Xuất phát từ thực tiễn đó và được sự giúp đỡ của tập thể phòng kinh tế kế hoạch tôi đã mạnh dạn lựa chọn cho mình đề tài “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình lập kế hoạch 5 năm c
Trang 1
LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình lập
kế hoạch (5 năm) của Công ty cổ phần đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà
Trang 2
LờI Mở Đầu
Ngày nay kế hoạch là một trong những công cụ hữu hiệu, chủ yếu để điều hành hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp Cùng với sự biến động của thị trường, kế hoạch cũng luôn có xu hướng đổi mới để bắt kịp với xu thế phát triển đó Tuy nhiên sự đổi mới
đó cần được tiếp tục hoàn thiện trên nhiều phương diện, từ hình thức, nội dung đến phương pháp
Nhận biết được tầm quan trọng của công tác lập kế hoạch và xu thế phát triển, Công ty CPĐTPT đô thị và khu công nghiệp Sông Đà đã không ngừng nâng cao chất lượng quá trình lập kế hoạch Trong bối cảnh sản xuất kinh doanh biến động như hiện nay, Công ty cũng đang gặp khó khăn trong quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh của mình cũng như việc tìm kiếm khách hàng Để tiếp tục tồn tại và phát triển Công ty đã xác định cần hoàn thiện hơn quá trình lập kế hoạch của mình Xuất phát từ thực tiễn đó và được sự
giúp đỡ của tập thể phòng kinh tế kế hoạch tôi đã mạnh dạn lựa chọn cho mình đề tài “Một
số giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình lập kế hoạch (5 năm) của Công ty cổ phần đầu
tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà”
Đề tài được chia làm 3 phần:
Chương I: Một số lý luận cơ bản về quá trình lập kế hoạch của doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường
Chương II: Thực trạng quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty
CPĐTPT đô thị và khu công nghiệp Sông Đà
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình lập kế hoạch của Công ty
CPĐTPT đô thị và khu công nghiệp Sông Đà
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt thời gian học tập cũng như trong suốt
Chương I
NHữNG VấN Đề Lý LUậN CƠ BảN Về Kế HOạCH
Trang 3TRONG DOANH NGHIệP
i.tổng quan về kế hoạch
1 Một số khái niệm về kế hoạch trong doanh nghiệp
Kế hoạch được tiếp cận theo nhiều cách hiểu khác nhau Mỗi cách tiếp cận điều xem xét kế hoạch theo một góc độ riêng và đều cố gắng biểu hiện đúng bản chất của phạm trù quản lý
Với cách tiếp cận theo quá trình thì cho rằng: kế hoạch sản xuất kinh doanh là một quá trình liên tục kiểu vòng xoáy hình ốc với chất lượng ngày càng tăng kể từ khi chuẩn bị xây dựng cho tới lúc chuẩn bị tổ chức thực hiện kế hoạch nhằm đưa hoạt động của doanh nghiệp theo các mục tiêu đã định
Theo quan điểm của STEINER thì: “quá trình lập kế hoạch là một quá trình bắt đàu từ việc thiết lập các mục tiêu vầ quyết định chiến lược, các chính sách, kế hoạch chi tiết để đạt được mục tiêu Nó cho phép thiết lập các quyết định khả thi và nó bao gồm chu
kỳ mới của việc thiết lập mục tiêu và quyết định chiến lược nhằm hoàn thiện hơn nữa”
Trong cách tiếp cận này, khái niệm hiện tượng tương lai, tính liên tục của quá trình, sự gắn bó của hàng loạt hành động và quyết định để đạt được mong muốn đều đã được thể hiện
Với cách tiếp cận theo nội dung và vai trò
Theo HERY FAYOL: Kế hoạch là môt trong những hoạt động cơ bản của chu trình quản lý cấp công ty Xét về mặt bản chất, hoạt động này là nhằm xét các mục tiêu cảu phương án kinh doanh, bước đi trình tự và cách tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh
Theo RONNEY: Hoạt động kế hoạch là một trong các hoạt động nhằm tìm
ra con đường huy động và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả để phục vụ các mục tiêu kinh doanh
Trang 4Trong thời bao cấp, ở Việt nam quan niệm: Công tác lập kế hoạch là tổng thể các hoạt động nhằm xác định các mục tiêu, các nhiệm cụ của sản xuất kinh doanh, về tổ chức đời sống và tổ chức thực hiện để đạt được các mục tiêu đó, trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan, các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ
Các khai niệm trên đay cho thấy khái niệm lập kế hoạch được đề cập chủ yếu thông qua các nội dung của nó mà chưa làm nổi bật đặc tính về thời gian, mức độ những nét hết sức đặc trơng của kế hoạch
Theo cách tiếp cận hiện nay được nhiều người sử dụng ở Việt nam : Kế hoạch là những chỉ tiêu, những con số dự kiến, ước tính trong việc thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể nào đó để đạt được hiệu quả cao nhất
Theo quan niệm này thì những chỉ tiêu, nhữn con số phải có cơ sở khoa học, cơ sở thực tế và nó phải được thể hiện ở bảng biểu kế hoạch Những con số chỉ tiêu mang tính khả năng và muốn biến chúnh thành hiện thực thì phải áp dụng hệ thống các biện pháp
Việc lập kế hoạch là quyết định trước xem trong tương lai phải làm gì? làm như thế nào? làm bằng công cụ gì? khi nào làm? và ai làm?
Mặc dù ít tiên đoán được chính xác trong tương lai và những yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát có thể phá vở cả những kế hoạch tốt nhất đã có nhưng không có kế hoạch thì các
sự kiện xảy ra một cách ngẫu nhiên và ta sẽ mất đi khả năng hành động một cách chủ động
2 Các loai kế hoạch trong doanh nghiệp
Hệ thống kế hoạch của một tổ chức là tổng thể của nhiều loại kế hoạch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một định hướng chung nhằm thực hiện mục tiêu tối cao của
hệ thống
Để đảm bảo hoạt động của một tổ chức cần phải xây dựng được một hệ thống kế hoạch bao gồm nhiều loại kế hoạch khác nhau và được phân định thưo nhiều tiêu chí khác nhau
Bao gồm các loại kế hoạch sau:
Trang 5- Sứ mệnh không được công bố: Thể hiện lợi ích tối cao của doanh nghiệp
Xu hướng chung ngày nay là : cố gắng làm cho 2 loại sứ mệnh này xích lại gần nhau hơn
Sứ mệnh là cơ sở đầu tiên để xác định mục tiêu chiến lược của hệ thống và nó cũng là cơ sở để xác định phương thức hành động cơ bản của tổ chức
ĐĐường lối – sứ mệnh
Trang 6Chiến lược của một tổ chức là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều cấp chiến lược khac nhau và nhiều loại chiến lược khác nhau
Theo cấp chiến lược của một tổ chức thông thường có 3 cấp chiến lược Được thể hiện qua sơ đồ sau:
……
Trang 7
2.1.3 Các kế hoạch tác nghiệp
Đây là loại kế hoạch nhằm cụ thể hoá chiến lược và triển khai các chiến lược Có 2 nhóm cơ bản sau:
Kế hoạch tác xây dựng một lần sử dụng nhiều lần:
- Chương trình: Bao gồm một số các mục đích, chính sách thủ tục, quy tắc các nhiệm vụ
được giao, các bước phải tiến hành, các nguồn lực có thể huy động và các yêu tố khác Chương trình được hộ trợ bằng ngân quỹ cần thiết Một chương trình quan trọng thường ít khi đứng một mình, thường là một bộ phận của một hệ thống phức tạp
Chương trình thường có mục tiêu lơn quan trọng, mang tính độc lập tương đối trong quá trình phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu
- Dự án: có mục tiêu thường cụ thể, quan trọng mang tính độc lập tương đối Nguồn lực để
thực hiện mục tiêu thường phải rõ ràng đối với tất cả các hình thái nguồn lực theo thời gian
và không gian
Trang 8
- Các ngân sách (ngân quỹ): Là bản tường trình các kết quả mong muốn được biểu hiện
bằng các con số Có thể coi đó là chương trình được “số hoá” Ngân quỹ ở đây không đơn thuần là ngân quỹ bằng tiền, mà còn có ngân quỹ bằng thời gian, ngân quỹ công nhân, ngân quỹ máy móc thiết bị, ngân quỹ nguyên vật liệu…
Kế hoạch tác nghiệp xây dựng một lần sử dụng nhiều lần:
- Chính sách: Là quan điểm phương hướng và cách thức chung để ra quyết định trong tổ
chức Trong một tổ chức có thể có nhiều loại chính sách khác nhau cho những mảng hoạt động trọng yếu của tổ chức mình
Ví dụ : chính sách khuyến khích tài năng trẻ nhằm tạo động lực phấn đấu cho lớp trẻ trong tổ chức Chính sách đào tạo nhân viên để đáp ứng công việc hiện tại và tương lai
Chính sách là là kế hoạch theo nghĩa nó là những quy định chung để hưỡng dẫn hay khai thông cách suy nghĩ và hành động khi ra quyết định Các chính sách giúp cho công việc giải quyết các vấn đề trong các tình huống nhất định và giúp cho việc thống nhất các kế hoạch khác nhau của tổ chức Các chính sách là tài liệu chỉ dẫn cho việc ra quyết định trong phạm vi co giãn nào đó, tuỳ thuộc vào các chức vụ và quyền hạn trong tổ chức
- Thủ tục: Là các kế hoạch thiết lập một phương pháp cần thiết cho việc điều hành các hoạt
động trong tương lai Đó là sự hướng dẫn hành động, là việc chỉ ra một cách chi tiết, biện pháp chính xác cho một hoạt động nào đó cần phải thực hiện Đó là chuỗi các hoạt động cần thiết theo thứ tự, theo cấp bâc quản lý
- Quy tắc: Giải thích rõ ràng những hành động nào đó có thể làm, những hành động nào
không được làm đây là loại kế hoạch đơn giản nhất Không nên nhầm lẫn giữa thủ tục và quy tắc các quy tắc gắn liền với hướng dẫn hành động mà không ấn định trình tự thời gian, trong khi đó thủ tục cũng bao hàm sự hưỡng dẫn hành động mà không ấn định trình tự thời giancho các hoạt động Hơn nữa các chính sách hướng dẫn việc quyết định trong khi quy tắc cũng là sự hướng dẫn nhưng không cho phép có sự lựa chọn trong khi áp dụng chún Như vậy, so với quy tắc và thủ tục, chính sách có độ linh hoạt cao hơn
2.2 Phân loại theo cấp quản lý
Trang 9
- Kế hoạch cho toàn tổ chức
- Kế hoạch cho các phân hệ và bộ phận của tổ chức
- Kế hoạch cho các ca nhân trong tổ chức
2.3 Phân loại kế hoạch theo thời gian
- Kế hoạch dài hạn: Là kế hoạch 5 năm trở lên
- Kế hoạch trung hạn: Là loại kế hoạch có thời gian từ 1đến 5 năm
- Kế hoạch ngắn hạn: Là loại kế hoạch có thời gian dưới 1 năm
3 Vai trò của kế hoạch trong doanh nghiệp
Thông qua các kế hoạch mà đường lối, chiến lược, chính sách phát triển kinh tế được cụ thể hoá thành mục tiêu chương trình hành động cho từng giai đoạn nhất định Lập
kế hoạch là chức năng quản lý mang tính cương lĩnh, là khâu quan trọng trong quá trình biến đường lối thành hiện thực
Lập kế hoạch là chức năng định hướng, liên kết cân đối và thống nhất mọi hành động trong hệ thống quản lý Kế hoạch là công cụ điều hành thống nhất hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời xác định mô hình phát triển của đối tượng trong tương lai
Kế hoạch là cơ sở căn cứ quan trọng bảo đảm tính đồng bộ, liên tục và thống nhất của tất cả các công tụ chính sách
Tất cả các tầm quan trọng đó được thể hiện cụ thể như sau:
3.1 ứng phó với những sự bất định và sự thay đổi
Sự bất định và thay đổi làm cho việc lập kế hoạch trở thành yếu tố tất yếu Giống như một nhà hàng hải không chỉ lập trình một lần rồi quên nó, một người kinh doanh không thể lập một kế hoấchnr xuất kinh doanh và dừng lại ở đó Tương lai rất ít khi chắc chắn, tương lai càng xa thì kết quả của quyết định mà ta cần phải xem xét sẽ càng kém chắc chắn, một uỷ viên quản trị kinh doanh có thể thấy hoàn toàn chắc chắn rằng: Trong tháng tới các đơn vị đặt hàng, các chi phí sản xuất, năng suất lao động, sản lượng, dự trữ
Trang 10tiền mặt có sẵn và các yếu tố khác của môi trường kinh doanh sẽ ở một mức độ xác định Song một đám cháy, một cuộc bãi công không biết trước, hoặc việc huỷ bỏ một đơn đặt hàng của một khách hàng chủ yếu sẽ làm đảo lộn tất cả Hơn nữa, nếu lập kế hoạch cho một thời gian càng dài thì người quản lý càng ít nắm chắc về môi trường kinh doanh bên trong, bên ngoài và tính đúng đắn của mọi quyết định Thậm chí ngay khi tương lai có độ chắc chắn cao, thì một số kế hoạch cần thiết:
Thứ nhất: Các nhà quản lý vẫn phải tìm cách tốt nhất để đạt được mục tiêu Với
điều kiện chắc chắn, trước hết đây là vấn đề thuộc toán học tính toán, dựa trên các
sự kiện đã biết xem tiến trình nào sẽ đem lại kết quả mong muốn với chi phí thấp nhất
Thứ hai: Sau khi tiến trình đã được xác định, cần phải đưa ra các kế hoạch để sao
cho mỗi bộ phận của tổ chức sẽ biết cần phải đóng góp như thế nào vào công việc phải làm
Ngay sau khi có thể dễ dàng dự đoán được sự thay đổi thì vẫn nảy sinh những khó khăn khi lập kế hoạch.Việc sản xuất ô tô loại nhỏ sử dụng ít nhiên liệu là một ví dụ Không thể ngay lập tức chuyển từ sản xuất ô tô loại lớnvà loại trung bình sang loại nhỏ, nhà sản xuất phải quyết định tỷ lệ sản xuất giữa các loại ô tô và làm thế nào để trang bị máy móc cho cả dây chuyền này sản xuất có hiệu quả Tuy nhiên, nhà sản xuất có thể lựa chọn các phương hướng rất khác nhau, khi đã nắm chắc về sự thay đổi công ty có thể phải cân nhắc
kỹ lưỡng để bán lỗ phần kinh doanh xe cơ lớn và cơ trung bình để tẩp trung vào việc thiết
kế và sản xuất loại xe cơ nhỏ, với hy vọng trở thành công ty hàng đầu trong ngành sản xuất
ô tô loại nhỏ Thực tế, đó là cách mà các công ty Nhật Bản đã làm
Khi các nhà quản lý không thể thấy được các xu thế một cách dễ dàng thì việc có được một kế hoạch tốt có thể gặp nhiều khó khăn hơn nữa Nhiều nhà quản trị đã đánh giá thấp hoặc không đánh giá đủ sớm về tầm quan trọng của giá cả lạm phát, về sự tăng lãi nhanh chóng và khủng hoảng năng lượng những năm 70, kết quản là họ đã đối phó không kịp thời với những biến động của thị trường và vật liệu dẫn tới sự tăng chi phí sản xuất
Trang 11Thậm chí đến cuối những năm 1960 – 1970 sự cố ô nhiễm nước và không khí cũng không được quan tâm đúng mức
3.2 Tập trung vào sự chú ý các mục tiêu
Do toàn bộ công việc là phần đạt được các mục tiêu của cơ sở, cho nên chính hoạt động lập kế hoạch tập trung sự chú ý vào các mục tiêu này Nhưng kế hoạch được xem xét
đủ toàn diện sẽ thống nhất được những hoạt động tương tác giữa các bộ phận Những người quản lý mà họ thực sự đang gặp phải những vấn đề cấp bách, buộc phải thông qua việc lập kế hoạch để xem xét tương lai, thậm chí cần phải định kỳ sửa đổi và mở rộng kế hoạch để đạt được các mục tiêu đã định
3.3 Tạo khả năng tác nghiệp kinh tế
Việc lập kế hoạch sẽ giảm tối thiểu hoá chi phí vì nó chú trọng vào các hoạt động hiệu quả và phù hợp
Kế hoạch thay thế cho sự hoạt động manh mún, kế hoạch không được phối hợp bắngự nỗ lực có định hướng chung, thay thế những phán xét vội vàng bằng những quyết định có cân nhắc kỹ lưỡng
ở phạm vi cơ sở sản xuất tác dụng của việc lập kế hoạch càng rõ nét Không một ai
đã từng ngắm nhìn bộ phận lắp ráp ô tô trong một nhà máy lớn mà lại không có ấn tượng
về cách thức mà các bộ phận và các dây chuyền phụ ghép nối với nhau Từ hệ thống băng tải chính hình thành ra thân xe, và các bộ phận khác nhau được hình thành từ các dây chuyền khác Động cơ, bộ truyền lực và các phụ kiện được đặt vào chỗ một cách chính xác đúng thời điểm đã định Quá trình này đòi hỏi phải có một kế hoạch sâu rộng và chi ly mà nếu thiếu chúng việc sản xuất ô tô sẽ rối loạn và tốn kém qua mức Làm dễ dàng cho việc kiểm tra
Người quản lý không thể kiểm tra công việc của các cấp dưới nếu không có được mục tiêu đã định để đo lường Như vậy một người lãnh đạo cấp cao đã từng nói: “Sau khi tôi rời khỏi văn phòng lúc 5 giờ chiều, tôi không còn quan tâm tới những việc đã xảy ra trong ngày hôm đó, tôi chẳng thẻ làm gì được nữa, tôi chỉ có thể xem xét những việc có thể
Trang 12xảy ra vào ngày mai hoặc ngày kia, hoặc vào năm tới, bởi tôi vì tôi còn có thể làm được một việc gì đó về những vấn đề này”, có thể đây là một quan niệm cức đoan, nhưng nó cũng nhấn mạnh tới một điều quan trọng là sự kiểm tra có hiệu quả là sự kiểm tra hướng tới tương lai
II Công tác lập kế hoạch 5 năm trong doanh nghiệp
1 Khái niệm lập kế hoạch
lập kế hoạch là một quá trình xem xét đánh giá tổng hợp các hoạt động nhằm xác định mục tiêu, các nhiệm vụ, phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh về tổ chức và thực hiện để đạt được các mục tiêu đề ra Trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước
2 Vai trò của lập kế hoạch
Lập kế hoạch có các vai trò sau:
2.1 Giúp cho việc lựa chọn được các phương thức hành động trong quá trình ra quyết định
Thứ nhất: lựa chọn các mục tiêu ưu tiên bởi vì nguồn lực có hạn nên không thể
đáp ứng cùng một lúc tất cả các nhu cầu phát triển
Thứ hai: Sự lựa chọn trong số các phương thức hành động khác nhau, giữa các
cách thức khác nhau để đạt được cùng một mục tiêu
2.2 Tạo cơ sở phân bổ và sử dụng tốt nhất các nguồn lực hiện có
Nguồn lực ở đây không chỉ bao gồm các nguồn lực tự nhiên mà còn bao gồm cả nhân lực, tài sản và tài chính Việc phân biệt những gì không được coi là nguồn lực tuỳ thuộc vào mục tiêu cần đạt đến của người sử dụng, cũng như nhận thức về gisias trị sử dụng và khả năng sử dụng cụ thể trong từng trường hợp
Lập kế hoạch góp phần giảm nhẹ những ảnh hưởng kìm hãm sự phát triển nguồn lực bằng cách phối hợp những dự án đầu tư để có thể tập trung những yếu tố khan hiếm và những lĩnh vực sản xuất có hiệu quả nhất
Trang 13Mặc khác thị trường cạnh tranh tự do có xu hướng hạn chế đầu tư và chuyển đầu
tư nhiều hơn sang những lĩnh vực mà xã hội ít mong muốn, đồng thời không tính đến những lợi nhuận phụ thêm có được từ những chương trình đầu tư được phối hợp tương đối dài hạn Đó cũng là một khuyết điểm của thị trường mà người ta muốn sử dụng kế hoạch
để khắc phục
2.3 Là một công cụ hưu hiệu để đạt tới mục tiêu
Lập kế hoạch không chỉ liên quan đến quyết định cần phải làm gì đẻ đạt tới mục tiêu cụ thể mà còn liên quan đến quyết định trình tự thực hiện các hoạt động một cách logic
có thứ tự từng bước tiến tới đạt được mục tiêu
3 Quá trình lập kế hoạch
Quá trình lập kế hoạch bao gồm các bước cơ bản sau
3.1 Nghiên cứu và dự báo
Nghiên cứu và dự báo là điểm bắt đầu của việc lập kế hoạch Để nhận thức được
cơ hội cần phải có những hiểu biết về môi trường, thị trường, về sự cạnh tranh về điểm mạnh và điểm yếu của mình so các đối thủ cạnh tranh Chúng ta phải dự đoán được các yếu tố không chắc chắn và đưa ra phương án đối phó Việc lập kế hoạch đòi hỏi phải có những dự đoán thực tế về cơ hội
3.2 Thiết lập các mục tiêu
Các mục tiêu đưa ra cần phải xác định rão thời hạn thực hiện và được lưỡng hoá đến mức cao nhất có thể Mặc dù tổ chức thường có cả hai loại mục tiêu định tính và mục tiêu định lượng, nhưng những loại mục tiêu định lượng có vẻ rõ ràng hơn và dễ thực hiện hơn Ngoài ra, mục tiêu cũng cần được phân nhóm theo các thứ tự ưu tiên khác nhau Một
tổ chức có thể có hai loại mục tiêu là mục tiêu hàng đầu và mục tiêu hàng thứ hai Những mục tiêu hàng đầu liên quan đến sự sống còn và thành đạt của tổ chức Đối với một công
ty, đó là những mục tiêu về lợi nhuận, doanh số hay thị phần Không đạt được một mức lợi nhuận, mức doanh số hya mức thị phần nhất định trong một thời kỳ nào đó, công ty có thể
bị phá sản Mục tiêu hàng thứ hai có liên quan đến tính hiệu quả của tổ chức, nhưng không
Trang 14phải lúc nào cũng ảnh hưởng đến sự sống còn Các mục tiêu này có thể thể hiện mức độ quan tâm của khách hàng đối với sản phẩm của tổ chức, sự phát triển sản phẩm mới hay tính hiệu quả của công tác quản lý hành chính Trong những năm gần đây, các tổ chức ở
cả khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân dường như đều chú trọng tới các mục tiêu hàng thứ hai để thu hét khách hàng thứ nhất với sự ảnh hưởng trực tiếp và trước mắt hơn Cho
dù có chú trọng tới mục tiêu nào hơn chăng nữa, điều quan trọng là phải xacs định các mục tiêu thật rõ ràng, có thể đo lường được và từ đó mang tính khả thi Ngoài ra, cũng cần xác định rõ trách nhiệm trong việc thực hiện mục tiêu và thời hạn phải hoàn thành
3.3 Phát triển các tiền đề
ở bước thứ ba này chúng ta cần lưu ý tới việc phát triển các tiền đề Tiền đề lập kế hoạch là các dự báo, các chính sách cơ bản có thể áp dụng Chúng là giả thiết cho việc thực hiện kế hoạch Đó có thể là địa bàn hoạt động, quy mô hoạt động, mức giá, sản phẩm gì, triển khai công nghệ gì, mức chi phí, mức lương, mức cổ tức và các khía cạnh tài chính, xã hội, chính trị khác
Một số tiền đề là những dự báo, các chính sách còn chưa ban hành
Ví dụ : Nếu một viện nghiên cứu không có chính sách tuyển dụng cán bộ nghiên cứu (cần có bằng cấp từ thạc sỹ trở lên hay chỉ cần tốt nghiệp đại học loại giỏi, tổ chức thi tuyển ra sao ) khi lập kế hoạch nhân sự, người ta phải đư ra các tiền đề là các dự đoán xem chính sách đó sẽ được ban hành hay không và nếu có nó sẽ gồm những gì Một ví dụ khác, khi xây dựng kế hoạch phát triển đô thị sẽ định hình ra sao sau 5 năm tới
Các tiền đề được giới hạn theo các giả thiết có tính chất chiến lược hoặc cấp thiết
để dẫn đến một kế hoạch Các tiền đề này có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự hoạt động của
kế hoạch đó Sự nhất trí về các tiền đề là điều kiện quan trọng để lập kế hoạch phối hợp Ví vậy không nên đòi hỏi những kế hoạch và ngân quỹ từ cấp dưới khi chưa có, trước hết, những chỉ dẫn cho những người đứng đầu các bộ phận của mình
3.4 Xây dựng các phương án
Trang 15
Có nhiều cách thức để đạt được mục tiêu, đó chính là các phương án.mỗi phương
án sản xuất kinh doanh đều đưa đến các mục tiêu cần đạt được Các phương án sản xuất kinh doanh này đều được lập ra dựa trên nhiều con đường
Tìm ra và nghiên cứu các phương án hành động để lựa chọn Cần giảm bớt các phương án lựa chọn, chỉ có những phương án có triển vọng nhất được đưa ra phân tích
3.1.5 Đánh giá các phương án
Đánh giá các phương án theo các chỉ tiêu phù hợp với mục tiêu và trung thành cao nhất với các tiền đề đã xác định
3.1.6 Lựa chọn phương án và ra quyết định
Sau quá trình đánh giá các phương án, một vài phương án sẽ được lựa chọn Lúc này, cần ra quyết định để phân bổ con người và các nguồn lực khác của tổ chức cho việc thực hiện kế hoạch Bước tiếp theo đây sẽ là việc xây dựng các kế hoạch phụ trợ và lượng hoá kế hoạch bằng ngân quỹ
4 Nội dung của quá trình lập kế hoạch
4.1 Thiết lập hệ thống mục tiêu
Điểm xuất phát để xây dựng kế hoạch là việc xác định các nhu cầu xã hội và luận chứng cho cho hệ thống các mục tiêu kinh tê - xã hội chủ yếu mà xã hội có thể dự kiến đạt tới trong thời kỳ kế hoạch Tất nhiên những mục tiêu này không phài được đề ra một cách ngẫu nhiên mà xuất phát từ việc đánh giá trình độ phát triển đã đạt được, từ tiến trình và kết quả có thể thấy trước được của việc thực hiện những kế hoạch hiện hành, những định mức hiện hành có tính đến những khả năng hiện thực của nền kinh tế quốc dân
Căn cứ vào hệ thống mục tiêu đó người ta xác định khối lượng và cơ cấu những của cải và dịch vụ cần thiết để đạt mục tiêu ấy tức là khối lượng và cơ cấu tiêu dùng cuối cùng Sau đó dựa trên những chỉ tiêu thu được về hiệu quả của nền sản xuất xã hội người ta xác định quy mô thu hut những nguồn tài nguyên thiên nhiên bổ sung và sức lao động vào chu chuyển kinh tế để có thể bảo đảm được khối lượng và cơ cấu tiêu dùng cuối cùng
Trang 16Bằng cách đó có thể giải quyết nhiệm vụ luận chứng về nguồn lợi cho các mục tiêu mà kế hoạch quy định Sự ăn khớp hoàn toàn trong kế hoạch giữa các mục tiêu các nguồn là kết quả của một số chu kỳ tính toán nhiều lần, trong qua trình đó, để đạt được sự ăn khớp lãn nhau giữa chúng, người ta điều chỉnh khối lượng những loại nguồn lợi chủ yếu được thu hút vào sản xuất, các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng các nguồn lợi ấy và mức (khối lượng) sản xuất hoặc bản thân những mục tiêu cụ thể
Để có thể lựa chọn mục tiêu phát triển một cách có căn cứ khoa học người ta xử lý một số lượng lớn thông tin về kinh tế xã hội và khoa hoc – kỹ thuật, xem xét các mặt khác nhau của triển vọng phát triển được đề ra trong kế hoạch
Hệ thống mục tiêu được xác định hoặc dưới hình thức định tính các phương hướng phát triển hoặc dưới hình thức các mức phải đạt được những nhu cầu xã hội chủ yếu Kế hoạch dài hạn phản ánh những mục tiêu quan trọng nhất, thường là có ý nghĩa kinh tế quốc dân, quy định sự phục tùng lẫn nhau giữa những mục tiêu nhiệm vụ và thứ tự thực hiện chúng
Hệ thống mục tiêu trong kế hoạch phải thoả mãn một số yêu cầu sau:
- Bảo đảm sự phát triển ăn khớp và sự trao đổi hoạt động giữa các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ ; giữa các vùng kinh tế
- Bảo đảm tính ăn khớp, tính cân đối của mối quan hệ qua lại giữa tất cả các giai đoạn tái sản xuất – bản thân sản xuất – trao đổi – phân phối sản phẩm
- Bảo đảm sử dụng mội cách cân đối và có hiệu quả nhất các nhân tố chủ yếu phát triển kinh tế và tất cả các loại nguồn thiên nhiên, nguồn vật tư tái sản xuất, sức lao động, vốn, tài chính
- Thể hiện được những khía cạnh khác nhau của sự phát triển phương thức sản xuất: kỹ thuật - kinh tế, tổ chức và quản lý; giải quyết các vấn đề xã hội
Hệ thống mục tiêu kinh tế quốc dân: Bao gồm 5 nhóm mục tiêu cơ bản sau:
Trang 17
- Tăng trưởng kinh tế mà mục tiêu tổng quát là tốc độ gia tăng GDP, theo đó là tốc
độ gia tăng ngành công nghiệp - nông nghiệp – lâm – ngư nghiệp và dịch vụ
- ổn định nền tài chính quốc gia, tăng khả năng và tiềm lực tài chính, xử lý hài hoà quan hệ tích luỹ tiêu dùng, tăng khả năng đầu tư phát triển
- Kiềm giữ và khống chế lạm phát, bảo đảm giá trị đồng tiền, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đặc biệt là cán cân vãng lai
- Tăng khả năng kinh tế đối ngoại, xuất – nhập khẩu và thu hút nguồn vốn bên ngoài
- Bảo đảm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, phát triển dân trí cải thiện dân sinh
và các mặt xã hội
ở các ngành và địa phương căn cứ vào quy hoạch phát triển tổng thể của ngành và địa phương sẽ xây dựng hệ thống các mục tiêu nhằm cụ thể hoá các mục tiêu cụ thể của đất nước Xác định các mục tiêu ưu tiên nhằm giải quyết các vấn đề trước mắt và lâu dài để hoà hợp với trình độ phát triển chung ở Việt Nam , với chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của chúng
ta là : “đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả, bền vững, tăng trưởng, kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh
4.2 Đề xuất - đánh giá và lựa chọn các giải pháp tối ưu
ở giai đoạn phân tích - dự đoán khi lập kế hoạch người ta tạo ra cơ sở thông tin - khoa học để chuyển sang xây dựng và lựa chọn những giải pháp kế hoạch Những giải pháp này cho phép tiến hành các tính toán trong phạm vi những khả năng hiện thực của
Trang 18nền kinh tế quốc dânvà xuất phát từ những thông số chung, sơ bộ ăn khớp với nhau về sự phát triển kinh tế
Trong giai đoạn này, các giải pháp kế hoạch kinh tế quốc dân không nhằm vào một mục tiêu duy nhất mà vào cả một hệ thống mục tiêu Điều này phản ánh sự thực khách quan về sự phát triển nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, sự cần thiết phải kết hợp giải quyết đồng thời một số nhiệm vụ chung (nhiệm vụ xã hội, quốc phòng, phát triển khoa học và tích luỹ tiềm nằng khoa học, bảo vệ và cải thiện môi trường thiên nhiên, tạo điều kiện để tái sản xuất mở rộng và giải quyết đầy đủ hơn những nhiệm vụ kinh tế – xã hội trong tương lai, ngoài phạm vi của thời kỳ kế hoạch
Tuy nhiên trong quá trình lựa chọn các giải pháp phải chú trọng một số các nội dung sau:
Những chỉ tiêu về khối lượng hay mức sản xuất của cải vật chất; dịch vụ
và về thoả mạn nhữn g nhu cầu xã hội mà kế hoạch dự kiến (những chỉ tiêu kinh tế chung, trong đó quan trọng nhất là các chỉ tiêu về thu nhập quốc dân, sản phẩm thuần tuý của các ngành…) Những chỉ tiêu chất lượng như năng suất lao động, hiệu quả kinh tế - xã hội
Những chỉ tiêu bảo đảm nguồn lực cho cácnhiệm vụ về khối lượng và mức sản xuất của cải vật chất và dịch vụ (khối lượng vốn đầu tư cơ bản, nguồn lao động và quỹ tiền lương, những nguồn lực được huy động vào quá trình phát triển kinh tế, tài chính….)
Những định mức về hiệu quả được coi như những yêu cầu của Nhà nước
về sử dụng hợp lý các nguồn lực
Những định mức kinh doanh nhằm quy định các điều kiện hoạt động kinh doanh của các tổ chức, các bộ cơ quan chủ quản
Những chính sách và biện pháp hướng đến thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch
Kế hoạch xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn khách quan và do đó mục đích của nền sản xuất xã hội là sản xuất ra tối đa của cải vật chất đáp ứng nhu cầu không ngừng
Trang 19tăng lên của mọi thành viên trong xã hội Bởi vậy nhận thức và vận dụng những quy luật khách quan là điều kiện bắt buộc để bảo đảm tính hiện thực và tính có căn cứ khoa học của các giải pháp Đông thời thừa nhận vai trò quyết định của các quy luật khách quan không
có nghĩa là phủ nhận tác dụng của các nhân tố chủ quan (chính sách, tư tưởng, đạo đức, tâm lý xã hội và cá nhân… ) mà nếu tính đến chúng thì có thể nâng cao được tính hiệu quả
và vai trò tích cực của các giải pháp kế hoạch
5 Tổ chức quá trình lập kế hoạch
Trong quá trình lập kế hoạch có thể xuất hiện những sự thay đổi không lường trước về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, xuất hiện những khả năng mới về ứng dụng những thành tựu của tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào thực tiễn, những biện pháp giải quyết từng vấn đề riêng biệt trong từng giai đoạn của sự phát triển …Do đó cần thiết và có khả năng điều chỉnh một số điểm trong lập kế hoạch đã thông qua trước đây Như vậy quá trình lập kế hoạch không thể chấm dứt bằng việc lựa chọn các giải pháp phương án tối ưu thông qua hệ thống những chỉ tiêu và nhiệm vụ cân đối với nhau, có tính chất pháp lệnh và được phân công cụ thể mà đòi hỏi còn phải có giai đoạn phân tích quá trình thực hiện kế hoạch
và điều chỉnh kế hoạch có tính đến những kết quả thu được trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch, sự tác động của những nhân tố mới và sự thay đổi những điều kiện trong nước cũng như tình hình kinh tế - chính trị bên ngoài Các nhân tố tác động đến quá trình thực hiện kế hoạch được phân thành 4 nhóm chính:
a Các nhân tố thuộc về bản thân của quá trình lập kế hoạch ở đây người ta thường coi việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch là hai hoạt động riêng rẽ và không có liên quan đến nhau
b Các nhân tố thuộc về tổ chức xây dựng và thực hiện kế hoạch Việc thực hiện kế hoạch không phải chỉ do các nhà kế hoạch thực hiện mà nó là một quy trình phức tạp có sự tham gia của nhiều cá nhân và tổ chức khác nhau Những kho khăn trong việc thực hiện kế hoạch nhiều khi bắt nguồn từ các nhân tố tổ chức Chẳng hạn
Trang 20như thiếu sự phối hợp giữa các nhà kế hoạch chuyên nghiệp và những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp quy trình lập kế hoạch và thiếu sự phối hợp giữa các nhà kế hoạch chuyên nghiệp và những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp quy trình lập kế hoạch và thiếu sự phối hợp với các cá nhân hoặc các tổ chức, đặc biệt
là các cơ quan trong bộ máy Chính phủ có nhiệm vụ thực thi kế hoạch
c Các nhân tố thuộc về nội dung kế hoạch: các kế hoạch phải có tính khả thi cụ thể
là phải tương ứng với các nguồn lực hiện có cho thực hiện kế hoạch và khả năng
có được sự hộ trợ của Chính phủ đối với việc thực hiện kế hoạch Thiếu những nhân tố đó kế hoạch rất ít tính khả thi
d Các nhân tố thuộc về quản lý quá trình thực hiện: vấn đề trọng tâm trong việc thực hiện kế hoạch là phải đưa kế hoạch hoặc dự án vào hoạt động, xác định người
có trách nhiệm thực hiện, thời gian cần thiết, phân bổ nguồn lực và lập ngân sách tài chính Vai trò của nhà kế hoạch trong quá trình này là huy động, tổ chức và quản lý các nguồn lực cần thiết để thực hiện các giải pháp đã đưa ra trong kế hoạch
Ngoài ra cũng cần tính đến nhân tố tổ chức bộ máy và nhân sự , nhân tố giáo dục vận động nhân dân
Trong điều kiện doanh nghiệp đang trong thời kỳ phát triển việc vượt qua những khó khăn nêu trên không phải là dễ dàng và nhanh chóng Vấn đề đặt ra là việc áp dụng các cộng nghệ và kỹ thuật lập kế hoạch phù hợp với điều kiện hạn chế về thời gian, số liệu và con người, đồng thời xây sựng một cơ cấu tổ chức để tăng cường sự trao đổi và hiểu biết lẫn nhau giữa các chính khách và các nhà lập kế hoạch và các nhà quản lý nhằm hạn chế tối đa những điểm yếu trong quá trình lập kế hoạch
6 Các căn cứ lập kế hoạch (những nhân tố ảnh hưởng)
6.1 Căn cứ bên trong
- Căn cứ vào các nguồn lực: Khi lập kế hoạch doanh nghiệp gặp một trở ngại lớn là sự hạn chế của các nguồn lực Thực tiễn cho thấy sự khan hiếm của nguồn lực lf bài toán làm đau
Trang 21đầu các nhà quản trị khi lập kế hoạch Chính điều này nhiều khi làm giảm mức tối ưu của phương án kế hoạch được lựa chọn
Trước hết cần nói đến nguồn lực, đây vốn được coi là một trong những thế mạnh của Việt Nam nhưng thực tế ở các doanh nghiệp còn rất nan giải Lực lượng lao động thừa
về số lượng nhưng lại yếu về chất lượng Số lượng lao động có trình độ quản lý, tay nghề cao vẫn thiếu, lực lượng lao động trẻ còn phải qua đào tạo nhiều
Về mặt tài chính: Tài chính hạn hẹp, tiềm lực yếu dẫn đến làm cản trở sự triển khai các kế hoạch, hơn nữa nó cũng giới hạn việc lựa chọn những phương án tối ưu
Cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung của doanh nghiệp cũng là nguồn lực hạn chế Đó
là khả năng hạn chế về máy móc thiết bị, công nghệ, nhà xưởng kho tàng… Thực tiễn ở các doanh nghiệp nước ta hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật còn rất yếu và thiếu Điều đó đã cản trở việc xây dựng và lựa chọn những kế hoạch sản xuất tối ưu nhất…
- Hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp:
Mục tiêu được hiểu theo một cam kết cụ thể đối với thực hiện một kết quả có thể
đo lường trong khoảng thời gian đã định Các mục tiêu được xác định càng cụ thể càng tốt trên phương diện : Số lượng các điều kiện cụ thể hay những sự liệu có thể đo lường được
và được thể hiện trong những khoảng thời gian nhất định Để kiểm tra và điều chỉnh một số mục tiêu cần trả lời các câu hỏi sau:
+ Mục tiêu đã đề cập đến kết quả hoàn thành như thế nào?
+ Mục tiêu này xác định khi nào thì kết quả chờ đợi được hoàn thành?
+ Có thể đo lường được kết quả chờ đợi hay không ?
Mục tiêu hữu ích của doanh nghiệp phải thảo mạn cả 3 câu hỏi này, nếu mục tiêu không thảo mạn bất kỳ câu hỏi nào cũng gây khó khăn cho quá trình lập kế hoạch
- Quá trình tổ chức thông tin, thống kê, kế toán:
Trang 22Nhà kinh tế học người Anh Roney cho rằng: “Muốn chiến thắng trong cạnh tranh một mặt công ty hoạt động trong nền kinh tế thị trường trước hết phải nắm được thông tin, tiếp đó phải xây dựng cho mình các chiến lược và kế hoạch đầy tham vọng”
Trong quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh thông tin sẽ giúp ta đánh giá so sánh và lựa chọn phương án … thông tin giúp bộ phận lãnh đạo của doanh nghiệp
có được các quyết định đúng đắn kịp thời
Thống kê và kế toán là hai công cụ đặc biệt có ý nghĩa đối với công tác quản lý và công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh nói riêng Tổ chức thông kê, kế toán đầy
đủ, chính xác kịp thời, sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp thực sự đi vào cơ chế hoạch toán, xây dựng hiệu quả giúp cho bộ phận kế hoạch lựa chọn, xây dựng những phương án sản xuất tối ưu nhất Tuy nhiên ở nước ta các doanh nghiệp chưa thực sự chú ý đúng mức công tác thống kê
- Căn cứ vào kết quả điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường:
Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả Kết quả nghiên cứu nhu cầu thị trường phải phản ánh được quy mô, cơ cấu đối với từng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, có tính đến tác động của các nhân tố làm tăng hoặc giảm cầu để đáp ứng yêu cầu của công tác hoạch định Những kết quả nghiên cứu này có thể tập hợp theo mức giá để xác định mục tiêu kinh doanh phù hợp với phân đoạn thị trường hoặc theo khách hàng để đảm bảo sự gắn bó giữa sản xuất với các yếu tố hộ trợ Căn cứ vào số lượng các đối thủ cạnh tranh, sự biến động giá cả trên thị trường sẽ làm tăng hiệu quả thực hiện các phương
án kế hoạch
Đối với doanh nghiệp trong ngành xây dựng thì thị trường cũng lại rất đặc biệt cũng như đặc trưng về sản phẩm của nó Do đó việc nghiên cứu nhu cầu thị trường là rất quan trọng trong công tác lập kế hoạch của Công ty
- Căn cứ vào kết quả phân tích và dự báo về tình hình sản xuất kinh doanh, về khả năng và nguồn lực có thể khai thác
Trang 23Doanh nghiệp căn cứ vào kết quả phân tích hoạt động kinh tế thời kỳ trước và dự báo khả năng tương lai ứng với các nguồn lực có thể có, đặc biệt là dựa vào những lợi thế vượt trội của doanh nghiệp về các mặt chất lượng sản phẩm, kênh tiêu thụ hợp tác kinh doanh, khoa học công nghệ, cạnh tranh sẽ góp phần làm tăng tính khả thi của các phương
án kế hoạch trong tâm công tác cần tập trung vào các chỉ tiêu chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh
- Căn cứ vào hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật
Đây là căn cứ quan trọng làm cơ sở cho công tác hoạch định Môi trường kinh doanh biến đổi rất nhanh đòi hỏi hệ thống này cần được hoàn thiện và sửa đổi sau mỗi chu
kỳ kinh doanh Hệ thống định mức kỹ thuật của doanh nghiệp phải gắn bó phù hợp với hệ thống đinh mức tiêu chuẩn của ngành và nền kinh tế quốc dân
6.2 Các nhân tố bên ngoài
- Căn cứ vào chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước
Trong công tác hoạch định về nguyên tắc doanh nghiệp được quyền tự chủ, song giới hạn và phạm vi cảu việc phát huy quyền tự chủ là pháp luật và chính sách phù hợp với chủ trương đường lối, chinh sách, phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, néu những hoạt động của nó đi ngược lại xu thế phát triển, phạm vi những lợi ích chung của nền kinh tế nó sẽ bị đào thải, ngượclại nếu nhận thức và hoà mình vào xu thế phát triển thi nó mới có thể phát triển bền vững và ổn định
Căn cứ này góp phần làm cho phương án phát triển của doanh nghịêp hợp lý, đúng hướng
- Tính không chắc chắn của môi trường kinh doanh
Xây dựng kế hoạch là quá trình chuẩn bị để đối phó với sự thay đổi và tình huống không chắc chắn của môi trường kinh doanh mà chủ yếu là các nhân tố trong môi trường nền kinh tế và môi trường ngành Tuy nhiên vấn đề quan trọng là phải tính toán, phán đoán được sự tác động của môi trường kinh doanh
Trang 24
Sự không chắc chắn của môi trường kinh doanh được thể hiện dưới 3 hình thức: + Tình trạnh không chắc chắn: Xảy ra khi toàn bộ hay một phần môi trường được coi là không thể tiên đoán được
+ Hậu quả không chắc chắn: Là trường hợp mặc dù đã cố gắng nhưng nhà quản lý không thể tiên đoán được những hậu quả của sư kiện hay sự thay đổi của môi trường đối với các doanh nghiệp, do đó dẫn đến sự không chắc chắn
Nhìn chung công việc của người xây dựng kế hoạch phải đánh giá tính chất và mức độ không chắc chắn của môi trường để xác định các cách thức phản ứng của tổ chức
và triển khai các kế hoạch thích hợp ở những lĩnh vực có mức độ không chắc chắn thì việc xây dựng kế hoạch là không mấy phức tạp, nhưng những lĩnh vực có mức độ không chắc chắn cao đòi hỏi kế hoạch phải được xác định rất linh hoạt
- Cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hoá của Nhà nước
Đây là nhóm nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh một cơ chế quản lý phù hpợ sẽ thúc đẩy hoạt động kế hoạch sản xuât phát triển, ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ chế quản lý cho thấy càng đi sâu vào cơ chế thị trường càng phát sinh nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết để hoàn thiện cơ chế quản lý và kế hoạch của Nhà nước Nhà nước cần tiếp tục giải quyết các tồn đọng, vướng mắc trong những năm chuyển đổi để thực sự tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp song vẫn đảm bảo yêu cầu quản
lý tập trung thống nhất của Nhà nước
7 Các phương pháp lập kế hoạch
Trong thực tế các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp lập kế hoạch Tuỳ thuộc vào mục đích yêu cầu mà doanh nghiệp áp dụng các phương pháp khác nhau ở Việt Nam hiện nay các doanh chủ yếu vẫn sử dụng phương pháp cân đối trong việc xây dựng kế hoạch
Bao gồm các phương pháp sau:
Trang 25Bước 2: Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về các yếu tố sản xuất
Trong cơ chế thị trường, phương pháp cân đối được xác định với những yêu cầu sau:
Cân đối được thực hiện là cân đối động Cân đối để lựa chọn phương án chứ không phải cân đối theo phương án đã được chỉ định Các yếu tố của cân đối
là những yếu tố biến đổi theo môi trường kinh doanh, đó là nhu cầu thị trường và khả năng có thể khai thác của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch
Thực hiện cân đối liên hoàn, tức là tiến hành nhiều cân đối kế tiếp nhau để
bổ sung và điều chỉnh phương án cho phù hợp với thay đổi của môi trường
Thực hiện cân đối trong những yếu tố trước khi tiến hành cân đối tổng thể các yếu tố Kết quả cân đối tổng hợp phải là căn cứ xác định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để xác định hoặc điều chỉnh phương án kinh doanh của doanh nghiệp
7.2 Phương pháp tỷ lệ cố định
Nội dung của phương án này là tính toán một số chỉ tiêu của năm kế hoạch theo tỷ
lệ đã được xác định trong năm báo cáo trước đó Có nghĩa là coi tình hình của năm báo cáo đối với một số chỉ tiêu nào đó
Phương pháp này cho thấy kết quả nhanh nhưng thiếu chính xác nên chỉ sử dụng trong trường hợp không đòi hỏi độ chính xác cao và thời gian không cho phép dài
7.3 Phương pháp phân tích chu kỳ sống của sản phâm
Chu kỳ sống của sản phẩm (vòng đời của sản phẩm) là khoảng thời gian từ khi nó được đưa ra thị trườngcho đến khi nó không còn tồn tại trên thi trường Trừ một số sản
Trang 26phẩm hàng hoá thiêt yếu phục vụ đời sống hàng ngày, hàng hoá có tính chất thời trang, mau hỏng hoặc sản phẩm có tính thời vụ …còn lại, nói chung chu kỳ sống cảu sản phẩm được đặc trưng bởi 4 giai đoạn chủ yếu: Triển khai (thâm nhập) - tăng trưởng - bão hào và suy thoái Tương ứng với mỗi giai đoạn là các vấn đề và cơ hội kinh doanh Doanh nghiệp cần nhận biết đặc điểm của từng giai đoạn để quyết định khối lượng sản xuất, vì mỗi giai đoạn của chu kỳ sống có mức độ tiêu thụ trên thị trường khác nhau
7.4 Phương pháp đường cong kinh nghiệm
Thực chất của phương pháp này là phân tích đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành nghề trên cơ sở mối quan hệ giữa việc giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm và viêc tăng
số lượng sản phẩm, từ đó tiến hành lập kế hoạch
7.5 Phương pháp mô hình PIMS (chiến lược thị trường ảnh hưởng đến lợi nhuận)
Theo phương pháp này, khi hoạch định kế hoạch doanh nghiệp phải phân tích 6 vấn đề lớn:
Sức hấp dẫn của thị trường như: Mức tăng trưởng thị trường, tỷ lệ xuất khẩu
Tình hình cạnh tranh: Phân tích thị trường tương đối của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Hiệu quả của hoạt động đầu tư: Cường độ đầu tư, doanh thu trên mỗi hoạt động đầu tư
Sử dụng ngân sách doanh nghiệp: Chi cho Marketing trong doanh thu, hệ
Trang 27Phương pháp này là phát hiện ra sự trao đổi các kết quả có tính chất chiến lược để
từ đó xác định kế hoạch
Trang 28
Chương II
THựC TIễN CÔNG TáC XÂY DựNG Kế HOạCH SảN XUấT KINH DOANH CủA
CÔNG TY CPĐTPT ĐÔ THị Và KHU CÔNG NGHIệP SÔNG Đà
I Giới thiệu chung về Công ty CPĐTPT đô thị và khu công nghiệp sông đà
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty cổ phần đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà (SUDICO)
là một công ty trẻ thuộc Tổng Công ty Sông Đà được thành lập năm 2002 trên cơ sở cổ phần hoá Công ty đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà theo Quyết định số 946/QĐ-BXD ngày 08/07/2003
Tiền thân của Công ty là Công ty Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông
Đà, một đơn vị thành viên của Tổng Công ty Sông Đà, được thành lập theo Quyết định số
17 TCT/VPHT ngày 12/9/2001 của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Sông Đà với chủ trương là phát triển đa dạng hóa ngành nghề xây dựng: Đầu tư phát triển các Khu đô thị mới, khu công nghiệp và từng bước xây dựng thương hiệu Sông Đà- Đô thị
Với tiềm lực kinh tế dồi dào, công ty đã không ngừng lớn mạnh đồng thời quy tập được một đội ngũ các kỹ sư, kiến trúc sư, có trình độ đại học, trên đại học có tay nghề cao
và giàu kinh nghiệm
Tên Công ty :Công ty cổ phần đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà Tên giao dịch quốc tế : SongDa Uraban & Industrial Zone
Investment and Development Joint Stocks Company
Tên viết tắt : SUDICO
Biểu tượng : Sử dụng biểu tượng củ Tổng công ty Sông Đà ở dưới biểu tượng có dòng chữ SUDICO
Trụ sở, địa bàn hoạt động :
Trang 29Trụ sở chính của Công ty đặt tại : Tầng 7 – toà nhà Tổng công ty Sông Đà
- đường Phạm Hùng - Từ Liêm - Hà Nội Điện thoại : 047 684 029 – 047 684 027
2.2 Quyền hạn và nghĩa vụ của Công ty
Quyền hạn và nghĩa vụ của Công ty được quy định trong điều lệ của Công ty
2.2.1 Quyền hạn của Công ty
- Quyền tự chủ quản lý sản xuất kinh doanh của Công ty:
Công ty có quyền quản lý, sử dụng định đoạt tài sản của Công ty, quyền lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn, tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức các đơn vị sản xuất
Trang 30kinh doanh phù hợp với mục tiêu, nhiệm cụ của Công ty Phân chia và điều chỉnh nguồn lực giữa các đơn vị trực thuộc đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh ; Đổi mới công nghệ, trang thiết bị phù hợp với yêu cầu phát triển và hiệu quả kinh doanh, và kinh doanh các ngành nghề Nhà nước không cấm Đặt chi nhánh và các văn phòng đại diện trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật Công ty có quyền tìm kiếm thị trường, trực tiếp giao dich, ký kết các hợp đồng với các khách hàng trong và ngoài nước Được quyền định giá mua, bán, tư liệu sản xuất, nguyên liệu, sản phẩm và dịch vụ trừ những sản phẩm, dịch vụ
do Nhà nước định giá Bảo hộ về quyền sở hữu công nghiệp như : các sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu sản phẩm kiểu dáng công nghiệp…., đầu tư, liên doanh, liên kết góp vốn cổ phần, mua một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp khác với mục tiêu sản xuất kinh doanh Ngoài ra công ty còn có quyền tuyển chọn, thuê mướn, bố trí sử dụng lao động, đào tạo lao động, lựa chọn các hình thức trả lương, thưởng, quyết dịnh mức lương và một số quyền khác của người sử dụng lao động theo quy định của Bộ lao động và các quy định khác của pháp luật
- Quyền quản lý tài chính của Công ty :
Về mặt này Công ty có quyền sử dụng vốn và các ngân quỹ của Công ty để phục
vụ các nhu cầu kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và sinh lãi ; nhượng bán cho thuê những tài sản tài sản không dùng đến hoặc chưa dùng hết Phát hành các cổ phiếu, trái phiếu, chuyển nhượng, tăng giảm mức vốn điều lệ theo quy định của pháp luật, được thế chấp tài sản của Công ty tại các Ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh Khi có đủ điều kiện Công ty có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng Quyết định sử dụng và phân phối lợi nhuận còn lại choc các cổ đốngau khi làm nghĩa vụ với nhà nước Được hưởng các chế độ ưu đãi khi chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần
Những quyền hạn trên của Công ty phải phù hợp với quy định của Pháp luật
2.2.2 Nghĩa vụ của Công ty
- Nghĩa vụ quản lý hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Công ty:
Trang 31Công ty có nghĩa vụ đăng ký kinh doanhvà kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng ký, chịu trách nhiệm trước các cổ đông về kết quả sản xuất kinh doanh ; chịu trách nhiệm trước các khách hàng và pháp luật về sản phẩm và dịch vụ do Công ty thực hiện Xây dựng các chiến lược phát triển , kế hoạch sản xuất kinh doanh ; Ký kết và tổ chức thực hiện các hợp đồng kinh tế với khách hàng; Thực hiện các nghĩa vụ đối với người lao động, bảo đảm cho người lao động tham gia quản lý Công ty bằng thoả ước lao động tập thể và các quy chế khác; Thực hiện chế độ báo cáo thống kê, kế toán ; kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tổ chức hoạt động theo yêu cầu của Nhà nước và đại hội đồng cổ đông và mức độ chính xác của báo cáo này ; Chịu sự kiểm tra của các cơ quan quản lý Nhà nước, tuân thủ các quy định về Thanh tra của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Đổi mới công nghệ sản xuất và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý để tạo ra lợi nhuận cao nhất Thực hiện các quy định về bảo vệ tài nguyên, môi trường, các di tích lịch sử và văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội , phòng cháy chữa cháy…
- Nghĩa vụ quản lý tài chính của Công ty
Thực hiện đúng chế độ và các quy định về quản lý vốn, tài sản các quỹ, hoạch toán, kế toán - thông kê, chế độ kiểm toán và các chế độ khác Mức độ chính xác thực của báo cáo tài chính của Công ty Bảo toàn và phát triển vốn ; thực hiện các khoản thu và phải trả trong bảng cân đối kế toán của Công ty tại thời điểm thành lập ; Công bố công khai các báo cáo tài chính hàng năm, đánh giá đúng đắn khách quan hoạt động của Công ty Thực hiện các nghĩa vụ về nộp thuế và các khoản nộp ngân sách Nhà nước, chịu trách nhiệm vật chất đối với khách hàng trong phạm vi vốn điều lệ của đơn vị
Tóm lại Công ty có nghĩa vụ và quyền hạn sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước giao ; nhận sử dụng có hiệu quả tài nguyên và các nguồn lực khác để thực hiện mục tiêu kinh doanh và đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên
Với nhiệm vụ trên thì tổng Công ty cổ phần đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà không chỉ có nhiệm vụ tạo ra lợi nhuận cho bản thân Công ty mà còn có nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế đất nước, cụ thể là : tạo ra của cải vật chất, tài sản,
Trang 32xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo ra mối quan hệ giữa ngành công nghiệp và nông nghiệp với quốc phòng, giữa phát triển văn hoá xã hội Giúp Nhà nước có thêm một khoản ngân sách thông qua các khoản nộp thuế
3 Ngành nghề kinh doanh của Công ty
Công ty có lĩnh vực nghành nghề kinh doanh chính như sau:
- Tư vấn, đầu tư, lập và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh nhà ở, khu đô thị và khu công nghiệp
- Kinh doanh khai thác các dịch vụ về nhà ở,khu đo thị và khu công nghiệp
- Thi công xây lắp các công trình dân dụng và công nghiệp
- Tư vấn thiết kế kỹ thuật, quy hoạch chi tiết khu đô thị và khu công nghiệp, tư vấn thiết kế công trình dân dụng, công nghiệp
- Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, thiết bịo nội thất
- Kinh doanh bất động sản và các dịch vụ khác
- Kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn
- Kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị, máy móc
Khi cần thiết, Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị quyết định việc chuyển hay mở rộng các ngành nghề kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật
4 Các lĩnh vực hoạt động
4.1 Đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật khu đô thị và khu CN
Kế hoạch đầu tư đến năm 2010 dự kiến đạt giá trị 1.100 tỷ đồng Tỷ lệ tăng trưởng
kế hoạch đầu tư bình quân các năm từ 15% đến 20% năm
Dự kiến kế hoạch đầu tư giai đoạn từ năm 2006 đến 2010 tập trung chủ yếu vào lĩnh vực truyền thống của Công ty là đầu tư xây dựng và kinh doanh khai thác khu đô thị mới và khu công nghiệp, đầu thời đầu tư mở rộng ngành nghề ở một số lĩnh vực như sản
Trang 33xuất vật liệu xây dựng, kinh doanh vạt tư thiết bị, kinh doanh dịch vụ đô thị, quản lý và kinh doanh khách sạn….Trước mắt, hoàn thang xây dựng và kinh doanh khai thác các dự án: Khu đô thị mới Mỹ Đình- Mễ Trì (Hà Nội); Khách sạn Sông Đà-Hạ Long ( Quảng Ninh); Khu dân cư Bắc đường Trần Hưng Đạo ( Hoà Bình); Khu đô thị mới Nam An Khánh (Hà Tây), Khu đô thị mới Mỹ Văn ( Hưng Yên)…
Nguồn vốn đầu tư cho các dự án chủ yếu đươc khai thác từ các nguồn chính là huy động tiền ứng trước của khách hàng, tín dụng thương mại hoặc hợp tác đầu tư với các đối tác có năng lực tài chính đủ mạnh
4.2 Kinh doanh nhà ở khu đô thị
Giá trị kinh doanh nhà và hạ tầng chiếm tỷ trọng lớn nhất (97%) trong tổng giá trị SXKD của Công ty Dự kiến đến năm 2010, giá trị kinh doanh nhà và hạ tầng đạt 1.290 tỷ đồng
Mục tiêu chính của Công ty là đầu tư đồng bộ, hoàn chỉnh và tạo ra các sản phẩm nhà ở và khu đô thị có chất lượng vượt trội; nghiên cứu cơ chế bán hàng hợp lý và quảng cáo khuyếch trương sản phẩm nhằm thu hút và tận dụng được nguồn vốn của các khách hàng Đảm bảo xây dựng mức giá bán hợp lý và có lợ nhuận
4.3 Kinh doanh vật tư xây dựng
Giá trị kinh doanh tư vấn xây dựng trong 5 năm tới chiếm một tỷ trọng nhỏ (1%) trong Tổnt giá trị SXKD của toàn Công ty nhưng đảm bảo liên lục tăng qua các năm Giá trị sản lượng tư vấn xây dựng đến năm 2010 dự kiến khoảng 12,5 tỷ đồng
Công ty xác định công tác tư vấn phải thật sự là nền tảng và đi trước một bước trong giải pháp công nghệ, trong khảo sát, thiết kế….phải thật sự đóng vai trò chủ đạo, quyết định trong việc tìm kiếm và đề xuất các cơ hội đầu tư mới có hiệu quả đồng thời xây dựng được các sản phẩm tư vấn có chất lượng và mang tính đặt thù của Công ty và cho khách hàng
Mục tiêu của Công ty là xây dựng một đội ngũ cán bộ, kỹ sư, kiến trúc sư trẻ, năng động, có trình độ chuyên môn cao có thể đảm trách được hầu hết các lĩnh vực tư vấn liên
Trang 34quan đến hoạt động đầu tư của Công ty và dần dần từng bước tìm kiếm mở rộng kinh doanh khai thác các dự án bên ngoài
4.4 Kinh doanh khai thác các dịch vụ nhà ở, khu đô thị và khu công nghiệp
Giá trị kinh doanh khai thác các dịch vụ đô thị và khu công nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong Tổng giá trị SXKD nhưng Công ty xác định đây là rất quan trọng góp phần khẳng địng uy tín trong thời gian tới khi các Khu đô thị mới do Công ty làm chủ đầu tư được đưa vào khai thác sử dụng Mặt khác, quản lý và khai thác các dịch vụ đô thị và khu công nghiệp sẽ giải quyết được nhiều việc làm cho CBCNV và lực lượng lao động tại các địa phương mà Công ty có dự án, góp phàn hộ trợ thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng tại các dự án của Công ty
Dự kiến tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm tronglĩnh vực này khoảng 30%/ năm
4.5 Đầu tư tài chính
Trong thời gian tới khi thị trường tài chính phát triển, việc đàu tư tài chính vào các lĩnh vực ngành nghề có ưư thế như sản xuất vật liệu xây dựng, kinh doanh máy móc thiết
bị, xây dựng thuỷ điện ….vừa góp phần đa dạng hoá nghành nghề, đa dạng hoá sản phẩm của Công ty vừa góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư thông qua việc thu lợi tức cổ phần hàng năm Công ty xác định đây là một chiến lược đầu tư dài hạn và có hiệu quả trong định hướng phát triển những năm tới
II Những đặc điểm kinh tế- kỹ thuật ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch
1 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:
(trang bên)
Trang 35đại hội đồng
Cổ ĐÔNG
TổnG giám đốc công ty
Ban kiểm soát
Phòng
đầu tư
Phòng qlkt
Phòng ktkh
Phòng tchc
Phòng tckt Phòng
KD
Trang 36
Nguồn: Báo cáo sản xuát kinh doanh 5 năm 2006-2010
Trang 37Nhìn vào cơ cấu bộ máy của Công ty chúng ta thấy ngay nó được hình thành theo
3 cấp: Hội đồng quản trị – ban kiểm soát – tổng giám đốc và các phó tổng giám đốc
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý của Công ty, quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích quyền lợi của Công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông
Chủ tịch hội đồng quản trị: là người lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng quản trị, chuẩn bị các chương trình, nội dung các tài liệu phục vụ cuộc họp, chủ toạ cuộc họp trong Hội đồng quản trị Phân công các thành viên kiểm tra, giám sát các hoạt động của công ty Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị, thay mặt Hội đồng quản trị ký kết các văn bản, quy định, các hợp đồng thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị và được HĐQT phê duyệt Quyết định cử đi công tác, đào tạo đối với các chức danh do Hội đồng quản trị quản lý theo đề nghị của Tổng giám đốc
Tổng giám đốc: là người đại diện pháp luật của công ty trong mọi giao dịch kinh doanh Là người điều hành mọi hoạt động kinh doanh của công ty Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông về điều hành công ty
Tổng giám đốc có các chức năng nhiệm vụ sau:
- Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị
- Quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của Công ty
- Tổ chức thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn
- Báo cáo trước HĐQT về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty và cung cấp các tài liệu phuc vụ cho các cuộc họp HĐQT
- Quyết định các vấn đề khen thưởng, kỷ luật, các chức danh phó Tổng giám đốc
và kế toán trưởng quyết định lương phụ cấp trong Công ty
Đại diện Công ty trong việc khởi kiện các vụ án liên quan đến quyền lợi Công ty được HĐQT uỷ quyền bằng văn bản
Trang 38Ngoài raTổng giám đốc trực tiếp quản lý các phong ban và ban quản lý dự án cung như các xí nghiệp ở các tỉnh Bao gồm : phòng Đầu tư - phòng Quản lý Kỹ thuật - phòng Kinh tế kế hoạch - phòng Kinh Doanh - phòng Tài chính Kế toán - phòng Tổ chức Hành chính
Các ban quản lý bao gồm : ban quản lý dự án ĐTKV Hà Nội, BQL dự án Hà Tây, BQL các dự án Hoà Bình, BQL các dự án Quản Ninh, chi nhánh Miền Nam, xí nghiệp kinh doanh và thiết kế các dịch vụ đô thị, xí nghiệp tư vấn và đầu tư thiết kế xây dựng
Các phòng chuyên môn này có chức năng tham mưa cho Tổng giám đốc trong các lĩnh vực hoạt động đầu tư và kinh doanh của Công ty
Căn cứ vào chuyên môn và nhiệm vụ được giao các trưởng phòng, phó phòng và trưởng các ban quản lý các dự án phải chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và phó Tổng giám đốc về việc điều hành các hoạt động của mình Giữa các phong này có mối liên hệ chặt chẽ mật thiết gắn bó hữu cơ vói nhau và phối hợp với nhau trong công việc kinh doanh và đầu tư của Công ty
2 Đặc điểm thiết bị, dây chuyền công nghệ
Hiện tại Công ty chỉ tập trung đầu tư các khu đô thị và khu công nghiệp trong đó Công ty chỉ là người giám sát các hoạt động và nhận bàn giao công trình còn công việc xây lắp do các đơn vị khac thực hiện Do đó vấn đề này không ảnh hưởng đáng kể đến công tác lập kế hoạch
Công ty đang tăng cường đổi mới các trang thiết bị phuc vụ cho công việc hàng ngày của Công ty như: Phương tiện đi lại, trang bị hiện đại mạng thông tin, trang bị điện thoại cho các phòng và một số cán bộ cán bộ, hệ thống máy tính, máy in, phôtôcopy, nâng cấp đổi mới nơi làm việc, các phương tiện phục vụ cho công việc hàng ngày
Đối với các cán bộ cấp cao Công ty có xe đưa đón riêng phục vụ cho việc đi lại trong công việc
Trang 39Đối với các phòng ban hiện nay Công ty đã trang bị gần như mỗi cán bộ một dàn máy vi tính, các phòng đều có điện thoại liên lạc, máy in, máy phô tô và các trang thiết cần thiết khác
3 Đặc điểm về nhân lực của Công ty
Hiện nay Công ty có một đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ học vấn
và tay nghề cao Trong tiến trình hội nhập và sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ đòi hỏi các nhà lập kế hoạch phải có một kê hoạch nhân sự hợp lý trong chiến lược kinh doanh của mình Và để đáp ứng yêu cầu đó Công ty đã không ngừng nâng cao đội ngũ cấn bộ và công nhân kỹ thuật bằng việc tuyển dụng và đào tạo các cán bộ của Công ty theo đúng nghiệp vụ và chuyên môn Từng bước nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên, hoàn thiện công tác trả lương, thưởng khuyến khích người lao động trong công việc
Đến nay Công ty đã có 326 cán bộ công nhân viên với mức thu nhập bình quân 2.448.000đ/1người/1tháng có công ăn và việc làm ổn định
Sau đây là bảng kế hoạch nhân lực trong năm 2005 của Công ty: