Do vậy, nghề khai thác hải sản xa bờ đã và đang được ngành thủy sản quan tâm chú trọng phát triển nhằm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp phù hợp với cơ cấu phân bố nguồn lợi, nâng cao hiệu quả
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Danh mục các bảng, biểu đồ 6
PHẦN I: MỞ ĐẦU 7
1 Sự cần thiết của đề tài 7
2 Mục tiêu của đề tài 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
4.1 Phương pháp phân tích tài liệu 9
4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính .10
4.2.1 Phương pháp phỏng vấn sâu .10
4.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung 10
4.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 10
5 Phương pháp chọn mẫu .10
6 Kết cấu đề tài 11
PHẦN II: TỔNG QUAN 12
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ .12
I.1 Khái niệm và đặc điểm của ngành khai thác thủy sản nói chung và nghề khai thác hải sản xa bờ nói riêng 12
I.1.1 Khái niệm 12
I.1.2 Vị trí của ngành khai thác thủy sản nói chung và khai thác hải sản xa bờ nói riêng 12
I.1.3 Đặc điểm của ngành khai thác thủy sản nói chung và khai thác hải sản xa bờ nói riêng 14
I.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ 15
Trang 2I.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ 15
I.2.2 Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về kinh tế 16
I.2.3 Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về xã hội 23
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 27
II.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27
II.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 29
PHẦN III: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC XA BỜ Ở KHÁNH HÒA 32
CHƯƠNG III: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TIỀM NĂNG NGUỒN LỢI THỦY SẢN KHÁNH HÒA 32
III.1 Điều kiện tự nhiên, thực trạng tiềm năng nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa 32
III.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
III.1.2 Thực trạng tiềm năng nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa 33
III.2 Đặc điểm hành chính 35
III.2.1 Đặc điểm hành chính 35
III.2.2 Diện tích và dân số 36
III.2.3 Phân bố cụm dân cư nghề cá 37
CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ KHÁNH HÒA 38
IV.1 Thực trạng hoạt động khai thác hải sản xa bờ 38
IV.1.1 Năng lực đội tàu 38
IV.1.1.1 Năng lực tàu thuyền toàn Tỉnh 38
IV.1.1.2 Năng lực tàu thuyền nghề cá xa bờ 39
IV.1.2 Sản lượng khai thác 40
IV.1.3 Cơ sở hậu cần cho khai thác xa bờ 41
IV.1.3.1 Các cảng cá chính 41
Trang 3IV.1.3.2 Cảng cá, bến cá trong toàn Tỉnh 43
IV.1.4 Lao động 44
IV.1.5 Trình độ khoa học công nghệ 44
IV.2 Hiệu quả của Chương trình khai thác hải sản xa bờ 45
IV.3 Đánh giá chung 47
CHƯƠNG V: TÁC ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ KHÁNH HÒA GIAI ĐOẠN 2001 – 2005 48
V.1 Tiến trình điều tra hiệu quả kinh tế - xã hội hoạt động khai thác hải sản xa bờ Khánh Hòa giai đoạn 2001 – 2005 48
V.1.1 Phương pháp điều tra 48
V.1.2 Phương pháp thu thập số liệu .49
V.1.3 Khái quát về khối tàu điều tra 50
V.1.3.1 Số lượng hộ ngư dân và tàu được điều tra 50
V.1.3.2 Địa điểm tiến hành điều tra 51
V.1.4 Khái quát về các nhóm nghề điều tra 51
V.1.5 Các nhân tố tác động đến tiến trình điều tra 52
V.2 Phân tích kết quả điều tra theo các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 53
V.2.1 Giá trị sản xuất ngành khai thác hải sản 53
V.2.2 Hiệu quả kinh tế đội tàu theo nhóm nghề 55
V.2.3 Thu nhập bình quân/ lao động khai thác hải sản theo nhóm nghề 57
V.2.3.1 Thu nhập bình quân/ lao động bạn 59
V.2.3.2 Thu nhập bình quân/ lao động khai thác của gia đình chủ ghe 59
V.2.4 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực khai thác hải sản 60
V.2.4.1 Năng lực khai thác 60
V.2.4.2 Cơ sở hạ tầng 60
V.2.4.3 Trình độ khoa học công nghệ 61
V.2.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khai thác hải sản 62
Trang 4V.2.5.1 Cơ cấu nghề nghiệp 63
V.2.5.2 Cơ cấu vốn đầu tư 63
V.2.5.3 Cơ cấu thành phần kinh tế 63
V.2.6 Diễn biến về xu hướng hiệu quả kinh tế của các đội tàu theo từng nhóm nghề trong giai đoạn vừa qua 65
V.3 Phân tích kết quả điều tra theo các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội 66
V.3.1 Giải quyết lao động và việc làm 67
V.3.1.1 Ở cấp độ địa phương 67
V.3.1.2 Ở cấp độ hộ ngư dân 67
V.3.2 Phát triển nguồn nhân lực 68
V.3.3 Tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản 69
V.3.4 Bình đẳng giới 69
V.3.5 Đồng thuận và xung đột xã hội (mâu thuẫn giữa nghề cá xa bờ (quy mô lớn) với nghề cá ven bờ (quy mô nhỏ)) 69
V.3.6 Mức sống (Living standard) của các nhóm ngư dân trong cộng đồng của các làng cá 70
V.3.7 Dân trí và trình độ học vấn, đào tạo nghề của ngư dân 72
V.3.8 Tạo dòng di cư 73
V.3.9 Thay đổi lối sống 74
V.3.10 Tác động đến môi trường nguồn lợi 74
V.4 Nhận xét chung 74
PHẦN IV: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 76
1 Một số tồn tại của nghề khai thác hải sản xa bờ hiện nay ở địa phương 76
1.1 Theo tổng hợp đánh giá của các nhà quản lý ở địa phương 76
1.2 Theo ý kiến của bà con ngư dân 78
2 Các kiến nghị 79
2.1 Theo đề nghị của bà con 79
Trang 52.2 Một số đề xuất giải pháp 80
2.2.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 80
2.2.2 Giải pháp đề xuất 81
3 Những đóng góp và hạn chế của đề tài 85
4 Kết luận 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 88
Trang 6Danh mục các bảng, biểu đồ
Bảng 3.1: Mùa vụ đánh bắt của các nghề khai thác 35
Bảng 3.2: Phân bố cụm dân cư nghề cá 37
Bảng 4.1: Số lượng tàu thuyền toàn tỉnh Khánh Hòa 38
Bảng 4.2: Số lượng tàu thuyền nghề cá xa bờ toàn Tỉnh Khánh Hòa 39
Bảng 4.3: Sản lượng đánh bắt thủy hải sản tỉnh Khánh Hòa 40
Bảng 4.4: Các cảng, bến cá trong toàn Tỉnh 43
Bảng 5.1: Giá trị sản xuất thủy sản theo giá hiện hành giai đoạn 2001 – 2005 53
Bảng 5.2: Giá trị sản xuất thủy sản Khánh Hòa theo giá so sánh 1994 giai đoạn 2001- 2005 54
Bảng 5.3: Hiệu quả kinh tế đội tàu theo nhóm nghề ở Nha Trang năm 2006 55
Bảng 5.4: Thu nhập bình quân/ lao động bạn 59
Bảng 5.5: Thu nhập bình quân/ lao động khai thác của gia đình chủ ghe 60
Bảng 5.6: Cơ cấu vốn đầu tư cho cơ cấu hạ tầng nghề cá của Tỉnh 2001 – 2005 61
Biểu đồ 4.1: Biểu đồ phân loại tàu thuyền tỉnh Khánh Hoà theo công suất 38
Biểu đồ 4.2: Biểu đồ phân loại tàu thuyền nghề cá tỉnh Khánh Hòa theo nghề chính 39
Biểu đồ 4.3: Số lượng tàu thuyền nghề cá xa bờ theo nghề khai thác 40
Biểu đồ 5.1: Thu nhập bình quân/ lao động khai thác hải sản theo nhóm nghề 59
Trang 7PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài:
Có thể nói việc sử dụng các sản phẩm thủy sản mà phần lớn là cá là thói quen tiêu dùng thực phẩm đã có từ lâu đời của con người Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, cá và các sản phẩm thủy sản đã bộc lộ đầy đủ những ưu điểm vượt trội so với các thực phẩm khác Chính vì vậy mà có sự chuyển hướng của nhu cầu từ thực phẩm và các động thực vật nói chung chuyển sang các loại thực phẩm thủy sản Hơn nữa, do tác động của sự gia tăng dân số mà nhu cầu của con người về thực phẩm thủy sản ngày càng tăng lên về chất lượng, số lượng, chủng loại Điều này đã thúc đẩy ngành thủy sản phát triển ngày càng mạnh và trở thành ngành kinh tế quan trọng của thế giới nói chung và của các nước có thế mạnh về thủy sản nói riêng
Việt Nam với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên,… thuận lợi nên
có truyền thống lâu đời về ngành thủy sản, đặc biệt là nghề khai thác hải sản Trong thời gian qua, hoạt động khai thác hải sản đã không ngừng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu thủy sản ngày càng tăng
Tuy nhiên, nghề khai thác thủy sản cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề cần giải quyết Sản lượng khai thác hải sản vùng biển ven bờ đã được đánh giá là vượt ngưỡng khả năng khai thác cho phép của nguồn lợi vùng biển Với cơ cấu đối tượng khai thác tương đối ổn định, năng suất khai thác đã giảm từ 0,9 tấn/cv/năm (năm 1990) xuống còn 0,34 tấn/cv/năm (năm 2005) Theo tính toán của Viện Nghiên cứu Hải sản, năm 2000 sản lượng khai thác hải sản ở vùng nước có độ sâu < 50m đã vượt khả năng khai thác cho phép của nguồn lợi
là 1,8 lần
Do vậy, nghề khai thác hải sản xa bờ đã và đang được ngành thủy sản quan tâm chú trọng phát triển nhằm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp phù hợp với cơ cấu phân bố nguồn lợi, nâng cao hiệu quả kinh tế đội tàu khai thác, góp phần tăng thu nhập và đảm bảo an ninh quốc phòng trên biển Khai thác hải sản xa bờ thực sự phát triển từ sau khi có Quyết định 393/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 9 tháng 6 năm 1997 về việc
Trang 8ban hành Quy chế quản lý và sử dụng vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước cho các dự án đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ đánh bắt xa bờ
Khánh Hòa là một tỉnh có thế mạnh về ngành thủy sản Tuy nhiên, cũng như tình hình chung của cả nước, ngành thủy sản Khánh Hòa cũng có những vấn đề cần khắc phục cải thiện để đưa ngành thủy sản tỉnh nhà phát triển theo hướng bền vững Một trong những vấn đề nổi cộm của ngành trong thời gian qua được các phương tiện thông tin đại chúng phản ảnh nhiều là tính hiệu quả của chương trình khai thác hải sản xa bờ Triển khai chương trình khai thác hải sản xa bờ của Thủ tướng Chính phủ, tại Khánh Hòa đã có 39 tàu khai thác xa bờ được đóng mới từ nguồn vốn vay ưu đãi của Nhà nước Sau 5 năm thực hiện Chương trình (giai đoạn 2001 - 2005), mặc dù còn có nhiều khiếm khuyết nảy sinh từ việc quản lý thu hồi nợ vay không tốt, nhưng chương trình khai thác xa bờ đã tạo tiền đề để tỉnh Khánh Hòa hình thành và phát triển đội tàu khai thác xa bờ hàng trăm chiếc với công suất lớn và trang bị hiện đại Nghề cá xa bờ đã góp phần không chỉ thay đổi cơ bản phương thức khai thác của ngư dân, mà còn làm tăng tỷ trọng sản lượng khai thác từ vùng khơi, giảm áp lực khai thác gần bờ góp phần khai thác hợp lý nguồn lợi hải sản, tạo việc làm và tăng mức sống cho cộng đồng cư dân ven biển, đẩy mạnh nghề cá phát triển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt về số lượng và công suất tàu đã gây ra những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến tình hình kinh tế xã hội, môi trường và nguồn lợi Điều này đã tạo nên những áp lực và những thách thức đối với sự phát triển bền vững của ngành Đồng thời cũng đòi hỏi các nhà quản lý phải nhanh chóng tìm ra câu trả lời cho bài toán khó này Muốn vậy, trước hết cần phải có sự nhìn nhận thật sâu sát tình hình thực tế của hoạt động khai thác hải sản xa bờ hiện nay
Vì vậy, để góp phần cung cấp cái nhìn tổng quát về hoạt động khai thác hải sản xa bờ
ở Khánh Hòa trong giai đoạn từ 2001 – 2005, em đã chọn đề tài “Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ Khánh Hòa giai đoạn 2001 - 2005” làm khóa luận tốt nghiệp đại học
Trang 92 Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên các mặt kinh tế - xã hội
ở Khánh Hòa giai đoạn 2001 – 2005
Xác định nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng trên của hoạt động khai thác hải sản xa bờ ở Khánh Hòa giai đoạn 2001 – 2005
Đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển hoạt động khai thác hải sản xa bờ theo hướng bền vững
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận: tập trung nghiên cứu về hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ Khánh Hòa giai đoạn 2001 – 2005
Do đó, đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình ở Khánh Hòa hoạt động khai thác hải sản xa bờ có tàu công suất từ 90cv trở lên
(Vì theo Điều 2 – Quyết định 393/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 9/6/1997 về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước cho các dự án đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ đánh bắt xa
bờ, thì tàu đánh cá xa bờ là tàu có lắp công suất máy chính từ 90cv trở lên.)
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài quán triệt nguyên tắc kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng trên cơ sở chọn mẫu ngẫu nhiên mang tính đại diện theo tiêu chí nhóm nghề khai thác hải sản xa bờ Sử dụng các phần mềm máy tính trong môi trường Excel và SPSS để tiến hành phân tích Trên cơ sở thống kê, phân tích các dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập qua các cuộc điều tra mẫu, đề tài sẽ tiến hành so sánh, phân tích đánh giá các mặt tác động tới kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Đề tài được thực hiện kết hợp với nghiên cứu của Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản
4.1 Phương pháp phân tích tài liệu :
Trước khi tiến hành điều tra thực địa, đề tài sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để bước đầu nắm được những vấn đề liên quan đến hiệu quả về kinh tế - xã hội của hoạt
Trang 10động khai thác hải sản xa bờ ở Khánh Hòa Kết quả của phương pháp nghiên cứu này là nắm được tổng quan vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở đó, giúp cho việc chọn mẫu được chính xác hơn Đồng thời, phương pháp này giúp cho việc tìm hiểu, phát hiện những khía cạnh nghiên cứu chưa được đề cập
4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính :
4.2.1 Phương pháp phỏng vấn sâu :
Phương pháp này chủ yếu tìm hiểu nguyên nhân về thực trạng hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ ở Khánh Hòa
4.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung:
Việc thực hiện chủ trương khai thác hải sản xa bờ của Nhà Nước là vấn đề cá nhân – xã hội phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của mọi nhóm xã hội của cộng đồng ngư dân Do đó, nghiên cứu này sử dụng phương pháp thảo luận nhóm gồm các chủ tàu và thành viên hộ gia đình, nhóm các cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh và cấp phường
4.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng :
Phương pháp này sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến (bảng hỏi cấu trúc) trên cơ sở điều tra chọn mẫu Phương pháp này được sử dụng nhằm đo lường thực trạng về hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ Khánh Hòa giai đoạn 2001 – 2005 Các phiếu trưng cầu ý kiến (bảng hỏi cấu trúc) được thiết kế cho nhóm đối tượng liên quan đến hoạt động khai thác hải sản xa bờ
5 Phương pháp chọn mẫu :
Để thu thập được thông tin chính xác, có tính đại diện cao, đề tài đặc biệt coi trọng việc
sử dụng các phương pháp thích hợp để chọn mẫu nghiên cứu Về cơ bản, mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Cỡ mẫu và tỉ lệ mẫu căn cứ vào nghề nghiệp và cơ cấu đội tàu khai thác xa bờ Mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên theo danh sách hoạt động nghề nghiệp như nghề giã cào, câu, vây, rê của các hộ gia đình ngư dân khai thác hải sản xa bờ theo đội tàu
Trang 11Chương 2: Tình hình nghiên cứu
Phần III: Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản
xa bờ Khánh Hòa
Chương 3: Điều kiện tự nhiên và tiềm năng nguồn lợi thủy sản ở địa phương
Chương 4: Thực trạng hoạt động khai thác xa bờ Khánh Hòa
Chương 5 : Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ Khánh Hòa giai đoạn 2001 – 2005
Phần IV: Kiến nghị và kết luận
Trang 12
PHẦN II: TỔNG QUAN
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN V À THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ
TÁC ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ
I.1 Khái niệm và đặc điểm của ngành khai thác thủy sản nói chung và nghề khai thác hải sản xa bờ nói riêng:
I.1.1 Khái niệm:
Ngành khai thác thủy sản được hiểu là toàn bộ các hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên động thực vật tự nhiên sống trong môi trường nước, cung cấp hàng hóa tiêu dùng
và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Trong đó, đánh cá xa bờ hiện nay được tạm thời quy định là đánh cá ở vùng biển được giới hạn bởi đường đẳng sâu 30m trở ra đối với Vịnh Bắc Bộ, Đông và Tây Nam Bộ; và 50m trở ra đối với vùng biển miền Trung Tàu đánh cá xa bờ là tàu có lắp máy chính công suất từ 90cv trở lên; có đăng ký hành nghề đánh cá xa bờ tại địa phương nơi cư trú hoặc giấy phép hành nghề đánh cá xa bờ do cơ quan bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp (Theo Điều
2 – Quyết định 393/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 9/6/1997 về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước cho các dự án đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ đánh bắt xa bờ, thì tàu đánh
cá xa bờ là tàu có lắp công suất máy chính từ 90cv trở lên.)
I.1.2 Vị trí của ngành khai thác thủy sản nói chung và khai thác hải sản xa bờ nói riêng:
Khai thác thủy sản là ngành tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, về bản chất nó là một bộ phận của công nghiệp khai thác tài nguyên, có nhiệm vụ cắt đứt mối
Trang 13quan hệ giữa các tài nguyên thủy sản khỏi môi trường tự nhiên để tạo ra hàng hóa cho tiêu dùng và nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu
Như vậy, khai thác thủy sản là hoạt động khởi đầu của sản xuất công nghiệp thủy sản, nếu xét về mặt lịch sử thì có thể nói khai thác thủy sản là khởi đầu trong toàn bộ quá trình sản xuất của ngành Thủy sản, nó thể hiện ở sự bản năng và chiếm hữu của con người đối với tài nguyên thiên nhiên
- Đặc trưng trong toàn bộ lịch sử nghề cá là sự phát triển của nghề khai thác bao giờ cũng vượt lên trước sự nghiên cứu của ngành khoa học về kinh tế nghề cá và về đối tượng khai thác, trước khi khoa học có khả năng nêu lên một cách đầy đủ về đối tượng khai thác bất kỳ nào thì sự khai thác các đối tượng đó đã phát triển và trở thành một hoạt động mạnh mẽ trong thực tế
- Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật, trình độ chuyên môn hóa ngày càng cao, ngành khai thác thủy sản ngày càng có điều kiện tận dụng và khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản trên tất cả các vùng nước Từ đó thúc đẩy phân công lao động ngày càng sâu sắc, tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả tài nguyên, nguồn lợi để sản xuất ra ngày càng nhiều hàng hóa và nguyên liệu đáp ứng cho nhu cầu xã hội
- Do nhu cầu của tiêu dùng và xuất khẩu ngày càng tăng lên mạnh mẽ và sự giới hạn của các tài nguyên, nguồn lợi mà sự phát triển của ngành khai thác thủy sản trên thế giới nói chung đang có xu hướng chững lại để nhường chỗ cho ngành nuôi trồng phát triển Tuy nhiên, trong toàn bộ hệ thống kinh tế thủy sản thì ngành khai thác thủy sản vẫn là ngành sản xuất vật chất cơ bản để đảm bảo cho sự phát triển của cả
Trang 14I.1.3 Đặc điểm của ngành khai thác thủy sản nói chung và khai thác hải sản xa
bờ nói riêng:
Do sự giống nhau giữa các sinh vật thủy sản và các động thực vật cũng như khả năng tái sinh tự nhiên của chúng mà trước đây người ta coi ngành khai thác thủy sản thuộc ngành nông nghiệp Tuy nhiên, khai thác thủy sản là ngành công nghiệp đặc thù bởi nó có các đặc điểm sau:
- Quá trình sản xuất trong nông nghiệp bao giờ cũng gắn với quá trình tự nhiên và thời gian sản xuất tách rời thời gian lao động Trong khai thác thủy sản thì thời gian lao động và thời gian sản xuất trùng nhau Đặc điểm này khẳng định ngành khai thác thủy sản là một bộ phận của ngành công nghiệp Do đó, tổ chức sản xuất của ngành khai thác là mang đặc trưng của tổ chức sản xuất công nghiệp
- Ngành khai thác thủy sản có đối tượng là những sinh vật dưới nước, chúng là các tài nguyên thiên nhiên sẵn có; trong khi nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác có đối tượng lao động là những nguyên liệu đã kết tinh lao động của con người ở các quá trình sản xuất trước đó Đặc điểm này nói lên công nghiệp khai thác thủy sản có khả năng tái sinh, sự tái sinh này một phần phụ thuộc lớn vào các biện pháp chủ quan của con người trong việc tổ chức đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi Từ đó đòi hỏi việc phát triển ngành công nghiệp khai thác thủy sản phải gắn chặt với việc bảo vệ nguồn lợi, tổ chức khai thác một cách hợp lý các tài nguyên nguồn lợi thủy sản
- Ngành khai thác thủy sản bao gồm nhiều ngành nghề Mỗi ngành nghề khai thác một đối tượng nhất định, nhưng phần lớn đều được dùng làm thực phẩm Điều này phân biệt công nghiệp khai thác thủy sản với công nghiệp khai thác khoáng sản và lâm sản Việc phát triển ngành khai thác thủy sản gắn với việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
về thực phẩm của xã hội
- Đối tượng của khai thác thủy sản là những sinh vật có khả năng di động, không bị ràng buộc bởi sự phân chia địa giới hành chính, cường độ lao động trong ngành khai
Trang 15thác thủy sản lớn và phải đòi hỏi sản xuất trong điều kiện sóng gió nguy hiểm, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, ngư trường và mùa vụ
Ngoài 4 đặc điểm nói trên, ngành khai thác thủy sản nước ta hoạt động trong điều kiện của nguồn lợi thủy sản nhiệt đới, phong phú về chủng loại, nghề nghiệp khai thác đa dạng, chủ yếu là các nghề khai thác truyền thống, quy mô nhỏ với lực lượng sản xuất chủ yếu là ngư dân (chiếm hơn 90% tổng sản lượng khai thác) Nói cách khác, khai thác thủy sản nước ta mang đặc tính của một nghề cá đa loài, quy mô nhỏ
Ngành khai thác hải sản xa bờ là một bộ phận của ngành khai thác thủy sản nên bên cạnh những đặc điểm chung, ngành khai thác hải sản xa bờ còn có những đặc điểm riêng:
- Vốn cố định và vốn lưu động cần một lượng rất lớn để đóng tàu và chi phí hoạt động cho tàu ra khơi Do tính chất của nghề khai thác hải sản xa bờ nên thời gian hoạt động kéo dài trên biển, cần chi phí khá lớn về nhiên liệu và bảo quản vì vậy đòi hỏi phải có một lượng vốn lưu động nhiều
- Thời gian cho một chuyến khai thác thường kéo dài và khoảng cách từ bờ ra ngư trường là khá xa Điều này cho thấy rằng có một khoảng thời gian dài để sản phẩm sau khai thác trên tàu, nếu không có các phương pháp bảo quản thận trọng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thuỷ sản
- Độ rủi ro cao, thiệt hại cho tàu và người lớn do hoạt động ở các ngừ trường khơi là chủ yếu
- Để đánh bắt hải sản có kết quả cao đòi hỏi thuyền trưởng phải xác định đúng ngư trường đánh bắt, chủ yếu dựa trên cơ sở kinh nghiệm của thuyền trưởng để dự báo ngư trường khai thác
I.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ: I.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ:
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì tác động có nghĩa là gây ra sự biến đổi nào
đó cho sự vật được hành động hướng tới Như vậy, tác động kinh tế - xã hội của hoạt động
Trang 16khai thác hải sản xa bờ tức là những sự biến đổi về đời sống kinh tế xã hội do sự phát triển của nghề khai thác xa bờ tại địa phương trong thời gian qua gây ra đối với ngư dân nói riêng và người dân địa phương nói chung
I.2.2 Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về kinh tế:
1 Giá trị sản xuất ngành khai thác hải sản:
Đây là chỉ tiêu cho ta biết giá trị sản lượng hải sản khai thác được tính bằng tiền của hoạt động khai thác hải sản xa bờ Để đánh giá chỉ tiêu này, ta cần quy số liệu thu thập về một thời điểm gốc và tiến hành so sánh sự tăng trưởng qua các năm để tránh sự ảnh hưởng của yếu tố chỉ số giá vào kết quả thu được Tuy nhiên, giá trị sản xuất càng cao chưa hẳn
đã tốt mà chúng ta cần xem xét sự gia tăng về giá trị sản xuất là do yếu tố sản lượng hay yếu tố giá Nếu sự tăng trưởng chủ yếu là do yếu tố giá, cho thấy chất lượng sản phẩm khai thác ngày càng cao và nhu cầu thị trường ngày càng lớn Xu hướng này cho thấy sự phát triển ngày càng sâu của nghề và là một hướng đi đúng và phù hợp Còn nếu sự tăng trưởng chủ yếu là do yếu tố sản lượng cần thận trọng xem xét vì có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững nguồn lợi cũng như của hoạt động khai thác
Chỉ tiêu này được thu thập từ số liệu thống kê thứ cấp, do cục thống kê Khánh Hòa tổng hợp và thống kê qua các năm
2 Hiệu quả kinh tế đội tàu theo nhóm nghề:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ năng lực quản lý trong việc thực hiện một cách có kết quả cao các nhiệm vụ kinh tế- xã hội đặt ra với chi phí nhỏ nhất
Khi xem xét bản chất hiệu quả kinh tế phải xem xét trên hai mặt:
- Định lượng: so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra, nếu tỷ số này càng lớn, kết quả thu được càng cao
- Định tính: thể hiện trình độ và năng lực quản lý
Trong lĩnh vực khai thác hải sản, xác định hiệu quả kinh tế là việc xác định những yếu
tố đầu vào nào cần cho quá trình khai thác và những kết quả đạt được trong quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào đó
Trang 17Hay cụ thể hơn, xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động khai thác hải sản là xác định những chi phí bỏ ra cho những yếu tố đầu vào gồm: chi phí khấu hao của giá trị đầu tư (đầu tư cho tàu, ngư cụ và trang thiết bị), chi phí nhiên liệu, chi phí tiền lương thủy thủ, chi phí bảo quản, chi phí lương thực thực phẩm, chi phí sửa chữa nhỏ, chi phí sửa chữa lớn, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế, chi phí lãi vay; đồng thời xác định kết quả thu được
mà chủ yếu là doanh thu của sản phẩm sau khai thác Cuối cùng, việc xác định lợi nhuận bằng tổng doanh thu trừ tổng chi phí cũng như sử dụng những chỉ tiêu này để xác định tỷ suất sinh lợi của hoạt động khai thác hải sản mang lại cao hay thấp
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản: Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí Chỉ tiêu này cho ta biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Như vậy, nếu chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả khai thác càng lớn
Ta có công thức tính:
Doanh thu
- Biến phí (Chi phí nhiên liệu, Chi phí bảo quản, Chi phí lương thực-thực phẩm, Chi
phí sửa chữa nhỏ, Các chi phí khác và Chi phí tiền lương)
= Giá trị gia tăng
- Chi phí sửa chữa lớn
- Chi phí bảo hiểm, thuế
= Dòng tiền thu được
- Khấu hao
- Lãi vay
= Lợi nhuận khai thác
: Tổng chi phí (Biến phí, Chi phí sửa chữa lớn, Chi phí bảo hiểm, thuế, Khấu hao, Lãi vay)
= Tỷ suất lợi nhuận/ chi phí
Trong đó:
Doanh thu khai thác:
Doanh thu từ khai thác là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà các thủy thủ tham gia hoạt động đánh bắt trên tàu thu được từ việc khai thác và tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản Trong
Trang 18một năm, doanh thu bao gồm tổng doanh thu khai thác trong mùa chính và trong mùa phụ Doanh thu khai thác không bao gồm phần thu nhập do cá nhân thủy thủ làm thêm trong quá trình tham gia đánh bắt và cũng như không bao gồm phần sản phẩm khai thác được chia cho các thủy thủ để làm thức ăn cho gia đình Doanh thu khai thác cũng được hiểu là doanh thu thuần và nó cũng đã được trừ đi phần phí trả cho các nậu vựa giúp chủ tàu bán sản phẩm khai thác, trừ phí bến cảng khi tàu cập cảng tiêu thụ sản phẩm và các khoản
giảm trừ doanh thu khác (W.P.Davidse, September 1997)
Chi phí khai thác:
Chi phí khai thác là tổng các khoản tiền chi ra phục vụ cho hoạt động khai thác hải sản của tàu và các khoản khấu trừ tài sản thông qua khấu hao Trong lĩnh vực khai thác hải sản, chi phí có thể được phân loại gồm: chi phí cố định, chi phí biến đổi (chi phí cho
chuyến biển và chi phí tiền lương) (W.P.Davidse, September 1997)
Để làm rõ các khoản mục chi phí trong khai thác hải sản, ta tiến hành phân loại chi phí khai thác như sau:
- Chi phí cố định: Là những khoản chi phí thường không biến đổi hoặc biến đổi rất ít
khi mức độ hoạt động thay đổi Các khoản chi phí này thường do chủ tàu gánh chịu và được bù đắp bằng phần thu nhập sau khi đã trừ chi phí biến đổi Chi phí cố định trong lĩnh vực khai thác hải sản bao gồm: chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa lớn, chi phí lãi vay, thuế phải nộp nhà nước
+ Chi phí khấu hao: là khoản chi phí bù đắp sự giảm dần giá trị của tài sản cố định
do quá trình sử dụng, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ của kỹ thuật … Chi phí khấu hao là giá trị phân bổ của nguyên giá tài sản cố định qua thời gian sử dụng Đối với nghề khai thác hải sản nói chung và nghề lưới rê thu ngừ nói riêng, chi phí khấu hao bao gồm các khoản khấu hao: vỏ tàu, máy tàu, thiết bị cơ khí, thiết bị điện tử, ngư cụ, thiết bị bảo quản, thiết bị khác
+ Chi phí sửa chữa lớn: là những khoản chi phí sửa chữa phục hồi, thay thế những
bộ phận bị hao mòn, hư hỏng trong quá trình sử dụng tài sản cố định Những khoản chi phí này chủ yếu phát sinh trong khi tàu ngưng hoạt động và bao gồm: chi phí sửa chữa vỏ tàu, sửa chữa ngư cụ, sửa chữa lớn máy tàu và trang thiết bị trên tàu
Trang 19+ Chi phí lãi vay: là khoản chi trả cho chi phí sử dụng vốn vay dài hạn Ngư dân
thường được vay vốn đầu tư cho tài sản cố định, nên các khoản vốn vay này thường là vay dài hạn, do vậy các khoản chi phí lãi vay được xem là chi phí cố định
+ Thuế phải nộp nhà nước: là những khoản đóng góp ngân sách nhà nước, bao
gồm: thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế thu nhập doanh nghiệp Các khoản thuế trên đối với hoạt động khai thác hải sản chủ yếu là thuế khoán, ngư dân thường đóng một khoản nhất định cho dù hoạt động khai thác có thay đổi
- Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động về mức độ hoạt động Khoản chi phí này phát sinh trong quá trình hoạt động và bằng 0 khi tàu không tham gia khai thác Trong khai thác hải sản nghề lưới rê thu ngừ, chi phí biến
đổi bao gồm chi phí chuyến biển và chi phí tiền lương
+ Chi phí chuyến biển: Trong khai thác hải sản chi phí chuyến biển thường được
tính bằng khoản chi phí bỏ ra để mua nhiên liệu, bảo quản, lương thực, các chi phí sửa chữa nhỏ tàu…chi phí này được bù đắp bằng doanh thu trước khi chia lương cho thủy thủ Chi phí chuyến biển bao gồm:
Chi phí nhiên liệu: bao gồm chi phí dầu diesel, nhớt phục vụ cho hoạt động của
Các loại phí phải trả và chi phí khác: bao gồm phí neo đậu tàu thuyền, phí cập
cảng thực hiện một số dịch vụ hậu cần trước khi ra khơi và một số khoản phí khác
Chi phí sửa chữa nhỏ: là những khoản chi phí sửa chữa tàu, ngư cụ, trang thiết
bị trên tàu phát sinh trong khi tàu đang hoạt động khai thác hải sản Chi phí này thường nhỏ và xảy ra thường xuyên và được tính vào chi phí của chuyến biển
Trang 20+ Chi phí tiền lương: Là số tiền mà chủ tàu trả công làm việc cho thuỷ thủ tham
gia khai thác Trong hoạt động khai thác hải sản tại Việt Nam, chi phí tiền lương được chi trả bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng đối với nghề lưới rê thu ngừ thì chi phí này chủ yếu được chi trả bằng tỷ lệ phần trăm của doanh thu trừ chi phí biến đổi chưa có lương (chi phí nhiên liệu, chi phí bảo quản, chi phí lương thực, chi phí sửa chữa nhỏ và chi phí khác) hoặc doanh thu trừ tổng chi phí hoạt động (chi phí biến đổi chưa có lương và chi phí sửa chữa lớn tàu) Do chủ tàu thuê lao động thường không có hợp đồng lao động, không đăng ký lao động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND xã phường, đồn biên phòng), nên không đóng các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho ngư dân, do vậy, chi phí tiền lương không bao gồm các khoản trích trên
Lợi nhuận khai thác:
- Lợi nhuận ròng: được tính bằng doanh thu trừ tổng chi phí biến đổi và tổng chi phí
cố định Trong lĩnh vực khai thác tại một số quốc gia Châu Âu, chỉ tiêu này thường được tính bằng doanh thu trừ biến phí và các chi phí cố định (gồm chi phí sửa chữa, thuế và bảo hiểm, chi phí khấu hao, chi phí lãi vay)
(Primary Industries and Resource South Australia, 2005, W.P.Davidse, September 1997)
3 Thu nhập bình quân/ lao động khai thác hải sản theo nhóm nghề:
Đây là chỉ tiêu cho ta biết mỗi lao động khai thác có thu nhập bình quân mỗi tháng là bao nhiêu tiền Để đánh giá chỉ tiêu này, ta cần có sự so sánh với thu nhập của lao động các ngành khác trong mối tương quan về thời gian và không gian Và chỉ tiêu này càng cao thì sức hấp dẫn của nghề càng lớn, đời sống của lao động khai thác càng được cải thiện Từ đó cho thấy xu hướng chuyển dịch cơ cấu nghề và lao động trong ngành khai thác xa bờ trong thời gian tới
Trên 1 tàu thường có các lao động bạn và lao động trong gia đình chủ tàu tham gia khai thác Thu nhập của 2 nhóm đối tượng này là khác nhau do thu nhập của các lao động trong gia đình chủ tàu có bao gồm thêm phần lợi nhuận khai thác
Chỉ tiêu này được tính dựa trên công thức sau:
Trang 21Doanh thu
- Tổn chuyến biển (Chi phí nhiên liệu, chi phí bảo quản, chi phí lương thực –
thực phẩm, chi phí lao động, chi phí khác)
= Tổng số tiền dùng để chia cho các lao động bạn trên tàu
* 1/2 hoặc 2/5 (tùy theo cách ăn chia theo tỷ lệ 5:5 hay 6:4)
= Tổng số tiền công của lao động bạn trên tàu
: số lao động bạn trên tàu
= Thu nhập bình quân/ lao động bạn/ chuyến
* số lao động trong gia đình chủ ghe tham gia khai thác trên tàu
+ lợi nhuận khai thác
= Thu nhập bình quân từ khai thác thủy sản/ hộ chủ ghe/ chuyến
: số lao động trong gia đình chủ ghe tham gia khai thác trên tàu
= Thu nhập bình quân/ lao động đi biển trong gia đình chủ ghe/ chuyến
(Thu nhập bình quân/ lao động bạn/ chuyến sẽ bằng không khi Doanh thu chuyến biển nhỏ hơn hoặc bằng Tổn chuyến biển.)
4 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực khai thác hải sản: năng lực khai thác, cơ
sở hạ tầng, trình độ khoa học công nghệ,…
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực khai thác hải sản là sự áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại nhằm cải biến toàn bộ hoạt động khai thác hải sản lên một trình độ phát triển cao hơn
Các nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực khai thác hải sản bao gồm :
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa về năng lực khai thác: thể hiện ở sự gia tăng về số lượng tàu thuyền máy công suất lớn (>90cv) tham gia đánh bắt, sản lượng đánh bắt, năng suất đánh bắt, thành phần loài đánh bắt có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, ở nội dung này cần có sự quy hoạch quản lý chặt chẽ của Nhà nước vì nếu không sẽ dễ gây ra dư thừa năng lực, làm giảm hiệu quả kinh tế và suy thoái nguồn lợi
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa về cơ sở hạ tầng: thể hiện qua việc mở rộng nâng cấp các bến cá, cảng cá theo hướng hiện đại, bảo đảm các điều kiện dịch vụ thuận tiện, nhanh
Trang 22chóng cho cá tàu đánh bắt; xây dựng các mô hình chợ cá và trung tâm đấu giá thủy sản để thống nhất quản lý kiểm soát cá sản phẩm đánh bắt, đồng thời ổn định thị trường nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến và bảo đảm quyền lợi cho ngư dân
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trình độ khoa học công nghệ: thể hiện ở việc xây dựng
và phát triển các hạm tàu đánh bắt công suất lớn có khả năng khai thác ở các ngư trường
xa bờ và đại dương; áp dụng các kỹ thuật đánh bắt hiện đại như tàu kéo 2-3 lưới, sử dụng thủy âm trong đánh bắt; trang bị các thiết bị điện tử hàng hải hiện đại để nâng cao hiệu quả đánh bắt và an toàn cho thủy thủ như các thiết bị dò cá, các hệ thống định vị, hệ thống
hỗ trợ thả lưới, thu lưới, gỡ cá, hệ thống bánh lái điều khiển từ xa…; kết hợp các thiết bị bảo quản chế biến ngay trên tàu
5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khai thác hải sản: cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu
vốn đầu tư, cơ cấu thành phần kinh tế,…
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khai thác hải sản là sự vận động thay đổi cơ cấu ngành khai thác hải sản từ trạng thái này sang trạng thái khác để phù hợp với điều kiện và môi trường phát triển
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành khai thác hải sản có thể được khái quát ở một số mặt về
cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu thành phần kinh tế,…
- Về cơ cấu nghề nghiệp: cần chuyển đổi từ các nghề khai thác ven bờ sang khai thác
xa bờ nhằm giảm áp lực khai thác vùng ven bờ và khai thác nguồn lợi vùng khơi có giá trị kinh tế cao hiện đang còn bỏ ngỏ; chuyển đổi tờ các nghề khai thác mang tính chất hủy diệt nguồn lợi như giã cào, giã nhũi,… sang các nghề có triển vọng phát triển mạnh, ít ảnh hưởng đến môi trường như câu khơi, vây rút chì, rê, cản khơi và đăng đáy,…
- Về cơ cấu vốn đầu tư: cần chuyển dịch theo hướng tăng cường nguồn vốn đầu tư trong dân nhằm giảm gánh nặng cho Nhà nước và tận dụng nguồn vốn to lớn trong nhân dân
- Về cơ cấu thành phần kinh tế: cần chuyển dịch sang thành phần kinh tế tư nhân là chủ yếu vì hiện nay, thành phần kinh tế tư nhân vẫn đang hoạt động có hiệu quả nhất Tuy nhiên, sự liên kết trong sản xuất là cần thiết nhằm giúp đỡ hỗ trợ và giảm thiểu rủi ro, đảm bảo hiệu quả kinh tế tốt nhất
Trang 236 Diễn biến về xu hướng hiệu quả kinh tế của các đội tàu theo từng nhóm nghề trong giai đoạn vừa qua:
Đây là chỉ tiêu để đánh giá hoạt động khai thác hải sản xa bờ đang nằm trong giai đoạn nào của chu kỳ phát triển
Như ta đã biết, có 4 giai đoạn trong 1 chu kỳ phát triển bao gồm: giai đoạn phát triển, giai đoạn hưng thịnh, giai đoạn suy thoái, và giai đoạn suy vong
Đánh giá chỉ tiêu này nhằm xác định hoạt động khai thác hải sản xa bờ đang nằm trong giai đoạn nào để từ đó có những dự báo chính xác về sự phát triển của nghề trong tương lai và có các chính sách, biện pháp nhằm duy trì tốc độ phát triển của nghề trong thời gian dài nếu ở giai đoạn 1 và 2, hoặc vực dậy sự phát triển của nghề nếu ở giai đoạn 3 và 4
Và mục tiêu cuối cùng là tạo sự phát triển ổn đinh, lâu dài, bền vững cho nghề khai thác hải sản xa bờ
I.2.3 Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về xã hội:
1 Giải quyết lao động và việc làm:
Đây chính là chỉ tiêu phản ánh số lao động tham gia hoạt động nghề, số lượng việc làm được tạo ra cho các lao động khai thác và lao động hoạt động trong các lĩnh vực liên quan như dịch vụ hậu cần nghề cá,…
Như vậy chỉ tiêu này càng cao thì hiệu xã hội thu được càng lớn Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh về số lượng, còn về chất lượng chúng ta cần sử dụng thêm các chỉ tiêu khác
2 Phát triển nguồn nhân lực:
Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành khai thác hải sản, vấn đề phát triển nguồn nhân lực là một nội dung quan trọng, nhất là lao động đang trong tình trạng thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng như hiện nay
Phát triển nguồn nhân lực chính là tạo được một nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội
Để thực hiện tốt công tác này, các cấp quản lý cần tiến hành dự báo nhu cầu lao động,
có biện pháp thu hút và đào tạo lao động theo nhu cầu thị trường
Trang 24Để đánh giá chỉ tiêu này, chúng ta cần xem xét các chính sách về phát triển nguồn nhân lực của Nhà nước cũng như việc thực hiện và đánh giá thông qua kết quả đạt được
3 Tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản:
Các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm các dịch vụ về giáo dục, y tế, vui chơi giải trí, việc làm Trong đề tài, chỉ tiêu này được đánh giá căn cứ vào những cảm nhận của người trả lời về sự thuận lợi hay khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ trên cũng như chất lượng của nó
4 Bình đẳng giới:
Là chỉ tiêu đánh giá sự công bằng xã hội đối với 2 giới cơ bản: nam và nữ Do đặc điểm sinh học về giới mà người phụ nữ thường luôn chịu thiệt thòi trong việc thể hiện bản thân Ngày nay, bình đẳng giới luôn là một trong các chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá sự phát triển về xã hội, về con người
Để đánh giá chỉ tiêu này, ta căn cứ vào số lượng phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội,… và hiệu quả hoạt động của giới nữ trong các lĩnh vực đó
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chỉ tiêu này được đánh giá thông qua sự phân công lao động trong gia đình giữa vợ và chồng, sự tham gia quyết định các vấn đề về kinh
tế gia đình, quan hệ xã hội và nuôi dạy con cái
5 Đồng thuận và xung đột xã hội (mâu thuẫn giữa nghề cá xa bờ (quy mô lớn) với
nghề cá ven bờ (quy mô nhỏ))
Đồng thuận và xung đột xã hội là vấn đề ảnh hưởng lớn đến quan hệ giữa người với người trong cộng đồng dân cư và trong cộng đồng nghề Trong điều kiện bình thường thì vấn đề thường dẫn đến đồng thuận hay xung đột chính là lợi ích kinh tế
Đây là vấn đề cần được quan tâm theo dõi vì nếu là đồng thuận thì cần được khuyến khích để phát triển hơn để mang lại lợi ích kinh tế và xã hội cao hơn Còn nếu là xung đột thì cần được giải quyết nhằm tránh những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội của bà con
Trong đề tài, vấn đề được tìm hiểu theo thông tin cung cấp của bà con ngư dân
Trang 256 Mức sống (Living standard) của các nhóm ngư dân trong cộng đồng của các làng cá:
Mức sống là chỉ tiêu đánh giá chất lượng sống của người dân Mức sống cao tức chất lượng sống cao, mức sống thấp tức chất lượng sống thấp
Trong đề tài, mức sống của ngư dân được đánh giá dựa trên chỉ tiêu về thu nhập bình quân/ người/ tháng và mức chi tiêu bình quân/ người/ tháng, có sự so sánh với các chỉ tiêu tương tự đối với thống kê chung cho cả địa phương
7 Dân trí và trình độ học vấn, đào tạo nghề của ngư dân:
Đây là chỉ tiêu phản ánh chất lượng lao động trong nghề khai thác
Dân trí và trình độ học vấn, đào tạo nghề của ngư dân là trình độ nhận thức của ngư dân về các vấn đề kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật,…
Thông thường, dân trí khó xác định mà người ta thường xác định thông qua trình độ học vấn, đào tạo nghề Trình độ học vấn và đào tạo nghề càng cao thì chất lượng lao động càng tốt, bởi vì nó phản ánh được trình độ tay nghề, kỹ thuật sản xuất cũng như việc sử dụng các thiết bị hiện đại vào sản xuất đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất
8 Tạo dòng di cư
Di cư thường được hiểu là chuyển đến một chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một khoảng cách
đủ lớn buộc người di cư phải thay đổi hộ khẩu thường trú
Di cư thường xảy ra khi địa phương đó không có đủ việc làm hoặc không có điều kiện
để người lao động phát triển Và khi đó sẽ tạo nên áp lực giải quyết một loạt các vấn đề kinh tế xã hội ở địa phương có lượng người di cư đến nhiều
Lao động di cư là tốt nếu như đây là lực lượng lao động có chất lượng Lao động di cư
là gánh nặng khi chất lượng lao động di cư kém
Lao động di cư còn phản ánh sự thiếu lao động ở địa phương mà lao động di cư đến Khi đó, chất lượng lao động ít được chú trọng mà người ta chỉ quan tâm nhiều đến số lượng Điều này là một ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của nghề khai thác hải sản ở địa phương
Trang 269 Thay đổi lối sống:
Khi có sự thay đổi tích cực về mức sống, người dân có xu hướng thay đổi lối sống theo hướng chi tiêu nhiều hơn, chú trọng hơn đến yếu tố sức khỏe, đời sống tinh thần của bản thân và gia đình Điều này cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể trong chất lượng sống của người dân
10 Tác động đến môi trường nguồn lợi:
Hoạt động khai thác hải sản có đối tượng khai thác chính là nguồn lợi tự nhiên, nên sự phát triển của nghề sẽ tác động lớn đến môi trường nguồn lợi Nếu sự phát triển của nghề vẫn đảm bảo được sự tái tạo tự nhiên của môi trường nguồn lợi thì rất tốt, nhưng nếu sự phát triển quá mức sẽ dẫn đến hủy diệt nguồn lợi, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững thì cần có biện pháp khắc phục kịp thời
Trong đề tài, vấn đề này cũng được đánh giá dựa trên cảm nhận của ngư dân về sự thay đổi nguồn lợi trong quá trình họ sản xuất
Trang 27CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
II.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Trên thế giới, việc đánh giá hiệu quả của hoạt động khai thác thủy sản (gồm cả khai thác hải sản xa bờ) là việc làm có tính chất thường xuyên, liên tục của các cơ quan quản lý thủy sản ở các nước có nghề cá thương mại phát triển Hầu hết ở những nước này, cơ cấu nghề cá công nghiệp chủ yếu là nhóm phương tiện của nghề khai thác hải sản xa bờ, nghề
cá đại dương Cũng có nhiều tài liệu về đánh giá hiệu quả của một số nghề khai thác hải sản xa bờ khác nhau (theo nhóm nghề, nhóm loài mục tiêu, cỡ tàu, công suất máy và theo địa bàn hoạt động) Cũng đã có một số nghiên cứu về đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế xã hộicủa các hoạt động xa bờ/ ven bờ thương mại Những nghiên cứu này góp phần định hướng và phát triển những nhóm nghề hiệu quả hoặc hạn chế thậm chí loại trừ những phương tiện, nhóm nghề kém hiệu quả hơn Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá, mô tả công nghệ khai thác thủy sản đã được thực hiện và công bố tương đối phổ biến như:
Đánh cá kết hợp ánh sáng của I Niconorov (1963);
Sử dụng âm thanh để thu hút cá của Hashimoto (1971);
Lưới kéo hiện đại biển sâu của Garner (1976);…
Nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia như: FAO, SEAFDEC, JICA, Đài Loan, Nhật Bản,… đã thực hiện và công bố những công trình nghiên cứu liên quan đến hiện trạng công nghệ khai thác hải sản trên thế giới như:
Ngư cụ khai thác hiện đại của thế giới (1971);
Ngư cụ và phương pháp khai thác thủy sản ở Đài Loan (1973);
Kỹ thuật khai thác hải sản (1975);
Công nghiệp khai thác mực của Nhật Bản (1980);…
Đặc biệt, Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á đã hỗ trợ các nước thành viên biên soạn và xuất bản bốn tập átlát ngư cụ và phương pháp khai thác thủy sản của Thái Lan, Malaysia, Philippin, và Việt Nam
Trang 28Cùng với các công trình nghiên cứu về công nghệ, một số mô hình toán về quản lý nguồn lợi cũng được ứng dụng Các mô hình này là sự kết hợp giữa sinh học và kinh tế (Hannesson, 1978) Sự phát triển mô hình động học quần thể của Beverton và Holt (1957)
đã góp phần quan trọng trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Trong các mô hình này có sự kết hợp kinh tế, xã hội và tự nhiên đã đưa đến khái niệm mới trong nghiên cứu nghề cá: kinh tế sinh học Mô hình động học quần thể của Beverton, Holt, Gordon, Schaefer và Fox là những mô hình đang được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế nghề cá, đặc biệt là các nước nhiệt đới, nơi có nghề cá đa loài
Bên cạnh những đánh giá khả quan về hiệu quả kinh tế - xã hội thì những tác động bất lợi của hoạt động khai thác hải sản đến môi trường và nguồn lợi cũng được quan tâm nghiên cứu Những nghiên cứu này đã quan tâm đến ảnh hưởng của việc khai thác hải sản đến nguồn lợi bằng chất độc, chất nổ, xung điện và bằng các phương tiện khai thác tận diệt như giã cào hay việc bỏ lưới hỏng (lưới ma) sau khi khai thác
Thời gian gần đây, dưới áp lực của gia tăng dân số, khủng hoảng dầu mỏ, khủng hoảng tài chính tiền tệ, hiệu ứng ấm lên của trái đất, suy thoái tài nguyên, thiên tai (sóng thần),… nhiều học giả đã chuyển sang hướng nghiên cứu tác động của các yếu tố này đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Như vậy, cho đến nay, về mặt quy mô, tuy các nghiên cứu về hiệu quả của hoạt động khai thác hải sản đã được đề cập nhưng chủ yếu tập trung vào những mặt nhất định như: công nghệ khai thác, các nhóm nghề, nhóm loài, hoặc địa bàn khai thác,…
Về mặt phương pháp đánh giá, phổ bién là phương pháp điều tra thống kê truyền thống Chủ yếu dựa vào các tiêu chí về kỹ thuật (cường lực, công suất máy, sản lượng,…) sau đó dần dần các tiêu chí về kinh tế - xã hội được bổ sung (thu nhập, lợi tức, đóng góp vào GDP, kim ngạch xuất khẩu, thuế,…) Gần đây, các phương pháp tiên tiến trong đánh giá đã bắt đầu được áp dụng để lượng hóa các tác động này như phân tích dựa trên ma trận thông tin logic phụ thuộc của các yếu tố đầu vào và đầu ra, thuật toán, các hàm hồi quy, phương pháp đánh giá dựa trên bộ chỉ số,… kết hợp với một số phần mềm toán kinh tế Các phương pháp này có thể cho phép xem xét, phân tích ảnh hưởng của một yếu tố này đối với các yếu tố khác, và ảnh hưởng của các yếu tố với nhau trên cơ sở giả định là các
Trang 29yếu tố khác không đổi để tìm ra những yếu tố của biến độc lập ảnh hưởng đến yếu tố của biến phụ thuộc và mức độ ảnh hưởng của nó
Năm 2005, ở khu vực Đông Nam Á, SEAFDEC đã công bố những công trình nghiên cứu đề xuất sử dụng bộ chỉ số để đánh giá, giám sát việc quản lý nghề cá khu vực nói chung Trong đó có đề cập đến việc sử dụng bộ chỉ số để đánh giá tính hiệu quả của các phương tiện theo thời gian, mùa vụ, địa bàn thông qua năng suất, giá trị
Những công trình này chưa nhấn mạnh đến việc sẽ sử dụng bộ chỉ số đó như thế nào cho việc đánh giá hiệu quả của khai thác thủy sản đến kinh tế, xã hội và môi trường
Các nghiên cứu đánh giá toàn diện mức hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ chưa thấy công bố
II.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Trong nước cũng đã có một số công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả về kinh té – xã hội của ngành thủy sản như:
Đề tài: “Đánh giá tác động của quá trình đổi mới đến sự phát triển ngành thủy sản” (Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, 1999)
Đề tài: “Đánh giá tác động của ngành thủy sản tới nền kinh tế quốc dân” (Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, 2003)
Các nghiên cứu này mới chỉ tập trung nhiều đến khía cạnh kinh tế và môi trường, ít chú ý đến những tác động về mặt xã hội Một số tiêu chí mới được đưa ra nhưng chỉ được đánh giá ở mức độ định tính mà chưa được lượng hóa một cách khoa học Một số tiêu chí
về đánh giá hiệu quả kinh tế đã được lượng hóa rất chi tiết, nhưng có hạn chế là chỉ đánh giá ở một số tỉnh trọng điểm mà chưa được đánh giá một cách toàn diện
Đối với lĩnh vực khai thác hải sản xa bờ, mấy năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu đánh giá trình độ công nghệ khai thác như:
Đánh giá trình độ công nghệ khai thác hải sản khối xí nghiệp quốc doanh (1992)
Đánh giá trình độ công nghệ vây rút chì bán cơ giới của Việt Nam (1993)
Trang 30 Đánh giá trình độ công nghệ khai thác hải sản xa bờ ở một số tỉnh trọng điểm (1997)
Xác định các nghề có năng suất cao phù hợp với cỡ tàu khai thác xa bờ (2001),…
Đặc biệt, đề tài Đánh giá trình độ công nghệ khai thác hải sản xa bờ để tạo cơ sở cho công tác quản lý và hoạch định chính sách phát triển khai thác hải sản xa bờ, định ướng nghiên cứu và phát triển công nghệ đang được Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thực hiện nhằm thúc đẩy và phát triển nghề cá xa bờ nước ta hiệu quả và bền vững
Phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu đánh giá tác động của ngành thủy sản tới nền kinh tế quốc dân là phương pháp thống kê so sánh và phân tích các yếu tố ảnh hưởng Trên cơ sở thống kê, phân tích các dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập qua các cuộc điều tra mẫu (sử dụng các công cụ của phương pháp đánh giá có sự tham gia
- PRA) tiến hành so sánh, phân tích đánh giá các mặt hiệu quả tới kinh tế - xã hội của ngành thủy sản Dùng phương pháp chỉ số tĩnh và chỉ số động để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng theo không gian và chuỗi thời gian Kỹ thuật phân tích này được dùng trong các nghiên cứu phân tích kinh tế trên cơ sở sử dụng các phần mềm máy tính trong môi trường excel Dùng khung phân tích thể hiện sơ đồ tác động tương quan giữa các biến: hoạt động thủy sản và các hiệu quả kinh tế - xã hội từ hoạt động thủy sản
Các nghiên cứu này đã đưa ra một số chỉ số và tiêu chí đánh giá sau:
Trang 31 Chỉ số so sánh tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu của ngành thủy sản với toàn quốc
Chỉ số lợi thế cạnh tranh RCA
Các tiêu chí đánh giá:
Tiêu chí đánh giá tác động của phát triển thủy sản tới giải quyết lao động, việc làm
Tiêu chí đánh giá tác động của phát triển thủy sản tới xóa đói giảm nghèo
Tiêu chí đánh giá tác động của phát triển thủy sản tới cung cấp dinh dưỡng và
an ninh thực phẩm
Tiêu chí đánh giá tác động của phát triển thủy sản tới phát triển nguồn nhân lực
Tiêu chí đánh giá tác động của phát triển thủy sản tới đổi mới cơ chế chính sách
và đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp
Tiêu chí đánh giá tác động của phát triển thủy sản tới môi trường sinh thái và tài nguyên thủy sản
Tóm lại, những nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế - xã hội của hoạt động khai thác hải sản xa bờ ở Việt nam trong thời gian qua còn rất hạn chế
Trang 32PHẦN III:ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC XA BỜ Ở KHÁNH HÒA
CHƯƠNG III: ĐIỀU KIỆN TỰ NHI ÊN VÀ TIỀM NĂNG NGUỒN
LỢI THỦY SẢN KHÁNH HÒA III.1 Điều kiện tự nhiên, thực trạng tiềm năng nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa: III.1.1 Điều kiện tự nhiên:
a) Vị trí địa lý:
Khánh Hòa là tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp với tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp Đắk Lắk, Lâm Đồng, phía nam giáp Ninh Thuận và phía đông là Biển đông, diện tích: 5258 km2, chiều dài bờ biển gần 400 km kể cả tuyến đảo; có nhiều cửa sông, đáy biển dốc, nhiều nơi ăn sâu vào đất liền tạo thành những vịnh kín gió: Vịnh Vân Phong, đầm Nha Phu, Vịnh Cam Ranh…là những vị trí hết sức thuận lợi cho nghề cá ven bờ, phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phát triển du lịch biển Độ sâu ngư trường trong tỉnh lớn nên tàu chủ yếu khai thác vùng ven bờ, đầm vịnh và vùng lộng Tàu thuyền công suất
từ 90cv trở lên mới khai thác vùng khơi và vùng biển phía Tây và Nam Trung Bộ
Đảo ven bờ lớn nhất là đảo Hòn Tre có diện tích 36 km2, các đảo Hòn Miếu, Hòn Tằm, Hòn Mun đều lớn trên 1 km2 Trong 70 đảo nằm trong các đầm vịnh, có 26 đảo có diện tích từ 0,05km2 Đảo lớn nhất nằm trong vịnh là Hòn Lớn (ở vịnh Vân Phong) có diện tích 44 km2 Khánh Hòa có nhiều bán đảo lớn, bán đảo Hòn Hèo có diện tích 146 km2 , bán đảo Cam Ranh: 106 km2 , bán đảo Hòn Gốm: 83 km2 Ngoài ra có các vịnh và đầm lớn như vịnh Vân Phong – Bến Gỏi, có diện tích 503 km2, độ sâu dưới 30m, vịnh Bình Cang Nha Trang, độ sâu hơn 16m và vịnh Cam Ranh có diện tích 185 km2 độ sâu khoảng 25m
Khánh Hòa có 2 sông có trữ lượng nước phong phú nhất là: Sông Cái ở Nha Trang có lưu vực khoảng 1800 km2 và sông Dinh ở Ninh Hòa có lưu vực 800 km2 Lưu vực của toàn bộ các sông, suối ở Khánh Hòa tới 3000 km2
Trang 33b) Khí hậu, thủy văn:
Khánh Hòa thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm điển hình, độ ẩm: 70 ÷ 80%; lượng mưa trung bình 1300 ÷ 1700 mm Nhiệt độ trung bình hằng năm 26,40 Nhiệt độ không khí cao nhất là 330 C và thấp nhất là 200C Mùa có khí hậu cao từ tháng 5 đến tháng 9, mùa có nhiệt độ thấp nhất từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Ở Khánh Hòa không có mùa đông rõ rệt, chỉ có hai mùa là mùa khô kéo dài từ tháng 1 ÷ 8, còn mùa mưa rất ngắn từ tháng 9 ÷
12
Nhiệt độ nước biển tầng mặt có giá trị trung bình cực đại là 31,30C và giá trị cực tiểu
là 23,40C, độ mặn có giá trị cực đại là 32,82‰ và vào mùa mưa đạt cực tiểu là 30,11‰ Riêng ở trong đầm, có nơi độ mặn tăng lên đến 4‰ vào mùa khô và xuống tới 1‰ vào mùa mưa Độ pH của nước biển Khánh Hòa dao động từ 7 ÷ 7,5
III.1.2 Thực trạng tiềm năng nguồn lợi k hai thác hải sản xa bờ của tỉn h Khánh Hòa:
a) Ngư trường:
Ngư trường hoạt động của tàu cá tương đối rộng từ Khánh Hòa đến Kiên Giang, trong
đó nhiều thuyền nghề hoạt động xa bờ như nghề lưới kéo (ngư trường chính từ Ninh Thuận đến Bà Rịa – Vũng Tàu), nghề lưới cản (ngư trường chính ở Bà Rịa – Vũng tàu, Kiên Giang, Cà Mau), nghề vây (ngư trường chính ở Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận), và nghề câu cá ngừ đại dương (kéo dài từ quần đảo Hoàng Sa đến quần đảo Trường Sa)
Hiện nay, vùng ngư trường xa bờ Khánh Hòa được xác định ở vùng biển từ đường đẳng sâu 50m nước trở ra (Theo Điều 2 – Quyết định 393/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 9/6/1997 về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước cho các dự án đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ đánh bắt xa bờ) Tuy nhiên, do địa hình vùng biển phức tạp, có nhiều nơi chỉ cần
đi ra vài hải lý là đã đạt được độ sâu 50m nước theo quy định, nên không có giới hạn cụ thể nào cho ngư trường xa bờ Khánh Hòa, chủ yếu vùng ngư trường xa bờ Khánh Hòa là vùng biển Trường Sa
Trang 34 Ở vùng biển Khánh Hòa có 3 ngư trường truyền thống gồm:
Ngư trường Bắc Khánh Hòa: từ vĩ tuyến 120
Ngư trường Nam Khánh Hòa: từ vĩ tuyến 120
00’N trở xuống phía Nam
Nghề truyền thống: giã đơn, trũ rút, pha xúc, vây rút chì, giã đôi…
b) Nguồn lợi thủy hải sản:
Trữ lượng:
Theo số liệu từ Viện Hải Dương Học Nha Trang thì ở vùng biển Khánh Hòa có khoảng 600 loài cá khác nhau, trong số này có trên 50 loài có giá trị kinh tế, vừa có giá trị vừa chiếm trữ lượng lớn gồm:
+ Cá nổi lớn như: Cá Nhám, cá Thu, Bạc Má, cá Ngừ đại đương (đây là các đối tượng đánh bắt chính của hoạt động khai thác xa bờ)
+ Cá nổi nhỏ như: Cá Cơm, Cá Trích, Cá Nục, Cá Chuồn và cá Chỉ Vàng
+ Cá đáy tuy sản lượng không lớn nhưng nhiều loài có giá trị xuất khẩu như: Cá Mú
và đa số thường xuyên có mặt ở thị trường như: Cá Đổng (Lượng), Cá Mối, Cá Đỏ Dạ ( cá Đù)…
Vùng biển Khánh Hòa có nguồn lợi đa dạng, phong phú, mang tính địa phương Mặc
dù khai thác chỉ mới đạt khoảng 50-60% khả năng cho phép của nguồn lợi tiềm năng nhưng do chỉ tập trung khai thác ở vùng ven bờ, nhà nước lại chưa có phương thức, chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản có hiệu quả nên trên thực tế, nguồn lợi hải sản ở vùng ven bờ ngày càng cạn kiệt
Một số loài hải sản quý hiếm có nguy cơ bị tiệt chủng như: Rùa biển, Bào Ngư, Điệp…Một số khác đang bị khai thác cạn kiệt như: Tôm biển các loại, Sò huyết, Cá Ngựa, Hải Sâm, Cầu Gai…
Trang 35 Mùa vụ, phân bố và các đối tượng đánh bắt chính
Các nghề khai thác khác nhau thì có mùa vụ đánh bắt cũng khác nhau
Bảng 3.1:Mùa vụ đánh bắt của các nghề khai thác
Mùa vụ Nghề
Lưới cản Tháng 1 - tháng 4 Tháng 10 - tháng 7 năm sau
lưới vây Tháng 12 – tháng 6 năm sau Quanh năm
Mành pha xúc Tháng 2 – tháng 10 Quanh năm
Lưới kéo Tháng 5 – tháng 12 Quanh năm
Ở vùng biển Khánh Hòa có thể khai thác cá biển quanh năm nhưng có hai vụ chính là:
Trang 36- Huyện Ninh Hòa
- Huyện Diên Khánh
- Huyện Khánh Sơn
- Huyện Khánh Vĩnh
- Huyện đảo Trường Sa
III.2.2 Diện tích và dân số :
Diện tích tự nhiên: 4.693,38 km2
Trong đó diện tích đất tự nhiên của hơn 200 đảo, quần đảo: trên 600 km2
Dân số: 1.096.617 người, trong đó:
Trang 37III.2.3 Phân bố cụm dân cư nghề cá:
Bảng 3.2: Phân bố cụm dân cư nghề cá
STT Thành phố
Nha Trang Thị xã
Cam Ranh
Huyện Vạn Ninh
Huyện Ninh Hòa
Vĩnh Thọ
Xã Cam Bình
Xã Đại Lãnh
Xã Ninh Hải
Vĩnh Phước
Phường Cam Linh
Xã Vạn Thọ Xã Ninh Diêm
Xương Huân
Phường Cam Lợi
Xã Vạn Long Xã Ninh Thuỷ
Vĩnh Trường
Phường Cam Thuận
Xã Vạn Thắng
Xã Ninh Vân
Phước Đồng
Xã Cam Phú
Thị trấn Vạn Giã
Xã Ninh Ích
Vĩnh Lương
Xã Cam Phúc Bắc Xã Vạn Hưng
Xã Ninh Lộc
Xã Ninh Hà
Cam Hải Đông Xã Vạn Thạnh
Xã Ninh Phú
Trang 380 1000 2000 3000 4000 5000 6000
IV.1.1 Năng lực đội tàu:
IV.1.1.1 Năng lực tàu thuyền toàn Tỉnh:
Hiện nay, Khánh Hòa có khoảng 5.424 chiếc tàu thuyền, tổng công suất đạt gần 210.000 CV, trong đó tàu từ 90cv trở lên đủ điều kiện đánh bắt xa bờ là 400 chiếc
Bảng 4.1: Số lượng tàu thuyền toàn tỉnh Khánh Hòa
(tính đến 1/9/2006)
Tổng
số tàu
cá
Phân loại theo nghề chính
TT Phân loại tàu cá
theo công suất
Đvị chiếc Kéo Vây Rê Câu
Nghề khác
vụ hậu cần nghề cá
Biểu đồ 4.1: Biểu đồ phân loại tàu thuyền tỉnh Khánh Hoà theo công suất
( chiếc)
Trang 390 500 1000 1500 2000 2500 3000
Kéo Vây Rê Câu khác
Biểu đồ 4.2: Biểu đồ phân loại tàu thuyền nghề cá tỉnh Khánh Hòa theo nghề chính
IV.1.1.2 Năng lực tàu thuyền nghề cá xa bờ:
Theo số liệu thống kê của Chi cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản Khánh Hòa tính đến tháng 9 năm 2006, số tàu thuyền khai thác thủy sản toàn Tỉnh là 5424 chiếc, tổng công suất 236.175cv, trong đó số tàu thuyền đủ khả năng đánh bắt xa bờ là 400 chiếc (công suất mỗi chiếc trên 90cv) So với năm 2002 (tổng số tàu: 3431 chiếc, tổng công suất: 128338cv) tăng 23,13% về số lượng và tăng 29,58% về công suất
Bảng 4.2: Số lượng tàu thuyền nghề cá xa bờ toàn Tỉnh Khánh Hòa
Trang 40Biểu đồ 4.3: Số lượng tàu thuyền nghề cá xa bờ theo nghề khai thác
Qua đây có thể thấy được rằng số lượng tàu thuyền có đủ công suất trên 90cv để đánh bắt xa bờ là 400 chiếc, chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng 7,63% so với tổng số lượng 5424 chiếc trên toàn Tỉnh
IV.1.2 Sản lượng khai thác:
Sản lượng và năng suất đánh bắt thuỷ hải sản của tỉnh từ năm 2000-2005 được thống
kê theo bảng 4.3:
Bảng 4.3: Sản lượng đánh bắt thủy hải sản tỉnh Khánh Hòa
Năm
Tổng công suất (CV)
Tổng sản lượng (tấn)
Năng suất trung bình (tấn/CV/năm)