1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tốt nghiệp: Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường pdf

75 439 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 811,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có một quan niệm đúng về vốn sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện được những tiềm năng về vốn, từ đó có biện pháp khai thác và sử dụng chúng đem lại hiệu quả 1.1.2/ Vai trò của vốn đối với h

Trang 1

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh

nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trang 2

Mục lục

PHầN 1 3

1.1.2/ Vai trò của vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp 4

Sẽ là không tưởng nếu nghĩ rằng có thể tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào mà không có vốn hoặc không đủ vốn Nói một cách khác vốn có vai trò đặc biệt quan trọng để bắt đầu, duy trì và phát triển hoạt động của doanh nghiệp 4

Sơ đồ 14: Chiến lược vốn cần áp dụng tại công ty 60

Trang 3

PHầN 1

Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh nghiệp trong nền

kinh tế thị trường

1 Vốn và vai trò của vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.1 Khái niệm vốn và vai trò của vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp

1.1.1/Khái niệm vốn

Phạm trù vốn là phạm trù hết sức quan trọng không chỉ được các chủ doanh nghiệp, các nhà quản lí quan tâm mà ngay cả các nhà kinh tế học , các nhà lí luận cũng đã dày công nhiên cứu, tìm hiểu để có thể đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về vốn

Trong tác phẩm “Quản trị vốn’,TS Đàm văn Huệ nói rằng:Vốn bằng tiền nhưng không chỉ bằng tiền; Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung, khi nói đến vốn thì đồng nghĩa với phạm trù tiền vốn(vốn bằng tiền , vốn tài chính), tức

là nó đại diện cho loại hàng hoá nhất định Trong điều kiện một nền kinh tế hiện vật là chủ yếu, phạm trù hàng hoá bị thu hẹp với cơ chế cấp phát giao nộp sản phẩm, nên có quan niệm như trên là khó tránh khỏi Ngay bản thân quan niệm vốn được biểu hiện bằng tiền thì tiền ở đây phải vận động với mục đích sinh lời chứ không phải dạng tích trữ.Có thể hiểu đơn giản để phân biệt vốn và tiền tệ như sau: Tiền sẽ được coi là vốn khi chúng được sử dụng cho sản xuất kinh doanh, ngược lại nó hkông được coi là vốn khi đem vào tích trữ hay mua hàng hoá, dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân hay xã hội Trong tác phẩm của mình,Các Mác đã phân biệt rõ phạm trù tiền tệ và phạm trù tư bản Ông cho rằng nếu tiền không tham gia vào quá trình sản xuất của xă hội thì tiền

đó chỉ ở dạng tư bản tiềm năng mà thôi

Trong nền kinh tế thị trường, những quan niệm về vốn như trên là lạc hậu bởi: Vốn là một phạm trù rộng lớn hơn bao gồm tiền tệ, vật tư, tài sản, đất đai,

Trang 4

nguồn nhân lực, với nhiều loại: vốn hữu hình( tiền mặt,máy móc, thiết bị )hay vốn vô hình( bản quyền kinh doanh, tay nghề nhân công, phát minh sáng chế )( Trong bài viết: “Vốn và việc huy động vốn trong nước” của TĐ Cao Sĩ Kiêm- Báo Kinh tế phát triển; Số 2-1999) Đặc trưng của vốn là dùng để đưa vào đầu tư với mục đích tạo ra lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu

Từ những phân tích như trên,ta có khái niệm đúng về vốn như sau: Vốn của doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu, tham gia liên tục vào quá trình sản xuất kinh doanh với mục đích đem lại giá trị thặng dư ( Tác phẩm “ Quản trị vốn” của T.S Đàm văn Huê.)

Xác định một khái niệm đúng về vốn có một ý nghĩa quan trọng Một phạm trù vốn bị thu hẹp sẽ dẫn đến tình trạng nhiều nguồn lực bị sử dụng lãng phí

Có một quan niệm đúng về vốn sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện được những tiềm năng về vốn, từ đó có biện pháp khai thác và sử dụng chúng đem lại hiệu quả

1.1.2/ Vai trò của vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp

Sẽ là không tưởng nếu nghĩ rằng có thể tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào mà không có vốn hoặc không đủ vốn Nói một cách khác vốn

có vai trò đặc biệt quan trọng để bắt đầu, duy trì và phát triển hoạt động của doanh nghiệp

-Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập doanh nghiệp Để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần mua sắm máy móc, trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng hay thuê công sở, mướn nhân công Vì vậy trong giai đoạn này, doanh nghiệp cần tới một lượng vốn rất lớn và phải huy động vốn

– Vốn là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp chủ động thực hiện các dự án mang lại lợi nhuận Không có vốn thì các dự án sản xuất kinh doanh, các

cơ hội kinh doanh mang nhiều lợi nhuận sẽ bị bỏ lỡ và sẽ chỉ là dự định, kế

Trang 5

hoạch Mỗi doanh nghiệp cần có chiến lược duy trì và phát triển trên thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

– Vốn vẫn là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp doanh nghiệp có khả năng đầu

tư , đổi mới công nghệ, đầu tư cho quảng cáo , nhằm tăng cường cạnh tranh trước các đối thủ

Bởi vì vốn có vai trò quan trọng to lớn như vậy nên bảo tồn và tăng trưởng vốn là một nguyên lí, là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của doanh nghiệp.Chính vì vậy mà một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp luôn trăn trở là:Doanh nghiệp nên tạo vốn bằng cách nào?,Làm thế nàodoanh nghiệp có thể huy động vốn tối đa từ mọi nguồn với một chi phí thấp nhất và một cơ cấu tối ưu?

1.2 Phân loai vốn

Để có thể trả lời những câu hỏi nêu trên bước đầu tiên mà người quản lí doanh nghiệp phải thực hiện là phân loại vốn Đây là công việc được các doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế phát triển rất quan tâm vì nó ảnh hưởng rất nhiều tới chi phí vốn và cơ cấu huy động vốn ở các nươc đang phát triển, các

nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chưa nhiều nên việc phân loại vốn chưa được mọi người quan tâm

1.2.1/ Phân loại căn cứ vào cơ cấu vốn trong sản xuất kinh doanh

Căn cứ vào cơ cấu vốn trong sản xuất kinh doanh, người ta phân thành hai loại:Vốn sản xuất và vốn đầu tư Sự khác nhau của hai loại vốn này dựa vào mục đích và thời gian sử dùng vốn

- Vốn sản xuất: Là loại vốn sử dụng trong quá khứ và hiện tại phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.Đó là số tiền, tài sản hữu hình, vô hình dùng trong việc hình thành công việc sản xuất, duy trì và phát triển Hiệu quả của nó được đánh giá thông qua sự phát triển của doanh nghiệp và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường

Trang 6

- Vốn đầu tư: Là loại vốn phục cho mục đích sản xuát kinh doanh trong tương lai Số lượng vốn đầu tư phụ thuộc vào kế hoạch , các dự án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn đầu tư sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai do sự cạnh tranh ngày càng khóc liệt của các đối thủ cạnh tranh và do tính phức tạp của nhu cầu ngày càng tăng.Viêc huy động đủ số lượng , kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh là một vấn đề

mà mọi doanh nghiệp luôn luôn quan tâm và dốc sức để hoàn thiện công việc

đó

1.2.2/ Căn cứ vào nguồn hình thành vốn

Căn cứ vào nguồn hình thành vốn thì toàn bộ vốn của doanh nghiệp được chia thành nợ vay và vốn cuả chủ sở hữu Đây là cách phân loại cơ bản và phổ biến trong nền kinh tế thị trường Hai loại vốn này có mối quan hệ đặc biệt với nhau khi chúng ta xem xét cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp

- Vốn của chủ sở hữu: Là loại vốn do các chủ sở hữu của doanh nghiệp tài trợ và giữ lại phần lợi nhuận chưa phân phối.Đối với các loại vốn này doanh nghiệpkhông phải hoàn trả những khoản tiền đã huy động được trừ khi doanh nghiệp đóng cửa Tuy nhiên các chủ sở hữu có thể giảm vốn bằng cách giảm vốn ngân sách nhà nước hay mua lại cổ phiêú Chi phí vốn chủ sở hữu là chi phí cơ hội cho việc sử dụng vốn Trong trường hơp huy động vốn cổ phần, chi phí vốn là lợi tức yêu cầu của các cỏ đông Do tính dài hạn và gần như không hoàn trả, vốn chủ sở hữu có độ an toàn rất cao

- Vốn vay: Những tài trợ cho doanh nghiệp loại vốn này không phải là chủ

sở hữu doanh nghiệp.Đặc trưng của loại vốn này là doanh nghiệp phải tiến hành hoàn trả vốn vay trong một thời gian nhất định Chi phí vốn là lãi phải trả cho các khoản nợ vay.Mức lãi xuất hay chi phí phải trả cho nợ vay thường ổn định và được thoả thuận trước khi vay.Huy động nợ vay rủi ro hơn huy động vốn chủ sờ hữu song đôi khi các doanh nghiệp lại thích sử dụng nợ vay do một đặc điểm hết sức quan trọng Chi phí nợ vay được tính vào chi phí hợp lí hợp lệ không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Trong khi, lợi tức dành cho chủ

Trang 7

sở hữu được trả từ lợi nhuận sau thuế không được tính vào chi phí hợp lí hợp lệ như nợ vay.Đăc điểm này hết sức quan trọng ảnh hưởng tới việc hình thành cơ cấu vốn tối ưu với mục đích tối đa hoá giá trị vốn chủ sở hữu

Nhìn chung đây là hai cách phân loại rất cơ bản và phổ biến trong nền kinh

tế thị trường.Nó giúp cho người sử dụng có thể thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp khi xem xét về măt kinh tế Về mặt pháp lí, người sử dụng có thể thấy đươc trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng kí kinh doanh với nhà nước, về số tài sản đã hình thành từ vốn vay ngân hàng Còn nhiều cách phân loại vốn khác như thành vốn cố định và vốn lưu động, phân chia theo khoản mục.Mỗi cách phân loại sẽ phục vụ những mục đích nhất định

2 Các phương thức tạo lập vốn của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, các phương thức tạo lập vốn cho doanh nghiệp được

đa dạng hóa Vì thế, cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp từ các nguồn khác nhau

là rất lớn Về cơ bản doanh nghiệp có thể huy động vốn theo các phương thức sau

đây:

2.1 Huy động vốn chủ sở hữu

Có thể thấy rằng vốn chủ sở hữu là nguồn vốn quan trọng hàng đầu của mọi doanh nghiệp Nó có yếu tố để đánh giá sức mạnh về tài chính của doanh nghiệp Và nó cũng là căn cứ quan trọng để quyết định khả năng huy động các nguồn vốn khác của

doanh nghiệp

2.1.1/ Ngân sách Nhà nước cấp

Đối với doanh nghiệp nhà nước thì vốn chủ sở hữu sẽ do Ngân sách Nhà nước cấp Đây là số vốn do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng trên cơ sở bảo toàn và phát triển vốn Mức vốn Nhà nước cấp phụ thuộc vào yêu cầu nhiệm vụ Nhà nước giao cho các doanh nghiệp Nhà nước có thể cấp vốn ban đầu khi doanh nghiệp mới thành lập hoặc cấp vốn bổ sung trong quá trình hoạt động Tùy thuộc vảo khả năng ngân sách nhà nước và mức độ kiểm tra vốn của doanh nghiệp mà cơ chế cấp vốn cho doanh nghiệp ở mỗi nước là khác nhau Ví dụ như ở Pháp, các doanh nghiệp loại 1, hoạt động theo yêu cầu của Nhà nước, thì Nhà nước cấp vốn 100% Các doanh nghiệp do Nhà nước quản lý, nhưng tự chọn chính sách phát triển, phải cạnh tranh

Trang 8

với các doanh nghiệp khác (loại 2) thì Nhà nước không cấp vốn Nhưng trên thực tế thì vốn Nhà nước cấp cho các doanh nghiệp loại 1 cũng không đủ Vì vậy, từ năm

1986, trở về trước Nhà nước nắm toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước thuộc loại này

Từ 1986 trở lại đây, Nhà nước cho tư nhân tham gia, do đó, hiện nay ở Pháp, vốn Nhà nước và tư nhân kết hợp với nhau rất đa dạng Malaisia, các công ty thuộc sở hữu Nhà nước được cấp 100% vốn cố định ban đầu Hàng năm, công ty phải trả lãi (theo lãi suất ưu đãi) trên tổng số vốn đầu tư của Nhà nước Trong các doanh nghiệp này, Nhà nước quản lý trực tiếp, toàn diện, doanh nghiệp phải sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước Nhưng nếu Nhà nước chỉ muốn nắm một phần hoạt động của doanh nghiệp thì Nhà nước thường thông qua việc nắm cổ phần khống chế của

doanh nghiệp

2.1.2/ Phát hành cổ phiếu

Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng là phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp Đây là cách thức tạo lập vốn rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường Bằng cách phát hành một số lượng các cổ phiếu lớn với mệnh giá thấp ra công chúng, doanh nghiệp đã tích tụ những luồng vốn nhỏ, rải rác thành một lượng vốn khổng lồ đầu tư vào doanh nghiệp Những người mua các cổ phiếu này trở thành

các cổ đông, chủ sở hữu của doanh nghiệp, tức là công ty cổ phần

Có thể xem xét một số yếu tố cơ bản liên quan đến việc phát hành và kiểm soát các

loại cổ phiếu khác nhau

2.1.2.1 Phát hành cổ phiếu thường

Cổ phiếu thường là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu một cách thực sự của cổ đông đối với công ty cổ phần Đây là loại cổ phiếu mà thu nhập của nó lên xuống phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ đông sở hữu cổ

phiếu thường được hưởng những quyền lợi nhất định:

- Quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các hoạt động của Công ty

- Quyền yêu cầu về thu nhập, được chi trả lợi tức cổ phần từ lợi nhuận sau

thuế Cổ phiếu thường không bị giới hạn trong chi trả cổ tức Lợi tức cổ phiếu thường chi trả cho cổ đông tương đương với mức rủi ro mà cổ đông chấp nhận

- Quyền yêu cầu về tài sản (quyền yêu cầu được chi trả sau cùng khi công ty

phá sản)

- Quyền mua trước (quyền được mua cổ phiếu khi công ty phát hành chứng

khoán mới) Trong khi đó mỗi cổ đông chỉ phải chịu một mức trách nhiệm

Trang 9

hữu hạn chính là phần vốn mà họ đã đầu tư vào công ty

Về phía Công ty phát hành: Với phương thức huy động này, công ty tạo được luồng vốn chủ sở hữu khổng lồ làm tấm lá chắn chống đỡ mọi rủi ro trong quá trình hoạt động Vì thế, chi phí huy động vốn cao hơn so với chi phí huy động bằng các chứng khoán khác Chi phí này chính là lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư Huy động vốn bằng

cổ phiếu thường có những ưu điểm nhất định Trước hết, nó tạo ra một lượng vốn lớn an toàn Công ty còn có thể linh hoạt thay đổi lượng vốn chủ sở hữu này sao cho thích hợp Mới thành lập, công ty có thể chỉ phát hành một lượng cổ phiếu nhất định Khi muốn giảm vốn cổ phần, công ty có thể mua lại các cổ phiếu đang lưu hành, giữ nó cho đến khi bán lại hoặc hủy bỏ Muốn tăng vốn cổ phần, công ty có thể tiến hành phát hành cổ phiếu mới Ngoài ra, xem xét sự biến động của thị giá cổ phiếu trên thị trường có thể thấy được phần nào hoạt động và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của công ty Từ đó làm cơ sở cho công ty ra quyết định tài chính nhằm

khuyếch đại giá trị vốn chủ sở hữu

Khi huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu mới phải lưu ý tới nhiều vấn đề Do

cổ phiếu tăng nên trong tương lai lợi tức cổ phần có thể sẽ giảm ảnh hưởng tới thị giá của công ty trên thị trường Mặc dù các cổ đông cũ có quyền mua trước nhằm tránh hiệu ứng pha loãng quyền kiểm soát song công ty cần đề phòng nguy cơ bị thôn tính Vấn đề chống thôn tính, bảo vệ công ty trước sự thôn tính bằng cổ phiếu của các công ty khác là một khía cạnh đặc biệt Do đó phải tính đến tỷ lệ cổ phần tối thiểu mà mỗi cổ đông được phép nắm giữ để duy trì tỷ lệ cân đối về sở hữu công ty

2.1.2.2 Phát hành cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành Nó có đặc điểm là thường có tỷ lệ cổ tức cố định, không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty Người chủ của cổ phiếu này có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông thường Hội đồng quản trị của công ty có thể thay đổi cách thức và tỷ lệ trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi theo từng năm để phù hợp với tình hình

cụ thể

Rất hiếm khi cổ đông ưu đãi có quyền bỏ phiếu một cách đầy đủ Trong một số công

ty của Mỹ, đôi khi có quy định những trường hợp ngoại lệ về quyền bỏ phiếu của cổ đông ưu đãi Tuy nhiên, nếu có ít nhất 2/3 cổ đông ưu tiên nhất trí về một vấn đề nào

đó thì ban lãnh đạo công ty phải xem xét ý kiến của họ Nếu các cổ đông ưu đãi không được trả cổ tức tới một giới hạn nào đó, chẳng hạn sáu quý cổ tức của cổ

Trang 10

phiếu ưu tiên bị nợ, thì các cổ đông của những cổ phiếu đó có thể được quyền bỏ

phiếu

Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty, cổ tức dành cho cổ đông ưu đãi được lấy từ lợi nhuận sau thuế, tức là không được tính vào chi phí để giảm thuế Đây chính là hạn chế của việc phát hành cổ phiếu ưu đãi Mặc dù vậy, như đã đề cập cổ phiếu ưu đãi vẫn có những ưu điểm đối với cả công ty phát hành và nhà đầu tư Những điều kiện ưu đãi làm giảm rủi ro cho loại cổ phiếu này và như vậy có thể tăng tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư và giảm chi phí huy động cho

sách ưu đãi về giá

Huy động vốn theo phương thức này có nhiều lợi điểm:

- Tránh việc pha loãng quyền kiểm soát của các cổ đông,

- Không dẫn đến việc giảm lợi tức trên mỗi cổ phần trong tương lai như việc

phát hành cổ phiếu mới,

Trang 11

- Tránh được nguy cơ bị thôn tính sáp nhập

Tuy nhiên chi phí cho huy động vốn cao Các cổ đông kỳ vọng vào một mức lợi tức cao hơn mới chấp nhận chính sách tái đầu tư này Vì vậy huy động vốn phải chú ý đến hiệu quả của việc tái đầu tư Một hạn chế nữa của phương thức huy động vốn này đó là đôi khi lợi nhuận để lại không đủ đáp ứng nhu cầu về vốn cho mở rộng sản xuất kinh doanh Vì vậy, đôi khi các công ty không thực hiện biện pháp này hoặc chỉ coi đó như là giải pháp bổ sung cho những hình thức huy động vốn khác Tuy nhiên

có thực hiện được cách thức tạo lập vốn này hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu

tố Nói chung, ở những nước đang phát triển, yếu tố lợi tức là quan trọng, vì thế các

cổ đông thích nhận thu nhập dưới dạng cổ tức Trong khi đó, đối với các nước phát triển, các cổ đông quan tâm nhiều hơn tới yếu tố tăng giá cổ phiếu và do đó, trong chính sách phân phối cổ tức, công ty sẽ chú trọng nhiều hơn tới vấn đề tái đầu tư từ lợi nhuận để lại Nhiều công ty đặt ra mục tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng Chẳng hạn ở Pháp, tài trợ nội

bộ của các công ty chiếm 54% tổng nguồn vốn, ở Đức là 65,5%, Anh là 68,3%, ở Nhật, con số này lên tới 71,3% Còn các công ty Mỹ thì rất coi trọng huy động vốn theo phương thức này Lợi nhuận để lại bổ sung vào vốn chiếm tới 82,8% tổng nguồn

vốn

2.2 Phát hành trái phiếu

Phát hành trái phiếu công ty là một hình thức tạo lập vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp Doanh nghiệp sử dụng hình thức này khi huy động vốn chủ sở hữu không đủ đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, hoặc không thích hợp, hiệu quả bằng hình thức này và nhiều lý do khác Cũng như hình thức phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp muốn thắng trong việc phát hành trái phiếu thì doanh nghiệp cần phải

có uy tín, tình hình tài chính lành mạnh và xu thế phát triển tốt Tuy nhiên ở đây, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đối với số vốn có được từ phát hành trái phiếu như một khoản nợ và có trách nhiệm trả nợ cho khoản vốn đó bởi trái phiếu là một chứng chỉ vay nợ chứng nhận trái chủ đã cho doanh nghiệp vay một số vốn nhất định

trong một khoảng thời gian nhất định với lãi suất xác định

Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựa chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình hình trên thị trường tài chính Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu

Trang 12

Trước khi quyết định phát hành, nhà phát hành cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược

điểm của mỗi loại trái phiếu

2.2.1/Trái phiếu có lãi suất cố định

Đây là loại trái phiếu công ty phổ biến nhất được các doanh nghiệp sử dụng để huy động vốn trung dài hạn Đặc điểm của loại trái phiếu này là lãi suất danh nghĩa được ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Như vậy cả doanh nghiệp lẫn người giữ trái phiếu đều biết rõ mức lãi suất của khoản nợ trong suốt thời gian tồn tại (kỳ hạn) của trái phiếu Cách thức trả gốc và trả lãi cũng thường được quy định rõ khi phát hành trái phiếu, chẳng hạn trả gốc cuối kỳ trả lãi hai lần trong năm, Với loại trái phiếu này, doanh nghiệp có thể chủ động trong việc tính toán chi phí lãi vay để xác định hiệu quả của việc đi vay, trong thiết lập ngân quỹ để trả lãi cũng như kế hoạch trả gốc và thay thế bằng các nguồn tài chính khác khi trái phiếu đáo hạn Tuy nhiên, doanh nghiệp cần lưu tâm tới mức độ hấp dẫn của trái phiếu khi phát hành Tính hấp dẫn phụ thuộc vào một số yếu tố sau:

- Lãi suất của trái phiếu: Lãi suất của trái phiếu phải đặt trong mối tương

quan so sánh với lãi suất trên thị trường vốn, với lãi suất kho bạc Nhà nước, với lãi suất cùng loại của các doanh nghiệp cạnh tranh khác

- Kỳ hạn của trái phiếu: Công ty phải tính đến sự ưa thích và lựa chọn của

công chúng khi định ra kỳ hạn của trái phiếu

- Uy tín tài chính của công ty và mức độ rủi ro: Công ty càng vững chắc về

mặt tài chính và có khả năng phát triển thì mức độ rủi ro nói chung càng thấp và càng thu hút được công chúng mua trái phiếu của công ty Ngoài ra, khi phát hành cần chú ý tới mệnh giá để có thể tạo ra sự lưu thông dễ dàng cho trái phiếu trên thị trường

2.2.2/ Trái phiếu có lãi suất thả nổi

Đây là loại trái phiếu có lãi suất phụ thuộc vào một số nguồn lãi suất quan trọng như lãi suất LIBOR hoặc lãi suất cơ bản Phát hành loại trái phiếu này thích hợp trong điều kiện có mức lạm phát khá cao và lãi suất thị trường không ổn định Tuy nhiên,

có một vài nhược điểm khi công ty tiến hành huy động vốn bằng hình thức này:

- Công ty không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu Điều này

gây khó khăn một phần cho việc lập kế hoạch tài chính

- Việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do phải thông báo

các lần điều chỉnh lãi suất

2.2.3/ Trái phiếu có thể thu hồi

Trang 13

Một số doanh nghiệp lựa chọn phát hành trái phiếu có thể thu hồi, tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời gian nào đó (chuộc lại trái phiếu) Loại trái phiếu như vậy phải được quy định công khai ngay khi phát hành để người mua trái phiếu được biết Phải quy định rõ về thời gian và giá cả khi công ty chuộc lại trái phiếu Thông thường, người ta quy định thời hạn tối thiểu mà trái phiếu sẽ không bị thu hồi Loại trái phiếu này có ưu điểm là được dùng như một cách điều chỉnh lượng vốn

sử dụng Khi cần thiết, công ty có thể mua lại các trái phiếu tức là giảm số vốn vay và

thay trái phiếu loại này bằng nguồn tài chính khác

2.3 Đi vay từ các tổ chức tài chính trung gian

Trong nền kinh tế thị trường, huy động vốn thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trung gian là một hình thức huy động vốn khá phổ biến và rất quan trọng đối với các doanh nghiệp những nước phát triển, mặc dù thị trường chứng khoán là một kênh tạo vốn rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nhưng vẫn có gần 70% lượng vốn của nền kinh tế được luân chuyển thông qua kênh dẫn vốn gián tiếp này Đối với những nước có thị trường chứng khoán chưa phát triển, nguồn vốn từ các tổ chức tài chính trung gian đặc biệt các ngân hàng thương mại càng trở nên quan trọng hơn Hình thức tạo lập vốn này cho phép doanh nghiệp có cơ hội, khả năng tiếp cận với một lượng vốn đủ lớn để doanh nghiệp có thể sử dụng vào mục đích chiến lược, dài hạn Nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại còn tạo cho doanh nghiệp một luồng vốn ngắn hạn thích hợp đáp ứng nhu cầu vốn lưu động tránh sử dụng các nguồn dài hạn một cách lãng phí Nói chung đây là nguồn vốn vay tương đối linh hoạt Các điều khoản như khối lượng vay, phương thức giải ngân, lãi suất, lịch trình hoàn trả đều được thỏa thuận giữa ngân hàng và doanh nghiệp và được phản ánh trên hợp đồng

tín dụng

Doanh nghiệp có thể vay dài hạn hoặc vay ngắn hạn từ các tổ chức tài chính trung

gian tùy theo nhu cầu về vốn vay:

2.3.1/ Vay dài hạn: Là hình thức doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng, các công ty

bảo hiểm, các công ty tài chính với thời gian đáo hạn trên 1 năm Khi cho vay các tổ chức tài chính trung gian thường xem xét rất kỹ lưỡng về tình hình tài chính doanh nghiệp, về tính khả thi của dự án xin vay để đánh giá khả năng trả lãi và gốc nợ vay Doanh nghiệp có thể vay theo nhiều hình thức: vay thế chấp, vay tín chấp hay vay có bảo lãnh Song thông thường, đặc biệt là với những khoản vay có khối lượng lớn và dài hạn, vay có thế chấp hay có tài sản bảo đảm là phổ biến, các hình thức khác chỉ là bổ sung Ngân hàng dựa trên giá trị của tài sản bảo đảm, đặc tính cũng

Trang 14

như tính dễ hoán chuyển của nó trên thị trường để xác định khối lượng cho vay Ngoài ra còn căn cứ vào nhu cầu xin vay và các điều kiện khác Tài sản bảo đảm là một vấn đề khó khăn của doanh nghiệp khi vay dài hạn ở các ngân hàng Một số doanh nghiệp không có đủ tài sản thế chấp để đảm bảo xin vay một lượng vốn lớn Một số doanh nghiệp khác nếu đem thế chấp dây chuyền công nghệ sẽ không thể tiến hành đổi mới công nghệ bắt kịp nhu cầu thị trường Một điểm cần nhấn mạnh nữa đối với các khoản nợ vay dài hạn từ ngân hàng là thông thường các khoản nợ vay sẽ được trả dần dần theo định kỳ trong suốt thời hạn cho vay thay vì đợi đến ngày đáo hạn thì trả hết một lần Như vậy có nghĩa là thời hạn thực tế của khoản vay bị thu ngắn và chi phí nợ vay lúc này hay lãi suất thực của vốn vay là cao hơn lãi suất danh nghĩa đã được thỏa thuận Về phí tổn vay vốn dài hạn từ ngân hàng thì có thể thay đổi theo giá trị tiền vay, tình hình tài chính và cả phẩm chất của người đi vay cùng nhiều yếu tố khác Lãi suất có thể cố định hoặc linh hoạt thay đổi trong suốt thời hạn vay tuỳ theo thỏa thuận của hai bên Những điểm lợi chính của vay dài hạn từ các tổ chức tài chính trung gian đó là khi đồng ý cho vay, người cho vay bảo đảm trước một thời hạn khá lâu là sẽ có vốn cho người vay lúc cần sử dụng đến, khác với các hình thức huy động vốn trung dài hạn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu cần phải thắng lợi trong phát hành thì mới có vốn Ngân hàng có thể là nguời rất sành sỏi trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp hoặc dự án xin vay và sẽ trở thành người tư vấn đắc lực đưa doanh nghiệp đến chỗ thành công Đây là mối lợi vô hình

mà nhiều khi là rất đáng kể

2.3.2/ Vay ngắn hạn: Trong các tổ chức tài chính trung gian thì dường như chỉ có

ngân hàng là đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp Đây là phương thức tạo lập vốn ngắn hạn chủ yếu Một doanh nghiệp có thể vay vốn ngắn hạn từ các ngân hàng bằng nhiều hình thức Có thể kể ra sau đây một số hình thức cơ bản:

- Chiết khấu thương phiếu: Thương phiếu là chứng từ biểu thị một quan hệ tín dụng, một nghĩa vụ trả tiền, được lập ra trên cơ sở các giao dịch thương mại Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ qua đó ngân hàng dành cho khách hàng được quyền sử dụng trước thời hạn một khoản tiền của thương phiếu sau khi đã trừ đi khoản lãi phải thu tức tiền chiết khấu và các khoản chi phí chiết khấu Đây là hình thức tạo vốn ngắn hạn nhằm bổ sung nhu cầu vốn một cách tức thời khi doanh nghiệp cần đến Khoản chênh lệch giữa số tiền của thương phiếu và số tiền nhận được từ việc chiết khấu thương phiếu chính là chi phí cho hình thức huy động này Chi phí này chủ yếu dựa trên lãi suất chiết khấu của ngân hàng Trung ương song

Trang 15

phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng thương phiếu.Chất lượng thương phiếu tốt thì chi phí thấp và ngược lại ngân hàng cảm thấy khả năng thu hồi vốn từ thương phiếu kém thì chi phí cao bù đắp cho rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu Tuy nhiên, nếu chất lượng thương phiếu quá tồi ngân hàng sẽ không tiến hành nghiệp vụ cho doanh

nghiệp

- Vay theo hợp đồng: Hình thức cho vay này được áp dụng khi một công ty có những hợp đồng về sản xuất, gia công cho khách hàng thì ngân hàng có thể cho vay căn cứ vào các hợp đồng đã được ký kết Hình thức cho vay theo hợp đồng tỏ ra tương đối

phù hợp với những doanh nghiệp nhỏ

- Tạo vốn bằng cách bán nợ: Một công ty nào đó có thể gia tăng nguồn vốn ngắn hạn bằng các khoản nợ của mình Các tổ chức mua nợ thường là một ngân hàng, một công ty tài chính hay một công ty mua nợ Những khoản nợ được mua cao hay thấp tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ khó đòi Sự chênh lệch giữa giá trị khoản nợ và giá mua bán nợ chính là chi phí cho việc tạo vốn bằng cách bán nợ Đối với những khoản

nợ khó đòi thì chi phí này rất cao tuy nhiên nó làm lành mạnh hóa tình hình tài

chính của doanh nghiệp

Ngoài ra, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn bằng cách thế chấp các khoản phải thu,

thế chấp bằng hàng hóa

- Vay theo hạn mức tín dụng: Khi phát sinh nhu cầu bổ sung vốn một lượng nhất định và thời hạn xác định, doanh nghiệp sẽ làm đơn xin vay và vay một trong các hình thức nói trên Tuy nhiên, khi doanh nghiệp có nhu cầu vốn bổ sung thường xuyên trong suốt quá trình kinh doanh, doanh nghiệp sẽ thực hiện vay theo hạn mức tín dụng và phải đáp ứng những điều kiện nhất định mà ngân hàng đặt ra Theo hình thức này, doanh nghiệp và ngân hàng thỏa thuận một hạn mức tín dụng cho một thời gian nhất định (ví dụ một năm) Hạn mức tín dụng được xác định dựa trên nhu cầu vốn bổ sung của doanh nghiệp và mức cho vay tối đa mà ngân hàng có thể chấp nhận Căn cứ vào hạn mức tín dụng đã thỏa thuận, doanh nghiệp có thể nhận tiền vay bất cứ lúc nào mà ngân hàng không cần thẩm định lại, nhưng tổng các món nợ sẽ không vượt quá hạn mức đã xác định Hạn mức tín dụng được ngân hàng tạo sẵn cho công ty là do mối quan hệ kinh tế giữa họ Nhưng thông thường, hạn mức này mỗi năm được thỏa thuận lại một lần tùy thuộc vào tình hình cụ thể Đây là hình thức tạo lập vốn có chi phí rất thấp nhưng đôi khi cũng có một số trục trặc ví dụ khi ngân hàng gặp khó khăn về tài chính hay thanh toán thì công ty phải hoàn trả hoặc không

được vay

Trang 16

2.4 Tín dụng thuê mua

Tín dụng thuê mua là một lĩnh vực tín dụng tài trợ bằng tài sản cho thuê, theo đó, người chủ sở hữu tài sản (người cho thuê) chuyển quyền sử dụng cho người thuê để nhận tiền thuê trong một thời gian thỏa thuận gọi là thời hạn cho thuê Loại hình cho thuê này ra đời đã từ lâu nhằm thỏa mãn nhu cầu đổi mới công nghệ song nó hoạt động mạnh mẽ vào thập kỷ 50 ở Mỹ lan rộng sang Châu Âu, Nhật Bản và các nước khác và tới nay đã được quốc tế hóa Tính ưu việt của nó đã tạo cho các doanh nghiệp một kênh dẫn

vốn quan trọng

Tín dụng thuê mua bao gồm nhiều hình thức và có thể trở thành một phương thức

tạo vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho doanh nghiệp

2.4.1/ Thuê vận hành:

Thuê vận hành đã có lịch sử rất lâu đời nên còn được gọi là thuê mua theo kiểu truyền thống Đặc trưng của thuê vận hành là thời hạn thuê thường rất ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tài sản Do đó đây thường là hình thức tạo vốn ngắn và trung hạn cho doanh nghiệp và hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động

có tính chất thời vụ Khi hết thời hạn đi thuê, bên thuê sẽ trả lại tài sản cho người cho thuê Do thời hạn thuê thường là ngắn nên tổng số tiền người thuê phải trả nhỏ hơn nhiều so với giá gốc của tài sản Người cho thuê phải tái thuê hoặc bán lại tài sản

để thu hồi vốn Một lợi thế đối với doanh nghiệp khi đi thuê vận hành là doanh nghiệp có thể huỷ ngang hợp đồng, trả lại tài sản thiết bị trước khi hết hợp đồng mà chỉ cần báo trước trong một thời gian ngắn Đặc điểm này khiến doanh nghiệp có thể hoàn trả thiết bị nếu sự phát triển kỹ thuật cao làm cho thiết bị trở nên lạc hậu Khi

đi thuê vận hành, doanh nghiệp chỉ phải trả tiền thuê theo thỏa thuận, người cho thuê phải chịu mọi chi phí vận hành của tài sản cùng với mọi rủi ro về hao mòn vô hình của tài sản Vì vậy, tiền thuê thường là cao hơn so với các thỏa thuận thuê mua

khác

2.4.2/ Thuê tài chính

Cho thuê tài chính là một hoạt động tạo vốn phổ biến cho mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện đại Doanh số của nền công nghiệp cho thuê tài chính trên thế giới trong những năm gần đây đã đạt tới con số kỷ lục 520 tỷ USD trong năm 2000 và vẫn

đang tiếp tục tăng trưởng với tốc độ trung bình 7% hàng năm

Thuê mua tài chính thực chất là một phương thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn, thay vì cấp tín dụng bằng tiền cho người nhận, người cho thuê cấp tín dụng thông qua tài sản thiết bị Tuy nhiên, hình thức tín dụng này có những ưu điểm hơn hẳn

Trang 17

với người cho thuê Đây là hình thức tài trợ có mức độ an toàn cao do người cho thuê luôn giữ được quyền sở hữu trong suốt thời gian cho thuê Vì vậy, người cho thuê có thể nhanh chóng thu hồi lại tài sản nếu người thuê không tuân thủ hợp đồng Hơn nữa, việc thu hồi lại tài sản thường thuận lợi và ít tốn kém hơn so với việc thu hồi tài sản mà doanh nghiệp thế chấp cho ngân hàng khi vay vốn Hình thức này còn đảm bảo việc sử dụng đúng mục đích của người đi thuê Người cho thuê cung cấp tài sản theo đúng yêu cầu của người đi thuê Người đi thuê trả tiền thuê bằng hiệu quả thu được từ việc sử dụng tài sản đó, vì vậy họ không có cơ hội sử dụng sai mục đích

Do hình thức tài trợ này đem lại những lợi ích như vậy cho người cho thuê nên đây cũng trở thành một hình thức tạo lập vốn thuận lợi mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp là người đi thuê Doanh nghiệp có thể gia tăng năng lực sản xuất trong những điều kiện hạn chế về nguồn vốn đầu tư nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn trung và dài hạn Thuê tài chính có thể giúp doanh nghiệp từ tay không mà vẫn có thể được máy móc thiết bị phục vụ nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh Thuê tài chính giúp doanh nghiệp vẫn có thể nhận được vốn

mà không cần tài sản bảo đảm Các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ hay những doanh nghiệp mới thành lập, chưa có uy tín, những doanh nghiệp có tình hình tài chính không tốt dễ bị ngân hàng từ chối khi đi vay vốn Với hình thức thuê tài chính, các công ty cho thuê, các ngân hàng chủ yếu quan tâm tới lợi ích thu được từ việc sử dụng tài sản cho thuê của doanh nghiệp nên rất sẵn sàng thỏa mãn nhu cầu của các khách hàng ngay cả khi tài chính, uy tín của họ còn có hạn chế Thuê tài chính còn giúp cho doanh nghiệp có thể nhận được tài sản thuê chất lượng cao, nhất là trong những lĩnh vực đặc thù vì người cho thuê hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực hẹp Cho thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp không bị đọng vốn đầu tư vào tài sản cố định Nó còn là phương thức tài trợ thuận lợi cho những khoản

đầu tư nhanh chóng đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh

Để quyết định thực hiện tạo vốn thông qua hình thức thuê tài chính hay vay vốn ngân hàng, doanh nghiệp cần so sánh phí tổn của thuê mua với phí tổn vay vốn Ngoài ra doanh nghiệp phải xem xét hiệu quả, lợi nhuận đem lại cho chủ sở hữu từ

dự án thuê mua Thuê mua tài chính có điểm lợi là tiền thuê được tính vào chi phí hợp lý hợp lệ, do đó doanh nghiệp được hưởng một khoản tiết kiệm nhờ thuế Song cũng có những bất lợi nhất định khi thực hiện theo phương thức này Nếu tài sản được chuyển lại cho bên cho thuê vào thời điểm kết thúc hợp đồng thì doanh nghiệp không được hưởng giá trị còn lại của tài sản đã được tính cả trong phí thuê Nói

Trang 18

chung doanh nghiệp sẽ phải phân tích tất cả những yếu tố trên để có thể quyết định huy động vốn theo hình thức này Song, cần nhấn mạnh thuê tài chính là một phương thức mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp đặc biệt ở Việt Nam hiện

nay

2.5 Liên doanh liên kết

Ngày nay, hình thức liên doanh liên kết khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường Đây là hình thức doanh nghiệp thường sử dụng để tạo vốn trung, dài hạn khi doanh nghiệp chuẩn bị thực hiện một dự án sản xuất kinh doanh mà không đủ vốn hoặc với mục đích chia sẻ rủi ro, doanh nghiệp có thể kêu gọi góp vốn từ bên ngoài Các bên góp vốn có thể là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp nước ngoài với nhiều hình thức công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước hay một công ty liên doanh khác Để thu hút vốn liên doanh thì dự

án liên doanh phải có hiệu quả và điều kiện góp vốn là các bên cùng có lợi Khi nhận thấy huy động vốn này có lợi hơn các hình thức huy động vốn khác doanh nghiệp sẽ thực hiện liên kết liên doanh Có thể lựa chọn một trong hai hình thức liên

doanh sau đây:

- Cùng phía đối tác thành lập một pháp nhân kinh doanh mà vốn là do các bên cùng

đóng góp

- Ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các bên nhằm thực hiện một dự án nào

đó mà không cần hình thành một pháp nhân nào Trách nhiệm, quyền hạn của các

bên chỉ giới hạn trong hợp đồng đã ký kết

Đối với cả hai hình thức liên doanh, quyền lợi mỗi bên phụ thuộc chủ yếu vào phần vốn góp mà mỗi bên đóng góp Phí tổn của tạo lập vốn của hình thức liên doanh liên kết chính là lợi tức trả cho phía đối tác Do đó, phí tổn này phụ thuộc chủ yếu vào kết quả của dự án liên doanh liên kết Huy động vốn bằng hình thức liên kết kinh doanh cũng tương tự như hình thức các cổ đông mua cổ phiếu Cổ đông nào có tỷ lệ cổ phần nhiều hơn thì tỷ lệ hưởng lãi cũng như chịu lỗ cũng lớn hơn Tuy nhiên, một khi đã trở thành cổ đông thì người góp vốn không có quyền rút vốn khỏi công ty Còn đối với hình thức liên doanh liên kết, phía đối tác trong những trường hợp nhất định vẫn

có thể rút lại vốn góp Nếu điều này xảy ra sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của

dự án liên doanh, thậm chí có thể làm dự án đổ vỡ không thực hiện được và gây ảnh hưởng tới những hoạt động khác của doanh nghiệp Thực hiện liên doanh có thể đem lại những lợi ích như thu hút vốn công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm của phía đối tác đồng thời chia sẻ rủi ro Song huy động vốn bằng hình thức này cũng tiềm ẩn nguy

Trang 19

cơ bị đối tác thâu tóm quyền lực và xảy ra hiện tượng lũng đoạn Chính vì thế khi ký kết hợp đồng liên kết kinh doanh, các doanh nghiệp cần chú ý đến các điều khoản nhằm hạn chế sự đổ vỡ không cần thiết của dự án cũng như sự lũng đoạn của một

bên nào đó

2.6 Tạo vốn thông qua tín dụng thương mại

Các doanh nghiệp cũng thường khai thác vốn tín dụng ngắn hạn trong việc mua bán chịu giữa các doanh nghiệp còn gọi là tín dụng thương mại Thông thường, một doanh nghiệp mua chịu nguyên vật liệu của doanh nghiệp khác và ghi nhận món nợ

ở tài khoản: Các khoản phải trả Đây là một loại tín dụng ngắn hạn quan trọng vì nó thường chiếm tới 40% tài sản lưu động đối với các doanh nghiệp không có các hoạt động về nghiệp vụ tài chính tín dụng Tỷ lệ này càng lớn hơn đối với một doanh nghiệp có quy mô nhỏ vì doanh nghiệp nhỏ thường khó tìm nguồn tài trợ ở nơi khác nên dựa nhiều vào việc mua chịu Hình thức này là hình thức tạo vốn được khai thác

một cách tự nhiên trong hoạt động kinh doanh

Chi phí của việc sử dụng tín dụng thương mại như một nguồn tài trợ thể hiện qua lãi suất của khoản vay Đó là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giá thành sản phẩm dịch

vụ khi mua bán hàng hóa trả chậm, chi phí này có thể "ẩn" dưới hình thức thay đổi mức giá (nâng đơn giá cao hơn để bao hàm luôn lãi suất tín dụng đó) Như vậy, mua chịu có phí tổn cao hay thấp hơn các hình thức tài trợ khác? Đôi khi, mua chịu rất đắt đối với người mua, nhưng họ phải chấp nhận vì không thể có hình thức tài trợ nào khác và phí tổn mua chịu có lẽ cũng tương ứng với mức độ rủi ro mỗi người bán phải gánh chịu Nhưng trong nhiều trường hợp, mua chịu được chấp nhận vì người

mua không thể hiện được phí tổn mua chịu là bao nhiêu

Quy mô của vốn tín dụng thương mại phụ thuộc vào thời hạn mua chịu Nếu thời hạn mua chịu càng lớn thì nguồn vốn tín dụng thương mại càng lớn Có 4 yếu tố ảnh

hưởng tới thời hạn mua chịu:

- Tính chất kinh tế của sản phẩm: sản phẩm có thời gian luân chuyển cao

được bán ra với thời hạn mua chịu ngắn, người mua sẽ bán lại sản phẩm một cách nhanh chóng, thu được tiền mặt giúp họ có tiền trả nợ cho nhà cung cấp

- Tình trạng tài chính của người bán Nếu người bán không có tài chính dồi

dào sẽ đòi hỏi người mua phải trả tiền ngay hoặc chỉ chấp nhận thời hạn mua chịu rất ngắn

- Tình trạng của người mua Thông thường các nhà bán lẻ có tài chính khá

Trang 20

mạnh và muốn mua chịu của các nhà cung cấp với thời hạn lâu hơn Vài loại bán lẻ trong các lĩnh vực được xem là nhiều rủi ro được chấp nhận một thời gian mua chịu rất lâu nhưng họ được khuyến khích trả nhanh bằng các khoản giảm giá hàng lớn

- Giảm giá hàng Giảm giá hàng được thực hiện, nếu người mua thanh toán

trong một thời hạn nào đó Phí tổn không nhận giảm giá thường cao hơn lãi suất mà người mua đi vay nợ Do đó, doanh nghiệp phải cẩn thận trong việc

sử dụng mua chịu như là nguồn tài trợ vì phí tổn tài chính rất cao Nếu doanh nghiệp vay tiền để nhận giảm giá hàng mua, thời gian các khoản phải trả còn ghi ở sổ sách sẽ giảm đi

Công cụ để thực hiện huy động vốn bằng hình thức này phổ biến là thương phiếu Vì thế, đây là hình thức tài trợ ngắn hạn rất ưa chuộng của các doanh nghiệp do thời hạn linh động và với sự phát triển của hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp có thể

dễ dàng chiết khấu các thương phiếu lấy tiền phục vụ nhu cầu tài chính khi thương phiếu chưa đến hạn thanh toán Ngoài ra đây là hình thức tạo vốn rất tiện lợi và thông thường của hoạt động kinh doanh Một doanh nghiệp thiếu tiêu chuẩn được vay của ngân hàng có thể mua chịu được Nhờ quá trình liên lạc kinh doanh, nhà cung cấp ở vị trí thuận lợi để xét đoán khả năng của khách hàng và đo lường độ rủi

ro trong việc bán chịu và cung cấp tín dụng thương mại cho doanh nghiệp Trên đây là các phương thức huy động vốn phổ biến của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Các phương thức này đã làm cho doanh nghiệp có thể tạo ra cho mình nhiều kênh dẫn vốn mới cung cấp vốn kịp thời cho yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Song vấn đề cũng rất đáng quan tâm đối với một doanh nghiệp là các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tạo vốn của doanh nghiệp

Nó sẽ ảnh hưởng tới tính hiệu quả của quá trình huy động vốn

3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc tạo lập vốn của doanh nghiệp

Trang 21

phí riêng Vì vậy, trên thực tế, người ta phân loại chi phí vốn theo những nguồn cụ thể Thông thường, khi tính toán chi phí vốn, doanh nghiệp thường phần chia vốn

thành vốn chủ sở hữu và nợ vay

- Chi phí nợ vay

Chi phí nợ vay là chi phí trả cho nguồn vay nợ của doanh nghiệp Nó được phân ra thành chi phí nợ trước thuế và chi phí nợ sau thuế Chi phí nợ trước thuế (K d ) được tính toán trên cơ sở lãi suất nợ vay Lãi suất này được ấn định trong hợp đồng tiền vay Trên thực tế khoản chi phí nợ vay trước thuế còn bao gồm cả các chi phí khác ngoài lãi tiền vay như chi phí làm hồ sơ xin vay, chi phí đi lại Những khoản chi phí này đôi khi là rất lớn Tuy nhiên về cơ bản, người ta vẫn hiểu chi phí nợ vay trước thuế là lãi tiền vay trả cho chủ nợ Chi phí nợ sau thuế K d (1-T) được sử dụng để tính chi phí trung bình của vốn Nó được xác định bằng chi phí nợ trước thuế K d trừ đi khoản tiết kiệm nhờ thuế bởi vì lãi tiền vay được tính vào chi phí trước thuế của doanh nghiệp Sở dĩ, các doanh nghiệp thường tính chi phí nợ sau thuế là để có thể so sánh chi phí các loại vốn khác nhau Hơn nữa các doanh nghiệp luôn quan tâm đến luồng tiền sau thuế vì đây mới là phần mà doanh nghiệp được hưởng Do vậy, tất cả

các chi phí vốn cần được tính quy về chi phí sau thuế

- Chi phí vốn chủ sở hữu

Chi phí vốn chủ sở hữu bao gồm chi phí cổ phiếu ưu tiên,chi phí cổ phiếu thường và

chi phí của lợi nhuận không chia

Chi phí của cổ phiếu ưu tiên được xác định bằng cách lấy cổ tức ưu tiên chia cho giá phát hành thuần, phần mà công ty nhận được sau khi đã trừ chi phí phát hành

n P p

D

= p K

Trong đó: K P - Chi phí của cổ phiếu ưu tiên

D P - Cổ tức ưu tiên Pn- Gía phát hành thuần Chi phí của lợi nhuận không chia: Nó chính là tỷ lệ đổi tức mà người nắm giữ cổ phiếu thông thường yêu cầu đối với cổ phần mà công ty đạt được bằng lợi nhuận không chia được xác định bằng công thức K s = D 1 /P 0 + g Trong đó: K s : Chi phí của

lợi nhuận không chia

D 1 /P 0 : Mức sinh lời của cổ phiếu

g: Tỷ lệ tăng trưởng mong đợi

Trang 22

Chi phí của cổ phiếu thường mới (K e ) Để các cổ đông cũ không bị giảm lợi nhuận do phát hành cổ phiếu mới vì giãn lợi nhuận các khoản đầu tư mới của doanh nghiệp phải mang lại một tỷ suất lợi nhuận sao cho cổ tức của các cổ đông cũ ít nhất không

bị giảm

Với: P n : là giá thuần của một cổ phiếu

K e : là chi phí của cổ phiếu mới

D t : là cổ tức trong thời gian t (t = 1, 2, 3 ) thì P n =

Do đó : + g

F) - (1 0 P 1

D

=

e

Thông thường, các doanh nghiệp đặt tiêu chí chi phí vốn lên hàng đầu, tận dụng triệt

để các nguồn vốn có chi phí thấp sau đó mới xét đến khả năng cung ứng các nguồn vốn, thời gian sử dụng Vì vậy tính toán chi phí vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp thấy được cách thức huy động nào có chi phí thấp hơn, từ đó xác định chiến lược khai

thác nguồn vốn của doanh nghiệp

Ngoài ra các doanh nghiệp còn tính toán chi phí vốn trung bình dựa trên cơ cấu vốn

và chi phí từng nguồn vốn Chẳng hạn một doanh nghiệp tạo lập vốn từ ba nguồn: vay nợ, phát hành cổ phiếu thường từ lợi nhuận không chia và phát hành cổ phiếu

ưu tiên với tỷ trọng từng nguồn là W d , W s và W p thì chi phí vốn trung bình của

doanh nghiệp (WACC) được tính theo công thức:

WACC = W d K d (1-T) + W p K p + W s K s Trong đó: W d , W p ,W s : lần lượt là tỉ trọng của từng nguồn là vay nợ, phát hành cổ

phiếu từ lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu ưu tiên

K d , K p , K s :Lần lượt là chi phí của từng nguồn Như vậy, với cơ cấu vốn khác nhau, mặc dù chi phí từng nguồn huy động là giống nhau thì chi phí vốn trung bình là khác nhau Việc tính toán chi phí vốn trung bình rất quan trọng khi doanh nghiệp đứng trước quyết định phải chấp nhận hay từ chối một dự án đầu tư Nếu dự án có tỷ lệ hoàn vốn nội bộ thấp hơn chi phí trung bình của vốn thì cần phải từ chối vì điều đó có nghĩa là tỷ lệ thu nhập do đầu tư mang lại

sẽ thấp hơn chi phí tài trợ của nó Như thế, chi phí vốn có vai trò rất quan trọng,

được sử dụng làm căn cứ khi quyết định đầu tư

3.2 Cơ cấu vốn

Trang 23

Các doanh nghiệp không thể huy động vốn theo ý muốn chủ quan mà cần xét tới nhu cầu vốn của doanh nghiệp, khả năng trả nợ và tỷ lệ hợp lý giữa các loại vốn Vì vậy

cơ cấu vốn có một vai trò hết sức quan trọng Thuật ngữ này được dùng để chỉ cách thức một doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn khác nhau với một tỷ lệ nào đó của mỗi người để tài trợ cho các tài sản Trong quản trị tài chính, các nhà quản lý phải xây dựng được cơ cấu vốn tối ưu, đảm bảo một tỷ lệ hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và

nợ vay sao cho lợi ích thu được là cao nhất Đó là cơ cấu hướng tới sự cân bằng giữa rủi ro và lãi suất, bằng cách đó tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế phát triển, sử dụng một tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao sẽ là không linh hoạt Huy động vốn từ nợ vay sẽ giúp cho doanh nghiệp khuếch đại giá trị vốn chủ sở hữu

do nợ vay không phải chịu thuế thu nhập Ngược lại, trong trường hợp nền kinh tế đi xuống, sử dụng quá nhiều nợ với tỷ lệ nợ của cơ cấu vốn tối ưu sẽ khiến cho doanh nghiệp rơi vào tình trạng hiệu ứng đòn bẩy âm: sử dụng nợ sẽ làm giảm giá trị tài sản thuộc chủ sở hữu Vì vậy, khi tiến hành huy động tạo lập vốn, các doanh nghiệp luôn chú ý xây dựng một cơ cấu vốn tối ưu Tiêu chuẩn để đánh giá nên tăng hay giảm sử dụng nợ là tương quan so sánh giữa doanh lợi vốn và lãi suất nợ vay trước

thuế Doanh lợi vốn được xác định bằng công thức như sau:

Doanh lợi vốn = Lợi nhuận trước thuế và lã vay/ Tổng tài sản

Hay ( ebit / Tổng tài sản)

Nếu

n s¶

tµi tæng

ebit

> Lãi suất nợ vay: Hiệu ứng đòn bẩy dương

Doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ có tác dụng khuếch đại giá trị vốn chủ sở hữu Vì vậy,

doanh nghiệp nên tiếp tục sử dụng nợ vay

Nếu

n s¶

tµi tæng

ebit

< Lãi suất nợ vay: Hiệu ứng đòn bẩy âm

Doanh nghiệp cần có biện pháp giảm tỷ lệ nợ vay vì sử dụng nợ lúc này sẽ làm giảm

đó Vì thế cơ cấu vốn đã trở thành một yếu tố quan trọng tác động tới quá trình tạo

lập vốn của mỗi doanh nghiệp

Trang 24

Doanh nghiệp cần phải quan tâm đến bốn yếu tố tác động đến những quyết định về

cơ cấu vốn khi tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Trước hết là rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp, đó là rủi ro cố hữu trong tài sản của công ty nếu công ty không sử dụng nợ Rủi ro kinh doanh càng lớn, tỷ lệ nợ tối

ưu càng thấp

- Yếu tố chính yếu thứ hai là vấn đề thuế của doanh nghiệp Một lý do cơ bản cho việc sử dụng nợ là ở chỗ lãi vay được tính trong chi phí hợp lý hợp lệ khi tính thuế thu nhập Trong trường hợp thuế suất thuế thu nhập cao thì công ty có lợi hơn khi

sử dụng nợ

- Khả năng linh hoạt tài chính hay khả năng tăng vốn một cách hợp lý trong điều kiện có tác động xấu Những người quản lý tài chính biết rằng một sự cung cấp vốn vững chắc là cần thiết cho những hoạt động ổn định và đến lượt nó, đây là sự sống còn cho sự thành công dài hạn Họ cũng biết rằng khi một doanh nghiệp đang trải qua những khó khăn trong hoạt động, những nhà cung cấp vốn muốn tăng cường tài trợ cho những doanh nghiệp có bảng cân đối kế toán vững chắc Như vậy, nhu cầu vốn tương lai và những hậu quả thiếu vốn có một ảnh hưởng quan trọng đối với mục

tiêu cơ cấu vốn

- Yếu tố cuối cùng là sự "bảo thủ" hay "phóng khoáng" của nhà quản lý Có thể có một số giám đốc doanh nghiệp sẵn sàng sử dụng nợ hơn để làm tăng lợi nhuận còn một số khác lại không Yếu tố này không tác động đến cơ cấu vốn tối ưu, nhưng nó

tác động đến mục tiêu cơ cấu vốn mà doanh nghiệp thực tế thiết lập

3.3 Đặc điểm doanh nghiệp và khuynh hướng phát triển trong tương lai

Những đặc điểm của doanh nghiệp như loại hình sở hữu, ngành nghề lĩnh vực kinh doanh, quy mô cơ cấu tổ chức, đặc điểm cơ cấu tài sản là những yếu tố tác động đến các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp Một công ty cổ phần có thể huy động thêm vốn bằng cách phát hành các cổ phiếu mới Nhưng một công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có thể huy động thêm vốn bằng cách tăng vốn của từng thành viên hoặc kết nạp thêm thành viên mới Một doanh nghiệp sản xuất sẽ cần tới những nguồn vốn dài hạn hơn là một doanh nghiệp thương mại Doanh nghiệp có tài sản

lưu động lớn sẽ dùng nhiều đến nguồn vốn ngắn hạn hơn

Khuynh hướng phát triển tương lai của doanh nghiệp cũng là một đặc điểm tác động tới huy động thêm vốn của doanh nghiệp như các chiến lược đầu tư, chiến lược mở

Trang 25

rộng thị trường Doanh nghiệp có kế hoạch lắp đặt một dây chuyền thiết bị mới sẽ

phải tìm kiếm của nguồn tài trợ dài hạn

3.4 Tình hình tài chính và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường

Một doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh thì khả năng huy động vốn sẽ tốt hơn Trước khi quyết định cho vay vốn hay góp vốn đầu tư, bất cứ ai cũng phải xem xét kỹ lưỡng tình hình thanh toán trong quá khứ cũng như trong hiện tại, khả năng sinh lời, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Trong hoạt động ngân hàng, quá trình này gọi là thẩm định tài chính Trên thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp đều phải công khai các báo cáo tài chính của mình để tạo điều kiện cho người đầu tư nắm bắt tình hình doanh nghiệp, khả năng phát triển trong tương lai Một tình hình tài chính tốt, khả năng phát triển lớn mạnh sẽ giúp cho họ mạnh dạn đầu tư và doanh nghiệp mới thành công trong huy động bằng cổ phiếu, trái phiếu cũng như các

công cụ khác

Uy tín của doanh nghiệp có một tác động không nhỏ tới quá trình huy động vốn Một doanh nghiệp có uy tín tuy gặp phải những khó khăn nhất định trong hiện tại vẫn dành được sự quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư Một doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt song chưa có uy tín trên thị trường sẽ gặp phải những trở ngại trong quá trình phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay đi vay vốn ngân hàng Uy tín của doanh nghiệp ở đây còn bao hàm cả uy tín của người quản lý Một nhà quản lý giỏi sẽ dành được sự mến mộ của công chúng đầu tư, của các ông chủ ngân hàng, của các khách hàng, bạn hàng của doanh nghiệp và đây là một yếu tố thuận lợi cho việc huy động

vốn

3.5 Sự năng động của người quản lý

Một doanh nghiệp có ban lãnh đạo năng động sẽ giúp doanh nghiệp tìm kiếm được những nguồn huy động vốn mới, những phương thức huy động ít tốn kém Khả năng thích ứng nhanh chóng với những tình huống cụ thể và thái độ, khả năng chấp nhận rủi ro của nhà quản lý là những yếu tố tác động lớn tới nguồn vốn huy động Thông thường, người quản lý có khả năng thích ứng, thái độ và khả năng chấp nhận rủi ro càng cao, thì càng có xu hướng tìm những nguồn tài trợ rẻ, nguồn tài trợ ngắn hạn

3.6 Cơ chế chính sách của nhà nước

Đây là những yếu tố mà các doanh nghiệp buộc phải nắm rõ và tuân thủ vô điều kiện vì yếu tố này thể hiện ý chí của Nhà nước Thông qua các văn bản pháp luật, Nhà nước quy định loại hình doanh nghiệp nào được phép huy động vốn dưới hình thức nào và không

một doanh nghiệp nào được làm trái pháp luật

Trang 26

Ngoài ra, các chính sách ưu tiên, khuyến khích hay hạn chế phát triển đối với một ngành nghề nào đó cùng sẽ tạo điều kiện hoặc hạn chế khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề đó Như vậy, cơ chế chính sách của Nhà nước là một yếu tố khách quan có tác động rất lớn tới chính sách và khả năng huy

động vốn của doanh nghiệp

3.7 Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế và thị trường tài chính

Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế có một tác động lớn tới vấn đề huy động vốn cho doanh nghiệp Khi nền kinh tế suy thoái, hoạt động sản xuất kinh doanh cầm chừng, doanh nghiệp sẽ không có nhu cầu phát triển vốn, tiến hành giảm mọi chi phí

và lúc này nguồn tài trợ ngắn hạn được ưu tiên sử dụng Cho dù doanh nghiệp có nhu cầu tăng vốn thì cũng rất khó khăn tìm được nguồn đáp ứng đặc biệt là nguồn dài hạn do các nhà đầu tư không yên tâm bỏ vốn trong tình trạng suy thoái của nền kinh tế Một nền kinh tế ổn định và phát triển sẽ khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn Doanh nghiệp có nhu cầu tăng vốn, nhà đầu tư muốn tìm kiếm lợi nhuận Và sự ổn định, phát triển

của nền kinh tế là môi trường thuận lợi cho sự gặp gỡ nói trên

Trình độ phát triển của nền kinh tế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề này Một đất nước có nền kinh tế kém phát triển sẽ hạn chế huy động vốn của doanh nghiệp bởi vì các hình thức huy động vốn không phong phú bằng một nước có nền kinh tế phát triển Điều này thể hiện rất rõ qua sự phát triển của thị trường tài chính các nước Mỹ, Nhật, Đức các công cụ huy động vốn của doanh nghiệp rất đa dạng bao gồm trái phiếu, cổ phiếu, các công cụ chuyển đổi đáp ứng mọi nhu cầu về vốn một cách linh hoạt cho doanh nghiệp các nước kém phát triển thị trường tài chính chưa hoàn thiện chẳng hạn như sự thiếu vắng của thị trường vốn ở Việt Nam đã hạn chế nguồn vốn dài hạn cho doanh nghiệp, thị trường tiền tệ phát triển một cách đơn giản và truyền thống đã tăng chi phí vốn cũng như hạn chế vốn cung cấp cho doanh nghiệp Đây là một yếu tố khách quan tác động rất lớn tới hoạt động của doanh

nghiệp nói chung và huy động vốn của doanh nghiệp nói riêng

Tóm lại, hoạt động tạo lập vốn có một tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt động tài chính của doanh nghiệp nói riêng và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung Khi tiến hành tạo lập vốn, doanh nghiệp cần phải quan tâm tới các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tạo lập vốn cũng như các phương thức mà doanh nghiệp có thể huy động, đánh giá các phương thức huy động để có thể huy động đáp ứng đủ nhu cầu về vốn một cách thích hợp nhất phù hợp với mục tiêu doanh nghiệp đề ra Với

Trang 27

mỗi một doanh nghiệp cụ thể các vấn đề nói trên cũng cần được nghiên cứu một cách

cụ thể để đưa ra những biện pháp tạo lập vốn phù hợp với tình hình của doanh nghiệp Những vấn đề lý luận chương 1 sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu, phân tích ở

chương 2

4- Một số kinh nghiệm tạo dựng vốn từ các nước trên thế giới

Kinh nghiệm tiết kiệm và huy động vốn ở các nước rất đa dạng không theo một khuôn mẫu định trước nào.Điểm chung có thể rút ra là các nước thành công trong chính sách này đều tuân thủ những qui luật kinh tế cơ bản, tận dụng tối đa các lợi thế so sánh của nước mình và tính đến cặn kẽ các điều kiện thiên nhiên, địa lí, các nguồn lực tự nhiên cũng như cả tập quán, tâm lí người dân, đặc điểm riêng của dân tộc mình Tuy nhiên , có những đặc điểm riêng rất đáng chú ý của từng nước có thể là bổ ích cho các nước đang trong giai đoạn chuyển đổi như trường hợp Việt Nam

- Nhật Bản đã duy trì được mức tiết kiệm cao trong một thời gian dài nhờ: Duy trì được mức lương thấp trong khi năng suất lao động tăng nhanh; tranh thủ được viện trợ nước ngoài; hạn chế gắt gao phúc lợi xã hội và tinh giảm tói đa bộ máy hành chính

- Để huy động vốn theo đuổi chính sách đầu tư có chọn lọc Hàn Quốc đã áp dụng chính sách tiền tệ chặt trong một hệ thống lãi suất thấp Trong thời gian cất cánh, Chính phủ can thiệp mạnhvà kiểm soát chặt( kể cả các biện pháp hành chính) chính sách tín dụng , ngân hàng, tập trung vốn cho các ngành được khuyến khích phát triển, thành lập Quỹ đầu tư quốc gia

- Chính phủ Đài Loan trong giai đoạn đầu khác với Hàn Quốc và nhiều nước khác, sử dụng chính sách lãi suất tiền tệ gửi cao để khuyến khích các dự án đầu tư cần ít vốn, sử dụng nhiều lao động rẻ mà vẫn sinh lợi; duy trì chế độ

tỉ giá thấp để hỗ trợ xuất khẩu; khuyến khích phát triển những doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Malaixia với trọng tâm phát triển kinh tế của mình vào công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu đã áp dụng triệt để các ưu đãi tài chính( miễn ,giảm

Trang 28

nhiều loại thuế, trợ cấp đầu tư, hỗ trợ xuất khẩu ,tín dụng ưu đãi, ) và đặc biệt khuyến khích ưu đãi các dự án tiên phong

- Thái Lan là nước có khởi điểm phát triển kinh tế hiện đại muộn hơn Nam Triều Tiên và Đài loan Nhưng Thái Lan có chính sách kinh tế mở từ hàng trăm năm nay và có “ chính sách ngoại giao mềm giẻo” nên trong khoảng20 năm trở lại đây, nhờ tìm kiếm “cú hích “ban đầu từ bên ngoài kết hợp với cải cách nền kinh tế để thu hút vốn tư bản nước ngoài và tạo tích luỹ nội bộ nền kinh tế Với chiến lươc tạo dựng vốn hướng ngoại, Thái Lan đã thu hút vốn nước ngoài hàng tỉ USD mỗi năm, có năm cao tới 3 Tỉ USD Thái Lan có chính sách thu hút vốn đầu tư thông thoáng và dễ chịu hơn Đài Loan và Nam Triều Tiên;cụ thể là chỉ những nhà doanh nghiệp nào muốn đầu tư và nhận ưu đãi của chính phủ Thái Lan thì mới phải đăng

kí, còn ngược lại thì không cần phải đăng kí Với chiến lược công nghiệp hoá hướng ngoại ,xuất khẩu phát triển nhanh,vì vậy tốc độ phát triển kinh

tế rất cao

Như vậy, từ những kinh nghiệm trên ta thấy ràng điều quan trọng là ta phải chọn được một chiến lược huy động vốn phù hợp với hoàn cảnh thực tại, với tính chất của nền kinh tế Có như vậy chúng ta với mong muốn đáp ứng được nhu cầu vốn cho sự tồn tại của nền kinh tế đất nước chung và của một doanh nghiệp nói riêng

Trang 29

Phần II : Thực trạng tạo lập vốn tại Công ty Trần Lâm

1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Trần Lâm 1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Công ty TNHH Trần Lâm là một doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập, được tách ra từ công ty TNHH Vạn Phúc vào ngày2/10/1995 (tên giao dịch V

& P Co, Ltđ); trụ sở : Số 3 Nguyễn Văn Bình, Quận 1, TP Hồ Chí Minh ), sản xuất và kinh doanh các sản phẩm in, ngoài ra còn thực hiện một số hoạt động dịch vụ như bảo hành, sửa chữa đồ điện tử, máy vi tính…

Công ty được thành lập chính thức theo quyết định số 3979 GP/ TLDN ngày5/11/1995 ; tên giao dịch T & L Co Ltd trụ sở chính tại 398 Khâm Thiên

- Đống Đa - Hà Nội Để thuận tiện về mặt giao dịch và sản xuất, ngày 20/1/2000 Công ty đã rời trụ sở chính về : 147 Đội Cấn Cầu Giấy Hà Nội Vốn điều lệ là một tỷ đồng do hai Đảng lập viên là Nguyễn Trần Quang

và Đặng Kim Phúc hùn vốn thời gian hoạt động là 50 năm kể từ ngày đăng ký

2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty

Theo Đăng kí kinh doanh, Công ty được phép sản xuất, kinh doanh và dịch vụ một số mặt hàng sau :

- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm in

- Buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, lương thực, thực phẩm công nghiệp

- Dịch vụ lắp đặt sửa chữa bảo hành thiết bị điện tử tin học…

Qua những năm hoạt động Công ty đã dần dần chiếm được lòng tin của khách hàng nhờ vào chất lượng sản phẩm và sự tận tụy của đội ngũ nhân viên Trong tương lai công ty sẽ mở rộng ngành nghề sản xuất và thị trường hoạt động và cùng với nó, chất lượng sản phẩm và đội ngũ nhân viên sẽ ngày càng được nâng cao

2 Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu của công ty

2.1.Đăc điểm về sản phẩm

Trang 30

Sản phẩm chủ yếu của Công ty như đã đề cập ở trên là những sản phẩm

in Đối với loại sản phẩm này, Công ty cần xuất theo đơn đặt hàng và vì thế thời gian sản xuất là rất ngắn Để đảm bảo sản xuất được liên tục, thường xuyên và đúng hợp đồng, Công ty cần phải có mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp, cần thiết phải có những khoản tiền cần có để đáp ứng nhu cầu mua nguyên vật liệu, thiết bị Trong trường hợp thiếu hụt, Công ty phải huy động vốn từ các nguồn ngắn hạn Cũng với đặc điểm trên về sản phẩm mà vòng quay vốn là khá nhanh, do đó lợi ích kinh doanh đối với Công ty là khá tốt

2.2 Đặc điểm về công nghệ và máy móc thiết bị

Một đặc điểm nổi bật về công nghệ và máy móc thiết bị đó là: Máy móc thiết bị ngày càng lạc hậu không đáp ứng dược nhu cầu sản xuất của công

ty.Trong điều kiện kỹ thuật - công nghệ ngày càng phát triển hiện nay, để đảm bảo tính cạnh tranh và giữ vững thị phần, Công ty cần thiết phải chú ý bởi khâu đổi mới công nghệ Việc thay đổi tài sản cố định cần phải có những khoản đầu

tư lớn Ngoài việc tích lũy và huy động vào từ cán bộ công nhân viên, Công ty cần phải tạo lập một mối quan hệ lâu sài với ngân hàng, cần tổ chức tài chính

để khi vào, việc huy động tiền mua tài sản cố định được dễ dàng hơn

2.3 Đặc điểm nguyên vật liệu mà công ty đang sử dụng

Hiện nay nguyên vật liệu chủ yếu mà Công ty đang sử dụng là :

Các sản phẩm giấy phẩm

Các lợi mực in ấn

Cac loại tạo khuôn như gỗ, thép…

Như đã phân tích ở trên, việc huy động vấn đề sử dụng cho việc huy động vấn đề sử dụng cho việc mua nguyên vật liệu chủ yếu từ các nguồn ngắn hạn Việc chiếm dụng vốn đối với nguồn này là không cần thiết bởi nó không đem lại nhiều hiệu quả Công ty cần xem xét để sử dụng khâu chiếm dụng vốn được hợp lý và mang nhiều lợi ích hơn

Trang 31

Biểu 1: Sự biến động của nguồn vốn chủ sở hữu

Năm

2000/1999 (%)

2001/2000 (%) Tổng vốn huy

2.4 Đặc điểm địa vị pháp lí và qui mô của doanh nghiệp

Là một cá thể được hình thành theo pháp luật( luật doanh nghiệp nhà nước), do đó công ty TNHH Trần Lâm chấp hành và được hưởng tát cả những

gì mà luật pháp Việt Nam công nhận Ơ đây đặc biệt nhấn mạnh tới quyền huy động các nguồn vốn mà luật doanh nghiệp cho phép đối với với một doanh nghiệp tư nhân Với quy mô khá khiêm tốn hiẹn nay của công ty, giường như không tương xứng với nhu cầu của thị trường hiện tạI công ty đang nắm giữ Trong tương lai không xa, công ty sẽ mở rộng quy mô để phuc vụ không chỉ thị trường hiện tại mà còn xâm nhập vào một số thị trường tiềm năng Đây là những kế hoạch mang tính khả thi cao hứa hẹn đem tới nhiều lợi nhuận song để thực hiện nó công ty cần phải có nhiều vốn đặc biệt là vốn dài hạn Vì vậy, một giải pháp huy đọng vốn hợp lí sẽ rất quan trọng không chỉ hiện tại mà còn cần thiết cho cả mai sau

2.5 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí của công ty

Căn cứ vào các đặc điểm quá trình sản xuất, tính chất kỹ thuật, quy mô sản xuất đồng thời để phát huy ngày càng cao vai trò của quản lý Với quá trình sản xuất, Công ty đã tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ nhưng hiệu quả được bố trí theo kiểu trực tuyến chức năng Công ty gồm 7 phòng ban và một phân xưởng sản xuất đứng đầu là Giám đốc, giúp việc cho Giám đốc gồm có 2 phó

Trang 32

Giám đốc cùng các trưởng phó phòng ban Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty được thể hiện qua sơ đồ 1 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH Trần Lâm

- Phòng tài vụ: Quản lý các mặt tài chính, kế toán, có nhiệm vụ thu thập,

xử lý, đưa ra các thông tin tài chính kế toán giúp quản lý, giám sát một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

- Phòng tổ chức - kế hoạch : Tổ chức, bố trí sắp xếp lao động phù hợp, xây dựng kế hoạch sản xuất ngắn và dài hạn

- Phòng kỹ thuật : Xây dựng các định mức về kinh tế, kỹ thuật, tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm

- Phòng kinh doanh : Nghiên cứu thị trường, tìm và phát hiện các nguồn cung ứng, các thị trường đầu ra và đánh giá nó

- Phòng quản lý sản xuất và cung ứng : quản lý sản xuất tại phân xưởng, cung ứng đầy đủ các nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất

Một kế hoạch sản xuất kinh doanh sẽ được các giám đốc , phó giám đốc khai sinh(giám đốc là người quyết định cuối cùng) Sau khi dược truỳen đạt cụ thẻ, các phòng ban với chức năng và nhiệm vụ của mình sẽ lập kế hoạch chi tiết thực hiện công việc của mình và từ đó sẽ hoạch định được nguồn lực cần tàI trợ sau đó báo cáo lên giám đốc để chờ xét duyệt Như vậy , giám đốc là người cuối cùng quyết định xem nguồn lực cần cho dự án là bao nhiêu và sau đó ông

ta cũng là người quyết định phương pháp tạo vốn và hường dẫn các phòng ban thực hiện các công việc cụ thể tương ứng với quyền hạn và trách nhiệm của mình

Sơ đồ 1 : Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH Trần Lâm

Trang 33

2.6 Đặc điểm về lao động của công ty

Nhìn chung , đội ngũ nhan viên, công nhân còn thiếu tay nghề, thiếu kinh nghiệm trong việc sản xuất –kinh doanh Tuy vậy đây là lực lương còn trẻ , có học vấn do đó công ty nên có kế hoạch phát triển họ dể họ có thẻ đảm đương công việc một cách tốt nhất.Để làm được đIũu này công ty cần có những khoản tàI trợ để gửi họ đI học việc, đào tạo lại… Có như thế, công ty mới có thể đáp ứng được nguồn nhân lực( cả vè số lượng lẫn chất lượng) cho hoạt động sản xuất , kinh doanh mai sau

2.7 Kết quả hoạt động sản xuất qua các năm

Bảng 1 đưa ra một số chỉ tiêu thể hiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Trần Lâm trong 3 năm gần đây (1999, 2000, 2001)

Biểu 2 : Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Năm

Giám đốc

Phó giám đốc kỹ thuật

Phó giám đốc kinh doanh

Phòng

tài vụ

Phòng

kỹ thuật

Phòng cung ứng QLSX

Phòng TCKH

Phòng kinh doanh

Trang 34

Chỉ tiêu % Số tiền % Số tiền Giá trị tổng

thực hiện

46.771.692 10.164.327 13.335.928 21,73 +36607365 131,2 +3171601 Nộp

ngân sách 86.808.333 97.495.697 120.807.466 112,31 +10692364 123,91 +23311769 Tổng số

(Ghi chú: Sản phẩm in là mặt hàng chính của công ty)

Qua bảng số liệu cho thấy riêng chỉ tiêu về giá trị bằng sản lượng vẫn tăng đến quá các năm, còn các chỉ tiêu về doanh thu thuần và doanh thu từ sản phẩm truyền thống của Công ty đều giảm mạnh vào năm 2000 và được cải thiện rõ rệt vào năm 2001 Sản phẩm truyền thống bị giảm mạnh vào năm 2000

do tình trạng cạnh tranh ngày mạnh của ccs doanh nghiệp cùng ngành và do cũ lỗi thời của công nghệ Vì thế, lợi nhuận của Công ty giảm rõ rệt từ 46.771.692 năm 1999 xuống còn 10.164.327 năm 2000 và có tăng chút ít vào 2001 Thu nhập bình quân của người lao động năm 2000 giảm 6,3% so với 1999 và được cải thiện vào năm 2001 Tuy nhiên, nộp ngân sách Nhà nước của Công ty liên tục tăng, cao nhất vào năm 2001 : 120.807.466 Như vậy, nếu có thể coi tình hình sản xuất kinh doanh, các hoạt động sản xuất kinh doanh trì trệ vào năm

2000 và sang năm 2001 tình hình này đã được cải thiện rõ rệt qua một số chỉ tiêu trên

Trang 35

Với tình hình sản xuất kinh doanh như vậy, để tồn tại và phát triển doanh nghiệp cần cải tổ lại ở một số khâu, nhất là khâu công nghệ - kỹ thuật Đối với khâu này cần phải có một sự đầu tư thích đáng và vì thế doanh nghiệp cần phải

ưu tiên những nguồn vốn có thể huy động được đối với vấn đề này

3 Phân tích thực trạng tạo lập vốn tại Công ty TNHH Trần Lâm

3.1 Các quan điểm, nguyên tắc của Công ty về tạo lập vốn

Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển Cơ hội huy động vốn cho các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng lớn và như nhau cho mọi doanh nghiệp Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp cụ thể với những điều kiện, tình hình cụ thể, hoạt động theo mục tiêu riêng thì hoạt động tài chính nói chung và hoạt động tạo vốn nói riêng sẽ có những nét riêng biệt nhất định Các hoạt động này được chi phối theo những nguyên tắc, quan điểm riêng của từng doanh nghiệp ở Công

ty TNHH Trần Lâm, công tác huy động vốn được tiến hành tuân thủ theo những nguyên tắc, quan điểm sau:

- Huy động vốn tuân theo các quy định của pháp luật hiện hành chỉ huy động vốn theo các hình thức pháp luật không cấm

- Huy động vốn không làm thay đổi hình thức sở hữu của công ty

- Phải xuất phát từ đặc điểm sản xuất kinh doanh và thực trạng vốn của công ty để lựa chọn các hình thức huy động vốn phù hợp

- Huy động vốn đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh

- Ưu tiên huy động vốn từ nguồn có chi phí rẻ

- Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn

- Ưu tiên khai thác tối đa tiềm năng vốn từ nội bộ doanh nghiệp

-Luôn luôn gắn việc huy động vốn với việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

3.2.Tình hình tài chính công ty

Dựa trên hoạt động thực tế và tình hình tài chính của công ty, một số chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của công ty được đưa ra như sau:

Trang 36

Biểu 3 : Các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính Công ty TNHH

Trần Lâm

Năm Chỉ tiêu

1999 2000 2001

1 Tỷ lệ về khả năng thanh toán

1.1 Khả năng thanh toán hiện hành 1,105 0,999 0,984 1.2 Khả năng thanh toán nhanh 0,275 0,327 0,187 1.3 Khả năng thanh toán tức thời 0,0072 0,0037 0,0359

2 Tỷ lệ về khả năng cân đối vốn

2.1 Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản 64,15% 67,46% 63,92% 2.2 Khả năng thanh toán lãi vay 1,54 1,12 1,16

3 Tỷ lệ về khả năng sinh lãi

3.1 Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm 1,25

4.5 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản 1,34 1,12 1,42

Nguồn: Dựa trên bảng cân đối kế toán, bảng kết quả kinh doanh ba

năm 1999, 2000, 2001

éng l­u nî Tæng

éng l­u n s¶

tµi æng hµnh

hiÖn to¸n thanh

n¨ng

Kh¶

d

d T

éng l­u nî Tæng

tr­

dù n s¶

tµi Tæng -

déng l­u n s¶

tµi æng nhanh

to¸n thanh

n¨ng

Kh¶

d T

Trang 37

éng l­u nî Tæng

mÆt TiÒn thêi

tøc to¸n thanh n¨ng

Kh¶

d

cã n s¶

tµi Tæng

nî sè Tæng

n s¶

tµi tæng n trª

vay nî L·i

vay nî l·i thuÇn nhuËn Lîi

vay l·i to¸n thanh n¨ng

100

x

thô u tiª thu Doanh

rßng nhuËn Lîi

phÈm n

thô u tiª

rßng nhuËn Lîi

cã tù vèn

rßng nhuËn Lîi

vèn

lîi

mÆt TiÒn

thô u tiª thu Doanh tiÒn

quay

tr­

trÞ dù GÝa

thô u tiª thu Doanh tr­

quay dù

ngµy mét thuÇn thu Doanh

thu

i ph¶

n kho¶

C¸c quan

binh tiÒn

thu

dÞnh cè n s¶

tµi trÞ gi¸

Tæng

thuÇn thu Doanh Þnh

cè n s¶

tµi dông sö

suÊt

cã n s¶

tµi bé toµn trÞ gi¸

Tæng

thuÇn thu Doanh

n s¶

tµi tæng dông sö

Ngày đăng: 28/06/2014, 04:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp - Chủ biên: PTS. Lưu Thị Hương (Nhà xuất bản Giáo dục) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp
Tác giả: PTS. Lưu Thị Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
3. Quản trị Tài chính - Nguyễn Văn Thuận (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Tài chính
Tác giả: Nguyễn Văn Thuận
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
2. Quản trị tài chính doanh nghiệp - Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ, Nguyễn Quang Ninh (Nhà xuất bản Thống kê) Khác
4. Báo cáo tài chính và thuyết minh báo cáo tài chính trong ba năm 1998, 1999, 2000 của Công ty Khóa Minh Khai Khác
5. Các tạp chí: Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, Tạp chí Kinh tế và Dự báo Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1  đưa  ra  một  số  chỉ  tiêu  thể  hiện  kết  quả  hoạt  động  sản  xuất  kinh  doanh của Công ty TNHH Trần Lâm trong 3 năm gần đây (1999, 2000, 2001) - Báo cáo tốt nghiệp: Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường pdf
ng 1 đưa ra một số chỉ tiêu thể hiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Trần Lâm trong 3 năm gần đây (1999, 2000, 2001) (Trang 33)
Sơ đồ 2: Cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn của Công ty TNHH Trần Lâm năm 2001. - Báo cáo tốt nghiệp: Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường pdf
Sơ đồ 2 Cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn của Công ty TNHH Trần Lâm năm 2001 (Trang 48)
Hình huy động này) thì chi phí nợ vay trước thuế (K d ) là: - Báo cáo tốt nghiệp: Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường pdf
Hình huy động này) thì chi phí nợ vay trước thuế (K d ) là: (Trang 49)
Bảng 12: Bảng cân đối kế toán năm 2001. - Báo cáo tốt nghiệp: Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường pdf
Bảng 12 Bảng cân đối kế toán năm 2001 (Trang 59)
Bảng 13: Tỷ lệ phần trăm tính trên doanh thu của các khoản chủ yếu trên - Báo cáo tốt nghiệp: Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường pdf
Bảng 13 Tỷ lệ phần trăm tính trên doanh thu của các khoản chủ yếu trên (Trang 59)
2.1. Hình thành chiến lược vốn mới. - Báo cáo tốt nghiệp: Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường pdf
2.1. Hình thành chiến lược vốn mới (Trang 60)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w