1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa

60 812 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (Aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh Khánh Hòa
Tác giả Huỳnh Thị Kim Ngọc
Người hướng dẫn Văn Hồng Cầm
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Vi sinh vật học
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ lý do trên, tôi nghiên cứu đồ án “Bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến Aerodramus fuciphagus tại các đảo yến thuộc tỉnh Khánh Hòa”.. Với

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Nhằm đào tạo ra những cử nhân có trình độ chuyên môn cao và nhạy bén

tiếp thu kỹ thuật, công nghệ là mục tiêu đào tạo hàng đầu của trường Đại học Nha

Trang Để giúp sinh viên hệ thống lại kiến thức đã tiếp thu được ở nhà trường và vận

dụng kiến thức đã học một cách hiệu quả trong nghiên cứu cũng như trong sản xuất

thì việc tổ chức cho sinh viên thực tập đồ án tốt nghiệp là khâu quan trọng trong quá

trình đào tạo của trường

Được sự phân công của Bộ môn Công nghệ sinh học, Ban Giám đốc Viện

Công nghệ Sinh học và Môi trường - Trường Đại học Nha Trang cho phép tôi thực

hiện đồ án tốt nghiệp tại Phòng Vi sinh - Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường

trong thời gian từ ngày 20/02/2012 đến ngày 02/06/2012

Để hoàn thành đồ án này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo

Văn Hồng Cầm - người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành đồ án này Tôi xin

chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Công nghệ Sinh học, cùng toàn

thể quý thầy cô đã dạy dỗ và truyền đạt kiến thức những kiến thức thật quý giá và

bổ ích cho chúng tôi, làm nền tảng để tôi bước vào thực hiện đồ án này Cho phép

tôi được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường

và cô Trương Thị Thu Thủy - cán bộ quản lý Phòng Vi sinh đã tạo điều kiện thuận

lợi để tôi hoàn thành đồ án này Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè,

những người đã động viên khích lệ rất nhiều để tôi có thể hoàn thành tốt đồ án này

Xin chân thành cảm ơn!

Do bước đầu làm quen với môi trường nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm

còn hạn chế nên có thể còn nhiều điều thiếu sót Kính mong nhận được những ý

kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và các bạn

Nha Trang, tháng 7 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Huỳnh Thị Kim Ngọc

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2

1.1 Tổng quan về chim yến 2

1.1.1 Đặc điểm sinh học và phân bố của chim Yến tổ trắng 2

1.1.1.1 Đặc điểm sinh học 2

1.1.1.2 Phân bố 7

1.1.2 Giá trị kinh tế của chim yến 9

1.1.2.1 Lịch sử khai thác và sử dụng tổ yến 9

1.1.2.2 Giá trị dinh dưỡng của tổ yến 11

1.1.2.3 Giá trị kinh tế của tổ yến 12

1.1.2.4 Thiên địch 13

1.1.2.5 Hóa chất dẫn dụ 13

1.2 Hệ vi sinh vật trong nguồn phân các loài động vật 14

1.2.1 Họ vi khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae) 14

1.2.1.1 Escherichia coli 15

1.2.1.2 Salmonella 17

1.2.2 Vibrionaceae 19

1.2.3 Vi nấm 20

1.2.4 Phát hiện vi sinh vật mục tiêu - phân lập và định danh 21

1.3 Các nghiên cứu về vi sinh trên đối tượng chim yến 22

1.3.1 Các nghiên cứu về chim yến 22

1.3.1.1 Các nghiên cứu về chim yến trên thế giới 22

Trang 3

1.3.1.2 Các nghiên cứu về chim yến ở Việt Nam 22

1.3.1.3 Các nghiên cứu về vi sinh trên đối tượng chim hoang dã 23

1.3.2 Mục tiêu và tính cấp thiết của đề tài 24

1.3.2.1 Tính cấp thiết 24

1.3.2.2 Mục tiêu 25

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2 Vật liệu, dụng cụ và thiết bị nghiên cứu 27

2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.3.1 Phương pháp thu mẫu 27

2.3.2 Phương pháp khảo sát điều kiện vận chuyển mẫu 29

2.3.3 Phương pháp phân lập vi sinh vật 31

2.3.4 Phương pháp giám định hình thái và kiểm tra đặc tính sinh hóa 33

2.3.4.1 Phương pháp giám định hình thái và tính bắt màu 33

2.3.4.2 Phương pháp kiểm tra đặc tính sinh hóa 34

2.3.5 Phương pháp định danh 37

2.3.5.1 Phương pháp định danh theo khóa phân loại Bergey 37

2.3.5.2 Phương pháp sử dụng Kit sinh hóa API 20E để định danh 37

2.3.5.3 Phương pháp sử dụng phần mềm ABIS để định danh 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Khảo sát điều kiện vận chuyển mẫu phân chim yến 40

3.2 Sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến đảo Khánh Hòa 41

3.3 So sánh tỷ lệ nhiễm vi sinh vật của các mẫu phân chim yến trên các đảo yến thuộc tỉnh Khánh Hòa 50

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52

4.1 Kết luận 52

Trang 4

4.2 Kiến nghị 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

Avibase The World Bird Database

(Cở sở dữ liệu về động vật lông vũ)

(Cục Quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ)

(Hội điểu học quốc tế)

TCBS Thiosulfate Citrate Bile Salf Sucrose

WHO World Health Organization (Tổ chức y tế hế giới)

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Địa điểm và thời gian thu mẫu 29 Bảng 2.2: Các chủng vi sinh vật sử dụng để khảo sát điều kiện vận chuyển mẫu 30 Bảng 3.1: Kết quả khảo sát điều kiện vận chuyển mẫu 40 Bảng 3.2: Kết quả định danh theo ba phương pháp 47 Bảng 3.3: Kết quả phân lập và định danh một số vi sinh vật từ nguồn phân chim

yến đảo Khánh Hòa 49

Bảng 3.4: Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật của các mẫu phân chim yến trên các đảo yến

thuộc tỉnh Khánh Hòa 50

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Tổ của ba loài yến đã được thương mại hóa 3

Hình 1.2: Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus ở Việt Nam 5

Hình 1.3: Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus trên thế giới 7

Hình 1.4: Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus tại Việt Nam 8

Hình 1.5: Đảo yến A1 - Hòn Ngoại, Khánh Hòa 9

Hình 1.6: Các hang yến thuộc đảo yến A6 - Hòn Mun, Khánh Hòa 9

Hình 2.1: Vị trí các đảo đã tiến hành thu mẫu phân chim yến 28

Hình 2.2: Sơ đồ quá trình phân lập vi sinh vật 32

Hình 2.3: Bảng kết quả âm tính và dương tính của API 20E 38

Hình 3.1: Chủng E coli phân lập trên môi trường EMB 42

Hình 3.2: Chủng Samonella enterica subsp arizonae phân lập trên môi trường XLD 43

Hình 3.3: Chủng Vibrio parahaemolyticus phân lập trên môi trường TCBS 44

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

Trong các thức ăn hiếm và quý của phương Đông từ hàng trăm năm nay, tổ yến đứng hàng đầu bảng Bát trân Chim yến cho tổ trắng phân bố hẹp trên thế giới, chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

Đất nước ta có bờ biển dài 3444 km, với hơn 4000 hòn đảo và nhiều dãy núi nhô ra biển hình thành các eo, vịnh, đầm, phá có lợi thế phát triển quần thể chim yến đảo Tổ yến đảo Việt Nam có chất lượng cao hàng đầu thế giới Theo thống kê

sơ bộ của Công ty Yến sào Khánh Hòa, sản lượng tổ yến đảo Việt Nam khoảng

5000 kg/năm Khánh Hòa là nơi có sản lượng dẫn đầu cả nước trên 3 200 kg/năm

Tổ yến được ví von như “vàng trắng của biển”, đã đem lại giá trị xuất khẩu lớn Khai thác và bảo vệ các đảo yến không chỉ có ý nghĩa lớn cho việc phát triển kinh tế

ở địa phương, mà còn gắn liền với việc bảo vệ an ninh quốc phòng biển đảo

Ý thức được giá trị to lớn mà chim yến đảo mang lại, tỉnh Khánh Hòa và Công ty Yến sào Khánh Hòa luôn đề cao việc bảo vệ nguồn lợi quý này Công tác nghiên cứu duy trì và phát triển số lượng cá thể trong quần thể chim yến trên các đảo yến đã và đang thực hiện tốt trong những năm gần đây Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào về phòng và điều trị bệnh do vi sinh vật gây ra trên chim

yến Từ lý do trên, tôi nghiên cứu đồ án “Bước đầu khảo sát sự hiện diện của một

số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (Aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh Khánh Hòa” Đồ án giúp chúng ta phần nào dự đoán được một

số bệnh do vi sinh vật gây ra ở chim yến Từ đó, đề ra phương pháp xử lý thích hợp nhất để bảo vệ và bảo tồn loài chim quý này Đồng thời bổ sung các dữ liệu khoa học làm cơ sở cho việc quy hoạch và khai thác bền vững nguồn lợi chim yến Khánh Hòa

Đề tài này nằm trong dự án “An toàn và đa dạng sinh học chim yến” do Công ty Yến sào Khánh Hòa phối hợp với Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường

- Trường Đại học Nha Trang thực hiện

Trang 9

1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về chim yến

1.1.1 Đặc điểm sinh học và phân bố của chim Yến tổ trắng

1.1.1.1 Đặc điểm sinh học

Chim yến là tên gọi chỉ chung cho các loài chim thuộc họ Apodinae Các loài chim trong họ này đều có đặc điểm chung: kích thước nhỏ, ăn côn trùng, hầu hết đều hót được, làm tổ trong các hang động và có thể điều khiển hướng bay trong hang tối bằng cách sử dụng âm thanh (Griffin, 1958; Medway và Pye, 1977; Lim và Cranbrook, 2002; Phach và cs, 2002)

Họ Apodinae chia làm 2 phân họ, 4 tông, 20 chi với khoảng 96 loài (Phil và

Gerald, 2000) Cho đến hiện nay, việc phân loại các loài yến thuộc hai chi

Collocalia và Aerodramus vẫn chưa rõ ràng Các tài liệu về phân loại chim yến thuộc hai chi này vẫn chưa có sự thống nhất Các loài trong chi Aerodramus đôi khi được gộp vào chi Collocalia

Với sự có mặt của một số loài đặc biệt, họ Yến Apodinae đã thu hút được

sự quan tâm đặc biệt của giới khoa học: từ các nhà kinh tế học, các nhà sinh thái học, các nhà động vật học cho đến các nhà dinh dưỡng học Các loài đặc biệt nói trên đều có chung đặc điểm quan trọng mà các loài khác trong họ Yến không có, đó

là xây tổ bằng nước dãi và tổ của chúng mang lại giá trị kinh tế rất cao

Cho đến hiện nay, tổ của ba loài yến khác nhau đã được thương mại hóa

gồm : Aerodramus fuciphagus - Yến hàng (Yến lông xám hay Yến tổ trắng), Aerodramus maximus - Yến xiêm và Aerodramus unicolor - Yến Ấn Độ (Ali, 1996; Wells, 1999) Theo các tài liệu cũ thì ba loài yến trên thuộc chi Collocalia Tuy nhiên từ năm 1998 cho tới nay, ba loài yến này lại được xếp vào chi Aerodramus

(theo Hội điểu học quốc tế IOC và Cở sở dữ liệu về động vật lông vũ Avibase) Do vậy, trong suốt tài liệu này chúng tôi thống nhất gọi theo phân loại hiện tại là

Aerodramus spp Hai loài Aerodramus maximus và Aerodramus unicolor sử dụng nước dãi trộn lẫn với lông và cỏ kết hợp để xây tổ Riêng loài Aerodramus

Trang 10

fuciphagus chỉ dùng nước dãi của nó để xây tổ; nên tổ của loài Aerodramus fuciphagus được đánh giá rất cao về mặt dinh dưỡng và có giá cao nhất trên thị

trường (Kang và Lee, 1991; Rodelphe, 1992; Chantler, 1999; Wells, 1999) Tuy

vậy, trên thực tế một số ít tổ Yến hàng Aerodramus fuciphagus vẫn có lông bám

vào Vì trong quá trình làm tổ, chim bố mẹ làm rơi hoặc rụng lông bám vào tổ, không phải chim sử dụng lông để làm nguyên liệu xây tổ Số lượng lôn g trên tổ Yến hàng ít hơn rất nhiều so với tổ Yến xiêm và tổ Yến Ấn Độ

(a) Tổ Yến hàng (Aerodramus fuciphagus)

(b) Tổ Yến xiêm (c) Tổ Yến Ấn Độ

(Aerodramus maximus) (Aerodramus unicolor)

Hình 1.1: Tổ của ba loài yến đã được thương mại hóa

Theo ITIS (Integrated Taxonomic Information System - Hệ thống phân loại sinh vật quốc tế) Yến hàng được phân loại như sau :

Trang 11

Lĩnh giới: Eukaryota (Sinh vật nhân chuẩn)

Loài: Aerodramus fuciphagus

Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus có chiều dài cơ thể trung bình

khoảng 12cm, với chiều dài cánh 115 - 125 mm, chiều dài đuôi 47 - 66mm Trọng lượng cơ thể chim Yến hàng trưởng thành khoảng từ 9 - 18g, biến thiên theo phân

loài và khu vực phân bố Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus phân bố ở

Việt Nam có trọng lượng trung bình 14,58 g (12-18 g), cao hơn so với các phân loài khác đã được nghiên cứu trong khu vực này Tuy nhiên, không có sự khác biệt giữa chim trống và chim mái về hình thái bên ngoài Chim Yến hàng trong khoảng vĩ độ 10 - 23°Bắc ở các vùng có khí hậu mát mẻ, đặc biệt là vào mùa đông thì có kích thước lớn hơn phân loài phân bố ở nơi khác Đó có thể là kết quả của quy luật Bergman, thể hiện mối tương quan giữa kích thước động vật và nhiệt độ môi trường sống (Jabouile, 1931; Võ Quý và Nguyễn Cử , 1993; Phach và

cs, 2002)

Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus có lông màu nâu sẫm, với màu ánh

xanh rêu ở phần phía trên lưng và nhạt dần về phía dưới Lông đỉnh đầu có màu đậm hơn so với lớp lông phía dưới và thường có một hoặc vài đốm xám ở hai bên mắt Các lông tơ gần lỗ huyệt có lông có màu trắng ở bên rìa; nhưng độ đậm nhạt cuả rìa trắng đó thường phụ thuộc vào tuổi tác Ở mỗi cánh của có 10 chiếc lông sơ cấp và 6 chiếc lông thứ cấp Chim có hình dáng đặc trưng với đuôi hình chữ V chẻ đôi (đường chẻ sâu khoảng 6 - 8 mm) Đuôi có 10 chiếc lông đuôi, được chia thành hai bộ Không có sự khác biệt về đặc điểm bộ lông giữa chim trống và chim mái,

Trang 12

cũng như giữa chim non và chim trưởng thành Chim yến đảo Khánh Hòa có bộ lông ánh xanh rêu hơn hẳn chim yến nhà Mắt chim có màu nâu tối, mỏ đen, chân đen (Phach và cs, 2002; Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2004)

Hình 1.2: Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus ở Việt Nam

Chim Yến hàng có tiếng hót ríu rít và cao Giống như hầu hết các loài khác

trong chi Aerodramus, chim Yến hàng có khả năng định vị bằng âm thanh (âm dội)

với tần số thấp 2 - 10 kHz Nhờ đó, chúng có thể bay hoàn toàn trong tối, bay đi và bay về đúng hang, đúng tổ theo hướng khá ổn định (Medway, 1966; Sales và Pye, 1974; Medway và Pye, 1977; Phach và cs, 2002)

Chim Yến hàng có đôi cánh khá cứng cáp và có thể bay lượn rất xa để kiếm thức ăn, khoảng cách xa nhất khoảng 250 - 300 km tính từ nơi làm tổ Chim yến đảo Khánh Hòa có thể bay đến Lâm Đồng, Phan Rang để kiếm ăn Thức ăn của chúng chủ yếu là côn trùng bay thuộc Bộ cánh màng Hymenoptera (kiến ), Bộ hai cánh Diptera (ruồi, muỗi .), Bộ cánh bằng Isoptera (mối .), Bộ cánh đều Homoptera ( bọ rầy …) và Bộ cánh cứng Coleoptera (bọ cánh cứng nhỏ …) Thỉnh

Trang 13

thoảng chúng bay là vào trong nước để tắm vào uống nước, rồi lại bay lên (Nguyễn Quang Phách và cs, 1999; Phach và cs, 2002)

Trong tự nhiên, chim Yến hàng sống quần đàn, thích làm tổ từng cặp riêng

lẻ Chim thường xây tổ trong các lỗ hỏng, khe hở của các tảng đá vôi hoặc trong các hang đá có vách thẳng đứng trên các đảo và ven biển Cả con cái và con đực cùng làm tổ, cùng ấp trứng và nuôi con Mục đích chim xây tổ là để đẻ trứng, ấp trứng và nuôi con, chứ không phải xây tổ để ở (Nguyễn Hồng Vân, 2009) Chim làm tổ lần đầu kéo dài 4 tháng, bắt đầu khoảng tháng 12 đến tháng 1, kết thúc làm tổ vào khoảng cuối tháng 3, tuỳ địa phương và điều kiện khí hậu từng năm Chim bắt đầu

đẻ trứng vào giữa và cuối tháng 3 đến giữa tháng 5 (tuỳ vùng), 70% chim tập trung

đẻ trứng vào giữa tháng 4 Nếu bị khai thác lấy tổ, chim sẽ tiếp tục làm tổ đến khoảng tháng 5 - 6 Còn nếu tổ không bị lấy đi, 70% số chim sẽ đẻ lại lần hai sau khi chim non rời tổ được 5 - 40 ngày và 30% số chim đẻ lại trong vòng 7 - 10 ngày Thời gian ấp trứng là 23 - 30 ngày, chim non rời tổ sau khi nở 40 - 45 ngày (Phach

và cs, 2002) Trứng chim màu trắng, thường chỉ đẻ hai quả, kích thước khoảng 14 x

22 mm (Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2004)

Tổ chim yến nhỏ, nông, có hình giống cái chén được dính chặt vào mặt vách đá Thành phần chính của tổ yến là một chất keo dính được tiết ra từ cặp tuyến nước dãi phụ dưới lưỡi, mở rộng vào mùa sinh sản Một phần hoặc toàn bộ nước dãi tiết ra thường đông cứng lại thành một chất giống như xi-măng giúp bảo vệ trứng hoặc chim yến non không bị các loài vật khác ăn mất và đứng vững trước thời tiết Chân tổ yến cần cứng để có thể gắn chặt vào mặt vách đá vì các hang động thường

có độ ẩm cao (Lau và cs, 1994)

Ở Việt Nam, chim yến cho tổ ăn được phần lớn là Yến hàng Aerodramus fuciphagus Loài yến này gồm 2 phân loài: Aerodramus fuciphagus germani sống ở các hang đảo tự nhiên và Aerodramus fuciphagus amechanus sống ở trong nhà (Lê

Hữu Hoàng, 2011) Tuy nhiên, cho tới nay sự phân định về mặt hình thái dưới mức loài vẫn còn nhiều tranh cãi Hiện nay, nhóm nghiên cứu của công ty Yến sào

Trang 14

Khánh Hòa cũng đang tiến hành nghiên cứu sự khác nhau về hình thái của chim yến nhà và chim yến đảo phân bố ở Việt Nam

1.1.1.2 Phân bố

Các loài chim trong họ Apodinae phân bố rộng khắp thế giới trong khu vực

nhiệt đới và ôn đới, các loài yến vùng ôn đới là những loài chim di trú và mùa đông chúng bay về vùng nhiệt đới Khu vực phân bố của họ chim này trải dài toàn bộ châu Úc, từ Ấn Độ Dương tới Nam Thái Bình Dương (Griffin, 1958; Medway và Pye, 1977; Lim và Cranbrook, 2002; Phach và cs , 2002)

Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus sinh sống nhiều từ vĩ độ 20°Bắc -

10°Nam và kinh độ 95 - 115°Đông, chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Nam Á: Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Thailand và Việt Nam (Phach và cs, 2002; Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2004)

Hình 1.3: Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus

trên thế giới (Phach N.Q và cs, 2002)

: vùng có chim chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus sinh sống

Trang 15

Ở Việt Nam người ta thường thấy chim Yến hàng làm tổ ở các đảo trong vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Quảng Bình, Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), bán đ ảo Phương Mai (Bình Định), Nha Trang (Khánh Hòa), P han Rang (Ninh Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Kiên Giang (Nguyễn Quang Phách, 1999; Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2004) Hiện nay, nuôi yến nhà được phát triển mạnh ở các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Giờ (Thành phố

Hồ Chí Minh), Tiền Giang

Hình 1.4: Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus

tại Việt Nam (Nguyễn Quang Phách, 1999)

: nơi có chim chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus sinh sống

: tỉnh có chim chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus sinh sống

Trang 16

Theo thống kê sơ bộ của công ty Yến sào Khánh Hòa, số lượng đảo yến toàn quốc khoảng trên 50 đảo với trên 180 hang yến Trong đó Công ty Yến sào

Khánh Hòa có 29 đảo yến với 138 hang yến (Lê Hữu Hoàng, 2011) Một số đảo yến

nổi tiếng ở Khánh Hòa: hòn Đôi, hòn Hố, Đun, hòn Tre, hòn Mun, hòn Ngọc, hòn Nội, hòn Ngoại, hòn Nhàn, hòn Chà Là …

Hình 1.5: Đảo yến A1 - Hòn Ngoại, Khánh Hòa

Hình 1.6: Các hang yến thuộc đảo yến A6 - Hòn Mun, Khánh Hòa

1.1.2 Giá trị kinh tế của chim yến

1.1.2.1 Lịch sử khai thác và sử dụng tổ yến

Tổ yến hay yến sào (gọi theo âm Hán) là tên một loại thực phẩm - dược phẩm nổi tiếng trên thế giới Người phương Tây vẫn gọi yến sào là “trứng cá tầm muối của phương Đông”(Marcone, 2005) để nói lên vị trí của tổ yến trong đời sống

Trang 17

của người Châu Á Đây là món cao lương mỹ vị của các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam

Ở Trung Quốc, tổ yến đã được khai thác và sử dụng vào khoảng đầu thời nhà Đường (618 - 907), bằng chứng là các nhà khảo cổ học đã tìm thấy

“dụng cụ cào lấy tổ yến” bằng gốm thời Đường tại hang Niah (Harrisson, 1959) Từ thời nhà Nguyên (1271 - 1368) trở đi, các nguồn tổ yến mới

ở các quốc gia Đông Nam Á được phát hiện và khai thác, nhưng thiếu tài liệu ghi chép bằng văn bản về tổ yến Vào thời nhà Minh, khoảng 1405-1433, Trịnh Hòa cùng đoàn thám hiểm thực hiện chuyến đi qua các quốc gia Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Sri Lanka và Ấn Độ Chuyến đi về cho triều đình nhiều loại thực phẩm quý hiếm, trong đó có yến sào (Medway, 1963; Lau và cs, 1994)

Ở Việt Nam, yến sào được xếp vào hàng Bát trân, là loại thực phẩm bổ dưỡng đặc biệt dâng cho vua chúa, quan lại và các nhà quyền quý Theo sử học gia Dương Trung Quốc (2011), trong dân gian truyền lại rằng nhân chuyến Nam du của Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tông (1301), ngài được dâng “chè yến sào” Biết là đặc sản, vua ra lệnh cho dân phải giữ gìn và khai thác, hàng năm dâng tiến về triều Các tài liệu cổ của Việt Nam (do sử gia Dương Văn An và Lê Quý Đôn biên soạn) cũng đều nhắc đến yến sào và nghề khai thác tổ yến; biết được giá trị của tổ yến, nhà nước hỗ trợ nhân dân làm nghề và có các chính sách về việc mua bán, đánh thuế và bảo vệ nguồn lợi quý giá này (Nguyễn Khắc Thuần, 2007, 2009)

Tổ yến được xếp vào một trong số các sản phẩm động vật đắt, hiếm và quý nên đã dẫn đến việc khai thác tổ yến quá mức trong các khu vực nơi có loài chim quý này làm tổ (Sankaran, 2001), bao gồm Việt Nam, Thái Lan… Điều đó đã đánh một hồi chuông báo động đối với công tác bảo tồn chim yến Năm 1994, Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã CITES tại Việt Nam đã đưa chim yến vào đối tượng quản lý, điều này đã góp phần bảo vệ chim yến

Trang 18

1.1.2.2 Giá trị dinh dƣỡng của tổ yến

Giá trị sử dụng của tổ yến thể hiện ở hai khía cạnh: thực phẩm và dược phẩm Về mặt thực phẩm, tổ yến là một loại thực phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể Về mặt dược phẩm, tổ yến có thể thể là một vị thuốc Đông y

để hỗ trợ chữa một số bệnh Như vậy, ta có thể xem tổ yến như một “thực phẩm chức năng”

Theo các nghiên cứu đã công bố, thành phần hóa học của tổ yến bao gồm: protein 50-60% (chủ yếu là các protein hòa tan trong nước), carbohydrate 25%, nước 10% , khoáng vi lượng (chủ yếu là Canxi, Phospho, Sắt, Natri và Kali) (Wang,1921; Liu,1963; Anon,1977; Becking,1985; Kang and Lee,1991; Wong,

2006 )

Theo số liệu của Trung tâm Công nghệ Sinh học - Trường Đại học Thủy sản và Viện Công nghệ sinh học thuộc viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trong thành phần tổ yến Việt Nam có 18 loại amino acid: một số có hàm lượng rất cao như Aspartic acid, Serine, Tyrosine, Phenylalanine, Valine, Arginine, Leucine Đặc biệt, Syalic acid (8,6%) có tác dụng chống virus và Tyrosine là chất có tác dụng phục hồi nhanh chóng các tổn thương khi bị nhiễm xạ hay chất độc hại, kích thích sinh hồ ng cầu Ngoài ra, tổ yến có chứa glycoprotein, có năng lượng cao, cơ thể dễ hấp thụ Các nguyên tố đa lượng và vi lượng trong tổ yến rất phong phú, rất giàu canxi và sắt là các khoáng chất cần thiết cho cơ thể Các nguyên tố có ích cho

ổn định thần kinh trí nhớ như Mangan, Brom, Đồng, Kẽm cũng có hàm lượng cao Một số nguyên tố hiếm tuy với hàm lượng thấp, nhưng rất quý giá trong kích thích tăng tiêu hóa hấp thu qua màng ruột như Crom, chống lão hóa, chống chất phóng xạ như Selen

Trong y dược cổ Trung Quốc, tổ yến từ lâu đã được coi như là thuốc bổ, là

dược liệu quan trọng thứ hai sau các dược liệu có nguồn gốc từ nhân sâm Panax ginseng (Read, 1932) Từ điển dược học nổi tiếng của Trung Quốc tên gọi “ Bản

thảo cương mục” do thầy thuốc Lý Thời Trân biên soạn vào năm 1765 đầu thời nhà Minh đã đưa tổ yến vào danh mục các loại thuốc quý (Read, 1932; Wootton, 1910)

Trang 19

Trong cuốn sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (1986) cũng cho thấy tổ yến là một dược liệu quý hiếm mà tự nhiên ban tặng cho con người

Tổ yến chứa các thành phần thiết yếu trong việc tăng cường sức khỏe cho

cơ thể (Huda và cs, 2008) Tổ yến có tác dụng lưu thông các chất dịch cơ thể, nuôi dưỡng máu và làm ẩm đường hô hấp và da, trợ giúp quá trình trao đổi chất, tiêu hóa

và hấp thu các chất dinh dưỡng (Sallet, 1930; Jabouille, 1931; Anon, 1977) Canh tổ yến được chứng minh là có tác dụng làm tan đờm, cải thiện âm giọng, làm giảm bệnh ho và hen suyễn, làm giảm các vấn đề liên quan đến dạ dày, bổ thận,kích thích ham muốn tình dục, đẹp da, chữa bệnh lao, tăng cường hệ thống miễn dịch, phục hồi sức khỏe sau phẫu thuật (Francis, 1987; Leh và Museum, 1993; Lim và Cranbrook, 2002) Có một số công bố cho rằng tổ yến có thể kéo dài cuộc sống và chứa một số yếu tổ hỗ trợ điều trị ung thư (đặc biệt là ung thư vú) và cả AIDS, tuy nhiên chưa xác định được yếu tố hỗ trợ đó (Kong, 1990) Gần đây, theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản đã công bố: yến sào là một sản phẩm tự nhiên, an toàn và phù hợp với việc phòng chống virus cúm (Guo và cs, 2006)

1.1.2.3 Giá trị kinh tế của tổ yến

Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus phân bố hẹp trên thế giới và chỉ có

ở Đông Nam Á Đây là món quà mà thiên nhiên ưu đãi cho người dân Đông Nam

Á Yến sào đã góp phần quan trọng trong sự phát triển đời sống kinh tế của các quốc gia khu vực Đông Nam Á

Tổ yến thuộc vào một trong các sản phẩm thực phẩm tự nhiên có nguồn gốc động vật có giá đắt nhất trên thị trường (Huda và cs, 2008) Giá của tổ yến gần như ngang bằng giá vàng có cùng trọng lượng: năm 2003, giá bán lẻ cho các tổ yến trắng trên thị trường Hồng Kông (thị trường chính) kho ảng 7 USD/g Do đó, người dân các nước khu vực Đông Nam Á ví von rằng: tổ yến là “vàng trắng của biển” (Hobbs, 2004)

Trang 20

Đặc biệt, tổ yến Việt Nam có giá trị cao nhất trong các nước Đông Nam Á Tại thị trường Hồng Kông, năm 1991 giá tổ yến từ Việt Nam là 1333 USD/kg cao nhất so với tổ yến từ các nước, gấp sáu lần tổ yến Malaysia, gấp ba lần tổ yến Thái Lan, gấp đôi tổ yến Indonesia Năm 2010, giá bán tổ yến đảo Việt Nam cao gấp ba

lần so với tổ yến nhà Malaysia Aerodramus fuciphagus Năm 2010, giá tổ yến đảo

Việt Nam 3000 - 4000 USD/kg; yến nhà Việt Nam 1.400-1.800 USD/kg Giá thị trường nội địa với tổ yến đảo 60 - 100 triệu VND/kg; tổ yến nhà 35 - 60 triệu VND/kg Sở dĩ, tổ yến đảo Việt Nam có giá cao vì chúng là tự nhiên hoàn toàn, tổ yến nấu không nát, tổ dày, to và có hàm lượng dinh dưỡng cao (Hội An 60 tổ/100g; Bình Định, Nha Trang 80-100 tổ/100g; trong khi tổ yến Malaysia thường 120

tổ/100g) (Lê Võ Định Tường, 2011) Theo các cán bộ kỹ thuật của công ty Yến sào

Khánh Hòa, màu sắc, hương vị và cấu trúc sợi của tổ yến đảo và yến nhà cũng có sự khác biệt, tuy nhiên chỉ có người trong nghề mới có thể phân biệt Tổ yến đảo khi

ăn còn có hương vị thơm ngon, đậm đà hơn

Với những giá trị kinh tế mà tổ yến đã mang lại, thì hoàn toàn có thể tin tưởng đó là cơ sở để phát triển một ngành công nghiệp hàng tỷ đôla, mang về nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc gia, đồng thời góp phần cải thiện đời sống người dân

1.1.2.4 Thiên địch

Chim yến là loài thiên địch rất quý, là trợ thủ cho sản xuất nông nghiệp, giúp bảo vệ mùa màng cho nông dân vì nguồn thức ăn của chim yến chính là loài côn trùng: rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, kiến vàng, mối, ruồi, muỗi, các loại chân khớp…(Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2004) Đây là một trong những biện pháp rất tích cực giảm ô nhiễm môi trường và khống chế một cách hiệu quả các loại côn trùng có hại

1.1.2.5 Hóa chất dẫn dụ

Ngoài những giá trị kể trên, chất thải chim yến cũng mang lại một nguồn lợi đáng kể Theo các cán bộ kỹ thuật của Công ty Yến sào Khánh Hòa, phân chim yến sau khi thải ra môi trường được thu lại và tận dụng làm chất dẫn dụ chim yến Chất

Trang 21

dẫn dụ kết hợp với việc phát âm thanh chim yến gọi bầy có thể dụ chim yến vào nhà Giá phân chim yến thật trên thị trường khoảng 250 000 đồng/kg

1.2 Hệ vi sinh vật trong nguồn phân các loài động vật

Vi sinh vật đóng vai trò quan trọng đối với đời sống vật chủ Các vi sinh vật đường ruột có lợi giúp tiêu hóa chất thức ăn, ức chế vi sinh vật có hại, kích thích đáp ứng miễn dịch của cơ thể (Kyle và Kyle, 1993) Một số vi sinh vật sống trên cơ thể vật chủ nhưng không ảnh hưởng đến vật chủ Mặt khác, có một số nhóm vi sinh vật gây ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe và khả năng sinh sản của vật chủ (Zuk, 1991)

Thành phần hữu cơ trong phân là rất lớn, do đó khu hệ vi sinh vật trong đó

vô cùng đa dạng, bao gồm: vi khuẩn Gram dương, vi khuẩn Gram âm, vi nấm Các

vi khuẩn Gram âm hay gặp có thể kể đến họ vi sinh đường ruột Enterobacteriaceae,

họ Vibrionaceae Trong nội dung của đồ án này, tôi nghiêng về khảo sát vi nấm và

các vi khuẩn Gram âm gồm Escherichia coli, Salmonella spp., Vibrio spp

1.2.1 Họ vi khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae)

Các vi khuẩn trong họ Enterobacteriaceae thường sống ở ống tiêu hóa của người và động vật, nên họ này được gọi là họ vi khuẩn đường ruột Ngoài ra chúng

có thể sống ở ngoại cảnh (đất, nước) và trong thức ăn ( Trần Văn Hưng và cs, 2008) Các vi khuẩn trong họ Enterobacteriaceae thường được phân lập từ nguồn phân

Các vi khuẩn đường ruột thuộc họ Enterobacteriaceae đều là những trực khuẩn Gram âm, hình que nhỏ, không sinh nha bào Một số vi khuẩn thường không

di động (Klebsiella, Shigella), một số vi khuẩn khác di động nhờ tiên mao Một số

có vỏ nhìn thấy được nhờ kính hiển vi thường như Klebsiella (Phạm Hồng Sơn,

2005) Đây là những vi khuẩn kỵ khí tùy ý, lên men đường glucose, catalase dương

tính, oxidase âm tính, khử nitrate thành nitrite Trong số các đặc tính trên thì

“oxidase âm tính” là đặc tính quan trọng trong việc phân loại

Dựa vào phản ứng oxidase, các trực khuẩn Gram âm được chia thành hai nhóm lớn Tất cả các loài oxidase âm tính được xếp vào họ Enterobacteriaceae Các

Trang 22

trực khuẩn Gram âm còn lại gồm nhiều họ khác nhau được xếp chung vào nhóm

“các vi khuẩn Gram âm hỗn hợp” như Pseudomonadaceae, Vibrionaceae Các vi khuẩn trong họ Enterobacteriaceae thiếu oxidase cytochrome và âm tính với phép thử oxidase (Krieg và Holt, 1984)

Đặc điểm sinh hóa quan trọng trong phân loại các vi khuẩn trong họ Enterobacteriaceae là khả năng lên sử dụng đường lactose Dựa vào khả năng biến dưỡng đường lactose, họ này được chia làm 2 nhóm chính: nhóm lên men lactose

như Escherichia coli (E coli), Klebsiella và một nhóm không lên lactose như: Shigella, Salmonella và Yersinia.(Krieg và Holt, 1984)

Các vi khuẩn trong họ Enterobacteriaceae có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh (Trần Văn Hưng và cs, 2008) Một số vi khuẩn có ảnh hưởng đến đường tiêu

hóa bao gồm một số chủng vi khuẩn E coli, Salmonella, Shigella, Yersinia entercolitica Các thành viên của họ này là những nguyên nhân chính gây ra nhiễm trùng cơ hội, ví dụ như các chi : Citrobacter, Enterobacter, Escherichia, Hafnia, Morganella, Providencia, Serratia Klebsiella pneumoniae thường liên quan đến nhiễm trùng đường hô hấp E coli, Proteus là một nguyên nhân phổ biến của nhiễm

trùng đường tiết niệu

Cho đến năm 2001, đã được xác nhận được 105 loài thuộc 30 chi trong họ Enterobacteriaceae, trong đó có 6 chi có ý nghĩa trong thú y và y học bao gồm:

Escherichia, Salmonella, Shigella, Edwardsiella, Yersinia và Klebsiella (Phạm Gia

Ninh và Phạm Đức Tâm, 2001)

1.2.1.1 Escherichia coli

Chi Escherichia có 5 loài: Escherichia albertii, Escherichia coli, Escherichia fergusonii, Escherichia hermanii, Escherichia vulneris, nhưng loài phổ biến nhất là Escherichia coli (Lecointre và cs, 1998)

Escherichia coli (E coli) được nhà khoa học người Đức Theodor Echerich

(1857-1911) phân lập lần đầu tiên vào năm 1885 từ phân người trong lúc ông đang nghiên cứu về các vi sinh vật gây bệnh đường ruột ở trẻ em Khi đó, ông gọi vi

khuẩn này là “Bacterium coli commune” (Escherich, 1885) Sau khi ông mất, vi

Trang 23

khuẩn này được đặt tên Escherichia coli, tên chi được đặt theo tên của nhà khoa học

đã phát hiện ra chủng vi sinh vật này (Castellani và Chalmers, 1919)

E coli là vi khuẩn Gram âm, hình que thường được tìm thấy trong ruột của các động vật máu nóng E coli là vi khuẩn kỵ khí tùy ý, không sinh nha bào, các tế

bào vi khuẩn có kích thước (2 x 0,5)μm (Kubitschek, 1990) Các chủng có tính di động nhờ tiên mao (Darnton và cs, 2006)

E coli có khả năng sinh indol, phé p thử methyl red (MR) dương tính,

Voges - Proskauer (VP) âm tính, không có khả năng biến dưỡng citrate, không sinh

H2S, phép thử Lysine decarboxylase dương tính, có khả năng lên men lactose và

mannitol (Phạm Hồng Sơn, 2005) Nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của E.coli ở

37°C nhưng một số chủng ở phòng thí nghiệm có thể tồn tại ở 49°C (Fotadar và cs,

2005) Để phân lập vi khuẩn E coli, mẫu thường được nuôi cấy trên môi trường

chọn như môi trường Istratri, MacConkey, Endo, Desoxycholat, Eosin Methylen

Blue (EMB)… Trên môi trường EMB, E coli có khuẩn lạc tím đen do vi khuẩn lên

men đường lactose sinh acid kết hợp với hai màu xanh methylen và eosin trong môi trường (Quinn và cs, 1994)

E coli và các vi khuẩn trong chi Escherichia chiếm khoảng 0,1% khu hệ vi sinh vật đường ruột người (Eckburg và cs, 2005) Hầu hết các chủng E coli vô hại,

nhưng một số serotypes có thể gây ra ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng ở người và đôi khi có mặt trong một số thực phẩm nhiễm bẩn (Vogt và Dippold, 2005) Các

chủng E coli vô hại là một phần của khu hệ vi sinh vật đường ruột và có thể mang

lại lợi ích cho vật chủ bằng cách sản xuất vitamin K2 (Bentley và Meganathan, 1982) và ức chế các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột (Hudault và cs, 2001; Reid và

cs, 2001)

Ở động vật có xương sống, E coli là một phần của khu hệ vi sinh vật đường

ruột nhưng đôi khi có một số chủng gây bệnh sinh độc tố gây rất nguy hiểm

(Hunter, 2003) Các nghiên cứu đã công bố sự hiện diện các chủng E coli trên trong

đường ruột của các loài chim hoang dã như các loài thủy cầm (Hubálek, 2004)

Chủng E coli O157 sinh độc tố Vero cytotoxin, gây ra nhiễm trùng xuất huyết

Trang 24

đường ruột ở người (Hunter, 2003) Và một số chủng gây bệnh khác đã được phân lập từ các loài chim hoang dã (Wallace và cs, 1997; Kullas và cs, 2002; Wani và cs,

2004; Sonntag và cs, 2005; Ejidokun và cs 2006; Foster và cs, 2006) Các chủng E coli gây bệnh theo hai con đường chính: đường phân và đường miệng để truyền

nhiễm và gây bệnh Các tế bào vi khuẩn có thể tồn tại bên ngoài cơ thể vật chủ trong một thời gian nhất định, đó chỉ tiêu vi sinh để thử nghiệm các mẫu môi trường

bị nhiễm phân (Feng và cs, 2002; Thompson và Andrea, 2007) Tuy nhiên, một số

nghiên cứu đã kiểm tra E coli có thể tồn tại bên ngoài của cơ thể vật chủ trong thời

gian dài (Ishii và Sadowsky, 2008)

Trong các chủng E coli gây bệnh, E coli O157:H7 là serotype có tính độc

hơn và dễ lây truyền hơn những serotype khác (Nataro và Kaper, 1998) Hầu hết

tính chất sinh hóa của E.coli O157:H7 đều tương tự như những E coli khác Điểm

khác biệt về sinh hóa của dòng O157:H7 là không lên men đường sorbitol và phép

thử β-glucuronidase âm tính 93% chủng E coli lên men sorbitol trong 24 giờ, trong khi E coli O157:H7 lại không ( Well và cs, 1983) Hầu hết các chủng E coli dương tính với phép thử β-glucuronidase dương tính trong khi E coli O157:H7 thì âm tính

(Doyle và Schoeni, 1984) Ngoài ra trong môi trường TSB ( Tryptic Soy Broth), E coli O157:H7, phát triển nhanh ở 30°C đến 42°C, chịu nhiệt đến 44°C và ngừng tăng trưởng ở 45°C (Szabo và cs, 1986) Liều gây nhiễm của E coli O157:H7 rất nhỏ, từ 10 - 100 vi khuẩn, tuy nhiên E coli O157 hiện diện trong phân và thực phẩm với tần số thấp hơn nhiều so với nhóm E coli không phải O157 (Paton và

Paton, 1996)

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

về vi khuẩn E coli gây bệnh cho vật nuôi Tuy nhiên, các chủng E coli gây bệnh

cho động vật lông vũ có các đặc tính không hoàn toàn giống với các chủng gây bệnh cho người và động vật có vú (Delicato và cs, 2003)

1.2.1.2 Salmonella

Vào năm 1885, loài Salmonella đầu tiên được Daniel Elmer Salmon và Theobald Smith phát hiện là Salmonella enterica trên đối tượng lợn bị bệnh tả

Trang 25

(Salmon và Smith, 1886) Năm 1934, theo đề nghị của Hội đồng Vi sinh vật học

Quốc tế, tên nhà bệnh học thú y Daniel Elmer Salmon được đặt tên cho chi (FDA,

2008)

Salmonella spp là vi khuẩn Gram âm, có dạng hình que ngắn, tròn ở hai

đầu, kích thước (0,4 - 0,6) x (1 - 3)µm, không sinh nha bào Đa số các loài

Salmonella spp đều có khả năng di động mạnh do có từ 7 - 12 lông xung quanh thân (trừ S.gallinarum, S.pullorum) Khi nhuộm Gram, vi khuẩn bắt màu đỏ đều toàn

thân hoặc hơi đậm ở hai đầu (Nguyễn Như Thanh, 1997)

Salmonella là những vi khuẩn kỵ khí tùy ý Nhiệt độ thích hợp 37°C, nhưng

có thể phát triển được 6 - 42°C Độ pH thích hợp bằng 7,6, nhưng vi khuẩn phát

triển được ở pH từ 6 - 9 Salmonella spp không có khả năng phát triển ở nồng độ muối cao (Nguyễn Như Thanh, 1997) Hầu hết các loài trong chi Salmonella đều

sinh H2S (Clark và Barret, 1987) Salmonella spp có khả năng lên men và sinh hơi

từ glucose, mannitol, maltose, galactose, arabinose; không lên men đường lactose,

sucrose Đa số Salmonella spp không phân giải gelatin, không phân giải urea,

không sản sinh indol, một số sử dụng được cacbon ở nguồn citrate, phân giải xanh metylen (Nguyễn Như Thanh, 1997)

Để nuôi cấy phân lập Salmonella spp.,các môi trường chọn lọc như

MacConkey, Xylose Lysine Deoxychlolate Agar (XLD), Salmonella - Shigella thường được sử dụng (Phạm Hồng Sơn, 2005) Trên môi trường XLD, khuẩn lạc vi

khuẩn Salmonella spp điển hình có màu hồng trong suốt, có hay không có tâm đen,

một số dòng có tâm đen bóng rất lớn có thể chiếm gần hết khuẩn lạc (Trần Linh Thước, 2002)

Salmonella được phát hiện trên người, động vật và cả ở chim (Murray và

cs, 2000; Tizard, 2004) Chúng gây ra các bệnh như sốt thương hàn, sốt phó thương hàn và gây ngộ độc thực phẩm (Ryan và Ray, 2004) Theo báo cáo của Van

Dorssen (1935) phân lập Salmonella Typhimurium từ thận của một loài mòng biển (Larus canus) ở Hà Lan, thì nhiễm khuẩn Salmonella được công nhận là một nguyên nhân gây bệnh ở các loài chim hoang dã Salmonella là một nguyên nhân

Trang 26

phổ biến của gây tử vong rải rác cho các loài chim hoang dã, thường thấy ở chim

non trong đàn và các loài chim biết hót vào mùa đông (Thomas và cs, 2007)

Salmonella có 3 loài được công nhận: S enterica, S bongori và

S subterranean, với 6 phân loài chính: enterica (I), salamae (II), arizonae (IIIa),

diarizonae (IIIb), houtenae (IV) và indica (VI) Trước đây, phân loài (V) là bongori

nhưng hiện nay được xem là loài riêng (Janda và Abbott, 2006) Riêng S enterica

gây bệnh chủ yếu ở người và động vật Tính đến năm 2007, có hơn 2500 serotype

của S enterica; trong đó Salmonella Typhimurium là serotype quan trọng gây bệnh

cho chim hoang dã (Thomas và cs, 2007) Việc phân loại các serotype của

Salmonella được dựa trên phương pháp phân loại huyết thanh học của Kauffman -

White hoặc một số phương pháp mới phương pháp sinh học phân tử Multiplex -

PCR (Porwollik, 2011)

1.2.2 Vibrionaceae

Loài Vibrio đầu tiên được phân lập là Vibrio cholera Vibrio cholera được

nhà giải phẫu học người Ý Filippo Pacini (1812 - 1883) phân lập vào năm 1854,

khi ông đang nghiên cứu về bệnh tả ở người Khi đó, ông gọi vi khuẩn này là

“vibrions” vì sự di động của nó (Bentivoglio và Pacini 1995) Nhưng phát hiện này

của ông chưa được biết đến rộng rãi, cho đến khi 30 năm sau Robert Koch làm việc

độc lập và cũng công bố một phát hiện tương tự (Howard - Jone, 1984) Năm 1965,

Ủy ban Danh pháp Quốc tế thống nhất gọi Vibrio cholerae là tên chính xác của vi

khuẩn gây bệnh tả và lấy tên Vibrio đặt cho tên chi và tên họ

Họ Vibrionaceae có 6 chi, trong đó chi Vibrio gồm nhiều loài gây bệnh

nguy hiểm cho người và động vật (Phạm Hồng Sơn, 2005).Vibrio là một chi gồm

các vi khuẩn Gram âm, hình que cong (hình dấu phẩy) và không sinh nha bào (Ryan

và Ray, 2004; Thompson và cs, 2005; Faruque và Nair , 2008) Các vi khuẩn trong

Các loài trong chi Vibrio là vi khuẩn kỵ khí tùy ý, hầu hết các loài đều cần

ion Na+ để sinh trưởng (Madigan và Martinko, 2005) Hầu hết các loài trong chi

Vibrio đều dương tính với phép thử oxidase và catalase, lên men glucose nhưng

Trang 27

không sinh hơi (Baumann và Schubert, 1984) Các vi khuẩn nhạy cảm với môi trường acid và phát triển tốt nhất ở khoảng pH từ 7,5 - 8,5, chúng bị ức chế ở pH dưới 6,8 và trên 10,2 (Rujiwat, 2007)

Một số loài Vibrio gây bệnh cho người như: Vibrio cholerae gây bệnh dịch

tả, Vibrio vulnificus và Vibrio parahaemolyticus gây viêm ruột, nhiễm trùng vết

thương hở và nhiễm trùng huyết (Joseph và cs, 1982; Faruque và Nair, 2008; Hogan, 2010) Một số loài khác có thể gây ngộ độc thực phẩm, thường liên quan

đến ăn hải sản chưa nấu chín Nhiều vi khuẩn Vibrio spp cũng gây bệnh cho động

vật Chúng gây bệnh ở cá và tôm, cua, sò, hến và là nguyên nhân phổ biến gây tử

vong các động vật thủy sản V cholera, V parahaemolyticus và V vulnificus được

phân lập từ mẫu phân của các loài chim biển hoang dã (Ogg, 1989; Miyasaka, 2006)

1.2.3 Vi nấm

Vi nấm bao gồm tất cả các nấm không có mũ nấm (quả thể) có thể thấy rõ bằng mắt thường Người ta gọi những nấm có mũ nấm là các nấm bậc cao Căn cứ vào hình thái người ta chia vi nấm thành hai nhóm khác nhau: nhóm nấm men và nhóm nấm sợi (nấm mốc) Chúng chỉ khác nhau về hình thái chứ không phải là

những đơn vị phân loại riêng biệt Nhiều nấm men cũng có dạng sợi và r ất khó phân

biệt với nấm sợi Vi nấm thuộc nhóm vi sinh vật dị dưỡng, chúng cần nguồn carbon hữu cơ để cung cấp năng lượng từ môi trường bên ngoài (Nguyễn Lân Dũng và cs, 1997)

Có thể phân biệt nấm men và nấm mốc theo khái niệm sau: nấm mốc là vi nấm dạng sợi sinh sản bào tử hoặc khuẩn ty; nấm men là những tế bào đơn sinh sản theo kiểu nảy chồi, thỉnh thoảng có thể tồn tại ở dạng khuẩn ty giả trong đó có các

tế bào kết nhau thành chuỗi Đơn vị hình thành khuẩn lạc của nấm mốc và nấm men

là mầm để tạo nên một khuẩn lạc khi nuôi cấy trong một môi trường Mầm có thể là một bào tử, một tế bào hay một đoạn khuẩn ty Tế bào nấm men thường lớn gấp 10 lần so với vi khuẩn, có thể nhìn thấy rõ dưới kình hiển vi quang học (Nguyễn Lân Dũng và cs, 1997)

Trang 28

Đa số nấm men và nấm mốc là hiếu khí bắt buộc (yêu cầu oxy tự do cho sự

sinh trưởng), pH khá rộng 2 - 9, phạm vi nhiệt độ rộng 10 - 35°C nhưng nhiệt độ

thích hợp cho chúng trong khoảng 20 - 28°C (Nguyễn Lân Dũng và cs, 1997)

Những nấm loài nấm có thể tồn tại được trên phân động vật được gọi là nấm phân Một số vi nấm thường xuất hiện trên mẫu phân động vật: Ngành nấm

tiếp hợp Zygomycota (ví dụ: Basidiobolus), ngành nấm túi Ascomycota (ví dụ Arthroderma, Gymnoascus, ), ngành nấm đảm Basidiomycota (ví dụ Corprinus)

và các nấm hoại sinh (ví dụ Arthrobotrys, Oedocephalum, Scopulariopsis, ) (Gam

và cs, 1998)

Một số vi nấm gây bệnh cho động vật lông vũ: nấm men Candidia albicans

gây viêm loét phần trên đường tiêu hóa miệng (lưỡi, diều) ở gia cầm; nấm mốc

thuộc chi Aspergillus (A fumigatus, A flavus, A nidulans, A niger, A terreus) thường gây bệnh liên quan đến đường hô hấp gia cầm và chim; nấm Dactylaria gallopara gây ra bệnh trẹo cổ, bại liệt rối loạn ở gà …(Phạm Hồng Sơn, 2005)

1.2.4 Phát hiện vi sinh vật mục tiêu - phân lập và định danh

Phát hiện vi sinh vật mục tiêu là việc kiểm tra sự có mặt của các loài (hoặc chi) vi khuẩn, vi nấm Vi sinh vật mục tiêu thường có mặt trong mẫu nghiên cứu (thực phẩm, bệnh phẩm…) với các mật độ khác nhau tùy từng đối tượng và tùy từng thời điểm Thông thường, trong một mẫu nghiên cứu sẽ có rất nhiều loại vi sinh vật khác nhau, do vậy vi sinh vật mục tiêu có thể sẽ không được phát hiện nếu không chọn đúng quy trình kiểm tra Để việc định tính vi sinh vật mục tiêu diễn ra nhanh chóng, dễ dàng và giảm thiểu hiện tượng âm tính giả, các môi trường chọn lọc được sử dụng nhằm ức chế sự sinh trưởng của các nhóm vi sinh vật khác đồng thời tạo điều kiện cho vi sinh vật mục tiêu có thể phát triển và được nhận diện Vi sinh vật sau khi được phát hiện cần được phân lập thuần và được khẳng định dựa trên các test sinh hóa truyền thống Các phương pháp sinh học phân tử ứng dụng trong xác định vi sinh vật mục tiêu có thể qua hoặc không qua bước tăng sinh phân lập

Trang 29

Định danh vi sinh vật là so sánh các đặc điểm của vi sinh vật này với các đặc điểm của vi sinh vật đã biết khác vốn đã được phân loại và định danh trước đó Hiện nay có rất nhiều cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc định danh các loài vi sinh vật (bao gồm các cơ sở dữ liệu về sinh hóa và cơ sở dữ liệu về di truyền học)

1.3 Các nghiên cứu về vi sinh trên đối tƣợng chim yến

1.3.1 Các nghiên cứu về chim yến

1.3.1.1 Các nghiên cứu về chim yến trên thế giới

Các tài liệu khoa học và các nghiên cứu về chim yến trên thế giới rất ít và chủ yếu là các nghiên cứu của châu Âu Dù chim yến là nguồn tài nguyên quý hiếm

ở Châu Á nhưng các nghiên cứu của chim yến tại các nước đang sử dụng nguồn lợi này cũng rất hạn chế, chỉ có một số ít các nghiên cứu của Thái Lan, Malaysia, Indonesia Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh

tế của tổ yến Gần đây đã bắt đầu có một số ít nghiên cứu về bảo tồn chim yến như

di truyền, phân loại, tiến hóa như nghiên cứu của Price và Clayton (2004) Các nghiên cứu về bệnh học và vi sinh trên trên chim yến cho đến nay hầu như vẫn chưa

Tuy hệ vi sinh vật trên chim yến chưa được nghiên cứu nhưng Oktorina và

cộng sự (2005) đã phát hiện thấy sự hiện diện của Staphylococcus aureus trên sản

phẩm tổ yến ở Indonesia bằng phương pháp hóa miễn dịch Trong một nghiên cứu

sơ bộ trước đó cũng của Oktorina, đã phát hiện Staphylococcus spp có hiện diện trong 5 mẫu tổ yến Indonesia trước khi xuất khẩu, trong khi đó Escherichia coli chỉ hiện diện trong 1 mẫu, còn Salmonella spp và Pseudomonas spp không được tìm

thấy Tuy nhiên kết quả nghiên cứu này không thể làm cơ sở để ta dự đoán hệ vi sinh vật ở chim yến vì có thể vi sinh vật trên nhiễm vào tổ yến trong quá trình thu hoạch hoặc chế biến và nghiên cứu cũng không nói rõ là tổ của loài chim yến nào

1.3.1.2 Các nghiên cứu về chim yến ở Việt Nam

ứ Đáng chú ý nhất là tài liệu chuyên khảo “The white-nest swiftlet and the black-nest swiftlet” c ủ

Trang 30

ộng sự (2002) Trong tài liệu này có nêu đầy đủ về đặc điểm sinh học, sinh sản, phân loại và tiến hóa, kỹ thuật nuôi và khai thác lấy tổ của 2 loài Yến hàng và Yến xiêm ở Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu về chim yến ở Việ

ến Công ty Yến sào Khánh Hòa đã có nghiên cứu về chất dẫn dụ từ nguồn nguyên liệu phân chim yến Công ty cũng nghiên cứu thành công kỹ thuật ấp nuôi nhân tạo chim Yến hàng; kỹ thuật chăm sóc chim con; xây dựng phương pháp cho chim bay Đó là cơ sở khoa học cho việc phát triển đàn chim yến tăng số lượng cá

thể trong quần đàn ở tỉnh Khánh Hòa để Hiện nay, nhóm nghiên cứu của công ty

Yến sào Khánh Hòa cũng đang tiến hành nghiên cứu sự khác nhau về hình thái của chim yến nhà và chim yến đảo phân bố ở Việt Nam”

1.3.1.3 Các nghiên cứu về vi sinh trên đối tƣợng chim hoang dã

Mặc dù hệ vi sinh vật có vai trò quan trọng trong đời sống vật chủ nói chung và động vật lông vũ nói riêng; nhưng các nghiên cứu (trên thế giới và ở Việt Nam) về tỷ lệ nhiễm các vi khuẩn và các triệu chứng về sức khỏe chung của quần thể chim hoang dã còn hạn chế Đặc biệt, đối với chim yến, một nguồn lợi

to lớn có giá trị kinh tế của các nước Châu Á nói chung và của Việt Nam nói riêng, thì hầu như chưa có một nghiên cứu nào về hệ vi sinh vật và bệnh học trên loài chim quý này

Các nghiên cứu về hệ vi sinh vật trên chim hoang dã còn hạn chế, tập trung vào các hướng chính:

a) Phân lập vi sinh vật từ gia cầm và các loài chim hoang dã và khảo sát hiện tượng kháng kháng sinh của các nhóm vi khuẩn ( Brittingham và cs, 1988; Sheldon, 1993; Lombardo và cs, 2000; Akhter, 2010)

b) Nghiên cứu bệnh truyền nhiễm và ngộ độc do vi khuẩn và mối tương quan nguyên nhân chính gây tử vong và suy giảm thể chất của các quần thể chim hoang dã (Hudson và Dobson, 1991; Pinowski và cs, 1991; Nuttall và

cs, 1997) Tuy nhiên, những ảnh hưởng của vi sinh vật hiếm khi được xem xét trong

Ngày đăng: 28/06/2014, 10:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Tổ của ba loài yến đã được thương mại hóa - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 1.1 Tổ của ba loài yến đã được thương mại hóa (Trang 10)
Hình 1.2: Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus ở Việt Nam - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 1.2 Chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus ở Việt Nam (Trang 12)
Hình 1.3: Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus   trên thế giới (Phach N.Q và cs, 2002) - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 1.3 Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus trên thế giới (Phach N.Q và cs, 2002) (Trang 14)
Hình 1.4: Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus   tại Việt Nam (Nguyễn Quang Phách, 1999) - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 1.4 Bản đồ phân bố của chim Yến hàng Aerodramus fuciphagus tại Việt Nam (Nguyễn Quang Phách, 1999) (Trang 15)
Hình 1.5: Đảo yến A1 - Hòn Ngoại, Khánh Hòa - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 1.5 Đảo yến A1 - Hòn Ngoại, Khánh Hòa (Trang 16)
Hình 1.6: Các hang yến thuộc đảo yến A6 - Hòn Mun, Khánh Hòa  1.1.2  Giá trị kinh tế của chim yến - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 1.6 Các hang yến thuộc đảo yến A6 - Hòn Mun, Khánh Hòa 1.1.2 Giá trị kinh tế của chim yến (Trang 16)
Hình 2.1: Vị trí các đảo đã tiến hành thu mẫu phân chim yến - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 2.1 Vị trí các đảo đã tiến hành thu mẫu phân chim yến (Trang 35)
Bảng 2.2: Các chủng vi sinh vật sử dụng để khảo sát điều kiện vận chuyển mẫu - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Bảng 2.2 Các chủng vi sinh vật sử dụng để khảo sát điều kiện vận chuyển mẫu (Trang 37)
Hình 2.2:  Sơ đồ quá trình phân lập  vi sinh vật - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 2.2 Sơ đồ quá trình phân lập vi sinh vật (Trang 39)
Hình 2.3: Bảng kết quả âm tính và dương tính của API 20E - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 2.3 Bảng kết quả âm tính và dương tính của API 20E (Trang 45)
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát điều kiện vận chuyển mẫu - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát điều kiện vận chuyển mẫu (Trang 47)
Hình 3.2: Chủng Samonella enterica subsp. arizonae phân lập   trên môi trường XLD - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 3.2 Chủng Samonella enterica subsp. arizonae phân lập trên môi trường XLD (Trang 50)
Hình 3.3: Chủng Vibrio parahaemolyticus  phân lập trên môi trường TCB S  Một số vi khuẩn khác - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 3.3 Chủng Vibrio parahaemolyticus phân lập trên môi trường TCB S Một số vi khuẩn khác (Trang 51)
Hình 3.4: Nấm men và nấm mốc được phân lập trên môi trường SDA - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Hình 3.4 Nấm men và nấm mốc được phân lập trên môi trường SDA (Trang 52)
Bảng 3.2:  Kết quả định danh theo ba phương pháp - bước đầu khảo sát sự hiện diện của một số vi sinh vật có trong nguồn phân chim yến (aerodramus fuciphagus) tại các đảo yến thuộc tỉnh khánh hòa
Bảng 3.2 Kết quả định danh theo ba phương pháp (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w