1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot

101 628 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 766,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài "Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay" được chọn nghiên cứu với mong muốn góp phần bổ sung thêm những vấn đề lý luận v

Trang 1

LUẬN VĂN:

Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở

Việt Nam hiện nay

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp (DN) là tế bào của nền kinh tế quốc dân Trong nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có vai trò hết sức quan trọng thể hiện ở chỗ: DNNN chi phối các ngành, các lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

Trước những thách thức gay gắt của yêu cầu đổi mới, phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, để kinh tế nhà nước nói chung, DNNN nói riêng thực sự giữ vai trò chủ đạo trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, cần phải nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của DNNN Giải pháp cơ bản để thực hiện được mục tiêu này là tăng cường chất lượng công tác quản trị kinh doanh trong các DNNN

Kế toán, với vị trí là công cụ không thể thiếu phục vụ cho quản lý kinh tế tài chính cần phải được các DNNN sử dụng một cách hợp lý, đúng đắn nhằm phát huy tối đa vai trò của nó trong hệ thống quản lý kinh tế ở nước ta, hệ thống kế toán hiện hành đã có những thay đổi cơ bản so với hệ thống kế toán trước đây, đã tiếp cận những thông lệ, chuẩn mực

kế toán quốc tế và bao gồm một số nội dung của kế toán quản trị (KTQT) Tuy nhiên, những thay đổi bước đầu đó mới chỉ thỏa mãn phần lớn nhu cầu thông tin theo quy định của Bộ Tài chính, nhằm chủ yếu đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh tế tài chính của DN Công tác KTQT phục vụ cho mục đích quản trị DN vẫn còn là một vấn đề chưa được xem xét, nhìn nhận đúng với vị trí và vai trò vốn có của nó

KTQT là công cụ quản lý vi mô không thể thiếu phục vụ cho quản trị DN mới chỉ được đề cập tới trong các tài liệu nghiên cứu và bước đầu xuất hiện một cách sơ lược trong Luật Kế toán, chưa được những người hành nghề kế toán thực hiện một cách đầy đủ, các

Trang 3

nhà quản trị DN quan tâm sử dụng, thậm chí còn bỡ ngỡ cả trong nhận thức về vai trò, chức năng và cách thức tổ chức thực hiện

Đề tài "Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà

nước ở Việt Nam hiện nay" được chọn nghiên cứu với mong muốn góp phần bổ sung thêm

những vấn đề lý luận về KTQT các yếu tố đầu vào, đưa ra một số biện pháp để tổ chức thực hiện KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN

2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh (KD) thì việc quản trị đúng đắn, hợp lý các yếu tố đầu vào của DN có vai trò vô cùng quan trọng Để đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời trong việc quản trị các yếu tố đầu vào, nhà quản trị DN cần phải có nhiều thông tin: thông tin thực hiện, thông tin dự báo KTQT với đặc điểm riêng của mình đã đáp ứng những yêu cầu về thông tin của quản trị trong từng DN

Với vai trò quan trọng như vậy, KTQT các yếu tố đầu vào đã và đang là vấn đề được giới chuyên môn quan tâm Các nhà nghiên cứu, các giảng viên trong các trường đào tạo chuyên ngành đang còn nhiều quan điểm khác nhau về lý luận cũng như việc áp dụng trong các DN

Thực tế ở Việt Nam, kế toán trong các DN chưa nhận thức đúng đắn về KTQT nói chung và KTQT các yếu tố đầu vào nói riêng nên chưa cung cấp được các thông tin cần thiết phục vụ cho quản trị Nhận thức đúng vai trò, chức năng, mục đích của KTQT các yếu tố đầu vào trong quản trị DN; tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào một cách khoa học, hợp lý, sẽ góp phần nâng cao trình độ, năng lực quản lý, điều hành KD và hiệu quả hoạt động của các DN

Xuất phát từ những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài "Tổ chức kế toán quản trị các

yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay" vừa có ý nghĩa lý

luận, vừa mang tính thực tiễn

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 4

4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Với mục đích đã xác định, luận văn tập trung

nghiên cứu, hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN Trong đó tập trung chủ yếu vào các DN sản xuất và yếu tố đầu vào được quan tâm nghiên cứu là nguyên liệu vật liệu (NLVL)

Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp chung: Dựa vào phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu các vấn đề một cách toàn diện, hệ thống và cụ thể

- Phương pháp thực hiện: Vận dụng các phương pháp như: phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh Nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước, học hỏi các thầy cô giáo giảng dạy ở các môn học liên quan đến quản trị DN, tìm hiểu các tài liệu thực tế về công tác kế toán của một số DNNN trong lĩnh vực sản xuất (SX) Do KTQT có mục tiêu chủ yếu là cung cấp thông tin phục vụ cho việc quản trị ở nội

bộ DN cho nên cần thiết phải tìm hiểu một số phương pháp, kỹ thuật quản trị tác nghiệp đối với các yếu tố đầu vào của DN

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào

trong doanh nghiệp

Trang 5

Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh

nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số kiến nghị về tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong

các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Trang 6

Chương 1

Những vấn đề chung về tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong Doanh Nghiệp

1.1 ý nghĩa của việc quản trị các yếu tố đầu vào đối với doanh nghiệp

1.1.1 Các quan điểm về yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

Vận dụng quan điểm toàn diện vào khoa học và cuộc sống, người ta đã hình thành

lý thuyết hệ thống Lý thuyết hệ thống là quá trình sử dụng tổng hợp các lĩnh vực khoa học như: toán học, tin học, lôgic học, kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra theo quan điểm toàn diện Lý thuyết hệ thống được ứng dụng rộng rãi trong công tác quản lý, từ quản lý vĩ

mô cho tới quản lý vi mô

Những bộ phận chủ yếu của một hệ thống bao gồm: các phần tử của hệ thống, môi trường của hệ thống, đầu vào của hệ thống, đầu ra của hệ thống

DN khi được nhìn nhận theo quan điểm là một hệ thống cũng bao gồm các bộ phận đã nêu trên

Đối với bộ phận "đầu vào" của DN, có nhiều quan niệm, nhiều cách phát biểu khác nhau

Theo các tác giả của Trường Đại học kinh tế quốc dân:

Doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một hệ thống xã hội, một hệ thống kinh doanh Điều đó có nghĩa là mọi khái niệm, mọi nguyên lý, mọi phương pháp trong lý thuyết hệ thống đều có thể được vận dụng trong nghiên cứu

và giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp

Đầu vào của doanh nghiệp là các phương tiện cần thiết để cho doanh nghiệp hoạt động, bao gồm:

- Nguồn nhân lực (lao động và thị trường chất xám) cung ứng các loại nhân lực cho doanh nghiệp

Trang 7

- Nguồn vốn đảm bảo cung cấp tài chính cho doanh nghiệp

- Thị trường tư liệu sản xuất và dịch vụ để phục vụ cho các hoạt động tạo ra đầu ra (sản phẩm và dịch vụ mới cho doanh nghiệp)

- Thị trường năng lượng và nguyên liệu tạo ra động lực và cung cấp nguyên liệu cho sản xuất

- Thị trường công nghệ và kỹ thuật để tạo ra các công nghệ và kỹ thuật mới thích hợp

- Thị trường chất xám, thông tin (dịch vụ, tư vấn) [20, tr 37-38]

Như vậy, theo quan điểm này, các yếu tố đầu vào của DN bao gồm: sức lao động,

tư liệu SX, vốn và các yếu tố đầu vào này đều có thể mua bán được trên thị trường, tức là

có thể lượng hóa được bằng thước đo tiền tệ Tuy nhiên, các tác giả trình bày nội dung còn

có sự trùng lặp giữa “thị trường tư liệu sản xuất” với “thị trường năng lượng và nguyên liệu”; giữa “nguồn nhân lực (lao động và thị trường chất xám)” với thị “trường chất xám” làm cho người đọc khó phân biệt, dễ nhầm lẫn

Theo tác giả Nguyễn Hải Sản:

Khi xem xét doanh nghiệp dưới quan điểm hệ thống người ta cho rằng doanh nghiệp là một tổng thể bao gồm các yếu tố đầu vào, quá trình chế biến, chế tạo, và các yếu tố đầu ra Tổng thể này chịu sự điều chỉnh của các thông tin phản hồi và tất cả đều nằm trong một môi trường kinh doanh cụ thể

Các yếu tố đầu vào bao gồm: tài sản cố định, nguyên liệu, nguồn nhân lực, tài chính và nguồn thông tin được đưa vào sản xuất chế biến [17, tr 52-53] Quan điểm này tương tự như quan điểm của trường Đại học Kinh tế quốc dân, chỉ khác về ngôn từ diễn đạt Trong quan điểm này, tác giả coi thông tin là một nguồn lực của

DN Đó là một cách hiểu đúng đắn vì trên thực tế các nhà quản trị phải có được thông tin thì mới đề ra được các quyết định quản lý phù hợp và thông tin ngày càng có vai trò quan trọng trong công tác quản lý nói chung, công việc quản trị DN nói riêng

Trang 8

3 Công nghệ, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu

4 Trình độ, phẩm chất, tiềm năng của nhà quản lý

5 Thị trường, thông tin và các ràng buộc vĩ mô trong kinh doanh

6 Các cơ hội và rủi ro [21, tr 23-24]

Theo quan điểm này, nhìn nhận các yếu tố đầu vào của DN trong môi trường KD

cụ thể, gắn liền với các điều kiện KD, có tính đến các yếu tố chưa thể lượng hóa đo lường bằng các thước đo như: trình độ, phẩm chất, tiềm năng của nhà quản lý

Theo các nhà kinh tế nước Cộng hòa Pháp, các yếu tố đầu vào và đầu ra của DN được thể hiện qua sơ đồ 1.1 (trang 8) [23, tr 26]

Theo quan điểm này các yếu tố đầu vào của DN gồm lao động, tài sản cố định (TSCĐ), nguyên liệu vật liệu (NLVL), hàng hóa, dịch vụ, tiền vốn và các yếu tố này đều được lượng hóa bằng thước đo tiền tệ

Qua việc phân tích các quan điểm trên chúng tôi nhận thấy thuật ngữ các yếu tố đầu vào của DN có nghĩa rất rộng dùng để chỉ tất cả các yếu tố, các nguồn lực mà DN đã

sử dụng trong quá trình hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đầu ra của

DN Đứng trên giác độ của kế toán khi thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các yếu tố đầu vào của DN chỉ có thể xem xét tới các yếu tố đầu vào có thể lượng hóa được vì đặc trưng của thông tin kế toán là thông tin phải được lượng hóa bằng các thước đo (thước đo hiện vật, thước đo lao động, thước đo giá trị, trong đó thước đo giá trị là chủ yếu)

Trang 10

Với nội dung và phạm vi của các yếu tố đầu vào rộng như vậy nên luận văn chỉ tập trung xem xét tới các yếu tố đầu vào là NLVL, sức lao động và TSCĐ của DNNN trong lĩnh vực SX

1.1.2 ý nghĩa của việc quản trị các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định trước Quản lý được tiến hành trong mọi lĩnh vực của xã hội, cả ở tầm vĩ mô (toàn xã hội) và cả ở tầm vi mô (trong từng đơn vị) Khi sử dụng thuật ngữ quản lý người ta thường gắn liền với đối tượng bị quản lý như quản lý kinh tế, quản lý hành chính, quản lý nhân sự

Thuật ngữ quản trị (trong tiếng Anh là management) vừa có nghĩa là quản lý, vừa

có nghĩa là quản trị nhưng được dùng chủ yếu với nghĩa quản trị Ngoài ra, tiếng Anh còn

có một thuật ngữ nữa là administration với nghĩa là quản lý hành chính, quản lý chính quyền Tiếng Pháp cũng có hai từ: gestion là quản trị kinh doanh và administration là quản

lý hành chính Như vậy có thể hiểu quản lý là thuật ngữ được dùng đối với các cơ quan nhà nước trong việc quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng, còn quản trị là thuật ngữ được dùng để chỉ các hoạt động quản lý ở cấp cơ sở Đối với các DN người ta sử dụng thuật ngữ quản trị kinh doanh

Quản lý và quản trị có điểm chung là lôgíc giống nhau của vấn đề quản lý, nhưng điểm khác nhau là nội dung và quy mô cụ thể của vấn đề quản lý đặt ra: một bên là phạm

vi toàn xã hội, một bên là phạm vi trong từng cơ sở

Quản trị kinh doanh là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được những mục tiêu đầu ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội [ 20, tr 41]

Để hoạt động của các đơn vị nói chung, các DN nói riêng đạt được hiệu quả cao thì cần thiết phải tiến hành các hoạt động quản trị

Trang 11

Các chức năng chủ yếu của quản trị là: xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá

Quản trị các yếu tố đầu vào là một nội dung của công tác quản trị DN

Việc quản trị đúng đắn các yếu tố đầu vào sẽ giúp cho DN đảm bảo được hoạt

động của mình một cách bình thường, liên tục, không bị gián đoạn Với một đầu ra xác

định, việc quản lý khoa học, hợp lý các yếu tố đầu vào sẽ tạo cơ sở để DN tiết kiệm chi phí đầu vào từ đó tăng hiệu quả hoạt động của DN nói riêng, hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung

Những biểu hiện cụ thể của việc quản trị đúng đắn có hiệu quả các yếu tố đầu vào là:

- Đối với các yếu tố đầu vào là sức lao động: Đảm bảo bố trí, sử dụng lao động hợp lý, đầy đủ cả về số lượng và chất lượng phục vụ cho hoạt động KD của DN Nâng cao

ý thức, trách nhiệm của người lao động, kích thích thi đua trong lao động

- Đối với các yếu tố đầu vào là NLVL, hàng hóa: Đảm bảo số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách NLVL, hàng hóa cần thiết phục vụ SXKD một cách kịp thời, liên tục với chi phí dự trữ NLVL, hàng hoá hợp lý góp phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả KD của DN

- Đối với các yếu tố đầu vào là TSCĐ: Trang bị TSCĐ hợp lý, bảo quản tốt, sử dụng có hiệu quả phát huy tối đa năng lực phục vụ của TSCĐ trong DN, đổi mới kịp thời TSCĐ đáp ứng yêu cầu hoạt động của DN

1.2 Nhiệm vụ của kế toán trong việc phục vụ quản trị các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

Để quản trị DN có hiệu quả, nhà quản trị cần phải có những thông tin về DN Không thể thực hiện công việc quản trị DN khi không biết các thông tin về tình tài chính của DN như: tổng tài sản, tổng nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu chứ chưa nói đến việc quản trị có hiệu quả Do đó, thông tin đã được coi là một thứ "quyền lực" trong quản trị hiện đại Được coi là quyền lực, một nguồn lực, thông tin phải có giá trị Các tiêu thức để xác định

Trang 12

giá trị của thông tin bao gồm: chất lượng, sự phù hợp, khối lượng và tính kịp thời Tuy nhiên, không giống các nguồn lực vật chất, việc xác định giá trị của thông tin là một công việc không dễ dàng, bởi thông tin không có giá trị nội tại Giá trị của thông tin được xác định bởi chính những người sử dụng nó để ra quyết định Các nhà quản trị và các nhân viên thuộc tất cả các cấp và tất cả các lĩnh vực chuyên môn của DN đều có những nhu cầu thông tin khác nhau Có thể mô hình hóa thông tin mà nhà quản trị cần để phục vụ cho việc quản trị

DN bằng sơ đồ 1.2

Sơ đồ 1.2: Tiến trình xử lý, sử dụng thông tin phục vụ quản trị DN

Theo mô hình này để đưa ra các quyết định, nhà quản trị cần biết được các thông tin nên xuất hiện các nhu cầu về thông tin Để đáp ứng nhu cầu này đòi hỏi phải có các dữ liệu về thông tin theo nhu cầu của nhà quản trị Để có được các dữ liệu thông tin này cần

Quyết định

Các nhà quản trị

và nhân viên

quyết định

Yêu cầu về thông tin

Thu thập

dữ liệu

Xác định nhu cầu dữ

Các nguồn

dữ liệu bên trong và bên

Thành phần Hoạt độngDòng cung cấpDòng yêu cầu

Doanh nghiệp

Trang 13

có phải tiến hành thu thập dữ liệu Nguồn cung cấp dữ liệu có thể từ bên trong DN (dữ liệu

về tình hình hàng tồn kho, tình hình công nợ, lợi nhuận của DN), dữ liệu từ bên ngoài

DN (tình hình giá cả thị trường, tình hình về các đối thủ cạnh tranh, các chế độ chính sách

về quản lý kinh tế tài chính hiện hành ) Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được sẽ tiến hành việc xử lý và sắp xếp dữ liệu để trở thành ngân hàng dữ liệu của DN Các dữ liệu cần sử dụng sẽ trở thành thông tin và được phân tích, đánh giá để nhà quản trị đề ra được các quyết định quản trị đúng đắn

Từ mô hình trên chúng ta nhận thấy vai trò quan trọng của thông tin đối với công tác quản trị DN: Nhà quản trị không thể đề ra được các quyết định quản trị đúng đắn khi thiếu thông tin về hoạt động mà họ đang quản lý

Kế toán với tư cách là "khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản hay toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị" [1, tr 10] đã trở thành công cụ quan trọng phục vụ cho quản lý kinh

tế nói chung, quản trị trong các DN nói riêng Vai trò của kế toán được thể hiện ở chỗ: Kế toán là phân hệ thông tin kinh tế tài chính quan trọng, cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của DN để trên cơ sở đó những nhà quản trị DN có các quyết định đúng đắn để hoạt động của DN đạt hiệu quả cao

Đối với việc quản trị các yếu tố đầu vào, nhà quản trị cần rất nhiều thông tin do kế toán cung cấp, trong đó với đặc điểm là cung cấp thông tin chủ yếu cho việc quản trị nội

bộ DN, KTQT có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp các thông tin Vai trò đó được đảm bảo nhờ vào việc thực hiện các nhiệm vụ của KTQT các yếu tố đầu vào Các nhiệm vụ

Trang 14

- Cung cấp số liệu tài liệu phục vụ cho việc quản trị các yếu tố đầu vào ở DN, phục vụ cho công tác thống kê và thông tin kinh tế về các yếu tố đầu vào Đồng thời cung cấp các thông tin mang tính dự báo về tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào để phục vụ cho việc đề ra các quyết định về quản trị các yếu tố đầu vào

1.3 Tổ chức Kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong Doanh nghiệp

1.3.1 Sự xuất hiện của kế toán quản trị

Kế toán là một công cụ phục vụ cho yêu cầu quản lý, vì vậy khi yêu cầu quản lý thay đổi kế toán cũng phải có sự thay đổi phù hợp

Trong môi trường kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin trong công tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp lực của những thay đổi nhanh chóng về các mặt:

- Toàn cầu hóa nền kinh tế

- Sự mở rộng giao lưu kinh tế giữa các quốc gia

- Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các công ty trong nước, giữa các công ty ở các quốc gia khác nhau

- Sự tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật thúc đẩy sự tự động hóa ngày càng toàn diện trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh

- Sự ra đời ngày càng nhiều các công cụ quản lý, các chuyên ngành khoa học hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, công tác kế toán

Chính những điều này đã làm cho kế toán phát triển sâu rộng hơn về tính chất và đặc điểm thông tin cần phải cung cấp Kế toán không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mang tính nguyên tắc mà đòi hỏi phải linh hoạt, kịp thời, hữu ích Đồng thời, thông tin kế toán cũng phải đảm bảo tính ngắn gọn, nhanh chóng nhằm hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản trị trong môi trường kinh doanh mới [14, tr 10]

Trang 15

có các quyết định phù hợp

Như vậy có thể nói, chính môi trường và điều kiện KD là cơ sở khách quan cho sự

ra đời và phát triển của KTQT, tồn tại song hành với KTTC và trở thành một công cụ khoa học giúp cho các nhà quản trị nâng cao khả năng điều hành, quản lý tổ chức một cách có hiệu quả

1.3.2 Bản chất của kế toán quản trị

Từ khi KTQT xuất hiện cho tới nay, đã có nhiều cách phát biểu khác nhau về KTQT

Theo các nhà khoa học kế toán nước Cộng hòa Pháp:

- "Kế toán quản trị là một yếu tố của hệ thống thông tin phục vụ cho quản trị" [24,

tr 7]

- "Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán phục vụ cho nhà quản trị" [25, tr 18] và "Kế toán quản trị hướng tới hai mục đích chủ yếu: giúp cho nhà quản trị hiểu được tương lai và điều hành các vấn đề của hiện tại Để hiểu được tương lai, kế toán quản trị phải xây dựng được mối quan hệ giữa những mục tiêu mong muốn và các nguồn lực để đạt được mục tiêu đó" [24, tr 19]

Theo cách phát biểu này, KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp các thông tin kinh tế tài chính phục vụ cho việc thực hiện công tác quản trị tại đơn vị Mục tiêu của KTQT không chỉ là cung cấp các thông tin quá khứ về tình hình kinh tế tài chính của đơn

Trang 16

vị để phục vụ việc quản trị các hoạt động đang diễn ra mà còn cung cấp các thông tin mang tính dự báo về việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị trong tương lai

Theo các nhà khoa học kế toán Việt Nam:

- Theo các nhà khoa học kế toán của Học viện Tài chính: "Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp" [11, tr 11]

Theo cách phát biểu này KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động của DN nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của quản trị DN Như vậy quá trình KTQT có mối quan hệ chặt chẽ, gắn liền với quá trình thực hiện các chức năng của quản trị DN Có thể khái quát hai quá trình đó theo sơ đồ 1.3

Soạn thảo báo cáo thực hiện

Quá trình KTQTCác chức năng quản trị

Trang 17

Sơ đồ 1.3: Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị

và quá trình kế toán quản trị

Theo sơ đồ trên, sau khi nhà quản trị đề ra các mục tiêu của DN, KTQT sẽ hình thành các chỉ tiêu kinh tế về mục tiêu đó Căn cứ vào kế hoạch hoạt động của DN do nhà quản trị đưa ra trong từng giai đoạn và các chỉ tiêu kinh tế đã thiết lập, KTQT thực hiện việc lập dự toán chung và lập các dự toán chi tiết (dự toán về NLVL, lao động, vốn ) cho hoạt động của DN và như thế KTQT sẽ cung cấp các thông tin mang tính dự báo về hoạt động của DN Trong quá trình nhà quản trị tổ chức thực hiện các hoạt động của DN, KTQT phải tiến hành thu thập thông tin về các hoạt động đó và cung cấp cho nhà quản trị thông qua các báo cáo KTQT để nhà quản trị thực hiện việc kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và có các quyết định điều chỉnh kịp thời

- Theo các nhà khoa học kế toán của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: "Kế toán quản trị là chuyên ngành kế toán cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính

Trang 18

Trong thực tiễn công tác kế toán ở Việt Nam chúng tôi nhận thấy: KTQT được đề cập trong công tác nghiên cứu bắt đầu từ những năm 1990, còn trên thực tế cho đến năm

2003 vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào quy định về công tác KTQT Trong khi đó còn có quan điểm cho rằng: Kế toán chỉ là việc thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin

về các hoạt động kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành của đơn vị, thông tin

mà kế toán cung cấp chỉ là những thông tin thực hiện (quá khứ), mà không bao gồm các thông tin mang tính dự báo Theo quan điểm này, việc lập kế hoạch hoạt động của đơn vị

là một chức năng của quản trị DN và đã được thực hiện bởi các bộ phận chức năng khác trong đơn vị (bộ phận làm công tác kế hoạch) còn kế toán chỉ thu nhận và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính đã xảy ra để đối chiếu, kiểm tra tình hình thực hiện

kế hoạch mà thôi

Trang 19

Từ năm 1995, cùng với những thay đổi to lớn của cơ chế quản lý kinh tế tài chính

cả ở tầm vĩ mô cũng như vi mô, hệ thống kế toán Việt Nam đã có những cải cách cơ bản Một trong những nguyên tắc của việc cải cách hệ thống kế toán là dần tiếp cận với các thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế để kế toán Việt Nam hội nhập với kế toán quốc tế Với xu hướng đó, KTQT đã được các nhà nghiên cứu chú trọng hơn, đã được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học kinh tế và trong Luật Kế toán (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2004) KTQT đã chính thức được thừa nhận về mặt pháp lý: "Kế toán ở đơn vị kế toán gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị" - Điều 10 [3, tr 14] và: "Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán" - Điều 4, khoản 3 [3,

tr 9]

Từ việc xem xét quá trình hình thành KTQT và những quan điểm về KTQT, có thể rút ra bản chất của KTQT như sau:

Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công

cụ quan trọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp

Với bản chất đó có thể xác định KTQT trong các DN bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- KTQT các yếu tố đầu vào bao gồm: KTQT vật tư, hàng hóa; KTQT íTCĐ; KTQT lao động - tiền lương

- KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

- KTQT doanh thu - kết quả và phân phối kết quả

Trang 20

Để nghiên cứu những nội dung trên, KTQT đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán và các phương pháp kỹ thuật nghiệp

vụ khác

* Phương pháp chứng từ kế toán: Mục đích của phương pháp này thu thập thông tin

về các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị để có được những dữ liệu thông tin cần thiết cho quản trị DN Hình thức biểu hiện của phương pháp này là các bản chứng từ kế toán và chương trình luân chuyển chứng từ kế toán

Khi sử dụng phương pháp chứng từ kế toán để thu nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh, KTQT ngoài việc sử dụng các chứng từ bắt buộc (trong trường hợp Nhà nước quy định chứng từ bắt buộc), còn sử dụng rộng rãi hệ thống chứng từ hướng dẫn phản ánh các nghiệp vụ kinh tế trong nội bộ doanh DN Các chứng từ này do KTQT của DN vận dụng trên cơ sở hướng dẫn của Nhà nước hoặc tự thiết kế theo yêu cầu quản lý

cụ thể ở DN mình Việc thu thập, kiểm tra, xử lý và luân chuyển chứng từ cũng được xác lập theo cách riêng, nhằm đảm bảo cung cấp các thông tin cụ thể, nhanh chóng và thích hợp cho việc ra quyết định của quản trị

* Phương pháp tài khoản kế toán: Mục đích của phương pháp này là phân loại và

hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế để có được những thông tin mang tính thường xuyên, liên tục và có hệ thống phục vụ cho việc lập các báo cáo KTQT Hình thức biểu hiện của phương pháp này là các tài khoản kế toán và cách ghi chép trên tài khoản kế toán

Để hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phục vụ cho quản trị

DN, KTQT phải mở các tài khoản phục vụ yêu cầu quản trị đối với từng chỉ tiêu cụ thể Việc xây dựng hệ thống tài khoản phục cho KTQT phải dựa theo yêu cầu cụ thể của nhà quản trị Do đó, hệ thống tài khoản kế toán phục vụ cho KTQT không giống nhau giữa các

DN mà phụ thuộc vào những đặc điểm cơ bản sau:

- Phụ thuộc vào phạm vi, quy mô SXKD, loại hình DN

Trang 21

- Phụ thuộc vào tổ chức quá trình SXKD và tổ chức quản lý SXKD, mức độ phân cấp quản lý nội bộ DN

- Phụ thuộc vào yêu cầu và trình độ của cán bộ quản lý

- Phụ thuộc trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ kế toán trình độ trang bị và sử dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán, ghi chép của kế toán

* Phương pháp tính giá: Mục đích của phương pháp này là xác định trị giá thực tế

của tài sản bằng thước đo tiền tệ theo những nguyên tắc nhất định Hình thức biểu hiện của phương pháp này là các sổ tính giá và trình tự tính giá

Trong KTTC, phương pháp tính giá được vận dụng theo nguyên tắc, chuẩn mực quy định thống nhất của mỗi quốc gia để trình bày các thông tin trên báo cáo tài chính một cách thống nhất Đối với KTQT, việc tính giá các loại tài sản mang tính linh hoạt cao hơn

và gắn với mục đích sử dụng các thông tin về giá theo yêu cầu quản trị DN Các tài liệu để tính giá không chỉ căn cứ vào các chi phí thực tế đã phát sinh mà còn dựa vào sự phân loại các chi phí thích hợp cho từng quyết định cá biệt theo yêu cầu quản lý đặc thù của DN Như vậy phạm vi, nội dung của chi phí trong giá phí của KTQT có thể không giống, thậm chí còn có sự khác biệt so với KTTC

* Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán: Mục đích của phương pháp này là

cung cấp các thông tin cho đối tượng sử dụng thông tin kế toán Hình thức biểu hiện của phương pháp này là hệ thống các bảng tổng hợp - cân đối kế toán (các báo cáo kế toán)

Báo cáo kế toán của KTQT là các bảng tổng hợp - cân đối bộ phận Các báo cáo này còn được gọi là báo cáo kế toán nội bộ được lập theo kỳ hạn ngắn hơn các báo cáo tài chính Ngoài các chỉ tiêu về tiền tệ, các bảng tổng hợp - cân đối bộ phận còn sử dụng rộng rãi các thước đo về hiện vật và thời gian lao động Đồng thời, ngoài các bảng tổng hợp - cân đối kế toán trình bày các chỉ tiêu quá khứ, chỉ tiêu đã thực hiện, kế toán còn thiết lập các bảng tổng hợp - cân đối trình bày các chỉ tiêu trong dự toán, trong kế hoạch, các chỉ tiêu giữa nhu cầu tài chính và nguồn tài trợ, giữa yêu cầu KD và các nguồn lực được huy động

Trang 22

Báo cáo KTQT có một số điểm khác biệt với báo cáo KTTC:

+ Về kỳ hạn: Báo cáo KTQT có kỳ hạn ngắn hơn báo cáo KTTC nhằm đáp ứng kịp thời thông tin cho nhà quản trị DN

+ Về tính pháp lý: Báo cáo KTTC mang tính pháp lệnh, bắt buộc còn báo cáo KTQT là loại báo cáo kế toán riêng có phục vụ cho quản trị từng DN nên không mang tính bắt buộc

+ Về phạm vi: Báo cáo KTTC được lập cho toàn DN còn báo cáo KTQT không chỉ lập cho toàn DN mà cả cho từng bộ phận, từng loại công việc, từng khâu công việc tùy thuộc vào yêu cầu của nhà quản trị

* Các phương pháp khác: Thông tin của KTQT chủ yếu nhằm phục vụ cho việc ra

quyết định của các nhà quản trị DN, các nhu cầu về thông tin của nhà quản trị rất đa dạng và phong phú cho nên trong một số trường hợp để có được các thông tin mà nhà quản trị mong muốn (ví dụ các thông tin dự báo như: sản lượng tiêu thụ trong tương lai, số NLVL cần sử dụng trong kỳ tới ) KTQT phải vận dụng một số phương pháp nghiệp vụ của các môn khoa học khác như:

+ Phương pháp hồi quy của kinh tế lượng: Căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc giữa các yếu tố của quá trình KD của DN như: số lượng sản phẩm (SP) và số chi phí phải bỏ ra (chi phí về NLVL, về sức lao động ) để SX lượng SP đó, thông qua số liệu thống kê của các thời kỳ để xây dựng hàm số hồi quy biểu hiện mối quan hệ đó Từ hàm này, khi biết được một yếu tố sẽ tính toán dự báo được các yếu tố còn lại

+ Các phương pháp của kinh tế học vi mô: Phương pháp xác định điểm hòa vốn, phương pháp tìm hiểu sự thay đổi của giá cả có tác động như thế nào đến nhu cầu về SP của

DN trên thị trường để xác định chỉ tiêu số lượng SP cần SX

+ Các phương pháp của toán xác suất, của thống kê: được sử dụng để ước lượng

số SP sẽ được tiêu thụ trong kỳ tới

1.3.3 Các quan điểm về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Trang 23

Tổ chức KTQT khoa học và hợp lý sẽ đảm bảo cung cấp thông tin có chất lượng, đáng tin cậy, kịp thời và đảm bảo tiết kiệm chi phí, nói cách khác là đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị trên cơ sở đảm bảo tính hiệu quả của công tác kế toán Có hai quan điểm chủ yếu về việc tổ chức KTQT

* Quan điểm thứ nhất: Tổ chức KTQT kết hợp chặt chẽ với KTTC trong cùng

một bộ máy

Theo quan điểm này, việc thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin của KTQT và KTTC được tiến hành trên cơ sở của cùng một hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán chỉ khác là thông tin tổng quát và thông tin chi tiết Thông tin do KTTC cung cấp chủ yếu là các thông tin tổng quát và một số thông tin chi tiết để phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin ở bên ngoài DN, các thông tin này đều là các thông tin thực hiện (về các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và hoàn thành) Thông tin do KTQT thu nhận, xử

lý và cung cấp phục vụ cho các quản trị DN và nó không chỉ là các thông tin thực hiện mà còn có cả các thông tin dự báo để phục vụ cho việc ra các quyết định trong tương lai Để có được các thông tin này, KTQT tiến hành mở các sổ kế toán của các tài khoản chi tiết (theo từng cấp cần thiết) trong hệ thống tài khoản sử dụng cho KTTC để thu nhận, hệ thống hóa các thông tin thực hiện, đồng thời mở các sổ kế toán chi tiết khác để thu nhận, hệ thống hóa các thông tin dự báo; xác định nội dung, phương pháp ghi chép, phản ánh trên các sổ kế toán

đó cho phù hợp với việc xử lý và cung cấp thông tin phục vụ quản trị Khi lập báo cáo KTQT để cung cấp các thông tin cụ thể chi tiết theo yêu cầu quản lý cán bộ kế toán sẽ tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán đã mở theo các chỉ tiêu trong các báo cáo KTQT

Cách tổ chức theo quan điểm này giúp cho bộ máy kế toán DN được tổ chức thống nhất, bao gồm các bộ phận kế toán theo các phần hành công việc kế toán Mỗi phần hành

kế toán đều thực hiện cả công việc KTTC và KTQT nên có thể kết hợp giữa quản lý tổng hợp và quản lý chi tiết từng chỉ tiêu, thuận tiện cho việc phân công chuyên môn hóa và có điều kiện quản lý chặt chẽ khối lượng công việc của nhân viên kế toán, thuận lợi cơ giới hóa công tác kế toán, tạo điều kiện tiết kiệm thời gian và chi phí trong công tác kế toán Đồng thời, cách tổ chức này đòi hỏi người tổ chức phân công công việc phải xác định rõ

Trang 24

công việc của KTTC và KTQT trong từng phần hành, tức là xác định rõ phần việc kế toán nào, loại thông tin nào cần cho việc lập báo cáo KTTC và phần việc nào, loại thông tin nào phục vụ lập các báo cáo KTQT; đòi hỏi nhân viên kế toán cần hiểu rõ công việc KTTC và KTQT

Quan điểm thứ hai: Tổ chức KTQT độc lập với KTTC

Theo quan điểm này, KTQT và KTTC được tổ chức tách biệt với nhau ở bộ phận kế toán phân công các cán bộ thực hiện riêng nội dung công việc của KTQT Việc thu nhận thông tin vẫn được thực hiện trên cùng một hệ thống chứng từ nhung việc xử lý và cung cấp thông tin của KTQT và KTTC được tiến hành tách biệt KTQT sử dụng hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống sổ kế toán riêng biệt với KTTC

Các tài khoản trong hệ thống tài khoản sử dụng cho KTQT được phân loại và quy định phương pháp ghi chép phản ánh phù hợp những nội dung cơ bản của KTQT, nhằm tạo ra sự phối hợp cung cấp thông tin phục vụ quản lý

Tổ chức KTQT theo quan điểm này tạo điều kiện chuyên môn hóa KTQT nên thông tin được cung cấp đầy đủ kịp thời theo yêu cầu quản trị Tuy nhiên sẽ tốn kém thời gian và chi phí hơn vì phải tăng thêm trong khâu luân chuyển, xử lý chứng từ kế toán

1.3.4 Nội dung tổ chức công tác kế toán quản trị các yếu tố đầu vào

Quản trị các yếu tố đầu vào của DN là một công việc không thể thiếu trong công tác quản trị DN Để phục vụ cho công tác này, KTQT phải tiến hành thực hiện nhiều nội dung công việc Các nội dung này xuất phát từ:

- Nhu cầu về thông tin của nhà quản trị đối với việc quản trị các yếu tố đầu vào của DN

Các nhà quản trị cần những thông tin phục vụ cho việc thực hiện các phương pháp, biện pháp quản trị cụ thể mà họ đang áp dụng đối với việc quản trị các yếu tố đầu vào của

DN và do đó phụ thuộc vào nội dung cụ thể của các phương pháp quản trị tác nghiệp ở

DN

Trang 25

dù áp dụng phương pháp quản trị nào thì đều nhằm thực hiện các chức năng của quản trị đối với việc quản trị yếu tố đầu vào đó là: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá

Do đó, theo chức năng quản lý, nội dung công tác KTQT các yếu tố đầu vào bao gồm:

1.3.4.1 Thiết lập hệ thống chỉ tiêu quản trị các yếu tố đầu vào

Đây là công việc đầu tiên mà KTQT phải tiến hành Việc xác định hệ thống các chỉ tiêu về các yếu tố đầu vào phụ thuộc vào nội dung của các yếu tố đầu vào của DN

Thông thường các chỉ tiêu này bao gồm:

- Các chỉ tiêu về yếu tố đầu vào là vật tư, hàng hóa bao gồm: Số lượng, chủng loại, quy cách các loại vật tư, hàng hóa chủ yếu dự trữ cho cho hoạt động của DN (mức dự trữ tối đa, tối thiểu, bình quân)

- Các chỉ tiêu về yếu tố đầu vào là lao động bao gồm: chỉ tiêu về số lượng lao động, cơ cấu lực lượng lao động, chỉ tiêu về sử dụng ngày công lao động, chỉ tiêu về năng suất lao động

- Các chỉ tiêu về yếu tố đầu vào là TSCĐ bao gồm: Cơ cấu TSCĐ (TSCĐ dùng cho SXKD, TSCĐ hành chính sự nghiệp, TSCĐ phúc lợi, TSCĐ chờ xử lý); số TSCĐ cần trang

bị hay đưa vào sử dụng; tình trạng kỹ thuật của TSCĐ

1.3.4.2 Lập dự toán các yếu tố đầu vào

Trên cơ sở các chỉ tiêu cụ thể đã xác định trong hệ thống chỉ tiêu và kế hoạch SXKD được lập, KTQT tiến hành lập dự toán các yếu tố đầu vào Dự toán được xác định

Trang 26

theo từng giai đoạn (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) Các yếu tố đầu vào phục vụ cho việc tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của DN (đầu ra), vì vậy dự toán về các yếu tố đầu vào một mặt phụ thuộc vào dự toán đầu ra (kế hoạch SX, bán hàng hay cung cấp dịch vụ của DN) một mặt phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động của DN như: lĩnh vực hoạt động (SX hay thương mại); đặc điểm quy trình công nghệ (SX liên tục, gián đoạn hoặc SX theo dự án); kết cấu và đặc điểm chế tạo sản phẩm: (lắp ráp, phân tích hoặc hỗn hợp); quá trình SX (đơn chiếc hay hàng loạt) v.v

- Đối với yếu tố đầu vào về vật tư, hàng hóa: Dự toán về yếu tố này phụ thuộc vào phương pháp quản trị hàng tồn kho mà DN áp dụng

+ Nếu DN áp dụng phương pháp dự trữ bình quân thì dự toán là: Mức dự trữ bình quân, chi phí dự trữ bình quân, số lượng nhập hàng cần thiết trong từng giai đoạn

+ Nếu DN áp dụng phương pháp xác định nhu cầu hàng tồn kho theo từng thời điểm thì dự toán là: Tồng nhu cầu về NLVL (hoặc hàng hóa), thời điểm nhập hàng và số lượng hàng cần nhập

- Đối với yếu tố đầu vào là lao động: Dự toán các yếu tố là lao động phụ thuộc vào biện pháp quản trị lao động mà DN áp dụng

+ DN sử dụng biện pháp sử dụng thêm lao động thuê ngoài thì dự toán là số lao động trong biên chế và số lao động cần thuê ngoài

+ DN áp dụng biện pháp làm thêm giờ của số lao động trong biên chế thì dự toán

là số giờ lao động làm thêm

- Đối với yếu tố đầu vào là TSCĐ: Dự toán về năng lực hoạt động của số TSCĐ hiện có của DN; về số TSCĐ cần mua mới hoặc thuê ngoài để đáp ứng nhu cầu SXKD

Các dự toán trên được lập một cách cụ thể đối với một kế hoạch SX (hay bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ) cũng như các biện pháp quản trị tác nghiệp cụ thể mà DN áp dụng trong từng giai đoạn đối với mỗi yếu tố đó

1.3.4.3 Tổ chức thu nhận và kiểm tra thông tin về các yếu tố đầu vào theo các chỉ tiêu đã xây dựng

Trang 27

Để thu nhận được các thông tin về yếu tố đầu vào theo các chỉ tiêu và dự toán đã xây dựng KTQT cần phải tổ chức hạch toán ban đầu và sử dụng phương pháp chứng từ kế toán

Hạch toán ban đầu là công việc khởi đầu của quy trình hạch toán kế toán nên nó quyết định chất lượng của thông tin kế toán Việc hạch toán ban đầu bao gồm: quy định các mẫu chứng từ ban đầu sử dụng và quy định người ghi chép vào chứng từ về các các yếu tố đầu vào

KTQT phải quy định các mẫu chứng từ thích hợp đối với từng loại nghiệp vụ kinh

tế, tài chính về các yếu tố đầu vào ở DN để có thể ghi nhận được đầy đủ thông tin về chúng Ngay từ đầu, khi thiết kế các mẫu chứng từ phục vụ cho KTQT các yếu tố đầu vào phải đảm bảo phản ánh đầy đủ các yếu tố, các nội dung theo từng phương pháp quản trị tác nghiệp các yếu tố đầu vào mà DN đang áp dụng Điều này đòi hỏi nhân viên kế toán phải có kiến thức về quản trị tác nghiệp hoặc phải tham khảo ý kiến của các nhân viên quản trị trong DN

Tiếp theo, cần quy định và hướng dẫn các bộ phận, cá nhân ghi nhận thông tin của từng loại nghiệp vụ kinh tế, tài chính về các các yếu tố đầu vào phản ánh vào chứng từ (lập chứng từ) Vì việc ghi chép vào chứng từ không phải hoàn toàn do nhân viên kế toán thực hiện

mà chủ yếu do những người làm việc ở các bộ phận khác nhau trong DN, nơi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh ban đầu thực hiện, nên phải quy định rõ cách ghi nhận thông tin vào từng loại chứng từ sao cho hợp lý, hợp lệ, phải ghi đầy đủ các yếu tố trên chứng từ, đảm bảo kiểm tra, kiểm soát được nội dung các nghiệp vụ kinh tế tài chính phản ánh trong chứng từ

Sau đó, phải tổ chức luân chuyển chứng từ khoa học, hợp lý tùy theo yêu cầu tiếp nhận thông tin của các bộ phận liên quan trong DN, giúp các bộ phận này có thể kiểm tra

và ghi chép (hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê) và bộ phận kế toán thu nhận, kiểm tra và ghi sổ kế toán được kịp thời, tránh trùng lắp, bỏ sót nghiệp vụ

Tại bộ phận kế toán khi nhận được chứng từ thực hiện việc kiểm tra tính hợp lệ, hợp

lý và hợp thức của chứng từ Đây là bước công việc hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng của toàn bộ công tác KTQT các yếu tố đầu vào

Trang 28

Công việc tiếp theo phải tiến hành là hoàn thiện chứng từ, đặc biệt là đối với những nội dung liên quan đến việc xử lý, hệ thống hóa và lập báo cáo KTQT các yếu tố đầu vào sau này thì kế toán càng phải quan tâm hơn vì thông thường các nội dung này chỉ

có kế toán và nhà quản trị tác nghiệp hiểu rõ

Sau khi sử dụng chứng từ, cần phải thực hiện đúng chế độ bảo quản và lưu trữ chứng từ để có thể sử dụng lại sau này

1.3.4.4 Tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin về các yếu tố đầu vào

Trên cơ sở số liệu của chứng từ kế toán đã thu thập được và nhu cầu thông tin cần cung cấp cho nhà quản trị, KTQT tiến hành hệ thống hóa và xử lý thông tin về các yếu tố đầu vào

Các thông tin KTQT cần hệ thống hóa và xử lý có thể chia thành hai loại

* Thông tin quá khứ: Đối với các thông tin này, trên cơ sở số liệu của các chứng từ

kế toán về các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành, KTQT tiến hành vận dụng phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá và sử dụng hệ thống

sổ kế toán đã xây dựng Cụ thể như sau:

- Đối với các chỉ tiêu mà đã được phản ánh trên các tài khoản thuộc KTTC (cả tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết) nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu quản trị của DN thì tiến hành mở thêm các tài khoản chi tiết cho phù hợp

- Thiết kế các mẫu sổ kế toán để phản ánh các chỉ tiêu của KTQT một cách phù hợp vì trên thực tế tài khoản kế toán là tờ sổ kế toán cho nên ngoài việc mở tài khoản phải thiết kế cả mẫu sổ của những tài khoản mới mở cũng như cải tiến các mẫu sổ của các tài khoản đã có cho phù hợp

- Khi áp dụng phương pháp tính giá KTQT tiến hành xây dựng hệ thống các sổ (bảng) tính giá đối với một số đối tượng tính giá nhằm phục vụ cho quản trị cụ thể của DN Trên các sổ này phải nêu rõ các chi phí cấu thành giá của đối tượng tính giá (các chi phí cấu thành giá này hoàn toàn do nhu cầu về quản trị tác nghiệp của nhà quản trị quy định

Trang 29

mà không phụ thuộc vào chế độ kế toán hiện hành) và trình tự tính giá đối với từng đối tượng

Hệ thống sổ KTQT các yếu tố đầu vào phải đảm bảo hệ thống hóa được thông tin

về các các yếu tố đầu vào của DN để lập nên các báo cáo KTQT nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà quản trị các cấp một cách kịp thời Vì vậy, việc xây dựng thiết kế mẫu sổ cũng như việc ghi chép trên sổ phải đáp ứng được những yêu cầu cụ thể sau:

+ Phải đảm bảo quan hệ giữa ghi sổ kế toán tổng hợp với sổ kế toán chi tiết về các các yếu tố đầu vào để đảm bảo mối quan hệ cân đối giữa các chỉ tiêu kinh tế - tài chính tổng hợp (phản ánh ở các tài khoản cấp I) với các chi tiết của chỉ tiêu đó (phản ánh ở các tài khoản chi tiết cấp II, III, IV )

+ Phải đảm bảo quan hệ kiểm tra, đối chiếu số liệu trên các sổ kế toán nhằm đảm bảo tính chính xác trong quá trình hệ thống hóa thông tin kế toán từ các chứng từ kế toán

về các các yếu tố đầu vào

+ Phải đảm bảo mối quan hệ giữa việc ghi sổ theo thứ tự thời gian với việc ghi sổ phân loại theo hệ thống về các yếu tố đầu vào

* Thông tin tương lai: KTQT cần hệ thống hóa các thông tin tương lai về các yếu

tố đầu vào trên cơ sở kế hoạch SXKD của DN trong tương lai, trên cơ sở dự báo sự biến động của môi trường KD như:

+ Sự thay đổi về thị trường các yếu tố đầu vào như giá cả, nguồn cung cấp, sự xuất hiện của các loại NLVL mới

+ Sự thay đổi về đầu ra của đơn vị: Lượng sản phẩm tiêu thụ, thị trường tiêu thụ + Những tác động ảnh hưởng từ việc thay đổi chế độ quản lý kinh tế tài chính

Trên cơ sở dự báo về những sự biến động trên, KTQT hệ thống hóa các thông tin tương lai về các yếu tố đầu vào bằng các phương pháp nghiệp vụ khác: phương pháp hồi quy của kinh tế lượng, các phương pháp của kinh tế học vi mô, của thống kê, của xác suất Việc trình bày các thông tin tương lai được thể hiện ngay trên các sổ KTQT hoặc trên các báo cáo KTQT

Trang 30

1.3.4.5 Tổ chức cung cấp thông tin về các yếu tố đầu vào phục vụ cho việc ra quyết định

Kết quả công việc của KTQT được thể hiện ở các bảng tổng hợp - cân đối kế toán

mà KTQT cung cấp Để cung cấp thông tin, KTQT vận dụng phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán Thông qua các báo cáo của KTQT về các yếu tố đầu vào để cung cấp các thông tin cần thiết cho nhà quản trị Các báo cáo này còn được gọi là báo cáo kế toán nội

bộ được lập theo kỳ hạn ngắn hơn các báo cáo tài chính Ngoài các chỉ tiêu về tiền tệ, các báo cáo kế toán nội bộ còn sử dụng rộng rãi các thước đo về hiện vật và thời gian lao động Ngoài các báo cáo KTQT về các chỉ tiêu quá khứ, chỉ tiêu đã thực hiện, KTQT còn thiết lập các báo cáo dự toán về các yếu tố đầu vào Để thuận tiện cho nhà quản trị trong quá trình sử dụng báo cáo, thông thường kết cấu mẫu biểu các báo cáo này thường có các cột

"kế hoạch" hoặc "kỳ trước" để đối chiếu với kế hoạch, với kỳ trước tình hình thực hiện các chỉ tiêu đó Ví dụ như:

+ Báo cáo tình hình tăng, giảm và sử dụng TSCĐ: Cung cấp các chỉ tiêu phản ánh tình hình tăng, giảm và sử dụng TSCĐ của DN để đối chiếu với kế hoạch mua sắm, thanh

lý, nhượng bán và kế hoạch sử dụng TSCĐ của đơn vị

+ Báo cáo tình hình đảm bảo NLVL cho SX: Cung cấp các chỉ tiêu phản ánh số NLVL tồn đầu kỳ, nhập trong kỳ, xuất trong kỳ và tồn cuối kỳ phục vụ SX để đối chiếu với kế hoạch đảm bảo NLVL về mặt số lượng

+ Báo cáo tình hình lao động trực tiếp SX: Cung cấp chỉ tiêu phản ánh số lượng lao động thường xuyên, số lượng lao động thuê ngoài, số lượng lao động đảm bảo cho SX

để đối chiếu với kế hoạch

Tóm lại, trong chương 1, luận văn đã trình bày khái quát những vấn đề lý luận cơ

bản về tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong DN Luận văn đã nêu rõ khái niệm, vai trò, chức năng và mục đích của KTQT

Những nội dung trình bày trong chương 1 sẽ là nền tảng cho việc nghiên cứu, tìm hiểu tình hình thực tế về tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào và đề xuất những biện pháp

Trang 31

nhằm hoàn thiện công tác tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN Việt Nam hiện nay

Trang 32

Chương 2

Thực trạng tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước

ở Việt Nam hiện nay

2.1 Quá trình phát triển và vai trò của các Doanh Nghiệp Nhà Nước ở Việt Nam

Sau khi giành được độc lập (2/9/1945), nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ bắt tay vào xây dựng đất nước, nhưng đến tháng 12/1946 thực dân Pháp quay lại đánh chiếm nước ta một lần nữa Cả nước phải trải qua 9 năm kháng chiến trường kỳ, cuối cùng giành thắng lợi bằng chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) Trong những năm chiến tranh, các công xưởng, nhà máy nhỏ ở các vùng căn cứ kháng chiến chủ yếu chỉ SX các vũ khí phục vụ cho cuộc kháng chiến Sau khi chiến tranh kết thúc, Chính phủ cùng toàn dân bắt đầu công cuộc xây dựng đất nước và lúc này các DNNN bắt đầu hình thành với tên gọi ban đầu là các Xí nghiệp, Nhà máy, Nông trường quốc doanh

Từ khi hình thành đến nay, DNNN ở Việt Nam luôn được coi là xương sống của nền kinh tế quốc dân, có vai trò chủ đạo và ảnh hưởng trực tiếp đến sự hưng thịnh hay suy yếu của nền kinh tế

Quá trình phát triển của DNNN Việt Nam, có thể được tóm tắt qua các giai đoạn chủ yếu như sau:

* Giai đoạn 1955 - 1960

Chính phủ tiến hành khôi phục và cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế ở miền Bắc Thực hiện việc công tư hợp doanh các DN tư bản tư nhân ở các vùng bị tạm chiếm trước đây; tiến hành tiếp quản các DN sản xuất lớn như: Nhà máy Xi măng Hải Phòng, Nhà máy Dệt Nam Định, các mỏ than ở Quảng Ninh ; chuyển các công xưởng, nhà máy ở từ các vùng kháng chiến trở về

Trang 33

Trong giai đoạn này, DNNN hình thành và phát triển chủ yếu trong các ngành công nghiệp, tiếp đến là thương mại, giao thông vận tải và dịch vụ bưu chính viễn thông DNNN gần như chi phối tuyệt đối về số lượng DN, lực lượng lao động cũng như giá trị tổng sản lượng trong các ngành công nghiệp chủ yếu

* Giai đoạn 1960 - 1975

Giai đoạn này đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước

ở miền Bắc bắt tay vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, hàng loạt các DNNN đã được hình thành và đi vào hoạt động như các xí nghiệp ở khu công nghiệp Việt Trì, khu gang thép Thái Nguyên Các DNNN hoàn toàn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và nắm độc quyền trong các lĩnh vực điện lực, khai thác và chế biến nhiên liệu, luyện kim đen, luyện kim màu, cơ khí, hóa chất, vật liệu xây dựng, khai thác chế biến gỗ, thủy tinh, sành sứ, dệt, da, may, nhuộm, thực phẩm, in và văn hóa phẩm

Hoạt động của các DNNN trong giai đoạn này dưới sự chỉ đạo có kế hoạch của Nhà nước, DNNN chủ yếu tập trung vào quản lý các hoạt động SXKD trong phạm vi nội

bộ DN còn "đầu vào" và "đầu ra" của DN hoàn toàn tuân theo sự quản lý của Nhà nước

* Giai đoạn từ 1976 - 1986

Sau khi giành được thống nhất đất nước (30/4/1975), Nhà nước bắt tay vào tiếp quản, cải tạo xã hội chủ nghĩa các DN tư bản tư nhân ở miền Nam và tiếp tục xây dựng mới các DNNN trên phạm vi cả nước Số lượng DNNN trong các ngành công nghiệp và công nghiệp địa phương vẫn chiếm vị trí hàng đầu DNNN vẫn chiếm vai trò chủ đạo trong toàn

bộ nền kinh tế quốc dân

Trong giai đoạn này, tư tưởng chỉ đạo của các chính sách và giải pháp phát triển

hệ thống DNNN chưa có sự thay đổi so với giai đoạn trước, Nhà nước vẫn tiếp tục quản lý các DNNN theo cơ chế tập trung bao cấp như trước đây chính vì vậy sự phát triển của DNNN đã không được như mong muốn Ngoài lý do về cơ chế quản lý, còn có hàng loạt

Trang 34

các lý do khách quan như: đất nước mới thoát ra khỏi hơn 30 năm chiến tranh, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế còn quá lạc hậu, không còn nhận được

sự giúp đỡ của các nước anh em như trước

* Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay

Trước những khó khăn trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung, của các DNNN nói riêng, Nhà nước có chủ trương củng cố về chất lượng khu vực kinh tế quốc doanh thông qua việc thực hiện nhiều cuộc cải cách lớn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhằm phát triển DNNN theo cơ chế thị trường

Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ: "Phải đổi mới cơ chế quản lý, đảm bảo cho các đơn vị kinh tế quốc doanh có quyền tự chủ, thực sự chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, lập lại trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế"

Quyết định 217/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 14/11/1987

đã đề ra qui chế mới đối với việc quản lý DNNN theo hướng hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường đã bước đầu thay thế cho cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung trước

đó Tuy nhiên, những thay đổi đó bước đầu mới mang tính chất thử nghiệm, hiệu quả mang lại mới ở một mức độ nhất định, phải tới đầu những năm 1990, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII sự thay đổi về cơ chế quản lý nền kinh tế nói chung, thay đổi quản lý đối với các DNNN nói riêng mới thực sự mạnh mẽ

Theo Nghị định số 388/HĐBT, năm 1992 - 1993 đã thực hiện việc chỉnh đốn, sắp xếp và đăng ký lại các DNNN, chấm dứt tình trạng tự phát, tùy tiện thành lập và giải thể DNNN, đảm bảo cho các DNNN hoạt động bình đẳng như các loại hình DN khác Đồng thời, việc đăng ký lại toàn bộ DNNN đã tạo điều kiện cải tiến quản lý DNNN theo đòi hỏi cao hơn của thời kỳ đổi mới

Năm 1994, Chính phủ ban hành Quyết định số 90/TTg và 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ 4-1994 đã hình thành các Tổng công ty 90 (vốn pháp định từ 100 tỷ đến 500 tỷ VNĐ) và Tổng công ty 91 (vốn pháp định trên 500 tỷ VNĐ), thể hiện Nhà nước luôn quan

Trang 35

tâm đến việc thực hiện tập trung hóa và tích tụ vốn trong các DNNN để nâng cao qui mô

và năng lực sản xuất của DNNN

Tháng 5/1995, Luật DNNN được ban hành, cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý DNNN và DNNN từng bước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật; Chỉ thị 500/TTg của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục sắp xếp tổng thể các DNNN, chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần theo Nghị định 28/CP, đưa các DNNN đi vào hoạt động theo Luật DNNN, xóa bỏ dần chế độ chủ quản của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp của các DNNN nhằm tạo thế chủ động trong SXKD cho các DNNN

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), từ giữa năm 1998 đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 20/1998/CT-TTg

về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới DNNN Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về việc chuyển DNNN thành Công ty cổ phần và Nghị định số 103/1999/NĐ-CP về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN càng chứng tỏ sự quan tâm của Chính phủ đến việc đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả SXKD trong các DNNN trong giai đoạn hiện nay

Ngày 26/11/2003 Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp nhà nước thay thế Luật DNNN năm 1995, trong đó quy định ở Điều 1: "Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế

do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn" Điều này cho thấy quan niệm về DNNN đã có những thay đổi cơ bản Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước mới, DNNN gồm:

- DN có 100% vốn nhà nước tổ chức, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, gọi là công ty nhà nước

- DN có 100% vốn nhà nước tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn

- DN có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước, tổ chức, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các điều luật khác liên quan

Trang 36

Như vậy, từ khi ra đời và trong suốt quá trình phát triển đến nay, DNNN luôn chiếm vị trí quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế Việt Nam và là trọng tâm điều hành và quản lý của Nhà nước trong các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Hệ thống DNNN Việt Nam đã và đang đảm nhiệm những vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, đó là:

* DNNN đã phát huy tốt vai trò trong việc đảm bảo yêu cầu của đất nước trong các giai đoạn lịch sử như phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu, góp phần ổn định đời sống nhân dân, ổn định và phát triển nền kinh tế

* DNNN đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, hình thành đòn bẩy thu hút và khuyến khích các thành phần kinh tế khác cạnh tranh phát triển, phát huy sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế

* DNNN là công cụ vật chất để nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

* DNNN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội và ổn định chính trị - xã hội, góp phần cùng với các khu vực kinh tế khác giải quyết các vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, xóa đói, giảm nghèo

2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế toán trong các doanh nghiệp nhà nước hiện nay

Để điều hành hoạt động một cách có hiệu quả, các DNNN đều tổ chức một bộ máy quản lý nhằm thực hiện các chức năng quản lý

Qua khảo sát mô hình bộ máy tổ chức quản lý một số DNNN như Công ty Thức

ăn chăn nuôi Trung ương, Công ty Vật liệu xây dựng và Xây lắp (thuộc Tổng công ty Xây dựng và Phát triển nông thôn), Công ty May 20 (Tổng cục Hậu cần - Bộ Quốc phòng) (Phụ lục 1, 2, 3), chúng tôi nhận thấy: Trong mỗi mô hình tổ chức bộ máy quản lý đều có các bộ phận để thực hiện các chức năng, công việc của quản lý Tuy nhiên, việc sắp xếp, bố trí, lắp ghép các bộ phận chức năng khác nhau vào cùng một bộ phận có sự khác nhau Công ty

Trang 37

: Quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo

Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý trong DNNN

Trong mô hình này, các bộ phận có chức năng cụ thể là:

- Ban lãnh đạo: Chịu trách nhiệm chung về toàn bộ hoạt động của DNNN, đưa ra các chiến lược SXKD cụ thể trong từng giai đoạn, điều hành, kiểm tra việc thực hiện các chiến lược đó

Bộ phận chức năng khác

Các bộ phận khác: sản

xuất, bán hàng, dịch vụ

Trang 38

- Bộ phận tổ chức, hành chính, lao động tiền lương: Chịu trách nhiệm quản lý nhân sự của đơn vị, thực hiện việc bố trí và sắp xếp cán bộ, đào tạo và phân công lao động cho phù hợp với công việc, thanh toán chế độ cho người lao động theo chính sách của Nhà nước và quy chế của đơn vị, theo dõi các hợp đồng lao động, lập kế hoạch về lao động của đơn vị

- Bộ phận kế hoạch, kinh doanh: Chịu trách nhiệm lập các kế hoạch KD của đơn vị trong từng giai đoạn (tháng, quý, năm), xây dựng các kế hoạch chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, kế hoạch tiêu thụ, tìm kiếm thị trường, ký kết các hợp động kinh tế giữa DNNN với các chủ thể khác

- Bộ phận vật tư: Lập và thực hiện kế hoạch cung ứng vật tư, hàng hóa theo từng giai đoạn, căn cứ vào tình hình tồn kho thực tế, định mức tiêu hao vật tư để lập kế hoạch thu mua, theo dõi, quản lý việc cung ứng, sử dụng vật tư trong đơn vị

- Bộ phận kỹ thuật: Phụ trách việc thiết kế, chế tạo, cải tiến sản phẩm, nhận chuyển giao công nghệ, cung cấp các định mức kinh tế kỹ thuật, kiểm tra đôn đốc quá trình SX, kiểm tra chất lượng của các SP

- Bộ phận chức năng khác: Tùy thuộc vào quy mô hoạt động của DNNN mà có thể

tổ chức thêm các bộ phận chức năng khác như bộ phận tiếp thị, bộ phận xuất nhập khẩu

- Các tổ, đội, phân xưởng, cửa hàng : Thực hiện các hoạt động SX, bán hàng

- Bộ phận tài chính kế toán: Đặc điểm của việc tổ chức bộ máy kế toán trong các DNNN là bộ máy kế toán kiêm luôn công việc tài vụ và thống kê Chức năng của bộ phận này ngoài việc ghi chép, phản ánh toàn bộ các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị, chấp hành các chế độ hạch toán của Nhà nước, lập báo cáo kế toán theo quy định để cung cấp các thông tin phục vụ cho việc quản lý các hoạt động của đơn vị còn thực hiện luôn công việc xây dựng kế hoạch nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu về vốn KD của đơn vị

Tùy thuộc chính sách chế độ về quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước, phụ thuộc vào đặc điểm, quy mô, tính chất hoạt động, yêu cầu quản lý của DN, trình độ đội ngũ nhân viên kế toán, trình độ trang thiết bị kỹ thuật cho kế toán mà bộ máy kế toán của DN được

Trang 39

tổ chức theo mô hình tập trung, phân tán, hoặc vừa tập trung vừa phân tán Qua tham khảo

mô hình tổ chức bộ máy kế toán ở một số DNNN (Phụ lục 4, 5), chúng tôi thấy mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung chiếm phần lớn

: Quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo

Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung

Trong mô hình này, mỗi bộ phận kế toán phụ trách một công việc kế toán (phần hành

kế toán) riêng Tùy thuộc vào quy mô của DN, đội ngũ nhân viên kế toán mà có thể ghép một

số phần hành kế toán vào cùng một bộ phận kế toán

2.3 Thực trạng tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Trước khi ban hành và đưa vào áp dụng Luật Kế toán, thuật ngữ KTQT mới chỉ xuất hiện trong các tài liệu nghiên cứu cho nên công tác KTQT các yếu tố đầu vào mới chỉ thể hiện trong các tài liệu nghiên cứu còn trên thực tế công tác kế toán các yếu tố đầu vào được thực hiện theo đúng chế độ kế toán mà Bộ Tài chính quy định Mặc dù vậy, nội dung

kho

Bộ phận

kế toán tiền lương

định kết quả kinh

Bộ phận kế toán tổng hợp và kiểm

tra

Các nhân viên hạch toán

ở các đơn vị phụ thuộc

Trang 40

công việc KTQT các yếu tố đầu vào (đã đề cập ở chương 1- phần 1.3.4) vẫn được các DNNN tiến hành và được biểu hiện cụ thể như sau

* Đối với việc "Thiết lập hệ thống chỉ tiêu quản trị các yếu tố đầu vào" và "Lập dự

toán các yếu tố đầu vào" Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, công tác kế

hoạch được các DN rất chú trọng nên công việc này thường do các bộ phận chức năng thực hiện như bộ phận kế hoạch, bộ phận vật tư, bộ phận tổ chức thực hiện Hiện nay, qua khảo sát thực tế ở các DNNN trên, chúng tôi thấy rất ít DN tiến hành công tác này (chỉ có Công ty May 20 là thực hiện việc lập kế hoạch SX đối với các mặt hàng là quân, tư trang phục vụ cho bộ đội theo kế hoạch của Tổng cục Hậu cần) Đây là một hạn chế lớn trong công tác quản trị DN Vẫn biết rằng KD, đặc biệt là KD trong cơ chế thị trường thì thước

đo đánh giá hiệu quả của quản trị DN là hiệu quả KD và có nhiều DN vẫn có lợi nhuận dù không tiến hành lập kế hoạch Nhưng theo chúng tôi, việc lập kế hoạch vẫn rất cần thiết vì không lập kế hoạch thì DN không có cơ sở để đánh giá kết quả công việc cũng như mục tiêu phấn đấu Mặt khác, đối với các DNNN thì kế hoạch KD không chỉ phục vụ cho quản trị DN mà còn phục vụ cho quản lý kinh tế vĩ mô

* Đối với việc "Tổ chức thu nhận và kiểm tra thông tin về các yếu tố đầu vào theo các chỉ tiêu đã xây dựng", "Tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin về các yếu tố đầu vào"

và "Tổ chức cung cấp thông tin về các yếu tố đầu vào" phục vụ cho việc ra quyết định Công việc này do bộ phận kế toán đảm nhận được biểu hiện cụ thể là:

Bộ phận kế toán tổ chức, hướng dẫn thực hiện hạch toán ban đầu ở từng bộ phận, thu nhận, kiểm tra thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành về các yếu tố đầu vào ở từng bộ phận trong DN bằng các chứng từ kế toán Sau khi thu nhận các chứng từ ban đầu, kế toán tiến hành tổng hợp, hệ thống hóa thông tin trên các

sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính, lập các báo cáo kế toán phục vụ cho việc lãnh đạo, điều hành hoạt động về các yếu tố đầu vào bằng các phương pháp của mình

Sau đây luận văn trình bày thực tế công tác kế toán các yếu tố đầu vào tại một số DNNN trong lĩnh vực SX trên địa bàn Hà Nội

Ngày đăng: 28/06/2014, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2: Tiến trình xử lý, sử dụng thông tin phục vụ quản trị DN - LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot
Sơ đồ 1.2 Tiến trình xử lý, sử dụng thông tin phục vụ quản trị DN (Trang 12)
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý trong DNNN - LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý trong DNNN (Trang 37)
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung - LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot
Sơ đồ 2.2 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung (Trang 39)
Bảng 2.1: Khảo sát thực tế phương pháp kế toán chi tiết nguyên liệu vật liệu tại một - LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot
Bảng 2.1 Khảo sát thực tế phương pháp kế toán chi tiết nguyên liệu vật liệu tại một (Trang 42)
Sơ đồ 2.3: Kế toán chi tiết NLVL theo phương pháp ghi thẻ song song - LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot
Sơ đồ 2.3 Kế toán chi tiết NLVL theo phương pháp ghi thẻ song song (Trang 43)
Bảng 2.2: Chi phí lưu kho nguyên liệu vật liệu - LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot
Bảng 2.2 Chi phí lưu kho nguyên liệu vật liệu (Trang 55)
Bảng 2.: Bảng tổng hợp hệ số lương - LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot
Bảng 2. Bảng tổng hợp hệ số lương (Trang 56)
Đồ thị 3.1: Phân loại NLVL theo phương pháp ABC - LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot
th ị 3.1: Phân loại NLVL theo phương pháp ABC (Trang 87)
Đồ thị 3.2: Mô hình EOQ - LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot
th ị 3.2: Mô hình EOQ (Trang 89)
Đồ thị 3.3: Quan hệ giữa chi phí lưu kho, chi phí đặt hàng - LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot
th ị 3.3: Quan hệ giữa chi phí lưu kho, chi phí đặt hàng (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w