1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi ôn thi Cơ sở văn hóa Việt Nam

7 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi ôn thi Cơ sở văn hóa Việt Nam
Chuyên ngành Cơ sở văn hóa Việt Nam
Thể loại ôn thi
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 64,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp một số các câu hỏi ôn thi/kiểm tra kèm đáp án cho học phần Cơ sở văn hóa Việt Nam gồm: 1. Tiến trình lịch sử và thành tựu của Văn Lang - Âu lạc 2. Quy luật triết lý âm dương và ảnh hưởng của nó lên tính cách người Việt 3. Phân tích ưu-nhược điểm của tính cách người VN bắt nguồn từ tính Cộng đồng- tính Tự trị 4. Phân tích câu: Một giọt máu đào hơn ao nước lã và Buôn anh em xa mua láng giềng gần của người Việt. 2 câu này có bị mâu thuẫn không ? 5. Nêu đặc trưng cơ bản trong văn hóa giao tiếp của người Việt - Ứng dụng bản thân 6. Đặc trưng văn hóa ẩm thực Việt, cơ cấu bữa ăn của người Việt

Trang 1

Tiến

trình lịch

sử và

thành

tựu của

Văn

Lang -

Âu lạc

Tiến trình lịch sử

Nhà nước Văn Lang xuất hiện cách ngày nay khoảng 2700 năm và tồn tại đến năm

208 TCN; kinh đô là Phong Châu Tổ chức nhà nước còn khá sơ khai

- Tiếp nối Nhà nước Văn Lang là Nhà nước Âu Lạc (208 - 179 TCN); kinh đô ở Cổ

Loa; đứng đầu nhà nước là Thục Phán - An Dương Vương, giúp việc cho vua cũng

là lạc hầu; dưới địa phương vẫn do các lạc tướng cai quản

Thành tựu

Giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc kế tục giai đoạn tiền sử cả về không gian văn

hóa, thời gian văn hóa và thành tựu văn hóa Từ đó suy ra các thành tựu ấy bao gồm:

- Phát triển nông nghiệp lúa nước, có kỹ thuật canh tác phát triển

-Việc trồng dâu nuôi tầm để làm đồ mặc

- Thuần dưỡng một số vật nuôi: trâu, gà…

- Làm nhà sàn để ở và dùng các cây thuốc để chữa bệnh

Thủ công nghiệp:

- Thành tựu văn hóa chủ yếu của giai đoạn Văn Lang-Âu Lạc, chính là nghề

nghiệp kim đồng rất phát triển: đồ đồng Đông Sơn (trống đồng, thạp đòng là những di vật

tiêu biểu nhất cho kỹ thuật này)

- Một số nghề thủ công (chế tác đá, làm gốm, mộc, luyện kim, ) phát triển mạnh

mẽ

Quy luật

triết lý

âm

dương và

ảnh

hưởng

của nó

lên tính

cách

người

Việt

Quy luật của triết lý âm dương

- Quy luật về THÀNH TỐ: Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm

có dương và trong dương có âm (trong cái này có chứa cái kia) Ví dụ: Trong cái nắng tiềm

ẩn cái mưa (nắng khiến hơi nước bốc hơi lên) , trong cái mưa tiềm ẩn cái nắng (mưa xong

mây tan, nắng hửng) Quy luật này cho thấy việc xác định một vật âm hay dương chỉ là

tương đối, trong sự so sánh với một vật khác Từ đây suy ra hai hệ quả phục vụ cho việc

xác định bản chất âm/ dương cảu một đối tượng:

+ Muốn xác định tính chất âm dương của một vật, trước hết phải xác định được đối

tượng so sánh, ví dụ: Nam so với nữ thì mạnh mẽ (dương), nhưng so với hùm beo thì lại

yếu đuối (âm)

+ Để xác định tính chất âm dương của một vật, sau khi xác định được đối tượng so

sánh, còn phải xác định tiêu chí so sánh bởi các tiêu chí khác nhau sẽ cho kết quả khác

nhau, ví dụ: một người nữ so với một người nam xét về giới tính là âm nhưng xét về tính

cách có thể lại là dương

- Quy luật về QUAN HỆ: Âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa

cho nhau: âm cực sinh dương, dương cực sinh âm, ví dụ: Từ chất nước (âm) nếu làm lạnh

đến cùng thì hóa băng, nươc đá (dương)

- Luật HƯỚNG HÒA:nói về tính mức độ trong vận động của vạn vật, cụ thể ở bất kì vị

trí nào, vào bất kì thời điểm nào, trong bất kì tình huống nào, sự vận động của âm dương

luôn hướng vào điểm giữa (trung hòa); hướng vào giữa, nhưng rồi bao giờ cũng đi qua nó,

không bao giờ dừng lại kịp

Ảnh hưởng lên tính cách người Việt:

Trang 2

- Hình thành lối tư duy lưỡng phân lưỡng hợp (nhị nguyên) ở người Việt Nam, cụ

thể khuynh hướng cặp đôi xuất hiện mọi lúc, mọi nơi:

+Trong khi vật tổ của các dân tộc là một loài động vật cụ thể (chim ưng, đại bàng,

chó sói,…) thì vật tổ người Việt là một cặp đôi trừu tượng Tiên- Rồng, bên cạnh đó người

Mường (chim Ây- cái Ứa), người Tày (Báo Luông-Slao Cái),

+ Ở Việt Nam, mọi thứ thường đi đôi từng cặp theo nguyên tắc hài hòa âm

dương: ông Đồng- bà Cốt, đồng Cô- đồng Cậu, ngói lợp nhà khi lợp phải viên ngửa-viên

sấp,…Lối tư duy này khiến người Việt khi nói đến đất/núi liền nghĩ ngay đến nước, nói đến

cha liền nghĩ đến mẹ (Công chha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy

ra)

+ Tổ quốc đối với người Việt là một khối âm dương: Đất Nước, những cặp khái

niệm thường gặp: Đất- Nước, Núi-Nước, Non-Nước,…

+ Ngay cả những khái niệm vay mượn đơn độc, khi vào Việt Nam cũng được

nhân đôi thành cặp, ví dụ: Ở Trung Hoa, thần mai mối là ông Tơ, về nước ta thành ông

Tơ-bà Nguyệt

+ Người Việt xưa thường có thói quen sự dụng hình ảnh cặp Vuông-Tròn làm

biểu tượng âm dương, có vuông có tròn, tức là có âm có dương; nói “vuông tròn” là nói

đến sự hoàn thiện: “mẹ tròn con vuông”

- Hình thành triết lý sống quân bình, trong cuộc sống người Việt cố gắng không làm

mất lòng ai; trong việc ăn ở, gắng giữ sự hài hòa âm dương trong cơ thể và hài hòa môi

trường tự nhiên Triết lý âm dương không chỉ vận dụng cho người sống mà còn cho người

chết (cách bài trí đầy tính âm dương của các ngôi mộ cổ ở Lạch Trường (Thanh Hóa))

- Hình thành khả năng thích nghi cao (linh hoạt) với mọi hoàn cảnh của người Việt, dù

khó khăn cũng không nản chí: “Chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo”

- Hình thành tinh thần lạc quan (sống bằng tương lai): thời trẻ mà khổ thì tin về già sẽ

sướng, cả đời khổ thì tin đời con mình sướng (Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời,

…)

Phân

tích

ưu-nhược

điểm của

tính cách

người

VN bắt

nguồn

từ tính

Cộng

đồng-

Tính cộng đồng ảnh hưởng lên tính cách của người Việt:

- Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong cộng đồng lại với nhau, mỗi

người đều hướng tới những người khác Bản chất là dương tính và hướng ngoại, biểu

tượng của tính cộng đồng: sân đình, bên nước, cây đa (nơi các thành viên cộng đồng hội

họp, sinh hoạt,chuyện trò,…)

- Ưu điểm: Tính cộng đồng nhấn mạnh vào sự đồng nhất nên đã hình thành cho người

Việt tinh thần đoàn kết và tương trợ lẫn nhau, coi nhau như thân hữu,quyến thuộc Bên

cạnh đó còn tạo tiền đề cho tính tập thể hòa đồng vì các thành viên trong cộng đồng sống

rất liên kết, phụ thuộc lẫn nhau nên việc giữ hòa khí là điều rất quan trọng Tính cộng đồng

còn hình thành trong tính cách người Việt nếp sống dân chủ bình đẳng biểu hiện trong các

nguyên tắc tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, theo nghề nghiệp, theo giáp

- Nhược điểm: Tính đồng nhất này cùng khiến cho ý thức về con người cá nhân bị thủ

tiêu, luôn hòa tan trong các mối quan hệ xã hội, giải quyết xung đột theo lối hòa cả làng,

Trang 3

tính Tự

trị dần dà ý thức cá nhân bị thui chột Tiếp đến là thói dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể: “Nước trôithì bèo trôi, Nước nổi thì thuyền nổi”,…cùng với đó là tư tưởng cầu an (an phận thủ

thường) và cả nề, làm gì cũng sợ rút dây động rừng nên thường chủ trương “đóng cửa bảo

nhau” Nhược điểm thứ ba là thói cào bằng, đố kỵ, không muốn ai hơn mình (để cho tất cả

đều đồng nhất, giống nhau)

Tính tự trị ảnh hưởng lên tính cách của người Việt:

- Tính tự trị là sản phẩm của tính cộng đồng, có chức năng là xác định sự đọc lập của

làng, bản chất là âm tính và hướng nội Biểu tượng của tính tự trị là lũy tre làng (rặng tre

cao bao kín quanh làng, phá không đỗ, đốt không cháy, trèo qua không được, gần như là

một thành lũy bất khả xâm phạm)

- Ưu điểm: Tính tự trị nhấn mạnh vào sự khác biệt nên đã tạo nên tinh thần tự lập cộng

đồng: mỗi làng, mỗi tập thể phải tự lo liệu lấy mọi việc Vì phải tự lo liệu, nên người Việt

truyền thống rất cần cù, đầu tắt mặt tối: “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Nó cũng tạo

ên nếp sống tự cấp tự túc: mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống làng mình, mỗi

nha có vườn rau, chuồng gà, ao cá để đảm bảo nhu cầu về thức ăn; có bụi tre, rặng xoan,

cây mít để tự đảm bảo nhu cầu chỗ ở

- Nhược điểm: Vì quá nhấn mạnh vào sự khác biệt mà người Việt hình thành thói

xấu là: óc tư hữu, ích kỉ: “Ai có thân người nấy lo, ai có bò người nấy giữ” Thói xấu này

cũng bị chính người Việt phê phán: “Của mình thì mình giữ bo bo/ Của người thì để cho bò

nó ăn” Thói xấu thứ hai là óc bè phái, địa phương cục bộ: làng nào biết làng nấy, chỉ biết

vun vén cho địa bàn mình: “Trâu ta ăn cỏ đồng ta” Cuối cùng là óc gia trưởng - tôn ty

Tính tôn ty, sản phẩm của nguyên tắc tổ chức nông thôn theo huyết thống, tự thân nó

không xấu nhưng khi gắn với tính gia tưởng sẽ sản sinh ra tâm lý quyền huynh thế phụ, áp

đặt ý muốn của mình lên người khác, tao nên tư tưởng thứ bậc vô lý: “Sống lâu lên lão

làng” Khi ấy, tính tôn ty sẽ thành một lực cản cho sự phát triển xã hội, nhất là khi thói gia

đình chủ nghĩa vẫn đang là một căn bệnh lan tràn

Phân

tích câu:

Một giọt

máu đào

hơn ao

nước lã

và Buôn

anh em

xa mua

láng

giềng

gần của

người

Việt 2

câu này

có bị

mâu

Một giọt máu đào hơn ao nước lã:

Là câu tục ngữ của cha ông ta so sánh tầm quan trọng của tình cảm người thân so với

người dưng nước lã, người ngoài; muốn nói lên tầm quan trọng của người thân, gia đình;

đề cao mối quan hệ tình thân, quan hệ máu mủ của những người cùng huyết thống

Buôn anh em xa, mua láng giềng gần:

Câu tục ngữ có ý khuyên răn người ta nên ăn ở có tình có nghĩa, vui vẻ với hàng xóm

láng giềng kề bên Bởi anh em họ hàng dù là thân tình, máu mủ nhưng ở xa thì nếu có việc

khẩn cấp, nghiêm trọng không thể có mặt nhanh chóng để giúp đỡ bằng người ngoài nhưng

ở gần mình

Bởi vậy, cả hai câu tục ngữ “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” và “Bán anh em xa

mua láng giềng gần” đều chính xác trong từng trường hợp riêng Nhưng chúng không hề

đối lập với nhau, mà bổ sung cho nhau để tạo nên trường nghĩa hoàn thiện hơn Trong xã

hội, mối quan hệ ruột thịt và cả mối quan hệ với bạn bè, láng giềng, đồng nghiệp đều vô

cùng quan trọng Nếu chúng ta đối xử tốt, hòa đồng với tất cả mọi người thì sẽ nhận được

Trang 4

thuẫn

không hồi đáp ấm áp từ họ Chúng ta nên cân bằng các mối quan hệ trong cuộc sống của mình.Chớ nên đề cao tình thân mà bỏ bê các mối quan hệ ngoài xã hội và ngược lại

Nêu đặc

trưng cơ

bản

trong

văn hóa

giao tiếp

của

người

Việt -

Ứng

dụng bản

thân

Các đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt Nam:

- Về thái độ đối với việc giao tiếp, người Việt Nam vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt

rè:

+ Tính cộng đồng chính là nguyên nhân khiến người Việt rất thích giao tiếp, nó thể

hiện chủ yếu qua 2 điểm Thứ nhất, dưới góc độ chủ thể giao tiếp, người Việt có tính thích

thăm viếng, tuy nhiên khác với phương Tây thường thăm viếng nhau vì nhu cầu công việc,

tính thích thăm viếng cua người Việt chủ yếu là để biểu hiện tình cảm, tình nghĩa với nhau

và có mục đích là thắt chặt thêm quan hệ Thứ hai, với đối tượng giao tiếp thì người Việt

có tính hiếu khách Khi khách đến thăm nhà, dù hoàn cảnh có khó khăn, dù quen hay lạ,

thân hay sơ, người Việt cũng cố gắng tiếp đón chu đáo và tiếp đãi thịnh tình, dành cho

khách những tiện nghi và đồ ăn tốt nhất Tính hiếu khách này càng tăng lên khi ta về những

miền quê hẻo lánh, vùng núi xa xôi

+ Tính tự trị của làng xã Việt ảnh hưởng lớn đến tính rụt rè trong giao tiếp của

người Việt Nam Cụ thể, khi ở trong phạm vi cộng đồng quen thuộc,tính cộng đồng giúp

người Việt xởi lởi, thích giao tiếp; còn khi ngoài phạm vi cộng đồng thân quen, trước người

lạ, sự rụt rè của người Việt sẽ bị tính tự trị chi phối Tuy nhiên, hai tính cách này không

mâu thuẫn vì chúng thể hiện ở hai môi trường khác nhau, là 2 mặt của cùng 1 bản chất,

biểu hiện cho cách ứng xử linh hoạt của người Việt

- Về quan hệ giao tiếp, người Việt thường lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử: “Yêu

nhau yêu cả đường đi/ Ghét nhau ghét cả tông ty họ hàng”,…Một cách khái quát, người

Việt tuy lấy sự hài hòa âm dương làm trọng nhưng vẫn thiên về âm tính hơn, cụ thể trong

đời sống hàng ngày, người Việt sống có lý có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn: “Một bồ

cái lý không bằng một tý cái tình”, , Sự trọng tình nghĩa này còn thể hiện ở mặt, người

Việt rất có lòng biết ơn, ai có ơn với mình đều tôn làm thầy: thầy đồ, thầy võ, thầy thuốc,

thầy bói, thầy cãi,…

- Với đối tượng giao tiếp, người Việt có thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá Do

tính cộng đồng, người Việt thường tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm người khác, mà

muốn quan tâm phải biết rõ hoàn cảnh Cho nên thông thường mối quan tâm sẽ là tuổi tác,

trình độ học vấn, địa vị xã hội,…Tuy nhiên với người nước ngoài, thói quen ưa tìm hiểu

này của người Việt thường bị nhận xét là “tò mò” Mặt khác, do sống thiên về tình cảm,

mỗi cặp giao tiếp đều có có những cách xưng hô riêng, nên cần thông tin để lựa đại từ nhân

xưng cho phù hợp Tuy nhiên, khi không được lựa chọn thì người Việt sẽ dùng chiến lược

thích ứng linh hoạt: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”,

- Dưới góc độ chủ thể giao tiếp, tính cộng đồng còn khiến người Việt có đặc điểm

trọng danh dự: “ Tốt danh hơn lành áo”, “Đói cho sạch, rách cho thơm”, Danh dự gắn với

năng lực giao tiếp: lời hay sẽ tạo thành tiếng tăm, lời dở truyền tai nhiều người sẽ thành tai

tiếng Bên cạnh đó, vì quá coi trọng danh dự mà người Việt dễ mắc tật háo danh, mắc bệnh

sĩ diện Ở làng quê, thói sĩ diện thể hiện trầm trọng qua tục lệ ngôi thứ nơi đình trung và

tục chia phần Chưa hết, lối sống trọng danh dự còn dẫn đến cơ chế tin đồn, tạo nên dư

luận Nó như một vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn dịnh của làng xã

Trang 5

Người Việt rất sợ dư luận, tới mức mà trong tiểu thuyết “Thời xa vắng” nhà văn Lê Lựu đã

viết: “họ chỉ dám lựa theo dư luận mà sống chứ không ai dám dẫm lêm dư luạn để làm theo

ý mình”

- Về cách thức giao tiếp, người Việt ưa sự tế nhị, ý tứ và trong sự hòa thuận Tính tế

nhị này dẫn đến thói “vòng vo tam quốc” của người Việt, khi cần thông tin một vấn đề, họ

ít hỏi thẳng như người phương Tây mà hay hỏi thăm, nói giảm nói tránh,…Chẳng hạn, để

biết một người có còn cha mẹ không, người Việt thường hỏi kiểu: “Các cụ nhà ta vẫn mạnh

giỏi cả chứ?” Lối nói vòng vo kết hợp với nhu cầu tìm hiểu đối tượng giao tiếp đã tạo ra

thói quen “chào (bằng cách) hỏi” ở người Việt Hỏi như một thói quen, không cần câu trả

lời và người hỏi lẫn người nghười nghe sẽ đều hoàn toàn hài lòng với các câu trả lời không

chứa thông tin, ví dụ: “Bác đi đâu đấy ? – Tôi đi đằng này một tý” Thậm chí ta hoàn toàn

có thể dùng câu hỏi để trả lời, ví dụ “Cụ đang làm gì đấy ?- “Vâng! Bác đi đâu đấy?” Bên

cạnh đó, tính ưa tế nhị còn hình thành thói quen đắn đo cân nhắc kỹ càng trước khi nói

năng, tuy nhiên cũng dẫn đến tính thiếu quyết đoán Chưa hết, để lãng tránh phải quyết

đoán và giữ hào khí, người Việt rất hay cười( kể cả những nơi như tang lễ).Cuối cùng

người Việt luôn chủ trương nhường nhịn lẫn nhau trong các mối quan hệ

- Người Việt có nghi thức lời nói rất phong phú: Thứ nhất là sự phong phú trong hệ

thống từ xưng hô chứ không như phương Tây và Trung Hoa chỉ sử dụng đại từ nhân xưng

Hệ thống xưng hô này có đặc điểm: tính thân mật hóa(trong tình cảm), tính cụ thể hóa cao

và tính tôn ty kỹ lưỡng Về tính tôn ty, người Việt có nguyên tắc “xưng khiêm hô tôn”

trong giao tiếp, ví dụ: cùng một cặp giao tiếp, nhưng có khi cả hai cùng gọi nhau là “chị”

và cùng xưng là “em” Nghi thức lời nói trong cách nói lịch sự cũng rất phong phú Do

truyền thống trọng tình cảm và linh hoạt nên người Việt không có một từ cảm ơn, xin lỗi

chung chung như phương Tây.Văn hóa nông nghiệp âm tính ưa ổn định, sống chú trọng

không gian nên người Việt phân biệt kỹ các lời chào theo không gian quan hệ xã hội và

theo sắc thái tình cảm Trong khi đó, văn hóa phương Tây ưa hoạt động lại phân biệt kỹ các

lời chào theo thời gian như chào buổi sáng, chào gặp mặt, chào chia tay,…

Ứng dụng vào bản thân:

Từ các đặc điểm trên, em nhận thấy văn hóa giao tiếp Việt Nam tồn tại song song cả

ưu và nhược điểm

Về ưu điểm:

+Em có thể tận dụng thói quen ưa sự tế nhị,hòa thuận để giúp có sự đầu tư về sự

tư duy, suy nghĩ thật kỹ càng về lời mình sắp nói, tránh trường hợp lựa từ gây hiểu nhầm

hay gây mâu thuẫn, mất hòa khí trong những chuyện nhỏ nhặt

+Bên cạnh đó tính thích thăm viếng và mục đích của nó cũng rất đáng học hỏi,

qua đó em có thể thắt chặt các mối quan hệ của bản thân

+Tính thích tìm hiểu cũng rất hữu dụng, em có thêm nhiều thông tin về người

mình quan tâm, từ đó sẽ có thêm cơ sở để đầu tư chất lượng, quan tâm các mối quan hệ của

mình

Về nhược điểm:

+ Em sẽ hạn chế lối nói vòng vo tam quốc khi mà người hỏi thực sự đang cần gấp

Trang 6

các thông tin từ em Em sẽ tập thói quen nói thẳng vào vấn đề nhưng sẽ vẫn giữ thái độ,

cách dùng từ hòa nhã lịch sự

+ Em sẽ khắc phục sự trọng sĩ diện thái quá trong giao tiếp bằng cách ý thức rằng

bản thân còn nhiều thiếu sót cần khắc phục, từ đó tạo tâm lý thoải mái khi đối diện và khắc

phục các khuyết điểm của mình, không cố gắng bao che hay mập mờ

+ Em sẽ khắc phục thói quen sợ dư luận bởi khi ai cũng sống theo đám đông, theo

dư luận thì sẽ mất đi bản sắc riêng, xã hội mất sự sáng tạo Để khắc phục nó, em sẽ tập nói

lên các suy nghĩ, cảm xúc của bản thân, hành động sáng tạo miễn không vi phạm pháp luật,

ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng

+ Em sẽ khắc phục các hệ quả từ lối sống quá trọng tình cảm…

Đặc

trưng

văn hóa

ẩm thực

Việt, cơ

cấu bữa

ăn của

người

Việt

Đặc trưng văn hóa ẩm thực Việt

Ăn uống là văn hóa Chính xác hơn, đó là văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên Ví

dụ ở các nền văn hóa gốc du mục (phương Tây, Bắc Trung Hoa) các cư dân thiên về ăn thịt

Còn với người Việt, cơ cấu bữa ăn bộc lộ rất rõ dấu ấn truyền thống văn hóa nông nghiệp

lúa nước

 Cơ cấu bữa ăn

- Cơ cấu ăn thiên về thực vật, trong đó lúa gạo là loại đứng đầu bảng Vị trí của cây

lúa còn được thể hiện qua tục ngữ: “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, “Đói thì thèm

thịt thèm xôi/Hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đường”,… Bên cạnh đó tầm quan trọng của cây lúa

còn thể hiện qua cách thói quan dùng từ, người Việt hay xài từ “bữa cơm” Chưa hết cây

lúa còn là tiêu chuẩn của cái đẹp (câu thơ “Em xinh là xinh như cây lúa” trong bài hát “Em

đẹp em xinh”) Tiếp đến, trong thời kỳ đổi mới, mọi giá trị như lương, thuế, học phí… đều

“quy ra thóc gạo” Cũng không phải ngẫu nhiên mà người Việt có vô số từ khác nhau để

phân biệt giai đoạn trưởng thành và bộ phận của cây lúa( mạ, lúa, đòng, cốm, thóc,…)

- Trong bữa ăn của người Việt, sau lúa gạo thì đến rau quả Đối với người Việt Nam

thì “đói ăn rau, đau uống thuốc” là chuyện tất nhiên “Ăn cơm không rau như nhà giàu chết

không kèn trống”, “Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ” Nổi bật khi nói

đến rau trong bữa ăn người Việt Nam phải nhắc đén rau muống và dưa cà: “Anh đi anh nhớ

quê nhà/ Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”, thậm chí có loại rau muốn ở Huyện

Tiên Sơn từng được dùng để tiến vua Hay trong sự tích Thánh Gióng, Gióng nhờ ăn “bảy

nong cơm, ba nong cà” mà thành người không lồ đi cứu nước Ngoài ra, các loại gia vị

như: hành, gừng, riềng,ớt, tỏi, rau mùi, rau răm, rau húng,lá lốt,… cũng là những thứ

không thể thiếu trong bữa ăn người Việt

- Đứng thứ ba trong cơ cấu bữa ăn và đứng đầu hàng thức ăn động vật là các loại

thủy sản Sau “cơm rau” thì tổ hợp “cơm cá” là thông dụng nhất “Có cá đổ vạ cho cơm”,

“Con cá đánh ngã bát cơm”, Từu các loài thủy sản, người Việt đã chế tạo ra thứ đồ chấm

và món ăn đặc biệt là các loại nước mắm và mắm Thiếu nước mắm thì chưa thành bữa

cơm Việt Nam Tuy nhiên cơm mắm không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với bình dân bởi

thời Nguyễn, các phi Tần đã từng đặt các địa phương Tây Nam Bộ hàng trăm lọ mắ để tiến

vua Bên cạnh đó, “danh từ nước mắm” đã đi vào ngôn ngữ nhiều quốc gia Đông-Tây

(nuoc-mam)

Trang 7

- Cuối cùng trong cơ cấu bữa ăn người Việt là thịt Phổ biến thì như thịt gà, thị heo,

thịt trâu,… Đặc sản bình dân thì như thịt chó, sơn hào hải vị thì như gân hổ, yến sào,…

Ngày đăng: 27/09/2024, 12:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w