1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất

107 643 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Kỹ thuật hàng hải và khai thác thủy sản
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2024
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó tôi xin chân thành cảm ơn gia đình ông Trần Hoè đã tận tình giúp đỡ tôi trong gần một tháng thực tập trên biển để tôi thấy được rõ hơn về thực trạng hoạt động sản xuất trong

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

LỜI CẢM ƠN .3

CHƯƠNG 1 :TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 TỔNG QUAN VỀ NGHỀ CÁ CỦA TỈNH KHÁNH HOÀ 4

1.1.1.Giới thiệu chung về Khánh Hoà 4

1.1.2 Đặc điểm hành chính 6

1.1.3 Các cụm dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính của tỉnh .6

1.1.4 Ngư trường hoạt động 7

1.1.5 Năng lực khai thác 8

1.1.6 Tổng quan về lao động .11

1.1.7 Sản lượng khai thác theo nghề, tàu, năm, của tỉnh 12

1.1.8 Chủ trương chính sách, định hướng phát triển nghề cá của địa phương 13

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 15

1.2.1 Về thực trạng điều tra 15

1.2.2 Những vấn đề liên quan 15

1.3 TỔNG QUAN VỀ TÀU THUYỀN TRÊN CÁC TÀU CÁ VIỆT NAM 15 1.3.1 Về tàu thuyền 15

1.3.2 Tình hình máy móc và trang thiết bị 16

1.4 PHÂN TÍCH NHẬN XÉT 21

1.4.1 Tổ chức sản xuất 21

1.4.2 Về trình độ công nghệ 21

Trang 2

CHƯƠNG 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .23

2.1 NỘI DUNG ĐỀ TÀI 23

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

2 2.2 Phương pháp điều tra số liệu 23

2.2.3 Các bước thu thập số liệu 24

2.2.4 Xử lý số liệu 25

2.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25

2.3.1 Phạm vi nghiên cứu 25

2.3.2 Đối tượng nghiên cứu 25

2.3.3 Tiêu chí để đánh giá lựa chọn Mô Hình 25

CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 TÀU THUYỀN THỰC TẬP 27

3.1.1.Tổng quan về tàu thuyền 27

3.1.2 Cách bố trí cabin và các hệ thống trên tàu 29

3.1.3 Thuyền viên .30

3.2 GIỚI THIỆU VỀ CẤU TRÚC VÀNG CÂU TRÊN TÀU KH96498TS 30 3.3 MÁY MÓC VÀ THIẾT BỊ KHAI THÁC .35

3.3.1 Máy móc 35

3.3.2 Thiết bị khai thác 38

3.4 QUY TRÌNH KHAI THÁC 41

3.4.1 Quy trình thả câu 41

3.4.2 Quy trình ngâm câu 43

3.4.3 Quy trình thu câu 43

3.5 NGƯ TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA TÀU ĐIỀU TRA 46

3.5.1 Mùa vụ và ngư trường hoạt động 46

3.5.2 Đặc điểm của ngư trường .47

3.5.3 Kết quả khai thác của tàu .50

Trang 3

3.6 THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CHUYẾN BIỂN .51

3.6.1 Thông tin về chuyến biển 51

3.6.2 Tai nạn xảy ra trong quá trình khai thác 56

3.6.3 Đánh giá mức độ nguy hiểm của tai nạn 64

3.7 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG 66

3.7.1 Các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn xảy ra trong sản xuất 66

3.7.2 Đánh giá mức độ nguy hiểm của các nguy cơ 76

3.7.3 Phân tích nhằm làm rõ những vấn đề, đặc điểm trong quá trình sản xuất chứa đựng nguy cơ tiềm ẩn tai nạn 78

3.8 ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT 82

3.8.1 Đánh giá ưu nhược điểm của tàu điều tra 82

3.8.2 Một số đề xuất 84

3.9 MỘT SỐ VỤ TAI NẠN ĐIỂN HÌNH TRONG NĂM 2007 86

3.9.1 Tàu mang số đăng ký: KH96446TS 86

3.9.2 Tàu mang số đăng ký: KH6328TS 86

3.9.3 Tàu mang số đăng ký: KH6436TS 87

3.9.4 Tàu mang số đăng ký: KH945852TS 87

3.9.5 Tàu mang số đăng ký: KH0279TS 87

3.10 XÂY DỰNG MÔ HÌNH SẢN XUẤT 88

3.10.1 Về tiêu chí 88

3.10.2 Xây dựng mô hình 88

3.10.3 Về quy mô mỗi con tàu 89

3.10.4 Sự khác biệt 93

KẾT LUẬN .95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Thể hiện các cụm dân cư tỉnh Khánh Hoà 7

Bảng 1.2 Thể hiện số lượng tàu thuyề theo công suất 9

Bảng 1.3 Số lượng tàu thuyền 10

Bảng 1.4 Thống kê sản lượng khai thác theo nghề, tàu, năm của tỉnh 12

Bảng 3.1 Danh sách thuyền viên trên tàu 30

Bảng 3.2 Thống kê vị trí đánh bắt của tàu trong từng mẻ câu .47

Bảng 3.3 Thống kê thông tin về ngư trường trong từng mẻ câu lúc thả câu48 Bảng 3.4 Thống kê các loại cá đã khai thác trong chuyến biển 50

Bảng 3.5 Nhiên liệu chuẩn bị cho chuyến biển 53

Bảng 3.6 Thống kê lương thực thực phẩm phục vụ cho chuyến biển .54

Bảng 3.7 Thống kê tai nạn do lưỡi câu quấn vào người 57

Bảng 3.8 Thống kê tai nạn do chầy đập cá đập trượt vào chân 59

Bảng 3.9 Thống kê tai nạn do bị sứa cắn 60

Bảng 3.10 Thống kê tai nạn bị đá cứa 62

Bảng 3.11 Tổng hợp các tai nạn 64

Bảng 3.12 Đánh giá mức độ nguy hiểm của tai nạn 65

Bảng 3.13 Thống kê nguy cơ tiềm ẩn tai nạn triên câu quấn vào người 66

Bảng 3.14 Thống kê nguy cơ tai nạn người bị rơi xuống biển 68

Bảng 3.15 Thống kê nguy cơ xảy ra tai nạn đâm va 71

Bảng 3.16 Thống kê nguy cơ xảy ra tai nạn tàu mất tích 73

Bảng 3.17 Thống kê nguy cơ xảy ra tai nạn cháy nổ 75

Bảng 3.18 Thống kê các nguy cơ tiềm ẩn trong tai nạn 77

Bảng 3.19 Đánh giá mức độ nguy hiểm của tai nạn 78

Bảng 3.20 Thống kê thời gian làm việc của thuyền viên 81

Bảng 3.21 Các thiết bị tàu mô hình 91

Bảng 3.22 Hệ thống khai thác 92

Bảng 3.23 Trang bị hàng hải 92

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Thể hiện khai thác thuỷ sản Khánh Hoà thừ 2002 - 2006 9

Biểu đồ 1.2 Thể hiện số lượng tàu thuyền qua ngành nghề ở Khánh Hoà 10

Biểu đồ 1.3 Thể hiện sản lương qua các năm 2002 - 2006 13

Biểu đồ 3.1 Thể hiện các tai nạn trong chuyến biển điều tra 64

Biểu đồ 3.2 Thể hiện các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn 77

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1 Dây triên tàu KH 96498TS 31

Hình 3.2 Thẻo câu tàu KH96498TS 32

Hình 3.3 phao vàdây phao tàu KH96498TS 34

Hình 3.4 Máy thu câu tàu KH96498TS 35

Hình 3.5 Máy xay đá trên tàu KH96498TS 37

Hình 3.6 Máy xay đá tàu KH96498TS 38

Hình 3.7 Giỏ đựng câu tàu KH96498TS 39

Hình 3.8 Khấu móc cá tàu KH96498TS 39

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm qua nhu cầu tiêu thụ cá ngừ trên thế giới ngày càng tăng làm cho áp lực khai thác nguồn lợi cá ngừ ngày càng lớn, có nhiều địa phương phát triển mạnh nghề khai thác cá ngừ trong đó phải nói đến tỉnh Khánh Hoà là một trong những địa phương đi đầu trong việc khai thác cá ngừ Tuy nhiên đi đôi với sự phát triển đó là sự gia tăng rủi do về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chính vì vậy mà an toàn lao động đang là mối quan tâm hàng đầu không chỉ trong ngành thủy sản mà nhiều ngành và nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội

Đi đôi với việc phát triển mạnh của các tàu câu cá ngừ muốn vươn ra khơi xa

để khai thác thì các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn càng nhiều, vì vậy hơn lúc nào hết việc xác định được nguy cơ tiền ẩn tai nạn trong sản xuất là vô cùng cần thiết đối nghề khai thác cá ngừ đại dượng

Xuất phát từ vấn đề cần phải bảo vệ người lao động trong nghề đánh bắt cá biển cũng như mục đích đào tạo của trường Đại Học Nha Trang, tôi được khoa Khai Thác Hàng Hải giao cho thực hiện đồ án tốt nghiệp

“Khảo sát một chuyến biển của tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200CV phường Xương Huân thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà, xác định nguy cơ tiềm

ẩn trong sản xuất”

Qua thời gian nghiên cứu, điều tra thực tế trên tàu KH96498TS của chủ tàu Trần Hoè Nơi thường trú: Số nhà 08 xóm Duy Thanh phường Xương Huân Thành Phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà, tôi đã hoàn thành đồ án với những nội dung sau: I-Tổng quan các vần đề nghiên cứu

II- Những thông tin liên quan đến chuyến biển

III-Kết quả khảo sát chuyến biển về nguy cơ tiềm ẩn tai nạn trong sản xuất IV- Đánh giá và đề xuất

Mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thành tốt nội dung đề tài nhưng do thời gian và điều kiện thực hiện còn hạn chế nên những kết quả đạt được trong đề tài này còn nhiều thiếu sót rất mong được sự đóng góp ý kiến của Cán Bộ hướng dẫn,

Trang 7

Quý Thầy và bạn đọc để cuốn đồ án này được hoàn thiện hơn, bản thân tôi có sự hiểu biết vấn đề sâu sắc hơn

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Phan Trọng Huyến, chú Phan Trọng Tiến cán bộ đăng kiểm và chủ tàu gia đình ông Trần Hoè cùng các phòng ban Sở Thuỷ Sản, công ty Bảo Việt Nhân Thọ tỉnh Khánh Hoà đã giúp đỡ tận tình tôi trong thời gian thực tập vừa qua giúp tôi hoàn thành đồ án này

Xin chân thành cảm ơn!

Người Thực Hiện SV:Nguyễn Thắng Nhuận

Trang 8

là thầy hướng dẫn Phan Trọng Huyến đã tạo điều kiện cho tôi thực tập tốt nghiệp để tôi trang bị thêm kiến thức về ngành nghề phục vụ công việc trong thời gian tới Bên cạnh đó tôi xin chân thành cảm ơn gia đình ông Trần Hoè đã tận tình giúp

đỡ tôi trong gần một tháng thực tập trên biển để tôi thấy được rõ hơn về thực trạng hoạt động sản xuất trong nghề câu cá ngừ của tỉnh Khánh Hoà hiện nay, để từ đó tôi hoàn thành đồ án này trong đó tôi có những ý tưởng và đề xuất để nghề câu cá ngừ khai thác hiệu quả hơn và giảm tối đa những tai nạn xảy ra cho người lao động Lời cuối cùng tôi xin cảm ơn đến tất cả các thành viên trong nhóm thực tập đã đoàn kết giúp đỡ nhau vượt qua đợt thực tập này

Nha trang, tháng10 năm 2007

SV:Nguyễn Thắng Nhuận

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN VỀ NGHỀ CÁ CỦA TỈNH KHÁNH HOÀ

1.1.1.Giới thiệu chung về Khánh Hoà

a,Vị trí địa lý

- Khánh Hoà là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ của nước ta, có phần lãnh thổ trên đất liền nhô ra xa nhất về phía biển Đông Phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực Bắc: 120o 52'15'' vĩ độ Bắc Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực Nam: 110o 42' 50'' vĩ độ đông trên bán đảo Hòn Gốm huyện Vạn Ninh, cũng chính

là điểm cực Đông trên đất liền của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

- Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hoà còn có vùng biển, vùng thềm lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa Bên trên phần đất liền và vùng lãnh hải là không phận của tỉnh Khánh Hoà

b, Địa hình - Diện tích

- Diện tích của tỉnh Khánh Hoà là 5.197 km2 (kể cả các đảo, quần đảo), đứng vào loại trung bình so với cả nước Vùng biển rộng gấp nhiều lần đất liền Bờ biển dài 385km, có khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ và các đảo san hô trong quần đảo Trường Sa

- Địa hình, Khánh Hoà nằm sườn phía Đông của dãy Trường Sơn, diện tính đồi núi chiếm 70% toàn bộ lãnh thổ, nhìn tổng thể địa hình của tỉnh Khánh Hoà thấp dần từ phía Tây sang phía Đông, phía Tây là những dãy núi hình cánh cũng bao bọc lấy đồng bằng nhỏ hẹp, liền kề là nhiều đầm, vịnh và đảo nhỏ nằm rải rác ven bờ biển

c, Chế độ gió

- Về mùa Đông hướng gió chủ yếu là hướng Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc Về mùa Hè hướng gió chủ yếu là hướng Nam, Đông Nam và Tây Nam Tốc độ gió trung bình hàng năm giao động khoảng 2,4 ÷ 2,8m/s và chênh lệch về tốc độ gió trung bình của các tháng không vượt quá 0,7m/s Nhìn chung tốc độ gió trung bình

Trang 10

của mùa Đông lớn hơn nhiều so với mùa Hạ Từ tháng11 ÷ 2 năm sau tốc độ gió đạt 3,3 ÷ 4,5m/s các tháng còn lại đạt từ 1,6 ÷ 2,7m/s

- Nhiệt độ trung bình hàng năm của Khánh Hoà dao động từ 26,3 ÷ 29,9 thời tiết nóng ẩm khá ổn định kéo dài suốt từ tháng 8 ÷ 9 hàng năm

- Theo số liệu quan trắc nhiệt độ cao nhất vào các tháng 5, 6 và 7 trung bình là 28,5 ÷ 28,60C nhiệt độ nhỏ nhất 23,5 ÷ 24,50C, nhiệt độ ngày cao nhất là 330C

- Nhiệt độ nước biển tầng mặt có giá trị cực đại là 31,30C và giá trị cực tiểu là 23,40C, độ mặn nước biển là 35,82‰ và đạt cực tiểu là 30,11‰

- Độ ẩm trung bình hàng năm 76÷79%/năm

e, Chế độ mưa

- Khánh Hoà có vùng nhiệt độ cao lên mưa là nhân tố quan trọng chi phối thời

vụ, cơ cấu cây trồng, năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là vùng núi

- Lượng mưa Khánh Hoà phân bố không đều và tăng theo địa hình từ Đông sang Tây và từ Nam sang Bắc Lượng mưa trung bình hàng năm đo được 1400 ÷ 1700mm, và mùa bão gió lượng mưa đo được trong ngày lên đến 240 ÷ 400mm, trong những năm gần đây thế giới chịu sự tác động của sự nóng lên của Trái Đất khiến cho tình hình hạn hán gia tăng tất cả các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam và Khánh Hoà cũng phải gánh chịu những hậu quả đó và tình hình hạn hán cũng như cháy rừng ngày càng có nguy cơ cao

f, Gió bão

- Theo thống kê hàng năm Khánh Hoà thường gánh chịu khoảng 10 cơn bão

và trên 1 cơn áp thấp nhiệt đới, sức gió cấp 6 ÷ 7(39 ÷ 61km/h) chiếm 55%, bão cấp

Trang 11

8 ÷ 9 (62 ÷ 88km/h), cấp 10 ÷ 12(100 ÷ 120km/h) chiếm khoảng 11%, các loại có cấp siêu bão chiếm khoảng 1%

- Điều này cho thấy Khánh Hoà nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của bão gió rất cao, chính vì vậy công tác dự báo báo phải thường xuyên và liên tục nhằm đưa những thông tin chính xác nhất và hạn chế những hậu quả đáng tiếc có thể xảy

ra không chỉ cho nghề cá nói riêng mà toàn thể các cấp các ngành các phòng ban có liên quan

- Huyện đảo Trường Sa

Bản đồ 1.1 hành chính tỉnh Khánh Hoà <nguồn Website

http://baokhanhhoa.com.vn>

1.1.3 Các cụm dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính của tỉnh

- Cụm dân cư nghề cá tỉnh Khánh Hoà được phân bố ở các khu vực thành phố

và các huyện, thị xã có mặt giáp biển được thể hiện qua bảng tổng hợp sau

Trang 12

Bảng 1.1 Các cụm dân cư tỉnh Khánh Hoà

STT Thành phố Nha Trang Thị xã Cam Ranh Huyện Vạn Ninh Huyện Ninh Hòa

4 Phường Vĩnh Nguyên Thị trấn Ba Ngòi Xã Vạn Phước Xã Ninh Phước

5 Phường Vĩnh Trường Phường Cam Thuận Xã Vạn Thắng Xã Ninh Vân

1.1.4 Ngư trường hoạt động

- Nghề câu cá ngừ tập trung chủ yếu ở các xã phường của thành phố Nha Trang như: Vĩnh Thọ, Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Xương Huân, Hòn Rớ, Phước Đồng, Cam Ranh, Cam Lợi

- Ngư trường đánh bắt chính là: Đầu năm các tàu hoạt động ở các vĩ độ cao gần quần đảo Hoàng Sa Từ 12000N ÷ 17000N và 110000E ÷ 170000E, sau đó chuyển dần xuống phía Nam Vào các tháng 7 và tháng 8 hoạt động ở phía Tây Nam của quần đảo Trường Sa

- Về mùa vụ khai thác cá ngừ: Chia làm hai vụ là Vụ cá Nam và Vụ cá Bắc + Vụ Cá Bắc

Trang 13

Bắt đầu từ tháng 12÷ 4 năm sau đây là mùa vụ cho sản lượng cá cao và chất lượng đạt tiêu chuẩn Ngư trường đánh bắt chủ yếu từ 12000N ÷17000N và 110000E

- Đối tượng đánh bắt chủ yếu là cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, ngừ sọc dưa,

cá nhám, cá mực, cá cờ nhưng đối tượng khai thác chính để xuất khẩu của các tàu câu ngừ đó là cá ngừ mắt to và cá ngừ vây vàng

- Cá ngừ mắt to là loài có chất lượng tốt nhất cá trên 40 kg thường được ướp lạnh bán tươi để làm món Shasimi nên có giá trị kinh tế rất cao Cá ngừ mắt to thường xuất hiện ở độ sâu 100 - 350m có khi lên tới 600m, chúng sống ở vùng nước

có đường đẳng nhiêt từ 10 - 17o cá được đánh bắt tốt nhất vào mùa đông Và đội tàu câu chuyên dụng khai thác được tốt hơn các đội tàu truyền thống của ngư dân

- Cá ngừ vây vàng: thường được khai thác ở tầng mặt đến độ sâu 250m Cá ngừ vây vàng được khai thác nhiều ở vùng nước có đường đẳng nhiệt từ 18 – 28oc

là nơi hội tụ các dòng chảy, vùng nước trồi, các đảo ngầm và là nơi có các đàn chim đang ăn Mùa vụ khai thác tốt nhất vào mùa xuân và mùa hè Cá ngừ vây vàng đang được ưa chuộng trên thị trường thì cá phải đạt trên 30kg và cá ngừ vây vàng chỉ đứng thứ 2 sau cá ngừ mắt to về chất lượng làm Shasimi

1.1.5 Năng lực khai thác

- Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2002 - 2006

Trang 14

Bảng 1.2 Thể hiện số lượng tàu thuyền qua công suất

cá tỉnh Khánh Hoà đang phát triển mạnh Trong những năm gần đây thì nghề câu đã

Trang 15

trỏ thành nghề khai thác cá trọng điểm của Khánh Hoà qua bảng số liệu dưới đây có thể một phần nào minh chứng cho điều đó

- Cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản tỉnh Khánh Hoà tính đến năm 2006

Bảng 1.3 Số lượng tàu thuyền

STT

Nghề Nhóm công suất

Trang 16

Nhận xét:

Qua biểu đồ ta thấy được số lượng các tàu thuyền theo nghề trong tổng số lượng các tàu thuyền khai thác thì nghề câu chiếm một tỷ lệ nhỏ nhất với 425 chiếc chiếm 7,7% tổng lượng tàu thuyền trong toàn tỉnh có nhiều nguyên do nhưng chủ yếu là do chi phí đóng một con tàu câu cá ngừ đại dương là rất lớn, và chỉ có những gia đình có tiềm năng về mặt kinh tế mới có khả năng đóng tàu Nhưng hiệu quả của nghề câu cá ngừ mang lại là không nhỏ qua điều tra của sở thuỷ sản tỉnh Khánh Hoà thì 100% số gia đình có theo nghề câu cá ngừ có thu nhập lớn hơn so với các gia đình hoạt động nghề khác

1.1.6 Tổng quan về lao động

a, Lực lượng lao động khai thác thủy sản

- Toàn tỉnh hiện nay có khoảng 20.500 lao động làm nghề khai thác thủy sản trong tổng số gần 80.000 lao động nghề cá, chiếm khoảng 25,6% tổng số lao động làm việc ở các lĩnh vực khác trong ngành Thủy sản Năng lực khai thác thủy sản chiếm tỷ trọng đáng kể về số lượng nhưng trình độ thì hạn chế và mặt bằng nhận thức thấp hơn so với các lĩnh vực khác đại đa số ngư dân chỉ biết đọc, biết viết và chưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở

- Lực lượng lao động trên tàu có trình độ nghề nghiệp phần lớn theo phương thức cha truyền con nối Trình độ của đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng tuy có cao hơn xong kiến thức cơ bản để sử dụng hiệu quả lợi ích của máy móc đem lại còn hạn chế Thiếu kiến thức về pháp luật để có thể hoạt động ở những vùng biển

xa bờ

b, Tình hình chung của đời sống ngư dân

- Qua tìm hiểu ở Sở Thủy sản và các số liệu báo cáo năm trước cho thấy số lao động nghề cá có trình độ học vấn không cao, 68% là cấp I, 27% là cấp II, số lao động có trình độ cấp III rất ít chỉ khoảng 5%, do lao động nghề cá là loại lao động đặc thù đòi hỏi có sức khoẻ tốt và khả năng đi biển được Và thậm chí một số lượng lao động chưa một lần đến trường, vì rằng từ nhỏ họ đã theo gia đình đánh bắt thuỷ sản ngoài biển, theo thời gian họ tích luỹ được nhiều kinh nghiệm đi biển nên dần

Trang 17

dần họ trở thành thuyền trưởng mặc dù thất học Đó là vấn đề thực trạng còn hạn chế hiện nay của nghề cá tại tỉnh nhà

- Vì thế đi đôi với trình độ học vấn thấp tất yếu khả năng hiểu biết pháp luật

sẽ rất hạn chế Cho nên các trường hợp vi phạm là do không nắm bắt được luật và ý thức chủ quan, làm theo kinh nghiệm Một phần là do tính chất đặc thù riêng của công việc, mặc khác là do công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa rộng rãi chưa đi sâu vào người dân đặc biệt là lượng lao động làm việc trực tiếp trên tàu cá

- Về khả năng sử dụng máy móc, trang thiết bị trên tàu Với thực trạng như thế số lao động nghề cá có trình độ học vấn không cao, khả năng sử dụng máy móc trang thiết bị trên tàu chưa đạt hiệu quả, chưa khai thác được hết những tiện tích của máy móc, đa số chỉ là những thao tác cơ bản, chỉ có một số ít là sử dụng thành thạo

mà số người này thường là chủ tàu, thuyền trưởng hoặc máy trưởng vì do lực lượng này tiếp xúc với trang thiết bị thường xuyên hơn trong thực tế sản xuất

1.1.7 Sản lượng khai thác theo nghề, tàu, năm, của tỉnh

Bảng 1.4 Thống kê sản lượng khai thác theo nghề, tàu, năm của tỉnh

Tổng sản lượng (tấn)

Năng suất trung bình (tấn/CV/năm)

Trang 18

Biểu đồ 1.3 Thể hiện sản lương qua các năm 2002 - 2006

là do sản lượng cá ở ven bờ ở tỉnh ta đang bị suy kiệt có đến 95% số lượng tàu

thuyền có công suất < 90CV Đây là một thực trạng đáng báo động cho nghề cá tỉnh Khánh Hoà về công tác bảo vệ tài nguyên ven biển

1.1.8 Chủ trương chính sách, định hướng phát triển nghề cá của địa phương

a, Chính sách của địa phương

- Bảo vệ đa dạng sinh học biển Khánh Hoà trong đó bao gồm cả các loài thuỷ sinh đặc hữu, quý hiếm cũng như các hệ sinh thái đặc trưng ở vùng biển Khánh Hoà như cỏ biển, san hô, rừng ngập mặn

- Phục hồi nguồn lợi thuỷ sản ven bờ, các đầm, vịnh như vịnh vân phong, vịnh Cam Ranh đầm Nha Phu, đầm Thuỷ Triều các sông hồ chứa nước thuỷ lợi tại các địa phương trong tỉnh, vùng đất ngăn mặn nhằm phát triển ngành thuỷ sản bền vững

Trang 19

- Tuyên truyền phổ biến các kiến thức nhằm nâng cao nhận thức và tầm quan trọng trong giá trị các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đồng thời xác định rõ vai trò trách nhiệm của cộng đồng nười dân trong việc tham gia bảo vệ nguồn tài nguyên thủy sản

- Tăng cường quản lý nhà nước của ngành thuỷ sản Khánh Hoà của các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản ở Khánh Hoà

b, Định hướng phát triển khai thác thủy sản đến 2020

- Chấm dứt tình trạng khai thác thuỷ sản bằng các nghề cấm mang tính huỷ diệt nguồn lợi và môi trường sống của các loài thuỷ sản trên vùng biển Khánh Hoà hình thành và quản lý có hiệu quả hệ thống các khu vực cấm khai thác, hạn chế khai thác, khu bảo tồn biển nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên vùng biển Khánh Hoà

- Xây dựng quy hoạch, chương trình khai thác hải sản phù hợp với quy hoặch phát triển ngành theo hướng cơ khí hoá hiện đại hoá Hợp tác du nhập các công nghệ và trang bị kỹ thuật của các nước tiên tiến trên thế giới tiến tới tổ chức được các đội tàu đủ mạnh có thể tiến hành hợp tác đánh cá viễn dương

- Có giải pháp hạn chế đóng tàu cá loaị nhỏ, tiến tới cấm đóng mới các loại tàu khai thác thuỷ sản có công suất < 90 CV vào năm 2020, khuyến khích đầu tư đóng mới tàu vỏ thép, vỏ composic, loaị tàu có công suất > 150 CV cùng với việc đầu tư đồng bộ cho nghề khai thác hải sản xa bờ

- Bảo vệ và mở rộng diện tích các hệ sinh thái quan trọng đối với phát triển thuỷ sản, tiến hành phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái bổ sung, tái tạo nguồn giống hải sản “Nhân tạo” cho vùng biển, kể cả đối với các loài bản địa, đối tượng khai thác từ bao đời của người dân ven biển

- Giáo dục cộng đồng để mọi người dân khi tham gia hoạt động nghề cá đều

có ý thức chấp hành tốt luật Thuỷ sản, luật Biển và các công ước quốc tế cũng như luật pháp Việt Nam

Trang 20

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.2.1 Về thực trạng điều tra

Trong quá trình điều tra khảo sát chuyến biển trên tàu KH96498TS, tôi đã ghi nhận lại tất cả các hoạt động trên tàu từ việc chuẩn bị cho chuyến biển đến công việc bán cá Qua đó tôi lấy ra những tư liệu cần thiết cho đề tài cụ thể bao gồm

- Về máy móc hoạt động trên tàu

- Về trang thiết bị phục vụ trên tàu

- Về yếu tố ngoại cảnh tác động lên tàu như sóng gió, lốc Ảnh hưởng đến quá trình sản xuất

- Về phương thức sản xuất liên quan tới yếu tố về con người

- Về quy trình công nghệ khai thác cá ngừ

- Về công việc tiêu thụ cá ngừ

Tất cả các quá trình được ghi chép cụ thể và được phỏng vấn trực tiếp các ngư dân, thuyền trưởng và các chủ nậu để thấy được cái nhìn khái quát về tình hình nghề câu ở Khánh Hoà

1.2.2 Những vấn đề liên quan

Các vấn đề trình trong đề tài ngoài những thực tế tôi còn tham khảo thêm một

số bài viết của các tác giả Trần Sương ở Khánh Hoà, tác giả Đào Duy Hội ở Bình Định, qua đó tôi so sánh lại những thực tế mình thấy được có hợp lý không, để từ

đó làm cơ sở viết đề tài này

1.3 TỔNG QUAN VỀ TÀU THUYỀN TRÊN CÁC TÀU CÁ VIỆT NAM

1.3.1 Về tàu thuyền

- Trong những năm qua, ngư dân các tỉnh miền Trung đã phát triển tự phát hàng nghìn tàu khai thác cá ngừ đại dương, hầu hết các tội tàu này chủ yếu được chuyển đổi từ nhiều nghề khác nhau như nghề khai thác lưới rê, chuồn, nghề lưới kéo, nghề câu mực và nghề lưới vây Vì vậy trang thiết bị máy móc phục vụ đang là thách thức lớn đối với hoạt động khai thác cá ngừ ở nước ta công suất tàu phần lớn

là dưới 100CV, tàu không có hầm riêng mà chỉ đơn thuần bằng nước đá xay, khả năng chịu đựng sóng gió thấp, phạm vi hoạt động khai thác hẹp số lượng đội tàu

Trang 21

của ngư dân vào thời điểm hiện nay ước tính khoảng 1500 tàu, trong đó các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà có hơn 400 chiếc

- Bên cạnh đội tàu của ngư dân thì các tàu của các đội tàu của các doanh nghiệp cũng phát triển khá mạnh, tàu của các đội tàu có khả năng hoạt động khai thác trong điều kiện sóng gió cấp 10, 11 và thời gian chuyến biển kéo dài 30 - 40 ngày, ở nước ta hiện nay thì các tàu có công suất từ 200 - 800CV có hơn 40 chiếc

1.3.2 Tình hình máy móc và trang thiết bị

- Máy chính

Hầu hết các tàu đã và đang hoạt động nghề câu cá ngừ ở Việt Nam đều trang

bị các hãng máy của Nhật như.YANMAR, MITSUBISHI, HINO, ISUZU Máy chính các tàu câu cá ngừ đại dương chủ yếu là mua lại các máy cũ của nước ngoài

đã qua sử dụng, và chất lượng còn khoảng 80%, khi mua về chủ tàu tân trang lại nhằm nâng cao chất lượng của máy lên rồi mới lắp xuống tàu, và nếu trong số các máy này không được kiểm tra thường xuyên như là các công tác tra dầu mỡ bôi trơn làm mát máy, để máy làm việc quá tải thì rất dễ xảy ra tai nạn bất ngờ khi tàu hoạt đang hoạt động trên biển, máy chính trang bị đảm nhận nhiều chức năng trên tàu như trích lực cho máy bơm, máy thu câu, máy tời và các hệ thống điện trên tàu,

cụ thể trong chuyến đi khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ thì có tàu KH98578TS của chủ tàu ông Văn Báu đã bị hỏng máy khi vừa đi đến ngư trường, nguyên nhân là do máy cũ không được bổ tu kịp thời đã bị hư hỏng nặng và đã được đưa ngay về để sửa chữa

- Máy phụ

Hầu hết các tàu ở Việt Nam là chủ yếu trang bị máy chính có rất ít các tàu trang bị máy phụ Máy phụ khi trang bị chủ yếu là để phát điện cho hệ thống đèn và các máy hàng hải trên tàu hoạt động và có tác dụng khi máy chính gặp sự cố bị hỏng, một điều rất đáng tiếc là tàu không trang bị máy phụ thì khi máy chính hỏng khi đang hoạt động thì lại phải nhờ tàu khác kéo về làm tổn hao chi phí cho chủ tàu

ví dụ như tàu KH98578TS đã bị nạn.nên việc trang bị máy phụ trên tàu là rất cần

Trang 22

thiết khi tàu hoạt đông xa bờ và đặc biệt quan trọng hơn khi ngư dân của ta đa số là hoạt động độc lập trên biển

- Thiết bị đẩy dùng chân vịt dạng cố định được chế tạo bằng đồng với số cánh

là 4 đường kính từ 1000 - 1500mm được truyền lực từ máy chính thông qua truyền lực cơ khí

- Thiết bị lái chủ yếu được lái bằng tay dạng vô lăng thông qua hệ thống truyền lực cơ khí tác dụng lên bánh lái làm cho tàu chuyển động theo ý muốn của tàu điều khiển

- Thiết bị bảo quản chủ yếu dùng đá bảo quản sản phẩm trên các tàu câu được trang bị máy xay đá nhằm đáp ứng ngay lượng đá xay để bảo quản sản phẩm

- Thiết bị điện Một số ít tàu có trang bị máy phát điện Diezen, đa số các tàu đều dùng trên tàu đều trang bị ắc quy dùng trên các tàu dạng ắc quy của Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và USD sản xuất 4-6 chiếc Điện trên các tàu chủ yếu được trích từ máy chính của tàu, dung để chiếu sáng và chạy các thết bị điện tử như: Máy định vị, máy vô tuyến tầm phương, máy đàm thoại

- Thiết bị neo Mỗi tàu được trang bị một neo neo được bố trí bên mạn phải mũi tàu trọng lượng neo khoảng 70kg dây neo chủ yếu dùng loại dây thừng PE, có chiều dài khoảng 100 - 150m Neo được thả thu bằng tay

- Trang bị cứu sinh Phao áo được trang bi trên tàu chủ yếu của Việt Nam sản xuất giá thành rẻ là các loại phao xốp, ngoài ra còn bọc một lớp vải màu da cam để

dễ nhận biết trên biển Khi điều tra về phao áo trang bị trên tàu câu cá ngừ đại dương tại tỉnh Khánh Hoà thì thấy nhiều tàu không có một chiếc áo phao nào hoặc

có áo phao thì đã cũ nát không còn sử dụng được vẫn tồn tại trên các tàu mà chưa được thay thế hoặc bổ sung Khi tôi hỏi ngư dân “Tại sao phao áo bị thiếu, bị hỏng

mà không được tay thế và bổ sung” Thì hầu hết ngư dân trả lời là không cần sử dụng đến áo phao nhiều nên không thay thế có một số ngư dân còn nói rằng “Khi người rớt xuống biển chỉ cần ôm phao ganh hoặc can nhựa là đủ không cần trang bị phao cứu sinh” Ngoài ra một số còn cho rằng trang bị phao cứu sinh là dấu hiệu của tai nạn đây là quan điểm mê tín không thể chấp nhận được nhưng nó là nề nối

Trang 23

tập tục của ngư dân Qua đây ta thấy rất rõ được sự chủ quan với công tác này và khi sự cố xảy ra thì rất có thể thiệt hại về người, lúc đó không ai khác ngoài những ngư dân ấy phải gánh chịu đây là vấn đề rất phổ biến trong hoạt động nghề cá đã đến lúc các cấp lãnh đạo phải và cuộc để ngăn chặn tối thiểu các rủi do xảy ra mục đích an toàn tính mạng của ngư dân

- Phao tròn Các tàu câu cá ngừ thường không trang bị tròn mà theo quy định của tàu cá hoạt động xa bờ thì mỗi tàu phải trang bị tối thiểu 2 chiếc phao tròn Phao tròn dùng để cứu người khi có sự cố người rơi xuống biển hoặc dùng phải làm việc dưới nước thì phao tròn đảm bảo an toàn cho người lao động

- Can nhựa Trên thực tế các tàu cá ngừ đai dương có rất nhiều tác dụng trong

đó nổi bật nhất là dùng để chứa nước ngọt sinh hoạt và khi hết nước thì đây chính là phương tiên cứu sinh của ngư dân thay thế cho phao áo và phao tròn trên các tàu câu thì ngư dân còn kết can nhựa thành từng bè lớn và để trên nóc ca bin mục đích phòng ngừa sự cố xảy ra

- Trang bị cứu hoả

+ Bơm 1 ÷ 3 chiếc tuỳ mức độ tàu lớn hay nhỏ, lưu lượng 2m3/h/chiếc, bơm trang bị trên tàu dùng cứu hoả, cứu thủng, vệ sinh trên tàu và rửa sạch tàu sau khi đánh lưới chuồn và sau khi giết mổ cá

+ Bình bọt 1 ÷ 3 chiếc đối với loại trang bị này thì các đội tàu câu cá ngừ đại dương hầu như trang bị đầy đủ nhưng về chất lượng thì chưa đảm bảo Một số tàu thì bình bọt đã quá lâu trong lượng bình giảm, bình bị hỏng không còn sử dụng được mà vẫn được để trên tàu mà không thay thế Và khi xảy ra sự cố cháy trên tàu thì tàu không cần dùng đến loại bình này mà ngư dân thường dùng bơm để đập, trong thực tế thì có rất nhiều loại lửa như loại lửa B (cháy do xăng dầu) mà dùng bơm không thể dâp tắt được thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng của ngư dân Trên thực tế tôi tìm hiểu chiếc tàu KH96498TS mà tôi đi thực tế thì ông Trần Hoè chủ tàu cho rằng “Tàu có trang bị đầy đủ nhưng không được lắp đặt trên

ca bin và hầm máy và trang bị như vậy là để cho có lệ để đủ điều kiên hoạt động ở biển Và mỗi lần kiểm tra thì bình cứu hoả được trang bị nhưng không sử dụng nên

Trang 24

vẫn còn đảm bảo an toàn và mang về nhà cất giữ dùng cho đợt kiểm tra sau, còn nếu mang theo tàu thì sẽ bị hư hỏng, rỉ sét do nước biển nên tốt nhất là mang về nhà.”

- Vòi phun 1 ÷ 3 chiếc dạng ống nhựa mềm được nối với máy bơm và được trích lực từ máy chính Vòi này dùng vào nhiều mục đích như vệ sinh tàu, rửa sạch

cá sau khi giết mổ, hút nước vào khoang khi xảy ra sự cố thủng vỏ tàu và dùng chữa cháy

- Rìu 1 chiếc, thùng xô 2 chiếc, xà beng đều được trang bị đầy đủ trên tàu

- Bơm 1 ÷ 3 chiếc làm nhiện vụ chữa cháy, cứu thủng, vệ sinh tàu và rửa cá, các bơm trang bị trên tàu chủ yếu được trích lực từ máy chính của tàu

- Bộ đồ mộc do tàu cá vỏ gỗ lên hầu hết các tàu được trang bị 1 bộ, dùng để thay thế các bộ phận của tàu

- Bộ đồ nề ít được trang bị trên tàu vì đây là bộ đồ dùng trong xây dựng

- Keo (hồ) có trang bị, dùng để hàn gắn những dụng hoặc những lỗ thủng nhỏ,

và đặc biệt là dán các bộ đồ áo mưa của ngư dân bị rách mà vẫn còn sử dụng tốt

- Nêm, gỗ rẻ rách, hầu hết các tàu được trang bị đầy đủ từ 10 ÷ 15 cái

- Đệm va chủ yếu dung lốp xê ô tô đã bị hỏng và mỗi tàu có từ 4 ÷ 6 chiếc và được bố trí 2 bên mạn tàu

- Thiết bị điện tử

+ Máy thu định vị vệ tinh toàn cầu GPS Đây là thiết bị quan trọng và 100% tàu câu cá ngừ đều trang bị đầy đủ đó là các máy định vị hiệu máy FRUNO Qua việc đi tìm hiểu thực tế thì mỗi tàu khai thác cá ngừ hiện nay đều trang bị một máy định vị GPS, thông dụng là các máy GP-30, GP-31, GP-32, Một máy thu phát song ICOM, Phổ biến là M-718, M-710, M-700 của Nhật, việc truyền số liệu GPS về đất liền qua song ngắn của máy thu- phát vô tuyến ICOM

+ Radar cần thiết cho cho đảm bảo hàng hải và để đánh dấu vàng câu, tuy nhiên 100% tàu của ngư dân trên địa bàn Khánh Hoà không lắp đặt lý do giá cả khá cao vả lại việc coi vàng câu thì ngư dân cho tàu neo gần vị trí thả câu xong và phân công nhau trông coi vàng câu bằng 1 cây cờ đèn tín hiệu

Trang 25

+ Máy đo sâu dò cá, Máy lái tự động, Máy plotter màu, Máy fax thời tiết, Máy dò phao Hầu hết các tàu không được trang bị loại máy này

+ Máy thông tin liên lạc Chủ yếu là máy đàm thoại của các hiệu máy ICOM,Galaxy, Sea Eagle mỗi tàu tran bị 01 bộ gồm máy đàm thoại tầm xa và máy đàm thoại tàm gần, dùng để thông tin liên lạc với bờ và với các tàu khác, máy đàm thoại tầm xa trên các tàu câu cá ngừ chủ yếu hiệu máy ICOM, máy đàm thoại tầm gần có hiệu máy Galaxy hoặc SeaEagle

- Thiết bị hằng hải dò cá

+ La bàn lái, hải đồ, dùng để xác định hướng đi của tàu và vị trí ngư trường khai thác Các thiết bị này hầu hết các tàu được trang bị đầy đủ

+ Ống nhòm 100% các tàu câu cá ngừ đại dương của Khánh Hoà được trang

bị ống nhòm do Liên Xô, Việt Nam và Trung Quốc sản xuất

+ Máy đo sâu dò cá Hầu hết các tàu không trang bị, một số tàu do bộ thuỷ sản đăng ký và tàu có công suất lớn mới trang bi loại máy này Máy đo sâu dò cá dùng để đo sâu, xác định chất đáy và dò tìm đàn cá tại ngư trường khai thác

- Đèn hiệu

+ Đèn hành trình, đèn lái, đèn mạn, đèn pha, đèn nháy được trang bị đầy đủ

để hành trình trong đêm tối và thông báo cho các tàu khác biết tình trạng của tàu mình

+ Vật hiệu hình cầu, quốc kỳ Việt Nam, có đuôi nheo báo bão được trang bị đầy đủ dùng để báo hiệu ban ngày nhằm thông báo cho các tàu khác biết tình trạng của tàu mình

Trang 26

- Trang thiết bị khai thác

+ Vàng câu 40 ÷ 60 hải lý tuỳ theo cỡ tàu, công suất tàu

+ Máy thu câu có nhiệm vụ kéo dây triên từ dưới biển lên tàu Đối với các tàu câu vàng thì hầu hết được trang bị loại này

+ Vàng câu gồm có dây triên, dây thẻo, lưỡi câu, dây phao ganh, phao ganh, khoá kẹp khoá xoay

+ Một số dụng cụ khai thác như, giỏ đựng thẻo câu triên câu, kìm, dao, chầy đập cá, ròng rọc cẩu cá, móc cá, két đựng mồi cá, xẻng xúc

1.4 PHÂN TÍCH NHẬN XÉT

1.4.1 Tổ chức sản xuất

- Nghề câu cá ngừ đại dương nhìn chung là có hiệu quả kinh tế, đầu tư trang thiết bị ngư cụ không lớn, kỹ thuật khai thác không quá phức tạp, người lao động dễ thích nghi, giá sản phẩm cao hơn so với nghề khác.Tuy nhiên do sản lượng không

ổn định, mùa vụ khai thác chính tương đối ngắn, kỹ thuật đánh bắt và công nghệ bảo quản chưa tốt, giá cả lên xuống thất thường đã ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả khai thác

- Chất lượng sản phẩm sau thu hoặch không cao, tỷ lệ khai thác cá đạt tương đối lớn, nguyên nhân là do kỹ thuật khai thác, công nghệ xử lý và bảo quản cá trên tàu sau đánh bắt của ngư dân chưa tốt

1.4.2 Về trình độ công nghệ

- Mặc dù trình độ học vấn của ngư dân nhìn chung chưa cao, lực lượng thuỷ thủ chưa được đào tạo bài bản, huấn luyện về nghiệp vụ chưa cao nhưng trong quá trình sản xuất, ngư dân đã tự đào tạo tay nghề, tích luỹ dần kinh nghiệm nên số tay nghề thành thạo khá cao bên cạnh đó ngư dân cũng có những sáng kiến cải tiến kết cấu ngu cụ, tìm hiểu quy luật di cư của đàn, tìm kiếm các ngư trường khai thác mới sang chế ra máy tời thu câu, và trong thực tế đã đạt hiệu quả rất cao

- Các thiết bị như máy định vị GPS, máy thông tin liên lạc được ngành thuỷ sản tập huấn nghiệp vụ, kết hợp với việc tự học và học lẫn nhau nên ngư dân đã sử dụng khá thành thạo nhất là các tính năng phục vụ cho quá trình sản xuất trên biển

Trang 27

- Tuy bước đầu đã áp dụng máy tời thu dây triên câu có hiệu quả cao, giảm cưòng độ lao động cho ngư dân nhưng nhìn chin vẫn còn lao động cực nhọc cường

độ lao động cao, các khâu thả thu câu luôn khép kín thời gian trong ngày, nếu mà ngư dân trang bị thêm máy dò cá để hỗ trợ trong việc dò tìm và xác định độ sâu của chân rạn khi tổ chức khai thác các ngư trường mới, nhằm giảm thiểu rủi do khi có dòng nước trồi cho các vàng câu bị trôi vào các rạn làm đỡ tổn hao phí cho ngư dân

- Ngoài ra việc trang bị bảo hộ của ngư dân đề phòng những rủi do và những tai nạn bất ngờ xảy ra là không được tốt nên vẫn còn có những thiệt hại đáng tiếc xảy ra, bên cạnh đó còn có một nguyên nhân nữa là do ý thức của người lao động không cao không nghiêm túc trong quá trình lao động nên nhiều vụ tai nạn đã xảy

ra đây là một vấn đề không lạ lắm đối với người lao động ở Việt Nam khi mà tác phong lao động công nghiệp của ta không cao

Trang 28

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

2.1 NỘI DUNG ĐỀ TÀI

- Nghiên cứu tổng quan về nghề cá tỉnh Khánh Hoà

- Nghiên cứu các nguy cơ tiềm ẩn các tai nạn trong quá trình sản xuất trên tàu

câu cá ngừ đại dương

- Đưa ra mô hình sản xuất phù hợp với nghề khai thác cá ngừ của tỉnh Khánh Hoà

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian từ: 30/7/2007 đến ngày 10/11/2007

- Địa điểm nghiên cứu

+ Trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà

+ Trên tàu khai thác cá ngừ đại dương của chủ tàu Trần Hoè Số đăng kí: KH96498TS Nơi thường trú: Số nhà 08 xóm Duy Thanh phường Xương Huân Thành Phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà

2 2.2 Phương pháp điều tra số liệu

Để số liệu điều tra đầy đủ, chính xác và có độ tin cậy cao, công tác điều tra phải tiến hành tổng quát, điều tra từ các ban ngành liên quan, điều tra từ những cuộc phỏng vấn trực tiếp thuyền trưởng Trần Hoè và những thủy thủ trên tàu

Trong quá trình thực tập tôi thu thập số liệu theo các nguồn thông tin sau

Nguồn thông tin thứ nhất: Được thu thập từ thuyền trưởng và những người

thủy thủ trên tàu câu cá ngừ của chủ tàu Trần Hoè Số đăng ký: KH96498TS Nơi thường trú: Số nhà 08 xóm Duy Thanh phường Xương Huân Thành Phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà, dưới sự quan sát trực tiếp quy trình hoạt động sản xuất của các thuỷ thủ trên tàu câu cá ngừ, bằng phương pháp thống kê nhật ký hàng hải và nhật ký khai thác, và số liệu được ghi trong phiếu điều tra, và những cuộc phỏng

Trang 29

vấn để bổ xung vào thông tin về thực trạng an toàn trên tàu cá và từ đó xác định dược những nguy cơ tiềm ẩn tai nạn trong sản xuất

Nguồn thông tin thứ hai: Được cung cấp nhờ các cơ quan chính quyền, các cơ

quan có chuyên môn như: Sở thủy sản Tp Nha Trang, Công ty BảoViệt Nhân Thọ

Tp Nha Trang

2.2.3 Các bước thu thập số liệu

Các bước thu thập số liệu dựa trên các nguồn số liêu sau

- Sở Thủy Sản Tôi qua phòng tổ chức hành chính trình giấy tờ, sau đó đến phòng kỹ thuật gặp anh Tiến nhờ liên hệ tàu thực tập tìm hiểu số lượng tàu hoạt động nghề cá của ngư dân Khánh Hoà

- Công ty Bảo Việt Nhân Thọ Thông qua hồ sơ lưu trữ của công ty ta có thể tìm hiểu các tai nạn xảy ra trong sản xuất (nếu có mua bảo hiểm) từ đó nắm được các nguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục đối với các vụ tai nạn đã xảy ra trong năm 2007

- Bằng phương pháp thu thập số liệu nhờ vào phiếu điều tra Khi khảo sát trên tàu KH96498TS trên chuyến biển từ ngày 22/8 đến 15/9/2007 tôi đã thu thập số liệu như sau:

+ Theo mẫu điều tra được nhận từ phía thầy giáo hướng dẫn tôi tiến hành ghi chép tỉ mỉ những thông tin liên quan đến chuyến biển trong quá trình khai thác, do được trực tiếp trên tàu khai thác cùng ngư dân tôi đã quan sát những hành động và các thao tác trong quá trình thu, thả và ngâm câu của ngư dân Từ đó tôi đã đấnh dấu lại các vị trí của từng người được phân công trên tàu trong quá trình khai thác

và thống kê các trường hợp có nguy cơ và thường xẩy ra tai nạn nhất Sau đó tính phần trăm số lần mà một thủy thủ gặp phải tai nạn hoặc có nguy cơ gây tai nạn để

Trang 30

+ Tìm thông tin qua các bạn làm đề tài khác và khai thác nguồn thông tin trên mạng internet

2.2.4 Xử lý số liệu

- Tàu thuyền Sau khi thu thập số luợng tàu thuyền lập bảng thống kê và vẽ biểu đồ nhờ quá trình xử lý Excel để so sánh sự gia tăng của tàu thuyền Thông tin liên quan đến tàu khảo sát được liệt kê và phân tích

- Số liệu tập hợp được từ phiếu điều tra được phân tích và lập bảng thống kê,

từ đó đưa ra nhận xét những nguy cơ có khả năng gây tai nạn cho tàu thuyền và người lao động trong quá trình hoạt động sản xuất trên biển Ngoài ra qua phân tích còn đưa ra mô hình sản xuất an toàn cho tàu thuyền

2.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát một chuyến biển trên tàu khai thác cá ngừ đại dương công suất 140CV của chủ tàu Trần Hoè Số đăng kí KH96498TS Nơi thường trú: Số nhà 08 xóm Duy Thanh phường Xương Huân Thành Phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà Để xác định nguy cơ tiềm ẩn tai nạn trong sản xuất

2.3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Về con người Nghiên cứu các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn trong hoạt động khai

thác cá ngừ, sau đó đưa ra các biện pháp để giảm thiểu tối đa các tai nạn xảy ra

- Về máy móc Nghiên cứu các thông số, hoạt động của máy trong quá trình sản xuất có gây ra sự cố tai nạn gì, từ đó đưa ra phương pháp lựa chọn phù hợp với quy trình sản xuất và đảm bảo an toàn cho người lao động

2.3.3 Tiêu chí để đánh giá lựa chọn Mô Hình

Qua việc đi thực tế trên tàu KH96498TS tôi xin mạnh dạn đưa ra một số nhận xét sau

- Cần trang bị thêm các máy thả câu với mục đích sau

+ Giảm sức lao động của ngư dân

+ Giảm thời gian khai thác trong mẻ, tăng số lượng mẻ trên chuyến biển + Tăng thêm cơ hội đánh bắt

Trang 31

- Cải tiến sọt đựng dây triên và thẻo câu vì sọt đựng dây triên và thẻo câu được ngư dân làm bằng tre nên việc ngư dân bị dằm tre đâm vào tay hoặc người trong quá trình thả câu rất hay xảy ra do đó chúng ta cần cải tiến sọt tre bằng sọt làm bằng nhôm để thuận tiên trong sản xuất và tăng thời gian sử dụng

- Để đảm bảo an toàn cho người lao động trên tàu thì việc trang bị bảo hộ lao động cũng là một vấn đề cần được quan tâm qua thực tế cho thấy trên tàu của ngư dân thì việc trang bị bảo hộ lao động còn rất nhiều hạn chế, mặt khác do kinh tế hạn hẹp, xong việc trang bị các dụng cụ bảo hộ lao động trên tàu thường là những vật dễ hỏng và chỉ sử dụng một đến hai lần như vải mưa, găng tay, ủng, mũ, quần áo bảo

hộ khẩu trang gương lặn được trang bị rất hạn chế áo mưa của thủy thủ dùng chủ yếu là áo mưa tự chế, được làm từ bao nylon và được cắt thành áo mưa dùng để thu câu và thu lưới rê Vấn đề cấp bách nhất là việc bảo quản cá theo tôi cầm phải có hầm cấp đông để cho cá luôn đảm bảo ở nhiệt độ thích hợp thì sản phẩm luôn giữ

được chất lượng tốt

* Các tiêu chí để lựa chọn mô hình

- Tăng thời gian khai thác của tàu trên biển

- Giảm chi phí cho hoạt động sản xuất

- Các tàu có thể trợ giúp nhau kịp thời mỗi lúc tàu có sự cố xảy ra

- Đảm bảo an toàn tính mạng cho người lao động, người lao động được chăm sóc sức khỏe

- Điều kiện và thời gian làm việc phải phù hợp để người lao động có thời gian tái tạo sức lao động

- Trang bị bảo hộ lao động, đồ bảo hộ lao động phải phù hợp với công việc của người lao động, tránh cho người lao động có thể bị lạnh và bị nước biển ngấm vào người gây cảm giác lạnh

Trang 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 TÀU THUYỀN THỰC TẬP

3.1.1.Tổng quan về tàu thuyền

Trong quá trình đi thực tế trên tàu KH96498TS tôi đã tìm hiểu các đặc

điểm của tàu, ngư trường hoạt động và các hoạt động khác của tàu

< Bản vẽ tàu KH96498TS>

Trong quá trình đi khảo sát trên tàu mang số đăng ký KH96498TS Tôi xin giới thiệu về tàu và thyền viên trên tàu mà tôi được tham gia bắt đầu từ ngày 22 tháng 8 đến ngày 15 tháng 9 năm 2007

Các thông số kỹ thuật như sau

Chủ tàu: Trần Hoè

Địa chỉ: Số nhà 08 xóm Duy Thanh phường Xương Huân Thành Phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà Thông số cơ bản: LxBxH = 14,4x4,4x2,15(m)

Nghề hoạt động: Câu Số lao động trên tàu: 9 người

Máy chính hiệu: MITSUBISHI Công suất: 140CV

Trang 33

Tàu có chiều dài là 14,4m và chiều rộng là 4,4m được chia làm 6 hầm theo thứ tự được tính tù mũi tàu đến lái của tàu Ngoài ra nơi ăn ở của các thuyền viên cũng được thể hiện trên sơ đồ dưới đây

Sơ đồ 3.1 các vị trí sắp đặt trên tàu KH96498TS

- Hầm số 1: Hầm dùng để chứa lưới đánh mồi câu ngoài ra còn chứa các dụng

cụ khai thác phụ vụ cho quá trình khai thác

Nơi sinh hoạt

Vị trí đặt sọt

đựng thẻo câu

Nơi để mồi

đặt máy thu câu

Bếp Gas

Trang 34

- Hầm số 2: Hầm dùng để chứa các loại cá tạp trong quá trình khai thác

- Hầm số 3: Hầm chứa đá lạnh mang theo để bảo quản cá trong quá trình khai thác, trong chứa các loại rau quả mang theo

- Hầm số 4: Hầm chứa đá xay để bảo quản cá ngừ

- Hầm số 5: Hầm chứa đá xay để bảo quản cá ngừ

- Hầm số 6: Hầm lớn nhất dùng để chứa máy chính và bình ắc quy phục vụ nhu cầu điện cho toàn tàu Ngoài ra hầm còn dùng để chứa nước ngọt và chứa nhiên liệu (dầu máy)

- Ca bin được bố trí phía sau bên trên hầm số 6 như trên sơ đồ Phòng ngủ và nhà bếp cũng được bố trí bên trên phần hầm số 6 với tổng diện tích khoảng 6m Ngoài ra thì phần sau lái còn một khoảng trống là nơi để mọi người tắm rửa

3.1.2 Cách bố trí cabin và các hệ thống trên tàu

a, Bố trí cabin

Cabin được bố trí ở phần sau của tàu, bên trên của hầm số 6 (như trong sơ đồ) Bên trong được bố trí như sau: Chính giữa là vô lăng dùng để điều khiển tàu có ghế ngồi cho thuyền trưởng, bên trái của chiếc ghế là tủ đựng máy đàm thoại tầm

xa, bên phải của chiếc ghế là bảng điều khiển hệ thống điện Phía trước trên góc trái treo máy định vị, phía bên phải góc ca bin treo máy đàm thoại tầm gần, phía trước thuyền trưởng là la bàn dùng để xác định phương hướng trong hành trình của tàu, bên phải là một bàn thờ nhỏ Phía sau thuyền trưởng là phần dành làm nơi ngủ của thuyền viên Phía cuối của ca bin là bố trí bếp gas phục vụ sinh hoạt của thuyền viên

b, Các hệ thống trên tàu

- Hệ thống lái: Tàu KH96498TS sử dụng hệ thống lái chuyền động cơ bao

gồm vô lăng, dây cáp chuyền động và bánh lái

- Hệ thống điện trên tàu: Tàu sử dụng hệ thống điện nguồn lấy từ ắc quy gồm có bốn bình loại lớn được sạc điện từ máy chính qua một chiếc dinamo loại nhỏ, bóng đèn sử dụng chủ yếu là loại bóng có nguồn 24V và 12V Đèn hành trình được bố trí gồm có đèn mạn phải, mạn trái, đèn cột trước, cột sau Ngoài ra còn có

Trang 35

các bóng đèn được bố trí ở mặt boong khai thác phục vụ cho quá trình khai thác vào ban đêm

- Máy khai thác trên tàu chỉ có máy thu câu đựơc đặt phía trước mũi tàu bên phải mạn tàu

Bảng 3.1 Danh sách thuyền viên trên tàu

vấn Chức danh

3 Nguyễn Văn Dũng 38 Số nhà 02 phường Xương Huân 5/10 Thuyền viên

5 Trần Văn Quan 35 Số nhà 12 phường Xương Huân 5/10 Thuyền viên

3.2 GIỚI THIỆU VỀ CẤU TRÚC VÀNG CÂU TRÊN TÀU KH96498TS

3.2.1 Bộ phận vàng câu

Các bộ phận chính của vàng câu gồm có: Dây chính hay còn gọi là triên câu,

dây giáp mối, khóa xoay, thẻo câu Trong thẻo câu gồm có dây thẻo và móc câu,

phao ganh và dây ganh cùng một số trang thiết bị khác

Trang 36

Sơ đồ 3.2 Tổng thể về vàng câu tàu KH96498TS

a, Dây chính (Triên câu)

- Dây triên câu được làm từ dây cước đơn khi thả câu các móc kẹp được móc trực tiếp lên dây tại phần dây có đánh dấu màu đỏ và có hai khoá xoay hai bên Dây cước đơn có thể nhập từ nước ngoài nhưng chủ yếu được sản xuất từ trong nước nên thuận tiện trong việc cung cấp vật tư cho tàu sản xuất

Khoá

xoay

Dây giáp mối

Trang 37

- Khoá xoay dùng để nhả, chống xoắn, tránh hiện tượng đứt dây khi có cá, khoá xoay

Hình 3.2 Thẻo câu tàu KH96498TS

- Dây cáp lụa Dùng làm một phần dây thẻo câu, nối lưỡi câu với dây thẻo dưới thường sử dụng chung với lưỡi câu, và lò xo bằng thép không gỉ

lưỡi câu

Dây thẻo

Dây cáp lụa

Lock nhôm

Trang 38

 Chiều dài thân lưỡi câu L = 22mm

- Lock nhôm dùng để kẹp chặt đầu thẻo câu, không để cho dây thẻo tuột khỏi lưỡi

Trang 39

Hình 3.3 phao vàdây phao tàu KH96498TS

- Phao: Loại phao cứng làm bằng vật liệu làm bằng nhựa PVC, được bọc lưới dây bô Các phao liên kết với dây phao bằng khoá kẹp có tám xoay, số lượng phao trên tàu là 116 phao

+ Kích thước chính

 Đường kính d = 350 mm

- Dây phao: Làm bằng dây bô trên tàu có thể trang bị nhiều bộ dây phao có độ dài khác nhau để dễ dàng làm thay đổi độ sâu đánh bắt, mỗi đầu dây phao ganh tạo khuyết để kết nối với phao, một đầu chầu vào tám xoay của khoá kẹp để móc vào dây chính khi thả câu

Trang 40

dùng đèn tín hiệu là pin chiếu sáng được lắp trên phao cờ, pin nháy được dùng là pin hiệu điện thế 4V

- Cờ thường được gắn ở hai đầu và ở giữa vàng câu Vải may cờ thường được

sử dụng là vải đỏ để dễ nhận biết, số lượng trên tàu có 10 cây cờ, Chiều dài của mỗi cây cờ là L = 8m

3.3 MÁY MÓC VÀ THIẾT BỊ KHAI THÁC

3.3.1 Máy móc

a, Máy thu dây chính

- Có cấu tạo gồm các bánh dọc quanh been chính có tác dụng cho dây chính chạy dọc qua các puly và các ống dẫn đến khu vực chứa là các giỏ chứa câu

Hình 3.4 Máy thu câu tàu KH96498TS

- Máy thu câu hoạt động được là có hệ thống thuỷ lực biến đổi cơ năng thành năng lượng chất lỏng rồi biến đổi thành công năng, vị trí lắp đặt ở phía mạn phải của tàu

Cần điều khiển

ống dẫn thủy lực

Ngày đăng: 28/06/2014, 12:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Thể hiện số lượng tàu thuyền qua công suất. - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Bảng 1.2. Thể hiện số lượng tàu thuyền qua công suất (Trang 14)
Bảng 1.4 Thống kê sản lượng khai thác theo nghề, tàu, năm của tỉnh - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Bảng 1.4 Thống kê sản lượng khai thác theo nghề, tàu, năm của tỉnh (Trang 17)
Sơ đồ 3.1 các vị trí sắp đặt trên tàu  KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Sơ đồ 3.1 các vị trí sắp đặt trên tàu KH96498TS (Trang 33)
Bảng 3.1 Danh sách thuyền viên trên tàu - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Bảng 3.1 Danh sách thuyền viên trên tàu (Trang 35)
Sơ đồ 3.2  Tổng thể về vàng câu tàu KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Sơ đồ 3.2 Tổng thể về vàng câu tàu KH96498TS (Trang 36)
Hình 3.1 Dây triên tàu KH 96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Hình 3.1 Dây triên tàu KH 96498TS (Trang 36)
Hình 3.2 Thẻo câu tàu KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Hình 3.2 Thẻo câu tàu KH96498TS (Trang 37)
Hình 3.3 phao vàdây phao tàu KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Hình 3.3 phao vàdây phao tàu KH96498TS (Trang 39)
Hình 3.4 Máy thu câu tàu KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Hình 3.4 Máy thu câu tàu KH96498TS (Trang 40)
Hình 3.5 Máy xay đá trên tàu KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Hình 3.5 Máy xay đá trên tàu KH96498TS (Trang 42)
Hình 3.6 Máy xay đá tàu KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Hình 3.6 Máy xay đá tàu KH96498TS (Trang 43)
Hình 3.7 Giỏ đựng câu tàu KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Hình 3.7 Giỏ đựng câu tàu KH96498TS (Trang 44)
Hình 3.8 Khấu móc cá tàu KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Hình 3.8 Khấu móc cá tàu KH96498TS (Trang 44)
Sơ đồ 3.3 Bố trí vị trí thả câu trên tàu KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Sơ đồ 3.3 Bố trí vị trí thả câu trên tàu KH96498TS (Trang 46)
Sơ đồ 3.4 Bố trí vị trí thu câu trên tàu KH96498TS - khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ đại dương 150 - 200 cv, xác định nguy cơ tiềm ẩn trong sản xuất
Sơ đồ 3.4 Bố trí vị trí thu câu trên tàu KH96498TS (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w