1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận

71 779 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận
Người hướng dẫn Thầy Tiến Sỹ Nguyễn Văn Ngọc, Thầy Thạc Sỹ Đặng Hoàng Xuân Huy, Thầy Thạc Sỹ Nguyễn Địch Thanh, Cô Giáo Chủ Nhiệm Phan Thị Xuân Hương
Trường học Trường Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành Kinh tế thủy sản
Thể loại Nghiên cứu
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó thì các nước trong khu vực và trên thế giới lại có một nền công nghiệp nuôi cá lồng trên biển rất hiện đại, đã và đang mang lại lợi ích kinh tế rất cao cho nền kinh tế của h

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu trường đại học Nha Trang, các thầy cô trong khoa kinh tế, bộ môn kinh tế thủy sản đã giúp đỡ em trong toàn bộ khóa học và trong thời gian thực tập này

Em xin chân thành cảm ơn các cô, các chú thuộc phòng kinh tế, trung tâm khuyến ngư huyện đảo Phú Quý đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp số liệu cần thiết cho em trong suốt thời gian thực tập tại huyện đảo

Em xin chân thành cảm ơn UBND huyện đảo Phú Quý và nhà khánh của huyện đã hết sức tạo điều kiện về mọi mặt cho em trong khoảng thời gian em thực tập ở trên đảo

Em xin chân thành cảm ơn thầy tiến sỹ Nguyễn Văn Ngọc, thầy thạc sỹ Đặng Hoàng Xuân Huy, thầy thạc sỹ Nguyễn Địch Thanh đã tận tình hướng dẫn

em thực hiện đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo chủ nhiệm Phan Thị Xuân Hương đã hướng dẫn em trong suốt khóa học và đóng góp ý kiến cho em trong đợt thực tập này Em xin chân thành cảm ơn tất cả các ban trong lớp 48KTTS đã góp ý và giúp đỡ em thực hiện đề tài này

Trang 2

Mã lực Khu vực mậu dịch tự do ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Trung học cơ sở

Trung học phổ thông Nông nghiệp và phát triển nông thôn Tổng sản phẩm quốc nội

Kế hoạch hóa gia đình Đường dây thuê bao số bất đối xứng

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Một số mục tiêu khai thác, nuôi trồng hải sản đến năm 2020 22

Bảng 2: Các biến yếu tố đầu vào, đầu ra dùng cho quá trình phân tích 40

Bảng 3: Số liệu đầu ra của các hộ nuôi cá mú tại đảo 41

Bảng 4: Đặc điểm của các biến đầu ra của các hộ nuôi cá mú tại đảo 42

Bảng 5: Số liệu đầu vào của các hộ nuôi cá mú tại đảo 43

Bảng 6: Đặc điểm của các yếu tố đầu vào của các hộ nuôi cá mú tại đảo 44

Bảng 7: Số hộ đat hiệu quả kỹ thuật và chưa đạt hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 45

Bảng 8: Hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi cá Mú thương phẩm tại 47

huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 47

Bảng 9: So sánh các yếu tố nghiên cứu lấy từ thực tế của quá trình nuôi cá mú tại huyện đảo Phú Quý , tỉnh Bình thuận và các yếu tố mục tiêu 50

Bảng 11: Sếp hạng theo nhóm từ cao đến thấp của hiệu quả nuôi đạt được 54

Bảng 12: Yếu tố đầu vào hiệu quả kỹ thuật cho các hộ nuôi cá Mú tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 55

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 : Bản đồ Việt Nam 9

Hình 2 : Bản đồ tỉnh Bình Thuận 10

Hình 3 : Bản đồ huyện đảo Phú Quý 11

Hình 4: Hình ảnh cá mú ngoài tự nhiên 26

Hình 5: Mô hình phân tích màng dữ liệu tối thiểu hóa đầu vào 30

Hình 6: Mô hình phân tích màng dữ liệu tối đa hóa đầu ra……… 27

Hình 7: Hình ảnh cá mú tại huyện 37

Hình 8: Hình ảnh tác giả đi thực tế ngoài đảo 38

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Số hộ đạt hiệu quả kỹ thuật và chưa đạt hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú

tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 46

Biểu đồ 2: Phân phối hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi cá mú thương phẩm tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 47

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1: Quy trình nuôi cá mú đơn giản 27

Sơ đồ 2: Sơ đồ khối nghiên cứu 34

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục các bảng biểu i

Danh mục các hình iv

Danh mục các biểu đồ, sơ đồ iv

Lời Mở Đầu 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu 2

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của đề tài 3

6 Kết cấu của đề tài 3

7 Hạn chế của đề tài 3

Tóm Tắt đề tài 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ 6

1.1 Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả kỹ thuật 6

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả 6

1.1.2 Hiệu quả kỹ thuật (Technical effciency) 6

1.1.3 Các quan điểm đánh giá hiệu quả 7

1.2 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 8

1.2.1 Giới thiệu chung về huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 8

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện đảo Phú Quý 17

1.2.2.1 Kinh tế 17

1.2.2.2 Chính trị 19

1.2.2.3 Giáo dục 19

1.2.2.4 Y tế 20

1.2.3 Thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội 21

1.2.4 Phương hướng phát triển ngành thủy sản của huyện 22

1.2.4.1 Mục tiêu phát triển 22

Trang 6

1.2.4.2 Phương hướng phát triển 22

1.3 Nghề nuôi cá mú lồng bè tại huyện đảo Phú Quý 25

1.3.1 Một số đặc điểm của cá mú 25

1.3.2 Quy trình nuôi cá mú 27

CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Phương pháp phân tích màng dữ liệu (Data Envelopment Analysis (DEA) 29 2.1.1 Lịch sử hình thành phương pháp 29

2.1.2 Giới thiệu ……….29

2.1.3 Mô hình DEA với giả thiết tối thiểu hóa đầu vào 30

2.1.4 Mô hình DEA với giả thiết tối đa hóa đầu ra 31

2.1.5 Mô hình DEA theo qui mô 32

2.1.6 Những ứng dụng của DEA trong thực tế, ưu và nhược điểm của phương pháp DEA 33

33

2.1 33

2.2 Thiết kế nghiên cứu 33

2.2.1 Quy trình nghiên cứu 34

2.2.2.Mô tả sơ lược về các thông số kỹ thuật cần thiết cho nghiên cứu 34

2.2.2.1 Chuẩn bị lồng nuôi 34

2.2.2.2 Chuẩn bị cá giống và tiến hành thả 35

2.2.2.3 Độ sâu của lồng 35

2.2.2.5 Hệ số thức ăn 36

2.2.2.6 Tỷ lệ sống của cá 36

2.2.2.7 Size thu hoạch 36

2.2.2.8 Sản lượng thu hoạch 37

2.2.3.Thu thập số liệu 39

2.2.3.1 Số liệu thứ cấp 39

2.2.3.2 Số liệu sơ cấp 39

Trang 7

CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Kết quả phân tích 40

3.1.1 Mô tả số mẫu nghiên cứu 40

3.1.2 Lý do sử dụng mô hình tối thiểu hóa đầu vào trong trường hợp quy mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất 44

3.1.3 Kết quả phân tích 45

3.1.3.1 Kết quả 1 45

3.1.3.2 So sánh giữa các yếu tố đầu vào thực tế và mục tiêu 49

3.1.3.3 Phân nhóm các hộ nuôi theo thứ tự giảm dần của hiệu quả kỹ thuật nuôi 54

54

3.2.Đề xuất một số ý kiến để khắc phục tình trạng nuôi cá mú kém hiệu quả tại huyện 55

3.3 Kết luận và đề xuất ý kiến 56

3.3.1 Kết luận 56

3.3.2 Kiến nghị 57

3.3.2.1 Đối với người nuôi 57

3.3.2.2 Đối với huyện đảo 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 8

Việt Nam mạnh danh là “rừng vàng, biển bạc”, nhưng hiện tại chúng ta chưa biết phát huy hết lợi thế này Nước ta có bờ biển kéo dài hơn 3260 km từ Móng Cái cho đến mũi Cà Mau, vùng đặc quyền kinh tế trên biển là hơn 1 triệu

km2, có nhiều đảo tạo nên nhiều vùng biển, nhiề

(< 1%) so với tổng giá trị kim gạch xuất khẩu của ngành thủy sản nước ta Trong khi đó thì các nước trong khu vực và trên thế giới lại có một nền công nghiệp nuôi cá lồng trên biển rất hiện đại, đã và đang mang lại lợi ích kinh

tế rất cao cho nền kinh tế của họ ví như Nauy đứng đâu thế giới về nuôi cá Hồi Đại Tây Dương và một số loài có giá trị kinh tế cao khác, với tổng sản lượng đạt gần 1 triệu tấn vào năm 2009, doanh thu hàng tỷ USD; tiếp đến là nước Anh, Hy Lạp, Italia…Các nước này đều đã nghiên cứu và đưa vào nuôi một số loài có giá trị kinh tế cao, họ không nuôi một cách tràn lan mà tập trung vào một vài loại có lợi thế nhằm tạo ra thương hiệu trên thị trường

Ngược lại thì việc nuôi cá lồng bè trên biển của nước ta còn rất lạc hậu, kỹ thuật nuôi chủ yếu là do kinh nghiệm, nguồn giống chủ yếu là bắt từ tự nhiên hoặc nhập khẩu, quy trình nuôi chưa được nghiên cứu kỹ càng, chưa có tính

Trang 9

chuẩn hóa…Trong quá trình nuôi thì người nuôi vẫn chưa xác định được khối lượng của các yếu đầu vào là bao nhiêu cho phù hợp, dẫn đến sự lãng phí trong quý trình nuôi Làm cho giá cá thương phẩm cao dẫn đến sức cạnh tranh kém, làm ô nhiễm môi trường, làm tăng vốn đầu tư trong khi nguồn vốn của người nuôi

là có hạn

Suất phát từ những nhận định trên nên trong khóa luận tốt nghiệp của mình

em đã chọn đề tài “ Đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú lồng bè tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận bằng phương pháp phân tích màng dữ liệu (DEA)” Huyện đảo Phú Quý của tỉnh Bình Thuận là một trong nhưng nơi có nghề nuôi cá mú thương phẩm bằng lồng bè rất phát triển của cả nước Do đó đã lựa chọn đảo Phú Quý làm địa điểm nghiên cứu của đề tài

Đề tài đã sử dung phương pháp phân tích màng dữ liệu DEA vì phương pháp này có nhiều lợi thế Đặc biệt là có thể sử lý nhiều đầu vào, nhiều đầu ra

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là: (1)Xác định những hộ nuôi đạt hiệu quả kỹ thuật chiếm bao nhiêu trong tổng số hộ nuôi;(2) xác định những hộ nuôi chưa đạt hiệu quả kỹ thuật và các giải pháp cho các hộ nuôi này; (3) Phân nhóm các hộ nuôi theo tính hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình nuôi (4)Xác định lượng yếu tố đầu vào mang lại hiệu quả kỹ thuật trong quá trình nuôi cá mú thương phẩm tại đảo

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu

quá trình nuôi cá Mú Cọp thương phẩm tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận

Trang 10

Phạm vi nghiên cứu

tra số liệu về quá trình nuôi cá mú thương phẩm tại huyện đảo Phú Quý, tinh Bình Thuận được thực hiện vào tháng 04/2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp phân tích bao phủ màng dữ liệu (Data Envelopment Analysis –DEA)

+ Từ những kết quả phân tích của đề tài thì các kết quả này sẽ là một

cơ sở để huyện đảo và người nuôi cá mú thương phẩm tham khảo và đưa vào áp dụng trong quá trình nuôi trong thực tế

6 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: kết quả nghiên cứu và thảo luận

7 Hạn chế của đề tài

- Đề tài mới chỉ sử dụng một phần rất nhỏ của phương pháp phân tích màng

dữ liệu(DEA), cụ thể là sử dụng mô hình phân tích CRS tối thiểu hóa các yếu tố

Trang 11

đầu vào ảnh hưởng đến các yếu tố đầu ra khi quy mô không đổi của mô hình phân tích DEA

- Không có các thông số nuôi ở các khu vực khác để so sánh và đánh giá vì hạn chế của thời gian nghiên cứu không cho phép

Trang 12

Tóm Tắt đề tài

Trong đề tài này sử dụng mô hình phân tích màng dữ liệu (Data Envelopment Analysis –DEA) tối thiểu hóa đầu vào trong trường hợp qui mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất Với năm biến đầu vào và ba biến đầu ra

để đánh giá hiệu quả kỹ thuật cho các hộ gia đình nuôi cá mú lồng bè thương phẩm tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận Kết quả chỉ ra là tại huyện đảo Phú Quý Có 37% số hộ nuôi cá mú lồng bè thương phẩm đạt hiểu quả kỹ thuật

và 63% số hộ nuôi không đạt hiệu quả kỹ thuật

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ

1.1 Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả kỹ thuật

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả

+ Hiệu quả (Efficiency)

Hiệu quả là sự liên quan giữa nguồn lực đầu vào khan hiếm (ví như lao động, vốn, máy móc…) với kết quả trung gian hay kết quả cuối cùng

+ Hiệu quả phân bố (Allocative effciency)

Là khả năng đạt được lợi nhuận tối đa ở một mức giá cho trước với những đầu ra và đầu vào cho trước

+ Hiệu quả kinh tế (Economic effciency)

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực…) để đạt được mục tiêu xác định

H = K/C (Với H là hiệu quả kinh tế; K là kết quả thu được; C là chi phí toàn bộ.)

1.1.2 Hiệu quả kỹ thuật (Technical effciency)

+ Giới hạn khả năng sản xuất ( Production frontier )

Giới hạn khả năng sản xuất được định nghĩa là đầu ra Y tối đa có thể sản xuất được (Maximum producible output) khi cho trước một vector đầu vào X, được định nghĩa dưới dạng toán học, giới hạn này là chuẩn mực để dựa trên đó đo lường hiệu quả kỹ thuật (Technial efficiency) của quá trình sản xuất

+ Hiệu quả kỹ thuật Một nhà sản xuất được xem là có hiệu quả kỹ thuật nếu một sự gia tăng trong bất kỳ đầu ra đòi hỏi một sự giảm xuống của ít nhất một

đầu ra khác hoặc một sự gia tăng của ít nhất một đầu vào

Hiệu quả kỹ thuật thể hiện rất rõ tính chất của việc sử dụng các yếu tố đầu vào để đạt được các kết quả đầu ra Qua đó sẽ xác định được tính chất căn bản của việc đo lường sự hiệu quả Không mang tính chất khái quát hóa như hiệu quả kinh tế

Trang 14

1.1.3 Các quan điểm đánh giá hiệu quả

+ Phương pháp dãy số thời gian để đánh giá hiệu quả

Vật chất luôn luôn vận động không ngừng theo thời gian Để nghiên cứu

sự biến động của kinh tế xã hội Người ta thường sử dụng dãy số thời gian

Khái niệm: Dãy số thời gian là dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê được sắp xếp theo thứ tự thời gian Dãy số thời gian cho phép thống kê học nghiên cứu đặc điểm biến động của hiện tượng theo thời gian vạch rõ xu hướng và tính quy luật của sự biến động, đồng thời dự đoán các mức độ của hiện tượng trong tương lai

Kết cấu:

Dãy số thời gian gồm 2 phần: Thời gian và chỉ tiêu của hiện tượng nghiên

cứu

+ Thời gian có thể đo bằng ngày, tháng, năm…tùy theo mục đích nghiên

cứu Đơn vị thời gian phải đồng nhất trong dãy số thời gian Độ dài thời gian giữa hai thời gian liền nhau gọi là khoảng cách thời gian

+ Chỉ tiêu về hiện tượng nghiên cứu là chỉ tiêu được xây dựng cho dãy số thời gian Các trị số của chỉ tiêu được gọi là các mức độ của dãy số thời gian Các trị số này có thể là tuyệt đối, tương đối hoặc bình quân

+ Phương pháp thông kê để đánh giá hiệu quả

Phương pháp này sử dụng các số liệu thống kê để xác định các chỉ số đánh giá Số liệu gồm có số liệu đầu vào (chi phí), số liệu đầu ra (doanh thu) Có hai loại chỉ tiêu đánh giá

+ Dạng thuận: H = Kết quả kinh tế / Chi phí kinh tế = Q/C

Trong đó: H biểu thị mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo ra bao nhiêu đơn vị đầu

ra Chỉ tiêu H được dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng nguồn lực hay chi phí thường xuyên đến kết quả kinh tế

+ Dạng nghịch: E = Chi phí kinh tế / kết quả kinh tế = C/Q

Trang 15

Chỉ tiêu E cho biết để có một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị đầu vào Chỉ tiêu E là cơ sở để xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực hay chi phí thường xuyên

+ Phương pháp đồ thị: Là phương pháp mô tả bằng độ thị để có thể so sánh và

đánh giá tính hiệu quả Phương pháp này biểu thị rất trực quan và sinh động

1.2 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

1.2.1 Giới thiệu chung về huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận

Tôi được nghe người dân huyện đảo kể về cội nguồn của mình bằng giọng

say sưa, tự hào và ngưỡng vọng Chuyện kể rằng: Từ thuở xa xưa, người Việt đi đánh cá chuồn rồi phiêu dạt đến nơi đây Qua bao đời vun đắp, dựng xây dần dần những xóm làng đã được mọc lên Những tàu thuyền tấp nập vào ra Bãi biển Triều Dương trở thành bến cảng Đó là huyện đảo Phú Quý-sừng sững hiên ngang giữa biển trời! Huyện Phú Quý là một quần đảo bao gồm 10 đảo (còn gọi

120 km về phía đông Nam, cách Cam Ranh 150 km về phía Nam, cách Vũng Tàu

120 km về phía Đông, cách Côn Sơn 333 km về phía đông Bắc, và cách Trường

Sa 540 km về phía Tây Chúng ta nhớ lại mùa xuân năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta kết thúc thắng lợi Trưa ngày 27/4, trong nắng vàng rực rỡ, Phú Quý được giải phóng Cùng với cả nước, Phú Quý bước vào trang sử mới “Non sông thu về một mối Bắc Năm sum họp một nhà” Tháng 3/1976, sau khi tỉnh Thuận Hải ra đời trên cơ

sở hợp nhất 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy, đảo Phú Quý được xác định là một đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Bắc Bình Đến ngày 15/12/1977, do tầm quan trọng chiến lược của đảo trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xã Phú Quý được Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định 329 thành lập đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Thuận Hải, nay là tỉnh Bình Thuận Đó là sự kiện đánh dấu một mốc son lịch sử đối với Phú Quý Từ đây, mở ra cho cán bộ,

Trang 16

chiến sĩ và nhân dân Phú Quý một giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn xây dựng

và bảo vệ huyện đảo tiền tiêu của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Hình 1 : Bản đồ Việt Nam

Trang 17

Hình 2 : Bản đồ tỉnh Bình Thuận

Trang 18

Hình 3 : Bản đồ huyện đảo Phú Quý

Trang 19

Nhìn lại chặng đường 33 năm kể từ khi huyện đảo được thành lập, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện, sự phối hợp hành động của mặt trận và các đoàn thể chính trị-xã hội địa phương và sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của các cấp, các ngành, của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Phú Quý đã từng bước được xây dựng vững mạnh cả về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh Đặc biệt là sau 22 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Phú Quý đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu khả quan Tổng sản phẩm nội huyện tăng bình quân 13,5%/ năm, so với giai đoạn 1996-2000 tăng 2,23% Trong đó, ngành nông-lâm-ngư nghiệp tăng 7%, công nghiệp-xây dựng tăng 27,3%, dịch vụ tăng 14,5% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng kinh tế công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng với tốc độ khá Thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch Tổng thu ngân sách (2005-2009) là 40,75 tỷ đồng Trong đó, tổng thu ngân sách trên địa bàn 29,7 tỷ đồng Bình quân hàng năm 7,88 tỷ đồng So với giai đoạn 1996-2000 tăng 62%, so với kế hoạch tăng 32% Những thành quả đó đã góp phần đưa huyện đảo đi dần vào ổn định, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững và vượt bậc của Phú Quý trong tương lai Theo quy hoạch không gian lãnh thổ, Phú Quý nằm trong vùng kinh tế động lực Phan Thiết-Hàm Thuận Nam- Hàm Tân-Phú Quý Đây là vùng có tiềm năng về tài nguyên biển và ven biển, khoáng sản, các nguồn nguyên liệu để phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, hải sản Ngoài ra, Vùng còn có thế mạnh về du lịch vì giao thông thuận lợi, có cơ sở hạ tầng tốt, tập trung Vùng kinh tế động lực này sẽ phát triển tổng hợp kinh tế biển Trước hết, tập trung phát triển ngành thủy sản gồm khai thác, chế biến, nuôi trồng thủy sản Phú Quý sẽ hình thành trung tâm kinh tế biển, xây dựng đảo Phú Quý trở thành một trung tâm dịch vụ nghề cá, chế biển hải sản xuất khẩu, đóng mới và sửa chữa tàu

Với định hướng như vậy, trong việc phát triển kinh tế biển, ngư nghiệp được xác định là kinh tế mũi nhọn của huyện Việc vận dụng các chính sách khuyến khích phù hợp của huyện đã làm cho nhân dân mạnh dạn đầu tư phát triển

Trang 20

phương tiện và chủ động chuyển đổi ngành nghề, đầu tư mua sắm các trang thiết

bị hàng hải phục vụ việc đánh bắt có hiệu quả Chính vì vậy, sản lượng khai thác hàng năm đều tăng Tổng sản lượng khai thác hải sản đến nay 22.659,2 tấn, bình quân đạt 9.063,7 tấn/ năm Trong đó, sản lượng khai thác năm 2010 đạt 21.540 tấn Nuôi trồng hải sản tiếp tục được đầu tư phát triển Toàn huyện có gần 150 cơ

sở, trong đó, 109 cơ sở nuôi cá mú bằng lồng bè và gần 40 cơ sở nuôi trồng các loại thủy hải sản khác Tiềm năng nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi cá mú, tôm hùm đang được khai thác ngày càng tích cực ở Phú Quý, việc nuôi cá mú được xem là đạt hiệu quả kinh tế hơn các loại thủy hải sản khác Lượng tàu thuyền với quy mô công suất lớn tăng lên đáng kể Đến nay, toàn huyện có 500 tàu, thuyền công suất trung bình và lớn với tổng công suất trên 30.000 CV, bình quân 60 – 70 CV/chiếc Hàng năm đóng mới 20 – 30 chiếc, với công suất đóng mới > 90 CV/tàu, thuyền thay thế cho tàu thuyền nhỏ Tổng số lao động trong nghề là 5.839 lao động Những thành tựu khoa học kỹ thuật trong khai thác cũng được áp dụng ngày càng phổ biến, đã góp phần tăng sản lượng đánh bắt hải sản bình quân hàng năm gần 3% Sự ra đời và phát triển của 25 doanh nghiệp chế biến hải sản xuất khẩu và gần 35 cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá đã góp phần rất quan trọng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công tác bảo vệ nguồn lợi biển và an ninh vùng biển luôn được chú ý Huyện cũng đã đẩy mạnh công tác tuyền truyền, giáo dục ý thức tham gia bảo vệ nguồn lợi biển và bảo vệ an ninh vùng biển cho các chiến sĩ và mọi tầng lớp nhân dân

Trong nông nghiệp, diện tích gieo trồng lương thực ổn định và đi vào chiều sâu Bà con huyện đảo đã tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ những loại cây ngắn ngày sang loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như mãng cầu, xoài, điều góp phần tăng thêm giá trị thu nhập trên diện tích hiện có và tăng độ tán che Với mô hình kinh tế vườn-chuồng, đàn gia súc, gia cầm cũng được phát triển tăng gấp 2,85 lần so năm 1985 Theo số liệu điều tra, đến cuối tháng 3/2010, tổng

Trang 21

đàn gia súc hiện có 5.035 con Trong đó, đàn bò 1619 con, đàn heo 3.416 con Tổng đàn gia cầm là 116.252 con Nhiệm vụ trồng rừng luôn được xem trọng trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái của đảo Thực hiện chương trình 327

và 773 của Chính phủ, từ khi toàn huyện chỉ có trên 10 ha rừng tự nhiên ở khu vực núi Cấm, đến nay huyện đã có hơn 320 ha rừng phòng hộ, rừng phân tán và hàng trăm ha cây ăn trái, cây công nghiệp Sản lượng công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá được duy trì và từng bước phát triển Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhân dân đầu tư phát triển các loại hình kinh tế lợi thế như chế biến hàng hải sản xuất khẩu, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, nhà máy nước đá, cơ sở cung ứng nhiên liệu đã góp phần đáng kể thúc đẩy phát triển năng lực đánh bắt hải sản, tiêu thụ sản lượng khai thác, tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước và giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động có thu nhập ổn định Công tác bảo vệ nguồn lợi biển và

an ninh vùng biển luôn được chú ý Huyện cũng đã đẩy mạnh công tác tuyền truyền, giáo dục ý thức tham gia bảo vệ nguồn lợi biển và bảo vệ an ninh vùng biển cho các chiến sĩ và mọi tầng lớp nhân dân.Trong nông nghiệp, diện tích gieo trồng lương thực ổn định và đi vào chiều sâu Trong xu hướng hội nhập, người dân huyện đảo vẫn luôn có ý thức gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc, nhất là nét đặc trưng văn hóa truyền thống dân gian nơi quê hương biển đảo Với trào lưu văn hóa mới, thông qua sự tiếp cận, giao lưu văn hóa với đất liền, người dân đảo tiếp thu có chọn lọc, cảm thụ những tinh hoa văn hóa Cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn liền với việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được nhân dân hưởng ứng nhiệt tình và mang lại hiệu quả thiết thực Do vị trí chiến lược của huyện đảo nên việc phát triển kinh tế luôn gắn với việc bảo đảm quốc phòng-an ninh Đây là nhiệm vụ chiến lược luôn được thực hiện thường xuyên Nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân thường xuyên được củng cố Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc ngày

Trang 22

càng được mở rộng và phát triển Hệ thống chính trị từ huyện đến địa bàn dân cư được củng cố và xây dựng Công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã đạt kết quả bước đầu Phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh trong cán bộ, chiến sĩ, nhân dân được thường xuyên phát động và không ngừng phát triển Qua đó, xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương, những điển hình tiên tiến của tập thể và cá nhân trên các lĩnh vực sản xuất, chiến đấu và công tác Mặc dù còn nhiều băn khoăn về những hạn chế của huyện đảo như thực trạng kinh tế của huyện còn khó khăn, yếu kém; tốc độ phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của địa phương; cơ cấu kinh tế chuyển dịch, kết cấu hạ tầng kinh tế-văn hóa-xã hội còn thiếu yếu tố vững chắc; đời sống văn hóa của nhân dân còn nghèo, trình độ dân trí chưa cao nhưng cần phải khẳng định rằng: những gì đã đạt được trong 26 năm qua là sự cố gắng hết mình, là sự nỗ lực không ngừng nghỉ của người dân huyện đảo đã gắn bó, đã yêu thương mảnh đất này như máu thịt Những thành tựu đó là nền tảng, là cơ sở vững chắc để nhân dân Phú Quý thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu phát triển huyện đảo trong tương lai Với thế mạnh về kinh tế biển, Phú Quý đã xác định cơ cấu kinh tế của địa phương trong giai đoạn tiếp theo là “Ngư nghiệp-công nghiệp-dịch vụ-nông, lâm nghiệp” Phú Quý đã có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế được đầu tư phát triển trên các lĩnh vực kinh tế như khai thác, chế biến, nuôi trồng, bảo vệ nguồn lợi, giao thông vận tải và du lịch biển ở khu kinh tế đặc thù này Trước mắt, huyện tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế thủy sản Phú Quý sẽ từng bước hình thành trung tâm khai thác đánh bắt xa bờ nhằm đạt chỉ tiêu sản lượng hải sản khai thác 24.000 tấn Huyện khuyến khích đầu tư phát triển năng lực sản xuất, chuyển đổi ngành nghề mới, sắp xếp lại thuyền nghề, làm tốt khâu hậu cần nghề cá, củng

cố hợp tác xã ở các loại hình hiện có; phát triển đồng bộ khai thác, đánh bắt, nuôi trồng, thu mua, chế biến xuất khẩu và bảo vệ tốt nguồn lợi biển Đồng thời, Phú Quý cũng tiến hành quy hoạch lại khu công nghiệp chế xuất, tiếp tục khuyến

Trang 23

khích và kêu gọi đầu tư phát triển thu mua, chế biến hải sản theo công nghệ cao, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh xuất khẩu hàng hải sản, cùng với cả nước đảm bảo mở rộng và giữ vững thị trường khi Việt Nam hội nhập AFTA Việc chế biến hải sản phải gắn với bảo vệ tốt vệ sinh môi trường, từng bước di dời các cơ sở chế biến trong khu dân cư về nơi quy hoạch; khuyến khích đầu tư

cơ sở sửa chữa và đóng mới tàu thuyền, đủ sức đáp ứng yêu cầu sửa chữa định kỳ lượng tàu thuyền ở địa phương; ưu tiên tập trung nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực khai thác hải sản, chế biến xuất khẩu hải sản, vận tải biển Đẩy mạnh năng lực quan lý, bảo vệ môi trường phục vụ cho sản xuất và đời sống

Trong nông-lâm nghiệp, tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông-lâm nghiệp, xác định các loại cây phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng đất đai; chú trọng phát triển cây công nghiệp và cây ăn quả có độ tán lớn để góp phần tăng nhanh tán rừng Phát triển đàn gia súc, gia cầm, đẩy nhanh tiến độ cấp quyền

sử dụng đất nông nghiệp, khuyến khích các nhà nông phát triển kinh tế vườn chuồng

Việc tăng trưởng kinh tế phải gắn với giải quyết những vấn đề bức xúc về mặt xã hội Chú trọng đến công tác giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và chuẩn bị các điều kiện để phổ cập trung học phổ thông Quan tâm đến công tác đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực và chuyển dịch lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa…

Phú Quý đang được xây dựng thành khu kinh tế đặc thù Đây là thời cơ lớn, là một thuận lợi đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của huyện đảo Đảng bộ, nhân dân địa phương ra sức xây dựng Phú Quý trở thành một huyện đảo vững về chính trị, giàu về kinh tế, đẹp về văn hóa, mạnh về quốc phòng, an ninh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công

Trang 24

bằng, dân chủ văn minh.Tin rằng, trong tương lai, huyện đảo Phú Quý sẽ đúng như tên gọi

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện đảo Phú Quý

1.2.2.1 Kinh tế

Từ khi có quyết định số 14 ngày 15/01/2002 của Thủ tướng chính phủ, về xây dựng huyện Đảo thành khu kinh tế Nhờ vậy trong thời gian qua huyện đảo Phú Quý đã đạt được bước phát triển khá toàn diện: Tổng sản phẩm GDP tăng bình quân mỗi năm 13%; trong đó nông lâm - thuỷ sản 7,5%; xây dựng cơ bản 33,5%; thương mại dịch vụ 16,5% Những con người làm giàu cho huyện đảo Hiện nay có trên 25.000 dân đang sinh sống và làm việc trên đảo Phú Quý Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong những năm qua đã giảm so với cùng kỳ năm 2008 là 0,095%o, còn năm 2009 là 0,09%o giảm 0,005%o Số hộ nghèo theo tiêu chí mới

là 57 hộ/180 khẩu, chiếm 1,02% trong tổng số hộ trên toàn huyện giảm 15 hộ so với cùng kỳ năm trước Kinh tế biển là ngành có thế mạnh hàng đầu ở đây Tính đến cuối tháng 9 năm 2009 tổng số tàu thuyền trên toàn huyện hiện có là 1.409 chiếc/60.707Cv; so với cùng kỳ tăng 256 chiếc/17.891Cv Trong đó thuyền khai thác 1.288 chiếc/36.528Cv, 5.453 lao động; tàu dịch vụ hậu cần có 121 chiếc, trong đó thu mua có 87 chiếc, dịch vụ hậu cần ven bờ 34 chiếc Phát triển thuyền

từ 90CV trở lên được 09 chiếc đạt 60% kế hoạch, tăng 6 chiếc so với cùng kỳ Tổng sản lượng khai thác hải sản đạt: 11.900 tấn hải sản tươi các loại, đạt 54,09%

kế hoạch năm tăng so với cùng kỳ là 1,93% Cơ cấu đầu tư vào ngành khai thác hải sản đã chuyển dịch theo hướng đóng tàu lớn để đánh bắt xa bờ Trong những năm qua ngư dân trên đảo, đã mạnh dạng vay vốn ngân hàng đầu tư thuyền công suất lớn để bám biển dài ngày Tính đến cuối tháng 8 năm 2009 đã huy động nguồn vốn cho vay được 190 tỷ đồng, đạt 97 % kế hoạch, tổng dư nợ cho vay ước thực hiện là 151 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch Việc thực hiện quyết định 131 của Thủ tướng Chính Phủ về cho vay hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tại

Trang 25

chí nhánh Ngân hàng NN&PTNT trong 8 tháng đầu năm được 86.630 triệu đồng Đồng vốn của ngân hàng đã tạo điều kiện cho ngư dân đầu tư phương tiện phục

vụ cho đánh bắt, đem lại hiệu quả kinh tế cho gia đình và xã hội Hạ tầng mới sẽ tạo đà cho Phú Quý phát triển hàng hoá giữa đảo và đất liền ngày càng xích lại gần nhau hơn Người dân đảo Phú Quý rất vui mừng bởi những công trình được nhà nước đầu tư trong những năm qua đã và đang góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân trên đảo Đó là, công trình cảng Phú Quý giai đoạn 1 và 2, nhà máy điện Diesel tổng công suất 3 MW, do nguồn vốn của trung ương đầu tư xây dựng từ năm 1999, lúc đầu thời gian phát 5 giờ mỗi ngày; sau đó nâng lên 12 giờ và bây giờ là 16 giờ (từ 7 giờ 30 đến 23 giờ 30’), đường vành đai trải nhựa quanh đảo dài hơn 22 km và 6 km từ cảng Triều Dương về trung tâm hành chính của huyện nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế-quốc phòng-dân sinh trên đảo Bên cạnh đó thì 2 công trình nhà máy nước sạch Phú Quý với tổng công suất 2.200m3/ngày đêm được đầu tư xây dựng từ năm

2006, tại xã Ngũ Phụng và Long Hải đã hoàn thành đưa vào sử dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt đời sống của nhân dân Ngoài ra, bằng các nguồn vốn xây dựng cơ bản của tỉnh và của huyện, trung bình 20 tỷ đồng/ năm, Phú Quý đã từng bước xây dựng: trường học, trạm y tế, các công trình văn hoá xã hội khác như đài phát thanh truyền hình huyện, nhà văn hoá, sân vận động, trụ sở các cơ quan nhà nước huyện và các công trình khác Riêng mạng lưới trường học, huyện có 6 trường tiểu học, 3 trường trung học cơ sở và một trường trung học phổ thông Có thể nói, với vị trí quan trọng về kinh tế, quốc phòng, đảo Phú Quý nằm trên tuyến giao lưu giữa đất liền với quần đảo Trường Sa và nằm tiếp cận tuyến hàng hải quốc tế;

là căn cứ phục vụ các đội tàu đánh bắt cá xa bờ Ngoài vai trò quan trọng về kinh

tế, nơi đây còn là điểm du lịch lý tưởng của tỉnh Bình Thuận Bờ biển Phú Quý với những dải cát trắng mịn, nước biển trong màu ngọc bích; bao quanh đảo Phú Quý là 9 đảo nhỏ khác là những điểm du lịch sinh thái hết sức hấp dẫn Hệ thống giao thông đường bộ trên đảo hiện nay đã được nhựa hoá hoàn toàn, đảm bảo cho

Trang 26

xe cơ giới đến được hầu hết các trung tâm xã và vùng dân cư tập trung Mạng thông tin liên lạc tiếp tục phát triển mạnh đáp ứng được nhu cầu của nhân dân; phát triển máy điện thoại ước thực hiện trong 8 tháng đầu năm 2009 là 398 máy đạt 104,74% kế hoạch, chiếm 48,8% kế hoạch năm, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước Nâng tổng số máy hiện có trên toàn huyện là 4.726 máy, đạt mật độ 18,6 máy/100 dân, mạng ADSL có 395 thuê bao Mục tiêu của huyện Phú Quý đến năm 2010: Tổng sản phẩm nội huyện tăng bình quân hàng năm 13 -13,5%, trong

đó nông lâm - ngư nghiệp tăng 13,5%; công nghiệp xây dựng 17,5%; thương mại dịch vụ 15 – 15,5%; sản lượng khai thác hải sản 25.000 tấn; tỉ lệ huy động GDP vào ngân sách hàng năm từ 9,5% trở lên; GDP bình quân đầu người đạt từ 900 USD – 1.000 USD Đây là những mục tiêu khiêm tốn so với cả nước, nhưng với một huyện đảo xa đây cũng là những cố gắng rất lớn Hy vọng với tiềm năng về kinh tế, đặt biệt ngư nghiệp một tương lai không xa huyện Phú Quý sẽ phát triển với tốc độ nhanh xứng đáng với tên gọi

1.2.2.2 Chính trị

Trong những năm gần đây thì tình hình an ninh chính trị của huyện đảo luôn được giữ vững và ổn định Bởi nơi đây người dân sống hết sức đoàn kết, chính quyền và người dân là một nhà, cùng sống và làm việc để phát triển kinh tế gia đình nói riêng và kinh kế của toàn huyện nói chung

1.2.2.3 Giáo dục

Năm học 2008 - 2009, sự nghiệp giáo dục - đào tạo của huyện đã có những chuyển biến đáng kể và đạt được một số kết quả; cơ sở vật chất trường học, trang thiết bị dạy và học ngày một tăng cường; quy mô, mạng lưới các cấp học, ngành học tiếp tục được mở rộng; một số trường học duy trì, giữ vững và nâng cao chất lượng dạy học Đội ngũ cán bộ, giáo viên bố trí đủ theo số lượng quy định Chất lượng nuôi dạy trẻ của bậc Mầm non đã đạt chỉ tiêu đề ra, tỉ lệ trẻ

6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% Bậc Tiểu học đã thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh Năm học 2008-

Trang 27

2009, toàn huyện có 510 học sinh hoàn thành chương trình tiểu học, đạt tỷ lệ 96,95%; Bậc THCS có 388 học sinh lớp 9 đỗ tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 87,78%; huyện tiếp tục giữ vững chuẩn về phong chào giáo dục cấp tiểu học và cấp THCS Năm học 2009 – 2010, tổng số học sinh tính đến thời điểm này là 6.818 em, giảm 10

em so với đầu năm học Trong đó, bậc THPT có 803 em, giảm 3; bậc THCS có

1977 em, giảm 2; tiểu học là 2619 em; mẫu giáo, mầm non là có 1.322 em, giảm

05 em Theo báo cáo của ngành giáo dục, tổng kết năm học 2008 – 2009 ở các cấp học đã đạt được nhiều thành tích rất đáng mừng, cụ thể: bậc Tiểu học có 96,95% học sinh hoàn thành chương trình cấp tiểu học, tăng 0,91% so với cùng

kỳ, trong đó có 67,09% học sinh xếp loại khá giỏi Bậc THCS có 76,1% học sinh lên lớp thẳng, tăng 1,25 so với cùng kỳ, trong đó học sinh khá giỏi đạt 35,2%, tăng 2,3% so với năm học trước Tổ chức xét công nhận tốt nghiệp THCS năm học 2008 – 2009 cho 388/442 em, đạt 87,78%, so với năm học trước giảm 5,8% Điều đáng mừng là tỷ lệ học sinh THPT thi đậu tốt nghiệp đạt 72%, tăng 18,71%

so với năm học trước.Tiếp tục duy trì và thực hiện tốt công tác phổ cập THCS và tiểu học đúng độ tuổi, vận động ra lớp được 619 học viên/19 lớp tại 03 xã Hiện nay, huyện đang triển khai dự án xây dựng trường Mầm non tư thục, mô hình dạy

02 buổi/ngày và dạy tiếng Anh cho học sinh ngay từ lớp 3

1.2.2.4 Y tế

Năm 2009 công tác y tế, dân số-KHHGĐ đã có nhiều cố gắng, tiếp tục tạo

sự chuyển biến nhận thức cơ bản cho nhân dân về ý thức bảo vệ chăm sóc sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, thực hiện chính sách dân số-KHHGĐ Công tác quản lý nhà nước được quan tâm hơn; công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế

có nhiều chuyển biến tiến bộ, trong năm đã thực hiện trên 20 nghìn lượt người đến khám và điều trị, tăng 6.000 lượt so với năm 2008 Đội ngũ cán bộ, cộng tác viên y tế, dân số-KHHGĐ thường xuyên được tham gia các lớp tập huấn, đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đã góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khoẻ sinh sản/KHHGĐ, tinh thần

Trang 28

thái độ phục vụ nhân dân từng bước được tốt hơn Kết quả tỉ lệ giảm sinh đạt 1,24%0, tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn 14,5%, giảm 1,69% so với cùng kỳ, số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tham gia thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại đạt 74,42% Tuy nhiên, hiện nay một số bệnh đang có chiều hướng gia tăng như: bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp, tai biến mạch máu não; tai nạn giao thông và tai nạn lao động cũng tăng nhanh; các bệnh xã hội như bệnh lao vẫn chưa được khống chế; một số trang thiết bị y tế cũ kỹ, lạc hậu, đội ngũ y, bác sĩ còn thiếu, trình đội tay nghề còn hạn chế; công tác tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ nhân dân chưa thường xuyên; tình trạng sinh con thứ 3 trở lên còn cao 27,86% Để thực hiện tốt công tác y tế dân số năm 2010, tại Hội nghị các đại biểu đã thống nhất với 10 giải pháp và một số chỉ tiêu phấn đấu Tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; chủ động phòng, chống dịch bệnh, phấn đấu không để xảy ra dịch bệnh trong năm; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chính sách dân số-KHHGĐ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản; phấn đấu giảm tỉ lệ sinh còn 0,8%0, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 13,8%, số người sử dụng các biện pháp tránh thai đạt 1.315 người, tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên 24%.2

1.2.3 Thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của huyện đảo thì nhân dân huyện đảo đã gặp phải những khó khăn đặc thù như sau

 Điều kiện tự nhiên khắc nhiệt như báo gió, ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu…

 Khó khăn do sự tách biệt với đất liền

 Thiếu thốn về điện, năng lượng, thông tin liên lạc, nước ngọt, hàng tiêu dùng…

 Chưa có điều kiện tốt để thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao và các nhà đầu tư

Trang 29

Trên đây là một số khó khăn lớn mà huyện đã gặp phải mà nó đã làm chậm lại quá trình phát triển kinh tế và xã hội của huyện đảo Ngoài ra còn có những khó khăn nhỏ khác chưa được đề cập đến

1.2.4 Phương hướng phát triển ngành thủy sản của huyện

1.2.4.1 Mục tiêu phát triển

- Xây dựng Phú Quý thành một trong 4 vùng kinh tế biển mạnh của Bình Thuận (cùng với Tuy Phong, Phan Thiết và Lagi), là trung tâm khai thác, bảo quản, chế biến và đầu mối thương mại về thủy sản (giao dịch, buôn bán thủy sản với các vùng khác của cả nước và trực tiếp xuất khẩu thủy sản các loại, từ sản phẩm tươi sống, đông lạnh cho đến sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao vào thị trường khu vực và thế giới)

- Xây dựng đội tàu đánh bắt xa bờ công suất lớn, bám biển dài ngày, từng bước hiện đại hóa phương tiện, công cụ và phương pháp đánh bắt

- Xây dựng và phát triển đồng bồ cơ sở hậu cần trên đảo bao gồm: Cảng, chợ cá đầu mối, năng lượng, vật tư – thiết bị, dịch vụ hậu cần, cơ sở bảo quản, chế biến, vận chuyển tiêu thụ sản phẩm và cơ sở vật chất - kỹ thuật đảm bảo dịch

vụ tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển

- Kết hợp phát triển hải sản với bảo vệ an ninh quốc phong, khẳng định chủ quyền vùng biển của Tổ quốc

- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng ngành thủy sản thời kỳ 2010 – 2020 là

Trang 30

ngay trên tàu Mở rộng ngư trường đánh bắt, vươn ra ngư trường các đảo xa, ngư trường phía Nam và hoạt động thường xuyên trên vùng biển Đông

- Chuyển dịch cơ cấu thuyền nghề, kết hợp một cách hiệu quả các loại tàu thuyền quy mô công suất khác nhau, sử dụng hợp lý tàu thuyền công suất nhỏ Phân vùng đánh bắt kết hợp với bảo vệ nguồn lợi Đi đôi với việc phát triển tàu thuyền công suất lớn, ứng dụng các thiết bị hiện đại trong nghề câu của đảo Từng bước tăng tỷ trọng sản phẩm nghề câu trong sản phẩm khai thác

- Phát triển các nghề khai thác mới, tiên tiến như giã cào khơi (giã cào đôi nước sâu, giã cào tầng giữa )

- Từng bước ứng dụng kỹ thuật mới trong bảo quản sản phẩm trên tàu cá (kỹ thuật lắp đặt hầm lạnh trên tàu, sử dụng các vật liệu cách nhiệt mới…) để đảm bảo chất lượng sản phẩm và nâng cao giá trị của sản phẩm

Dự kiến năng lực đánh bắt

Giai đoạn 2011 – 2020: Tiếp tục đổi mới, hiện đại hóa đội tàu thuyền đánh bắt với phần lớn là tàu thuyền công suất lớn (trên 90 CV) Năng lực đánh bắt ổn định 500 chiếc Giai đoạn này bình quân đóng mới hàng năm 15 – 20 thuyền, công suất đóng mới tập trung vào loại trên 135 CV/tàu Phấn đấu đạt sản lượng đánh bắt năm 2020 tối thiểu là 30.000 tấn, trong đó: cá giá trị kinh tế cao, hải đặc sản là 50% sản lượng khai thác

Nuôi trồng

Đẩy mạnh công tác khuyến ngư, khuyến khích phát triển nuôi trồng hải sản góp phần thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện kinh tế biển Quy hoạch, sử dụng hợp lý các vùng nuôi trồng ven bờ, trên rạn san hô thu hút lực lượng lao động, giải quyết việc làm Nghiên cứu mở thêm diện tích nuôi tại các khu Hòn Đỏ

và Hòn Đen để khai thác có hiệu quả các lợi thế của đảo về nuôi trồng thủy sản biển Bảo vệ và làm giàu bãi san hô và nguồn lợi thủy sản đi theo ở khu vực Lạch

Trang 31

Dù Kết hợp với ngành du lịch để đưa các điểm nuôi trồng thủy sản vào danh mục địa điểm du lịch

Bảng 1: Một số mục tiêu khai thác, nuôi trồng hải sản đến năm 2020

+ Xây dụng hoàn chỉnh và đưa vào sử dụng cụm dịch vụ nghề cá (rộng 10 ha), Khu cảng cá của cảng Phú Quý, bến thuyền Hải Long

+ Hoàn thành và đưa vào khai thác có hiệu quả kho dầu với năng lực cung ứng 1.000 tấn để phục vụ cho đội tàu khai thác xa bờ trong và ngoài tỉnh hoạt động ở khu vực ngư trường thuộc vùng đảo Phú Quý

+ Đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất nước đá, nâng năng lực cung ứng lên 200 tấn nước đá/ngày

+ Xây dựng thêm kho làm lạnh công suất 300 tấn/ngày, đưa tổng năng lực bảo quản lên 600 tấn/ ngày Đảo bảo năng lực bảo quản cho sản phẩm của đội tàu khai thác tại đảo và tàu vãng lai

+ Xây dựng cụm cơ khí đóng mới và sửa chữa tàu thuyền Đầu tư đổi mới, hiện đại hóa trang thiết bị, nâng công suất các cơ sở sửa chữa vỏ tàu và máy thủy, có đủ năng lực sửa chữa tàu thuyền đánh cá công suất vừa và lớn, phục vụ nhu cầu đội tàu của đảo và các tàu vãng lai

Trang 32

+ Tổ chức đội tàu dịch vụ (nâng số lượng đội tàu thu mua lên 40-50 chiếc), làm nhiệm vụ thu mua sản phẩm, cung ứng nhiên liệu, vật tư, hàng hóa, lương thực, thực phẩm…đảm bảo cho ngư dân bám biển dài ngày, giảm thời gian

đi về để nâng cao hiệu quả và có mặt thường xuyên ở vùng biển lãnh hải của Tổ quốc

+ Xây dựng chợ cá đầu mối Phú Quý (trên khu đất 3 ha trong khu thương mại Phú Quý), mở sàn giao dịch thủy sản và những điều kiện đảm bảo để có thể thực hiện xuất khẩu thủy sản trực tiếp trên đảo Xây dựng Phú Quý trở thành một đầu mối giao dịch và thương mại thủy sản của khu vực ngư trường biển Đông từ quần đảo Trường Sa đến Côn Đảo trong khoảng thới gian là năm 2013-2015 + Xây dựng khu neo đậu tàu thuyền tránh bão (quy mô 1.000 tàu, thuyền), đảm bảo thực hiện các hoạt động tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trong khu vực vùng biển Nam Trung Bộ và các tàu thuyền khai thác đại dương

+ Củng cố trung tâm kiểm ngư, đầu tư hiện đại và đồng bộ hóa trang thiết

bị, tăng cường đào tạo chuyên môn cho lao động, đẩy mảnh có hiệu quả các hoạt động khuyến ngư, thanh tra thủy sản để thực hiện tốt các hoạt động kiểm soát môi trường, các nguồn lợi biển, tham gia giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm các khâu từ nuôi trồng, đảm quản cho đến chế biển, đảm bảo những yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước

1.3 Nghề nuôi cá mú lồng bè tại huyện đảo Phú Quý

1.3.1 Một số đặc điểm của cá mú

Cá mú là loài sống đáy, chủ yếu sống ở độ sâu từ 1- 100 m nước, nơi chất đáy là đá, rạn san hô và đáy cát hoặc các vùng nước cạn trong đầm, vịnh và ngoài khơi cá mú là loài sống độc lập, có bản tính hung dữ, chúng thường ẩn sau các vách đá và san hô để rình mồi Chỉ đến mùa sinh sản cá mú mới cặp thành đôi tại bãi đẻ Các loài cá mú phân bố chủ yếu ở các vùng nước ấm, mùa hè chúng thường tập trung ở vùng gần bờ, mùa đông di chuyển ra vùng nước sâu có các rạn san hô, chỉ dư cư với cự ly ngắn, do vậy chúng có thể sống ở những nơi có nhiệt

Trang 33

độ từ 22 0C-32 0C, khoảng thích hợp cho tăng trưởng và phát triển là 26 0C- 30

hợp là 7.5-8.5 Giai đoạn còn nhỏ Cá Mú ăn sinh vật phù du, khi trưởng thành ăn các loài cá nhỏ, giáp xác và mực

Hình 4: Hình ảnh cá mú ngoài tự nhiên

Trang 34

Nếu là tiến hành nuôi mới thì phải thiết kế lồng cho phù hợp với địa bàn nuôi nên thiết kế lồng khi đã đúc rút kinh nghiệm từ thiết kế trước, hoặc học hỏi kinh nghiệm từ những người nuôi trước Còn nếu sử dụng lồng bề cũ thì phải vệ sinh lồng bè, tu sửa lại lồng bè cho chu đáo để quy trình nuôi diễn ra được an toàn Phải chọn một khu vực đạt lồng nuôi phù hợp: Phải kín gió, tiện cho việc chăm sóc, ngoài vùng ô nhiễm, đảm bảo được độ sâu của lồng khi thủy chiều lên xuống…

Tiếp đến là chọn con giống để thả nuôi, để có một lớp giống thả chất lượng cao thì người nuôi phải chọn mua ở những nơi có nguồn giống chất lượng và có

uy tín cao Trong khi chọn con giống thì phải tiến hành lựa chọn cho thật kỹ càng, phải kết hợp cả kinh nghiệm của bản thân và cách chọn giống khoa học Khi tiến hành thả giống thì cần chọn thời gian thả phù hợp, tránh tình trạng cá con bị sốc khi chuyển từ môi trường này sang môi trường khác

Giai đoạn 3

Thu hoạch cá

và bán ra thị trường

Trang 35

Giai đoạn 2:

Giai đoạn này là giai đoạn quyến định nhất của toàn bộ quá trình nuôi cá vì

nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu vào và chất lượng đầu ra của cá thương phẩm: Do đó người nuôi phải tiến hành cho ăn hàng ngày, số lần cho ăn tùy thuộc vào thời kỳ sinh trưởng của cá (Thường cho ăn từ 1 đến 2 lần trong ngày) nên tránh việc cho ăn quá nhiều vì sẽ lãng phí hoặc làm ô nhiễm môi trường, cũng không được cho ăn quá ít vì cá sẽ phát triển chậm

Ngoài ra người nuôi con phải theo dõi tình hình bệnh của cá, với phương châm là phòng bệnh hơn chữa bệnh để làm giảm bớt thiệt hại cho mình Nếu bệnh của cá ở ngoài khả năng sử lý của người nuôi thì người nuôi cần báo cho cán bộ phụ trách kỹ thuật của trung tâm khuyến ngư của huyện đảo sử lý Một việc cũng hết sức quan trọng là theo dõi tình hình môi trường trong lồng nuôi và khu vực nuôi để tiến hành sử lý khi môi trường có sự thay đổi theo hướng không có lợi cho sự phát triển của cá

Giai đoạn 3

Giai đoạn thu hoạch là giai đoạn cuối cùng của quá trình nuôi cá trước khi

bán cá ra thị trường tiêu thụ Sau khi đã tìm được mối bán phù hợp thì người nuôi tiến hành thu hoạch cá, trong khi thu hoạch thì cần chú ý cẩn thận để tránh làm chết cá hoặc say sát làm giảm chất lượng của cá và giảm giá bán cá Ngoài ra cần tiến hành phân loại cá ra từng loại để có thể bán và thu được lợi nhuận là cao

nhất

Ngày đăng: 28/06/2014, 11:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : Bản đồ Việt Nam - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Hình 1 Bản đồ Việt Nam (Trang 16)
Hình 2 : Bản đồ tỉnh Bình Thuận - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Hình 2 Bản đồ tỉnh Bình Thuận (Trang 17)
Hình 3 : Bản đồ huyện đảo Phú Quý - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Hình 3 Bản đồ huyện đảo Phú Quý (Trang 18)
Hình 4: Hình ảnh cá mú ngoài tự nhiên - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Hình 4 Hình ảnh cá mú ngoài tự nhiên (Trang 33)
Sơ đồ 1: Quy trình nuôi cá mú đơn giản - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Sơ đồ 1 Quy trình nuôi cá mú đơn giản (Trang 34)
Sơ đồ 2: Sơ đồ khối nghiên cứu - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Sơ đồ 2 Sơ đồ khối nghiên cứu (Trang 41)
Hình 7: Hình ảnh cá mú tại huyện - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Hình 7 Hình ảnh cá mú tại huyện (Trang 44)
Hình 8: Hình ảnh tác giả đi thực tế ngoài đảo - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Hình 8 Hình ảnh tác giả đi thực tế ngoài đảo (Trang 45)
Bảng 5: Số liệu đầu vào của các hộ nuôi cá mú tại đảo - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Bảng 5 Số liệu đầu vào của các hộ nuôi cá mú tại đảo (Trang 50)
Bảng 7: Số hộ đat hiệu quả kỹ thuật và chƣa đạt hiệu quả kỹ thuật nuôi cá - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Bảng 7 Số hộ đat hiệu quả kỹ thuật và chƣa đạt hiệu quả kỹ thuật nuôi cá (Trang 52)
Bảng 8: Hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi cá Mú thương phẩm tại - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
Bảng 8 Hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi cá Mú thương phẩm tại (Trang 54)
Phụ lục 1: Bảng số liệu các yếu tố đầu vào, đầu ra đƣa vào phân tích - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
h ụ lục 1: Bảng số liệu các yếu tố đầu vào, đầu ra đƣa vào phân tích (Trang 66)
Phụ lục 2: Bảng hiệu quả mô hình bao phủ tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
h ụ lục 2: Bảng hiệu quả mô hình bao phủ tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận (Trang 67)
Phụ lục 3: Bảng các yếu tố đầu vào mục tiêu - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
h ụ lục 3: Bảng các yếu tố đầu vào mục tiêu (Trang 69)
Phụ lục 5: Bảng mục tiêu các yếu tố đầu vào (Chạy lần 2) - đánh giá hiệu quả kỹ thuật nuôi cá mú tại huyện đảo phú quý tỉnh bình thuận
h ụ lục 5: Bảng mục tiêu các yếu tố đầu vào (Chạy lần 2) (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w