BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA KHAI THÁC HÀNG HẢI TRẦN THỊ HƯƠNG ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG TÀU THUYỀN; MÁY ĐỘNG LỰC; THIẾT BỊ TÀU, TRANG BỊ CỨU THỦNG CHO NGHỀ CÂU CÁ NG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA KHAI THÁC HÀNG HẢI
TRẦN THỊ HƯƠNG
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG TÀU THUYỀN; MÁY ĐỘNG LỰC;
THIẾT BỊ TÀU, TRANG BỊ CỨU THỦNG CHO NGHỀ CÂU CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG NHÓM CÔNG SUẤT 45-90CV CỦA PHƯỜNG
VĨNH PHƯỚC TP NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: An toàn hàng hải
Nha Trang, tháng 10 năm 2007
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA KHAI THÁC HÀNG HẢI
TRẦN THỊ HƯƠNG
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG TÀU THUYỀN; MÁY ĐỘNG LỰC;
THIẾT BỊ TÀU, TRANG BỊ CỨU THỦNG CHO NGHỀ CÂU CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG NHÓM CÔNG SUẤT 45-90CV CỦA PHƯỜNG VĨNH PHƯỚC TP NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: An toàn hàng hải
CBHD: T.S TRẦN ĐỨC PHÚ
Nha Trang, tháng 10 năm 2007
Trang 3LỜI CẢM ƠN!
Trước hết xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình
Trong suốt thời gian học và thực tập tôi nhận được rất nhiều sự động viên giúp đỡ của các tập thể và cá nhân Xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy giáo trong Khoa Khai Thác Hàng Hải, chính tình cảm và sự ưu ái của các Thầy dành cho tôi -
cô nữ sinh viên duy nhất của khoá học 2003-2008 là điều khiến tôi quyết tâm ở lại khoa theo học và học tốt
Xin gửi lời cảm ơn tới:
UBND phường Vĩnh Phước
Chi cục khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi thuỷ sản tỉnh Khánh Hoà
Công ty Bảo Việt Khánh Hòa
Bà con ngư dân phường Vĩnh Phước đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ trong thời gian tìm hiểu thực tế
Thầy giáo T.S Phan Trọng Huyến
Thầy giáo T.S Nguyễn Đức Sĩ
Thầy giáo T.S Trần Đức Phú, người đã dầy công hướng dẫn tôi hoàn thành đồ
án tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Trần Thị Hương
Nha Trang, tháng 10 năm 2007
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Nghề câu cá ngừ đại dương ở Khánh Hoà phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây Sản lượng cao, giá trị xuất khẩu lớn đã làm chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp trong cộng đồng ngư dân ven biển Nghề câu cá ngừ đại dương là nghề chủ lực trong khai thác hải sản xa bờ, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở địa phương và bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia vùng biển xa bờ
Bên cạnh đó nghề câu cá ngừ đại dương tại Khánh Hoà cũng có nhiều hạn chế
về năng lực khai thác của tàu thuyền, thiết bị tàu, máy động lực chưa phù hợp với ngư trường và mùa vụ khai thác Sự thiếu thông tin về mùa vụ, đối tượng đánh bắt, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch còn thô sơ, giá cả cá ngừ chưa được đảm bảo…Trước thực trạng đó Bộ Thuỷ Sản và UBND tỉnh Khánh Hoà phối hợp tổ chức hội thảo “Quản lý, khai thác và tiêu thụ cá ngừ đại dương” nhằm thảo luận và đánh giá đúng tình hình và tìm biện pháp khắc phục những tồn tại để đưa nghề khai thác cá ngừ đại dương là nghề sản xuất chủ lực và phát triển bền vững ở tỉnh Khánh Hoà nói riêng và cả nước nói chung
Để góp phần vào việc đánh giá đúng tình hình nghề khai thác cá ngừ đại dương tỉnh Khánh Hoà, tôi được nhà trường giao cho thực hiện đồ án tốt nghiệp với
đề tài: “Điều tra hiện trạng tàu thuyền; máy động lực; thiết bị tàu, trang bị cứu
thủng cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45-90cv của phường Vĩnh Phước Tp Nha Trang tỉnh Khánh Hòa.”
Sau thời gian tìm hiểu thực tế, đi lấy số liệu và tìm hiểu các tài liệu có liên quan, nay đồ án tốt nghiệp của tôi đã hoàn thành với các phần sau:
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 Kết luận và khuyến nghị
Do lần đầu tiếp xúc với công tác nghiên cứu khoa học nên có nhiều khó khăn,
bỡ ngỡ vì vậy đồ án của tôi còn nhiều hạn chế hoặc vấn đề nghiên cứu chưa sâu mà chủ quan tôi chưa nhận thấy Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý Thầy và các bạn sinh viên để tôi có được những kiến thức bổ ích về vấn đề nghiên cứu trên
Nha Trang, tháng 10 năm 2007
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 TỔNG QUAN NGHỀ CÁ TỈNH KHÁNH HOÀ
1.1 Tình hình về kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa
Hình 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa
Trang 61.1.1 Đặc điểm tự nhiên và cơ sở hạ tầng của tỉnh Khánh Hòa
1.1.1.1 Vị trí địa lý
đến 12054’00N Phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh ĐắcLắc và Lâm Đồng, phía Nam giáp Ninh Thuận và phía đông giáp biển đông Với diện tích tự
cực đông của Khánh Hòa cũng là điểm cực đông của Tổ quốc vì vậy thuận lợi cho công việc khai thác thủy sản nhất là khai thác xa bờ
Biển Khánh Hòa có trên 200 đảo lớn nhỏ với 32 đảo ven bờ có 19 đảo diện tích từ 0.05 km2 lên tới tổng diện tích khoảng 49 km2 Bên cạnh hệ thống đảo là các
sâu dưới 30m, vịnh Nha Trang có diện tích 249km2 độ sâu dưới 16m, vịnh Cam Ranh diện tích 185km2 độ sâu dưới 25m Khánh Hòa được khai thác và quản lý huyện đảo Trường Sa là điều kiện thuận lợi để thủy sản của tỉnh vươn ra làm chủ biển khơi
Khánh Hòa nằm ở trung tâm trục Bắc-Nam (quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt), với sân bay Cam Ranh việc đi lại giữa Khánh Hòa - Tp Hồ Chí Minh hết khoảng 1 giờ, Khánh Hòa – Hà Nội hết khoảng 2 giờ Vịnh Vân Phong được xây dựng thành cảng trung chuyển dầu khí quốc tế, cảng Nha Trang, cảng Cam Ranh tạo cho Khánh Hòa một lợi thế vượt trội trong giao lưu khu vực và Quốc tế
Địa hình tương đối phức tạp, mặt đất có độ dốc dần từ Tây sang Đông, phía Tây là dẫy núi cao còn phía Đông là đồng bằng duyên hải bị cắt nhỏ thành ô bởi các dãy núi chạy sát ra biển
Khánh Hòa có 01 thành phố tỉnh lỵ Nha Trang là đô thị hạng hai, 01 thị xã Cam Ranh và 07 huyện Cam Lâm, Vạn Ninh, Ninh Hòa, Diên Khánh, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Trường Sa
1.1.1.2 Khí hậu thủy văn
Khánh Hòa vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa Nhiệt độ trung bình 26.40c, độ ẩm 70% đến 80%, lượng mưa trung bình từ 1300 đến 1700mm Mùa có nhiệt độ cao
Trang 7kéo dài từ tháng 5-9, mùa có nhiệt độ thấp nhất kéo dài từ tháng 12-2 Ở Khánh Hòa không có mùa đông rõ rệt chỉ có một mùa mưa từ tháng 9-12 lượng mưa đạt 1000mm và mùa khô kéo dài từ tháng 1-8
Nhiệt độ nước biển tầng mặt có giá trị trung bình cực đại là 31.30c và cực tiểu
là 23.40c, độ mặn cực đại là 35.820/00 và cực tiểu là 30.110/00 Khánh Hòa là tỉnh ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão
1.1.1.3 Hệ thống sông ngòi
Hệ thống sông ngòi của tỉnh nhỏ, ngắn và dốc bắt nguồn từ dẫy Trường Sơn
đổ ra biển nên ít mang phù du sinh vật Hai sông lớn có trữ lượng nước phong phú
phục vụ cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
1.1.1.4 Nhân lực
Tỉnh Khánh Hòa có khoảng 1300000 người, bao gồm các dân tộc Việt, RaGlai, Hoa và Cơho trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm khoảng 50% Trường đại học Nha Trang (trước là đại học Thủy Sản) là trường đại học đa ngành, đa cấp học với các chuyên ngành thủy sản truyền thống là thế mạnh mũi nhọn của trường
Ngoài ra còn có các trường đại học quân sự lớn như Học viện Hải quân, Sỹ quan thông tin, Chỉ huy kỹ thuật bay…
Bên cạnh các trường đại học là các trường cao đẳng như Mẫu giáo Trung Ương II, Sư phạm Nha Trang, Văn hóa nghệ thuật và du lịch…
Các trường trên đã đào tạo cho tỉnh Khánh Hòa nói riêng và cả nước nói chung một nguồn lao động trẻ dồi dào, có trình độ cao, có năng lực làm việc tốt, tâm huyết với nghề
1.1.2 Các hoạt động kinh tế chính của tỉnh Khánh Hòa
1.1.2.1 Công nghiệp
Đã hình thành và phát triển các ngành sản xuất công nghiệp như: Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản, giầy dép, đóng tàu, chế biến thủy sản, may mặc…Ngoài ra Khánh Hòa có các tiềm năng lớn khác như:
Trang 8Nhiều bãi cát trắng ở Đầm Môn dùng để chế tạo pha lê, cáp quang, thủy tinh…Có khoáng sản titan kim loại ít bị oxy hóa có thể dùng để chế tạo vỏ tàu vũ trụ…
1.1.2.3 Nông nghiệp
Các đồng bằng trong tỉnh bị xẻ ô vuông do núi chạy sát ra biển, sông suối ít mang phù sa, gần biển nên các đồng bằng bị nhiễm mặn, diện tích đất là 67700 ha rất nhỏ vì vậy sản lượng lúa không cao và cây lúa không phải là cây chủ lực, là thế mạnh của tỉnh
1.1.2.4 Du lịch
Du lịch là thế mạnh của tỉnh Khánh Hòa nổi tiếng với những cảnh đẹp thiên nhiên, năm 2003 Nha Trang được công nhận là 1 trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới Khánh Hòa là tỉnh nằm ở cửa ngõ ra biển của duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và các lục địa châu Á, lại cách không xa Tp Hồ Chí Minh nên có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch
Bờ biển Nha Trang có nhiều bãi tắm đẹp như đầm Nha Phu đến Lương Sơn, Cầu Đá, Bãi Tiên…Cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, di tích lịch sử, văn hóa phong phú đặc biệt là vịnh Vân Phong được coi là một trong những điểm du lịch đẹp nhất Việt Nam Các địa điểm du lịch là Hòn Tre, Hòn Tằm, Hòn Khói, Hòn Mun, suối Hoa Lan, Tháp Bà, thác Giang Bay…
Trang 91.1.2.5 Lâm nghiệp và khoáng sản
64.8% là rừng sản xuất, 34% rừng phòng hộ và 1.2% là rừng đặc dụng Tuy rừng là thế mạnh của tỉnh Khánh Hòa xong việc khai thác bừa bãi trong một vài năm qua làm tài nguyên rừng cạn kiệt
Có nhiều chủng loại khoáng sản như than bùn, cao lanh, nước khoáng, đá granít, vùng sa khoáng, đá, cát, vôi…Tuy nhiên các dạng khoáng sản này mới khai thác ở dạng nhỏ lẻ chứ chưa được khai thác và chế biến công nghiệp Trong các loại khoáng sản đó đáng chú ý là đá granít trữ lượng 2 tỷ tấn, inmemhít trữ lượng 26 vạn tấn, đá thủy tinh ở Cam Ranh trữ lượng 34.3 triệu tấn
Công nghiệp của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng khá, đã hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, giải quyết việc làm cho người lao động
Du lịch là một ngành công nghiệp không khói mũi nhọn của tỉnh Khánh Hòa, ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Kèm theo du lịch
là các loại hình dịch vụ không những giải quyết việc làm cho người lao động mà hàng năm mang về cho tỉnh một nguồn thu lớn
Khánh Hòa là tỉnh ít chịu sự tàn phá của những cơn bão là điều kiện để kinh tế của tỉnh phát triển mạnh mẽ với kinh tế mũi nhọn là du lịch-dịch vụ, thủy sản, công nghiệp và khai thác khoáng sản nhưng tất cả đều phải chú trọng đến khai thác hợp
lý và bền vững
Trang 101.2 Phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính
Sự phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính không đồng đều, không phải tất cả những huyện, thị trong tỉnh đều phát triển nghề cá, mà chỉ những địa bàn gần biển mới phát triển nghề cá Gần biển, gần sông lớn là điều kiện thuận lợi để cho tàu thuyền vào neo đậu, tiện cho việc trông nom sửa chữa tàu, ngư lưới cụ, vận chuyển lương thực thực phẩm, nguyên nhiên liệu, sản phẩm đánh bắt lên xuống tàu…
Bảng 1.1: Phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính
T.p Nha Trang
S: 252 km2
Tx Cam Ranh S: 688.05 km2
H Vạn Ninh S: 549.9 km2
H Ninh Hoà S: 1191.09 km2
X Cam Lập
X Cam Thành Bắc
1.3 Năng lực tàu thuyền nghề cá
Bảng 1.2: Năng lực tàu thuyền nghề cá tỉnh Khánh Hoà
Phân loại theo nghề chính STT Phân loại tàu thuyền
theo công suất
Tổng số tàu cá (chiếc)
Kéo Vây Rê câu Nghề
khác
Ghi chú
Trang 11Tổng số tàu cá 5424 tàu, tổng công suất là 216775cv bình quân xấp xỉ khoảng 40cv/chiếc với tổng số lao động 20341 người
Trong đó tàu đủ năng lực đánh bắt xa bờ công suất từ 90cv trở lên có 369 tàu chiếm 6.8%, hiện nay xu hướng đóng mới tàu có công suất >90cv ngày càng nhiều
vì nguồn lợi gần bờ đã bị cạn kiệt Nghề chính của nhóm tàu này là lưới cản (lưới rê), lưới kéo, câu khơi…Đặc biệt trong những năm gần đây nghề câu cá ngừ đại dương ở Khánh Hoà phát triển thì nhóm tàu này đóng vai trò chủ đạo Tàu đóng mới trên 90cv đang dần thay thế nhóm tàu cũ, công suất nhỏ Trong 2 năm 2004 và
2005 toàn tỉnh đóng mới 110 chiếc tàu có công suất trên 90cv trở lên chiếm 57 chiếc; nâng cấp thay máy chính và trang thiết bị là 226 chiếc thì có 93 chiếc có công suất từ 90cv trở lên
Nhóm tàu có công suất < 20cv chiếm tỷ trọng lớn nhất (50%), do nhiều năm qua nghề nuôi phát triển gần bờ đặc biệt là nghề nuôi tôm hùm lồng nên 70% nhóm tàu này phục vụ cho hậu cần về nuôi tôm, còn lại một số tàu khai thác ven bờ, làm nghề trong đèn
Nhóm tàu có công suất từ 20cv -< 50cv hoạt động khai thác tuyến ven bờ (chiếm 29%), sản lượng khai thác của nhóm tàu này càng ngày càng giảm Hoạt động khai thác của nhóm tàu này mang tính chất huỷ diệt các loài sinh sống ở ven
bờ Hiện nay Nhà nước đang cấm khai thác dưới hình thức như chất nổ, xung điện, lưới kéo đáy gần bờ…
Nhóm tàu có công suất từ 50 -< 90cv chiếm 14.5% , nhóm này trước đây cũng tham gia vào nghề câu cá ngừ đại dương nhưng hiện nay không làm nưa, có
vụ hậu cần nghề cá và nuôi trồng thuỷ sản
Trang 12chăng thì chỉ còn một vài tàu làm Nghề chính của nhóm tàu này là câu mực, mành đèn, giã cào…
Về trang thiết bị trên tàu: Đa số ngư dân mua máy chính đã qua sử dụng và bị thải loại ở nước ngoài về tân trang sửa chữa lại rồi lắp cho tàu mình Chất lượng máy sau khi tu sửa đạt khoảng 80% - 90% , máy vẫn hoạt động tốt mà giá cả lại phù hợp với túi tiền của ngư dân, vì cuộc sống của họ còn nghèo nên âu cũng là “cũ người mới ta” Các trang thiết bị khai thác trên tàu, truyền động cơ khí, trang bị hàng hải…đều không đông bộ
Về thiết bị lạnh để bảo quản sản phẩm: Sau khi sản phẩm đánh được sẽ được
bỏ vào hầm và làm lạnh bằng nước đá xay để ướp cá chứ chưa có hệ thống làm lạnh
từ nước biển hoặc thiết bị làm đá vẩy
Về trang bị an toàn hàng hải: Tàu nhỏ hơn 20cv thì không kiểm tra an toàn kỹ thuật hàng năm do vậy ngư dân không trang bị phao cứu sinh Tàu có công suất trên 20cv hàng năm phải kiểm tra an toàn nên việc trang bị cứu sinh, cứu hoả, cứu thủng, đèn hàng hải đầy đủ hơn đặc biệt là khối tàu có công suất từ 90cv trở lên khai thác xa bờ Việc trang bị an toàn hàng hải phải tiến hành nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn ngành
Về lực lượng lao động: Ngư dân làm việc trên tàu theo kinh nghiệm là chính,
vì điều kiện kinh tế khó khăn nên họ không được đào tạo qua trường lớp
1.4 Ngư trường hoạt động
Ngư trường hoạt động của tàu thuyền tỉnh Khánh Hoà là ven biển Việt Nam
Trang 13Tàu làm nghề trủ rút ngư trường hoạt động là Khánh Hoà, tàu chiều đi sáng hôm sau về để bán sản phẩm
Tàu làm nghề vây rút chì (vây ánh sáng) ngư trường hoạt động là Khánh Hoà, Ninh Thuận
Tàu làm nghề rê đáy ngư trường hoạt động là Khánh Hoà, Ninh Thuận ở độ sâu 64 đến 190m
Tàu làm nghề mành ngư trường hoạt động là Khánh Hoà (độ sâu thả lưới 30 đến 100m), tàu đi lúc 15h-16h, sáng hôm sau 7h về bến cá để bán sản phẩm
Tàu làm nghề câu cá ngừ đại dương 90cv đến 400cv ngư trường hoạt động là đảo Hoàng Sa đến Trường Sa (từ 7000’N đến 17000’N và 110000’E trở ra) Nhiều tàu còn đánh bắt sang vùng biển của Indonesia và Philippines
Tàu làm nghề câu tay ngư trường hoạt động là ven biển Khánh Hoà
Tàu làm nghề pha xúc, ngư trường là Khánh Hoà, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận
Tàu làm nghề lưới cước, soi đèn, nghề khác ngư trường là ven biển Khánh Hoà
Như vậy, nhìn chung ngư trường mà tàu thuyền trong tỉnh hoạt động nằm trong 2 ngư trường lớn:
Ngư trường Trung Bộ giới hạn từ 11030’N đến 17000’N, kéo dài từ Cửa Tùng đến Phan Rang Đây là thềm lục địa hẹp và dốc nhất Việt Nam, đáy chủ yếu là bùn cát pha vỏ sò, độ sâu thay đổi đột ngột (cách bờ từ 30 đến 35 hải lý độ sâu có thể đạt tới 1000 đến 2000m) Vùng này thời tiết hết sức khắc nghiệt thường xuyên chịu ảnh hưởng của những trận bão, áp thấp nhiệt đới vào mùa hè, gió mùa đông bắc mạnh vào mùa đông Trữ lượng hải sản 606000 tấn, cho phép khai thác 243000 tấn Nghề khai thác chủ yếu ở vùng này là vây, rê, mành, vó và lưới kéo
11030’N), đây là ngư trường có thềm lục địa rộng, độ dốc lớn và bằng phẳng độ sâu trung bình 30 đến 60m Thời tiết khí hậu tương đối ổn định, ít bị ảnh hưởng của những cơn bão Trữ lượng 2186000 tấn, khả năng khai thác cho phép 834000 tấn,
Trang 14đây là ngư trường lớn nhất và chất lượng nhất Việt Nam Nghề khai thác chủ yếu là vây, rê, câu, đặc biệt là câu cá ngừ đại dương
1.5 Sản lượng khai thác theo nghề, tàu, năm của tỉnh
Hiện nay sở Thuỷ sản Khánh Hoà chưa có bảng thống kê sản lượng theo nghề/ tàu/năm mà chỉ có bảng thống kê sản lượng khai thác theo tấn/cv/năm của tỉnh trong vòng 7 năm từ năm 2000 đến 2006:
Bảng 1.3: Sản lượng khai thác theo tàu, năm của tỉnh
Năm Số lượng thuyền
máy (chiếc)
Tổng công suất (cv)
Tổng sản lượng (tấn)
Năng suất trung bình (tấn/cv/năm)
Hình 1.2: Biểu đồ tổng sản lượng khai thác hải sản qua các năm 2001-2006
Qua hình 1.2 nhận thấy tổng sản lượng qua các năm lúc tăng nhưng không đáng kể và lúc giảm xuống rất nhanh Sản lượng tăng không phải do trữ lượng nguồn lợi thuỷ sản tăng mà do tàu thuyền và tổng công suất tăng lên Cụ thể năm
Trang 152000 có 3410 tàu thuyền với tổng công suất là 105028cv và tổng sản lượng khai thác là 65000 tấn, nhưng đến năm 2004 có 3495 tàu thuyền với tổng công suất là 127260cv thế nhưng tổng sản lượng chỉ còn 59700 tấn giảm 5300 tấn Đến năm
2006 thì tổng sản lượng tuy có bằng năm 2000 là 65000 tấn, nhưng số lượng tàu thuyền là 5733 chiếc hơn so với năm 2000 là 2323 chiếc, và tổng công suất là 195458cv hơn năm 2000 là 90430cv Điều này cho thấy nguồn lợi đang ngày càng cạn kiệt nghiêm trọng, nếu không có một giải pháp khai thác bền vững và bảo tồn nguồn lợi thì rất có thể trong tương lai không xa không còn nguồn lợi để đánh bắt
1.6 Lao động nghề khai thác hải sản theo nghề, tuổi, học vấn
Sở Thuỷ Sản chưa có một bản báo cáo cụ thể nào về lao động khai thác hải sản theo nghề, tuổi, học vấn mà chỉ có một báo cáo chung về tình hình lực lượng lao động Hiện nay trong toàn tỉnh có khoảng 20500 lao động làm nghề khai thác hải sản trong tổng số khoảng 64000 lao động nghề cá, chiếm khoảng 32% tổng số lao động làm việc ở các lĩnh vực khác trong ngành thuỷ sản Lao động trong nghề cá có trình độ thấp nhất so với tất cả các nghề, là loại lao động được xếp vào nặng nhọc nhất, trình độ của người làm việc trên tàu chỉ dừng lại ở việc biết đọc biết viết, hầu hết họ chưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở (cấp II) Đây cũng là mặt hạn chế rất lớn trong việc thực thi pháp luật, giải quyết các thủ tục tàu thuyền hay nhiều việc có liên quan
Lao động trên tàu cá có độ tuổi từ 18 đến 40 chiếm khoảng 60%, đây là độ tuổi mà sức khoẻ dồi dào nhất để có thể làm việc hiệu quả nhất Trên 40 tuổi sức khỏe đã yếu không thể làm được những công việc nặng nhọc trên tàu nên đa số họ chuyển sang nghề khác ở trên bờ để phù hợp với sức khoẻ của mình Nhỏ hơn 16 tuổi còn quá yếu để làm những công việc nặng nhọc trên tàu và chưa đủ kinh nghiệm để làm, theo lên tàu chỉ để làm phụ bếp, học hỏi người lớn làm việc Vì vậy trình độ nghề nghiệp của họ phần lớn được đào tạo theo phương thức “cha truyền con nối”, xem làm nhiều, đi biển nhiều và thực hành nhiều thì biết chứ không qua trường lớp đào tạo nào
Đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng thiếu các kiến thức cơ bản để phát huy có hiệu quả các thiết bị máy móc hàng hải, thiết bị khai thác, các kiến thức về luật
Trang 16hàng hải còn hạn chế đã ảnh hưởng đến hoạt động khai thác ở những ngư trường xa
bờ nhiều tàu đã bị nước ngoài bắt vì không chấp hành luật Có bằng thuyền trưởng, máy trưởng là do họ đi học các lớp đào tạo của sở Thuỷ Sản hoặc các trường đầu ngành về thuỷ sản giảng dậy và cấp phép
1.7 Những chủ trương, chính sách, định hướng phát triển nghề cá của địa
phương
1.7.1 Nội dung chiến lược phát triển nghề cá của địa phương đến năm 2010:
cơ sở bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
Mục tiêu:
Ưu tiên phát triển nghề khai thác xa bờ, giảm dần số lượng tàu nhỏ khai thác ven bờ đảm bảo hài hoà giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Bên cạnh đó phải chuyển đổi nghề nghiệp đối với ngư dân ven biển bị dư thừa để nâng cao mức sống cho ngư dân
Biện pháp triển khai:
Thống kê lại số lượng tàu thuyền, quản lý tốt việc cấp phép hoạt động cho tàu
cá, giảm cường lực khai thác gần bờ, phát triển khai thác xa bờ
Phát triển và quản lý có hiệu quả các khu bảo tồn dựa vào cộng đồng, phối hợp với các lực lượng Hải Quân, Biên phòng triển khai tốt công tác cứu hộ cho ngư dân khi gặp sự cố trên biển
Mục tiêu:
Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Biện pháp triển khai:
Đầu tư, xây dựng và quản lý tốt các bến cá, chợ cá, mở rộng hình thức ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm giữa các đơn vị khai thác và tiêu thụ, hình thành hệ thống chợ cá bán đấu giá
Thành lập các tổ để hỗ trợ giúp đỡ nhau trong quá trình khai thác và tiêu thụ sản phẩm, tăng cường công tác thông tin thị trường, phát triển các hình thức liên kết liên doanh
Trang 17c) Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nghề khai thác thuỷ sản
Mục tiêu:
Đào tạo tốt nguồn nhân lực bao gồm đội ngũ quản lý, kỹ thuật, đội ngũ công nhân và nâng cao trình độ cho ngư dân
Biện pháp triển khai:
Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý có chuyên môn sâu để theo được yêu cầu ngày càng cao của khoa học kỹ thuật hiện đại
Đào tạo lực lượng thuyền trưởng, thuyền viên có đủ kiến thức để làm chủ được các trang thiết bị, máy móc trang bị trên tàu
Tăng cường công tác khuyến ngư, mở rộng sự hợp tác với nước ngoài để tranh thủ về vốn và khoa học kỹ thuật
Mục tiêu:
Ứng dụng có hiệu quả các thành tựu của khoa học, kỹ thuật vào nghề cá của địa phương một cách phù hợp nhất
Biện pháp triển khai:
Phối hợp với các trường viện nghiên cứu để thực hiện các đề tài có liên quan đến trữ lượng, nguồn lợi từ đó có chính sách điều chỉnh cơ cấu, cường lực khai thác phù hợp với nguồn lợi của địa phương
Tăng cường du nhập những nghề khai thác thuỷ sản tiến bộ, khai thác có chọn lọc nhằm tăng hiệu quả khai thác và giảm cường độ lao động và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
Ứng dụng công nghệ vật liệu mới để tạo các rạn nhân tạo thu hút các loài đến sinh sản, triển khai tốt các công tác khuyến ngư
1.7.2 Định hướng phát triển khai thác thuỷ sản đến năm 2020:
Chấm dứt tình trạng khai thác thuỷ sản bằng các nghề mang tính huỷ diệt nguồn lợi và môi trường sống như mìn, xung điện, lưới kéo đáy gần bờ…Quản lý tốt các khu bảo tồn, cấm khai thác nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
Có giải pháp hạn chế đóng tàu cá công suất nhỏ hơn 90cv, khuyến khích đầu
tư đóng mới tàu vỏ thép, composite công suất trên 150cv Bảo vệ và mở rộng diện
Trang 18tích các hệ sinh thái quan trọng, nâng cao ý thức cộng đồng để mọi người đều chấp hành tốt các luật về thuỷ sản
1.8 Tổng quan nghề câu cá ngừ đại dương tỉnh Khánh Hoà
1.8.1 Quá trình phát triển
km đường bờ ven đảo với hơn 100 đảo lớn nhỏ là vị thế thuận lợi cho nghề cá phát triển Ngư dân Khánh Hoà có tinh thần cần cù, chịu khó học hỏi kinh nghiệm và kỹ thuật tiên tiến của các nước có nghề cá phát triển trên thế giới Lại được quản lý, khai thác quần đảo Trường Sa là điều kiện quan trọng để nghề cá của tỉnh nói chung
và nghề câu cá ngừ đại dương nói riêng vươn ra làm chủ biển khơi Năm 1995 Khánh Hoà du nhập và phát triển nghề câu cá ngừ đại dương, đi đầu trong lĩnh vực này là công ty TNHH Trúc An đã bỏ toàn bộ chi phí để 02 tàu câu thử nghiệm Năm
1996 khi 02 tàu câu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, ngư dân đã phổ biến kinh nghiệm cho nhau và học tập thêm của ngư dân Phú Yên sau đó mua sắm ngư lưới
cụ đóng mới tàu thuyền hoặc cải hoán lại tàu để tham gia nghề câu cá ngừ Năm
2006 Khánh Hoà đã có trên 300 tàu làm nghề câu cá ngừ với đối tượng đánh bắt chủ yếu là cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to
1.8.2 Tổ chức đánh bắt
Nghề câu cá ngừ đại dương ở Khánh Hoà chủ yếu tập ở phường Vĩnh Phước, Vĩnh Thọ, Hòn Rớ - Phước Đồng và nhiều nhất ở phường Xương Huân còn các địa phương khác số lượng tàu làm nghề này không đáng kể Các tàu thường đi thành đoàn khoảng 5 đến 7 chiếc để hỗ trợ nhau khi gặp sự cố, cùng nhau đánh bắt trên một ngư trường, cùng nhau chia sẻ những thông tin về giá cả…
Mùa vụ khai thác: Đầu năm tàu khai thác ở gần quần đảo Hoàng Sa (từ
12000’N đến 17000’N và 110000’E đến 117000’E), tháng 7 tháng 8 khai thác ở bãi Tư Chính và phía tây nam quần đảo Trường Sa (từ 6000’N đến 11000’N và 110000’E đến 115000’E)
Tàu khai thác chủ yếu là tàu vỏ gỗ, công suất nhỏ từ 45cv đến 400cv, hoạt động khai thác xa bờ tàu đi dài ngày trên biển Tàu được trang bị các máy định vị, máy bộ đàm tầm gần và tầm xa để liên lạc về đất liền
Trang 19Kỹ thuật khai thác: Số lượng lưỡi câu trên mỗi vàng câu từ 800 đến 1600 lưỡi, chiều dài dây chiên từ 40 đến 60 km, chiều dài thẻo câu khoảng 25m, khoảng cách giữa hai thẻo câu là 50m, mồi để câu là cá chuồn hoặc mực xà
Kỹ thuật xử lý, bảo quản sản phẩm trên tàu: Cá được kéo lên tàu dùng vật nặng hoặc đinh nhọn đóng xuyên não để cá chết ngay Lấy mang cá, lấy nội tạng và rửa sạch cá bằng nước biển sau đó cho nước đá xay vào bụng, hốc mang để vào hầm lạnh bảo quản
1.8.3 Tổ chức thu mua cá ngừ đại dương
Thu mua cá ngừ với giá cao để ngư dân có lời là điều quyết định đến sự tồn tại của nghề, hiện nay ở Khánh Hoà có 7 công ty chuyên thu mua, chế biến cá ngừ
là Công ty TNHH Trúc An, Tiến Thịnh, Hải Vương, Hoàng Hải, Thịnh Hưng, Đại Dương và công ty cổ phần F17 Khi tàu về bến thì những người thu mua ra tận bến
để kiểm tra chất lượng cá ngừ sau đó trả giá Cá to, còn tươi thì giá khoảng
60000-110000 đồng/kg, cá nhỏ hoặc chất lượng thấp thì giá là 30000-40000 đồng/kg
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Đã có nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng tàu thuyền, trang thiết bị khai thác trên tàu cá nói chung Trong suốt thời gian thực tập tôi đã bỏ rất nhiều công sức để tìm kiếm những tài liệu nói về thực trạng tàu thuyền, trang bị động lực, thiết bị tàu, trang bị cứu thủng trên tàu câu cá ngừ để tham khảo Nhưng Tôi không tìm thấy bất kỳ một tài liệu nào, có thể Tôi không tìm thấy giữa kho tàng kiến thức vô hạn hoặc cũng có thể không có, sau đây là những tài liệu có liên quan đến đề tài mà tôi đã tham khảo được
Kết quả nghiên cứu một vài tiêu chuẩn an toàn hàng hải của tàu thuyền nghề
cá Việt Nam của Th.s Phan Trọng Huyến Khoa Khai Thác (tập san KHCN thuỷ sản
số 02/1999) Vấn đề đặt ra trong bài báo là tàu thuyền cỡ lớn đều có các phương pháp để trang bị đáp ứng các yêu cầu của tàu như diện tích bánh lái bao nhiêu là vừa, trọng lượng neo bao nhiêu là đủ lực giữ, đường kính lĩn neo bao nhiêu là đủ độ bền…thì tàu thuyền nghề cá Việt Nam chưa có Vì vậy mục tiêu của đề tài là nhằm xác định được các hệ số về cấu trúc vỏ tàu, trang bị neo lái, định mức trang bị cứu sinh, cứu hoả, cứu thủng…phù hợp với: Cỡ tàu, nghề, phong tục tập quán của địa
Trang 20phương, trình độ của ngư dân…Từ đó tác giả đi nghiên cứu các hệ số từ K1 đến K7, kết quả tính toán được là các hệ số theo từng địa phương khác nhau thì khác nhau Đánh giá quy mô nghề câu vàng và nghề lưới rê khai thác cá ngừ tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà của Th.s Trần Đức Lượng Khoa Khai Thác (tạp chí KHCN thuỷ sản số 02/2005) Ở đây tác giả lại so sánh hai nghề lưới rê và câu vàng
về độ mạnh nghề, cường lực, hiệu quả nghề thông qua việc xác định khối nước tác dụng
Hiện trạng công nghệ khai thác hải sản ở khu vực quần đảo Trường Sa của Nguyễn Phi Toàn viện nghiên cứu hải sản (tạp chí thuỷ sản số 01/2007) Bằng việc thống kê những thông số, kích thước cơ bản của vỏ tàu và thiết bị trên tàu làm nghề câu ở khu vực đảo Trường Sa, thống kê hiệu quả khai thác tác giả đã phản ánh hiên trạng tàu câu ở đây
Nghề câu cá ngừ đại dương ở Khánh Hoà những vấn đề cần quan tâm của Nguyễn Ngọc Việt trung tâm Khuyến ngư Khánh Hoà (khoa học CN & MT số 5/2006) Tác giả nêu ra quá trình hình thành và phát triển, thực trạng tàu thuyền, ngư trường và mùa vụ khai thác, tình hình tổ chức thu mua cá ngừ đại dương ở Khánh Hoà Từ mỗi vấn đề thấy được khó khăn và tác giả đề xuất ý kiến nhằm khắc phục khó khăn để nghề cá ngừ của tỉnh phát triển
Một số vấn đề khoa học - thực tiễn đảm bảo an toàn đi biển cho tàu đánh cá của PGS.TS Nguyễn Quang Minh khoa cơ khí đại học Thuỷ Sản (tạp chí KHCN thuỷ sản số đặc biệt 2004) Công trình của tác giả nghiên về việc thiết kế một con tàu hay giải quyết các bài toán để đảm bảo các thông số để con tàu không bị lật, chìm
nói về quá trình hình thành và phát triển nghề câu cá ngừ đại dương ở Khánh Hoà,
về thực trạng tàu thuyền, kỹ thuật khai thác, ngư trường và mùa vụ khai thác, tổ chức thu mua cá ngừ…
Bàn về công tác đảm bảo an toàn cho người và tàu cá của Đặng Quang Huy Cục KT và BVNLTS (tạp chí thuỷ sản số 4/2007) Tác giả nhấn mạnh vào việc quản lý không chặt chẽ tàu thuyền khai thác để nhiều con tàu hoạt động không đúng
Trang 21vùng hạn chế của các cơ quan chức năng Hậu quả của việc quản lý không đến nơi đến chốn nên nhiều tàu đã bị thiệt hại sau trận bão Chanchu
Nghề câu cá ngừ đại dương của Th.s Lê Xuân Tài (tập san KHCN thuỷ sản số 01/99), tác giả đề cập đến tình hình phát triển nghề câu cá ngừ đại dương trên thế giới, giới thiệu các loài cá ngừ là đối tượng chính của nghề câu Sau đó tác giả đề cập đến tình hình nghề khai thác cá ngừ ở nước ta về ngư trường, thực trạng tàu thuyền, tình hình thu mua
Tổng kết nghề câu cá ngừ đại dương của Bộ thuỷ sản, cuốn sách trình bày khá chi tiết và đầy đủ về nghề câu cá ngừ đại dương của cả nước và trên thế giới
Đồ án của Trần Văn Vinh với đề tài “Xây dựng mô hình tổ chức sản xuất đội tàu trên biển cho nghề câu cá ngừ đại dương tại Bình Định”
Đồ án tốt nghiệp của Bùi Văn Trinh với đề tài “điều tra thực trạng tàu thuyền, trang thiết bị cứu sinh, cứu hỏa, cứu thủng trên tàu thuyền làm nghề lưới vây tỉnh Quảng Ngãi”
Và rất nhiều các đồ án của khoá trước như của sinh viên Nguyễn Ngọc Nguyện, Bùi Ngọc Dương…Nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về hiện trạng tàu thuyền nghề cá ứng với mỗi dải công suất thì chiều dài, chiều rộng, trọng tải bao nhiêu, vách ngăn như thế nào là phù hợp, trang bị bao nhiêu neo, dây neo như thế nào là đảm bảo đủ độ bền, diên tích bánh lái như thế nào là đảm bảo an toàn…
3 CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ TÀU THUYỀN; MÁY ĐỘNG LỰC; THIẾT BỊ TÀU, TRANG BỊ CỨU THỦNG CHO TÀU THUYỀN NGHỀ CÁ 3.1 Các văn bản quy định của trung ương và địa phương
an toàn cho người và tàu trong hoạt động thuỷ sản Đây là văn bản mới nhất và đang
có hiệu lực bắt buộc các tàu thuyền hoạt động thuỷ sản phải thực hiện
bị an toàn hàng hải của Chi cục bảo vệ nguồn lơi thuỷ sản Khánh Hoà:
Trang 22Thực hiện các quy định đảm bảo an toàn ngay từ khâu đóng tàu phải kiểm tra
từ bản vẽ, vật liệu, khung xương ván đáy… sau khi đóng xong phải chạy thử tàu, kiểm tra việc trang bị cứu sinh, cứu hoả, cứu thủng…
ngành nghề thủy sản
tàu cá và thuyền viên
bị an toàn hàng hải của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa
nguồn lợi thủy sản…
3.2 Áp dụng cho đề tài về tàu thuyền; máy động lực; thiết bị tàu, trang bị cứu thủng cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45-90cv
Đối với tàu cá công suất từ 45-90cv để đảm bảo đúng quy định hiện hành thì phải trang bị như sau:
3.2.1 Định mức trang bị hút khô phải phù hợp với yêu cầu:
Bơm nước truyền động từ máy chính: tàu có chiều dài > 15m 01 chiếc
Bơm nước (bơm piston hay bơm phụt) 01 cho các loại tàu
Trang 23Cát vàng (kg) 50 20
3.2.2 Vật liệu làm tàu đảm bảo đúng quy định hiện hành như sau:
Vỏ tàu được dùng các loại gỗ sau:
Nhóm II: Lim xanh, kiền kiền, táu mật, sến mật, sến đắng, xoay
Nhóm III: Xăng lẻ, chò chỉ, huỳnh, trường mật, chua khét, trường chua, cà ổi xanh
Nhóm IV: Rẻ hương, re rừng, gội nếp, re mít, re vàng, săng, kháo mật
Nhóm V: Tràm tím, tràm xanh, tràm sung, sồi đá, kền giá rai, vải thiều, lim xẹt, hoàng linh đá
Nhóm VI: Sú tím, cồng tím, cồng chim, gội tẻ, vàng kiêng, lõi thọ, xe xanh,
de đỏ, de đề xi, chẹo tía, sang, nhội, sồi vàng mép, thôi da, thôi chanh, phay sừng, chò nếp, ràng mật, ràng da
Khung: dùng gỗ nhóm II, III và IV
Các bộ phận khác: Ván sàn, cabin, la canh, dùng nhóm VI, VII, V
4 TỔNG QUAN VỀ TÀU THUYỀN; MÁY ĐỘNG LỰC; THIẾT BỊ TÀU, TRANG BỊ CỨU THỦNG TRÊN CÁC TÀU THUYỀN NGHỀ CÁ VIỆT NAM
Ngành thuỷ sản đang là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước, số lượng tàu thuyền trong ngành thuỷ sản mỗi lúc một tăng trong đó số lượng tàu đóng mới, công suất lớn ngày càng nhiều Cụ thể năm 2005 cả nước có 96099 tàu thuyền nghề cá tổng công suất trên 1000000cv, với hơn 75000 phương tiện gắn máy với công suất bình quân khoảng 49cv/tàu trong đó có khoảng hơn 8000 tàu có khả năng đánh bắt xa bờ
Bảng 1.5: Số lượng tàu thuyền nghề cá Việt Nam theo công suất năm 2005:
(cv)
Số lượng tàu cá (chiếc)
Trang 25
42
23 21
Lmax = (8-<12) Lmax = (12-<15) Lmax = (15-<20) Lmax= (=<20)
Hình 1.4: Biểu đồ số lượng tàu cá Việt Nam theo chiều dài tàu năm 2005 Tàu cá hiện tại của cả nước vẫn thuộc dạng nhỏ, đa dạng về chủng loại nghề,
cơ cấu tàu thuyền tuy có chuyển biến tích cực trong những năm gần đây song số lượng tàu nhỏ dưới 20cv vẫn chiếm tỷ trọng cao 59%, đặc biệt là các tỉnh khu vực Vịnh Bắc Bộ (65,17%) Loại tàu lớn hơn 300cv chỉ chiếm tỷ trọng 1.8%, tập chung nhiều ở các tỉnh thuộc khu vực Đông, Tây Nam Bộ Số lượng tàu thuyền hoạt động
ở khu vực ven bờ chiếm hơn 51%, vùng lộng chiếm 35% và vùng xa bờ chiếm 13.6% Tàu cá có chiều dài <15m chiếm nhiều nhất 86%, chứng tỏ những tàu cá này không đủ năng lực đánh bắt xa bờ và nguồn lợi ven bờ đang bi đe dọa nghiêm trọng Chỉ có 14% tàu cá có chiều dài từ 15-20m, việc đóng tàu có chiều dài lớn cần phải được đầu từ để nghề khai thác xa bờ ngày một phát triển
Tàu cá nằm rải rác tại các cửa lạch, bãi ngang, các tuyến đảo, chủ yếu là các bến đậu không tập trung vào cảng dọc theo chiều dài đất nước Ngư trường hoạt động của tàu thuyền nghề cá cách bờ khoảng 50 đến 70 km, việc di chuyển địa bàn đánh bắt diễn ra thường xuyên, hàng năm có khoảng 8500 đến 9000 tàu chuyển ngư trường
Các trang bị trên tàu đơn giản, nhất là các trang thiết bị an toàn, ngoài những tàu có công suất lớn đánh bắt xa bờ được đóng lắp trong vài năm gần đây có được những trang bị an toàn tối thiểu theo quy phạm, còn các tàu khác vấn đề trang bị an toàn không được quan tâm Các trang thiết bị vô tuyến điên đã được lắp trên các tàu
cá lớn đủ để liên lạc với các đài duyên hải và các tàu vận tải
Trang 26Máy chính trên các tàu thuyền nghề cá của Việt Nam đều là của nước ngoài
đa số là của Nhật Bản, nhưng các máy này đều là máy cũ đã qua sử dụng và bị loại
ở nước bạn Ngư dân Việt Nam mua về tân trang sửa chữa lại để chất lượng của nó đạt khoảng 80% sau đó lắp xuống tàu mình Đối với tàu cá làm bằng gỗ đóng theo kinh nghiệm dân gian thì chủ yếu trên tàu dùng truyền động dây, bánh lái làm bằng sắt, vô lăng gỗ, dây neo là dây thừng, không trang bị máy phụ
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Nội dung:
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Điều tra hiện trạng tàu thuyền; máy động lực; thiết bị tàu, trang bị cứu thủng cho tàu làm nghề câu cá ngừ đại dương
Phân tích đánh giá tình hình trang bị cứu thủng, vật liệu gỗ được dùng để đóng tàu trên các tàu câu so với quy định hiện hành
Nghiên cứu đưa ra tiêu chí để xây dựng mô hình và đánh giá lựa chọn mô hình về tàu thuyền, máy động lực, thiết bị tàu, trang bị cứu thủng cho tàu câu cá ngừ đại dương
Nghiên cứu một vài sự cố tai nạn
Phân tích các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn do tàu thuyền; máy động lực; thiết bị tàu, trang bị cứu thủng
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng tàu thuyền; máy động lực; thiết bị tàu, trang bị cứu thủng của tàu câu cá ngừ đại dương
2.1.3 Phạm vi nghiên cứu:
Tàu làm nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất từ 45-90cv của phường Vĩnh Phước Tp Nha Trang tỉnh Khánh Hòa
Trang 272.1.4 Thời gian và địa điểm thực hiện:
Thời gian là từ 30/7/2007 đến 10/11/2007
Địa điểm được chọn nghiên cứu là phường Vĩnh Phước Tp Nha Trang tỉnh Khánh Hòa
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp điều tra số liệu:
Để có đầy đủ số liệu, dữ kiện về hiện trạng tàu thuyền; máy động lực; thiết bị tàu, trang bị cứu thủng nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45-90cv của phường Vĩnh Phước Tp Nha Trang tỉnh Khánh Hòa tôi cần phải giải quyết những vấn đề sau:
Thu thập thông tin, tài liệu từ các cơ quan có liên quan và sau đó xuống nhà phỏng vấn ngừ dân làm nghề câu nói chung Số liệu thu nhận được phải có độ tin cậy cao, phản ánh chính xác đầy đủ để từ đó mới có cái nhìn tổng quan về hiện trạng tàu thuyền; máy động lực; thiết bi tàu, trang bị cứu thủng của tàu câu cá ngừ phường Vĩnh Phước Từ thực trạng đó phân tích để thấy được những mặt được và mặt yếu kém để đưa ra các biện pháp an toàn cho tàu, có phương hướng khắc phục
để phát triển nghề câu cá ngừ
Số liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu được lấy từ hai nguồn:
Nguồn thứ cấp: Thu thập số liệu theo báo cáo tổng hợp của cơ quan quản lý nghề cá qua các năm như Hội nghề cá phường Vĩnh Phước, Chi cục khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Sở thuỷ sản Khánh Hoà, Công ty Bảo Việt
Nguồn sơ cấp: Xác định số liệu theo điều tra phỏng vấn bằng cách hỏi chủ tàu, thuyền trưởng, lên tàu quan sát, hỏi những người thợ làm tàu trong khu đóng tàu Song Thuỷ
2.2.2 Cách thu thập số liệu
Thông qua chủ tich UBND phường Vĩnh Phước để xin giới thiệu thực tập và thông qua chủ tịch hội nông dân phường hướng dẫn giới thiệu đến các hộ gia đình làm nghề câu công suất từ 45cv đến 90cv
Thông qua phòng Hành chính của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản để liên hệ thực tập, lấy danh sách các hộ làm nghề câu phường Vĩnh Phước
Trang 28công suất từ 45cv đến 90cv, lấy số liệu để phục vụ cho công tác điều tra và viết đồ
sẽ xẩy ra trên tàu câu cá ngừ
Thông qua các công nhân trong khu đóng và sửa chữa tàu Song Thuỷ để biết được họ thường sửa chữa những gì, thường đóng tàu bằng vật liệu gì để từ đó tham khảo làm đồ án
Đến nhà ngư dân làm nghề câu nói chung để phỏng vấn chủ tàu, thuyền trưởng, thuyền viên theo mẫu câu hỏi của phiếu điều tra từ đó có được số liệu khách quan đáng tin cậy nhất Lên tàu chụp hình, hỏi chủ tàu, thuyền trưởng về kết cấu tàu, vách ngăn của tàu, hỏi về những rủi ro tàu gặp phải…số liệu thu thập được giúp cho đồ án mang tính xác thực, chính xác nhất
Phần mền Autocad để vẽ các hình chiếu tàu thuyền, vàng câu, neo
Trên cơ sở đó tôi tiến hành phân tích và đánh giá kết quả, dùng vào phần mềm Excel và Word để tiến hành xử lý số liệu trên
2.3 XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐỂ LỰA CHỌN MÔ HÌNH
Trang 29chống chìm, tính chống lật tàu, hệ số cấu trúc vỏ tàu câu cá ngừ đại dương phải nằm trong khoảng các hệ số về vỏ tàu cá cỡ nhỏ của tỉnh Khánh Hòa Vật liệu làm tàu đúng theo quy đinh hiện hành để đảm bảo tuổi thọ tàu cao, chất lượng tàu tốt để con tàu được an toàn trong quá trình hoạt động đánh bắt
Tính chống lật: lý thuyết tàu chỉ rõ rằng mỗi khi tàu bị nghiêng khỏi vị trí cân bằng bởi một momen nghiêng nào đó (Mng), bên trong nó luôn xuất hiện một
vậy tàu phải được thiết kế với các thông số phù hợp công thức:
Mθ = D*lθ (2.1) Trong đó: D là trọng lượng chiếm nước, lθ là tay đòn của momen hồi phục
Tính chống chìm: để đảm bảo cho tàu không bị chìm thì con tàu được thiết
kế với các thông số phải thỏa mãn công thức:
Mng < Mgh (2.2) Trong đó Mng là momen ngoại lực đặt vào làm nghiêng tàu, Mgh là momen giới hạn - momen lớn nhất mà tàu có thể chống lại được để tàu không bị lật chìm
Độ ổn định tàu phải thỏa mãn công thức:
- H là chiều cao mạn tàu (m)
Các công thức 2.1, 2.2 và 2.3 được lấy trong tài liệu của PGS.TS Nguyễn Quang Minh (Khoa cơ khí - ĐH Thủy Sản)
Hệ số về cấu trúc vỏ tàu của từng nghề nói chung ít thay đổi theo công suất, được lựa chọn cho từng nghề cá ở địa phương Tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương cỡ nhỏ có các hệ số được thiết kế phải phù hợp với các hệ số tàu cá cỡ nhỏ (K1-K4) của tỉnh Khánh Hòa:
Bảng 2.1: Các hệ số tàu cá cỡ nhỏ tỉnh Khánh Hòa Đại
lượng
Lưới kéo
33cv
lưới kéo 45cv
Lưới kéo 56cv
Lưới kéo 74cv
Lưới kéo 100cv
Lưới rê 45cv
Lưới vây 33cv
Trang 30L: là chiều dài thiết kế của tàu (m);
B: là chiều rộng thiết kế tàu (m);
T: mớn nước thiết kế tàu (m);
Vỏ tàu được dùng các loại gỗ sau:
Nhóm II: Lim xanh, kiền kiền, táu mật, sến mật, sến đắng, xoay
Nhóm III: Xăng lẻ, chò chỉ, huỳnh, trường mật, chua khét, trường chua, cà ổi xanh
Nhóm IV: Rẻ hương, re rừng, gội nếp, re mít, re vàng, săng, kháo mật
Nhóm V: Tràm tím, tràm xanh, tràm sung, sồi đá, kền giá rai, vải thiều, lim xẹt, hoàng linh đá
Trang 31Nhóm VI: Sú tím, cồng tím, cồng chim, gội tẻ, vàng kiêng, lõi thọ, xe xanh,
de đỏ, de đề xi, chẹo tía, sang, nhội, sồi vàng mép, thôi da, thôi chanh, phay sừng, chò nếp, ràng mật, ràng da
Khung: dùng gỗ nhóm II, III và IV
Các bộ phận khác: Ván sàn, cabin, la canh, dùng nhóm VI, VII và một số nhóm V
Máy động lực: máy chính phải đạt các tiêu chí là tốt, bền và rẻ vì vậy máy chính phải có mức tiêu hoa nhiên liệu định mức phù hợp theo công thức:
Gn= gen * Nen (kg/h) (2.8) Trong đó:
gen là suất tiêu hao nhiên liệu định mức (g/MLh)
Nen là công suất định mức của động cơ (ML)
Giá thành của máy chính phải phù hợp với điều kiện kinh tế của ngư dân
Để tàu câu cá ngừ hoạt động khai thác xa bờ thì công suất của máy chính phải
từ 90cv trở lên [trang 57, sổ tay an toàn cho người và tàu cá]
Thiết bị tàu: để lựa chọn neo có trọng lượng đủ lực giữ, lĩn neo có đường kính đủ độ bền, bánh lái có diện tích phù hợp cho tàu câu cá ngừ đại dương đảm bảo
an toàn thì hệ số của neo, lĩn neo và bánh lái phải nằm trong khoảng các hệ số K5
Lưới kéo 56cv
Lưới kéo 74cv
Lưới kéo 100cv
Lưới rê 45cv
Lưới vây 33cv
(2.9)
Trang 32Trong đó: P là trọng lượng neo (kg); a là số mũ được xác định bằng 2/3;
D là trọng lượng nước chiếm chỗ của tàu
Định mức để trang bị diện tích bánh lái phù hợp với tàu theo công thức:
Trong đó: S là diện tích bánh lái (m2)
K là hệ số
L, T chiều dài và mớn nước tàu (m)
Trang bị cứu thủng thì tàu phải trang bị các dụng cụ cứu thủng theo quy định hiện hành tiêu chuẩn ngành 28TCN 91-90:
Bơm nước truyền động từ máy chính: tàu có L>15 01 chiếc
Bơm nước (bơm piston hoặc bơm phụt) 01 cho các loại tàu
Bảng 2.3: Trang bị cứu thủng theo quy đinh 28TCN91-90
Chiều dài tàu Tên gọi
Trang 33Bảng 2.4: Thống kê chiều dài 03 tàu câu cá ngừ đại dương
Bảng 2.5: Thống kê vật liệu đóng tàu, tuổi thọ tàu của tàu câu cá ngừ
Bảng 2.6: Thống kê trọng tải tàu, số hầm cá trên tàu câu cá ngừ đại dương
cá ngừ đại dương dùng nước đá xay
Nhận xét: trong suốt quá trình hoạt động trung bình 15.5 năm, 03 tàu câu cá
ngừ đại dương chưa gặp phải sự cố gì về tàu thuyền mà gây nguy hiểm cho người,
Trang 34cho tàu và cho quá trình khai thác Vì vậy có thể coi 03 tàu trên có độ ổn định, tính chống chìm, tính chống lật và các hệ số tàu phù hợp đảm bảo an toàn
Máy động lực:
Bảng 2.7: Thống kê trang bị máy chính trên tàu câu cá ngừ
Nhận xét: Để phù hợp với điều kiện kinh tế của ngư dân thì máy chính được
mua lại với chất lượng sử dụng khoảng 80-90%, công suất máy chính 90cv để đảm bảo điều kiện đánh bắt xa bờ, hãng sản xuất của máy chính là Yanmar
Trang 35Bảng 2.9: Thống kê trang bị bánh lái trên tàu câu cá ngừ
Xem bảng 2.9 thấy có 02 tàu trang bị bánh lái sắt chiếm 67% với trọng lượng
22 và 55 kg, 01 tàu trang bị bánh lái Inox chiếm 33% với trọng lượng 80kg
Bảng 2.10: Thống kê trang bị lĩn neo trên tàu câu cá ngừ
Xem bảng 2.11 thấy có 02 tàu trang bị vô lăng gỗ chiếm 67%, 01 tàu trang bị
vô lăng Inox chiếm 33% với đường kính của các vô lăng trên là 60cm 100% tàu câu cá ngừ sử dụng truyền động dây để vừa giảm chi phí cho tàu mà không làm giảm hiệu suất của tàu
Nhận xét: Trong suốt thời gian hoạt động các tàu câu cá ngừ đại dương điều
tra chưa gặp phải sự cố gì về thiết bị tàu gây nguy hiểm cho người, tàu và làm gián
Trang 36đoạn quá trình khai thác Vì vậy có thể coi neo có hệ số phù hợp với tàu cá cỡ nhỏ trong tỉnh, định mức trang bị neo đảm bảo an toàn Bánh lái của 03 tàu trên được trang bị có diện tích phù hợp với tàu và với nghề
Trang bị cứu thủng:
Bảng 2.12: Thống kê trang bị máy bơm cứu thủng
(cái)
Bơm điện (cái)
Bơm cọ (cái)
Bơm ray (cái)
Bảng 2.13: Thống kê các dụng cụ cứu thủng khác
Xô, gàu (cái)
Cát (kg)
Xi măng (kg)
Sỏi (kg)
Giẻ rách (kg)
Nêm, chốt
gỗ (cây)
Bạt chống thủng (cái)
Trang 37Nhận xét: Trang bị cứu thủng trên tàu câu cá ngừ nhóm công suất 45-90cv
của phường Vĩnh Phước chưa đảm bảo đúng quy định hiện hành tiêu chuẩn ngành 28TCN91-90
2.3.2 Lựa chọn MÔ HÌNH
2.3.2.1 Đặt vấn đề
MÔ HÌNH được hiểu là phải hiện đại tức phải hoạt động an toàn trong mùa
vụ khai thác và ở ngư trường xuất hiện cá ngừ đại dương trong vùng biển Việt Nam Tàu thuyền; máy động lực; thiết bị tàu phải đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, trang bị cứu thủng phải đầy đủ theo quy định và phải phát huy hiệu quả trong những trường hợp cần thiết Chất lượng tàu đảm bảo tuổi thọ không dưới
15 năm
Tính phù hợp của MÔ HÌNH được hiểu là hình dáng, kích thước, cách bố trí con tàu phù hợp với thói quen làm việc và sinh hoạt của ngư dân, giá thành tàu phù hợp với khả năng tài chính của ngư dân
Trong khả năng và phạm vi nghiên cứu đề tài, tôi không tính toán được tính
ổn định, tính chống chìm, tính chống lật, cũng như chọn được các hệ số tàu phù hợp với tàu câu cá ngừ nhóm công suất 45-90cv của phường Vĩnh Phước, cho tàu câu cá ngừ được chọn làm MÔ HÌNH Giả thiết tàu MÔ HÌNH tôi lựa chọn có các hệ số đảm bảo các tính năng hàng hải để con tàu hoạt động an toàn mà các nhà thiết kế và đóng tàu đã tính toán
Trên hai cơ sở lý thuyết và thực tế để xây dựng tiêu chí, tôi đã lựa chọn MÔ HÌNH mà tôi cho rằng đây là mẫu tàu câu cá ngừ đại dương tốt nhất cho nhóm công suất 45-90cv phường Vĩnh Phước
2.3.2.2 Lựa chọn MÔ HÌNH
Tàu thuyền: Phương pháp đóng tàu theo kinh nghiệm dân gian và phù hợp với quy phạm đóng tàu gỗ Việt Nam
Kích thước tàu Lmax = 15.2m; Bmax = 3.7m; Dmax = 1.4m;
Vật liệu đóng tàu là vỏ, gỗ bằng lăng hoặc gỗ sao, tuổi thọ không dưới 15 năm
Trang 38Tàu được thiết kế theo mẫu dân gian, được bố trí hợp lý thuận lợi cho điều kiện sinh hoạt và làm việc của thủy thủ Tàu có một boong chính, thao tác một bên mạn Hầm chứa cá được bố trí từ giữa đến mũi tàu, buồng máy bố trí phía sau
Trọng tải 15.2 tấn, với 04 hầm cá và phương pháp bảo quản cá bằng nước đá xay trong hầm bảo quản Tuy nhiên để lượng nhiệt ít bị tiêu hao giúp cá tươi lâu hơn thì ván lót hầm làm dầy t = 30mm, rồi đến pulyurethan Để tránh xây xước cá, mặt trong của hầm làm bằng vật liệu composite có chiều dầy t = 5mm Hệ thống làm lạnh đảm bảo sao cho độ lạnh giao động từ -0.50C đến 0.50C
Máy động lực
Để tàu câu cá ngừ đại dương có thể hoạt động đánh bắt xa bờ theo quy định thì máy chính phải có công suất 90cv, hiệu máy Yanmar của Nhật Bản sản xuất, được mua cũ những chất lượng sử dụng phải đạt từ 80% trở lên
Máy chính có lượng tiêu hao nhiên liệu định mức theo công thức (II.8)
Thiết bị tàu
Tàu trang bị 02 neo hải quân có trọng lượng 60kg/cái
Bánh lái có vật liệu được làm bằng Inox để không bị oxy hóa với trọng lượng khoảng 80kg
Dây lĩn neo có đường kính là 30mm do Thái Lan sản xuất để đảm bảo độ bền
và chất lượng cao
Vô lăng Inox có đường kính 60cm
Sử dụng truyền động dây để giảm bớt chi phí đầu tư cho thiết bị mà không làm giảm nhiều hiệu suất hoạt động của tàu, có thể sử dụng hệ thống lái truyền động
cơ khí bằng xích hoặc cáp mền
Trên tàu câu cá ngừ đại dương trang bị 03 neo nổi
Trang bị cứu thủng đảm bảo theo quy định hiện hành tiêu chuẩn ngành
28TCN91-90
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 THỐNG KÊ TÀU THUYỀN NGHỀ CÂU
Theo danh sách xin trên Chi cục khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thì nhóm tàu công suất từ 45-90cv làm nghề câu phường Vĩnh Phước có 25 tàu, trong đó:
Bảng 3.1: Thống kê số lượng tàu câu theo nghề
Nhận xét: Xem số liệu thống kê bảng 3.1 nhận thấy phường Vĩnh Phước có
03 tàu làm nghề câu cá ngừ đại dương chiếm 12%, trong đó có 01 tàu thời gian phỏng vấn đang làm nghề câu cá ngừ đại dương đến thời gian xin chụp hình thì đang trên đà sửa chữa để đổi nghề Có 01 tàu chiếm 4%, đã từng làm nghề câu cá ngừ đại dương nhưng do làm ăn thua lỗ nên chủ tàu đã bán tàu Có 10 tàu chiếm 40% làm nghề câu mực, đa số các tàu trong giải công suất 45-90cv không có đủ năng lực đánh bắt xa bờ nên đều làm nghề câu mực và 11 tàu chiếm 44% đăng ký sai nghề
3.2 LÝ DO TÀU CÂU CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG BỎ NGHỀ
Qua điều tra hiện trạng tàu làm nghề câu nói chung và nghề câu cá ngừ đại dương nói riêng, cho thấy một thực tế là tàu có dải công suất từ 45-90cv không làm nghề câu cá ngừ nhiều mà chủ yếu làm câu mực Thời điểm lấy số liệu thì tàu KH0153TS của ông Nguyễn Minh, vẫn đang hoạt động nghề khai thác cá ngừ, nhưng thời điểm xin chụp hình thì tàu này đang trên đà sửa chữa để đổi nghề Tàu KH4239BTS của ông Nguyễn Thanh Hùng do câu cá ngừ thua lỗ nên cũng bỏ nghề Như vậy ở phường Vĩnh Phước chỉ còn hai tàu hiện nay đang làm nghề câu cá ngừ đại dương là KH6279TS và KH92575TS
Các tàu không làm nghề câu cá ngừ có nhiều lý do như sau:
Trang 40Nguyên nhân sâu xa và chủ yếu nhất là giá xăng dầu tăng quá nhanh, tính từ năm 2003 đến nay các tàu đánh cá của nước ta đã trải qua 8 lần tăng giá xăng dầu Riêng năm 2005 cả nước đã trải qua 4 đợt tăng giá xăng dầu, kéo giá dầu diezen từ 4.800 đồng/lít (03/2005) lên 5.500 đồng/lít (05/2005) và 6.500 đồng/lít (07/2005), sau đó giá dầu lại tiếp lên vào 08/2005 là 7.500 đồng/lít Trước sự biến động của thị trường giá dầu thế giới tăng cao, Bộ thương mại lại quyết định tăng giá dầu diezen lên thêm 400 đồng/lít và giá dầu là 7.900 đồng/lít Qua hàng loạt biến động kháchiện nay giá dầu diezen là 8.950 đồng/lít.Tàu KH0153TS năm 2006 trang bị cho mỗi chuyến đi biển 3000 lít dầu với chi phí hết khoảng 23.700.000 đồng, thì bây giờ cũng với 3000 lít dầu chi phí hết khoảng 26.850.000 đồng Không chỉ có giá dầu tăng mà giá đá dùng để ướp cá cũng tăng Năm 2006 giá đá khoảng 9.500 đồng/cây, nhưng năm 2007 lên 11.500 đồng/cây Tàu KH0153TS mua đá trang bị cho chuyến
đi biển khoảng 250 cây, năm ngoái chi phí hết khoảng 2.400.000 đồng thì năm nay hết khoảng 2.900.000 đồng Giá xăng dầu lên kéo theo mọi mặt phục vụ đời sống sinh hoạt cũng tăng lên Tiền mua lương thực, thực phẩm, thuốc men dự trữ trên tàu cũng tăng, tiền trả công cho thuỷ thủ cũng tăng Trong bối cảnh hiện nay tàu thì nhiều mà cá thì hiếm, muốn đánh bắt được nhiều cá và cá to thì phải đi xa mà tàu công suất nhỏ không đủ năng lực, đi xa chi phí cho một chuyến biển lại tăng lên Tàu KH0153TS trước kia chi phí cho một chuyến biển hết khoảng 50.000.000 đồng thu về cũng được khoảng 80.000.000 đồng, có lời Nhưng năm nay chi phí hết khoảng 70.000.000 đồng mà thu về 60.000.000 đồng, 2 chuyến bị lỗ nên không có vốn để duy trì sản xuất
Giá cá ngừ không ổn định, giá cá không phải do chủ tàu quyết định mà do người mua quyết định Tâm lý người mua muốn mua rẻ, người bán không thể bán đắt được vì không có thị trường tiêu thụ không bán cho họ thì biết bán cho ai Thế
là chủ tàu lại bị ép giá, cá to và còn tươi thì được giá hơn khoảng 80.000 đồng/kg, còn cá nhỏ hay cá có chất lượng kém chỉ có 30.000 đồng/kg Chủ tàu thường bị tư thương ép giá, chất lượng cá cũng là do họ quyết định, nhiều khi chủ tàu chỉ biết ngậm ngùi thu không đủ bù chi