1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

II .Những hình ảnh lịch sử mối quan hệ Việt - Lào ppt

126 1,7K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những hình ảnh lịch sử mối quan hệ Việt - Lào
Trường học Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Quan hệ Quốc tế
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hằng của hai dân tộc QĐND - Thứ Tư, 22/06/2011, 21:22 GMT+7 Ghi chép của phóng viên Báo Quân đội nhân dân gửi từ Xa-văn-na-khệt Thân thiện, nồng ấm, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau và đạ

Trang 1

II Những hình ảnh lịch sử mối quan

hệ Việt - Lào

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc, liên quân Việt - Lào xuất trận, nhân dân Lào mít tinh phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam là những hình ảnh lịch sử về mối quan hệ Việt Nam - Lào

Sáng 17/7, tại Nhà hát thành phố, UBND TP HCM đã tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (5/9/1962 - 5/9/2012) và 35 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác giữa Việt Nam - Lào (18/7/1977 - 18/7/2012)

Ngoài lễ kỷ niệm, UBND TP HCM cũng phối hợp với các sở ngành tổ chức triển lãm ảnh về

"Tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào" Triển lãm diễn ra từ nay đến ngày 23/7 tại 3 địa điểm: Nhà văn hóa Thanh niên, Công viên Chi Lăng và trên đường Đồng Khởi (quận 1)

Trang 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc năm 1951

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Chủ tịch Kaysone Phomvihane tại

Hà Nội năm 1966

Trang 3

Liên quân Việt - Lào trước giờ xuất trận năm 1946

Trang 4

Liên quân Việt - Lào phối hợp chiến đấu tại Lao Bảo (Quảng Trị) năm 1946

Trang 5

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (người thứ 3 từ trái sang) và Hoàng thân Souphanuovong (người thứ tư từ trái sang) cùng các cán bộ quân đội Việt - Lào bàn kế hoạch mở chiến dịch Thượng Lào năm 1953

Bệnh viện Hồng Thập Tự của Việt Nam tại Xiêng Khoảng (Lào) được xây dựng theo hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Lào năm 1960

Trang 6

Tổng bí thư Kaysone Phomvihane thăm một đơn vị quân tình nguyện Việt Nam ở Lào năm 1970

Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp kế hoạch tác chiến chuẩn bị cho chiến dịch đường 9 Nam Lào, năm 1971

Trang 7

Bộ đội Việt Nam tiến công trên mặt trận đường 9 Nam Lào, đập tan hoàn toàn âm mưu của Mỹ ngụy chặt đứt đường mòn Hồ Chí Minh

Nhân dân Khăng Khay (tỉnh Xiêng Khoảng, Lào) mít tinh phản đối

đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, ngày 23/5/1965

Trang 8

Chuyên gia quân sự Việt Nam huấn luyện kỹ thuật sử dụng pháo 12

nòng cho đơn vị nữ pháo binh của bộ đội Phathet (Lào) chống Mỹ,

năm 1972

III 'Tình hữu nghị Việt - Lào là vô giá'

Theo Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai dân tộc Việt Nam và Lào đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, xây đắp mối tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện, trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc

> Những hình ảnh lịch sử mối quan hệ Việt - Lào

Sáng 18/7, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam-Lào và thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức trọng thể Lễ míttinh kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam-Lào, tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội

Tham dự buổi lễ có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các lão thành cách mạng; lãnh đạo nhiều bộ, ban, ngành, đoàn thể, đại diện các tầng lớp nhân dân thủ đô

Ông Bounnhang Vorachith, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương, Phó Chủ tịch nước, dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

dự lễ míttinh

Trang 9

Tổng bí thư phát biểu

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, Việt Nam-Lào là hai nước láng giềng thân thiết, núi liền núi, sông liền sông, nhân dân hai nước vốn có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, gắn bó từ lâu đời và ngày càng phát triển Hai dân tộc Việt Nam và Lào đã cùng nhau chia ngọt, sẻ bùi, xây đắp mối tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện, trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc và là nhân tố cực kỳ quan trọng bảo đảm cho sự thành công của cách mạng mỗi nước

Nhìn lại chặng đường cách mạng đã qua của hai dân tộc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ vui mừng và tự hào về những thắng lợi vẻ vang mà nhân dân hai nước đã giành được, về mối quan hệ mẫu mực, thủy chung trong sáng giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào

Tổng Bí thư nhấn mạnh ý nghĩa to lớn của sự kiện lịch sử trọng đại cách đây 50 năm - ngày 5/9/1962 khi Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao và việc hai nước ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác ngày 18/7/1977; đồng thời nêu rõ: Đó là mối quan hệ không giống bất cứ mối quan hệ nào trong lịch sử thế giới đương đại, được xây đắp và nuôi dưỡng bằng công sức, mồ hôi, xương máu của nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam và Lào trong suốt chiều dài lịch

sử

Tổng Bí thư chỉ rõ, hiện nay, Việt Nam và Lào đang bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nhân dân hai nước đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội của mỗi Đảng và cùng nhau phấn đấu xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam, đất nước Lào giàu mạnh

Trang 10

Phó Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào Bounnhang Vorachith

Thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào, Phó Chủ tịch Bounnhang Vorachith trân trọng gửi tới Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam lòng biết ơn sâu sắc và tình cảm hữu nghị, tình đồng chí anh em thắm thiết; bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch

Cayson Phomvihan và Chủ tịch Souphanouvong, người đã gây dựng và nêu gương trong việc gìn giữ, nâng niu, vun đắp tình hữu nghị và quan hệ đặc biệt Lào-Việt Nam

Vị Phó Chủ tịch nước khẳng định: Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào sẽ làm hết sức mình để gìn giữ, bảo vệ mối quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt Lào-Việt Nam

IV Tình hữu nghị đặc biệt Việt-Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững

Bài phát biểu của Đồng chí Lê Công Tuyến – TUV, Hiệu trưởng trường Chính trị Lê Duẩn tại

lễ kỷ niệm 35 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào 02/12/2010) do lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính khoá II của 2 tỉnh Savannakhet

Trang 11

(02/12/1975-và Salavan nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào tổ chức tại trường Chính trị Lê Duẩn tỉnh

Thưa các thầy cô giáo; các học viên lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính khoá II của hai tỉnh Savannakhet và Salavan nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào; đại diện học viên

Hôm nay, tôi rất vui mừng cùng các đồng chí trong Đảng ủy, Ban giám hiệu, Ban chấp hành Công đoàn, các thầy cô giáo, đại diện học viên các lớp đang học tại trường chính trị Lê Duẩn tỉnh Quảng Trị về dự Tọa đàm kỷ niệm 35 năm Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (02/12/1975 - 02/12/2010) do lớp Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính khoá II của hai tỉnh Savannakhet và Salavan nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào tổ chức tại

Thay mặt lãnh đạo Trường tôi xin chúc mừng kỷ niệm 35 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào; chúc tình hữu nghị đặc biệt giữa hai nước Việt – Lào nói chung

và tỉnh Quảng Trị với Savannakhet và Salavan mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững; chúc các đồng chí và toàn thể học viên về dự buổi toạ đàm thân mật này dồi dào sức khỏe, học tập, rèn luyện tốt để góp phần xây đắp tình hữu nghị hai nước ngày càng tốt đẹp hơn

Trong không khí hân hoan chào mừng ngày quốc khánh nước CHDCND Lào và đặc biệt chào mừng sự thành công Đại hội Đảng các cấp của nước bạn Lào, chúng ta cùng ôn lại một số điểm cơ bản trong chặng đường đấu tranh và xây dựng nước Lào cùng mối quan hệ bền

Lịch sử nước Lào trước thế kỷ XIV gắn liền với sự thống trị của Vương quốc Nam Chiếu Vào thế kỷ thứ XIV, vua Phà Ngừm lên ngôi đổi tên nước thành Lạn Xạng (Vạn Tượng) Trong nhiều thập kỷ tiếp theo, Lào nhiều lần phải chống các cuộc xâm lược của Miến Điện và Xiêm Đến thế kỷ XVIII, Thái Lan giành quyền kiểm soát trên một số tiểu vương quốc còn lại Các lãnh thổ này nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Pháp trong thế kỷ XIX và bị sáp nhập vào Liên bang Đông Dương năm 1893 Trong thế chiến thứ 2, Pháp bị Nhật thay chân

ở Đông Dương Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng minh ngày 12 tháng 10 năm 1945, Lào tuyên bố độc lập Đầu năm 1946, Pháp quay trở lại xâm lược Lào Năm 1949, quốc gia này nằm dưới sự lãnh đạo của Vua SisavangVong và mang tên Vương quốc Lào Tháng 7 năm

1954, Pháp ký hiệp định Giơnevơ công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Lào

Từ năm 1955 đến năm 1975, Vương quốc Lào lệ thuộc mạnh mẽ vào Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống Cộng sản tại Đông Dương, tình hình đó đã lôi kéo Lào vào cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, là yếu tố dẫn đến nội chiến Lào và một vài cuộc đảo chính Thi hành Nghị Quyết Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương (02/1951), ngày 22/3/1955, Đại hội thành lập Đảng Nhân Dân Lào khai mạc tại một khu rừng thuộc tỉnh Hưa phen (Sầm Nưa) Đảng Nhân Dân Lào lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm kim chỉ nam cho hành động, xác định kẻ thù của cách mạng Lào là đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phá hoại hiệp định đình chiến và bè lũ tay sai của chúng Đảng đề ra nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn

mới là: “đoàn kết, lãnh đạo toàn dân, phấn đấu hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc,

thực hiện một nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng”

Từ năm 1968, được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam đã hỗ trợ các đơn vị tham

Trang 12

chiến cùng quân Pathét chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ Sức mạnh tổng hợp của cách mạng Lào trong khối liên minh đoàn kết chiến đấu với các nước Đông Dương đã dồn đế quốc

Mỹ và tay sai ở Lào vào thế bị động, khốn quẩn chưa từng thấy Mỹ thấy không thể thắng được Pathét Lào bằng sức mạnh quân sự do đó phải chấp nhận phương sách “hòa hoãn” với

trong nước, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Lào: “Hoàn thành cuộc cách

mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân trong cả nước, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để tiến thẳng lên CNXH không qua con đường phát triển TBCN, làm cho nước Lào thành một nước hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng” Đại hội cũng chỉ rõ nhiệm vụ, mục

tiêu và phương thức đấu tranh với vùng giải phóng và vùng địch tạm chiếm Vấn đề xây

dựng Đảng cũng được Đại hội chú trọng đặc biệt nhằm làm cho “Đảng là nhân tố cơ bản

quyết định nhất, bảo đảm mọi thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng” Đại hội thông qua bản

sửa đổi Điều lệ Đảng và đổi tên Đảng nhân dân Lào thành Đảng nhân dân cách mạng Lào Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương gồm 23 ủy viên chính thức và 6 ủy viên dự khuyết (1 nữ) trong đó, Bộ Chính trị có 7 đồng chí, Ban Bí thư 4 đồng chí, Đồng chí Cayxỏnphômvihẳn được bầu làm Tổng Bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào Năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, phong trào cộng sản Pathét Lào đã lật đổ chính quyền hoàng tộc Ngày 29/11/1975, nhà vua Lào phải tuyên bố thoái vị, chấm dứt chế độ quân chủ Lào và nắm quyền lãnh đạo đất nước Ngày 02/12/1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xóa bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Đồng chí Suphanuvong Chủ tịch Neo Lào hắc xạt được cử giữ chức Chủ tịch Nước, đồng chí Cayxỏnphômvihẳn Tổng Bí Thư được cử

Từ đó, ngày 02 tháng 12 được lấy làm ngày Quốc khánh của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Với thắng lợi vĩ đại đó, Đảng Nhân dân cách mạng Lào trở thành đảng cầm quyền Sau hơn 30 năm ròng rã đấu tranh, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân Lào đã kết thúc thắng lợi trọn vẹn Việc khai sinh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (02/12/1975) đã kết thúc vẻ vang cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các bộ tộc Lào kéo dài suốt 197 năm kể từ khi phong kiến Xiêm đặt ách thống trị Lào vào năm 1778 Đây là một thắng lợi oanh liệt nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của nhân dân các bộ tộc Lào Với thắng lợi này, nhân dân các bộ tộc Lào bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, hòa bình và tiến bộ

Nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân Lào là sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào mà tiền thân là Đảng Cộng Sản Đông

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân Dân cách mạng Lào, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào đã có mối quan hệ hữu nghị đặc biệt với Việt Nam Mối quan hệ đó đã được Chủ tịch Hồ

Chí Minh khái quát: “Việt - Lào hai nước chúng ta, tình sâu hơn nước Hồng Hà Cửu Long”

Với đường lối đối ngoại đúng đắn của hai Đảng, hai Nhà nước, đến nay quan hệ hữu nghị giữa hai nước đã được nâng lên ở tầm cao mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực Trong quan hệ hữu nghị ở tầm quốc gia đó cùng với bề dày lịch sử, tỉnh Quảng Trị và tỉnh Savannakhet;

Trang 13

Salavan là những người bạn thủy chung son sắt từ trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung cho đến nay Ngày nay, Quảng Trị đã có mối quan hệ hợp tác với hai tỉnh trên nhiều lĩnh vực, trong đó có hợp tác đào tạo cán bộ Trường chính trị Lê Duẩn Quảng Trị vinh dự được Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ đào tạo Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính cho hai tỉnh bạn Dù chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc đào tạo học viên quốc tế nhưng Nhà trường đã quyết tâm hoàn thành tốt đẹp khóa đào tạo thứ nhất cho 30 học viên của hai tỉnh

và đang đào tạo khoá thứ hai với 30 học viên Đây là trách nhiệm và cũng là vinh dự lớn góp phần cùng với cả tỉnh, cả nước vun đắp cho tình hữu nghị giữa hai dân tộc ngày càng

Nhân kỷ niệm 35 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, là dịp để chúng ta tìm hiểu, ôn lại những nét cơ bản về lịch sử khai sinh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và truyền thống đoàn kết thủy chung giữa hai nước Việt – Lào nói chung, Quảng Trị và 2 tỉnh Savannakhet và Salavan nói riêng Chúc các đồng chí học viên khóa II của hai tỉnh Savannakhet và Salavan nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào dồi dào sức khoẻ, học tập và rèn luyện tốt để khoá học thành công tốt đẹp Chúc tình hữu nghị đặc biệt

Xin chân thành cám ơn !

hằng của hai dân tộc

QĐND - Thứ Tư, 22/06/2011, 21:22 (GMT+7)

(Ghi chép của phóng viên Báo Quân đội nhân dân gửi từ Xa-văn-na-khệt)

Thân thiện, nồng ấm, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau và đạt hiệu quả thiết thực là những điều chúng tôi rất dễ nhận thấy trong các cuộc hội đàm, hội kiến, gặp gỡ giữa Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng với các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Lào; lãnh đạo các tổ chức chính trị-xã hội của Lào trong khuôn khổ chuyến thăm hữu nghị chính thức lần này của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và phu nhân, cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam theo lời mời của Tổng bí thư, Chủ tịch nước CHDCND Lào, Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn và phu nhân

Chuyến thăm hữu nghị chính thức nước CHDCND Lào của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Chuyến thăm nhằm tăng cường đối thoại chính trị cấp cao giữa Việt Nam và Lào; tiếp tục khẳng định chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam, trong đó đặc biệt coi trọng và ưu tiên hàng đầu trong quan hệ với Lào Chuyến thăm của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng diễn ra vào thời điểm Đảng Cộng sản Việt Nam vừa tổ chức thành công Đại hội lần thứ XI và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cũng gặt hái được những kết quả tốt đẹp, có ý nghĩa lịch sử từ Đại hội lần thứ IX của mình; đồng thời tổ chức tốt cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội của mỗi nước Đây chính là điều kiện, là cơ hội thuận lợi

Trang 14

để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi các biện pháp thúc đẩy những thỏa thuận đã ký, xác định những phương hướng lớn nhằm ngày càng tăng cường, củng cố vững chắc quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước, trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ; ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi; kết hợp thỏa đáng tính chất đặc biệt của quan hệ Việt-Lào với thông lệ quốc tế; không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả trong hợp tác, vì sự phát triển phồn vinh của mỗi nước; vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng thăm gia đình bà Xỉ-đa xa-vẳn ở Xa-văn-na-khệt Ảnh: TTXVN

Phum-Chuyến thăm hữu nghị chính thức của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng lần này còn nhằm tăng cường và thống nhất các giải pháp hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng,

an ninh; giữ gìn trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng của mỗi nước; phòng, chống các loại tội phạm qua biên giới; tiếp tục hợp tác và tìm kiếm, cất bốc và hồi hương hài cốt quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào; hoàn thành dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới vào năm 2014, đồng thời, tiếp tục xây dựng tuyến biên giới Việt Nam-Lào hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển toàn diện, bền vững, lâu dài

Đặc biệt, tại cuộc hội đàm giữa Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng với Tổng

bí thư, Chủ tịch nước Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn; hội kiến với Chủ tịch Quốc hội Lào, Pa-ny Da-tho-tu; Thủ tướng Lào, Thoong-xỉnh Thăm-ma-vông và Phó chủ tịch thường trực Mặt trận Lào xây dựng đất nước, Tông-dơ-tho, các nhà lãnh đạo hai nước đánh giá cao mối quan

hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào Các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam-Lào đều khẳng định: Mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào là tài sản vô giá, là nhiệm vụ chiến lược, là quy luật phát triển và là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp cách mạng của mỗi Đảng, mỗi nước, mỗi dân tộc Lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam-Lào cũng nhất trí xác định năm 2012 làm “Năm đoàn kết Hữu nghị Việt-Lào” Do vậy, các thế hệ người Việt Nam và Lào đều phải có trách nhiệm củng cố, xây đắp, gìn giữ và phát triển mối quan hệ truyền thống có một không hai trong lịch sử quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới từ trước tới nay Lý giải sự đặc biệt về mối quan hệ của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt-Lào, nguyên Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước CHDCND Lào, Khăm-tày Xi-phăn-đon, nói: “Hai dân tộc cùng hướng tới một mục đích: Xây dựng đất

Trang 15

nước giàu mạnh, dân tộc hạnh phúc và cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Đó chính là con đường duy nhất, mang lại hạnh phúc nhiều nhất cho mỗi quốc gia, mà cả hai nước, hai dân tộc đang đi…”

Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và các nhà lãnh đạo cấp cao của Lào đánh giá cao kết quả kỳ họp lần thứ 33 Ủy ban Liên hiệp Chính phủ Việt-Lào Hai bên khẳng định, phối hợp chặt chẽ để thực hiện thắng lợi thỏa thuận Chiến lược về hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học-kỹ thuật giữa hai nước giai đoạn 2011-2020; Hiệp định Hợp tác giai đoạn 2011-2015 và Hiệp định hợp tác năm 2011 Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước Lào thống nhất phấn đấu đưa kim ngạch thương mại hai chiều đạt 2 tỷ USD vào năm 2015; đồng thời, tăng cường hợp tác xây dựng một số công trình kinh tế có vai trò kết nối nền kinh tế hai nước, kết nối với khu vực và thế giới; tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng hợp tác trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Đặc biệt, Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Việt Nam hoàn toàn ủng hộ và làm hết sức mình để hỗ trợ Lào sớm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

và đăng cai tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Á-Âu (ASEM) vào năm 2012, cũng như

tổ chức các sự kiện quốc tế khác tại Lào Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng

đã thông báo với các nhà lãnh đạo Lào: Việt Nam sẽ trao tặng tỉnh Xa-văn-na-khệt, quê hương của Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản một công trình hữu nghị là nhà văn hóa phục vụ sinh hoạt và phát triển văn hóa của nhân dân địa phương Đây không chỉ là trách nhiệm của Việt Nam, mà còn là tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Lào anh em nói chung và cá nhân Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản nói riêng - Người đã cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đặt nền móng xây đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt-Lào

Những tín hiệu tốt lành từ chuyến thăm hữu nghị chính thức của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và phu nhân, cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam không chỉ là cảm nhận riêng của chúng tôi, mà còn được người dân Lào hết sức phấn khởi Anh Kong-kham Đuông-kẹo, một người dân sinh sống tại thủ đô Viêng Chăn tâm sự: “Tôi đã có thời gian du học tại Việt Nam Vì thế, đối với tôi, Việt Nam cũng như nước Lào của mình vậy Qua theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng tôi hết sức phấn khởi từ những kết quả đạt được trong các buổi làm việc của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng với các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Lào mấy ngày qua Đặc biệt, những bài phát biểu của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, cũng như của lãnh đạo nước Lào tại lễ chiêu đãi và kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VII của Lào đều báo hiệu những tín hiệu mới hết sức tốt lành trong quan hệ hai nước thời gian tới”

Những ngày trên đất nước hoa chăm-pa tươi đẹp, cùng với sự thân thiện, gần gũi và nhiều nét tương đồng trong sinh hoạt và văn hóa truyền thống tạo cho tôi những cảm xúc thật đặc biệt Cùng với kết quả đạt được trong khuôn khổ chuyến thăm của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam; những tình cảm

mà người dân Lào dành cho Đoàn cấp cao Đảng ta; những đánh giá tốt đẹp của các nhà lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước Lào đối với quan hệ hợp tác giữa hai nước thực sự đang

mở ra một triển vọng mới, một bước phát triển mới trong quan hệ của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước

Lê Ngọc Long

Trang 16

VI.Những chặng đường nổi bật

trong hợp tác toàn diện Việt Nam

- Lào

Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, hiếm

Chúc phúc các nhà sư - nét đẹp văn hóa của người Lào

Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, hiếm có Trải qua nhiều chặng đường lịch

sử, quan hệ hai nước Việt Nam - Lào là bài học và sức mạnh đưa tới những thắng lợi vĩ đại của mỗi nước trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang mới: Từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia độc lập, láng giềng Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến cứu nước, hai nước Việt Nam và Lào đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài 30 năm Dưới sự lãnh

Trang 17

đạo của Ðảng CS Việt Nam và Ðảng NDCM Lào, hai nước càng có điều kiện phát huy truyền thống tốt đẹp, gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác toàn diện về chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, văn hóa, giáo dục Ðây chính là đặc điểm quan trọng nhất, dẫn tới sự thay đổi về chất lượng nội dung, phương thức và các nguyên tắc quan hệ giữa hai quốc gia, nâng quan hệ hữu nghị truyền thống, tính đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước lên tầm cao mới

Từ khi hai nước tiến hành sự nghiệp đổi mới vào năm 1986, quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục được củng cố, tăng cường và đạt những thành tựu to lớn

Về hợp tác trong lĩnh vực chính trị và đối ngoại: Từ năm 1988, cuộc gặp hằng năm giữa hai Bộ Chính trị đã trở thành một cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Ðảng và hai Nhà nước Một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nước CHDCND Lào của Ðoàn đại biểu cấp cao Ðảng CS Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4-7-

1989 Ðây là chuyến thăm Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Ðảng CS Việt Nam từ sau Ðại hội IV Ðảng NDCM Lào Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hai nước và bàn thảo các vấn đề khu vực và quốc tế Tháng 10-1991, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Tổng Bí thư Ðảng NDCM Lào và Ðoàn đại biểu cấp cao Ðảng NDCM Lào thăm chính thức Việt Nam Hai bên khẳng định quyết tâm nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế Lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Lào xác định, hợp tác về quốc phòng, an ninh là một nhiệm vụ cấp bách và quan trọng hàng đầu Từ cuối thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90 thế kỷ 20, Chính phủ, hai bộ chức năng là Nội vụ và Quốc phòng của hai nước đã ký những hiệp định, nghị định về hợp tác, hỗ trợ nhau trong công tác bảo vệ an ninh và củng cố quốc phòng Bước sang giai đoạn 1996-2007, Bộ Quốc phòng Việt Nam và Lào tiếp tục tiến hành các cuộc gặp trao đổi, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau về xây dựng chiến lược bảo vệ

Tổ quốc, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chuyên môn

Về hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật: Trong quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, hợp tác kinh tế trong thời kỳ đổi mới luôn chiếm vị trí quan trọng hàng đầu, với mong muốn là động lực thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ hợp tác khác Ngày 15-2-1992, tại Viêng Chăn, Việt Nam

và Lào đã ký Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật thời kỳ 1992-1995 và năm 1992 Ðể thực hiện hóa Hiệp định khung này, Chính phủ hai nước đã tiến thêm một bước trong việc thống nhất cơ chế chung về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật Ngày 15-3-1995, tại Hà Nội, Thỏa thuận chiến lược hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật giữa hai nước đến năm 2000 được ký Sau đó, hai bên ký Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật giai đoạn 1996-2000 Trong giai đoạn này, Việt Nam và Lào còn ký hàng loạt hiệp định và nghị định thư quan trọng nhằm thúc đẩy việc triển khai quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước

Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo luôn được hai Ðảng, hai Nhà nước xác định là một nhiệm vụ quan trọng,

là lĩnh vực hợp tác chiến lược và là biểu hiện của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào Việt Nam coi việc đào tạo giúp Lào một nguồn nhân lực có trình độ cao là nhu cầu có tính chiến lược lâu dài, không những đáp ứng yêu cầu của Lào mà còn phục vụ quá trình nâng cao hợp tác của Việt Nam với Lào Về lĩnh vực giao thông vận tải, trong giai đoạn 1996-2000, hai bên đã cùng nhau tìm nguồn đầu tư nâng cấp hệ thống đường thông thương nối liền hai nước, tạo điều kiện cho Lào thông thương qua lãnh thổ và cảng biển Việt Nam ra các nước Hai bên đã đầu tư xây dựng quốc lộ: 43, 6B, 42, cửa khẩu Chiềng Khương Cải tạo nâng cấp quốc lộ 9A, cửa khẩu Lao Bảo, quốc lộ 8, quốc lộ 7, quốc lộ 217 và 6A, quốc lộ 12A, cảng Ðà Nẵng, cảng Xuân Hải và hoàn thành bến I cảng Vũng Áng Hợp tác về thương mại, đầu tư, năng lượng và chuyên gia không ngừng được củng cố, đổi mới và hoàn thiện cả về cơ chế và hình thức hợp tác, đã thu được những bước phát triển quan trọng Hợp tác giữa các địa phương và hợp tác biên giới được duy trì và đẩy mạnh Công tác đối ngoại nhân dân được chú trọng đã tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, cùng vun đắp mối quan hệ đoàn kết đặc biệt thêm bền chặt Hai bên luôn quan tâm và tạo điều kiện cho thế hệ trẻ, học

Trang 18

sinh, sinh viên được tham gia các hoạt động giao lưu, trao đổi để giữ gìn, bảo vệ và phát triển tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Hai bên phối hợp nghiên cứu, biên soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt và liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ năm 1930-2007, tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ việc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam

- Lào, Lào - Việt Nam lên một tầm cao mới Trong giai đoạn 2011-2020, hai nước đề ra định hướng cơ bản của chiến lược hợp tác là: "Phát huy truyền thống quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trở thành động lực tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội và hội nhập của mỗi nước", trong đó, không ngừng nâng cao nhận thức và làm sâu sắc thêm quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và tinh thần quan hệ đặc biệt theo luật pháp của mỗi nước

Theo Báo Nhân dân

- Coi việc giữ gìn và bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào như giữ gìn và bảo vệ

"con ngươi của mắt", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho hay, tiếp tục củng cố tăng cường

và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước, coi đây là lẽ sống, là nghĩa tình trước sau như một, dù gian nguy đến đâu cũng không hề lay chuyển

Sáng nay, 18/7, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cùng các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, MTTQ Việt Nam, các vị nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương và thành phố Hà Nội đã tham dự lễ kỷ niệm

35 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (18-7-1977/18-7-2012) và 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước (5-9-1962/5-9-2012)

Trang 19

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại buổi lễ Ảnh: Minh Thăng

Tham dự buổi lễ phía bạn Lào có ông Buonnhang Vorachith, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Phó Chủ tịch nước Lào, Trưởng đoàn đại biểu cấp cao Lào thăm Việt Nam; Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Giáo dục và Thể thao Phankham

Viphavanh, Chủ tịch Mặt trận Lào xây dựng đất nước Phanduangchith Vongsa

Dù gian nguy, không lay chuyển

Trong diễn văn tại buổi lễ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, "đây là sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước" Ông nhấn mạnh quan hệ Việt - Lào

là mối quan hệ "không giống bất cứ mối quan hệ nào trong lịch sử thế giới đương đại", được xây đắp và nuôi dưỡng bằng công sức và xương máu của nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam và Lào trong suốt chiều dài lịch sử

Mối quan hệ tốt đẹp toàn diện của hai nước Việt - Lào góp phần tích cực vào giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới

“Hơn bao giờ hết, chúng ta cần tiếp tục củng cố tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt – Lào, coi đây là lẽ sống, là nghĩa tình trước sau như một, dù gian nguy đến đâu cũng không hề lay chuyển Chúng ta nguyện giữ gìn và bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào như giữ gìn và bảo vệ con ngươi của mắt mình, quyết tâm cùng với Đảng và Nhà nước Lào anh em, phát triển, làm phong phú và sâu sắc thêm và thúc đẩy mạnh mẽ và ngày càng đi vào chiều sâu, coi đây là tài sản thiêng liêng vô giá được trao truyền lại mãi cho các thế hệ mai sau”, Tổng Bí thư nhấn mạnh

Trang 20

Thay mặt đoàn đại biểu cấp cao của Lào, ông Buonnhang Vorachith nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào luôn gìn giữ và bảo vệ mối quan hệ truyền thống đặc biệt giữa hai nước, được trải qua biết bao thử thách, được vun đắp bằng mồ hôi, xương máu của những anh hùng, chiến sỹ và nhân dân hai nước nhiều thế hệ, trở thành mối quan hệ thuỷ chung, trong sáng để lại cho con cháu mai sau

“Tình hữu nghị anh em và tình chiến đấu Lào – Việt là viên ngọc quý, là tài sản vô giá của hai nước Đảng và Nhà nước Lào sẽ làm hết sức mình, chủ động và nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện các Hiệp ước, Hiệp định, thoả thuận cấp cao giữa hai Đảng, hai Nhà nước"- ông nói

Ông cũng nhấn mạnh việc đồng thời quan tâm thúc đẩy và chỉ đạo sát sao các Bộ, ngành Trung ương và địa phương với ưu tiên hàng đầu là tiếp tục tăng cường quan hệ chính trị gắn liền với việc trao đổi kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn giữa hai Đảng, hai Nhà nước và tăng cường hợp tác, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ trên các lĩnh vực

Đồng thời, nỗ lực phối hợp với phía Việt Nam trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi Chiến lược hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật giữa hai nước đến năm 2020

8

Một số sự kiện lịch sử về tình

đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào năm 1950

Trang 21

(TCTG) - Từ ngày 20 đến 22 tháng 11 năm 1950, Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập Hội nghị đại biểu Mặt trận dân tộc thống nhất ba nước Đông Dương ở căn cứ địa Việt Bắc (Việt Nam) Đoàn đại biểu Mặt trận Liên Việt gồm các đồng chí Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Lê Đình Thám, Lê Thị Xuyến Đoàn đại biểu Mặt trận Lào Ítxalạ gồm Hoàng thân Xuphanuvông, Phumi Vôngvichít, Nủhắc Phumxavẳn, Xỉxanạ

Xi xản, Khăm Tày Xiphănđon Đoàn đại biểu Mặt trận Ítxarắc

do đồng chí Siêu Riêng dẫn đầu

THÁNG 8 - 1950

Phân khu B chấn chỉnh lại tổ chức biên chế và phân công lại địa bàn hoạt động

Để đáp ứng với tình hình mới, tháng 8 năm 1950, Phân khu B giải thể Tiểu đoàn 204 (gồm các đại đội 72, 78

và cơ quan tiểu đoàn bộ) Tiểu đoàn bộ được tách ra thành bộ phận phụ trách khoa huấn luyện quân chính Đại đội 72 sáp nhập với đội vũ trang tuyên truyền Nặm Típ thành đơn vị mới mang tên Đại đội 214, hoạt động trên địa bàn biên giới Nặm Típ - Na Ngoi Đại đội 78 sáp nhập với đội vũ trang tuyên truyền Sằm Tớ thành đơn vị mới, mang tên Đại đội 216 hoạt động trên địa bàn cũ gồm Mương Dương, Mương Bò, Mương Nhia Tiếp đó, Phân khu thành lập thêm ba đại đội 217, 215, 232 và Khoa Quân chính Đại đội 217 là đơn vị chủ lực của Phân khu, hoạt động bảo vệ vùng biên giới Nặm Cắn, trên trục đường 7 đi Noỏng Hét Đại đội 215 chuyển vào hoạt động ở vùng Thà Viêng, phía đông nam Xiêng Khoảng Đại đội 232 hoạt động ở vùng Mương Khun, phía bắc Xiêng Khoảng Khoa Quân chính gồm hai lớp chính trị và quân sự, do đồng chí Vũ Quang Định, nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 204, phụ trách Lớp chính trị, do đồng chí Lương Đức Hoè làm lớp trưởng; lớp quân sự, do đồng chí Vũ Duy Lân làm lớp trưởng Đối tượng được tuyển chọn đào tạo là tiểu đội trưởng và cán bộ trung đội, học trong ba tháng Kết thúc khóa học, những học viên là đảng viên được chuyển làm cán bộ chính trị trung đội, số còn lại được đề bạt làm cán bộ chỉ huy trung đội

Đại hội đại biểu các lực lượng giúp Lào ở Trung Lào

Thực hiện chủ trương mở rộng Mặt trận Trung Lào của Liên khu 4, tháng 8 năm 1950, tại chùa Đá, Linh Cảm,

xã Châu Phong, huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh), Ban Cán sự Trung Lào và Đoàn 280 quân tình nguyện Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu các lực lượng giúp Lào ở Trung Lào Đại hội đánh giá tình hình địch, ta trên chiến trường Trung Lào, đề ra nhiệm vụ, phương châm giúp Lào tiến sâu, tiến mạnh về vùng đồng bằng, đẩy mạnh các hoạt động trong lòng địch, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, tạo điều kiện đưa phong trào kháng chiến ở khu Trung Lào tiến lên một bước mới, phối hợp chặt chẽ với cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân Bình - Trị - Thiên (Việt Nam)

Bác Hồ và đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản Ảnh tư

liệu

Trang 22

Từ ngày 13 đến 15 tháng 8- 1950

Đại hội các lực lượng kháng chiến Lào

Nhằm đẩy mạnh phong trào kháng chiến phát triển, từ ngày 13 đến 15 tháng 8 năm 1950, Đại hội các lực lượng kháng chiến Lào (có tài liệu ghi là Đại hội toàn quốc Mặt trận Lào kháng chiến, hay Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất, Đại hội Quốc dân Lào) đã được tiến hành Tham dự Đại hội có khoảng 150 đại biểu, đại diện cho nhân dân các dân tộc, các địa phương từ Bắc xuống Nam, từ các khu căn cứ kháng chiến đến vùng tạm kiểm soát của địch

Đại hội thảo luận và thông qua Cương lĩnh chính trị 12 điểm của cách mạng Lào nhằm tăng cường đoàn kết toàn dân, phát triển chiến tranh nhân dân, đoàn kết với nhân dân Việt Nam anh em để cùng nhau đánh đuổi thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Đại hội xác định mục tiêu phấn đấu của nhân dân Lào là: đánh đuổi thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và bọn tay sai bán nước, tiến tới xây dựng một nước Lào độc lập, thống nhất và thịnh vượng; thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tự do, tín ngưỡng, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, xóa nạn mù chữ, phát triển văn hóa dân tộc; tăng cường đoàn kết quốc tế Đây là cương lĩnh chính trị, quân sự, văn hóa và xây dựng đất nước

Để bảo đảm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ cuộc kháng chiến, Đại hội đã chia toàn Lào thành ba khu kháng chiến gồm: Thượng Lào, do Trung ương Chính phủ và Mặt trận trực tiếp lãnh đạo; Trung Lào và Hạ Lào có đại diện Chính phủ và Trung ương Mặt trận trực tiếp phụ trách

Đại hội thông qua tên nước, quốc kỳ, quốc huy; thông qua bản tuyên ngôn của Quốc dân đại hội, kêu gọi toàn thể nhân dân các dân tộc đoàn kết thành một khối đánh đuổi thực dân Pháp, can thiệp Mỹ, giành độc lập cho đất nước

Đại hội quyết định thống nhất các tổ chức Lào Ítxalạ, thành lập Mặt trận Neo Lào Ítxalạ gồm 15 người, do Hoàng thân Xuphanuvông làm chủ tịch và thành lập Chính phủ Kháng chiến Lào gồm tám người do Hoàng thân Xuphanuvông làm chủ tịch, kiêm thủ tướng Chính phủ

Đại hội cũng nhất trí cử Hoàng thân Phếtxarạt làm cố vấn của Mặt trận và Chính phủ Kháng chiến Lào

Đây là sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của cuộc kháng chiến ở Lào, làm cho thế và lực cách mạng Lào được tăng cường, liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam củng cố vững chắc hơn

THÁNG 11- 1950

Trang 23

Đoàn 280 quân tình nguyện Việt Nam đẩy mạnh xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang bí mật ở vùng Trung Lào

Sau một thời gian hoạt động, được quân và dân Lào giúp đỡ, các đơn vị thuộc Đoàn 280 đã củng cố, xây dựng được vùng căn cứ rộng lớn, gồm 600 bản với 3 vạn dân ở vùng Trung Lào, sát dọc biên giới Việt - Lào Tại các khu căn cứ đó, chính quyền cách mạng, tổ chức quần chúng và lực lượng vũ trang của Lào được xây dựng khá mạnh Việt Nam và Lào đã phối hợp chiến đấu, đánh bại nhiều cuộc tiến công lấn chiếm của địch, buộc chúng phải rút bỏ gần chục vị trí về trấn giữ các thị trấn, thị xã và một số vị trí quan trọng khác

Từ các căn cứ được xây dựng dọc phía đông Trung Lào, liên quân Lào - Việt đã đưa các đội vũ trang công tác tuyên truyền tiến xuống các vùng sau lưng địch nhằm tuyên truyền, tổ chức nhân dân xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang bí mật ở các vùng Huội Mừn, Lahảnặm, Kẹng Koọc, Nặm Cha Lộ, Na Nhôm, Nhômmalạt, Hỉn Bun, bắt liên lạc với cơ sở vùng Bolịkhăn (phía đông Viêng Chăn), tạo bàn đạp phát triển xuống vùng đồng bằng Trung Lào

Ngày 12 tháng 11-1950

Liên khu 5 (Việt Nam) mở Hội nghị tổng kết công tác gây dựng cơ sở ở vùng địch hậu Hạ Lào

Nhằm đẩy mạnh công tác gây dựng cơ sở ở vùng địch hậu Hạ Lào, ngày 12 tháng 11 năm 1950, Liên khu 5 (Việt Nam) mở Hội nghị tổng kết nêu rõ: về đoàn kết Lào - Việt, phương pháp tích cực nhất là tôn trọng đơn

vị, ý kiến của Lào, thống nhất và hết sức giúp đỡ Lào, thẳng thắn phê bình khuyết điểm của Lào Mọi việc đều đem bàn hết với phía Lào và phân công cùng làm, những việc phía Lào đủ sức, hay có thể nhờ giúp đỡ

ít nhiều thì để Lào làm lấy Không nên đòi hỏi ở trình độ hiểu biết và làm quá sức của Lào và cũng không nên thấy phía Lào làm mà giao nhiều công tác nữa Phải thường xuyên đề cao Lào trước bộ đội và nhân dân, khéo léo đưa ý kiến và giúp Lào làm việc

Về đoàn kết cán bộ: tốt nhất là dìu dắt theo công tác để huấn luyện, thỉnh thoảng dùng hình thức hội nghị để thảo luận kế hoạch công tác và một, hai vấn đề có tính chất lý luận dùng trong công tác để chứng minh Chú

ý đào tạo cán bộ trung kiên, cán bộ thanh niên đều có thể phát huy, giúp công việc các cấp, giúp chuyên môn Cán bộ phải có uy tín trong nhân dân

Từ ngày 20 đến 22 tháng 11-1950

Hội nghị đại biểu Mặt trận dân tộc thống nhất ba nước Đông Dương

Từ ngày 20 đến 22 tháng 11 năm 1950, Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập Hội nghị đại biểu Mặt trận dân tộc thống nhất ba nước Đông Dương ở căn cứ địa Việt Bắc (Việt Nam) Đoàn đại biểu Mặt trận Liên Việt

Trang 24

gồm các đồng chí Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Lê Đình Thám, Lê Thị Xuyến Đoàn đại biểu Mặt trận Lào Ítxalạ gồm Hoàng thân Xuphanuvông, Phumi Vôngvichít, Nủhắc Phumxavẳn, Xỉxanạ Xi xản, Khăm Tày Xiphănđon Đoàn đại biểu Mặt trận Ítxarắc do đồng chí Siêu Riêng dẫn đầu

Đại biểu mỗi nước đã phân tích tình hình thế giới, Đông Dương, trong nước, cuộc đấu tranh của dân tộc mình và xác định nhiệm vụ cơ bản trước mắt của cách mạng mỗi nước

Ngày 23 tháng 11 -1950

Hội nghị Ban Cán sự Tây Lào và Trung Lào bàn về chuẩn bị tổng phản công

Trước tình hình mới, ngày 23 tháng 11 năm 1950, Ban Cán sự Tây Lào và Trung Lào họp hội nghị bàn về việc chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tổng phản công trong thời gian tới, trong đó tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau:

1 Phối hợp hoạt động ở Xiêng Vảng: Tiểu đoàn 2 của Trung Lào hoạt động ở gần Mahả Xây sẽ phái một đội quân đến Xiêng Vảng để cùng bàn việc liên lạc và phối hợp công tác Đầu tháng 1 năm 1951 đến nơi, ăn ở, cải trang, có mìn, lựu đạn Yêu cầu Xiêng Vảng bố trí đường sá, chuẩn bị lương thực và nơi tạm trú

2 Phối hợp cùng Khăm Cợt và Bolịkhăn: Về giao thông Việt - Thái, Trung Lào và Tây Lào từ nay tổ chức trực tiếp với nhau ở Sopving, không đi thủy như trước Trạm ở đây do Tây Lào phụ trách Hai ban phụ trách hai vùng Bolịkhăn và Khăm Cợt sẽ gặp nhau để bàn kế hoạch giúp đỡ nhau

3 Cán bộ: Tây Lào sẽ giúp cho Trung Lào 20 cán bộ trong số 27 người của Tây Lào đang huấn luyện tại Trung Lào Tây Lào chuẩn bị cho Trung Lào 30 đội viên Việt kiều cứu quốc biết tiếng Lào, có tinh thần hăng hái và khỏe mạnh ở vùng Xiêng Vảng

4 Vũ khí: Liên khu ủy Khu 4 (Việt Nam) đã đồng ý coi Tây Lào là một bộ phận được nhận phần vũ khí của Liên khu 4, Tây Lào sẽ có người qua lấy, Trung Lào sẽ giúp vận chuyển Trung Lào cấp mìn, lựu đạn cho bộ phận ở Xiêng Vảng

(còn tiếp)

(Nguồn: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 2007), Biên niên sự kiện, tập 1 1975), Nxb CTQG, H, 2011)

(1930-9

Trang 25

đi đến thắng lợi hoàn toàn, từ ngày 11 đến 13 tháng 3 năm

1951, tại chiến khu Việt Bắc, các đại diện của ba mặt trận: Liên Việt, Ítxalạ và Ítxarắc đã họp Hội nghị thành lập Mặt trận đoàn kết liên minh Việt - Miên - Lào

kế hoạch đề ra Theo phương hướng đó, các đội công tác cơ sở thuộc các phân đoàn 9, 13, 812 phân tán tổ chức thành nhiều nhóm Mỗi nhóm gồm từ hai đến ba người cùng cán bộ Lào đi vào từng làng bản, thực hiện “ba cùng” với dân, tuyên truyền vận động nhân dân tham gia kháng chiến, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch Đối với những nơi có phong trào quần chúng rộng, các nhóm giúp Lào xây dựng, củng cố các đoàn thể Lào Ítxalạ, các tổ dân quân du kích và chính quyền cơ sở; đồng thời tổ chức học tập bồi dưỡng chính trị và quân sự tại chỗ cho cán bộ địa phương và các lực lượng vũ trang Lào; tiến hành tuần tra canh gác, sẵn sàng chống địch càn quét, giữ vững căn cứ kháng chiến Qua những ngày lăn lộn sinh hoạt, làm công tác xây dựng cơ sở, cán bộ và chiến sĩ Đoàn

280 được nhân dân Lào yêu mến, tin cậy coi như con em của mình Để đẩy mạnh các mặt giúp Lào hiệu quả, Ban Chỉ huy Đoàn 280 phân công lại địa bàn hoạt động Tiểu đoàn 1 (Tiểu đoàn 364 cũ) phụ trách khu vực đường 9, chuyển xuống hoạt động ở vùng đồng bằng Lahảnặm, dọc theo đường 23 đến khu vực Kẹng Koọc Tiểu đoàn 2 phụ trách khu vực đường 12 tiến dọc theo dải núi Phu Xăng He, hoạt động trong vùng địch kiểm soát đến cuối vùng đồng bằng huyện Mahả Xây Theo phương châm hoạt động “kết hợp quân sự với chính trị” và vận dụng phương thức

“trung đội cơ động đánh địch, tiểu đội phân tán làm công tác cơ sở” ở từng khu vực, các tiểu đoàn 1, 2 quân tình nguyện luôn hỗ trợ các phân đoàn 9, 13 và 812 đi sâu tuyên truyền gây dựng cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang ở các địa phương; đồng thời sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống địch càn quét, bảo vệ các khu căn cứ kháng chiến

Chuyển cơ quan Ban Cán sự và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Lào đến căn cứ mới

Thực hiện chủ trương mới, tháng 2 năm 1951, Mặt trận Tây Lào tổ chức chuyển lực lượng cùng trang thiết bị cơ quan Ban Cán sự và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Lào đến nơi mới Các trường, lớp (trường quân chính, các lớp đào tạo

vô tuyến điện - báo vụ, cơ công, dân vận ), trạm quân y, kho cung cấp, các bộ phận chuyên môn cơ yếu, điện đài, tiếp tế, vận tải; một bộ phận công binh xưởng cũng từ Nặm Tòn chuyển tới vùng Na Khưa, Na Lưởng Lúc này, quân

số của các cơ quan, đơn vị tăng lên nhiều, nên việc ăn, ở, sinh hoạt khó khăn hơn ở Nặm Tòn, Mương Phương Việc nuôi quân chủ yếu dựa vào nhân dân, do nhân dân cung cấp lương thực, thực phẩm Đường giao thông tiếp tế

từ Thái Lan sang cũng phải chuyển hướng từ đầu cầu phía tây bắc sang đầu cầu phía đông nam, quãng đường xa,

có đoạn địch kiểm soát gắt gao

Cơ quan Ban Cán sự và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Lào chuyển đến căn cứ mới chưa được củng cố bao lâu đã phải

Đại hội liên minh Việt - Miên - Lào tại chiến khu

Việt bắc tháng 3/1951 Ảnh tư liệu

Trang 26

thường xuyên chống các cuộc càn quét của địch Lúc đầu, địch chỉ càn qua các làng bản thăm dò, trinh sát rồi rút quân về đồn Tiếp đó, chúng chuyển đến đóng quân ở cạnh các làng bản và lùng sục các khu rừng, nương rẫy, gây cho liên quân Lào - Việt một số khó khăn, tổn thất Một số đồng chí bị địch phục kích khi vận chuyển lương thực đã anh dũng hy sinh, một số bị địch bắt Các cơ quan, đơn vị luôn phải di chuyển địa điểm để bảo toàn lực lượng

Từ ngày 11 đến 19 tháng 2- năm 1951

Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương

Nhằm giải quyết những yêu cầu cách mạng trong tình hình mới, từ ngày 11 đến 19 tháng 2 năm 1951, Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương đã được tiến hành tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam) Tham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho trên 76 vạn đảng viên Về phía quốc tế, bên cạnh đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Xiêm, có đại biểu của Miên và Lào Đoàn đại biểu Đảng bộ Lào do đồng chí Cayxỏn Phômvihản làm trưởng đoàn

Tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Báo cáo chính trị, đồng chí Trường Chinh trình bày luận cương “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội”, đồng chí Hoàng Quốc Việt đọc báo cáo “Củng cố khối đại đoàn kết để chiến thắng”, đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc báo cáo “Xây dựng quân đội nhân dân, hoàn thành chiến tranh giải phóng”, đồng chí Cù Vân đọc “Báo cáo về kinh tế tài chính”

Đại hội đã thông qua Nghị quyết “Về Báo cáo chính trị của đồng chí Hồ Chí Minh”, nêu rõ: vì điều kiện mới của Đông

Dương và thế giới, ở Việt Nam đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam có Chính cương, Điều lệ thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam Ở Cao Miên và Ai Lao, thành lập ở mỗi nước một chính đảng riêng lấy tên là Đảng Nhân dân Khơme và Đảng Nhân dân Lào Đảng Lao động Việt Nam có nghĩa vụ giúp đỡ các đồng chí và những tổ chức cách mạng Miên, Lào để lãnh đạo cuộc kháng chiến của hai dân tộc ấy giành lấy thắng lợi cuối cùng Nội dung cụ thể của Nghị quyết về việc thành lập ở Lào, Miên mỗi nước một chính đảng riêng là:

1 Để lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở mỗi nước, để phù hợp với tình hình của hai nước ấy và tình hình trên thế giới, Đại hội đã quyết nghị thành lập ở mỗi nước một chính đảng có tính chất nhân dân gồm những người yêu nước tiến bộ nhất, hăng hái chiến đấu nhất trong hàng ngũ những người kháng chiến ở Lào, Miên Các đồng chí người Lào, Miên sẽ đứng ra tổ chức chính đảng với sự giúp đỡ của Đảng Lao động Việt Nam, mà trực tiếp

là các đảng viên hoạt động ở Miên, Lào

2 Tính chất của Đảng ấy phải là một Đảng của giai cấp công nhân, một Đảng tiên phong, một Đảng lãnh đạo cách mạng Phải căn cứ vào những tính chất đó và điều kiện cụ thể của mỗi nước mà định chính cương của Đảng

3 Về tổ chức đảng phải theo nguyên tắc dân chủ tập trung, nhưng phải tùy trình độ đảng viên, điều kiện kháng chiến

và lợi ích của cách mạng mà áp dụng nguyên tắc tập trung cho thích hợp

4 Kỷ luật phải nghiêm minh và tự giác nhưng cũng phải thích hợp với trình độ đảng viên, trình độ tổ chức của Đảng Nghị quyết còn nêu ra một số điểm cụ thể về kế hoạch tổ chức thực hiện: tổ chức Đảng Nhân dân tốt để lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Lào - Miên Thành lập Đảng phải đưa đến tăng cường đoàn kết thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến của dân tộc Đảng là của tất cả các tầng lớp nhân dân, được quần chúng tín nhiệm yêu quý

Những đồng chí Lào, Miên ở địa phương đứng ra tổ chức “nhóm sáng lập Đảng Nhân dân” hoạt động để phát triển nhóm ấy bằng cách kết nạp những chiến sĩ yêu nước, hăng hái tiến bộ nhất trong lực lượng kháng chiến Tổ chức

“nhóm sáng lập Đảng Nhân dân” phải hoạt động bí mật, khi tổ chức đã khá rộng, vững chắc để lãnh đạo mọi mặt công tác thì phải chuẩn bị triệu tập đại hội đại biểu các nhóm để chính thức thành lập Đảng Nhân dân, thông qua Chính cương, Điều lệ và bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Nghị quyết cũng nêu ra một số nguyên tắc và mối quan hệ giữa tổ chức Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Nhân dân như: địa phương nào thành lập được Đảng Nhân dân thì trong các tổ chức Đảng Lao động Việt Nam chỉ có các đảng viên người Việt Nam Quan hệ giữa tổ chức Đảng Lao động Việt Nam với tổ chức Đảng Nhân dân dựa trên tinh thần quốc tế anh em để liên lạc giúp đỡ nhưng phải bí mật

Trang 27

Ngày 19 tháng 2- năm 1951

Liên quân Lào - Việt đánh đồn Nặm Phả Năng

Thực hiện chủ trương tăng cường hoạt động đánh địch, ngày 19 tháng 2 năm 1951, Tiểu đoàn 2 thuộc Đoàn 280 quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với đội du kích Bạn Naphào (Lào) đánh tập kích vào đồn Nặm Phả Năng (nằm giữa hai đồn Bạn Naphào và Pạc Cuội), loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên, số còn lại hoảng sợ bỏ đồn chạy trốn Liên quân Việt - Lào thu hai súng trung liên, 600 viên đạn Đây là trận đánh đầu tiên của Tiểu đoàn 2 trong quá trình hoạt động ở vùng đồng bằng Mahả Xây (Lào) Sau khi làm chủ đồn Nặm Phả Năng, Tiểu đoàn 2 tổ chức hành quân làm công tác vũ trang tuyên truyền trong các tàxẻng (tổng) thuộc huyện Mahả Xây Đi đến đâu, cán bộ, chiến sĩ tình nguyện đều tập trung dân tuyên truyền về chiến thắng, đồng thời vạch trần âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch, khẳng định tình đoàn kết Việt - Lào chống thực dân Pháp xâm lược, được nhân dân địa phương hoan nghênh, mến phục Ngay sau đó, Tiểu đoàn 2 phóng thích ba tù binh, cho phép trở về đoàn tụ gia đình Trước sự rộng lượng của

ta, họ hết sức cảm phục, biết ơn cách mạng và hứa trở về quê làm ăn chân chính, không đi lính theo Pháp chống lại nhân dân nữa

Trong thời gian này, tại đồn Bạn Naphào có một tiểu đội trưởng quân nguỵ Lào được cách mạng giác ngộ, đã dẫn đầu một tiểu đội gồm 10 người, mang đầy đủ vũ khí ra đầu hàng bộ đội Việt - Lào Tin binh lính đồn Bạn Naphào rời

bỏ hàng ngũ địch trở về với Mặt trận Lào Ítxalạ được lan truyền nhanh chóng ra các địa phương, làm hoang mang tinh thần binh lính trong các đồn địch, tạo khí thế phấn khởi, càng tin tưởng vào kháng chiến của nhân dân

THÁNG 3- năm 1951

Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đề ra nhiệm vụ quân sự trên chiến trường Thượng Lào

Nhằm đẩy mạnh kháng chiến, tháng 3 năm 1951, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đề ra nhiệm vụ quân sự trên chiến trường Thượng Lào năm 1951 là: đẩy mạnh chiến tranh du kích nhằm phối hợp chặt chẽ với cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam với phương châm chiến lược du kích chiến là chính, tiến tới vận động chiến Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang địa phương và xây dựng căn cứ địa vững chắc Phương thức hoạt động chủ yếu là vũ trang tuyên truyền dưới hình thức ban xung phong công tác, đại đội độc lập hoạt động nhằm phát triển du kích chiến rộng rãi Giúp đỡ xây dựng quân đội cách mạng Lào, ra sức đào tạo cán bộ người Lào Lấy khu tam giác Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Luổng Phạbang làm trung tâm xây dựng thành căn cứ địa vững chắc Giáo dục cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần tinh thần quốc tế, nhận thức rõ Đông Dương là một chiến trường

và tầm quan trọng của mối quan hệ mật thiết giữa Lào và Việt Nam

Từ ngày 11 đến 13 tháng 3- năm 1951

Hội nghị thành lập Mặt trận đoàn kết liên minh Việt - Miên - Lào

Để củng cố tinh thần đoàn kết liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung, đưa sự nghiệp giải phóng của mỗi nước đi đến thắng lợi hoàn toàn, từ ngày 11 đến 13 tháng 3 năm 1951, tại chiến khu Việt Bắc, các đại diện của ba mặt trận: Liên Việt, Ítxalạ và Ítxarắc đã họp Hội nghị thành lập Mặt trận đoàn kết liên minh Việt - Miên - Lào

Hội nghị thảo luận tình hình thế giới, Đông Dương, phân tích tình hình mỗi nước và xác định nhiệm vụ cơ bản cũng như nhiệm vụ trước mắt của từng nước và nhất trí khẳng định một số điểm quan trọng:

1 Cuộc kháng chiến của ba dân tộc Việt Nam - Miên - Lào là một bộ phận khăng khít của khối hòa bình dân chủ thế giới

2 Đánh đuổi thực dân Pháp, can thiệp Mỹ làm cho ba nước Việt - Miên - Lào hoàn toàn độc lập là nhiệm vụ cơ bản của cách mạng mỗi nước

3 Phải tăng cường tình đoàn kết, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau để chống kẻ thù chung của mỗi dân tộc mới chóng thành công

Trang 28

4 Hội nghị cử ra một Ủy ban liên minh Việt - Miên - Lào để thực hiện việc liên lạc phối hợp giữa ba dân tộc trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung, giành độc lập ở mỗi nước

Từ ngày 13 đến 16 tháng 3- năm 1951

Hội nghị lần thứ nhất Trung ương Đảng Lao động Việt Nam

Nhằm đáp ứng với tình hình mới, từ ngày 13 đến 16 tháng 3 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp Hội nghị lần thứ nhất, ra nghị quyết về việc tổ chức và đề ra nhiệm vụ giúp cách mạng Lào - Miên Đối với cách mạng Lào, nghị quyết nêu rõ: đối với bộ phận Đảng Lao động Việt Nam ở Lào, để thực hiện Nghị quyết của Đại hội lần thứ II của Đảng, các đồng chí ở Lào sẽ thành lập bộ phận Đảng Lao động Việt Nam ở Lào Mỗi bộ phận phải tổ chức theo một hệ thống thích hợp, để thống nhất sự chỉ đạo từ trên xuống Hệ thống ấy là Ban Cán sự các cấp và dưới cùng là chi bộ (địa phương, cơ quan, đơn vị)

Nhiệm vụ của bộ phận Đảng Lao động Việt Nam ở Lào là: giúp đỡ cách mạng Lào; động viên, tổ chức, lãnh đạo Việt kiều tham gia và ủng hộ cách mạng Lào; phục vụ quyền lợi Việt kiều Bộ phận Đảng Lao động Việt Nam ở Lào, nếu nơi nào xét có lợi thì công khai hợp pháp; nơi nào xét không có lợi thì bí mật

Về Đảng Nhân dân Lào, nghị quyết nêu rõ: để sự lãnh đạo cách mạng dân tộc giải phóng Lào thích hợp với tình hình của Lào và tình hình thế giới hiện nay, Đại hội lần thứ II đã ra nghị quyết giúp đỡ những người cách mạng tiên tiến Lào thành lập một chính đảng nhân dân cách mạng, gồm những người ái quốc và dân chủ, trung thành, hăng hái và

có ý nghĩa nhất trong hàng ngũ kháng chiến Lào Chính cương của Đảng sẽ căn cứ vào những nguyên tắc nêu trong Luận cương cách mạng Lào và tình hình cụ thể của nước Lào mà định

Về quan hệ giữa bộ phận Đảng Lao động Việt Nam ở Lào và “Nhóm” hay Đảng Nhân dân Lào là quan hệ của tổ chức Lào, dựa trên tinh thần quốc tế chủ nghĩa

Bộ phận Đảng Lao động Việt Nam sẽ phân công một số đồng chí phụ trách liên lạc và giúp đỡ “Nhóm” hay Đảng Nhân dân Lào Những việc liên lạc này phải giữ đúng nguyên tắc bí mật Tiếp đó, ngày 16 tháng 4 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra nghị quyết “Về việc thành lập các ban và tiểu ban giúp việc” Trung ương Đối với Tiểu ban Miên - Lào gồm các đồng chí Phạm Tô (tức Phạm Văn Đồng) làm trưởng ban, Hoàng Quốc Việt, Văn (tức

Võ Nguyên Giáp) làm ủy viên

Trang 29

(TCTG)- Đến hoạt động, chiến đấu ở địa phương nào, cán bộ chỉ huy của các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phải bàn bạc với chính quyền địa phương để định nhiệm vụ công tác

và chiến đấu Tuy nhiên, bộ đội tình nguyện Việt Nam vẫn dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ Chỉ huy Việt Nam về mọi mặt công tác, tác chiến, huấn luyện, quản trị

1 Tóm lược quá trình xây dựng cơ sở ở Hạ Lào

2 Những ưu điểm, khuyết điểm và thành tích đạt được trên các mặt công tác

3 Bốn bài học kinh nghiệm quý báu rút ra trong công tác xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng

4 Tình hình cách mạng hiện nay và nhiệm vụ trước mắt của Ban Cán sự cần đẩy mạnh phong trào kháng chiến ở

Chương trình nghệ thuật "Tuổi trẻ Việt - Lào ấm

tình keo sơn".

Trang 30

công tác, tác chiến, huấn luyện, quản trị

Để phù hợp với yêu cầu công tác và khả năng cấp dưỡng của nhân dân, Bộ Chính trị quy định cụ thể số lượng bộ đội ở từng khu vực như sau: Thượng Lào (cả Đông và Tây) gồm 4.000 người, Trung Lào 1.200 người, Hạ Lào 4.000 người Do điều kiện hoạt động và sinh hoạt ở chiến trường gian khổ nên bộ đội tình nguyện Việt Nam được tổ chức theo chế độ luân lưu Sau một thời gian hoạt động trên đất Lào, họ được rút về Việt Nam bồi dưỡng sức khỏe, chấn chỉnh trong vài tháng Lực lượng được sắp xếp sao cho thường xuyên có 1/4 quân được hưởng chế độ luân lưu này

1 Để phá vỡ cơ sở kháng chiến của nhân dân Lào, địch ráo riết thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Lào đánh người Lào”, ra sức tuyên truyền chia rẽ Lào - Việt Chúng thành lập chính quyền bù nhìn từ trung ương xuống địa phương, dùng chiêu bài độc lập giả hiệu để lừa phỉnh nhân dân Lào

2 Mấy năm qua, cán bộ, bộ đội tình nguyện Việt Nam đã thực sự vì cách mạng Lào, tận tụy chiến đấu hy sinh Nhưng ở nhiều nơi, cán bộ Việt Nam còn phạm nhiều khuyết điểm, nên chưa phá được âm mưu của địch, chưa đẩy mạnh được cuộc kháng chiến của nhân dân Lào phát triển nhanh chóng

Nguyên nhân chính của thiếu sót trên là do cán bộ Việt Nam chưa nắm vững đường lối cách mạng giải phóng dân tộc Lào, cuộc kháng chiến của nhân dân Lào căn bản phải dựa vào sức mạnh của nhân dân Lào Cán bộ, bộ đội Việt Nam sang Lào hoạt động chính là để giúp nhân dân Lào xây dựng lực lượng kháng chiến, lực lượng cách mạng Do không quán triệt quan điểm trên, nên cán bộ, chiến sĩ Việt Nam đã có thái độ không đúng đối với cách mạng Lào, với nhân dân và cán bộ Lào

Nghị quyết cũng vạch rõ: nguồn gốc của lực lượng kháng chiến Lào là nhân dân Lào Hình thức đấu tranh vũ trang lúc này ở Lào là chiến tranh du kích Dù xây dựng hay chiến đấu đều phải nhằm phát triển chiến tranh du kích Chống xu hướng chỉ lo tập trung đánh chính quy, đánh lớn Trên cơ sở phân tích tương quan lực lượng giữa ta và địch, Bộ Chính trị đã đề ra cho Ban Cán sự Thượng Lào một số nhiệm vụ trước mắt chống lại âm mưu của địch như sau:

Trang 31

1 Củng cố cơ sở chính trị, quân sự, gây dựng cơ sở kinh tế trong vùng ta kiểm soát, đặc biệt là nơi ta đang xây dựng thành căn cứ địa Chăm lo giác ngộ chính trị, tinh thần chiến đấu của nhân dân, đào tạo cán bộ địa phương để

đủ sức chỉ đạo được các cơ sở Củng cố dân quân du kích, các đội du kích xã, bộ đội địa phương

2 Tuyên truyền sâu rộng trong vùng ta kiểm soát, vùng du kích, vùng bị chiếm để đoàn kết toàn dân, đoàn kết Việt - Lào - Miên chống thực dân Pháp, can thiệp Mỹ, giành độc lập thực sự

CUỐI NĂM 1951

Đoàn 83 quân tình nguyện Việt Nam mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, quân sự

Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, cuối năm 1951, Ban Cán sự Tây Lào trước đây và Đoàn 83 sau này liên tiếp mở các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và công tác dân vận, quán triệt các quan điểm của Đảng, các chủ trương, chính sách của Chính phủ Kháng chiến Lào và Neo Lào Ítxalạ cho cả cán bộ tình nguyện Việt Nam và cán bộ Lào Các lớp quân chính đào tạo cán bộ tiểu đội, do đồng chí Nguyễn Hoà làm tư lệnh trực tiếp chỉ đạo Nội dung chủ yếu về quân

sự là học kỹ thuật sử dụng một số súng bộ binh và chiến thuật cá nhân, chiến thuật phân đội nhỏ

Về chính trị, học 10 lời thề, 12 điều kỷ luật của quân đội và công tác dân vận Cuối năm 1951, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hồ Hữu Lợi, Ban Tuyên huấn Đoàn 83 mở khoá đào tạo chi uỷ viên Lào đầu tiên ở Phôn Thon (Mương Phương) Tham gia có hơn 20 đảng viên cốt cán Lào do các phân khu cử tới, mỗi phân khu gồm ba đến bốn người Thời gian học tập trong năm tuần Đồng chí Phan Dĩnh, Trưởng Ban Tuyên huấn trực tiếp phụ trách và giảng dạy Các đồng chí Hồ Vân, Trần Thanh (Việt kiều cũ ở Thái Lan) phiên dịch Nội dung học tập gồm: chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; lịch sử Đảng Cộng sản Đông Dương và Điều lệ Đảng; đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi; năm bước công tác vận động quần chúng, công tác chi bộ

và đạo đức cách mạng

Kết thúc khoá học, các đảng viên Lào trở về địa phương tiếp tục mở lớp truyền đạt cho các đồng chí ở nhà, sau này nhiều đồng chí đã trở thành cán bộ lãnh đạo của Đảng bộ Lào ở các địa phương trong toàn tỉnh Viêng Chăn, một số trở thành cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội Lào

Về quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng bộ đội cách mạng Lào trên chiến trường Lào

Sau một thời gian xây dựng, phát triển lực lượng, đến cuối năm 1951, tổng số quân Việt - Lào trên toàn chiến trường Lào năm 1951 là 8.673 người, trong đó có 7.497 quân tình nguyện Việt Nam và 1.176 bộ đội yêu nước Lào Tổng số quân Việt - Lào được bố trí trên các chiến trường như sau:

- Bắc Lào (Đông Thượng Lào) có 4.810 người, trong đó có 210 cán bộ, chiến sĩ Lào Thực tế chỉ có 1.850 chiến sĩ

Trang 32

trực tiếp tham gia chiến đấu (3/4 cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện còn ở Việt Nam)

- Tây Lào có 1.390 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 216 cán bộ, chiến sĩ Lào (tính đến cuối năm 1950)

- Trung Lào có hơn 3.000 cán bộ, chiến sĩ (tính đến tháng 4 năm 1951) Theo chỉ thị của Trung ương, sau khi củng

cố lực lượng chỉ để lại 1.000, số còn lại chuyển giao cho Liên khu 4

- Hạ Lào có 2.300 cán bộ, chiến sĩ (tính đến tháng 2 năm 1951), trong đó có 650 cán bộ, chiến sĩ Lào và 500 thanh niên Việt kiều ở Thái Lan về tham gia chiến đấu

và dân Lào anh em mở chiến dịch Sầm Nưa (Thượng Lào) Đồng chí Cayxỏn Phômvihản gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Sau khi thực dân Pháp tăng quân đánh chiếm khu vực Thượng Lào, đầu tháng 2 năm 1953, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp Hai vị Tổng Tư lệnh của quân đội cách mạng hai nước Lào - Việt đã trao đổi và nhất trí đề nghị Chính phủ hai nước Lào - Việt cùng phối hợp mở chiến dịch Thượng Lào Đề nghị này đã được chính phủ hai nước Việt - Lào chấp thuận thực hiện, nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cả ở Việt Nam và Lào giành thắng lợi to lớn hơn nữa

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Hoàng thân

Xuphanuvông bàn kế hoạch mở Chiến dịch

Thượng Lào 1953 Ảnh tư liệu.

Trang 33

dân Lào Đối với Việt Nam, mở chiến dịch Thượng Lào sẽ phân tán thêm lực lượng địch, phá âm mưu củng cố vùng Tây Bắc và bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ của chúng, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích ở đồng bằng

và chiến dịch Thu Đông của ta Ngoài ra, đây còn là dịp để rèn luyện thêm cho bộ đội chủ lực Việt Nam về chiến thuật và chấp hành chính sách quốc tế của Đảng

Ngay trong tháng 2, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và theo yêu cầu của Chính phủ Kháng chiến Lào, Mặt trận Lào Ítxalạ, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định phối hợp với quân và dân Lào mở chiến dịch tiến công địch ở Sầm Nưa (Thượng Lào) Mục đích là nhằm “tiêu diệt một

bộ phận sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai, giúp Chính phủ Kháng chiến Lào mở rộng và xây dựng căn cứ địa chính của cách mạng Lào, tạo điều kiện đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân Lào”

Bộ Chỉ huy chiến dịch: Phía Việt Nam có Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh

- Chủ nhiệm chính trị, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Nam - Chủ nhiệm cung cấp và đồng chí Nguyễn Khang - Đặc trách công tác ở chiến trường Lào Phía Lào có Hoàng thân Xuphanuvông (Thủ tướng Chính phủ Kháng chiến), đồng chí Cayxỏn Phômvihản (Bộ trưởng Quốc phòng), đồng chí Xỉngcapô Xỉkhốt Chunlamany (Thứ trưởng Quốc phòng) và đồng chí Ma Khảy Khămphithun (Bí thư tỉnh Sầm Nưa)

Sau khi trao đổi thống nhất với Chính phủ Kháng chiến Lào, cuối tháng 2 năm 1953, các đơn vị Lào - Việt được giao nhiệm vụ tham gia mở chiến dịch Thượng Lào, gấp rút triển khai chuẩn bị về mọi mặt Trên hướng Sầm Nưa (hướng chủ yếu) có Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 (hai trung đoàn), Đại đoàn 316 (một trung đoàn) và Đoàn 80 quân tình nguyện Việt Nam ở tỉnh Hủa Phăn Phía Lào có khoảng 500 bộ đội địa phương, trong đó có một đại đội tập trung của tỉnh và lực lượng dân quân du kích các huyện Xiêng Khọ, Mương Xon

Tháng 4 năm 1953

Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam điện gửi Tổng Quân ủy Việt Nam

Trong điện gửi Tổng Quân ủy tháng 4 năm 1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nêu ra một số ý kiến về tình hình Thượng Lào: xuất phát từ thực tế tương quan lực lượng ở vùng mới giải phóng, ta cần chọn những vùng có thể giữ vững được để củng cố trước rồi sẽ tiếp tục phát triển Nên chọn khu vực Sầm Nưa làm trung tâm củng cố Khu vực thứ hai là dọc đường 7 Trong công tác củng cố cần chú ý theo chính sách mà tổ chức chính quyền, du kích, bộ đội địa phương và tổ chức Ítxalạ Khi cần phát biểu ý kiến công khai thì

để Chính phủ và Mặt trận Ítxalạ ra mắt phát biểu

Hội nghị cán bộ quân chính giúp Lào ở Mặt trận Thượng Lào

Nhằm tăng cường công tác giúp Lào, tháng 4 năm 1953, Mặt trận Thượng Lào đã tổ chức Hội nghị cán bộ quân chính Sau khi kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả các mặt công tác giúp cách mạng Lào, Hội nghị cán bộ quân chính Mặt trận Thượng Lào đã thông qua nghị quyết đẩy mạnh công tác trong thời gian tới:

1 Tăng cường đoàn kết Lào - Việt

2 Đẩy mạnh công tác dân vận, mặt trận phát triển lên bước mới

3 Thúc đẩy tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm

4 Phát triển chiến tranh du kích rộng rãi

Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới dự Hội nghị phát biểu nêu rõ cần nâng cao tinh thần quốc tế, tin tưởng vào lực lượng cách mạng Lào, ra sức giúp đỡ bộ đội Lào Ítxalạ và nhân dân Lào tiêu diệt kẻ thù chung, cùng nhau đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho hai nước, cùng nhau chiến đấu để góp phần vào công cuộc bảo vệ hòa bình dân chủ

ở Đông Nam châu Á và thế giới, để sau này cùng nhau tiến tới chủ nghĩa xã hội

Đầu tháng 4 năm 1953

Trang 34

Quán triệt nhiệm vụ chiến dịch Thượng Lào

Trước khi mở chiến dịch Thượng Lào, ngày 1 tháng 4 năm 1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã gửi thư cho Tổng Quân uỷ, các đại đoàn ủy và Ban Cán sự Thượng Lào, cùng các đơn vị phối hợp với Lào tham gia chiến dịch Nội dung thư nêu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của chiến dịch và quán triệt những nhiệm vụ cần nghiêm túc thực hiện để chiến dịch đạt thắng lợi cao nhất, thể hiện tình đoàn kết Việt - Lào

Ngày 3 tháng 4 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các đơn vị bộ đội Việt Nam tham gia chiến dịch Trong thư, Người yêu cầu các đơn vị và bộ đội phải:

1 Vượt mọi khó khăn, thi đua diệt địch, chiến đấu anh dũng ở bên Lào cũng như ở Việt Nam

2 Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân nước Lào

3 Tuyệt đối giữ gìn kỷ luật, giữ gìn danh tiếng của Quân đội nhân dân Việt Nam

4 Tất cả phải có quyết tâm rất cao, rất bền, tranh nhiều thắng lợi

Tiếp đó, trong hai ngày 5 và 6 tháng 4 năm 1953, Tổng Quân ủy Việt Nam đã mở hội nghị gồm cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên để quán triệt tình hình và nhiệm vụ tác chiến Tại buổi bế mạc hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhắc nhở cán bộ trước khi ra trận Nội dung chủ yếu gồm: Cần nhận định đúng tình hình địch, không đánh giá địch thấp, nhưng cũng không đánh giá địch cao; quán triệt phương châm và kế hoạch tác chiến Đại tướng cũng nhắc nhở cần lưu ý một số điểm trong khi thực hiện nhiệm vụ tác chiến như: hành quân phải nhanh chóng, bí mật, nhiệm vụ chính của bộ đội nhỏ đi trước, những đơn

vị có nhiệm vụ tiêu diệt một số cứ điểm quan trọng ở ngoại vi cần phải bảo đảm chắc thắng; những đơn vị có nhiệm

vụ đánh vào trung tâm, những đơn vị có nhiệm vụ tiêu diệt nốt những cứ điểm còn lại, hay truy kích tàn binh địch thì yêu cầu về chỉ huy, về công tác chính trị, công tác hậu cần, phải phát huy cao độ tinh thần yêu nước chân chính kết hợp với tinh thần quốc tế anh dũng chiến đấu

Ngày 9 tháng 4 năm 1953, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam gửi thư cho các đơn vị bộ đội chủ lực Việt Nam nêu rõ: Tất cả cán bộ, chiến sĩ phải phát huy cao độ tinh thần yêu nước chân chính và tinh thần quốc tế chủ nghĩa, anh dũng chiến đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch trên chiến trường nước Lào, cũng như trên đất nước Việt Nam, làm đúng 10 điều quy định của Quân đội nhân dân Việt Nam sang tác chiến ở Lào; tôn trọng chủ quyền, yêu kính nhân dân, đoàn kết với bộ đội và nhân dân Lào đánh đổ

kẻ thù chung là thực dân Pháp

Từ ngày 13 tháng 4 đến 14 tháng 5 năm 1953

Quân tình nguyện Việt Nam và Quân đội Lào Ítxalạ mở chiến dịch Thượng Lào

Phát hiện ý định tiến công của ta, đêm 12 rạng ngày 13 tháng 4 năm 1953, địch vội vã rút chạy khỏi Sầm Nưa Một

bộ phận quân chủ lực và quân tình nguyện chuyển sang truy kích địch ở Mương Hàm, bắt toàn bộ nguỵ quyền tỉnh Hủa Phăn cùng 40 lính dõng Ngày 15 tháng 4, Đại đội 216 quân tình nguyện thuộc Đoàn 81 đang hoạt động ở phía bắc thị trấn Bạn Ban (thuộc huyện Mương Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng), tuy chưa biết tin địch bỏ chạy khỏi Sầm Nưa, nhưng thấy chúng hoảng hốt chạy qua, đã tập hợp đơn vị nổ súng tiến công địch, loại khỏi vòng chiến đấu 20 tên; sau đó bao vây một toán địch khác, gọi hàng hơn 100 tên, thu 70 súng các loại Sau chiến dịch này, Đại đội 216 được Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba do đã lập thành tích xuất sắc trong chiến dịch Thượng Lào

Cũng thời gian này, trên hướng đường 7, các đại đội 214, 232 và đội vũ trang Pắtchây Lào phối hợp với hai Trung đoàn 66 và 9 thuộc Đại đoàn 304 tiến công tiêu diệt đồn Noỏng Hét, Bạn Ban và tiến về hướng Cánh đồng Chum

Ở hướng nam đường 7, các đại đội 210, 215, 217 thuộc Đoàn 81 và bộ đội địa phương Mương Mọc, du kích Xảm Chè phối hợp với Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) vượt qua Then Phun tiến áp sát thị xã Xiêng Khoảng Địch ở đây hoảng sợ rút chạy về co cụm ở Cánh đồng Chum

Trước nguy cơ Cánh đồng Chum bị ta tiến công, Bộ Chỉ huy Pháp vội điều động một số tiểu đoàn từ Nà Sản, kể cả

Trang 35

từ đồng bằng Bắc Bộ (Việt Nam) sang hỗ trợ, xây dựng Cánh đồng Chum thành tập đoàn cứ điểm mạnh, cố giữ bằng được vị trí chiến lược quan trọng này

Trên hướng sông Nặm U (hướng phối hợp), Trung đoàn 148 (Quân khu Tây Bắc), Đoàn 82 quân tình nguyện phối hợp với bộ đội Lào Ítxalạ và du kích đẩy mạnh hoạt động phối hợp với hướng chính Sầm Nưa Ngày 21 tháng 4, liên quân Lào - Việt diệt một đại đội địch ở Mương Ngòi Địch ở Nặm Bạc hoảng sợ bỏ chạy về Pạc U Thừa thắng, một bộ phận quân chủ lực, quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Lào tiến công tiêu diệt vị trí Mương Khỏa; tiếp

đó tiến công loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội địch ở Pạc Xương Cuối tháng 4 năm 1953, bộ đội chủ lực và quân tình nguyện cùng với lực lượng vũ trang Lào được bạn giúp đỡ tiếp tục truy kích đánh địch rút chạy từ khu vực sông Nặm U về Luổng Phạbang Cuộc chiến đấu của các đại đoàn chủ lực 308, 304, 312, 316 phối hợp với các đoàn 80, 81, 82 quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Lào tiếp tục diễn ra, kéo dài đến ngày 14 tháng 5 năm 1953 thì kết thúc

Trước thắng lợi vang dội của chiến dịch Thượng Lào, hàng vạn nhân dân huyện Mương Khăm đã kéo đến dự cuộc mít tinh lớn tại Bạn Ban, do Uỷ ban Kháng chiến tỉnh Xiêng Khoảng tổ chức Tại cuộc mít tinh, ông Phumi Vôngvichít, đại diện Chính phủ Kháng chiến Lào đọc diễn văn ca ngợi thành công của chiến dịch Thượng Lào là thắng lợi to lớn của tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt - Lào, giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với Quân đội Lào Ítxalạ cùng chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược Tiếp đó, ông kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân các bộ tộc Lào đoàn kết một lòng, kiên quyết tiến lên đánh thắng thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và bọn tay sai, giành độc lập, tự do cho dân tộc Lào

Kết quả toàn chiến dịch, các đại đoàn chủ lực, các đoàn quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu 500, bắt 1.800 và làm tan rã 500 tên địch, giải phóng tỉnh Hủa Phăn, một phần các tỉnh Xiêng Khoảng, Luổng Phạbang, Phôngxalỳ với hàng chục vạn dân, nối liền căn cứ kháng chiến Lào với vùng Tây Bắc Việt Nam, tạo thế chiến lược cho cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước Việt - Lào có điều kiện phát triển thuận lợi

Trang 36

(TCTG)- Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Phó Bí thư Tổng Quân uỷ, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thay mặt Trung ương Đảng, Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam công bố quyết định ký ngày 16 tháng 7 năm

1954 về việc thành lập Đoàn cố vấn quân sự Việt Nam, mang phiên hiệu Đoàn 100

Bộ Quốc phòng Việt Nam giao nhiệm vụ cho Cục Tổ chức cán bộ thuộc Tổng cục Chính trị và Cục Quân lực thuộc

Bộ Tổng Tham mưu nghiên cứu, lựa chọn và điều động ngay một số cán bộ trung cấp, sơ cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng, chiến đấu và bảo đảm chiến đấu, từng công tác ở các cơ quan chiến lược, các đại đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương của Việt Nam tham gia Đoàn 100 sang Lào giúp xây dựng quân đội Pathết Lào ở ba cấp: Bộ Quốc phòng, nhà trường và các đơn vị, địa phương Sau khi được lựa chọn và nhận quyết định của Bộ Quốc phòng, hầu hết số cán bộ tham gia Đoàn 100 tập trung về trạm Thống nhất của Bộ Quốc phòng ở khu vực Chợ Chu, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên để học tập chính trị, nắm vững đường lối quốc tế trong sáng của Đảng và tư tưởng "giúp bạn là mình tự giúp mình" của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ ngày 22 tháng 3 đến 6 tháng 4 năm 1955

Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào

Trước sự chuyển biến của tình hình thế giới, Đông Dương và ở Lào, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 2 năm 1951), Hội nghị đại biểu các chiến sĩ cộng sản Lào đã được triệu tập từ ngày 22 tháng 3 đến 6 tháng 4 năm 1955 tại tỉnh Sầm Nưa Tham dự có 20 đại biểu chính thức thay mặt cho gần 400 đảng viên đang chiến đấu và công tác trên khắp các chiến trường Lào Hội nghị diễn ra tích cực, khẩn trương, trong không khí phấn khởi, tin tưởng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Lào và được sự giúp đỡ chí tình của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hội nghị đã phân tích, thảo luận, thông qua các văn kiện quan trọng:

1 Báo cáo thành lập Đảng Nhân dân Lào Xuất phát từ tình hình, đặc điểm chính trị xã hội ở Lào, Hội nghị đã quyết định thành lập một chính Đảng lấy tên là "Đảng Nhân dân Lào", xác định tính chất là đảng của giai cấp công nhân Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho hành động của Đảng

2 Thông qua chương trình hành động (trước mắt) của Đảng

3 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng Lào

Đồng chí Thiếu tướng Phết Sa Moon (hàng đầu

tiên, thứ hai từ phải sang), Chủ nhiệm Tổng cục

Chính trị Quân đội nhân dân Lào tiếp các cựu

chiến binh Đoàn 100 Ảnh do Ban liên lạc Đoàn

100 cung cấp.

Trang 37

4 Điều lệ Đảng Nhân dân Lào

Sau đó Hội nghị bầu Ban Lãnh đạo toàn quốc của Đảng (Ban Chấp hành Trung ương) gồm năm đồng chí: Cayxỏn Phômvihản, Nủhắc Phumxavẳn, Bun Phôm Mahảxây, Xỉxávạt Kẹo Bunphăn, Khăm Xẻng Sau đó, Ban Lãnh đạo bổ sung thêm bốn ủy viên gồm các đồng chí: Xuphanuvông, Phumi Vôngvichít, Phun Xipaxợt và ủy viên bổ sung sau Ban Lãnh đạo toàn quốc đã bầu đồng chí Cayxỏn Phômvihản làm Bí thư Ban Chỉ đạo kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Chỉ huy quân đội Phân công các đồng chí khác phụ trách các ngành: tuyên huấn, tổ chức, chính quyền, mặt trận

Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào thành công, đánh dấu bước trưởng thành mới của cách mạng Lào và mở ra triển vọng phát triển mới trong quan hệ đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa Đảng, Quân ủy, quân đội hai nước Việt Nam

- Lào

Ngày 6 tháng 4 năm 1955

Đảng Nhân dân Lào gửi điện tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam

Sau khi tiến hành Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào thành công, ngày 6 tháng 4 năm 1955, Đảng Nhân dân Lào

đã gửi điện tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Bức điện nêu rõ: “Chúng tôi, những đảng viên cũ của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau khi tình hình thay đổi, Đảng Cộng sản Đông Dương không còn, nhưng nhờ sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhờ Đảng Lao động Việt Nam đưa người sang giúp đỡ một cách chân thành, đã tiếp tục sự nghiệp của Đảng Cộng sản Đông Dương đấu tranh thắng lợi

Hòa bình đã trở lại, ngày nay đứng trước tình hình mới, chúng tôi cùng nhau họp hội nghị thành lập Đảng Nhân dân Lào, vạch đường lối chính sách đấu tranh trước mắt; đồng thời thành lập Ban Chỉ đạo để dẫn đường chỉ lối cho cuộc cách mạng Lào đi tới thắng lợi cuối cùng Chúng tôi thành công trong việc thành lập Đảng Nhân dân Lào là nhờ công

ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi, dìu dắt và nhờ sự giúp đỡ vô điều kiện của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trong thời gian qua

Trong hội nghị có treo ảnh các lãnh tụ, trong đó có ảnh của Hồ Chí Minh, hình ảnh Người ảnh hưởng đến tinh thần chúng tôi, làm cho suốt thời gian diễn ra hội nghị tất cả chúng tôi đều phấn khởi, hào hứng tích cực làm việc, làm cho hội nghị thu được kết quả tốt đẹp

Từ nay, chúng tôi có Đảng Nhân dân Lào tổ chức theo đường lối Mác-Lênin là đội tiên phong lãnh đạo cách mạng Lào Vì thế, chúng tôi tin tưởng cách mạng Lào nhất định sẽ thắng lợi tốt đẹp Chúng tôi xin hứa cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam rằng: chúng tôi sẽ noi theo tinh thần và sự nghiệp đấu tranh của Đảng Cộng sản Đông Dương để đẩy mạnh cách mạng Lào đến thắng lợi cuối cùng

Chúng tôi xin báo cáo tin thành lập Đảng, chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam sức khỏe để lãnh đạo đấu tranh giải phóng nước Việt Nam và tiếp tục giúp đỡ cách mạng Lào đi đến thành công, làm cho hai nước độc lập hoàn toàn, bảo vệ và củng cố hòa bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới cùng vững chắc

Trang 38

Tài liệu tuyên truyền lịch sử quan

hệ đặc biệt Việt Nam - Lào 2007)

(1930-(TCTG)- Tạp chí giới thiệu Lời mở đầu và Chương 1 của Tài liệu tuyên truyền, phục vụ Cuộc thi tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU

Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thủy chung, trong sáng và

đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ

xã hội

Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; mối quan hệ ấy đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai

dân tộc và nhân dân hai nước, đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của

Việt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo định

hướng xã hội chủ nghĩa Đối với nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan, nguy hiểm đến chừng nào cũng không thể chia tách được

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế mà nhân dân hai nước đang tiến hành đã tạo ra những xung lực mới, đồng thời đặt ra những yêu cầu khách quan về tăng cường mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam với những phương thức mới và những nội dung mới

Nhằm không ngừng chăm lo bảo vệ, vun đắp và phát huy vai trò của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong hiện tại và tương lai vì sự trường tồn và phát triển phồn vinh của hai dân tộc, hai Bộ Chính trị Đảng Cộng

sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã hợp tác thực hiện Công trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007)” Sau hơn bốn năm tiến hành, các sản phẩm của Công trình bao gồm: sản phẩm chính Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007) (gọi tắt là Sản phẩm chính); Lịch

sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007) - Văn kiện; Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam -

Trang 39

Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007) - Biên niên sự kiện; Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007) - Hồi ký (gồm Bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; Hồi ký các chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào qua các thời kỳ); Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007) - Sách ảnh và

bộ phim tài liệu “Bản anh hùng ca quan hệ Việt - Lào” đã được hoàn thành phục vụ nhân dân hai nước và độc giả

trên thế giới

Thực hiện chủ trương của lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam và Lào về việc tuyên truyền rộng rãi các kết quả của

Công trình, thiết thực chào mừng năm “Đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào 2012”, Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng

Cộng sản Việt Nam phối hợp với Ban Tuyên huấn Đảng Nhân dân cách mạng Lào tiến hành biên soạn cuốn sách

“Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007) - Tài liệu tuyên truyền” Cuốn sách được

biên soạn dựa trên các sản phẩm của Công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 2007) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2011 và 2012

(1930-Cuốn sách trình bày những nét chính trong chặng đường lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ năm 1930 đến 2007; nêu bật những thành quả, vai trò to lớn của mối quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc đối với tiến trình cách mạng mỗi nước trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào

Cuốn sách phản ánh đậm nét vai trò của các lãnh tụ của hai Đảng, hai Nhà nước; những sự hy sinh cao cả của nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và nhân dân hai nước trong việc xây đắp mối quan

hệ đặc biệt dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác, giúp đỡ nhau một cách trong sáng về mọi mặt, từ cấp trung ương đến các địa phương

Cuốn sách thể hiện rõ quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam thủy chung, son sắt, là tài sản vô giá, là nguồn sức mạnh, nhân tố bảo đảm thắng lợi sự nghiệp cách mạng của mỗi nước

Cuốn sách là tài liệu tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức chính trị, tình cảm của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, đặc biệt là thế hệ trẻ; để bạn bè thế giới hiểu rõ bản chất tốt đẹp, trong sáng của mối quan hệ Việt Nam

- Lào, Lào - Việt Nam; đồng thời khẳng định quan điểm, đường lối, chủ trương của hai Đảng, hai Nhà nước trong việc duy trì, củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt của hai dân tộc

Chương I:

DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG, HAI DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ LÀO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP, TỰ DO

Trang 40

(1930-1945)

I CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM

Trải qua bao đời, Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi bên nhau như làng trên xóm dưới Nhân dân Việt

Nam có câu “Láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau” tương tự như cách nhân dân Lào gọi nhân dân Việt Nam là “Bản cạy hươn khiêng” (bản kề, nhà cạnh) Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là mối quan hệ nhân hòa, nảy sinh từ

đời sống thích ứng với tự nhiên và dựng xây xã hội của biết bao thế hệ cộng đồng dân cư hai nước có nhiều lợi ích tương đồng, cao hơn hết là vận mệnh hai dân tộc gắn bó với nhau rất khăng khít và được phát triển thành quan hệ đặc biệt chưa từng có trong lịch sử quan hệ quốc tế

Quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam hình thành không phải do ý muốn chủ quan của bất kỳ bên nào, cũng không phải là một hiện tượng nhất thời, mà bắt nguồn từ vị trí địa - chiến lược của hai nước, từ bản chất nhân văn, nương tựa lẫn nhau của hai dân tộc có cùng lợi ích cơ bản về độc lập, tự chủ và nguyện vọng chính

đáng thiết tha về hòa bình và phát triển Quan hệ truyền thống hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam được nâng lên thành quan hệ đặc biệt kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 và sau đó (tháng 10 năm 1930), đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào sau này

Cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ

Việt Nam và Lào có vị trí địa - chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á do nằm kề con đường giao thương hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nơi có trữ lượng dầu khí và tiềm năng tài nguyên khoáng sản khá dồi dào, một tiêu điểm của sự tranh giành lợi ích và ảnh hưởng giữa các nước lớn và các trung tâm quyền lực quốc tế

Dãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào là bức tường thành hiểm yếu, tạo điều kiện cho hai nước tựa lưng vào nhau, phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước Tại đây, có nhiều vị trí chiến lược khống chế những địa bàn then chốt về kinh tế và quốc phòng rộng lớn của cả hai nước, có thể trở thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam và Lào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Do điều kiện tự nhiên và sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và Lào có nhiều điểm tương đồng, lại vừa có những nét khác biệt, trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, hai nước hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau bằng tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước về vị trí địa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, thị trường cũng như sự phân vùng kinh tế và phân công lao động hợp lý để hợp tác cùng phát triển

Nhân dân hai nước giàu lòng nhân ái, bao dung và văn hóa của hai dân tộc có nhiều nét tương đồng

Ngày đăng: 28/06/2014, 08:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w