MÔ HÌNH TÍNH TOÁN SỰ BIẾN HÓA ĐỘ MẶN DỌC ĐƯỜNG ĐI Nước mặn sau khi vào cửa sông không ngừng bị nước sông từ thượng nguồn đưa về pha loãng.. Nghĩa là sự tồn tại của độ mặn không ảnh hưởn
Trang 1MÔ HÌNH TÍNH TOÁN SỰ BIẾN HÓA ĐỘ MẶN DỌC ĐƯỜNG
ĐI
Nước mặn sau khi vào cửa sông không ngừng bị nước sông từ thượng nguồn đưa về
pha loãng Càng về thượng lưu độ mặn càng giảm dần
Nếu gọi : S – Độ mặn tại một vị trí bất kỳ nào đó trong khu triều thì:
dS
dx
Vế trái công thức [1] mang dấu âm (-) vì độ mặn dọc đường đi luôn giảm dần về thượng
lưu nên gradient độ mặn phải mang dấu (-)
Hoặc :
Tích phân hai vế ta
có :
dS
=
−KS dx LnS = -KX +
C Ln(SC1) = -KX
C1S = e-kx
[2]
Ở đây : C1 – Hằng số tích phân chúng ta có thể dùng điều kiện biên để xác định
Khi X = 0 (tại cửa sông) thì S = S0
Thay vào [2] ta có :
C1S0
= 1
C1 = 1/S0
Hoặc : Sx = S0 e-KX
[3]
Ở đây : K – là hệ số khuyếch tán của độ mặn
Vi
ệ c x á c định hệ số kh u y ếc h tán c ó t h ể t i ế n h à nh t h e o 2 c á c h:
A – Từ tài liệu thực đo để tìm ra K
Từ công thức [ 3 ] ta có :
lgS = lgS0 – KXlge
K = lg So − lg S
K = 1
lgSo [4]
B – Xuất phát từ lý luận chảy rối để xác định K
Giải thiết I : Cho rằng cường độ rối động của nước mặn và nước ngọt là như nhau Nghĩa
là
sự tồn tại của độ mặn không ảnh hưởng lớn đến cường độ chảy rối
Giả thiết II : Tác dụng rối động theo phương thẳng đứng bằng phương nằm ngang tức KY =
1
Trang 2K =
T = γ(H - y) I
T
γdv
g dy
[5]
Ở đây : T – Lực cắt tới
hạn
I – Độ dốc mặt nước
γ – Tỷ trọng riêng của nước
K = g ( H
− y ) I
dv
[6
dy
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm
2
Trang 3Giả thiết III : Thời gian chuyển triều là vô cùng ngắn ngũi, tác dụng rối động cũng như
khuyếch tán phát sinh mạnh mẽ nhất khi tồn tại dòng chảy một chiều, đồng thời sự biến hóa tốc độ theo phương thẳng đứng trên cơ bản phục tùng qui luật
dv U =
*
dy
χy
Thay vào [ 6 ] vào [ 5 ] ta có :
K = g ( H − U y ) χ Iy
*
Hệ số khuyếch tán trung bình trên đường thủy trực là:
[7]
K = gI χ
⋅ 1 H
y(H − y)dy
[8]
CP
K = gI χ
⋅ 1
CP
Vì U* =
⋅ H
gHI (U* - tốc độ động lực)
[9]
Nếu lấy hệ số Karmand χ = 0.40, g = 9.81 ta sẽ có:
K = gI χ
H =
gI χ H 2
Ở đây: I: độ dốc mặt
nước
K =3.14 × 0.4 0 H 6 HI
K = 0, 209H HI [10]
H: độ sâu trung bình của mặt cắt tính toán
Sau khi xác định được hệ số khuyếch tán chúng ta rất dễ dàng tìm được độ mặn tại bất kỳ
đoạn sông nghiên cứu nào tính từ cửa biển đi ngược về thượng lưu
Ý nghĩa của việc nghiên cứu độ mặn dọc đường đi
Từ công thức trên có thể giúp chúng ta:
- Xác định phạm vi sử dụng nước hợp lý phục vụ cho các đối tượng :
+ Nước sinh hoạt
+ Tưới cho nông nghiệp
+ Nuôi trồng thủy sản
- Vấn đề bồi lấp cửa sông
*
H
*
U
C
2
2
Trang 435
30
20
= S0e−kx
15
10
1990 (Sau khi
1983 (Trước khi có hồ
0
VŨNG TÀU ĐỖ HÒA NHÀ BÈ
THỦ THIÊM LÁI THỦ DẦU
Hình 1 Diễn biến độ mặn lớn nhất dọc đường đi trước và sau khi có hồ Dầu Tiếng – Trị An
S ‰
X X
18‰
Hình 2 Sử dụng độ mặn vào các mục đích khác nhau
Bây giờ chúng ta lần lượt xem tại sao bùn cát gặp phải nước mặn lại là nguồn gốc của việc bồi lấp các cửa sông? Như chúng ta đã biết: bùn cát cũng giống như hạt keo, mà xung quanh hạt keo trong tầng hấp phụ được bao quanh bởi hai lớp điện tử âm và dương mà trong nước mặn thành phần NaCl chiếm chủ yếu mà NaCl lại có những ion trái dấu với những ion của hạt keo (Na+, Cl-)
Do đó khi nước mặn gặp phải bùn cát thì làm cho bùn cát phát sinh dính cục có nghĩa là làm tăng thêm độ lớn của chất lắng chìm, từ đó dẫn đến tốc độ lắng chìm tăng nhanh Qua kết quả nghiên cứu nhiều thí nghiệm khi S ≥1 o/oo thì lực hút tĩnh điện giữa những hạt keo và nước biển hoàn toàn phát huy tác dụng; mà hàm lượng muối trong nước bể thường vào khoảng ≤ 35o/oo cho nên đại bộ phận nước mặn ở cửa sông hoàn toàn có thể làm cho bùn cát phát sinh dính cục và đông tụ
Kết quả dính cục sẽ làm cho đường kính hạt cát (d) tăng lên và tốc độ lắng chìm cũng từ đó gia tăng vì:
1
Trang 5W = 4.58 d
[11 ]
Trang 6Ở
đây: W: là tốc độ lắng chìm (m/s)
d: là đường kính của hạt cát (mm)
Trang 7Qua nhiều thí nghiệm cho ta thấy: quá trình dính cục và đông tụ đều tỉ lệ thuận với số lượng bùn cát trong một đơn vị thể tích cũng tức là lượng ngậm cát Vì vậy những dòng sông nào mà nhiều bùn cát đặc biệt là bùn cát mịn thì việc tồn tại những bãi bồi, ghềnh cạn nói riêng và bồi lắng
ở cửa sông nói chung là điều không thể nào tránh khỏi…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hoàng Hưng (1975) Nêm mặn với vấn đề bồi lấp cửa sông Tạp chí KHKT của UBKHKT 4: 106 Hoàng Hưng (1976) Công thức tính toán sự biến hóa độ mặn dọc đường đi Tạp chí KHKT của Viện Khoa học Việt nam 1:115