tài chớnh vốn được chỉ trướch nhiều nhất trong cuộc khủng hoảng tài chớnh này Vào thỏng 6 năm 2009, Tổng thống Mỹ Barack Obama đó đưa

ra một serie chớnh sỏch cải cỏch, bao gồm bảo vệ người tiờu dựng, quản lý mức thự

Trang 3

lao cho lãnh đạo cao cấp doanh nghiệp, yêu cầu cao hơn về vốn đối với ngân hàng, tăng cường quản lý hệ thống tổ chức tín dụng phi ngân hàng và các loại chứng khoán, tài sản phái sinh, tăng quyền lực cho Cục dự trữ Liên bang Mỹ

Ngày 21/7, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã chính thức ký thành luật dự thảo cải cách ngành tài chính sâu rộng nhất kể từ thời kỳ Đại suy thoái những năm

1930, nhằm bảo vệ người tiêu dùng và đảm bảo sự ổn định kinh tế tốt hơn Đạo luật mới dài 2.323 trang, mang tên "Bảo vệ người tiêu dùng và cải cách Phố Wall Dodd-Frank", trong đó Dodd-Frank là từ ghép tên của Thượng nghị sĩ Christopher Dodd và Hạ nghị sĩ Barney Frank, hai nhà tài trợ chính của đạo luật này trong Quốc hội Mỹ

Dodd-Frank được xem là một bước ngoặt mang tính lịch sử, khi đánh giá lại toàn bộ các quy định trong hệ thống tài chính Mỹ Đây là dự luật cải cách mạnh mẽ

và sâu rộng nhất kể từ thời kỳ Đại suy thoái những năm 1930 tới nay Đạo luật Dodd-Frank sẽ mang lại cho Chính phủ Mỹ những quyền lực mới để ngăn chặn các công ty có khả năng đe doạ tới nền kinh tế, thành lập một cơ quan mới bảo vệ người tiêu dùng và giám sát chặt chẽ hơn thị trường tài chính

Đạo luật đưa ra một loạt biện pháp cải cách thị trường Phố Wall, ngăn chặn nguy cơ các thể chế tài chính lớn sụp đổ gây ảnh hưởng tới kinh tế Mỹ, kiểm soát các khoản tiền thưởng và ngăn chặn những khoản đầu tư rủi ro Đồng thời, tạo ra một cơ chế bảo vệ người gửi tiền tại các ngân hàng dưới sự giám sát của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Cụ thể, Dodd-Frank sẽ áp dụng các khoản phí và hạn chế mới đối với các ngân hàng lớn nhất Mỹ, đặt ra những giới hạn đối với thị trường phái sinh trị giá 450.000 tỉ USD cũng như bảo vệ người tiêu dùng trước các tài sản thế chấp và thẻ tín dụng

Các quy định mới về tổ chức xếp hạng tín dụng, ngân hàng, quỹ đầu tư, và lĩnh vực thế chấp trị giá 450.000 tỉ USD có thể diễn ra trong nhiều năm Tuy nhiên, đạo luật yêu cầu các nhà điều hành nhanh chóng áp dụng các điều khoản mới trong vòng 6 đến 18 tháng Ví dụ như Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) dự kiến sẽ chịu trách nhiệm thực thi 95 điều khoản và FED thực hiện 54 điều khoản

Đạo luật yêu cầu hội đồng giám sát bình ổn tài chính hợp tác cùng với FED trong việc yêu cầu các ngân hàng "có nhiều khả năng phá sản" áp dụng các giới hạn nghiêm ngặt về vốn và đòn bẩy; hướng dẫn Chính phủ tổ chức các cuộc kiểm toán bất thường và liên tục đối với các chương trình tín dụng của FED; và thành lập "Quy tắc Volcker" để giới hạn các hoạt động giao dịch tự doanh của các ngân hàng lớn

Trang 4

Bờn cạnh đú, Dodd-Frank cũng buộc cỏc ngõn hàng lớn dần rỳt hầu hết vốn

ra khỏi cỏc quỹ đầu cơ và tư nhõn trong vài năm, thành lập hệ thống mới để xoỏ bỏ cỏc ngõn hàng khổng lồ bị thua lỗ tương tự như Lehman, từ đú sự phỏ sản của cỏc ngõn hàng này khụng đẩy cỏc thị trường vào vũng xoỏy chết

Như vậy, với những cải cỏch sõu rộng trong lĩnh vực tài chớnh - chứng khoỏn nờu trờn, hoạt động kinh doanh của cỏc ngõn hàng và cụng ty chứng khoỏn sẽ bị kiểm soỏt chặt chẽ hơn trờn thị trường chứng khoỏn Mỹ, việc sử dụng cỏc cụng cụ tài chớnh, đặc biệt là đũn bảy tài chớnh sẽ gặp phải nhiều hạn chế, cũng như cỏc tổ chức tài chớnh phải trướch nhiều hơn cho cỏc quỹ dự phũng rủi ro

VIỆT NAM VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU Phản ứng của Việt Nam

Trong một thế giới toàn cầu hoỏ như ngày nay, cuộc khủng hoảng tài chớnh toàn cầu bắt nguồn từ Mỹ đó tạo ra những "sang chấn" đỏng kể đổi với nền kinh tế

vĩ mụ của Việt Nam Cỏc tỏc động cụ thể của cuộc khủng hoảng này cú thể bao gồm :

Nhu cầu đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam bị thu hẹp (hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là sang thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản) : Đến hết quý 1-2009, khi so với cựng kỳ, xuất khẩu chỉ tăng 2,4% (nếu loại trừ 2,3 tỉ đụ la tỏi xuất vàng thỡ kim ngạch xuất khẩu giảm tới 15%)

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp và giỏn tiếp suy giảm trờn phạm vi toàn cầu, và Việt Nam khụng phải là một ngoại lệ : trong ba thỏng đầu 2009 Việt Nam chỉ thu được 2,1 tỉ USD đầu tư nước ngoài, giảm 70% so với cựng kỳ năm 2008, trong khi nguồn vốn FDI cam kết đạt 6 tỉ USD, tương đương 60% số vốn của cựng kỳ năm

2008 Thực tế, nguồn vốn FDI đăng ký sụt giảm ngay từ thỏng 1, chỉ đạt 185 triệu USD Sang thỏng 2, tổng vốn tăng mạnh do cú 3 dự ỏn lớn được cấp phộp tại Bà Rịa - Vũng Tàu, và một dự ỏn tăng vốn từ 300 triệu USD lờn 4,1 tỉ USD Cỏc dự ỏn khỏc tăng vốn rất ớt, và trong 3 thỏng, chỉ cú 34 lượt dự ỏn xin tăng

Theo ụng Nguyễn Hoàng Minh, phú giỏm đốc chi nhỏnh Ngõn hàng Nhà nước Việt Nam tại Thành phố Hồ Chớ Minh cho biết, trong năm 2009, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam qua hệ thống ngõn hàng và cỏc cụng ty chuyển tiền là 3,2

tỉ đụ la, giảm 20% so với mức của năm 2008 Lượng kiều hối trong năm 2009 bị giảm là điều khụng thể trỏnh khỏi, một phần do nạn thất nghiệp tại những quốc gia

cú cộng đồng người Việt sinh sống Theo thẩm định của giới chuyờn gia, thỡ tổng lượng kiều hối chuyển về Việt Nam trong 2009, theo những con đường khỏc nhau

Trang 5

có thể giao động từ 6 đến 6,8 tỉ đô la, trong khi đó, lượng kiều hối trong năm 2008

là 7,2 tỉ đô la

Những yếu tố trên sẽ làm cán cân thanh toán trở nên xấu đi, đe doạ sự ổn định của thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung Để đối phó với tác động của cuộc khủng hoảng, Đảng và Chính phủ đã kịp thời đề ra các giải pháp quyết liệt và có hiệu quả nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu mức tăng trưởng kinh tế năm 2009 ở mức 5-6% Để đảm bảo mục tiêu trên, Việt Nam đã triển khai một loạt các chính sách tài chính tiền tệ, các giải pháp kích cầu đầu tư tiêu dùng

Thứ nhất, trong lĩnh vực tiền tệ, Việt Nam đã áp dụng chính sách tiền tệ linh hoạt, từng bước cắt giảm lãi suất cơ bản từ 14% xuống 7%, giảm dự trữ bắt buộc từ 5% xuống 1%, duy trì sự ổn định của tỉ giá đồng Việt Nam trên thị trường ngoại hối

Thứ hai, trong lĩnh vực tài chính, Chính phủ đã thực hiện các giải pháp giãn

và cắt giảm thuế như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống 25%, giảm 30% thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giảm và miễn thuế đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, giãn việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập chứng khoán Ngoài ra, Chính phủ đã giảm thuế xuất khẩu, tăng thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng tiêu dùng, giảm thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu và đầu vào sản xuất

Thứ ba, Chính phủ đã triển khai gói kích cầu trị giá 17 nghìn tỉ đồng (tương đương 1 tỉ USD) dưới hình thức hỗ trợ lãi suất 4%/năm Sau gần 2 tháng thực hiện đến nay đã có hơn 200 nghìn tỉ đồng (tương đương 12 tỉ USD) tín dụng đã được giải ngân từ ngân hàng với sự hỗ trợ của gói kích cầu này

Theo báo cáo của Chính phủ, kết quả tổng hợp của gói kích cầu là góp phần tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, quý sau cao hơn trước, quý 4 năm 2009 GDP tăng 6,8% và cả năm đạt mục tiêu 5-5,2% và cơ bản thực hiện được mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý và bền vững, chỉ số giá tiêu dùng ở mức 7%; bội chi ngân sách là 6,9% là thành tích lớn trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu vẫn giảm 11,4%, và vốn FDI giảm 11,2% so với năm 2008 trong khi tổng vốn đầu tư tăng 14,4% chủ yếu nhờ vốn đầu tư nhà nước tăng tới tới 45,5%

Nới lỏng chính sách tài khoá đã dẫn tới hệ quả trực tiếp là bội chi ngân sách lên đến 6,9% GDP chưa tính đến các khoản chi từ nguồn trái phiếu chính phủ, các khoản Chính phủ vay về cho doanh nghiệp vay lại Nợ chính phủ cũng tăng mạnh

Trang 6

từ 36,5% GDP năm 2008 lên đến 40% GDP năm 2009 và năm 2010 dự kiến khoảng 44% GDP Theo công bố từ nguồn tin Bộ Tài chính thị nợ nước ngoài cho đến thời điểm hiện nay của Việt nam là 29% GDP

Thị trường chứng khoán khởi sắc

Những dấu hiệu lạc quan của nền kinh tế, kèm theo hiệu ứng của gói kích cầu, đã giúp năm 2009 để lại những dấu ấn quan trọng trong lịch sử 9 năm phát triển của thị trường chứng khoán Những kỷ lục mới, cột mốc quan trọng đã lần lượt được thiết lập : phiên giao dịch ngày 24-2, VN-Index đã rơi xuống mức đáy 235,5 điểm, HNX-Index lùi về dưới mốc 100 điểm khi xuống mức thấp nhất trong lịch sử là 78,06 điểm Tuy nhiên, bước sang tháng 3-2009, các nhà đầu tư (NĐT)

đã lấy lại được niềm tin khi TTCK có một tháng tăng điểm ấn tượng nhất kể từ tháng 11-2008 : VN-Index không chỉ khởi sắc về điểm số mà khối lượng giao dịch cũng tăng mạnh Tính đến hết ngày 30-6, VN-Index đã tăng 132,67 điểm (42,03%), HNX-Index tăng 44,57 điểm (42,66%) so với thời điểm kết thúc năm

2008 Đây là một bước tiến dài của TTCK trong nước khi VN-Index đã đạt tốc độ tăng lớn thứ 8 trong tổng số 89 chỉ số chứng khoán quan trọng trên thế giới khi tăng được 46% so với thời điểm đầu năm 2009 Kỷ lục về khối lượng giao dịch tại sàn HOSE được thiết lập vào ngày 10-6 với 101.774.520 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được chuyển nhượng, con số tương tự tại HNX là 56.522.170 cổ phiếu

Từ tháng 8 đến tháng 10, TTCK lại tiếp tục đợt tăng giá thứ hai đầy mạnh

mẽ với nhiều kỷ lục về giá trị và khối lượng giao dịch kỷ lục được xác lập Ngày 22-10, TTCK vươn tới đỉnh điểm của đợt sóng thứ 2 là mức 624,10 điểm Đây cũng là mức cao nhất của thị trường sau 394 phiên giao dịch kể từ ngày 14-3-2008 Trong khoảng thời gian này, thanh khoản liên tục đạt kỷ lục trên cả hai sàn Đối với sàn HOSE, phiên giao dịch ngày 23-10 được coi là "siêu thanh khoản" khi lập

kỷ lục cao nhất từ trước đến nay cả về khối lượng và giá trị giao dịch với hơn 136 triệu đơn vị được chuyển nhượng, tương ứng giá trị giao dịch lên đến 6,414 nghìn

tỉ đồng; sàn HNX đạt kỷ lục với hơn 67,23 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng cùng 3,04 nghìn tỉ đồng được giải ngân TTCK tăng trưởng mạnh mẽ, nằm ngoài

dự đoán của giới chuyên gia và trở thành điểm sáng ấn tượng khi có tốc độ phục hồi nhanh nhất châu Á

Một ấn tượng khác của TTCK là sự phát triển mạnh mẽ về quy mô Tính đến tháng hết tháng 07-2010, đã có 571 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được niêm yết Tổng giá trị vốn hoá thị trường cổ phiếu lên tới hơn 694 nghìn tỉ đồng (hơn 36 tỉ USD), tương đương 40% GDP của năm 2009 Năm 2009 cũng đánh dấu sự lên sàn của hàng loạt doanh nghiệp (DN) lớn như Eximbank, Bảo Việt, Vietcombank và

Trang 7

Vietinbank Sự góp mặt của các "đại gia" này đồng nghĩa với việc nguồn cung trên thị trường ngày càng đa dạng hơn Trong đó, Vietcombank giao dịch 112,3 triệu cổ phiếu, là DN có vốn hoá lớn nhất thị trường, với trên 56.000 tỉ đồng, gấp hơn 2 lần "quán quân" trước đó là ACB (28.000 tỉ đồng) Trong khi đó, Bảo Việt (BVH) niêm yết toàn bộ 573 triệu cổ phiếu và Vietinbank có 121,2 triệu cổ phiếu Các "đại gia" này đều chào sàn thành công, đáp ứng được mong đợi của NĐT Giá

cổ phiếu các doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng nhờ vậy đã tăng trong một thời gian khá dài và trở thành những cổ phiếu "blue chip" trên thị trường

Những lo ngại từ hậu khủng hoảng

Bước sang năm 2010, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu phục hồi nhanh Hầu hết các ngành, lĩnh vực thời gian qua đều đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn cùng kỳ năm trước, mặc dù phải liên tiếp đối mặt với nhiều thách thức mới nảy sinh từ trong và ngoài nước Mặt được lớn nhất là các cân đối vĩ mô của nền kinh tế nhìn chung vẫn được duy trì tương đối ổn định Sự ổn định tương đối này được đánh giá là chưa vững chắc, bởi vừa qua đã có lúc xảy ra những diễn biến chưa thật lành mạnh như lãi suất tín dụng tăng vọt, tỉ giá đồng đôla Mỹ lên xuống thất thường, gây khó khăn lớn cho sản xuất, kinh doanh

Mặt được nổi trội nữa là toàn nền kinh tế đã và đang lấy lại đà tăng trưởng Tiêu biểu là GDP quý II tăng 6,2-6,4%, tạo nên mức tăng trưởng kinh tế 6 tháng đạt khoảng 6,1% so với cùng kỳ năm trước Công nghiệp được xem là mảng toả sáng trong bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm nay với mức tăng trưởng giá trị sản xuất toàn ngành 6 tháng qua ở mức 13,8% so với mức tăng 6,18% và 5,32% của cả năm 2008 và 2009, hay so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra cho năm 2010 là tăng 12% Công nghiệp đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo nên tốc độ tăng trưởng 15,7% của kim ngạch xuất khẩu 6 tháng qua, vượt gấp đôi so với mức tăng 6% mà Quốc hội đã đề ra cho năm 2010, và đặc biệt, nếu so với mức giảm 9,7% của kim ngạch xuất khẩu năm 2009

Điều chưa làm được đáng quan tâm nhất hiện nay là việc nâng cao hiệu quả đầu tư Cụ thể là, thực hiện tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 6 tháng qua đã được huy động đến mức cao nhất từ trước tới nay, bằng 43,5% GDP, mà tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt khoảng 6,1% là hiệu quả rất thấp Một nỗ lực khác cũng chưa mang lại kết quả như mong muốn là giảm nhập siêu Trong khi xuất khẩu tăng 15,7% thì nhập khẩu tăng 29,4% Hơn nữa, đã xuất hiện dấu hiệu chững lại của xuất khẩu, như trong tháng 6 vừa qua, do thị trường EU và một số thị trường khác đang gặp khó khăn

Trang 8

Trái với dự kiến về sự tăng trưởng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong năm 2010, nguồn vốn này đang có xu hướng giảm Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến ngày 20/7, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân đạt 6,4 tỉ USD Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng vốn FDI giải ngân so với cùng kỳ năm ngoái đã giảm dần trong 3 tháng trở lại đây, từ mức tăng 7,1% trong tháng 4 xuống còn tăng 6% trong tháng 6, và tháng này chỉ còn tăng 1,6% Hơn nữa, sự sụt giảm này đã thể hiện trong vài tháng gần đây, từ mức khoảng 1,5 tỉ USD trong tháng 5, giảm xuống còn trên 800 triệu USD trong tháng 6 và đến tháng này chỉ còn hơn nửa tỉ USD

Một trong các nguyên nhân khiến các chỉ số kinh tế vĩ mô nêu trên không mấy lạc quan là do các nước công nghiệp đang bắt đầu thực hiện chính sách tài khoá hà khắc nhất trong hơn 40 năm qua Theo đó, các nước giàu sẽ giảm thâm hụt ngân sách khoảng 1,6% trong năm tới, cao hơn mức cắt giảm cao nhất mà Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD thực hiện vào năm 1970, việc cắt giảm này sẽ làm GDP năm 2011 giảm 0,9% Vấn đề đòn bẩy tại châu Á không trầm trọng như tại các nước phát triển do mức tiết kiệm tại châu Á cao hơn, chỉ có điều là khu vực này còn lệ thuộc nặng nề vào thị trường xuất khẩu sang các nước phát triển, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ trong bối cảnh chung của toàn Châu Á

Thị trường chứng khoán chịu sự tác động chung của khủng hoảng

Sau khi phục hồi và đạt đỉnh điểm vào phiên giao dịch ngày 6/5 với Vn-index và Hn-Vn-index lần lượt là 549,25 điểm và 187,22 điểm, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam bắt đầu xu hướng giảm và kết thúc quý II không mấy khả quan Không dừng lại ở đó, TTCK đã trở về điểm xuất phát đầu năm ngay từ những ngày đầu tháng 7

Kết thúc phiên giao dịch ngày 30/6, chỉ số Vn-Index giảm 13 phiên liên tiếp

và đóng cửa ở mốc 507,14 điểm, giảm 9,52 điểm so phiên giao dịch trước đó, tăng lần lượt 7,9 điểm và 12,37 điểm so với phiên giao dịch ngày 31/03 và ngày 31/12/2009; chỉ số Hn-index giảm sâu ngay và dừng lại ở mốc 158,81 điểm, giảm 2,52 điểm so với phiên giao dịch trước đó, giảm lần lượt 1,74 điểm và 9,36 điểm so với phiên giao dịch ngày 31/03 và ngày 31/12/2009; chỉ số UpCom-index đóng cửa tại mức 48,45 điểm, tăng 0,54 điểm so với phiên giao dịch trước đó và 3,53 điểm

so với phiên giao dịch ngày 31/03, nhưng giảm 4,37 điểm so với phiên giao dịch ngày 31/12/2009

Thị trường chứng khoán Việt Nam suy yếu trong 6 tháng đầu năm có nhiều nguyên nhân khác nhau Một trong các nguyên nhân cơ bản là tăng trưởng kinh tế

Trang 9

trong năm 2010 đã không được như mong đợi, cùng với các yếu tố như đà tăng trưởng thu hút vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng giảm, nhập siêu lại gia tăng trong khi xuất khẩu có giấu hiệu chững lại như đã nêu ở trên Sự thắt chặt tín dụng hạn chế cho vay từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đã đẩy các doanh nghiệp Việt nam huy động vốn thông qua TTCK ngày càng nhiều dẫn đến việc tăng cung đột biến do các doanh nghiệp phát hành tăng vốn trên TTCK Đồng thời nhằm đảm bảo nâng tỉ lệ vốn pháp định của các ngân hàng thương mại theo Nghị định 141/NĐ-CP 2006 lên 3000 tỉ VND thông qua việc chào bán chứng khoán ra công chúng, chào bán riêng lẻ, chia cổ tức bằng cổ phiếu và chia cổ phiếu thưởng cho các cổ đông hiện hữu, số lượng huy động vốn của các ngân hang là rất lớn so với khả năng hấp thụ của thị trường trong bối cảnh khủng hoảng tài chính hiện tại

Một nguyên nhân khác là thị trường chứng khoán thế giới tiếp tục lao dốc và kết thúc quý II một cách ảm đạm Trong phiên giao dịch ngày 30/6, làn sóng bán tháo trên TTCK thế giới tiếp tục dâng cao do kinh tế thế giới chưa kịp phục hồi sau khủng hoảng đã phải đối phó với thâm hụt nợ công tại châu Âu, các biện pháp của Chính phủ Trung Quốc trong việc kiềm chế bong bóng tài sản và nâng giá đồng nhân dân tệ, đặc biệt là nguy cơ thừa hàng sau những đợt IPO liên tiếp trên TTCK Trung Quốc đang buộc các nhà đầu tư phải cân nhắc rút bớt tiền ra khỏi các công

ty khác và tác động đến giá cổ phiếu trên toàn thị trường

Nhận định và kiến nghị

Trái ngược với sự phấn khởi ban đầu khi các dấu hiệu phục hồi kinh tế thế giới ngày một rõ ràng hơn, tình hình kinh tế, đặc biệt là các diễn biến trên thị trường chứng khoán buộc chúng ta phải có đánh giá chính xác và đưa ra các quyết sách kịp thời Đây chính là những thách thức mà người ta gọi là những chính sách kinh tế thời hậu khủng hoảng

Như đã phân tích ở trên, khủng hoảng tài chính lớn nhất kể từ khi Thế chiến thứ hai kết thúc đã thực sự làm thay đổi trật tự kinh tế thế giới Trước hết đó là sự đánh mất vai trò lãnh đạo duy nhất của Mỹ, cũng như sự thống trị của đồng Dollar

Mỹ trong nền kinh tế thế giới Thay vào đó là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính quốc tế, đặc biệt là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Mặc dù tại các tổ chức này,

Mỹ vẫn là nước có quyền biểu quyết lớn nhất, nhưng uy tín cũng như tiếng nói của

họ đã sụt giảm sau sự sụp đổ của các định chế tài chính lớn trên Wall Street Hiện tại, các nước thuộc nhóm BRICs (bao gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc) đang đòi xem xét lại cơ cấu đóng góp trong IMF, đặc biệt là Trung Quốc, để có thêm quyền biểu quyết tại tổ chức này

Trang 10

Một trong những thay đổi nổi bật nữa, đó là sự thay đổi quan điểm về những cái gọi là "chứng khoán không rủi ro" (tức trái phiếu chính phủ của các nước công nghiệp phát triển hay của các tổ chức phát hành lớn, trong trường hợp này ví dụ điển hình là trái phiếu chính phủ Hy Lạp), các định chế tài chính "quá lớn để sụp đổ" (ví dụ như trường hợp của AIG), đặc biệt là sự suy giảm niềm tin vào các tổ chức định mức tín nhiệm hàng đầu thế giới (ví dụ điển hình là các tổ chức này, bao gồm Moody's, Standard & Poor's và Fitch Ratings vẫn định mức xếp hạng trên A đối với cổ phiếu của Lehman Brothers và AIG cho đến khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào tháng 9 năm 2008)

Những biến đổi trên cùng với việc thắt chặt các quy định trên thị trường chứng khoán Mỹ và Châu Âu sẽ làm giảm sự hấp dẫn của các thị trường chứng khoán truyền thống này, vốn thu hút đến 90% nguồn vốn đầu tư toàn cầu Thay vào

đó, sự chú ý của các nhà đầu tư sẽ chuyển sang thị trường chứng khoán của các nền kinh tế mới nổi chiếm tỉ trọng đáng kể trong nền kinh tế cũng như thương mại thế giới, nhưng thu hút chưa đến 10% nguồn vốn đầu tư gián tiếp

Theo dự đoán của Trung tâm nghiên cứu BRICs Nhật Bản, trong khoảng thời gian từ năm 2005-2050, mô hình kinh tế tập đoàn 7 nước phương Tây tính bằng đồng USD sẽ mở rộng 2,5 lần so với hiện tại, BRICs sẽ mở rộng tới 20 lần, còn VISTA (là nhóm 5 nước triển vọng là Việt Nam, Indonesia, Nam Phi, Thổ Nhĩ

Kỳ và Argentina) có khả năng sẽ mở rộng tới 28 lần Điều này tuy chỉ là dự đoán nhưng mặt nào đó đã phản ánh xu thế biến đổi phát triển kinh tế nam bắc trong tương lai

Hội nghị Thượng đỉnh G20 ở Pittsburgh- Mỹ đã làm suy yếu vai trò của nhóm 8 nước G20 sẽ bao gồm nhóm 10 nước kinh tế mới nổi được coi là "Diễn đàn hợp tác kinh tế quốc tế quan trọng nhất" và "Nhóm điều chỉnh mới về kinh tế thế giới", đánh dấu ba khu vực chủ soái về kinh tế thế giới là Mỹ, Nhật, châu Âu

đã không còn độc quyền trong giải quyết vấn đề lớn mang tính toàn cầu, đánh dấu tầm ảnh hưởng ngày càng lớn của nhóm kinh tế lớn mới nổi, nâng cao địa vị và mở rộng tiếng nói trong hệ thống kinh tế toàn cầu, đánh dấu sự biến đổi mới của cục diện kinh tế thế giới

Tuy nhiên, việc chuyển dịch thị trường đầu tư từ các nước phát triển sang nhóm các nước có nền kinh tế mới nổi không đồng nghĩa với việc tất cả các nước trong nhóm nền kinh tế mới nổi đều được hưởng như nhau, đặc biệt điều này có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam, vốn chưa được coi là nước có nền kinh tế mới nổi, bởi mới chỉ thoát khỏi danh sách các nước nghèo trong năm 2008

Ngày đăng: 28/06/2014, 13:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w