Trong những bệnh xuất hiện trên chó thì bướu hay còn gọi là khối u cũng làm ảnh hưởng lớn đến thể chất thú, tuổi thọ, tính thẩm mỹ của chó cưng.. TỔNG QUAN 2.1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BƯỚU
Trang 1Trang
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH 2
1.3 YÊU CẦU 2
PHẦN II TỔNG QUAN 3
2.1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BƯỚU 3
2.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BƯỚU 3
2.2.1 Cấu tạo và đặc điểm hình thái của bướu 3
2.2.1.1 Cấu tạo: cấu tạo của bướu gồm 2 phần 3
2.2.1.2 Đặc điểm hình thái 4
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.2.3 Tính chất 4
2.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA BƯỚU 5
2.3.1 Yếu tố nội phát 5
2.3.1.1 Yếu tố di truyền 5
2.3.1.2 Tuổi 5
2.3.1.3 Phái tính 6
2.3.1.4 Sắc tố 6
2.3.1.5 Yếu tố nội tiết 6
2.3.1.6 Yếu tố miễn dịch 6
2.3.1.7 Thuyết của Cobnheime về các tế bào sai vị trí ở phôi 6
2.3.2 Yếu tố ngoại nhập 6
2.3.2.1 Tác nhân vật lý 6
2.3.2.2 Tác nhân hóa học 7
2.3.2.3 Tác nhân sinh học 7
2.4 CƠ CHẾ TẠO THÀNH BƯỚU 8
2.4.1 Cơ sở sinh học 8
2.4.2 Cơ sở sinh học phân tử 8
iv
Trang 22.5 PHÂN LOẠI BƯỚU 9
2.5.1 Theo tổ chức phát sinh 9
2.5.2 Theo cấu trúc và mô tả 9
2.5.3 Theo sinh học 10
2.5.3.1 Bướu lành 10
2.5.3.2 Bướu độc 10
2.6 NHỮNG HẬU QUẢ CỦA BƯỚU 14
2.6.1 Gây bất dưỡng vì áp lực cho các tế bào xung quanh 14
2.6.2 Làm nghẽn lòng các cơ quan 14
2.6.3 Hư hại mạch máu và mạch bạch huyết 14
2.6.4 Hư hại thần kinh 14
2.6.5 Vi trùng xâm nhập vào bướu và các mô xung quanh 14
2.6.6 Ốm còi 14
2.6.7 Thiếu máu 14
2.6.8 Hệ thống nội tiết sản xuất quá nhiều kích thích tố 14
2.6.9 Làm thú chết 15
2.6.10 Tân bào tự nhiên suy giảm và hồi phục 15
2.7 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BƯỚU 15
2.7.1 Chẩn đoán lâm sàng 15
2.7.2 Chẩn đoán cận lâm sàng 15
2.8 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ 16
2.8.1 Nguyên tắc điều trị 16
2.8.2 Các phương pháp điều trị 16
2.8.2.1 Phương pháp phẫu thuật 16
2.8.2.2 Hóa trị 18
2.8.2.3 Các phương pháp điều trị khác 18
2.9 MỘT SỐ DẠNG BƯỚU THƯỜNG XẢY RA TRÊN CHÓ 18
2.9.1 Bướu ở da và mô mền 18
2.9.1.1 Fibroma và fibrosarcoma 18
2.9.1.2 Lipoma và liposarcoma 20
v
Trang 32.9.3 Bướu tuyến vú trên chó 22
2.10 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài 23
PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 26
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 26
3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 26
3.3 PHƯƠNG TIỆN KHẢO SÁT 26
3.3.1 Dụng cụ 26
3.3.2 Vật liệu và dược phẩm 26
3.3.3 Máy siêu âm và máy chụp X quang 26
3.4 NỘI DUNG ĐỀ TÀI 27
3.5 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 27
3.6 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 27
3.6.1 Tại phòng khám 27
3.6.2 Tại phòng phẫu: tiến hành phẫu thuật cắt bỏ bướu 29
3.6.2.1 Bướu có đường kính từ 2 cm trở xuống 29
3.6.2.2 Bướu có đường kính từ 2 cm trở lên 30
3.6.2.3 Bướu đường sinh dục cái 31
3.6.3 Tại phòng thí nghiệm 34
3.7 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 35
PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 TỶ LỆ CHÓ BỊ BƯỚU TRÊN TỔNG SỐ CHÓ TỚI KHÁM 36
4.2 TỶ LỆ CHÓ BỊ BƯỚU THEO HỆ THỐNG CƠ THỂ 36
4.3 TỶ LỆ CHÓ CHÓ BỊ BƯỚU THEO TUỔI 41
4.4 TỶ LỆ CHÓ BỊ BƯỚU THEO NHÓM GIỐNG 42
4.5 TỶ LỆ CHÓ BỊ BƯỚU THEO GIỚI TÍNH 43
4.6 TỶ LỆ CHÓ BỊ BƯỚU THEO TÍNH CHẤT: BƯỚU LÀNH, BƯỚU ĐỘC 46
4.7 KẾT QUẢ THEO DÕI ĐIỀU TRỊ BẰNG PHẪU THUẬT 50
4.8 SO SÁNH HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ GIỮA PHẪU TRỊ VÀ HOÁ TRỊ 52
vi
Trang 4PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 KẾT LUẬN 54
5.2 ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 56
vii
Trang 5Trang
Bảng 2.1 Phân loại bướu theo tổ chức phát sinh 9
Bảng 2.2 So sánh bướu theo tính chất: bướu lành, bướu độc 13
Bảng 4.1 Vị trí xuất hiện các trường hợp bướu 37
Bảng 4.2 Tỷ lệ chó bị bướu theo tuổi 41
Bảng 4.3 Tỷ lệ chó bị bướu theo nhóm giống chó 43
Bảng 4.4: Tỷ lệ chó bị bướu theo giới tính 44
Bảng 4.5: Tỷ lệ xuất hiện các trường hợp bướu theo giới tính 45
Bảng 4.6 Tỷ lệ chó bị bướu theo tính chất 46
Bảng 4.7: Kết quả theo dõi điều trị bằng phẫu thuật 50
Bảng 4.8 So sánh hiệu quả điều trị giữa phẫu trị và hoá trị 52
viii
Trang 6DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Cắt đường xung quang khối u bằng dao 33
Hình 3.2: Dùng kéo đầu tù tách mô liên kết và cầm máu bằng nhiệt 33
Hình 3.3: Khối u được cắt ra 33
Hình 4.1: Bướu cổ 38
Hình 4.2: Bướu chân 38
Hình 4.3: Bướu vú 39
Hình 4.4: Bướu dương vật 39
Hình 4.5: Bướu tuyến thượng thận 40
Hình 4.6: Hình siêu âm phát hiện khối u xoang bụng 40
Hình 4.7: Hình siêu âm polyp bàng quang 40
Hình 4.8: Bướu tử cung 44
Hình 4.9: Hình siêu âm bướu tử cung ( 44
Hình 4.10: U nang buồng trứng 48
Hình 4.11: Bướu độc ở lách 48
Hình 4.12: Bướu lành ở tuyến tiền liệt 48
Hình 4.13: Bướu độc tuyến rái tai 49
Hình 4.14: Bướu lành tuyến vú chó cái 49
Hình 4.15: Bướu lành ở hông 49
ix
Trang 7Để tìm hiểu tình hình chó bị bướu trên chó, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại Trạm Chẩn Đoán, Xét Nghiệm và Điều Trị- Chi Cục Thú Y Tp HCM trong khoảng thời gian từ 26/02/2007 đến 26/02/2007 và ghi nhận được các kết quả như sau:
- Trong tổng số 3204 lượt chó tới khám và điều trị tại trạm có 63 trường hợp chó
bị bướu chiếm tỷ lệ 1,97%
- Bướu xuất hiện ở nhiều vị trí, cơ quan trên cơ thể chó, cao nhất là ở da (chiếm 58,73%), trong đó bướu vú chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 35,16%)
- Tỷ lệ chó bị bướu ở nhóm chó dưới 1 năm tuổi là thấp nhất (0,29%), cao nhất
là nhóm chó trên 10 năm tuổi (16,67%) Tỷ lệ này tăng dần theo tuổi, trong đó chiếm nhiều nhất là lứa tuổi từ 5-10 tuổi 31 ca trong 63 trường hợp (chiếm 49,21%)
- Tỷ lệ bướu trên nhóm giống chó nội (3,26%) cao hơn tỷ lệ bướu trên nhóm giống chó ngoại (1,26%)
- Tỷ lệ bướu trên chó cái (2,35%) cao hơn trên chó đực (1,56%)
- Trong 20 mẫu gửi đi xét nghiệm thì có 16 mẫu bướu lành (80%) và có 4 mẫu bướu độc (20%)
- Kết quả điều trị khỏi bệnh bằng hoá chất và phẫu thuật là rất cao (cùng đạt
100%)
x
Trang 81
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
PHẦN I MỞ ĐẦU
Từ xa xưa con người đã thuần dưỡng loài chó do biết được đặc tính thông minh
và trung thành của chúng Trong quá trình thuần dưỡng, con người đã khai thác được những đặc tính có lợi cho mình chẳng hạn như săn bắt thú, bảo vệ chỗ ở và bản thân con người
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao do đó nhu cầu nuôi chó làm thú cưng, làm cảnh ngày càng trở nên cần thiết không thể thiếu Hơn thế nữa chó còn được coi như là một người bạn thân thiết của con người, chính ví vậy chó thực sự trở thành một thành viên không thể thiếu của mỗi gia đình Bên cạnh đó nhu cầu giải trí, tiêu khiển của con người ngày càng đa dạng
và phong phú, do đó việc tuyển chọn những giống chó đua cũng được quan tâm
rất nhiều Và đặc biệt nuôi chó bây giờ còn để phục vụ cho công tác an ninh,quốc phòng, cứu hộ nhờ chó có khứu giác rất phát triển và khả năng bơi lội rất giỏi của chúng…
Cùng với sự hoà nhập, mở rộng giao lưu với các nước trên thế giới, hiện tại nước
ta ngoài giống chó nội còn có rất nhiều giống chó khác nhập từ nước ngoài Ngoài việc gia tăng về số lượng và chủng loại chó thì tình hình bệnh tật cũng tăng lên và ngày càng trở thành nỗi lo cho những người nuôi chó Trong những bệnh xuất hiện trên chó
thì bướu hay còn gọi là khối u cũng làm ảnh hưởng lớn đến thể chất thú, tuổi thọ, tính thẩm
mỹ của chó cưng
Trong những năm gần đây có rất nhiều nghiên cứu về ung thư học thú y và điều trị ung thư trên chó, tuy nhiên việc điều trị căn bệnh này vẫn còn giới hạn và việc chẩn đoán, tiên lượng vẫn còn sai sót Do đó bệnh ung thư trên chó vẫn cần phải được nghiên cứu nhiều và sâu hơn nữa
Từ thực tế trên, được sự đồng ý của Khoa Chăn nuôi Thú y, Bộ môn Cơ thể Ngoại khoa và với sự hướng dẫn của PGS TS Lê Văn Thọ, BSTY Nguyễn Thị Thuỳ Hạnh, chúng tôi thực hiện đề tài:
“KHẢO SÁT VÀ ĐIỀU TRỊ BẰNG PHẪU THUẬT MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP
BƯỚU THƯỜNG GẶP TRÊN CHÓ TẠI TRẠM CHẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM
VÀ ĐIỀU TRỊ - CHI CỤC THÚ Y TP HỒ CHÍ MINH”
Trang 91.2 MỤC ĐÍCH
- Xác định các dạng bướu trên chó và đánh giá tình hình bệnh do bướu gây ra cho chó
- Theo dõi kết quả điều trị
1.3 YÊU CẦU
- Ghi nhận tỷ lệ chó bị bướu và nhận định các dạng bướu bằng mắt thường
- Phân loại các dạng bướu bằng mô bệnh học
- Theo dõi thời gian lành vết thương của thú sau khi mổ
- Ghi nhận các tai biến xẩy ra trong và sau khi mổ
- Theo dõi khả năng khỏi bệnh của thú khi được điều trị bằng hoá chất
Trang 103
PHẦN II TỔNG QUAN
2.1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BƯỚU
Bướu còn gọi là tân bào hay khối u là sự trưởng thành của các tế bào mới có các đặc tính sau:
- Sự sinh sản của chúng không được kiểm soát
- Không có nhiệm vụ hữu ích, gây trở ngại hoặc chèn ép các mô xung quanh hoặc thâm nhập bởi các tế bào khối u đi khắp cơ thể để phá hủy và làm chết cơ thể đã nuôi dưỡng nó
- Sắp xếp hỗn độn
Bướu được xếp thành 2 nhóm:
- Bướu lành (benign tumor): không phải ung thư, tế bào ở khối u lành có tốc độ tăng trưởng chậm, không lan tràn sang các phần khác của cơ thể và thường được bao bọc bởi lớp sợi bào bên ngoài Chúng được cắt bỏ dễ dàng bằng phẫu thuật và hầu như không tăng sinh trở lại Đặc biệt tế bào ở khối u lành không độc đối với cơ thể trừ khi chúng quá lớn hoặc nằm ở vị trí cản trở những chức năng quan trọng của cơ thể
- Bướu độc (malignant tumor): là ung thư, tế bào ở khối u ác tính phân chia bất thường không kiểm soát được rồi chúng xâm lấn và hủy diệt các mô xung quanh Hơn nữa, sự lan rộng của các tế bào ung thư có thể xẩy ra qua dòng máu và bạch huyết hoặc xuyên qua các xoang trong cơ thể như xoang bụng hay màng bụng rồi sau đó các bướu thứ cấp mọc lên ở một nơi cách xa bướu ban đầu gọi là sự di căn Chúng thường tăng sinh trở lại sau khi cắt bỏ
2.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BƯỚU
2.2.1 Cấu tạo và đặc điểm hình thái của bướu
2.2.1.1 Cấu tạo: cấu tạo của bướu gồm 2 phần
- Nhu mô: là thành phần cơ bản quyết định tính chất và đặc điểm phát triển của bướu Dựa vào nhu mô ta có thể xác định bướu thuộc loại biểu mô hay mô liên kết hoặc cả hai
- Chất đệm: là tổ chức liên kết, chỗ dựa và cung cấp dưỡng chất cần thiết để bướu tồn tại và phát triển
Trang 112.2.1.2 Đặc điểm hình thái
- Hình thái bướu rất đa dạng: hình cầu hay một khối lớn sùi ra như những khối u nhỏ, có khi nhú lên bề mặt (u nhú), hoặc kéo dài như một thảm lông, hay nhú dài bám chắc vào mô bào tạo thành những nụ thịt (dạng polyp) Bướu cũng có thể là một nang
có chất chứa hoặc phân nhánh như rễ cây hay càng cua xâm nhập sâu vào mô bào, cũng có khối bướu tạo thành loét nông hoặc sâu, rìa nhăn nheo gồ ghề
- Kích thước của bướu to nhỏ không nhất định, nó phụ thuộc vào tính chất của bướu (lành, độc), vị trí mọc và thời gian phát triển Bướu có thể rất nhỏ phải qua kính hiển vi mới phát hiện được, nhưng cũng có những bướu rất lớn, trọng lượng có thể lên đến
50 kg hoặc hơn nữa Ở chó có những bướu đạt đến 1/3 – 1/2 trọng lượng cơ thể Những bướu lành mọc ở mặt ngoài hay trong các xoang của cơ thể (xoang bụng, xoang ngực) có thể tích rất lớn
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng
- Bướu lành: sinh trưởng theo hình thức bành trướng, chèn ép Bướu phát triển chậm, chèn ép chứ không xâm lấn sâu và không nằm xen kẽ với các mô bình thường khác Bướu lành không lan tràn sang các phần khác của cơ thể
- Bướu độc: sinh trưởng theo hình thức lan tỏa, xâm lấn Bướu độc phát triển nhanh, lan rộng, xâm nhập sâu, xen kẽ vào các tổ chức xung quanh, phá hủy gây hoại
tử và xuất huyết Bướu độc có thể lan từ vị trí ban đầu để hình thành các bướu thứ cấp tại các vị trí khác theo đường máu và bạch huyết gọi là sự di căn
2.2.3 Tính chất
- Bướu sinh ra tồn tại mãi mãi không bao giờ tự tan biến đi, trừ trường hợp rất đặc biệt
- Tăng kích thước nhân
- Tăng tỉ lệ nhân so với bào tương
- Không kiểm soát được
- Xâm lấn và di căn mạnh
- Tế bào biệt hóa thấp, không làm được chức năng bình thường
- Dễ bị hoại tử nếu thiếu dưỡng chất nhất là vùng trung tâm bướu
- Đôi khi tiết ra những chất lạ mà ta có thể gián tiếp thấy sự hiện diện tế bào ung thư khá đặc hiệu
Trang 125
2.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA BƯỚU
Ngày nay người ta biết rõ bướu không phải do một nguyên nhân gây ra Tùy mỗi loại bướu mà có những nguyên nhân riêng biệt Một tác nhân có thể gây ra một số loại bướu và ngược lại một bướu có thể do một số tác nhân gây ra Mặc dù đã tìm ra được nhiều nguyên nhân gây ra bướu nhưng người ta vẫn chưa biết rõ đâu là nguyên nhân chính, đâu là nguyên nhân phù trợ Còn rất nhiều bí ẩn trong căn bệnh này chưa được khám phá Tuy nhiên ta có thể chia nguyên nhân gây ra bướu gồm hai yếu tố chính:
để sản xuất các protein và men liên quan đến quá trình phân chia và biệt hóa tế bào theo xu hướng ác tính
- Một loại gen quan trọng khác là gen ức chế ung thư (antioncogien) Khi cơ thểvắng mặt các gen này, nguy cơ mắc bệnh ung thư sẽ tăng cao
- Theo Dorn (1968) và E Moult (1990) (trích dẫn Huỳnh Văn Hưu, 1999) có nhiều loại bướu được tìm thấy có liên quan đến yếu tố di truyền phổ biến ở những giống chó thuần chủng hơn so với những giống chó lai Hiện tượng đồng huyết là yếu tố liên quan đến nguy cơ phát sinh ung thư vú trên chó với tần số cao
2.3.1.2 Tuổi
- Bướu thường xuất hiện ở những thú già Yếu tố này cho thấy sự tạo thành bướu cần
có một thời kỳ tiềm phục lâu dài nhất là bướu biểu mô độc (carcinoma)
- Bướu mô liên kết độc thường có ở thú non trong khi bướu biểu mô thường thấy ởnhững thú già hơn
Trang 132.3.1.5 Yếu tố nội tiết
Người ta thấy có sự liên quan khá đặc hiệu giữa một số bướu với các rối loạn nội tiết tố hoặc tình trạng về hormon Hormon có thể được tạo ra từ các khối u Ví dụ mủ
tử cung làm tăng sinh nội mạc tử cung thường thấy ở chó cái bị bướu buồng trứng
2.3.1.6 Yếu tố miễn dịch
Thú có thể được miễn dịch nhân tạo về bướu Trong tương lai tác nhân miễn dịch thích hợp có thể được chế tạo để cho cả người lẫn thú
2.3.1.7 Thuyết của Cobnheime về các tế bào sai vị trí ở phôi
Cobnheime cho rằng các tế bào nằm sai vị trí trong phát triển phôi có thể gây ra bướu bất ngờ Các tế bào này thường thấy ở tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng, phó dịch hoàn và tụy tạng
2.3.2 Yếu tố ngoại nhập
2.3.2.1 Tác nhân vật lý
- Các kích thích mãn tính: người ta cho rằng những kích thích lâu dài tạo điều kiện cho bướu phát sinh, phát triển: vết loét hay các sẹo bỏng trên da, những sẹo loét dạ dày, bờ hang lao hay xơ gan
- Bức xạ ion hóa: là nguồn tia phóng xạ phát ra từ các chất phóng xạ tự nhiên hoặc
từ nguồn phóng xạ nhân tạo được dùng trong khoa học và y học có khả năng ion hóa vật chất tế bào khi chiếu xạ như tia gamma, tia X, hạt alpha, hạt beta, neutron, uranium, radium, thorium
tím càng mạnh Tác nhân này chủ yếu gây ra bướu trên da
Trang 14- Các chất tạo màu, chất bảo quản, hương vị trong thực phẩm
- Nitrosamin, muối nitrat, nitrit
- Các sản phẩm từ tự nhiên (độc tố nấm mốc từ aflatoxin ), thuốc trừ sâu, diệt côn trùng, thuốc diệt cỏ
- Một số muối kim loại như muối bary, mối niken
- Các chất trơ như chất dẻo, các chất sát trùng như nylon, tyflon, xelophan, polyethylen, polyvinyl
Các hóa chất gây ra khối u tác động trực tiếp gây nên sự biến đổi tiềm tàng của tế bào, tức là chuyển tế bào từ dạng tiềm tàng sang trạng thái bướu tiềm ẩn, hoặc một số chất vốn không gây khối u nhưng có tác dụng gây kích thích các tế bào tiềm ẩn bởi một tác động không đặc hiệu để chuyển thành tế bào khối u thực thụ
2.3.2.3 Tác nhân sinh học
- Virus gây bướu: papovavirus tạo thành popillomada, màng nhầy cơ quan sinh dục, bàng quang hay bướu màng não ở chó, người…
- Vi trùng: vi khuẩn Helicobacter pylori gây viêm dạ dày mãn tính và ung thư dạ
dày trên người
- Ký sinh trùng: Spirocerca lupi là một trong những nguyên nhân gây bướu ở thực quản và dạ dày; sán lá Schistosoma
ochrsceus sinh ra độc tố ochratoxin, Aspergillus versicolor sinh ra độc tố
sterigmatocystin Những độc tố này gây ung thư gan trên người và động vật
Trang 152.4 CƠ CHẾ TẠO THÀNH BƯỚU
2.4.1 Cơ sở sinh học
Trong một cơ thể trưởng thành luôn có một số lượng lớn tế bào ổn định xuất phát
từ một tế bào trứng thụ tinh Hàng ngày có một lượng tế bào già chết đi và chúng được thay thế bởi một số lượng tế bào mới tương đương với số chết đi để đảm bảo trạng thái hoạt động bình thường của cơ thể Đối với tế bào khối u được giải thích qua các cơ chế sau:
- Thuyết đơn dòng cho rằng khối u được sinh ra từ một tế bào mẹ nhân lên
- Thuyết đa dòng tế bào cho rằng tổ chức khối u do nhiều loại tế bào gây nên
- Thuyết kém ổn định gen của tế bào khối u giải thích rằng: lúc đầu là một dòng tế bào nhưng do gen không ổn định nên các tế bào biến dị sinh ra hàng loạt các tế bào hỗn hợp
2.4.2 Cơ sở sinh học phân tử
Các kết quả của phương pháp thử đột biến trên vi khuẩn của Bruspime đã đưa đến kết luận hiển nhiên là virus và các chất phát sinh u tạo ra các khối u độc tính là do chúng làm thay đổi mật mã di truyền của ADN Ngày nay, người ta đã có đủ dữ liệu đểnói rằng sự hoá khối u của một tế bào bình thường gồm hai nguyên nhân:
- Gen tế bào trở nên bất thường và tế bào sản sinh ra một protein lạ làm xáo trộn bềmặt sinh học của tế bào
- Gen bình thường nhưng mất đi sự kiểm soát và hoạt động một cách vô trật tự
Các nhà khoa học Mỹ đã nêu lên giả thiết rằng: “Gen trở nên bất thường khi chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về trật tự sắp xếp của một acid amin hay một gốc kiềm trên gen, sẽ làm tế bào sản sinh ra một protein lạ làm xáo trộn hoạt động của các gen khác trong nhân tế bào” (trích dẫn Nguyễn Thị Hoàng Yến, 2003) Bệnh ung thư di truyền
khi gen gây ung thư có mặt trong tế bào sinh dục
Trang 16Bảng 2.1 Phân loại bướu theo tổ chức phát sinh
Tế bào gốc Tế bào lành Tế bào độc
2.5.2 Theo cấu trúc và mô tả
Thường dựa vào đặc điểm về đại thể và vi thể của bướu:
- Biểu mô: (papilloma) bướu có nguồn gốc biểu mô vảy bề mặt
- Mô liên kết: bướu xương, sụn, mô sợi, mô cơ
- Hỗn hợp: hai hoặc ba loại bướu có ở cùng một loại mô bướu
Trang 17- Bướu kỳ hình (teratoma): là một loại bướu phát triển do một dị tật của phôi và chứa những mô bướu dạng sinh sản, thuộc một tầng phôi nguyên thuỷ
2.5.3 Theo sinh học
Chia thành bướu lành và bướu độc
2.5.3.1 Bướu lành (Benign tumour)
- Bướu phát triển tại chỗ và không làm chết thú, trừ khi chùng nằm ở vị trí đảm nhận những nhiệm vụ quan trọng của cơ thể khi đó nó sẽ làm chết thú
- Bướu có khối lượng lớn sau nhiều năm tiến triển Ví dụ bướu mỡ mọc dưới da không gây đau nhức, lúc đầu chỉ bằng quả táo, sau nhiều năm to dần lên
- Bướu phát triển có ranh giới rõ ràng Nhìn đại thể bướu lành có vỏ xơ cơ bao bọc,
do đó dễ bóc tách toàn bộ khối u; ví dụ u xơ tuyến vú, u xơ cổ tử cung Bướu là một khối cứng, độ chắc tương đối đồng đều, di động so với mô xung quanh
- Bướu giống mô bình thường về vi thể Bướu tạo lại cấu trúc của mô sinh ra nó mà không đảo lộn cấu trúc
- Bướu lành chỉ có xu hướng chèn ép chứ không xâm nhập Bướu hiếm khi tái phát, không di căn Nếu cắt bỏ một cách triệt để nó sẽ không mọc lại nữa và không bao giờ
ta thấy di căn theo đường máu và đường bạch huyết đến mọc nơi khác chỗ nó phát sinh
2.5.3.2 Bướu độc (Malignant tumour)
• Đặc điểm chung
Bướu độc hay còn gọi là ung thư, gây chết thú, nó có các đặc điểm sau:
- Bướu phát triển nhanh, tăng sinh tế bào nhanh và giết chết thú từ vài tháng đến vài năm
- Sự bành trướng của nó không bao giờ dừng lại
- Những phát hiện gần đây cho rằng bướu độc tiến triển tiềm tàng trong một thời gian dài, nhưng đến lúc nào đó tốc độ tăng trưởng sẽ tăng vọt
- Ranh giới giữa bướu và mô lành không rõ ràng, giới hạn với mô lành lờ mờ, có nhiều quầng cứng khi sờ nắn Ví dụ ung thư vú là một khối cứng dính chặt vào mô xung quanh nên di động khó khăn, bướu phát triển lâu dài bị co lại sần sùi, bướu dính chặt vào da, cơ và chèn ép dây thần kinh gây đau
Trang 1811
- Bướu độc không giống mô bình thường về vi thể Bướu độc tăng sinh mạnh, chống lại sự kiểm soát của cơ thể, phá vỡ lớp đáy (lớp sinh sản), chui vào trong lớp đệm tạo thành những khối tế bào thẫm màu Nhân không đều nhau, nhiều hình thái khác thường không có xu hướng sắp xếp theo một lớp đều đặn như tế bào bình thường
- Các tế bào sinh sản chồng chất lên nhau, phát triển nhanh và chết đi cũng nhanh Tính chất này được truyền lại cho tế bào của thế hệ sau
Ví dụ: Ung thư biểu mô thượng bì da, tế bào lớp sinh sản phát triển nhanh phá vỡ lớp đáy và chui vào lớp mô phía dưới làm thành những khối thẫm màu có nhiều hình dạng Những khối sừng hoá đó là những tế bào chết giữa những đám tế bào ung thư non hoạt tính cao
- Bướu độc dễ tái phát, di căn, mặc dù được cắt bỏ rộng rãi Do tính thâm nhập sâu
và lan xa, các mô ung thư dễ mọc trở lại tại chỗ hoặc di căn xa
Như vậy tế bào ung thư là một tế bào hoàn toàn thay đổi Sự thay đổi này truyền cho các dòng sau và không thể hoà hợp được với cơ thể mà nó được nuôi dưỡng, sinh sản trên đó
• Tính sinh học và sinh trưởng của bướu độc
- Sinh trưởng của tế bào khối u là sự sinh trưởng thừa không thể hoà hợp với sựsinh trưởng của mô lành
- Tế bào ung thư mới có thể rời bỏ ổ sinh sản do độ dính kết kém hơn so với tế bào bình thường
- Tốc độ sinh trưởng tế bào có sự mất cân đối giữa sinh ra và chết đi, nên khó tiên đoán sự xuất hiện khởi đầu của khối u
- Tế bào ung thư thoát khỏi sự kiểm soát của cơ thể
- Chỉ cần một ít huyết thanh nó cũng có khả năng sinh trưởng
- Không có sự biệt hoá cuối cùng
• Tiến triển của bướu độc
Quá trình tiến triển của bướu độc gồm hai giai đoạn:
** Giai đoạn tại chỗ
Giai đoạn này có một thời gian khá lâu, khó có thể phát hiện được vì khối lượng nhỏ, chưa chèn ép mô hay phá huỷ Trong giai đoạn này chúng lan theo 3 cách:
- Vết dầu loang: lan ra tứ phía
Trang 19- Cách gieo hạt: rải rác thành từng ổ cách xa nhau
- Chia nhánh: từ khối u mọc ra nhiều nhánh, chia cắt mô lành
** Giai đoạn toàn thân
- Có sự vận chuyển đi xa của những tế bào, không lưu lại tại ổ nguyên phát
- Các tế bào di căn tiếp tục phát triển ở các phủ tạng khác nơi chúng di căn đến
Trang 2013
Bảng 2.2 So sánh bướu theo tính chất: bướu lành, bướu độc
+ Hiếm có phân bào
+ Không xuyên qua hay xâm nhập bao mô liên kết Không có sự xâm nhập của bộ tiếp giáp
+ Biến đổi thoái hoá và hoại tửtrong bướu nhẹ
+ Nhân tế bào đều nhau
+ Không có hình quái
+ Tiến triển chậm tại chỗ
+ Không làm chết cá thể, trừtrường hợp nằm ở vị trí nguy hiểm
+ Không di căn
+ Không có vỏ bọc, ranh giới lờ
mờ, xâm nhập sâu, có nhiều rễ ăn vào mô xung quanh, không di động khi sờ nắn
+ Cấu tạo không giống mô lành, cấu trúc xáo trộn Không ngăn cách các mô kế cận
+ Thoái triển rõ rệt, nhiều tế bào còn non (dạng phôi thai)
+ Luôn có gián phân
+ Xuyên thủng hay xâm nhập bao
mô liên kết Có sự xâm nhập của
+ Tiến triển nhanh
+ Làm chết cá thể (gây chảy máu, hoại tử)
+ Cắt bỏ, điều trị khó khăn
Trang 212.6 NHỮNG HẬU QUẢ CỦA BƯỚU
2.6.1 Gây bất dưỡng vì áp lực cho các tế bào xung quanh
Khi bướu lớn lên, áp lực gia tăng đè lên các mô xung quanh và gây bất dưỡng cho
tế bào Bướu ép vào mạch máu làm lượng máu tới mô ít đi
2.6.2 Làm nghẽn lòng các cơ quan
Bướu tăng trưởng quá mức bít các lòng ống hoặc ép mạnh làm cho ống thắt hẹp Sự nghẽn làm cho thức ăn, chất nội tiết không lưu thông được
2.6.3 Hư hại mạch máu và mạch bạch huyết
Bướu xâm nhập và xuyên qua vách mạch máu Đôi khi nội bì huyết quản hư hại sẽtạo cục huyết khối trong mạch máu hoặc gây nghẽn mạch
2.6.4 Hư hại thần kinh
Áp lực đè lên dây thần kinh sẽ gây bất dưỡng Bướu có thể xâm nhập dây thần kinh
và gây hư hại
2.6.5 Vi trùng xâm nhập vào bướu và các mô xung quanh
Mô hoại tử và thoái hoá ở bướu là môi trường thích hợp cho vi trùng tăng trưởng, sinh sôi nảy nở và có thể tấn công mô khác
và bạch cầu Bướu xâm nhập đường tiêu hoá sẽ gây thiếu máu do dinh dưỡng
2.6.8 Hệ thống nội tiết sản xuất quá nhiều kích thích tố
Khi có bướu tuyến nội tiết và lượng kích thích tố được sản xuất quá nhiều, thường tạo ra sự bất thường về tăng trưởng và biến dưỡng Chẳng hạn do các tế bào Serotoli ở tinh hoàn làm cho thú đực hoá cái (feminization) Bướu ở tuyến cận giáp sẽ làm mất nhiều Can-xi trong xương và trong máu
Trang 2215
2.6.9 Làm thú chết
Khi có bướu ở một cơ quan thiết yếu hay có nhiều bướu ở khắp cơ thể, mô bị tiêu huỷ quá nhiều nên cơ thể không thực hiện được các nhiệm vụ thiết yếu và sẽ chết
2.6.10 Tân bào tự nhiên suy giảm và hồi phục
Đôi khi bướu đang phát triển mạnh tự nhiên suy giảm đi, biến mất và mô lành trởlại Các trường hợp như thế giải thích là mô bướu khả cảm với các bệnh cảm nhiễm và nhiễm độc Khi chất độc nhiều đối với bướu hơn là với ký chủ, mô bướu bị huỷ diệt
2.7 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BƯỚU
2.7.1 Chẩn đoán lâm sàng
Chủ yếu là quan sát, sờ nắn bên ngoài để thấy được kích thước, hình dạng, số lượng, độ cứng mềm và sự di động của bướu Ngoài ra, có thể chẩn đoán lâm sàng qua các triệu chứng:
- Nổi u, cục cứng, phát triển nhanh báo động ung thư vú, ung thư phần mềm, vết loét dai dẳng khó lành
- Tiểu tiện khó khăn, nghi ngờ ung thư đại tràng, tiết niệu, sinh dục
- Xuất huyết, tiết dịch bất thường ở âm đạo, báo hiệu có khả năng ung thư cổ tử
cung, chảy dịch bất thường ở các núm vú báo động ung thư vú
- Nổi hạch bất thường, cứng, ít đau báo động hạch ác tính
- Triệu chứng biểu hiện ung thư thường là sụt cân, đau khi sờ nắn…
2.7.2 Chẩn đoán cận lâm sàng
- Chẩn đoán nội soi: dùng đèn nội soi là một ống có đèn ở phần cuối và một hệ thống quang học để chuyển hình ảnh tới mắt người quan sát Phương pháp nội soi dùng để chẩn đoán các bướu trong cơ thể như dạ dày, gan, lách…
- Chẩn đoán bằng siêu âm: dùng máy siêu âm để chụp được các cấu trúc bên trong
cơ thể, do đó siêu âm thường được dùng để phát hiện các bướu ở gan, thận…
- Chẩn đoán bằng X quang: bằng cách chiếu tia X qua cơ thể đã được tiêm thuốc cản quang để có được ảnh chụp trên phim Phương pháp này phát hiện được bướu ở phổi, xương, dạ dày, tá tràng…
- Chẩn đoán tế bào học: xem xét tế bào dưới kính hiển vi để phát hiện ra tế bào ung thư Thường áp dụng chẩn đoán ung thư đường sinh dục
- Chẩn đoán bằng giải phẫu bệnh lý: là phương pháp quyết định nhất để khẳng định bệnh ung thư như bấm sinh thiết, mổ sinh thiết, sinh thiết kim
Trang 232.8 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
Ung thư cũng như các bệnh khác, có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm Nhưng điều trị bệnh ung thư khác với điều trị các bệnh khác, mỗi loại ung thư có những sự khác nhau về nguyên nhân, sự phát triển và tiên lượng thì sẽ có những phương pháp điều trị khác nhau
2.8.1 Nguyên tắc điều trị
Nguyên tắc phối hợp: do đặc tính của tổ chức và tế bào ung thư là phát triển mạnh tại chỗ, xâm lấn ra các vùng xung quanh, di căn xa vào hệ thống bạch huyết và các cơ quan Vì thế để điều trị bệnh hiệu quả, người ta thường phải phối hợp nhiều phương pháp điều trị
2.8.2 Các phương pháp điều trị
2.8.2.1 Phương pháp phẫu thuật
Đây là phương pháp phổ biến nhất trong điều trị bướu
• Phẫu thuật triệt để
Thường áp dụng cho những khối u nhỏ, khu trú chưa di căn và lan rộng nhờ hai nguyên tắc sau:
- Đối với khối u nguyên phát: lấy đủ rộng khối u và tổ chức xung quanh nó (vùng mô xung quanh mà khối u có thể xâm lấn)
- Đối với hạch: nạo vét triệt để hệ thống hạch khu vực, đặc biệt là khi có hạch bịxâm lấn
- Để đảm bảo hai nguyên tắc này, phẫu thuật ung thư nhiều khi là phẫu thuật vùng rất rộng, phức tạp và gây tổn thương lớn
• Phẫu thuật tạm thời
Chỉ định này được áp dụng cho những bệnh ở giai đoạn muộn, thương tổn đã lan rộng
- Phẫu thuật lấy bỏ khối u tối đa: khi khối u lớn chỉ định việc cắt bỏ nó làm giảm đáng kể khối lượng tổ chức ung thư, tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng các phương pháp điều trị bổ xung khác
- Phẫu thuật khắc phục các biến chứng của khối u nhằm cải thiện chức năng cơ thểgiúp thú sống thêm một thời gian nhất định
Trang 2417
Căn cứ vào các biến chứng do khối u sinh ra, phẫu thuật tạm thời có các mục đích khác nhau:
- Phục hồi lưu thông: nối ruột trong ung thư đại tràng, mở khí quản
- Phẫu thuật làm sạch tổn thương
- Phẫu thuật giảm đau: cắt cụt chi, tháo khớp, cắt dây thần kinh
• Phẫu thuật cắt bỏ khối u tái phát và di căn
Tái phát ung thư là hậu quả của phương pháp phẫu thuật không triệt để Phẫu thuật lại khối u tái phát tùy thuộc vào từng loại bệnh cũng như khả năng lấy hết những tổn thương đó Thông thường phẫu thuật lại ổ ung thư tái phát áp dụng cho các ung thư phần mềm
Đối với di căn ung thư chỉ áp dụng cho các di căn hạch vùng Còn các trường hợp
di căn đến các cơ quan khác, phẫu thuật phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Thời gian di căn
+ Khối u di căn khu trú đơn độc một cơ quan
+ Tai biến do phẫu thuật phải thấp nhất, sức khỏe, tuổi của thú cho phép
• Phẫu thuật tạo hình và phục hồi chức năng
Thường được áp dụng sau khi cắt bỏ nhiều phần của cơ quan mang khối u; ví dụtạo hình tuyến vú bằng vạt da - cơ sau khi cắt bỏ tuyến vú ở phụ nữ Phẫu thuật này thường chỉ áp dụng cho người
• Các phương pháp phẫu thuật khác
** Phẫu thuật dự phòng
- Cắt bỏ tuyến vú, buồng trứng
- Cắt bỏ bất kỳ khối u nào hoặc những thương tổn viêm loét được điều trị lâu ngày
mà không có kết quả
** Phẫu thuật chẩn đoán ung thư
- Sinh thiết kim
- Sinh thiết cắt bỏ một phần khối u
- Mổ ổ bụng thăm dò và soi ổ bụng để xác định vị trí tổn thương, đánh giá tổn thương, được nhìn thấy và sờ thấy khối u Qua đó đưa ra những chẩn đoán chính xác
Trang 252.8.2.2 Hóa trị
Việc sử dụng hoá chất trong điều trị bướu phụ thuộc vào những yếu tố sau:
• Tổng thể tích bướu
Mỗi liều thuốc chống ung thư sẽ chỉ diệt được một số lượng tế bào bướu cố định
Vì vậy khả năng điều trị khỏi sẽ càng lớn nếu tổng thể tích bướu ban đầu càng nhỏ
• Sự kháng thuốc:
Tế bào ung thư có khả năng kháng lại các loại thuốc trong quá trình điều trị Khối bướu càng lớn, xác suất và khả năng kháng thuốc càng tăng Vì vậy, việc phối hợp đồng thời nhiều loại thuốc, việc điều trị sớm và điều trị bổ trợ làm tăng hiệu quả
- Điều trị bằng nội tiết: dùng các hormone estrogen, progesterone, androgen, hormone tuyến giáp… trong một số trường hợp như ung thư nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng, tuyến giáp trạng, tuyến tiền liệt…
- Điều trị miễn dịch: sử dụng Interferon (INF), Interleukin (IL)
2.9 MỘT SỐ DẠNG BƯỚU THƯỜNG XẢY RA TRÊN CHÓ
2.9.1 Bướu ở da và mô mền
2.9.1.1 Fibroma và fibrosarcoma
Fibroma: Fibroma là bướu lành tính thường xảy ra trên tất cả các loài thú nuôi
Fibroma thường gặp trong mô liên kết sợi Thực thể là những tế bào liên kết thành thục (tế bào sợi và nguyên bào xơ), mô liên kết đệm gồm tổ chức liên kết (có mạch quản và mạch lympho) Tùy theo số chất keo hiện diện và sự sắp xếp thành từng bó lỏng lẻo hay cứng mà được gọi là u xơ mền hay u xơ cứng
Trang 2619
Đây là dạng bướu lành nên cắt bỏ không có khả năng tái phát Nếu chúng nằm ở cơquan bên trong hoặc quá lớn có thể chèn ép các mô khác
• Cấu trúc đại thể và vi thể
+ U xơ mềm (fibroma molluscum): thường bắt nguồn từ mô liên kết lỏng lẻo dưới
da, thường gặp ở những vùng da bị tổn thương hay chỗ có ung nhọt
- Đại thể: có bao, sờ có cảm giác mềm, thường xốp, dễ đứt nát, nhiều mạch máu, chứa dịch phù thủng
- Vi thể: chứa ít sợi keo, sắp xếp lỏng lẻo, nhân hình sao và ngăn cách bởi thấm dịch
+ U xơ cứng (fibroma durum):
- Đại thể: là một khối cứng, hình cầu, có vỏ bọc, ranh giới rõ ràng, có cuống, thường rắn chắn như gân Cắt bỏ khó khăn, mặt cắt nổi, màu trắng xám hay trắng hơi vàng Dễ có thoái hóa hay viêm
- Vi thể: cấu trúc mô học gồm các tế bào sợi trưởng thành, nhân hình thoi, hiếm khi thấy phân bào Nhiều sợi tạo thành những dải lớn sắp xếp hỗn độn
• Vị trí: gặp ở mọi nơi trên cơ thể, nơi có mô lien kết sợi và thường nhất là dưới da Bướu có cuống, ranh giới rõ ràng, bề mặt bướu đôi khi có lở loét, viêm nhiễm kếphát
Fibrosarcoma: Fibrosarcoma hay còn gọi là u xơ ác tính thường gặp trên chó, mặc
dù cũng thấy trên nhiều thú khác Trên chó trưởng thành gặp nhiều hơn, đôi khi cũng xảy ra trên chó 6 tháng tuổi hoặc nhỏ hơn Tân bào này hay mọc ở da và dưới da phần thân, vùng đầu, xoang miệng, xoang mũi…
- Đại thể: kích thước bướu luôn thay đổi từ một vài cm đến rất lớn, bờ không rõ,
ranh giới không rõ Không có bao, có thể cứng hay hơi cứng, một vài chỗ dễ vụn nát Khi dính vào da hay màng nhầy làm bề mặt các nơi này thường lở loét và viêm nhiễm
kế phát Bề mặt bướu mờ đục hoặc hơi trắng đỏ, có vằn Những vùng xuất huyết
thường có màu nâu đỏ và vùng hoại tử thường có màu vàng
- Vi thể: các bó xơ của fibrosarcoma chưa trưởng thành đan xen nhau và có sự thay đổi số lượng các sợi collagen Tế bào sợi nhiều hơn, nhỏ hơn tế bào hình thoi, hình trứng, hình sao và có nhiều tế bào khổng lồ đa nhân Nhân thường kéo dài, ưa sắc tố,
Trang 27biên giới giữa các tế bào khó phân biệt Mạch máu đến nuôi nhiều nhưng cấu trúc thành mạc sơ sài, dễ vỡ gây xuất huyết làm thiếu máu cục bộ, hoại tử, phù thủng, viêm nhiễm
- Di căn: thường di căn đến phổi hoặc các hạch bạch huyết quanh bướu nguyên phát
2.9.1.2 Lipoma và liposarcoma
Lipoma và liposarcoma còn gọi là bướu mỡ lành tính và bướu mỡ ác tính Chúng là những bướu có nguồn gốc từ tế bào lipo và nguyên bào lipo đã khác biệt so với tế bào lipo bình thường Bướu thường gặp trên chó ở dạng lành tính Tuổi mắc bệnh ở chó phần lớn lúc chó được 8 năm tuổi và tỉ lệ này gia tăng theo tuổi
• Đại thể: bướu thường có dạng tròn, trứng hay đĩa hoặc nhiều thùy và có vỏ bọc, ranh
giới rõ ràng
- Lipoma: mềm, mặt cắt ứ dầu hay mỡ, có màu vàng hoặc trắng Bướu có thể hoá calci
- Liposarcoma: có thể mền hay cứng, thường có bao và ít hoá calci Liposarcoma
dễ nhầm với mô hoại tử
• Vị trí: Thường thấy nhất là ở mô dưới da của ngực và bụng
Trang 2821
2.9.1.3 Papilloma (Bướu biểu mô vảy lành tính) hay còn gọi là u nhú
Bướu này thường gặp trên chó trưởng thành và các thú nuôi khác Bướu mọc ở mọi nơi trên da và thường thấy nhất là ở da thân, chân, môi và bìu dịch hoàn Các u nhú phát triển không biểu bì thường có dạng mõn hình nón, hình dẹp hay dạng cứng, đường kính 2 – 5 mm
Kích thước tăng nhanh sau vài tuần, tăng trưởng nhanh gây huỷ hoại mạnh mẽ
và vùng da ít hoá sừng thường lở loét, gây viêm nhiễm kế phát
• Vi thể
Gồm các liên bào quá sản tạo lớp kép, sừng hoá mạnh, dưới là mô liên kết chứa nhiều mạch quản và lympho quản Thiếu chất nhiễm sắc ở nhân Có nhiều dạng phân bào, có dấu hiệu viêm kinh niên ở các mô dưới, tăng trưởng và xâm lấn các
mô xung quanh chậm
2.9.2 Bướu cơ quan sinh dục (lymphocyst, histiocyst, sticker tumor, transamissible sarcoma, lymphosarcoma, contagious venereal tumor)
Bướu này thường thấy trên chó trưởng thành và tỷ lệ nhiễm bệnh cao vào mùa sinh sản Bướu này không có dấu hiệu di truyền
Tỷ lệ nhiễm bệnh này ở chó cái cao hơn so với chó đực và chó cái tơ Chó chưa bao giờ giao phối thì không mắc loại bệnh này
Bướu định vị ở bộ phân sinh dục ngoài, nhưng đôi khi xảy ra trên miệng, mũi, kết mạc mắt và trên da Trên chó đực, bướu thường mọc ở phần đuôi dương vật, từ cuống dương vật đến tuyến củ hành Trên chó cái thì bướu thường mọc ở phần sau âm đạo
Trang 29(chỗ nối liền của tiền đình và âm đạo) Một số bướu bao quanh lỗ niệu đạo thì nó lồi ra âm hộ
• Lây truyền: chủ yếu qua giao phối
• Di căn: chiếm tỷ lệ thấp, không đến 5% trường hợp
2.9.3 Bướu tuyến vú trên chó
Chiếm tỷ lệ thứ hai sau bướu da và thường chiếm tỷ lệ cao trên chó cái Tỷ lệ mắc bệnh gia tăng theo tuổi, thường vào khoảng 6 – 7 năm tuổi và hiếm gặp trên chó dưới
2 năm tuổi
Nguyên nhân: thường do nội tiết tố và tuổi Chó cái chưa triệt sản thường bị bướu
vú hơn chó cái đã triệt sản
Bướu vú trên chó có liên quan đến nội tiết tố trong các trường hợp:
- Chu kỳ động dục không đều
- Rối loạn sự rụng trứng
- Hoàng thể không tiêu biến
- Tăng sinh nội mạc tử cung
- Tử cung có mủ
- Không vận động, không giao phối
- Mang thai giả
• Định vị: Bướu xẩy ra nhiều nhất ở hai tuyến vú sau cùng (chiếm 60%)
Trang 30- Khó phân định rõ khi bướu lấn ra mô bao ngoài vú
2.10 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài
♦ Lê Văn Thọ và cộng tác viên (2001) đã ghi nhận được 116 chó bị bướu đưa đến khám và điều trị tại chi cục thú y Tp HCM từ ngày 01/07/1999 đến 01/07/1999 cho thấy:
- Tỷ lệ bướu ở chó cái (58,62%) cao hơn ở chó đực (41,38%)
- Qua xét nghiệm mô học cho thấy tỷ lệ bướu ác tính chiếm 40,6%, tỷ lệ bướu lành tính chiếm 59,4%
- Phẫu thuật cắt bỏ bướu cho 104 chó đều đạt kết quả tốt, lành nhanh nhất là bướu mộng mắt (7-9 ngày)
♦ Trần Thị Hồng Vân (2003) đã ghi nhận được 62 trường hợp cho bị bướu trong tổng số 3933 chó tới khám (1,59%) tại trạm Phòng Chống Dịch và Kiểm Dịch Động Vật Chi cục Thú y Tp.HCM từ ngày 06/02/2003 đến ngày 06/07/2003, một số kết quảđạt được như sau:
- Tỷ lệ bướu trên chó cái (2,49%) cao hơn trên chó đực (0,89%)
- Tỷ lệ bướu trên giống chó ngoại là 1,23% thấp hơn tỷ lệ bướu trên giống chó Việt Nam (2,19%)
- Tỷ lệ bướu trên chó tăng theo tuổi: ≤ 1 năm tuổi (0,13%), 1-4 năm tuổi (1,28%), 4-10 năm tuổi (5,80%), trên 10 năm tuổi (20,22%)
- Bướu da xuất hiện nhiều nhất (76,47%) Trong đó bướu vú chiếm tỷ lệ cao nhất (30,88%)
- Tỷ lệ bướu lành tính là 65,63%, tỷ lệ bướu ác tính là 34,38%
- 85,71% các trường hợp bướu được can thiệp ngoại khoa có hiệu quả tốt
Trang 31♦ Nguyễn Thị Hoàng Yến (2003) khảo sát từ ngày 17/02/2003 đến 17/07/2003 tại trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị Chi cục Thú y Tp.HCM ghi nhận được 69 chó bị bướu trong tổng số chó tới khám và điều trị là 3056 con (chiếm tỷ lệ 2,26%) Kết quả như sau:
- Tỷ lệ bướu trên chó cái (2,99%) cao hơn trên chó đực (1,52%)
- Tỷ lệ bướu trên chó ngoại là 1,79% thấp hơn tỷ lệ bướu trên chó Việt Nam (2,95%)
- Tỷ lệ bướu trên chó tăng theo tuổi: ≤ 1 năm tuổi (0,42%), 1-5 năm tuổi (1,73%), 5-10 năm tuổi (10,81%), 10-14 năm tuổi (12%), trên 14 năm tuổi (20%)
- Bướu da xuất hiện nhiều nhất (44,93%), kế đến là bướu hệ thống sinh dục (37,68%)
- Tỷ lệ bướu lành tính (chiếm 36%) thấp hơn tỷ lệ bướu ác tính (chiếm 64%)
♦ Huỳnh Thanh Giang (2004) khảo sát từ ngày 15/04/2004 đến 15/08/2004 tại trạm Phòng Chống Dịch và Kiểm Dịch Động Vật Chi cục Thú y Tp.HCM ghi nhận được 41 chó bị bướu trong tổng số chó tới khám và điều trị là 4128 con (chiếm tỷ lệ 1,16%) Kết quả như sau:
- Tỷ lệ bướu trên chó cái (1,58%) cao hơn trên chó đực (0,89%)
- Tỷ lệ bướu trên nhóm giống chó ngoại là 1,17%, tỷ lệ bướu trên giống chó nội (1,15%)
- Tỷ lệ bướu trên chó tăng theo tuổi: ≤ 1 năm tuổi (0,08%), 1-4 năm tuổi (0,57%), 4-10 năm tuổi (6,36%), trên 10 năm tuổi (8,86%)
- Bướu da xuất hiện nhiều nhất (81,63%)
- Tỷ lệ bướu lành tính là 96,30%, tỷ lệ bướu ác tính là 3,70%
- tỷ lệ chó khỏi bệnh do điều tị ngoại khao là 93,75%, điều trị nội khoa là 100%
♦ Đặng Lê Thanh Hồng (2005) khảo sát từ ngày 15/01/2005 đến 15/005/2005 tại trạm Phòng Chống Dịch và Kiểm Dịch Động Vật Chi cục Thú y Tp.HCM ghi nhận được 51 chó bị bướu trong tổng số chó tới khám và điều trị là 3857 con (chiếm tỷ lệ1,32%) Kết quả như sau:
- Tỷ lệ bướu trên chó cái (2,05%) cao hơn trên chó đực (0,83%)