Vì vậy, đề tài “Đa dạng sinh học của hệ vi sinh vật trên gỗ Trầm hương Khánh Hòa” được thực hiện nhằm mục đích: Phân lập các chủng vi sinh vật trên gỗ cây Trầm hương Xác định một số
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin chân thành gửi lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn
Duy, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy, cô trong Viện Công nghệ sinh học & Môi trường, Trường Đại học Nha Trang đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập
Con xin gửi lòng biết ơn đến bố mẹ cùng gia đình đã tạo mọi điều kiện về mặt tinh thần cũng như về vật chất trong suốt quá trình của khóa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến chị Nguyễn Minh Nhật, cán bộ quản lý phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học, đã tạo mọi điều kiện về thời gian để tôi hoàn thành đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể Lớp 50 CNSH, những bạn đồng hành cùng tôi trong bốn năm qua, cùng chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã dành cho tôi tình cảm quý báu này
Nha Trang, tháng 06 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Trà
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
BẢNG KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Tổng quan về cây Dó bầu 4
1.1.1 Đặc điểm phân loại 4
1.1.2 Đặc điểm hình thái 4
1.1.3 Đặc điểm sinh thái 5
1.1.4 Lợi ích của cây Dó bầu 7
1.2 Tổng quan về Trầm hương 8
1.2.1 Sự hình thành Trầm hương trong tự nhiên 8
1.2.2 Đặc điểm chung của Trầm hương 8
1.2.3 Phân loại và tính chất của Trầm hương 9
1.2.4 Công dụng của Trầm hương 10
1.2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Trầm hương 12
1.3 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học của hệ vi sinh vật trên gỗ Trầm hương 16
1.3.1 Trên thế giới 16
1.3.2 Ở Việt Nam 17
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Vật liệu 19
2.1.1 Mẫu Trầm hương 19
2.1.2 Môi trường và thuốc thử 19
Trang 32.1.3 Thiết bị chuyên dụng 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Phân lập các chủng vi sinh vật 21
2.2.2 Sơ bộ phân loại các chủng vi sinh vật 22
2.2.3 Xác định đặc điểm hình thái 25
2.2.4 Nhuộm Gram 25
2.2.5 Xác định khả năng sinh bào tử 25
2.2.6 Thí nghiệm cấy sinh khối vi sinh vật trên cây Dó bầu 26
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Kết quả phân lập các chủng vi khuẩn từ mẫu gỗ Trầm hương 27
3.2 Đặc điểm hình thái và hóa sinh 27
3.2.1 Hình thái khuẩn lạc 27
3.2.2 Nhuộm gram 35
3.2.3 Khả năng sinh bào tử 40
3.2.4 Sơ bộ phân loại các chủng vi sinh vật phân lập được thành các nhóm 41
3.3 Thử nghiệm cấy sinh khối vi sinh vật trên cây Dó bầu 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
Kết luận 44
Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 4BẢNG KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
(Đơn vị hình thành khuẩn lạc)
(Mật độ quang)
(Môi trường rắn nuôi cấy vi khuẩn tổng số)
(Môi trường lỏng nuôi cấy vi khuẩn tổng số)
The International Union for the Conservation of Nature
and Natural Resources (Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Quốc tế)
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Hệ thống phân loại vi khuẩn Gram (+) của Bergey 23 Bảng 2.2 Hệ thống phân loại vi khuẩn Gram (-) của Bergey 24 Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái của các chủng vi sinh vật hiếu khí phân lập được trên môi trường TSB 27 Bảng 3.2 Phân loại Gram các chủng vi khuẩn sau khi tiến hành nhuộm Gram 35 Bảng 3.3 Khả năng sinh bào tử của các chủng vi khuẩn sau khi được kiểm tra bằng phương pháp sốc nhiệt 40
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 0.1 Sơ đồ cách tiếp cận các nội dung nghiên cứu của đề tài 3
Hình 3.1 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T1 30
Hình 3.2 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T2 30
Hình 3.3 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T3 30
Hình 3.4 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T4 30
Hình 3.5 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T5 30
Hình 3.6 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T6 30
Hình 3.7 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T7 31
Hình 3.8 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T8 31
Hình 3.9 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T9 31
Hình 3.10 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T10 31
Hình 3.11 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T11 31
Hình 3.13 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T13 32
Hình 3.14 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T14 32
Hình 3.15 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T15 32
Hình 3.16 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T16 32
Hình 3.17 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T17 32
Hình 3.18 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T18 32
Hình 3.19 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T19 33
Hình 3.20 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T20 33
Hình 3.21 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T21 33
Hình 3.22 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T23 33
Hình 3.23 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T24 33
Hình 3.24 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T25 33
Hình 3.25 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T26 34
Hình 3.26 Khuẩn lạc chủng vi khuẩn T27 34
Hình 3.27 Màu môi trường chuyển sang màu xanh sau khi nuôi cấy chủng T24 so với chủng T4 34
Hình 3.28 Màu môi trường TSB sau khi nuôi cấy chủng vi khuẩn T17 34
Hình 3.29 Tế bào của chủng vi khuẩn T20 sau khi nhuộm Gram 35
Trang 7Hình 3.30 Tế bào của chủng vi khuẩn T7 sau khi nhuộm Gram 35
Hình 3.31 Tế bào của chủng vi khuẩn T11 sau khi nhuộm Gram 36
Hình 3.32 Tế bào của chủng vi khuẩn T12 sau khi nhuộm Gram 36
Hình 3.33 Tế bào của chủng vi khuẩn T13 sau khi nhuộm Gram 36
Hình 3.34 Tế bào của chủng vi khuẩn T14 sau khi nhuộm Gram 36
Hình 3.35 Tế bào của chủng vi khuẩn T18 sau khi nhuộm Gram 36
Hình 3.36 Tế bào của chủng vi khuẩn T21 sau khi nhuộm Gram 36
Hình 3.37 Tế bào của chủng vi khuẩn T26 sau khi nhuộm Gram 37
Hình 3.38 Tế bào của chủng vi khuẩn T27 sau khi nhuộm Gram 37
Hình 3.39 Tế bào của chủng vi khuẩn T2 sau khi nhuộm Gram 37
Hình 3.40 Tế bào của chủng vi khuẩn T8 sau khi nhuộm Gram 37
Hình 3.41 Tế bào của chủng vi khuẩn T10 sau khi nhuộm Gram 37
Hình 3.42 Tế bào của chủng vi khuẩn T17 sau khi nhuộm Gram 37
Hình 3.43 Tế bào của chủng vi khuẩn T19 sau khi nhuộm Gram 38
Hình 3.44 Tế bào của chủng vi khuẩn T23 sau khi nhuộm Gram 38
Hình 3.45 Tế bào của chủng vi khuẩn T4 sau khi nhuộm Gram 38
Hình 3.46 Tế bào của chủng vi khuẩn T5sau khi nhuộm Gram 38
Hình 3.47 Tế bào của chủng vi khuẩn T16 sau khi nhuộm Gram 38
Hình 3.48 Tế bào của chủng vi khuẩn T24 sau khi nhuộm Gram 38
Hình 3.49 Tế bào của chủng vi khuẩn T25 sau khi nhuộm Gram 39
Hình 3.50 Tế bào của chủng vi khuẩn T6 sau khi nhuộm Gram 39
Hình 3.51 Tế bào của chủng vi khuẩn T9 sau khi nhuộm Gram 39
Hình 3.52 Tế bào của chủng vi khuẩn T1 sau khi nhuộm Gram 39
Hình 3.53 Tế bào của chủng vi khuẩn T3 sau khi nhuộm Gram 39
Hình 3.54 Tế bào của chủng vi khuẩn T15 sau khi nhuộm Gram 39
Hình 3.55 Khoan lỗ trên cây Dó bầu 42
Hình 3 56 Cấy chủng vi khuẩn lên cây Dó bầu 43
Trang 8và nến đốt trong các dịp lễ Tết, dùng khi hoả táng hoặc ướp xác người quá cố,
Từ xưa Trầm hương đã được xem như là một sản vật hết sức quý hiếm Ngày nay với tên giao dịch thương mại quốc tế là Agarwood hay Eaglewood, Trầm hương vẫn được coi là sản vật có giá trị thương mại quốc tế cao Với nền kinh tế đang ngày càng phát triển, đời sống vật chất lẫn tinh thần của người dân đang ngày càng được nâng cao thì sản phẩm tinh dầu Trầm và các sản phẩm khác từ Trầm hương ở trong nước cũng như trên thế giới đang ngày càng được quan tâm nhiều hơn
Nhu cầu tiêu thụ Trầm hương và tinh dầu Trầm trên thế giới hiện nay là rất lớn, nhưng do hạn chế về nguồn nguyên liệu nên lượng cung cấp chỉ đạt khoảng 40% so với nhu cầu Lượng Trầm tự nhiên gần như đã cạn kiệt do việc khai thác bừa bãi mang tính chất hủy diệt vào những thập niên cuối của thế kỷ XX đã làm cho diện tích trồng cây Trầm hương ngày càng bị thu hẹp cộng với việc chưa thực hiện tốt các biện pháp phục hồi dẫn đến sản lượng ngày càng bị giảm sút Hiện nay chi
Aquilaria cho Trầm-Kỳ đã được liệt kê trong sách đỏ của tổ chức IUCN (The
International Union for the Conservation of Nature and Natural Resources) và được
Trang 9xem có nguy cơ bị tuyệt chủng, cần được bảo tồn và phục hồi (Oldfield, 1998) Nếu không kịp thời được bảo vệ và phục hồi thì có lẽ một thời gian nữa con người sẽ khó có cơ hội được sử dụng và tận hưởng những tác dụng kỳ diệu của các sản phẩm
từ Trầm hương mà thiên nhiên đã ban tặng
Trầm hương được hình thành từ cây Dó bầu nhưng không phải cây Dó nào cũng cho Trầm mà chỉ có những cây bị thương mới hình thành Trầm Cây Dó bầu trong quá trình sinh trưởng, do những tác động nào đó, gây ra những tổn thương hoặc nhiễm bệnh và khi đó cây có phản ứng đề kháng bằng cách tiết ra nhựa nhằm tiêu diệt côn trùng, các loại vi khuẩn, nấm mốc… để cô lập vết thương Lâu ngày cây tích tụ một chất dạng nhựa, rồi lan dần ra, làm biến đổi các phân tử gỗ Đó chính là Trầm-Kỳ
Chính việc nắm được quá trình hình thành Trầm-Kỳ mà ở một số nước như: Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Nhật Bản người ta tạo Trầm nhân tạo bằng cách trồng cây Dó bầu rồi đục thân, tiêm vi khuẩn hoặc nấm vào để kích thích tạo Trầm nhanh chóng Do đó việc phân lập và nghiên cứu những đặc điểm sinh học của hệ vi sinh vật trên gỗ Trầm hương nhằm tạo tiền đề cho việc nuôi cấy tạo trầm nhân tạo, nhằm mục đích đem lại hiệu quả kinh tế cao
Vì vậy, đề tài “Đa dạng sinh học của hệ vi sinh vật trên gỗ Trầm hương Khánh Hòa” được thực hiện nhằm mục đích:
Phân lập các chủng vi sinh vật trên gỗ cây Trầm hương
Xác định một số đặc điểm sinh học và sơ bộ phân loại các chủng phân lập được
Thí nghiệm cấy một số chủng vi khuẩn trên gỗ cây Dó bầu nhằm tạo Trầm hương
Trang 10Nội dung nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu của đề tài được sơ đồ hóa trong Hình 0.1
Hình 0.1 Sơ đồ cách tiếp cận các nội dung nghiên cứu của đề tài
Cấy trang
Cấy ria
Nhuộm Gram
Xác định khả năng sinh bào tử
Sơ bộ phân loại
Cấy sinh khối vi sinh vật trên cây Dó bầu
Xác định đặc điểm hình thái
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về cây Dó bầu
1.1.1 Đặc điểm phân loại
Hệ thống phân loại của cây Dó bầu có tên khoa học: Aquilaria crassna Pierre
ex Lecomte như sau:
Lá: Lá đơn, mọc so le, có hình bầu dục, hay hình ngọn giáo, nhọn ở gốc và thon hẹp ở đầu Phiến lá mỏng dài 10-12 cm, rộng 4-6 cm Mặt trên phiến lá nhẵn bóng có màu xanh lục, mặt dưới nhạt hơn có màu hơi xám có lông mềm Cuống lá dài từ 1-2 cm và có lông
Hoa: Hoa lưỡng tính, mọc thành chùm ở nách lá, hoa màu trắng tro Đài hoa hình chuông, có lông ở miệng Cây trên 3 tuổi có thể ra hoa
Quả: Quả nang, hình quả lê hơi dẹp, dài khoảng 3-4 cm, rộng khoảng 2- 3
cm Vỏ quả gồm hai mảnh (khi chín tự tách ra), mỗi quả có từ 1-2 hạt
Hạt: bao gồm có hai phần: phần chính ở phía trên hình nón và phần kéo dài ở phía dưới Hạt khi chín có màu nâu, phần vỏ ngoài cùng hóa gỗ cứng, bên trong
Trang 12mềm có chứa nhiều dầu, hạt có đời sống rất ngắn, không lưu trữ lâu ngày được Trong tự nhiên khi hạt chín và rụng xuống đất nếu gặp điều kiện ẩm độ thích hợp là nảy mầm ngay Việc lưu trữ hạt kéo dài quá một tuần lễ, tỉ lệ nảy mầm sẽ giảm 80% hoặc không nảy mầm
Thời gian ra hoa kết trái: Cây Dó bầu sau khi trồng khoảng 4-5 năm tuổi thì bắt đầu ra hoa kết trái Tùy vào điều kiện thời tiết của mỗi vùng mà thời gian ra hoa
có khác nhau Ở miền Trung Việt Nam cây bắt đầu ra hoa vào tháng 3 và trái chín vào tháng 7 dương lịch, nhưng ở miền Nam thời gian ra vào hoa tháng 2, trái chín tháng 5 – tháng 6 dương lịch
1.1.3 Đặc điểm sinh thái
a Yếu tố khí hậu
Ánh sáng: Cây Dó bầu khi còn nhỏ rất thích hợp trong điều kiện râm mát Ở giai đoạn vườn ươm – từ lúc nảy mầm đến 6 tháng tuổi – cây con cần được che phủ ánh sáng từ 60-70% Ở giai đoạn từ khi bắt đầu trồng đến khi cây được 2 – 3 năm tuổi, nếu được che bóng cây sẽ sinh trưởng và phát triển rất nhanh
Nhiệt độ: Cây Dó bầu có thể sinh trưởng và phát triển tốt trong khoảng nhiệt
độ từ 15-36oC vào ban ngày, 5-25oC vào ban đêm, thích hợp nhất từ 25 – 28oC
Ẩm độ: Cây Dó bầu là loại cây ưa ẩm nhưng không chịu ngập úng Ẩm độ thích hợp để cho cây phát triển là vào khoảng 80% Việc duy trì ẩm độ cho cây vào mùa nắng là vô cùng quan trọng, nhất là cây ở giai đoạn 2-3 năm tuổi, nếu thiếu ẩm cây sẽ ngừng sinh trưởng hoặc chết Khi cây đã lớn thì việc tưới nước cho cây là không cần thiết
Lượng mưa: Cây Dó bầu là loại cây chịu hạn kém, do đó lượng mưa nhiều hay ít đều có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây Trong tự nhiên, cây Dó bầu chỉ phân bố tập trung ở những vùng có lượng mưa trung bình trong năm từ 1500-1800 mm Lượng mưa hàng năm có ảnh hưởng trên một khu vực rộng lớn, đây là một trong những yếu tố có tính tiên quyết khi lựa chọn và xác định vùng trồng
Trang 13b Yếu tố đất đai
Yếu tố đất đai không những có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng
và phát triển của cây Dó bầu mà còn ảnh hưởng đến quá trình hình thành Trầm hương Sự hình thành Trầm hương trong tự nhiên có liên quan đến loại đất, một số nhân tố lập địa như đá mẹ, tỷ lệ đá lẫn trong đất, độ dốc…
Loại đất: cây Dó bầu có thể sinh trưởng được trên các loại đất như : đất đỏ xám, đỏ vàng, đất feralit, đất cát pha thịt còn tính chất rừng có tầng canh tác sâu và nhiều mùn Trong tự nhiên loại đất feralit nâu vàng hình thành trên phiến sa thạch thì số cây có Trầm và mức độ hình thành Trầm đạt tiêu chuẩn thương mại cao hơn
số cây mọc trên đất Feralit nâu đỏ được hình thành từ đá mẹ Granit Có thể nói cây
Dó trồng được trên nhiều loại đất khác nhau ngoại trừ đất cát nghèo kiệt, đất đá vôi, đất bị ngập úng hoặc đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn
Về tính chất vật lý thì đất trồng cần phải có tầng đất mặt tơi xốp, khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt, pH đất từ 5 – 6
Về thành phần dinh dưỡng thì đất phải giàu chất hữu cơ và các chất vô cơ Nhân tố lập địa: thường những cây sống ở điều kiện địa lý có độ dốc lớn, tỷ
lệ đá lẫn trong đất nhiều thì sản lượng khai thác Trầm lớn hơn và chất lượng Trầm cao hơn Trong thực tế ở nước ta, sản lượng cũng như chất lượng Trầm hương thu được từ cây Dó bầu có sự khác nhau giữa các địa phương Ở các tỉnh Miền Trung sản lượng và chất lượng Trầm hương luôn cao hơn những nơi khác, đặc biệt ở là vùng Vạn Giã - Vạn Ninh - Khánh Hòa là địa danh nổi tiếng nhất từ trước đến nay
có loại Trầm-Kỳ tốt nhất thế giới
Đó là sự khác biệt về địa lý của Trầm hương trong tự nhiên còn về Trầm hương nhân tạo thì cho đến nay các nhà khoa học chưa có kết luận gì về mối liên quan giữa chất lượng Trầm và các yếu tố địa lý
c Phân bố
Trong tự nhiên giống cây Dó bầu phân bố khắp các nước vùng Châu Á từ Trung - Cận Đông, Nam Á, cho đến các nước Đông Nam Á… Ở vùng Trung - Cận Đông cây Dó bầu mọc nhiều trên những rặng núi hiểm trở phía nam Ả Rập Ở vùng
Nam Á cây Dó bầu có nhiều ở Ấn Độ, chủ yếu là loài Aquilaria khasiana H
Trang 14Hallier Vùng Đông Nam Á bao gồm các quốc gia: Malaysia có 4 loài: Aquilaria
beccariana van Tiegh, A microcarpa Baill, A hirta Ridl và A rostrata Ridl; Thái
Lan chủ yếu là loài A subintegra Ding Hou Indonesia có 4 loài: A beccariana van Tiegh, A hirta Ridl, A microcarpa Baill, A moszkowskii Gilg, tập trung chủ yếu ở đảo Sumatra); Philippin bao gồm các loài: A cumingiana Ridl, A filaria Merr, A
apiculata Merr, A acuminate Quis; Singarpore chủ yếu là loài A hirta Ridl; Ở
Campuchia Dó bầu thường mọc phân tán trong các khu rừng nằm ven biển, có 2
loài chính là: A crassna Pierre ex Lecomte, A baillonii Pierre ex Lecomte Tại nước ta, Dó bầu có tất cả 4 loài, đó là: A crassna Pierre ex Lecomte, A baillonii Pierre ex Lecomte, A banaense Pham-hoang-Ho và loài A rugosa L.C.Kiệt & PJ.A
Kessler
Ở Việt Nam cây Dó bầu phân bố tại các địa bàn như sau:
Phía Bắc: Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, Hòa Bình, Hà Tây, Quảng Ninh, Bắc
Hà, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Bắc
Miền Trung: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẳng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa
Tây Nguyên: Gia Lai, Kontum, Đắc Lắk
Miền Nam: Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang, Đảo Phú Quốc
Trong số các địa bàn trên, cây Dó bầu tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Trung Trung bộ, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang, vùng Bảy núi tỉnh An Giang Đặc biệt thấy nhiều trên suốt chiều dài của dãy Trường Sơn, ở Đông Trường Sơn có nhiều hơn là Tây Trường Sơn Nhưng do sự khai thác bừa bãi của dân, đến nay chỉ còn thấy cây Dó bầu ở những vùng xa xôi, đầu nguồn rừng già
1.1.4 Lợi ích của cây Dó bầu
Hiệu quả kinh tế: Dó bầu là cây rất đa dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Gỗ của cây có thể dùng làm đồ gia dụng, làm bột giấy, bột nhang
Lá làm dược liệu Vỏ làm sợi Sản phẩm chính của cây là Trầm hương, là phần có giá trị nhất được sử dụng để chưng cất tinh dầu Trầm, sản xuất các loại mỹ phẩm cao cấp, làm thuốc, ngoài ra đốt Trầm hương là một tập quán không thể thiếu được
Trang 15trong các nhà thờ, lăng miếu, đình, chùa, cung điện, và các gia đình quý tộc ở các nước Hồi giáo
Ngoài hiệu quả kinh tế trực tiếp, trồng cây Dó bầu còn tạo công ăn việc làm cho người lao động, mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững cho nông thôn, vùng sâu vùng xa, tạo nguồn nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến tinh dầu, công nghiệp giấy, công nghiệp hương liệu, mỹ phẩm và dược phẩm…, tạo nguồn hàng xuất khẩu giá trị lớn, hiệu quả cao
Ý nghĩa về môi trường: Tăng độ che phủ của rừng, chống xói mòn đất, giữ nước, bảo vệ môi trường; bảo tồn và phát triển loài cây đặc hữu, quý hiếm, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế của nước ta; góp phần làm cân bằng hệ sinh thái,
quần xã sinh vật trong rừng
1.2 Tổng quan về Trầm hương
1.2.1 Sự hình thành Trầm hương trong tự nhiên
Trong tự nhiên không phải bất kỳ thân cây Dó nào cũng có Trầm – Kỳ, chỉ
có những cây bị thương và bị nhiễm trùng mới chứa Trầm − Kỳ (Chalermpongse và
cs, 1990) Khi cây Dó bầu bị thương do các tác động vật lý như nứt, gãy… thì các loài sinh vật như: côn trùng, nấm mốc, vi khuẩn… nhanh chóng xâm nhập và cư trú Chúng có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây bệnh cho cây Dó Tại bề mặt vết thương một mặt do khí hậu thời tiết hủy hoại gỗ, mặt khác tại đây có một cơ chế phản ứng chống lại vết thương của cây gỗ Để bảo vệ vết thương cây Dó sẽ huy động nhựa cây đến nơi có vết thương để “tự băng bó vết thương”, xem như một khả năng tự đề kháng để chống lại bệnh
Qua một thời gian dài từ 10 – 20 năm hoặc lâu hơn, cây bị bệnh lá có màu vàng và nhỏ dần, thân cây có nhiều u bướu, xuất hiện những điểm nâu đỏ, nơi có vết thương chất nhựa được tích tụ nhiều, các tế bào gỗ bị thoái hóa, mất mộc tố, trong vách và các mạch tế bào tích tụ bởi các hợp chất hữu cơ, chúng liên kết với nhau tạo ra khối Trầm với hình dạng và kích thước khác nhau
1.2.2 Đặc điểm chung của Trầm hương
Trầm hương nếu quan sát kỹ qua độ phóng đại của kính lúp ta thấy các tế bào gỗ bị thoái hóa, biến dạng, mất mộc tố, chứa một chất nhựa thơm (tinh dầu),
Trang 16biến thành những khối hình thể không đều, lồi lõm, có rãnh dọc Trầm hương đa dạng về màu sắc (đen, nâu, chàm, xám… ), tính chất (cứng, mềm, dẻo, dòn…), mùi vị (đắng, cay, chua, ngọt,… ), hình dáng (tròn, xoắn, nhọn, dài,… ), xuất hiện
ở nhiều vị trí (thân, cành, rễ) trong cây Dó Đặc điểm nổi bật của Trầm hương là tỏa mùi thơm đặc trưng lúc đốt cũng như lúc chưa đốt
Khi hàm lượng dầu lớn hơn 25% Trầm hương có thể chìm trong nước Loại Trầm hương cao cấp có thể đạt hàm lượng dầu 60-80% Kết quả nghiên cứu của Ishihara khi phân tích hóa học tinh dầu Trầm hương đã cho thấy thành phần chủ yếu của tinh dầu này là các dẫn xuất của chromone và một số sesquiterpene (Ishihara và
cs, 1993)
1.2.3 Phân loại và tính chất của Trầm hương
Theo phẩm cấp Trầm hương được xếp thành 3 hạng (hạng 1: Kỳ nam, hạng 2: Trầm, hạng 3: Tóc) và mỗi hạng chia thành nhiều loại khác nhau
Kỳ nam (nghĩa là điều kỳ diệu của phương nam) là loại Trầm hương có phẩm cấp cao nhất, do sự biến đổi hoàn toàn của các phần tử gỗ, cho nhiều dầu, mềm, dẻo, nhuyễn, có đủ vị (chua, cay, đắng, ngọt); chìm trong nước, tỏa mùi thơm
tự nhiên, khi đốt hương thơm đặc biệt, khói xanh, bay thẳng và dài lên không trung, thường được hình thành ở phần lõi gỗ Kỳ nam được chia thành 4 loại: Bạch kỳ (sắc trắng ngà, xám nhạt, vô cùng quý hiếm, ít khi có, đắt giá nhất); Thanh kỳ (sắc xanh xám, ánh lục, rất quý hiếm, đắt giá sau bạch kỳ); Huỳnh kỳ (sắc vàng sẩm, vàng nâu, quý hiếm và đắt giá sau thanh kỳ); Hắc kỳ (sắc đen chàm, quý và đắt giá sau huỳnh kỳ) Sách xưa xếp loại kỳ nam như sau: nhất Bạch, nhì Thanh, tam Huỳnh, tứ Hắc
Trầm (Trầm hương) được hình thành do sự phân hóa không trọn vẹn của các phần tử gỗ, gỗ ít tẩm nhựa hơn, màu nâu hay có sọc đen, lơ lửng trong nước,
vị đắng, hầu hết khi đốt mới tỏa mùi thơm, khói màu trắng, bay quanh rồi tan ngay, chủ yếu dùng để chưng cất tinh dầu Theo phẩm cấp, hiện nay Trầm được xếp thành 6 loại: loại 1 (màu trắng sáp), loại 2 (màu xanh đầu vịt), loại 3 (màu sáp xanh), loại 4 (màu sáp vàng), loại 5 (màu vằn lông hổ), loại 6 (màu vàng đốm dầu) Giá trị của Trầm hương giảm dần theo thứ tự các loại Sách xưa chia
Trang 17Trầm hương thành 5 loại: Hoàng lạp trầm, Hoàng trầm, Giác trầm, Tiến hương,
Kê cốt hương, trong đó Hoàng lạp trầm là tốt nhất
Tóc: tóc có nguồn gốc từ chữ tok của người Campuchia Phần lớn tóc có mức nhiễm dầu ít hơn Trầm, chủ yếu là từ bên ngoài và dài theo thớ gỗ, nổi trên mặt nước, thường dùng để làm nhang Có khoảng vài chục loại tóc, với các tên gọi như: tóc kiến, tóc đá, tóc cá ngừ, tóc hương, tóc lọn, tóc dây, tóc đỉa… Tuy nhiên,
có thể xếp các dạng tóc thành 4 nhóm như sau:
Tóc đỉa: là nhóm tóc có mức độ nhiễm dầu nhiều trong các thớ gỗ, dạng nhỏ,
cỡ ngón tay, đầu đũa con hoặc như con đỉa
Tóc dây, là nhóm tóc có mức độ nhiễm dầu xen, tạo nhiều vòng giữa các thớ
gỗ, thường có dạng tròn, dài, dáng rễ cây
Tóc hương, là nhóm tóc có mức độ nhiễm dầu dạng mảnh, mùi thơm nổi trội hơn các lọai tóc khác
Tóc pi, là nhóm tóc có mức độ nhiễm dầu mỏng, bao quanh bên ngoài các thớ gỗ theo dạng hình tháp, hình ống lớn
Trong 4 nhóm tóc thì tóc đỉa được đánh giá cao hơn về chất lượng Tuy nhiên, việc xếp nhóm tóc không nhất thiết theo thứ bật phẩm cấp
Hiện nay chưa có quy định của Nhà nước hoặc của tổ chức phi Chính phủ về tiêu chuẩn phân lọai, đánh giá phẩm cấp Trầm hương Nhưng người ta thường đánh giá Trầm hương thường dựa vào các tiêu chí: xuất xứ, loại hương, hình thù, kích cỡ, màu sắc, trọng lượng, độ tinh khiết và loài cây Dó tạo ra Trầm hương Trong giao dịch mua bán, việc phân loại Trầm hương phần lớn dựa vào cảm nhận, kinh nghiệm, thông qua hành vi trực tiếp của con người như nhìn, sờ, gọt, bấm, đốt, nếm, ngửi…
1.2.4 Công dụng của Trầm hương
Trầm hương là một mặt hàng có giá trị cao, được sử dụng chủ yếu để làm hương liệu mỹ phẩm và dược liệu
Hương liệu mỹ phẩm
Tinh dầu Trầm thường được sử dụng làm chất định hương, điều chế các loại nước hoa hảo hạng, làm xà phòng tắm cao cấp và dầu gội đầu (Kadir, 1997) Các loại phấn sáp, các loại kem, các loại nước hoa có tinh dầu Trầm là một hợp chất có
Trang 18khả năng làm biến đổi những đặc tính bên ngoài và bên trong của làn da như xoá vết nám, vết mụn, vết tàn nhang… mà không tạo ra những phản ứng phụ cho da Sử dụng hoá mỹ phẩm có tinh dầu Trầm làm cho da dẻ mát dịu, con người thêm tươi tắn, hưng phấn, vì thế chúng được xem như là người bạn vĩnh hằng của sắc đẹp
Trầm hương còn được dùng để trừ sơn lam chướng khí Người ta thường xông Trầm trong nhà để trừ khí độc và thường mang Kỳ nam trong người để ngừa sơn lam chướng khí, trị phong độc, trúng độc, trừ tà, ấm dạ dày Ở một vài vùng, nhất là vùng tiếp giáp giữa hai tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa, người ta thường bọc Kỳ nam trong túi vải thưa để đeo ở cổ xem như “bùa hộ mệnh”
Tuy nhiên, Trầm−Kỳ là thuốc trụy thai, nên phụ nữ có thai không nên uống hoặc mang trong mình, có thể làm sảy thai Những người suy nhược và biếng ăn, suy gan… không nên dùng Trầm−Kỳ
Trong Tây Y, Trầm hương có tính kháng sinh cao (diệt khuẩn, làm lành vết thương) và có tác dụng chữa một số bệnh về tim mạch (đau ngực, suy tim), bệnh về
hô hấp (hen suyễn), bệnh về thần kinh (an thần, trị mất ngủ, giảm đau, trấn tỉnh…), bệnh về tiêu hóa (đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy), đặc biệt có thể dùng Trầm hương
để chữa trị ung thư tuyến giáp
Trong các lĩnh vực khác: Trầm hương được dùng làm sản phẩm biếu tặng trong lĩnh vực ngoại giao; trong tôn giáo: đốt trong các chùa chiền, đền thờ…vào các dịp lễ đặc biệt, làm nhang để đốt vào lúc cúng kiến (Yaacob, 1999); tín ngưỡng:
Trang 19mang theo bên mình để làm vật may mắn; chế tác đồ thủ công mỹ nghệ: tượng, vật cảnh, đồ trang trí…; làm giấy quý (vẽ tranh, viết kinh thánh…)
1.2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Trầm hương
a Nhu cầu và thị trường tiêu thụ Trầm hương
Thông qua các kênh thông tin đã công bố của cơ quan Hải quan các nước nhập khẩu tinh dầu Trầm và một số nguồn thông tin khác, hiện nay trên thế giới có tới 167 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu, buôn bán và tiêu thụ loại sản phẩm này, chỉ tính riêng từ năm 2002-2006 toàn thế giới đã tiêu thụ khoảng 167.554 tấn tinh dầu Trầm, bình quân mỗi năm nhập khẩu và tiêu thụ hơn 33.500 tấn Trong đó,
có 6 nước nhập khẩu số lượng tinh dầu Trầm lớn nhất (trên 10.000 tấn) gồm: Mỹ (29.138 tấn); Pháp (15.352 tấn); Mexico (14.962 tấn); Tây Ban Nha (13.155 tấn); Anh (12.582 tấn) và Đức (10.647 tấn), (Đinh Xuân Bá, 2007)
Chỉ tính từ năm 1993 đến năm 1998, Đài Loan đã nhập khoảng 4.500 tấn Trầm hương từ các quốc gia như Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Singaporee, Thái Lan… nhưng nhiều nhất là từ Indonesia (2829,5 tấn) và Việt Nam (531,8 tấn)
Theo thống kê của tổ chức TRP (The Rainforest Project), khoảng 5 năm gần đây khu vực Đạo giáo và Hồi giáo sử dụng hơn 2.500 tấn Trầm các loại, ngành hoá
mỹ phẩm mỗi năm nhu cầu khoảng 5.000 lít tinh dầu Trầm loại tốt, nhưng mới đáp ứng được khoảng 100 lít
Giá Trầm hương năm 2003 vào khoảng vài USD/kg đến hơn 30.000 USD/kg (Akter, 2008) Đến năm 2007 theo Đinh Xuân Bá (2007) thì đơn giá xuất khẩu tinh dầu Trầm của Việt Nam thấp nhất ở các thị trường: Philippine, Đài Loan, Malaysia,
Ấn Độ, Tây Ban Nha, Anh, Mexico, Đức, Hà Lan, Mỹ, Canada, Úc, Ý, Trung Quốc, với giá dưới 10 USD/kg; cao nhất là thị trường Israel với giá 106,16 USD/kg
Trầm hương được mua bán dưới nhiều hình thái khác nhau, nhưng các nước
có nguồn Trầm hương phần nhiều là xuất khẩu dạng: mảnh, miếng chiếm 95%, dạng gỗ chiếm 3%, dạng bột chiếm hơn 1% và tinh dầu dưới 1% Vì kỹ thuật chiết
Trang 20tinh dầu hiện nay vẫn chưa phát triển mạnh nên hiệu suất tách chiết vẫn chưa cao, với 3 tấn nguyên liệu tùy theo chất lượng có thể chiết suất được từ 1 – 3 lít tinh dầu
Hiện nay chỉ còn một vài nước cung cấp Trầm hương cho thị trường thế giới, trong đó Trầm hương Việt Nam được đánh giá là có chất lượng cao nhất
b Tình hình khai thác Trầm hương trong thiên nhiên
Trầm hương, đinh hương, nhục quế, dầu thơm… là những dược liệu xuất hiện rất sớm trên thị trường Trong đó Trầm hương được xem là mặt hàng quý giá nhất do có những công dụng đặc biệt trong đời sống cũng như trong các tín ngưỡng tôn giáo Ở Việt Nam, việc khai thác và sử dụng Trầm hương đã có từ rất lâu đời
Vào thời Bắc thuộc, Nhà nước phong kiến phương Bắc hàng năm buộc nhân dân ta phải cống nạp các sản vật quí giá như ngà voi, sừng tê giác, ngọc trai, yến sào… trong đó có cả Trầm hương
Dưới triều nhà Nguyễn, việc khai thác Trầm hương được nhà nước quản lý hết sức chặt chẽ Đối với những vùng có nguồn Trầm hương để khai thác, triều đình cho lính canh tuần và buộc những người đi điệu vào rừng lấy Trầm về nạp
Vào thời Pháp thuộc, lệ bắt dân lấy Trầm nạp cho vua quan được bãi bỏ, nhưng bù vào đó chính quyền thực dân Pháp tăng cường kiểm soát việc chặt đốn cây Dó để khai thác Trầm
Sau năm 1975, do trải qua mấy chục năm chiến tranh, các khu rừng gỗ quý
bị bom đạn tàn phá nặng, nhiều cây Dó bị bệnh, bị bom đạn hủy hoại lại sản sinh ra những loại Trầm − Kỳ rất tốt Các địa phương có trữ lượng Trầm hương tương đối tập trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Gia Lai, Kontum và đảo Phú Quốc được chính phủ cho phép khai thác và xuất khẩu Trầm hương để thu hút ngoại tệ và đổi một số máy móc thiết bị mà địa phương đang cần Những đội công nhân chuyên nghiệp được thành lập để khai thác Trầm hương, nhưng thực tế số lượng những đội khai thác lâm sản của nhà nước tại các địa phương lại quá ít so với nhu cầu Trong thời kỳ này, sự khai thác Trầm hương phần lớn qua đường dây của các tiểu thương và được Nhà nước thu mua một phần được
sử dụng để sản xuất dược liệu, phần khác thì để xuất khẩu
Trang 21Đến cuối thập niên 1990, nguồn Trầm hương tự nhiên ở Việt Nam gần như cạn kiệt và để bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia Chính phủ đã cấm hẳn việc khai thác, mua bán Trầm hương và xem đó là hàng quốc cấm
Hiện nay theo thời gian vùng nguyên liệu bị thu hẹp dần Cách đây khoảng
10 năm chỉ còn một số quốc gia như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Myanmar… có Trầm và gần đây thì sản lượng Trầm hương ở các nước này thấp hẳn do nguồn khai thác hầu như đã cạn kiệt Chẳng hạng năm 1993, Indonesia khai thác và xuất khẩu hơn 661 tấn thì năm 1997 chỉ còn 302 tấn; tương tự Indonesia, Malaysia từ 43,6 tấn còn 21,6 tấn; Campuchia năm 1995 khai thác và xuất khẩu 133,8 tấn thì 3 năm sau chỉ còn 13,2 tấn; Ấn Độ năm 1995 xuất khẩu 15,1 tấn thì năm 1997 chỉ còn 1,4 tấn
Ở Việt Nam, theo thống kê của ngành Thương mại từ năm 1986-1990, khai thác và xuất khẩu khoảng 1.163,9 tấn Trầm hương Nhưng cũng giống như các nước là số lượng ngày càng giảm sút, chẳng hạn năm 1985 khai thác và xuất khẩu 216,1 tấn thì năm 1990 chỉ còn 73,4 tấn
Do vậy gần đây con người đã chủ động trồng cây Dó bầu để khai thác Trầm hương và chưng cất tinh dầu Trầm để đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ
c Tình hình sản xuất Trầm hương hiện nay
Từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu thành công các phương pháp cấy tạo Trầm trên thân gỗ của cây Dó bầu đã mở
ra một hướng đi mới cho thị trường Trầm hương trong nước cũng như trên thế giới Ngày nay, kỹ thuật cấy tạo Trầm nhân tạo đã trở nên phổ biến với chất lượng không thua kém trầm trong tự nhiên nhưng với thời gian nhanh hơn Cây Dó bầu chỉ sau trồng từ 6-7 năm là có thể cấy tạo Trầm và sau 24- 36 tháng là có thể khai thác Bên cạnh đó, theo thống kê của Hội Trầm hương Việt Nam, diện tích trồng cây Dó bầu tại Việt Nam đã tăng từ 8.000 ha vào năm 2007 lên đến trên 30.000 ha vào năm
2011 tập trung ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Việc sản xuất Trầm hương ở nước ta hiện nay còn có nhiều thuận lợi và khó khăn như sau:
Trang 22 Thuận lợi
Sản phẩm Trầm hương, nhất là tinh dầu có thị trường tiềm năng rộng lớn vì
đó là nguyên liệu có nguồn gốc thảo dược quý hiếm mà ngành dược phẩm ,hương liệu - mỹ phẩm, các lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là Hồi giáo và Phật giáo, các ngành… có nhu cầu sử dụng Trầm hương ngày càng nhiều và hứa hẹn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho các nhà đầu tư Đây là động lực trực tiếp thúc đẩy các tổ chức và cá nhân đầu tư vào ngành sản xuất mới này
Sự khan hiếm về nguồn cung cấp Trầm hương (Trầm hương tự nhiên đã cạn kiệt, sự phục hồi tự nhiên hết sức lâu dài) làm cho giá cả có xu hướng ngày càng tăng Điều này thật sự có lợi cho ngành sản xuất Trầm hương nhân tạo Một điều hết sức may mắn là cây Dó bầu cho Trầm hương nhiều và tốt chỉ có ở nước ta và một vài quốc gia: Campuchia, Lào Đó là lợi thế hết sức quan trọng Từ kinh nghiệm thành công bước đầu về trồng cây Trầm hương tạo được Trầm, cùng với khát khao làm giàu, tính năng động sáng tạo của người Việt Nam, có sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, sẽ là cơ hội cho ngành sản xuất Trầm hương nhân tạo nước ta phát triển,
đồng thời góp phần làm cho nền kinh tế chung ở nước ta ngày càng phát triển
Khó khăn
Hiện nay, tuy cây Trầm hương đã được trồng và đã tạo ra sản phẩm cho hiệu
quả kinh tế cao, nhưng đó mới là kết quả bước đầu có tính chất tự phát, riêng lẻ chứ chưa sản xuất được với quy mô lớn Để việc sản xuất Trầm hương nhân tạo trở thành ngành kinh tế sản xuất hàng hóa hiệu quả cao dựa trên lợi thế "trời cho" của
nước ta phía trước còn có nhiều khó khăn, thách thức
Trữ lượng cây Trầm hương tự nhiên ở nước ta hiện nay còn lại rất ít, đang
có nguy cơ diệt chủng dù Nhà nước ta đã nghiêm cấm các hành vi khai thác, sử dụng đồng thời khuyến khích, hổ trợ mọi tổ chức và cá nhân bảo vệ, phát triển nguồn lợi quý hiếm này nhưng hiện tượng khai thác bừa bãi vẫn diễn ra
Bên cạnh đó việc trồng cây Trầm hương để tạo Trầm là một việc còn gặp nhiều khó khăn vì chu kỳ sản xuất tương đối dài ngày, vốn đầu tư lớn, sản phẩm chưa phải là mặt hàng có nhu cầu thiết yếu cho sản xuất và đời sống thực tế của người dân
Trang 23Công nghệ tạo Trầm, là khâu quyết định nhất nhưng chưa được tập trung nghiên cứu và thực nghiệm một cách bài bản, chưa tạo ra sản phẩm đồng lọat, chất lượng sản phẩm chưa cao
Một thách thức khác cũng không kém phần gay cấn là thị trường mua bán tiêu thụ tinh dầu Trầm trên thế giới khá rộng lớn, nhưng các cơ sở kinh doanh Trầm hương và tinh dầu Trầm của nước ta chưa tiếp cận và mua bán trực tiếp được với thị trường nước ngoài, thường phải bán qua trung gian nên giá cả thấp so với giá trị thực trên thị trường nước ngoài Hiện nay tinh dầu Trầm nước ta chỉ mới tiếp cận và
có mặt tại 22/167 thị trường của thế giới với số lượng tinh dầu chỉ chiếm 1,16% thị phần toàn cầu Bên cạnh đó thị trường trong nước chưa rõ ràng và vẫn là thị trường
“ngầm” (Nguyễn Huy Sơn, Lê Văn Thành, 2010)
Ngoài ra, còn những khó khăn khác như: chất lượng cây giống chưa cao, người dân chưa hiểu biết sâu về các chỉ tiêu về lâm sinh đối với cây Dó bầu, sự tương thích giữa các cây trồng xen, các loại bệnh của cây, phương pháp tạo Trầm chất lượng cao… đó là những vấn đề khó khăn trong công tác sản xuất Trầm hương
ở nước ta hiện nay cần được giải quyết để tìm ra những giải pháp thích hợp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất
1.3 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học của hệ vi sinh vật trên gỗ Trầm hương
Trong tự nhiên, cây Dó bầu thường bị nhiễm bởi các loài nấm như:
Aspergilus spp.; Botryodplodia spp.; Diplodia spp.; Fusarium bulbiferum; Fusarium laterium; Fusarium oxysporum; Fusarium solani; Penicillium spp và Pythium spp
1.3.1 Trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu cấy tạo Trầm đã được các nhà khoa học theo đuổi
nhiều năm qua và đã có những thành công đáng kể:
Đầu tiên ở Mỹ, Trường Đại học Harvard đã nghiên cứu thành công phương pháp cấy tạo Trầm vào những năm 80 của thế kỷ 20 Sau đó đến năm 1993-1994 trường đại học Kyoto nghiên cứu thành công phương pháp cấy tạo Trầm bằng
Trang 24men vi sinh và phương pháp này tiếp tục được Gishi Honda thử nghiệm tại Trung Quốc với tỉ lệ thành công trên 80%
Năm 1977, Julaluodin đã tìm thấy trong vùng Tóc của cây Dó có chứa một
loại nấm Cryptosphaeria mangifera Ông đã thử nghiệm bằng cách cấy nấm đó vào
thân những cây Dó lành mạnh Sau một thời gian thì vùng nhiễm khuẩn trở nên sậm màu và biến thành Tóc rõ rệt vì khi đốt tỏa ra mùi trầm
Năm 2001 Pojanagaroon đã tiến hành tạo Trầm bằng phương pháp gây chấn thương cơ học trên cây Trầm hương Kết quả cho thấy: sau 1 tháng khối gỗ sau khi
bị thương có màu vàng nhạt và chuyển sang màu nâu vàng sau 3 tháng, tạo thành màu nâu sẫm trong vòng 8-10 tháng và thay đổi thành màu đen trong vòng 20 tháng, khi đốt có mùi Trầm (Pojanagaroon và Kaewrak, 2005)
1.3.2 Ở Việt Nam
Năm 1999 tỉnh Khánh Hòa có đề tài nghiên cứu tạo Trầm từ cây Dó, nhờ tác
nhân vi sinh là 3 chủng nấm: Aspergillus phoenicis Thom, Penicillium citrinum Thom và Penicillinum sp và chỉ cho kết quả “cây có dấu hiệu trầm, đốt thơm”
Tại Việt Nam, tổ chức TRP (The Rainforest Project) một tổ chức phi chính phủ của Hà Lan, được sự tài trợ của liên minh Châu Âu kết hợp với trường Đại Học Quốc Gia TP HCM đã tiến hành nghiên cứu các phương pháp cấy tạo Trầm khác nhau trên cây Dó bầu tại hai địa phương là An Giang và Kon Tum từ năm 1992 đến nay Công trình nghiên cứu này mang lại nhiều kết quả rất khả quan, cho thấy sự hình thành Trầm có thể xảy ra trên những cây Dó bầu trên 3 năm tuổi sau khi xử lý chất xúc tác từ 6 đến 17 tháng (Heuveling van Beek, 2000)
Theo đơn đặt hàng của Bộ Lâm Nghiệp nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 1991 – 2000, trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) đã triển khai đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật gây tạo Trầm
hương trên thân cây Dó trầm Aquilaria crassna Piere” Kết quả cho thấy: trong tự
nhiên Trầm hương thường hình thành tập trung ở gốc thân cây Dó trầm; quá trình hình thành Trầm hương trong tự nhiên có phụ thuộc vào đường kính cây Dó trầm (thông thường cây Dó đường kính lớn khối lượng trầm lớn và chất lượng khai thác càng cao và ngược lại); quá trình hình thành Trầm hương trong tự nhiên bước đầu
Trang 25có liên quan đến một số nhân tố lập địa: đá mẹ, loại đất, tỷ lệ đá lẫn trong đất, độ dốc (thông thường những cây sinh trưởng phát triển trên địa hình dốc, tỷ lệ đá lẫn trong đất cao thì khối lượng hình thành trầm càng lớn và ngược lại); tác động cơ giới vào cây Dó trầm chỉ là một điều kiện cần cho quá trình hình thành trầm của cây, chế phẩm sinh học Lt có triển vọng cao trong việc ứng dụng vào thực tế để gây tạo Trầm, (Nguyễn Hồng Lam, 2000)
Hiện nay có khá nhiều cơ sở sản xuất có các loại chế phẩm tạo Trầm khác nhau nhưng được chia làm 2 nhóm chính là: nhóm chế phẩm hoá học và nhóm chế
phẩm sinh học Trong nhóm chế phẩm sinh học có chế phẩm của Công ty TNHH
Lâm Viên (Hà Nội) và chế phẩm của của Công ty TNHH Phùng Anh (Tuyên Quang) Cả 2 loại chế phẩm sinh học này đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu” hoặc “Bằng độc quyền sáng chế”, còn lại hầu hết các chế phẩm hoá học chưa chỉ rõ thành phần và cũng chưa đăng ký nhãn hiệu
Những năm gần đây, Gishi Honda và Trần Kim Qui đã ứng dụng quy trình công nghệ sinh học để gây tạo Trầm trên thân gỗ của cây Dó bầu tại Lâm Đồng - Việt Nam, kết quả bước đầu cho thấy sau khi cấy men từ 6-12 tháng lượng Trầm thu được trên một cây vào khoảng 700 gram
Song song với việc nhân giống cây Dó bầu để trồng (trong vườn hộ gia đình hoặc ở trang trại…) việc cấy tạo Trầm cũng đã xuất hiện ở một số địa phương như:
Hà Tỉnh, Quảng Nam, Đồng Nai, Khánh Hoà, Phú Quốc, Bình Định… Nhưng đây
là cách làm có tính bộc phát theo kinh nghiệm của mỗi người Có nơi người ta dùng đinh hoặc mẫu sắt hình tam giác được cắt ra từ thùng phuy cũ đóng trực tiếp vào thân cây Có nơi người ta dùng khoan điện khoan vào thân cây ở nhiều vị trí khác
nhau, sau đó bơm hóa chất vào các lỗ đã khoan
Ngoài ra, một số nhà khoa học ở Việt Nam, thuộc các tổ chức khác nhau, cũng đang tiếp tục nghiên cứu đề tài này
Trang 26Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu
2.1.1 Mẫu Trầm hương
màu nâu đen, mềm
2.1.2 Môi trường và thuốc thử
a Môi trường nuôi và phân lập vi khuẩn
Môi trường TSB ( Trypticase Soy Broth)
30 g trong 1000 ml nước, chỉnh pH về 7,3 ± 0,2 Phân bố trong các bình tam giác, đậy nút bông giấy bạc rồi hấp khử trùng 121oC trong 15 phút (Trần Linh Thước, 2008)
Môi trường TSA (Trypticase Soy Agar)
Cách pha: Cân 15 g agar trong 1 lít môi trường TSB Phân phối trong các bình tam giác, đậy nút bông giấy bạc rồi hấp khử trùng 121oC trong 15 phút (Trần Linh Thước, 2008)
Nước muối sinh lý
Hoà tan 8,5 g NaCl trong 1 lít nước cất Phân phối vào ống nghiệm, đậy nút bông giấy bạc rồi hấp khử trùng ở nhiệt độ 121oC trong 15 phút rồi để nguội (Trần Linh Thước, 2008)
Trang 27
b Thuốc thử
Thuốc nhuộm Tím Violet
Tím violet : 1 g Rượu ethylic : 1 g Phenol tinh thể : 2g Nước cất : 100 ml Cách pha :
Hòa tan 1 g tím violet vào trong 10 ml cồn (dung dịch 1)
Hòa tan 2 g phenol tinh thể vào 10 ml nước cất (dung dịch 2)
Trộn chung dung dịch 1 và dung dịch 2 lại với nhau ta có thuốc nhuộm tím violet
Thuốc nhuộm Liugol
Iod tinh thể : 1 g
KI : 2 g Nước cất : 200 ml Cách pha: Hòa tan iod vào nước cất, sau đó cho KI vào, ta có thuốc nhuộm Liugol, bảo quản trong lọ tối màu
Thuốc nhuộm Fuschin
Fuschin kiềm : 1g Rượu ethylic 95% : 10 ml Phenol tinh thể : 5g Nước cất : 100 ml Cách pha:
Hòa tan Fuschin vào trong 10 ml cồn 95% (dung dịch 1)
Hòa tan phenol tinh thể vào 100 ml nước cất (dung dịch 2)
Trộn đều dung dịch 1 và dung dịch 2, đem lọc, ta có thuốc nhuộm Fuschin
2.1.3 Thiết bị chuyên dụng
Một số thiết bị chuyên dụng được sử dụng trong đề tài bao gồm: tủ sấy (Binder, Đức); tủ cấy (Ohaus, Tây Ban Nha); nồi hấp khử trùng (Sturdy industrial