1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang - thực trạng và giải pháp pptx

92 473 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang - thực trạng và giải pháp
Trường học Trường Đại Học Kiên Giang
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Kiên Giang
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 19,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân hóa giàu nghèo PHGN trong xã hội nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng đang là một hiện thực khách quan tác động đến mọi mặt của sản xuất và đời sống của hộ nông dân H

Trang 2

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kiên Giang (KG) là một tỉnh trọng điểm lúa của đồng bằng sông Cửu Long Cùng với cả nước trong công cuộc đổi mới, những năm gần đây tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có nhiều thay đổi cơ bản Trong nông nghiệp, nông thôn mọi nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội đã được phát huy mạnh mẽ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung và nông dân nói riêng đã được cải thiện một bước quan trọng Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh trong 5 năm trở lại đây liên tục tăng trưởng khá Nông nghiệp có sự phát triển nhảy vọt, nhiều cơ sở vật chất hạ tầng trong nông nghiệp được xây dựng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế xã hội, trên địa bàn tỉnh

KG đã và đang xuất hiện những hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội Đáng chú ý là hiện tượng phân hóa giàu nghèo đang có chiều hướng gia tăng tới mức độ có thể xem là trầm trọng Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng bộ tỉnh KG đã nhận định: "Phân hóa giàu nghèo trong xã hội có chiều hướng phát triển" [33, 36] Phân hóa giàu nghèo (PHGN) trong xã hội nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng đang là một hiện thực khách quan tác động đến mọi mặt của sản xuất và đời sống của hộ nông dân (HND) Hiện tượng nghèo đói, lạc hậu, thấp kém như là người bạn đường đối với một bộ phận HND trên các địa bàn của tỉnh Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương càng mạnh mẽ thì dường như sự PHGN ngày càng sâu sắc thêm, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn và đối với HND Thực tế này đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết mới có thể phát triển xã hội theo mục tiêu: Thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh; tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội mà Đảng ta đã đề ra Không thể xem thường sự phân hóa giàu nghèo, nhất là khi nó đang ảnh hưởng tới quá trình phát triển nhanh và bền vững của xã hội Từ nhận thức đó,

Trang 3

Đảng bộ tỉnh đã vạch ra phương hướng quyết tâm của tỉnh là: "Bằng nhiều biện pháp đồng bộ tích cực hạn chế phân hóa giàu nghèo" [33, 59]

Để góp phần vào thực hiện mục tiêu trên, đề tài: "Phân hóa giàu nghèo của các

hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang - thực trạng và giải pháp" là đề tài có ý nghĩa cấp thiết

cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề giàu nghèo và phân hóa giàu nghèo là đề tài đã có nhiều tác giả đề cập từ nhiều góc độ Tiêu biểu là một số công trình sau đây:

Khuynh hướng phân hóa HND trong phát triển sản xuất hàng hóa, Nguyễn Xuân

Khoát (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; Một số giải pháp giải quyết

mâu thuẫn nảy sinh giữa việc phát triển nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường với sự phân hóa giàu nghèo, Nguyễn Huy Oánh; Vấn đề phân tầng xã hội - một xu thế tất yếu của Việt Nam, Đỗ Nguyên Phương (Đề tài KX 07-05); Phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Nhật Bản từ 1945 lại nay, Dương Phú Hiệp, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1999; Phân hóa giàu nghèo ở một số quốc gia khu vực châu á - Thái bình

Dương, Dương Phú Hiệp, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Lê Du

Phong - Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999

Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trang 4

Nhiệm vụ của đề tài này được cụ thể hóa như sau:

Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề phân hóa giàu nghèo của các HND với tư cách là những đơn vị sản xuất tự chủ trong quá trình phát triển kinh tế thị trường

Phân tích thực trạng và chỉ rõ nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo của các HND trên các địa bàn của tỉnh KG

Đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp để giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo đối với các HND KG

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản

xuất của các HND trong nền KTTT Những quan hệ này là nguyên nhân dẫn tới sự phân hóa, do đó giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo, thực chất là điều chỉnh các quan hệ kinh tế để phát triển lực lượng sản xuất của HND nghèo Luận văn đi sâu phân tích các HND nghèo đói, từ đó, đề ra phương hướng và giải pháp về vấn đề này

Phạm vi nghiên cứu:

Vấn đề phân hóa giàu nghèo được tiếp cận từ góc độ kinh tế - chính trị Về thời gian, luận văn nghiên cứu sự phân hóa chủ yếu từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, khi HND trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nền sản xuất hàng hóa (từ 1990 đến nay)

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử; trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như thống kê điều tra xã hội học, lập bảng biểu,

so sánh, phân tích, tổng hợp v.v

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn hệ thống hóa những cơ sở lý luận và thực tiễn của sự phân hóa giàu nghèo của các HND, phân tích thực trạng PHGN HND trên địa bàn tỉnh KG từ khi

Trang 5

chuyển sang cơ chế thị trường và chỉ rõ các nguyên nhân đã dẫn tới sự phân hóa đó; trên

cơ sở đó, luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp từ góc độ kinh tế - chính trị nhằm góp phần hạn chế mặt tiêu cực của sự phân hóa giàu nghèo đối với các HND ở địa phương hiện nay Với những mức độ đó, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy, hoạch định chính sách đối với hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương 6 tiết Ngoài ra, luận văn còn có thêm phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 6

Mục lục

Tra

ng

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phân hóa giàu

nghèo hộ nông dân trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa

Chương 2: Thực trạng phân hóa giàu nghèo của các hộ

nông dân tỉnh Kiên Giang

34

Trang 7

Nguyên nhân và những vấn đề đang đặt ra 56

Chương 3: Quan điểm phương hướng và những giải pháp

cơ bản nhằm hạn chế mặt tiêu cực của phân hóa giàu nghèo của các HND Kiên Giang

Quan điểm giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo đối

với các hộ nông dân Kiên Giang

Trang 9

Chương 1

Cơ sở lý luận và thực tiễn của phân hóa giàu nghèo hộ nông dân

trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa

1.1 Phát triển kinh tế hàng hóa tất yếu dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo của

Hộ nông dân với tư cách là đơn vị sản xuất tự chủ

1.1.1 Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân

Trong tiếng Việt, hộ là một danh từ được dùng để chỉ gia đình - được coi như

một đơn vị xã hội trong các quan hệ với chính quyền, có liên quan đến tài sản, tư liệu lao động, nhân khẩu [38, 385] Chính vì vậy mà người ta thường gộp chung hộ và gia đình Tiêu biểu là cách sử dụng thuật ngữ kép "hộ gia đình" trong khẩu ngữ

Tuy vậy, giữa hộ và gia đình có điểm phân biệt Cụ thể: gia đình là một nhóm người có quan hệ hôn nhân hoặc huyết tộc Nó cũng là một loại hộ cơ bản và chứa đựng nhiều yếu tố để hình thành hộ Song điều mà chúng ta chú ý là mối quan hệ giữa các thành viên của hộ không đơn thuần chỉ là huyết thống

Trên thế giới và ở nước ta đã có nhiều quan niệm về hộ Theo Liên Hợp Quốc

(UN), "Hộ là những người cùng chung sống một mái nhà cùng ăn chung và có chung ngân quỹ" [51, 8] Quan niệm này nhấn mạnh đến các tiêu thức: cơ sở kinh tế và sinh sống

Tiếp cận khái niệm hộ từ góc độ vai trò và đặc thù của hộ, tại Hội thảo quốc tế lần thứ 4 về quản lý nông trại (Hà Lan, 1980), nhiều đại biểu có đồng quan điểm: "Hộ là đơn vị kinh tế cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất tiêu dùng và các loại hoạt động

xã hội khác" Hộ trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu là HND, gắn liền với canh tác nông nghiệp

Nhà khoa học Nga, AV.Traianôp (1889- 1939), cho rằng "HND là đơn vị sản xuất rất ổn định", "HND là phương tiện tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển sản xuất nông

Trang 10

nghiệp" Còn hai nhà khoa học Mats Lundahl và Thommy Svensson thì nhấn mạnh: "HND

là đơn vị sản xuất rất cơ bản" [22, 15]

Từ một số quan niệm tiêu biểu của các nhà khoa học nước ngoài, ta thấy họ cùng

chung những quan điểm sau: Hộ là một đơn vị kinh tế - xã hội cơ bản, sự tồn tại của kinh

tế hộ là một khách quan, nó có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội

Các nhà khoa học nước ta cũng đã đưa ra nhiều quan niệm về hộ Có tác giả cho

rằng: "Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng chung sống hay không cùng chung trong một mái nhà Họ có cùng nguồn thu nhập, cùng ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung" [20, 29] Một tác giả khác nhấn mạnh tới các tiêu thức:

"HND là đơn vị kinh tế mà các thành viên của nó sống chung với nhau trong một mái nhà, liên hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống, có chung thu nhập, trong đó có thu nhập

từ nông nghiệp do lao động sử dụng đất đai đem lại Trong nền kinh tế hàng hóa, HND là một đơn vị kinh tế độc lập - tự chủ trong mọi loại hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp" [29, 8] Có tác giả nhấn mạnh đến hoạt động kinh tế cho rằng, "HND là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường" Một tác giả khác xuất phát từ các tổng kết về mặt lịch sử cũng như thực tiễn, lại cho rằng: "Quan điểm coi HND là đơn vị sản xuất tự chủ là hoàn toàn đúng đắn về lý luận cũng như thực tiễn" [22, 14]

Để có nhận thức đầy đủ về hộ và kinh tế HND ở nước ta hiện nay, cần tìm hiểu những đặc điểm của kinh tế HND ở các nước kinh tế đang phát triển Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng, ngoại trừ một số nước phát triển, các HND ở khu vực các nước đang phát triển "có mức thu nhập thấp nhất so với các nhóm hộ khác trong xã hội" [22, 16] Các HND là các nhà sản xuất nhỏ, quy mô ruộng đất của nhiều hộ chỉ cho phép sản xuất ra một lượng sản phẩm đủ nuôi sống các thành viên, tỷ trọng nông phẩm là hàng hóa

còn thấp

Các HND có số thu lợi nhuận thấp, phần lớn sản phẩm của họ làm ra khi bán ra chỉ vừa đủ để trang trải chi phí sản xuất Vì vậy mức độ tích lũy để mở rộng sản xuất hầu như không đáng kể Các HND thường sản xuất độc canh trên diện tích sản xuất nhỏ, thời gian

Trang 11

lao động của họ chưa được tận dụng tối đa, không có thu nhập thêm nếu không tạo ra được việc làm tại chỗ

Cơ cấu kinh tế HND khá đa dạng theo nhiều nghề khác nhau Tổ chức phân công

lao động trong hộ có khả năng linh hoạt, vừa chuyên môn lại vừa có khả năng theo hướng kinh doanh tổng hợp Kinh tế HND có tính ổn định tương đối cao và có khả năng điều

chỉnh linh hoạt phương hướng sản xuất theo mùa vụ, ngành nghề cho phù hợp với thời tiết và nhu cầu của xã hội Mặt khác, tính khép kín chu trình sản xuất (từ sản xuất, chế

biến đến tiêu thụ) lại cho phép HND có tính ổn định tương đối trước những diễn biến bất

thường của mùa vụ hay thị trường

Tính độc lập của kinh tế HND tương đối cao, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ

bé, vốn liếng hạn hẹp, trình độ sản xuất còn thấp cũng là những nhân tố khiến cho HND gặp nhiều khó khăn trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nên không có khả năng chuyển hướng sản xuất trước những tác động của thiên tai hay biến động của thị trường Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự PHGN của đối tượng HND mà ở các nhóm xã hội khác không có

Gắn với nông nghiệp và nông thôn, kinh tế HND còn mang trong nó nhiều đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hóa của cộng đồng nông thôn được hình thành trong lịch sử Với nhiều quốc gia, trong đó có nước ta, những đặc điểm này vừa mang lại những thuận lợi (chẳng hạn, làng nghề truyền thống, văn hóa truyền thống, những tục lệ tốt đẹp trong kinh doanh ), và cũng gây ra không ít những trở ngại trên con đường phát triển kinh tế

hộ (chẳng hạn, tính chất cô lập của phường hội, những hủ tục, quan niệm lạc hậu trong sản xuất )

Từ những ý kiến trên đây và từ thực tiễn có thể rút ra một số kết luận về hộ và kinh tế HND ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường như sau:

Một là, HND và kinh tế HND là hai khái niệm phân biệt, song HND và kinh tế HND

có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ và quy định lẫn nhau Đặc biệt là trong điều kiện sản xuất hàng hóa hiện nay, nhiều khi sự hình thành HND là bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế và mặt khác, chính hoạt động sản xuất kinh doanh của HND lại làm cho HND

Trang 12

phân biệt với các đơn vị sản xuất khác trong một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần HND và kinh tế HND có mối quan hệ chặt chẽ, và trên thực tế, đã có nhiều trường hợp, hai yếu tố này đóng vai trò là tiền đề và điều kiện cho nhau phát triển

Hai là, HND là đơn vị kinh tế xã hội ở nông thôn, có thể sản xuất kinh doanh độc

lập hoặc tham gia các hình thức hợp tác liên doanh, liên kết sản xuất nhằm phát triển kinh

tế hộ Hoạt động kinh tế của HND mang tính độc lập, tự chủ trong quá trình sản xuất, có khả năng linh hoạt, cơ động cao trong việc vạch hướng hay chuyển hướng kinh doanh, có thể tự hình thành những cơ cấu sản xuất phù hợp với mùa vụ và nhu cầu của kinh tế thị trường

Tính năng động, tự chủ của HND trong sản xuất có thể ở hai trạng thái: nó có thể

là một tác nhân thúc đẩy sự năng động nhằm kịp thời đáp ứng và hòa nhập vào KTTT Mặt khác, nó cũng có thể "tự chọn" một hướng vận động được coi như một bước lùi trong sản xuất: HND rất có thể tạm bằng lòng với phương thức khép kín tự cung, tự cấp Với đặc thù đó, HND có thể là một yếu tố quan trọng trong quá trình khai thác những tiềm năng của nông nghiệp, nông thôn để tạo ra sức sản xuất mới góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Ngoài ra, cũng chính từ đặc thù này, HND có thể tiềm tàng một khả năng kìm hãm quá trình vận động phát triển của kinh tế HND từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn Với quy mô sản xuất thường là nhỏ, vốn cho tái sản xuất mở rộng không nhiều, năng suất lao động thấp, năng lực sản xuất hàng hóa còn thấp, cho nên nhiều HND ít có khả năng cạnh tranh bình đẳng trong nền kinh tế thị trường Cũng từ đây, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì sự PHGN sẽ diễn biến theo chiều hướng xấu: chỉ có một thiểu số hộ giàu lên còn đại đa số thì nghèo đi, thậm chí bị bần cùng Để hạn chế tác động phân hóa dẫn tới sự phá sản một

bộ phận lớn HND, đòi hỏi xuất hiện các hình thức kinh tế hợp tác, liên doanh, liên kết để bảo vệ kinh tế HND

Ba là, kinh tế HND bao gồm toàn bộ tư liệu tiêu dùng bảo đảm cuộc sống các

thành viên trong gia đình và những tư liệu sản xuất hoặc vốn bằng tiền mà các thành viên trong hộ sử dụng để đem lại thu nhập, trong đó có thu nhập từ hoạt động kinh doanh nông nghiệp

Trang 13

Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm kinh tế HND là một bộ phận quan

trọng của nền kinh tế quốc dân, sự phát triển hay trì trệ của nó có tính quy định với quá trình PHGN của các HND Với nhiều quốc gia đang phát triển có nền kinh tế mà nông nghiệp còn đang đóng vai trò lớn trong nền kinh tế quốc dân, "hình ảnh" HND làm ăn phát đạt có thể được xem là hình mẫu tiêu biểu cho quá trình chống những hậu quả tiêu cực của quá trình PHGN trong xã hội

1.1.2 Sự phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân trong phát triển kinh tế hàng hóa

1.1.2.1 Về phân hóa giàu nghèo

Để làm rõ PHGN phải bắt đầu từ các khái niệm giàu, nghèo, phân hóa Theo Từ điển tiếng Việt, giàu là khái niệm dùng để chỉ tình trạng "có nhiều tiền của, có tài sản lớn hơn mức bình thường" [38, 380]; còn nghèo "là tình trạng không có hoặc có rất ít những

gì thuộc yêu cầu tối thiểu của đời sống vật chất", là trái với giàu [38, 653]; phân hóa là

"chuyển một khối thành các phần đối lập nhau", khác hẳn nhau [38, 633]

Thu nhập, tài sản, vốn liếng và chi tiêu là những yếu tố cấu thành giàu và nghèo của mỗi cá nhân và hộ gia đình Trong đó, thu nhập là yếu tố quan trọng nhất, bởi vì nó

sẽ quyết định mức độ, cơ cấu của tài sản, vốn liếng và chi tiêu Như vậy, giữa giàu và nghèo tồn tại một khoảng cách chênh lệch về độ lớn của các yếu tố cấu thành theo hướng đối lập nhau giữa cao và thấp, giữa nhiều và ít ở các nước TBCN phát triển người ta cho rằng, thu nhập bình quân đầu người của xã hội là đường ranh giới giữa giàu và nghèo Nếu cá nhân hộ gia đình nào có mức thu nhập cao hơn thu nhập bình quân của xã hội thì được xếp vào lớp giàu, ngược lại thì xếp vào lớp nghèo [21, 25]

PHGN đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Nó được coi là một xu

hướng vận động xã hội, trong những điều kiện lịch sử nhất định, là một trong những nguyên nhân cơ bản để dẫn tới phân chia giai cấp, là một hệ quả tất yếu do sự tác động của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa

PHGN là một hiện tượng kinh tế - xã hội xuất hiện trong quá trình tan rã của các

Trang 14

công xã nguyên thủy Trong điều kiện kinh tế tự cung tự cấp PHGN diễn ra trong phạm vi từng cộng đồng với mức độ hạn chế, sự cách biệt chưa lớn Song trên phạm vi toàn xã hội, PHGN thường gắn liền với bạo lực và với quyền uy Trong nền sản xuất hàng hóa, sản xuất và đời sống của mỗi cá nhân và hộ gia đình trong xã hội là khác nhau Điều đó

do "sự không ngang nhau về năng khiếu cá nhân" [25, 479], do có sự khác biệt về thể chất, năng lực, điều kiện sản xuất Dưới tác động của các quy luật kinh tế, họ tham gia vào quá trình phân công lao động xã hội khác nhau nên có mức thu nhập khác nhau, mức

độ giàu nghèo cũng khác nhau Từ đó, quá trình PHGN đã diễn ra Như vậy PHGN gắn liền với điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi địa phương, dân tộc, quốc gia trong quá trình tồn tại và phát triển Nó phản ánh một quan hệ bất bình đẳng giữa người với người trong sở hữu tư liệu sản xuất, tham gia vào phân công lao động xã hội, trong phân phối sản phẩm, thu nhập Vì vậy, PHGN còn là một phạm trù nghiên cứu của môn kinh tế - chính trị

Từ đó có thể định nghĩa PHGN là khái niệm dùng để chỉ hiện tượng kinh tế- xã hội, trong đó diễn ra quá trình chuyển các cá nhân và hộ gia đình thành các tầng lớp khác hẳn nhau theo chuẩn mực giàu nghèo

Phân tầng xã hội và PHGN đã được nhiều tác giả kinh điển mácxít nghiên cứu

Theo C Mác (1818-1883) cơ sở của vấn đề này là: "Tư liệu sản xuất, hay quyền sở hữu

tài sản là nhân tố đóng vai trò quyết định trong phân chia xã hội thành các giai cấp và tầng lớp" Và C.Mác chỉ rõ: "Chính quan hệ chiếm hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở, là cái quyết định quan hệ phân phối để từ đó nảy sinh sự khác biệt về thu nhập", dẫn tới PHGN [16, 11]

Cũng từ quan niệm duy vật lịch sử, V.I Lênin (1870-1924) chỉ ra: "Sự khác nhau

về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội là khác nhau về quyền sở hữu tư liệu sản xuất và về vai trò trong tổ chức lao động cũng như về cách hưởng thụ và chiếm đoạt lao động, đó là những yếu tố chi phối sự phân hóa xã hội" [16, 15]

Về PHGN, nhiều tác giả khác cũng đã đề cập tới vấn đề này Nhà xã hội học Max Weber (1864-1920) có cách tiếp cận khác khi nghiên cứu cơ sở của sự PHGN Theo

Trang 15

ông: "Phân công lao động xã hội, quyền lực và uy tín của mỗi cá nhân đều có ảnh hưởng tới PHGN" Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, hoàn cảnh giai cấp, địa vị xã hội xét đến cùng, như một nhận xét của ông, cũng là "hoàn cảnh thị trường" [16, 17]

KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa Trong KTTT, lợi nhuận là mục tiêu và động lực của hoạt động kinh tế Nó đòi hỏi mọi chủ thể của các thành phần kinh tế phải tích cực suy nghĩ, tính toán, tổ chức sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp với yêu cầu thị trường Giá cả hàng hóa - dịch vụ trên thị trường là "mệnh lệnh" đối với người sản xuất Tiếp cận thị trường được hay không là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến

"số phận" mỗi cá nhân Mỗi người đều có sự khác nhau về năng lực thể chất, trí tuệ, đạo đức Từ đó khả năng thâm nhập "hoàn cảnh thị trường" là khác nhau và dẫn đến thu nhập, tài sản khác nhau

Nhờ phát huy được nhân tố con người, tận dụng được thành tựu của khoa học công nghệ, mở rộng được thị trường kinh doanh nên KTTT đã tạo ra sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất Dưới sự tác động của các quy luật kinh tế như quy luật giá trị, quy luật cung cầu chủ thể sản xuất hàng hóa phải tìm mọi cách thức để nâng cao năng suất lao động trong đó áp dụng khoa học kỹ thuật là cốt yếu nhất KTTT cũng tạo điều kiện,

cơ hội cho mỗi con người phát huy năng lực của mình trong sản xuất và đời sống xã hội Đây cũng được coi là những cơ sở khách quan cho việc giải quyết PHGN Nhận định về vấn đề này, có tác giả cho rằng: "Sự PHGN là hệ quả tất yếu của nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường [18, 199]

Song cũng phải nhận thấy rằng trên nền tảng của quan hệ sản xuất tư hữu không thể giải quyết triệt để vấn đề PHGN trong xã hội Thậm chí trong KTTT, tác động khách quan của các quy luật kinh tế lại làm tăng thêm sự bất bình đẳng xã hội Bởi vì KTTT chỉ thừa nhận những nhân tố phù hợp với nó, loại bỏ không thương xót các yếu tố không phù hợp Do đó, những người tài giỏi hoặc có những ưu thế vượt trội khác thì trở nên giàu có Ngược lại, nó cũng đẩy những cá nhân và gia đình hộ gia đình không thích ứng được với yêu cầu của thị trường về phía đối lập PHGN cũng diễn ra với một quy mô lớn hơn, tốc độ nhanh hơn, mức độ giàu, nghèo, độ chênh lệch giữa giàu và nghèo cũng trở nên cách biệt hơn

Trang 16

Nền KTTT tư bản chủ nghĩa (TBCN) cũng đã đặt ra những thách thức, trở ngại to lớn khi giải quyết vấn đề PHGN Đó là chế độ tư hữu TBCN về tư liệu sản xuất cùng với mặt trái của cơ chế thị trường Với chế độ tư hữu TBCN về tư liệu sản xuất, người làm chủ điều hành toàn bộ quá trình sản xuất - kinh doanh và phân chia lợi nhuận là nhà tư bản Đồng thời, nhà nước TBCN cũng là công cụ quyền lực của giai cấp tư sản bênh vực bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản Mặt trái của cơ chế thị trường như thất nghiệp, chạy theo lợi nhuận một cách mù quáng, ô nhiễm, tàn phá môi trường môi sinh, suy đồi đạo đức truyền thống, thất học, bệnh tật, bất công lại càng làm cho tình hình PHGN sâu sắc thêm Có tác giả cho rằng: "Trong nền kinh tế tư nhân TBCN thì phân hóa giàu nghèo là tất yếu", "Kinh tế thị trường TBCN không giải quyết được phân hóa giàu nghèo" [17, 23] KTTT có xu hướng làm cho sự PHGN trở nên ngày càng sâư sắc thêm; PHGN được coi

là sản phẩm trực tiếp của sự phát triển KTTT

PHGN hiện đang là vấn đề kinh tế - xã hội đối với hầu khắp các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển Cùng với hiện tượng bùng nổ dân số đô thị, toàn cầu hóa kinh tế, PHGN cũng dường như chuyển sang giai đoạn mới Những biểu hiện mới của nó là: do thay đổi cơ cấu sản xuất nhanh chóng làm cho số người thất nghiệp tăng lên ở cả nông thôn và thành thị; lao động và dân cư dịch chuyển từ nông thôn

ra thành thị, từ các vùng điều kiện kinh tế xã hội khó khăn đến vùng đất mới thuận tiện; nạn chặt phá rừng, khai thác cạn kiệt tài nguyên môi trường, những bệnh tật hiểm nghèo cũng đang gia tăng theo quá trình này

ở Việt Nam, vấn đề PHGN đã từng diễn ra trong lịch sử nhưng chưa trở thành vấn

đề lý luận và thực tiễn nóng bỏng như hiện nay Những năm trước đổi mới, trong cơ chế

quản lý kinh tế tập trung bao cấp, ở nước ta tuy vẫn có sự chênh lệch về thu nhập, tài sản, chi tiêu giữa các cá nhân và hộ gia đình nhưng không lớn Bởi vì, khi mà "có tới 70% dân

số nghèo" [49, 3] ở cả nông thôn và thành thị thì hiện tượng này cũng có thể được coi là kết quả của việc lực lượng sản xuất kém phát triển và chế độ phân phối theo lối "bình quân, cào bằng"

Từ khi cả nước tiến hành sự nghiệp đổi mới, một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới là sự phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Nhờ khai

Trang 17

thác giải phóng sức sản xuất của kinh tế HND mà năng suất, sản lượng lương thực liên tục tăng lên Hơn mười năm qua Việt Nam luôn là nước xuất khẩu gạo có thứ hạng cao trên thế giới

Kinh tế nông nghiệp và nông thôn có những bước phát triển to lớn Nếu lấy mức

tăng giá trị sản lượng nông sản giai đoạn 1976-1980 chỉ đạt 1,7%/ năm, thì giai đoạn 1991-1997 đạt bình quân 4,5%/năm Sản lượng lương thực năm 1991 là 21,5 triệu tấn Đến năm 1997 là 30,5 triệu tấn Năm 1999 giá trị sản xuất nông nghiệp tăng so với năm

1998 là 5,2-5,5% Sản lượng lương thực ước khoảng 33,8 triệu tấn

Thu nhập của nông dân ngày càng nâng cao Năm 1995 so với năm 1990 thu

nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng 22,2%, năm 1996 so với năm 1995 là 8,9% GDP bình quân đầu người năm 1999 cả nông thôn và thành thị tăng 1,7 lần so với năm

1990

Được hưởng thành tựu của công cuộc đổi mới sản xuất và đời sống của nhiều

HND được nâng lên rõ rệt Nhận định tình hình này, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc

lần thứ VIII viết: "Số hộ có thu nhập trung bình và số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm" [48, 59] Nhiều cơ sở vật chất hạ tầng ở cả nông thôn và thành thị được nâng cấp và xây dựng mới Cùng với thành tựu khác trong công cuộc đổi mới đã làm cho "lòng tin của nhân dân vào chế độ, vào tiền đồ của đất nước, vào đảng và Nhà nước được nâng lên" [48, 60]

Song cơ chế kinh tế mới cũng bắt đầu làm nảy sinh hiện tượng PHGN với một

tốc độ nhanh hơn Một bộ phận nông dân giàu lên khá nhanh, trong khi đó, một bộ phận

nông dân khác do nhiều nguyên nhân, đã nghèo đi "Cái giàu và cái nghèo là hai cực đã

và đang tồn tại ở các vùng nông thôn Việt Nam" [30, 16]

Khoảng cách giàu - nghèo của Việt Nam đã thay đổi trong những năm gần đây:

1994 là 6,48 lần; 1995 là 6,99 lần; 1996 là 7,31 lần và năm 1998 là 11,3 lần Khoảng

cách này ngày càng tăng cả về tốc độ và quy mô ở những địa phương có kinh tế hàng hóa

năng động phát triển Đối với các hộ thuộc nhóm nghèo tốc độ tăng thu nhập chậm hơn

so với nhóm giàu

Mức thu nhập của hộ giàu cũng tăng lên Nếu mức thu nhập bình quân theo đầu

Trang 18

người/ tháng, ở hộ giàu năm 1989 là 56.441đ, tương đương 75,4 kg gạo, thì năm 1991 các chỉ tiêu tương ứng là 138.000đ và 81,5 kg gạo Năm 1992 ở 9 tỉnh trọng điểm là 173.000đ

và 8 tỉnh phụ điểm là 227.000đ, tương đương 87,7 kg gạo [6, 49] Hiện nay, với quy mô

hộ trung bình ở nước ta là 4,97 người/hộ, nếu lấy tiêu chí hộ giàu là HND sản xuất giỏi

có thu nhập (m) từ 20 triệu đồng năm trở lên [32], thì riêng thu nhập (m) là 335.345đ/người/tháng, tương ứng 95,5 kg gạo Trong khi đó, mức thu nhập (v + m) của

hộ nghèo ở các thời điểm tương ứng là 10,33 kg và 13,2 kg Giai đoạn 1997-2000 thu nhập của hộ nghèo là 15 kg gạo "Do vậy, đây cũng là vấn đề đặt ra khi giải quyết xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam" [27, 51]

Trong những khoảng thời gian nhất định, tỷ lệ số hộ giàu và số hộ nghèo mức

chênh lệch cũng khá lớn Năm 1984 số hộ giàu trong nông thôn chiếm tỷ lệ 8,08% số hộ Năm 1991 tỷ lệ đó là 9,7% và năm 1992 số hộ giàu trong nông thôn chiếm tỷ lệ khoảng 20%, tỷ lệ hộ nghèo 10-25%, tỷ lệ hộ trung bình khoảng 50-60%

Hiện nay, sự chênh lệch giàu - nghèo của các HND nước ta là khá lớn Nếu so

sánh theo tiêu thức: thu nhập bình quân của 20% số hộ nghèo nhất với 20% số hộ giàu nhất thì bội số chênh lệch trung bình là 7 đến 8 lần Còn nếu so sánh theo tiêu thức thu nhập của hộ giàu nhất và hộ nghèo nhất trong cùng một thời điểm, ở trên cùng một địa phương, như ở Nam Bộ là hàng trăm lần

Chúng ta có thể tham khảo mức chênh lệch về thu nhập giữa các hộ ở nông thôn

Tỷ lệ hộ giàu %

Mức phân tầng (lần)

Chung cả nước 68-94 12,5-23,1 1,5 5,5

Trang 19

Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 1996

Trong giai đoạn từ 1990 lại đây, khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa hộ

giàu và nghèo vẫn không ngừng tăng lên Theo công bố của Ban chỉ đạo điều tra mức sống dân cư Trung ương về mức sống hộ gia đình Việt Nam thời kỳ 1997-1998, khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo thời kỳ này đã lên tới 11,3 lần Nhiều tài liệu khác cũng khẳng định xu hướng này [13, 136-138]

Từ những cứ liệu trên, chúng ta có thể nhận xét: PHGN của các HND đã trở nên

phổ biến và khá sâu sắc, phản ánh tính hai mặt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

ở nông thôn

Về mặt kinh tế, có thể coi mặt tích cực của PHGN là làm biến đổi về chất các yếu

tố của lực lượng sản xuất Nhờ đó các HND đạt được hiệu quả sản xuất - kinh doanh ngày một tăng, kỹ thuật - công nghệ và các tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm tổ chức quản lý ngày càng phổ biến, nâng cao Thu nhập của các hộ ngày càng cao hơn, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện Những dịch vụ về chăm sóc y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội, sử dụng nước sạch mà các HND được hưởng theo hướng đô thị hóa Điều đó làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội nông thôn, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, phân công lao động ngày càng phát triển; nhiều tiềm năng, lợi thế được khai thác, giải phóng; cơ cấu kinh tế dần dịch chuyển theo hướng

Trang 20

hiện đại

Cần lưu ý rằng, ở nông thôn nước ta, HND giàu không phải là do chiếm dụng ruộng đất, bóc lột địa tô mà chủ yếu là do biết cách tổ chức sản xuất, có thuê lao động, thậm chí cả lao động trí tuệ bậc cao như kỹ sư, nhưng "quan hệ chủ - thợ" ở đây là quan

hệ "sòng phẳng", bình đẳng theo luật pháp quy định, tạo công ăn việc làm cho người lao động Bởi vậy, sự tăng số hộ giàu và mức độ giàu trong nông nghiệp, nông thôn là một hiện tượng, về cơ bản có thể coi là tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội HND giàu có thực sự là một nhân tố mới, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong nông nghiệp, nông thôn mà chúng ta cần ủng hộ, nghiên

cứu và phổ biến kinh nghiệm

Mặt tiêu cực của PHGN của các HND, làm cho một bộ phận HND mất dần khả

năng và cơ hội bình đẳng với các chủ thể khác trên thị trường Họ không tự vươn lên được theo quỹ đạo của cơ chế thị trường Vì nhiều lý do khách quan - chủ quan, họ phải cầm cố hết các tư liệu sản xuất, buộc phải đi làm thuê, làm mướn kiếm sống hàng ngày

Bộ phận dân cư này thường gắn với những điều kiện sống tối thiểu: thu nhập thấp, nhà cửa tạm bợ, lụp xụp, con đông, thất học, không điện và nước sạch Đây cũng là những

đối tượng thường xuyên phải cứu trợ giúp đỡ của cộng đồng và xã hội Rõ ràng, nghèo

đói, lạc hậu trong nông nghiệp, nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp CNH, HĐH cũng như quá trình hội nhập với khu vực và quốc tế

Mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng việc xuất hiện ngày càng nhiều hộ giàu, người giàu bằng các hoạt động phi pháp thì công bằng xã hội, lành mạnh xã hội cũng là những vấn đề nhức nhối Không ít tiêu cực gắn với hộ giàu, cách làm giàu như buôn lậu, ăn cắp, cho vay nặng lãi, coi thường người nghèo v.v Còn hộ nghèo thì bất lực, an phận, buông xuôi, trông chờ, thậm chí còn sa vào rượu chè, cờ bạc và các tệ nạn xã hội khác Nổi bật là những hệ quả xã hội: "phân hóa giàu nghèo tạo nên sự bất công bằng xã hội dẫn đến sự tha hóa con người, môi trường sinh thái mất cân bằng " [35, 296]

Như vậy, PHGN của các HND nước ta là hiện tượng kinh tế-xã hội trong đó diễn

Trang 21

ra quá trình chuyển các HND thành các tầng lớp khác hẳn nhau theo chuẩn mực giàu nghèo

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây có thể rút ra một số kết luận:

Thứ nhất: PHGN là một hệ quả tất yếu của sự phát triển kinh tế thị trường

PHGN có liên quan đến tính giai đoạn của KTTT và thay đổi các hình thức tổ chức kinh

tế như: kinh tế hộ, kinh tế cổ phần, kinh tế tư bản tư nhân Thực tế cho thấy từ thể chế kinh tế cũ sang thể chế kinh tế mới, từ kinh tế thị trường sơ khai sang kinh tế thị trường hoàn thiện, cứ sau mỗi bước chuyển như thế, PHGN diễn ra với các mức độ khác nhau Điều tương tự cũng diễn ra khi từ kinh tế HND cá thể sang kinh tế hợp tác kiểu cũ, rồi sang kinh tế HND tự chủ, kinh tế HND trong các hình thức hợp tác mới Chính các giai đoạn phát triển của KTTT vừa đặt ra những vấn đề mới, vừa tạo ra những tiền đề cho việc giải quyết vấn đề PHGN

Thứ hai: Sự tác động của các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội là nguyên nhân dẫn đến PHGN Bởi vậy, chính sách kinh tế xã hội của mỗi quốc gia là một tác nhân tích

cực trong việc khắc phục những hạn chế của PHGN Phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN là yếu tố có tính đặc thù của quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam và là tiền đề kinh tế - chính trị - xã hội rất quan trọng cho việc giải quyết vấn đề PHGN của HND nước ta

Thứ ba: Sự khác biệt về năng lực thể chất trí lực, điều kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội của mỗi cá nhân hộ gia đình trong xã hội là rất khác nhau Cho nên, sự thích nghi và

không thích nghi, thành đạt và không thành đạt, cơ hội và thách thức không chia đều cho tất cả mọi cá nhân và hộ gia đình Từ đó, giải quyết vấn đề PHGN chủ yếu là tạo cơ hội thích nghi với cơ chế thị trường cho bộ phận dân cư chưa thành đạt

1.1.2.2 Tiêu chí phân loại giàu nghèo

Hiện chưa có một tiêu chí riêng để đánh giá giàu - nghèo của các HND Các tiêu chí thường thấy là để dùng cho các đối tượng xã hội như cá nhân và hộ gia đình nói chung Bởi vậy khi đánh giá vấn đề này, chúng tôi sử dụng tiêu chí chung ấy và, sẽ có

Trang 22

một số điều chỉnh, bổ sung Trong phần đầu, chúng tôi đã trình bày khái niệm giàu nghèo

chủ yếu dưới góc độ định tính ở đây ta phải làm rõ cả phần định lượng nữa Tuy nhiên,

giàu - nghèo là những khái niệm mang tính chất tương đối Bởi vậy, việc xác định mức độ giàu - nghèo và ranh giới giữa chúng trở nên khó thống nhất giữa các vùng và các quốc gia trên thế giới Ngay mỗi quốc gia chuẩn mực này trong từng thời điểm, từng vùng cũng khác nhau Liên Hợp Quốc đã đề ra không những chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

mà còn phải đề ra cả chỉ số phát triển con người (HDI) để đánh giá mức độ giàu - nghèo

Thông thường người ta sử dụng các tiêu chí để đánh giá giàu nghèo như: thu

nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt gia đình, chi tiêu, hưởng thụ văn hóa Nhưng tiêu chí

thu nhập về kinh tế (thông qua v + m) và nhà ở cùng các tiện nghi sinh hoạt được xem là quan trọng nhất Hai tiêu chí này phản ánh trực tiếp mức sống của các cá nhân và hộ gia

đình Ngoài ra, còn có tiêu chí tư liệu sản xuất và vốn liếng để dành cũng có ý nghĩa không nhỏ Như đã phân tích ở trên, thường những cá nhân và hộ gia đình rơi vào hoàn cảnh nghèo đói chẳng hạn, thì thu nhập hết sức ít ỏi, nhà ở tạm bợ, nghèo nàn cũ kỹ, tư liệu sản xuất và vốn liếng hầu như không có gì Nhưng với hộ giàu thì những tiêu chí đó

có sự cách biệt ngược lại tương ứng rất rõ nét

Để có đơn vị thống nhất, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nước ta đã quy

định lấy mức thu nhập bình quân đầu người/tháng được quy ra gạo và tiền tương ứng

thu nhập bằng tiền quy ra gạo là dựa trên cơ sở mức chi tiêu lương thực, thực phẩm bảo đảm khẩu phần ăn duy trì nhiệt lượng tiêu dùng cho một người, một ngày là 2.100 calo Căn cứ vào thu nhập, có thể chia các HND thành các mức độ tương ứng với các khái niệm: nghèo tương đối; nghèo tuyệt đối; thiếu đói; đói gay gắt; trung lưu; giàu [26, 7]

Sự phân loại giàu nghèo ở nông thôn Việt Nam trong cải cách ruộng đất trước đây thường căn cứ vào số ruộng đất, trâu bò, tư liệu sản xuất Do đó, "xét về cơ cấu sản xuất

thì trong giai cấp nông dân có các tầng lớp phú nông, trung nông, bần nông, cố nông" [1,

187] là phù hợp Trong điều kiện chuyển sang nền KTTT thì tiêu chí thu nhập bằng tiền đang nổi lên để xác định chuẩn mực; chẳng hạn: "Thu nhập bình quân đầu người/tháng ở các loại hộ" năm 1993 được phản ánh trong bảng 2

Trang 23

Bảng 2

So sánh các loại hộ theo địa bàn

1 Hộ nghèo, trong đó: Dưới: 50.000đ Dưới: 70.000đ

Hộ rất nghèo Dưới: 30.000đ Dưới: 50.000đ

2 Hộ dưới trung bình 50-70.000đ 70-100.000đ

3 Hộ trung bình 70-125.000đ 100-175.000đ

4 Hộ trên trung bình 125-150.000 150-190.000đ

5 Hộ giàu, trong đó Trên 250.000đ Trên: 300.000đ

Rất giàu Trên 350.000đ Trên: 400.000đ

Nguồn: Điều tra tình trạng giàu nghèo ở Việt Nam năm 1997 Tổng cục Thống

kê, tháng 8/1994

Tùy theo sự phát triển kinh tế, xã hội mà tiêu chí có sự thay đổi Theo Thông báo số: 1175/LĐ-TBXH, ngày 20 tháng 5 năm 1997 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc xác định chuẩn mực hộ nghèo năm 1997-1998 và áp dụng cho đến năm 2000 thì các chuẩn mực thu nhập bình quân đầu người/tháng cụ thể như bảng 3 (phụ lục) Như vậy tiêu chí thu nhập ở các loại hộ được nâng dần lên

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu và các chuẩn mực chung, chúng tôi đồng tình

với phương pháp phân chia các HND thành ba loại hộ với các tiêu chí cụ thể như sau:

[39]

Hộ nghèo: Bao gồm cả những hộ dưới trung bình, nghèo, nghèo khó với thu nhập

bình quân đầu người dưới 180.000đ/tháng (tương đương với các hộ loại 8, 9, 10 - theo cách phân định của UBND tỉnh KG) [40] Đây là những hộ có thu nhập khoảng dưới 2.000.000đ/người/năm và có các điều kiện kinh tế tài sản như: nhà ở, phương tiện đi lại,

Trang 24

sinh hoạt thuộc nhóm I (nhóm có số phương tiện đi lại thô sơ từ 01, số phương tiện sinh hoạt phổ biến từ 01, nhà ở: cột chôn chân, vách lá, mái lá, nhà kê có giá trị thấp )

Mức thu nhập 180.000đ/người/tháng có thể xem đây là đường ranh giới nghèo

(Poverty line) của KG, áp dụng cho giai đoạn từ 1997-2000

Hộ khá giả và trung bình: Gọi chung là hộ trung bình, bao gồm

cả những loại hộ 4-5-6-7 với thu nhập bình quân từ 2.000.000đ-5.000.000đ/người/năm và các điều kiện như trên thuộc nhóm II (có phương tiện đi lại từ 2-3 loại phương tiện phổ thông, có từ 3-5 loại phương tiện sinh hoạt, nhà "kê" (nhà có nền móng tốt) giá trị cao, nhà cấp 4

Hộ giàu: Bao gồm cả những hộ rất giàu, triệu phú, tức những hộ loại 1-2-3 Với

thu nhập bình quân đầu người năm khoảng 5.000.000đ trở lên và các điều kiện như trên thuộc nhóm III (có từ 4 loại phương tiện đi lại trở lên; có từ 6 loại phương tiện sinh hoạt trở lên; nhà ở kiên cố, có lầu (tầng), biệt thự

Cũng có thể tham khảo thêm một số tiêu chí khác để nhận diện rõ hơn PHGN của nông dân KG Chẳng hạn, xét về thu nhập, HND đạt danh hiệu sản xuất giỏi theo quy định của Bộ và của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn KG giai đoạn 1997-2000 có thể xem là hộ giàu với thu nhập sau khi trừ chi phí sản xuất, từ 20 triệu đồng/năm trở lên [32] Nếu so sánh với mức tăng GDP bình quân đầu người từ đầu thập kỷ 90 lại đây và giữa các địa phương trong cả nước thì tiêu chí này cũng tương đương như cách đánh giá của một số tác giả khác [37]

Có thể nhận định rằng, nếu đối tượng HND nghèo được phân tích khảo sát tương đối kỹ cả về định tính và định lượng, thì với những hộ giàu, vấn đề giàu ở nước ta chưa thật được rõ, vì còn thiếu nhiều dữ kiện, số liệu chính thức Một lý do khiến các cuộc điều tra về hộ giàu ở ta chưa chính xác vì chưa có hình thức, biện pháp, cơ chế về kê khai tài sản, thu thập của các cá nhân và HND

Để xác định mức độ PHGN, người ta thường sử dụng hai phương pháp Một là,

xác định tỷ lệ phần trăm của các loại hộ giàu - nghèo trong tổng số hộ khảo sát theo

những tiêu chí cụ thể của mỗi thời kỳ để đánh giá xu hướng diễn biến của sự PHGN Hai

Trang 25

là, để đo sự chênh lệch giàu - nghèo trong xã hội thì tiêu chí thường được sử dụng là thu

nhập bình quân của 20% tổng số hộ có thu nhập thấp nhất so sánh với thu nhập bình quân của 20% số hộ có thu nhập cao nhất Từ đó, có bội số thu nhập trung bình giữa hai nhóm Bội số chênh lệch càng lớn thì khoảng cách giàu - nghèo càng tăng Với tỷ lệ này thì hệ

số chênh lệch giàu nghèo có giá trị phổ biến cho các loại hộ cũng như cho các địa phương, cộng đồng Nếu chỉ lấy thu nhập bình quân của 5% số hộ giàu nhất với thu nhập bình quân của 5% số hộ nghèo nhất, thì tính đại diện, phổ biến thấp hơn Còn nếu lấy thu nhập của hộ giàu nhất chia cho thu nhập của hộ mức nghèo nhất thì hệ số chênh lệch đó

nó chỉ mang ý nghĩa so sánh hình thức mà thôi

1.1.2.3 Nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo của HND

Xác định nguyên nhân của PHGN cũng chính là xác định nguyên nhân cơ bản của tình trạng giàu - nghèo của các HND Vấn đề ở đây cũng chính là việc tìm và trả lời cho câu hỏi vì sao nghèo, vì sao giàu?

Vì sao các HND lâm vào nghèo đói ?

Những nguyên nhân của PHGN theo một số công trình nghiên cứu, có thể do những tác động sau: do bản thân người nghèo, hộ nghèo; do điều kiện tự nhiên và môi trường và do thể chế, chính sách lạc hậu Các công trình đều nhất trí rằng, nghèo đói của các HND do một phức hệ các nguyên nhân kinh tế và xã hội, khách quan và chủ quan

Thực tiễn ở nông thôn nhiều địa phương trong cả nước cho thấy, HND nghèo chủ yếu là những hộ thuần nông, không có nghề phụ, ở những địa bàn khó khăn về vị trí địa

lý, đất đai thổ nhưỡng cằn cỗi chật hẹp, phèn mặn, khí hậu khắc nghiệt Mặt khác, trong nhiều trường hợp HND trở thành người nghèo, hộ nghèo còn do thiên tai, bệnh tật thất thường, hoặc do việc điều chỉnh đất đai bất hợp lý

Như vậy, để xác định nguyên nhân của vấn đề này, cần xác định theo các nhóm sau:

Nhóm 1: Là những nguyên nhân từ bản thân các cá nhân và HND, phổ biến là:

"Thiếu hoặc không có vốn; đông con, ít lao động; không đủ năng lực tổ chức sản xuất -

Trang 26

kinh doanh, yếu kém kỹ thuật thâm canh ; chi tiêu không kế hoạch, lãng phí, lười biếng, rượu chè, cờ bạc " [14, 84] Có tác giả còn xếp vào nhóm này nguyên nhân: trình độ văn hóa thấp [50, 44]; phong tục tập quán lạc hậu [19]; nhóm này cho thấy: nghèo đói là do những nguyên nhân chủ quan

Nhóm 2: Phản ánh những nguyên nhân khách quan - là những nguyên nhân được xét

từ những điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội chưa thuận lợi cho quá trình sản xuất và đời sống của HND Chẳng hạn, về nguyên nhân tự nhiên, có thể liệt kê như sau: Đất canh tác ít; đất cằn cỗi, sỏi đá, phèn mặn, vị trí xa xôi hẻo lánh; thời tiết khí hậu không thuận lợi cho sản xuất, canh tác; giao thông vận chuyển khó khăn

Những nguyên nhân xã hội là những nguyên nhân liên quan đến chính sách cơ chế của Nhà nước và tác động của cộng đồng đối với hộ nghèo và vấn đề nghèo đói Ví

dụ, chính quyền trung ương, địa phương chưa xây dựng cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm; chưa có chính sách điều chỉnh ruộng đất hợp lý; do thiếu thị trường, giá cả thị trường không ổn định, giá nông sản thấp khó tiêu thụ, bị ép cấp, ép giá, giá vật tư phân bón cao; chưa có biện pháp hành chính, giáo dục thích đáng để hạn chế các tệ nạn

xã hội; [31, 219]

Nhóm 3: Là nhóm các hộ nghèo đói do các nguyên nhân kết hợp Các nhóm 1, 2

nêu trên là những nguyên nhân trực tiếp có tính chất chủ quan và khách quan, kết hợp lại tạo thành ba dạng nguyên nhân gây nghèo đói Chẳng hạn: Vì mắc các tệ nạn xã hội; thiếu ruộng đất, do bị thu hồi điều chỉnh bớt ruộng đất; do không biết làm gì khác ngoài nghề nông

Gần đây, chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000 đã xác định những nguyên nhân chính và phân thành ba nhóm:

* Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên không thuận lợi: khí hậu khắc nghiệt,

thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng nghèo đói

Trang 27

* Nhóm nguyên nhân do chủ quan của người nghèo: thiếu vốn, đông con, thiếu

lao động, không có việc làm, thiếu kiến thức làm ăn, mắc các tệ nạn xã hội hay lười lao động

* Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng bộ về

chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính sách giáo dục đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế [8, 7]

Đây là những nguyên nhân mang tính tổng hợp phổ quát cho mọi địa phương, mọi tầng lớp xã hội, dĩ nhiên với mỗi đối tượng cụ thể, có thể có một nguyên nhân đóng vai trò chủ đạo

Vì sao có những HND trở nên giàu có ?

Qua khảo sát nghiên cứu, có thể thấy được những nguyên nhân cơ bản làm cho nhiều hộ giàu lên như sau:

- Do thích ứng nhanh với cơ chế mới trong sản xuất - kinh doanh, những cá nhân

và HND biết tính toán, tổ chức điều hành, làm ăn đạt hiệu quả kinh tế cao Họ không chỉ làm nông nghiệp mà còn biết làm nhiều nghề khác nữa như buôn bán, dịch vụ, làm quản lý Thu nhập từ đó không những đủ trang trải chi dùng thường ngày trong gia đình, mà còn dùng để mua sắm tài sản, mở rộng sản xuất và tích lũy

- Do họ gặp được cơ hội, tranh thủ được thời cơ, thuận đạt, may mắn trong sản xuất và cuộc sống, hoặc vốn dĩ gia đình thân nhân có điểm xuất phát đã khá giả

- Cũng có một bộ phận nhỏ các HND giàu lên nhờ có người thân sống và làm việc ở nước ngoài thường tài trợ Nhờ đó mà họ có thêm điều kiện cho sản xuất kinh doanh và tăng thêm thu nhập

Tóm lại, quy mô, tốc độ cũng như động thái của sự PHGN giữa các HND do

nhiều nguyên nhân, chịu sự chi phối tác động của nhiều nhân tố khác nhau, có thể xếp vào hai nhóm nhân tố chính sau đây:

Trang 28

* Nhóm nhân tố tự nhiên và xã hội Đó là những nhân tố thuộc về môi trường, và

các điều kiện sinh tồn gắn với từng cá nhân và hộ gia đình trong những thời điểm lịch sử nhất định Theo đó, PHGN là tự nhiên, khó thay đổi vì tính nhẫn nhục, cam chịu của các HND, như thói quen tập tục của cộng đồng" [22, 34]

* Nhóm nhân tố về chính trị - xã hội: Cơ chế chính sách là những nhân tố, những

công cụ tác động của thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở Đó là mục tiêu chính trị của giai cấp cầm quyền, quan điểm nhận thức, phương thức, phương pháp giải quyết, xử

lý vấn đề công bằng xã hội của hệ thống chính trị

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) của Đảng ta đã đề ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội coi mục tiêu cao nhất là vì con người và do con người, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Chính những điều này thể hiện và quán triệt trong mọi văn kiện chỉ đạo và thực hiện của Đảng và chính quyền các cấp PHGN của các HND cũng như với các đối tượng khác trong xã hội nước ta chịu tác động, chi phối của nhân tố này cả về quy

mô, mức độ, xu hướng

1.2 phân hóa giàu nghèo của hộ nông dân và kinh nghiệm giải quyết vấn đề này

ở một số nước trong khu vực

1.2.1 Phân hóa giàu nghèo hộ nông dân ở Trung Quốc

Khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, một trong những mục tiêu mà Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định là xóa bỏ nghèo đói, tiêu diệt áp bức bóc lột, đem lại hạnh phúc no ấm cho nhân dân Tuy nhiên, cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX mục tiêu đó cũng chưa đạt được Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn

Cuối năm 1978 từ công cuộc cải cách do Đảng cộng sản khởi xướng, Trung Quốc sửa chữa được những sai lầm, từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Kể từ Đại hội lần thứ XIV của đảng Cộng sản Trung Quốc (1992) Trung Quốc chính thức khẳng định mục tiêu cải cách theo cơ chế KTTT XHCN Nhờ vậy Trung Quốc

Trang 29

đã giải phóng được tiềm năng kinh tế xã hội, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng mau chóng, vượt qua khủng hoảng và đạt bước phát triển thần kỳ liên tục trong nhiều năm gần đây

Cuộc cải cách và mở cửa ở nông thôn đã "cởi trói" cho hàng triệu HND, tạo ra một động lực hết sức mạnh mẽ trong phát triển kinh tế xã hội ở Trung Quốc Nếu sản lượng lương thực năm 1978 là 300 triệu tấn thì đến năm 1995 là 465 triệu tấn, năm 1997

là 492,5 triệu tấn Sản lượng thủy sản thời gian tương ứng trên cũng đã tăng từ 4 triệu tấn lên 28 triệu tấn Nông dân đã làm ra một khối lượng của cải to lớn và ngày càng tăng Thu nhập của họ theo đó cũng được nâng lên

Song bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì hiện tượng PHGN trong xã hội cũng đã diễn ra, đó là sự chênh lệch về thu nhập ngày càng tăng giữa thành thị và nông thôn: Từ 1983 đến nay thì mức độ chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị lại mở rộng theo xu hướng chung ngày càng lớn Năm 1983 là 1,69 lần, năm 1990 là 2,02 lần và

1997 là 2,47 lần, giữa các vùng kinh tế khu vực, giữa các ngành nghề và giữa các cá nhân trong xã hội cũng xuất hiện những vấn đề tương tự [16, 46]

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến phân hóa về thu nhập giữa nông thôn và thành thị

là do tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các ngành nghề trong nông nghiệp không thể bằng trong công nghiệp hoặc dịch vụ Có những nguyên nhân do thể chế chính sách gây ra như tiến trình cải cách không đồng đều giữa nông thôn và thành thị Nếu trước 1985, Trung Quốc chú ý tập trung thực hiện trong khu vực nông nghiệp, nông thôn thì sau đó lại tập trung ở thành thị hướng vào công nghiệp

Khi xem xét sự chênh lệch giàu nghèo, giữa các cá nhân và hộ gia đình ở Trung Quốc, theo tờ "Cải cách Trung Quốc" số 1-1988 thì có trên 1000 "tỉ phú", 3 triệu "triệu phú", đồng thời cũng còn 58 triệu người nghèo khổ Năm 1996, điều tra ở một huyện điểm, thì trong số 441 hộ, số giàu nhất có 8 hộ, thu nhập thuần của mỗi người đạt 18.309 nhân dân

tệ (NDT) Trong khi đó nghèo nhất là 89 hộ thì thu nhập thuần của mỗi người là 385 NDT Chênh lệch về thu nhập đầu người là 46,6 lần, về hộ là 48,8 lần [16, 58]

PHGN trong xã hội ngày càng trở thành vấn đề nhức nhối, bức xúc Vấn đề là ở chỗ công nhân và nông dân trước đây là chỗ dựa vững chắc của cách mạng thì nay trở

Trang 30

thành những tầng lớp nghèo khổ nhất Do đó, họ có thái độ phản ứng không chấp nhận tình trạng chênh lệch quá đáng về thu nhập Tỷ lệ chênh lệch ở công nhân là 47,51% và ở nông dân là 41,13% [16, 62] ở một số vùng nông thôn đã nổ ra các cuộc biểu tình, manh động Các phần tử quá khích nêu khẩu hiệu "Sát phú tế bần" kích động nông dân Xung đột xã hội có nguy cơ bộc phát

Trước quá trình PHGN như vậy, thái độ của xã hội là rất khác nhau Từ chỗ nghèo nàn, đói khổ những năm 1960-1970, sản xuất và đời sống vụt biến đổi trong một thời gian ngắn Thay đổi về thu nhập và mức sống quá nhanh khiến không ít người rơi vào tình trạng tâm lý mất cân bằng, nghi ngờ, phẫn uất, bất mãn Mặc dù mức sống được nâng cao phổ biến, nhưng đa số vẫn cho rằng mình là người nghèo, nghèo đi tương đối

Có tới 15,11% số người được hỏi tỏ ý không thể chấp nhận sự chênh lệch này, 26,84% cho rằng khó chấp nhận Có 41,95% số người có thái độ phản ứng, không muốn có sự PHGN

Như vậy, cũng có nghĩa từ trong thể chế kinh tế cũ sang thể chế kinh tế mới - đa

số các tầng lớp dân cư trong xã hội vẫn mong muốn rằng tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với công bằng và tiến bộ xã hội đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc sớm quan tâm chú ý đến vấn đề phân hóa nói trên và đã có nhiều chủ trương, biện pháp để khắc phục

Về chủ trương, kế hoạch, Trung Quốc đề ra chính sách chống nghèo đói mang tên "chênh lệch 8-7", tức là trong vòng 7 năm từ 1994, giải quyết nạn nghèo khổ cho 80 triệu người Hội nghị Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 9.1996 đã chỉ rõ: Dù nhiệm vụ gian khổ như thế nào, thì mục tiêu đến thế kỷ này phải giải quyết vấn đề ăn no, mặc ấm cho những người nghèo khổ ở nông thôn nước ta cũng không được thay đổi [16, 63]

Kinh nghiệm của Trung Quốc là: huy động vốn từ nhiều nguồn, từ nhiều hình thức, biện pháp để xóa đói giảm nghèo Có phân cấp, phân nhiệm rõ ràng, quản lý kiểm tra nghiêm khắc việc thực hiện Một mặt, Nhà nước tăng cường xây dựng cơ sở vật chất

hạ tầng cho những vùng nghèo Mặt khác, có chính sách điều phối, phân bổ nguồn lực hợp lý giữa các vùng để thúc đẩy sự phát triển công bằng đồng thời tìm ra hướng giải quyết căn bản vấn đề bằng cách vừa "tiếp máu" vừa "tạo ra máu mới" tại các địa phương trọng điểm [16, 65]

Trang 31

1.2.2 Phân hóa giàu nghèo hộ nông dân ở Malaixia

Malaixia là một quốc gia đa sắc tộc ở khu vực Đông Nam á, với dân số 8,8 triệu người (1970) trong đó người Mã Lai chiếm 50%, người Hoa chiếm 36% và người ấn Độ chiếm 11% Năm 1957, sau khi giành được độc lập, Malaixia có một nền nông nghiệp lạc hậu, gồm 13 bang, chia thành hai miền Đông và Tây Thị trường trong nước nhỏ bé và nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào nước ngoài

Khác với nhiều nước trong khu vực sau khi giành được độc lập dân tộc thường phát triển kinh tế bằng con đường công nghiệp, Malaixia đã tập trung phát triển nông nghiệp và nông thôn, đồng thời phát triển công nghiệp Do điều kiện tự nhiên nên Malaixia đã tập trung phát triển cây cọ và cây cao su làm cây trồng chủ đạo để xuất khẩu Bên cạnh đó công nghiệp cũng được chú trọng phát triển để thay thế hàng nhập khẩu và từng bước hướng ngoại Kết quả là thời kỳ 1957-1970 ngành nông nghiệp đạt 102,5% kế hoạch, còn công nghiệp đạt 167,2% kế hoạch, trong đó xuất khẩu sản phẩm cao su chiếm tới một nửa giá trị xuất khẩu Tuy vậy nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ chốt trong nền kinh tế quốc dân, chiếm tới 30,78% GDP và công nghiệp chiếm tỷ trọng 12,21% GDP [36, 145]

Ngay từ giai đoạn này, bức tranh về PHGN trong xã hội Malaixia đã phong phú

đa dạng Tình trạng nghèo khổ là hiện tượng phổ biến ở mọi địa phương trong cả nước

Sự bất bình đẳng về thu nhập kinh tế đã dẫn tới sự bất ổn định của xã hội ở giai đoạn này

mà tiêu biểu là những va chạm sắc tộc sâu sắc ngày 13/5/1969 để lại những hậu quả nặng

nề về chính trị xã hội của đất nước

Giai đoạn từ 1970-1990 là giai đoạn nền kinh tế của Malaixia có sự thay đổi cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu, lấy xuất khẩu làm động lực chính để phát triển nông nghiệp và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh

đó, các kế hoạch, chính sách của Nhà nước cũng hướng vào giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế Kết quả, đây là giai đoạn Malaixia đạt tốc độ tăng trưởng cao và trở thành một nền kinh tế mạnh trong khu vực Bình quân thu nhập đầu người từ 390 M$ (1970) đã lên tới 2.700 M$ (1990), gấp 7 lần trong vòng 20 năm

Trang 32

Nghèo đói đã giảm một cách đáng kể, tuy nhiên PHGN vẫn còn ở nhiều vùng Chẳng hạn khi các bang như Kuala lumpur, Fereugganu thu nhập bình quân đầu người tăng 10 lần thì các bang Perak, Pahang, Kelantan chỉ tăng có 3 đến 3,5 lần [36, 150]

Giai đoạn từ 1991 lại nay, Chính phủ Malaixia đưa ra chiến lược phát triển kinh

tế nhằm trở thành nước công nghiệp phát triển vào năm 2020 Kết quả 5 năm đầu thực hiện chiến lược "Tầm nhìn năm 2020" tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 8,6%/năm Sự thành công này đã nâng cao được tính hiệu quả, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tự do hóa hơn nữa trong môi trường đầu tư, thị trường vốn; ổn định và tạo lập sự thống nhất và công bằng hơn về xã hội

Nhờ thực hiện đồng bộ chính sách phát triển kinh tế - xã hội như trên - Malaixia

đã đạt được những thành tựu to lớn - GDP bình quân đầu người đạt 4022 USD (1995), tỷ

lệ thất nghiệp giảm còn 2,8% (1995) Tỷ trọng của nông nghiệp giảm còn 15% GDP và vẫn đạt tốc độ tăng trưởng bình quân/năm giai đoạn này là 3,5% Malaixia đã trở thành nước có nền công nghiệp kỹ thuật cao, nông nghiệp phát triển trong khu vực

Là một quốc gia đa sắc tộc, nhìn lại quá trình phát triển bốn thập niên qua dễ nhận thấy Nhà nước Malaixia rất chú trọng đến việc giải quyết công bằng xã hội đặc biệt

có những biện pháp mạnh như cấu trúc lại dân cư theo sắc tộc, để từ đó có chủ trương chính sách xóa đói giảm nghèo hợp lý Chú trọng phát triển nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là những giống cây trồng để xuất khẩu Từ năm 1986, Chính phủ đẩy mạnh chương trình đô thị hóa nông thôn nhằm tạo ra các trung tâm tăng trưởng ở nông thôn Chương trình này tạo ra "hiệu ứng lan tỏa" [36, 163] góp phần to lớn vào việc xóa đói giảm nghèo của nông dân để xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng và phát triển kinh tế, Chính phủ Malaixia rất chú trọng lĩnh vực giáo dục đào tạo để phát huy nguồn nhân lực

Kinh nghiệm có thể tóm tắt ở những điểm chính sau: Thứ nhất, kết hợp tăng trưởng kinh

tế nhanh với phân phối thu nhập công bằng Thứ hai, chú trọng phát triển nông nghiệp,

coi phát triển nông nghiệp là khâu đột phá, là điểm đầu cầu để công nghiệp hóa, hiện đại

hóa và giải quyết các vấn đề xã hội khác Thứ ba, coi giáo dục là nền tảng để tiến hành

phân phối thu nhập bình đẳng

Trang 33

1.2.3 Quá trình phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân Thái Lan

đầu những năm 50, nền kinh tế Thái Lan sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 45%trong cơ cấu GDP Lúc bấy giờ 85% dân cư Thái Lan sống và làm việc

ở nông thôn với thu nhập thấp như nhau Chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn chưa cách biệt lắm Năm 1954 thu nhập lương trung bình của một lao động ở Thủ đô Bangkok là 137 baht thì ở vùng đông Bắc Thái Lan (nơi xa xôi khó khăn nhất) là 109 baht Nhờ quỹ đất đai khá phong phú nên vấn đề bất bình đẳng về thu nhập, xung đột xã hội tuy có nhưng không gay gắt như ở các quốc gia khác

Vào giai đoạn có cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, nhờ việc quân đội Mỹ đã xây cất nhiều công trình hạ tầng cho việc đồn trú, đã tạo ra cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập cho thành phố Bangkok và các vùng phụ cận Do đó tạo ra một cách biệt

về sự phát triển giữa thủ đô và các vùng còn lại của đất nước, nhất là đông Bắc Nông dân

ở vùng Trung và Nam Thái Lan có điều kiện tự nhiên khí hậu thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp, lại được sự hỗ trợ của Nhà nước nên đã tận dụng được lợi thế này Sản xuất nông nghiệp của Thái Lan nhờ đó phát triển mạnh mẽ, đưa sản lượng lương thực, gạo xuất khẩu đứng đầu trên thế giới đã nhiều năm qua đời sống của nông dân nhờ thế được cải thiện rõ rệt Trong khi đó, điều kiện tự nhiên, khí hậu ở vùng phía Bắc, nhất là đông Bắc Thái Lan lại khó khăn hơn nhiều Sản xuất và đời sống của nông dân vùng này chậm phát triển Chênh lệch về thu nhập và mức sống của nông dân trên cùng một vùng, giữa các vùng và giữa nông thôn và thành thị là khá rõ Năm 1988 trên quy mô cả nước tỷ lệ người nghèo khổ ở vùng nông thôn lên tới 26,3% dân số

Nếu lấy chuẩn nghèo khó ở thành thị là 5.834 baht/người/năm (23 bath = 1USD) thì ở nông thôn chỉ có 3.823 baht/người/năm Tỷ lệ hộ nghèo khổ ở thủ đô là 3,5% còn ở nông thôn vùng xa là 35,8%, điều đó phản ánh mức độ chênh lệch quá lớn giữa nông thôn mà chủ yếu là nông dân với thành thị với các tầng lớp dân cư khác

Trang 34

Đầu những năm 90 lại đây, kinh tế Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng khá Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 21.000 baht (1986) lên 41.000 baht (1991); tạo ra hàng trăm ngàn chỗ làm việc, tỷ lệ thất nghiệp còn 0,6% năm 1991 [36, 181] Tuy vậy, tình trạng khác biệt về thu nhập giữa các cá nhân và hộ gia đình trong xã hội Thái Lan lại tăng lên đến

"mức báo động", đặc biệt là giữa nông thôn và thành thị Lao động trong nông nghiệp vẫn luôn là nhóm có thu nhập thấp nhất trong xã hội, thu nhập chỉ bằng một nửa mức thu nhập bình quân của xã hội Ngay cả người lao động làm thuê, nặng nhọc trong các nghề dịch vụ dân sự vẫn có thu nhập cao hơn lao động nông nghiệp

để giải quyết vấn đề PHGN, tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, Chính phủ Thái Lan tập trung vào một số chủ trương chính sách sau: cải cách ruộng đất, giao quyền

sử dụng đất trong nông nghiệp nhằm tạo ra sự bình đẳng xã hội trong nông thôn Bên cạnh đó, là chính sách phát triển công nghiệp nông thôn, chính sách khuyến khích đầu tư khu vực, phi tập trung hóa nhằm tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nông dân, nông thôn đồng thời, thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc y tế cho cộng đồng những người có thu nhập thấp, đặc biệt là nông dân

Qua thực tiễn và kinh nghiệm giải quyết vấn đề PHGN của các nước xung quanh, cho thấy, PHGN không phải là hiện tượng kinh tế- xã hội đơn lẻ mà phổ biến cho tất cả các nước trong quá trình phát triển đó là vấn đề mà Chính phủ các nước khi bắt tay xây dựng đất nước phải đối mặt giải quyết Có điểm chung là tình hình nghèo đói, PHGN khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa các địa phương trong khu vực, giữa các ngành nghề của các nước ở nông thôn gắn với đối tượng HND vẫn là trầm trọng nhất, tiêu biểu nhất

Chính phủ các nước này đã tập trung mọi nỗ lực cố gắng để giải quyết vấn đề PHGN Cách làm, biện pháp chỉ đạo mỗi nước một kiểu, nhưng chung quy lại cho thấy đều đã tập trung điều chỉnh các quan hệ kinh tế- xã hội phát sinh trong quá trình phát triển đó là các quan hệ về sở hữu ruộng đất, công bằng thu nhập, phân phối bình đẳng về văn hóa, giáo dục Về giải pháp có những kinh nghiệm như: phát triển và xây dựng các

dự án hỗ trợ về vốn, hướng dẫn áp dụng tiến bộ kỹ thuật cho HND nghèo, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Từ đó,

Trang 35

chuyển dịch cơ cấu sản xuất của nông dân từ tự cung, tự cấp, thuần nông sang sản xuất hàng hóa với cơ cấu đa dạng và hướng ngoại điều chỉnh ruộng đất cho những hộ thiếu đất hoặc không đất Mở rộng quỹ tín dụng trong nông thôn, đa dạng hóa nguồn vốn cho HND nghèo vay và đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm xã hội trong nông thôn đây là những giải pháp chúng ta cần phải tham khảo để vận dụng

đề này đòi hỏi sự quan tâm chung của cả xã hội song trước hết là những nỗ lực của nhà nước - chủ thể trực tiếp quản lý và điều tiết sự phát triển kinh tế xã hội

Thực tế cho thấy, PHGN trong xã hội là hiện tượng phổ biến với nhiều quốc gia, dân tộc có nền kinh tế thị trường Nhưng ở những quốc gia đang trong quá trình chuyển biến từ một nền sản xuất nhỏ là phổ biến lên sản xuất lớn thì PHGN của HND trong nông nghiệp, nông thôn là bộ phận chủ yếu trong PHGN của xã hội Chính vì vậy mà các chính sách kinh tế xã hội trong thời kỳ này cần hướng vào giải quyết vấn đề bức xúc trong nông nghiệp, nông thôn là xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội

Trang 36

Kiên Giang là một tỉnh lớn ở đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL) Theo sách

"Địa phương chí tỉnh Kiên Giang" được chính quyền cũ ấn hành năm 1965 thì vùng Kiên Giang xưa kia là phần đất của xứ Thủy Chân Lạp Miền này được bồi đắp nhờ phù sa của sông Cửu Long, ước lượng hàng triệu mét khối mỗi năm Trên đường Nam tiến, dân tộc Việt đã chiếm cứ và khai mở bờ cõi miền này cũng như đã khai suốt dải đất miền Trung vào đến Đồng Nai vào cuối thế kỷ 17 Địa giới của tỉnh được định hình khoảng giữa thế

kỷ 19, gần giống với hiện tại [23, 49] Kiên Giang ngày nay vốn là phần đất của hai tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên [5, 18] Ranh giới hành chính của tỉnh được xác định: phía Bắc giáp nước bạn Campuchia, phía Nam giáp các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, phía Đông giáp tỉnh Cần Thơ, phía Tây tiếp giáp với vịnh Thái Lan Theo ranh giới này, tỉnh có diện tích khoảng 6224,5 km2 Dân số đến tháng 4/1999 là 1.494.330 người với cơ cấu thành phần dân tộc là: Kinh 85,00%, Khmer 12,19% Hoa 2,16%, các dân tộc khác 0,05% [9]

Tỉnh có 11 huyện thị trong đất liền (thị xã Rạch giá, thị xã Hà Tiên, các huyện: Tân Hiệp, Kiên Lương, Hòn Đất, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận) và 2 huyện đảo (Phú Quốc, Kiên Hải) Các huyện thị trải dài trên 4 vùng sinh thái khác nhau là: Tứ giác Long Xuyên (TGLX), Tây sông Hậu (TSH), Bán đảo Cà Mau (BĐCM) và Hải đảo (HĐ) Địa hình của Kiên Giang vừa có đồng bằng, vừa

có đồi, rừng, núi đá vôi (địa hình Karstơ), lại vừa có hải đảo Do đo, vừa có tiềm năng, nguồn lực phát triển kinh tế xã hội to lớn, có điều kiện để xây dựng một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, du lịch dịch vụ phát triển gắn với các vùng sinh thái nhân văn, lại vừa có những khó khăn do chính điều kiện địa lý đặt ra

Trang 37

Các vùng sinh thái có những đặc điểm khác nhau, do đó sự phát triển kinh tế xã hội trên các địa bàn đó là khác nhau Điều đó được phân tích như sau: Vùng TGLX có diện tích tự nhiên khoảng 262.000 ha, đất đai bị nhiễm phèn nặng Mùa khô bị nước mặn lấn sâu, mùa mưa lại ngập lũ Trước đây dân cư thưa thớt, đất đai hoang hóa nhiều Sản xuất nông nghiệp của các HND chỉ làm được một vụ năng suất thấp Do vậy đời sống của

họ gặp nhiều khó khăn, thậm chí phải dời chỗ ở vì khó làm ruộng được Những năm gần đây, tỉnh đã có sự đầu tư lớn để khai thác vùng này Được hỗ trợ của "Chương trình thoát

lũ biển Tây" của Trung ương, hàng loạt công trình cầu đường, kênh mương được kiến tạo đem lại khả năng to lớn cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp Hiện tại số HND trên địa bàn này nhiều hơn so với vùng hải đảo song lại ít hơn các vùng còn lại Đưa nước ngọt từ sông Hậu về thau chua rửa mặn đồng ruộng Chính quyền địa phương đang thực hiện giãn dân từ các vùng đông dân và thực hiện chính sách cho thuê đất thông thoáng Đây sẽ là vùng đất hứa hẹn sự phát triển mạnh mẽ, HND từ nhiều nơi sẽ về đây chung tay góp sức làm giàu

Vùng TSH đồng ruộng có mặt bằng tương đối tốt Hệ thống kênh rạch khá đầy đủ dẫn nguồn nước ngọt từ sông Hậu đổ về, hàng năm bồi đắp một lượng phù sa khá lớn làm cho ruộng vườn thêm màu mỡ Với diện tích tự nhiên khoảng 175.000 ha, đây là vùng trọng điểm về nông nghiệp của tỉnh Khả năng thâm canh tăng vụ vùng này còn lớn Đây

là vùng số HND đông hơn cả, sản xuất và đời sống của họ nhờ sự lao động cần cù cộng với ưu đãi của tự nhiên đã có bước phát triển rõ nét hơn ở các vùng khác

Vùng BĐCM có diện tích tự nhiên khoảng 175.000 ha đang được sử dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản Khó khăn lớn nhất của vùng này là toàn bộ đất đai đều bị nhiễm mặn do thủy triều biển Tây và một phần thủy triều biển Đông Do vậy, nước cho sản xuất và sinh hoạt chủ yếu dựa vào nước mưa Vùng này không chịu ảnh hưởng của lũ sông Cửu Long, lại có nhiều kênh rạch tiêu thoát nhanh ra biển Do đó, phần lớn diện tích sản xuất 1 vụ năng suất thấp Bên cạnh đó vùng này lại

mở ra khả năng thực hiện các mô hình kinh tế độc đáo, như: luá - cá, nuôi tôm, cua, sò, hoặc khai thác lâm sản: mật ong, trăn, rắn, rùa hoặc khoanh nuôi rừng đặc dụng để tạo cảnh quan cho du lịch sinh thái Số HND trên địa bàn này cũng xấp xỉ số HND ở vùng

Trang 38

TSH và tỷ lệ HND dân tộc Khmer là thấp hơn cả Do điều kiện tự nhiên khó khăn, sản xuất và đời sống của nông dân vùng này phát triển chậm hơn các vùng khác

Vùng HĐ bao gồm 2 huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải trong đó trung tâm là ở Phú Quốc Do địa bàn trải rộng trên vịnh Thái Lan, tập trung các loại hải sản có giá trị kinh tế cao, trên rừng có nhiều gỗ quý và dược liệu, phong cảnh hùng vĩ, nên vùng này rất

có điều kiện để phát triển ngành kinh tế biển, rừng, khai thác khoáng sản và du lịch Nước mắm và h tiêu là hai sản phẩm truyền thống chủ yếu của vùng này Với diện tích tự nhiên khoảng 57.000 ha, ở đây có thể phát triển các loại cây công nghiệp như tiêu, cây ăn trái,

cà phê, và chăn nuôi gia súc có sừng Mặt khác, với vị trí nằm ở cửa ngõ giao lưu quốc tế, gần với các nước trong khu vực, Phú Quốc có đủ khả năng để thành lập mô hình đặc khu kinh tế Tuy nhiên, hiện nay việc khai thác, sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn vùng này chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh Đây cũng là vùng có số HND ít hơn cả, giá cả sinh hoạt quá đắt đỏ, nên các tiêu chí phân định giàu nghèo về thu nhập thường cao hơn các vùng khác

Cho đến nay, nông nghiệp vẫn là thế mạnh kinh tế số 1 của tỉnh Kiên Giang Điều đó không chỉ được thể hiện ở tiềm năng như đã phân tích ở trên mà còn được thể hiện thông qua các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội của cấp ủy và chính quyền các cấp Nhiều năm qua, Tỉnh ủy và UBND tỉnh luôn xác định nông nghiệp là mặt trận kinh tế hàng đầu, ưu tiên đầu tư phát triển cả chiều rộng và chiều sâu nhằm thực hiện

an toàn lương thực, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nông nghiệp vẫn thu hút 79,8% lao động xã hội trong tỉnh, chiếm 80% dân số, đóng góp 47,2% GDP [41, 14] Mặt khác, nông nghiệp Kiên Giang còn đóng một vai trò vị trí quan trọng đối với sự phát triển của khu vực ĐBSCL và của cả nước

Giai đoạn 1991 - 1999, kinh tế nông nghiệp nông thôn và đi sống của mỗi hộ nông dân luôn có mức tăng trưởng khá, bình quân trên 7%/năm Cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh có sự dịch chuyển đúng hướng với tỷ trọng nông - lâm - thủy sản giảm dần Giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi, dịch vụ hàng năm gia tăng, chiếm tỷ trọng 10,3% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp Chế biến nông sản từng bước được tăng cường thêm

và đã chiếm 50,6% giá trị sản phẩm nông nghiệp với hai sản phẩm chủ yếu là lúa và mía

Trang 39

Sản xuất nông nghiệp đặc biệt là sản xuất lương thực tăng nhanh Nhờ đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, đồng thời chú trọng khai hoang mở rộng diện tích, đưa hệ số sử dụng ruộng đất từ 1,32 lần lên 1,92 lần nên sản lượng lương thực từ 1 triệu tấn năm 1991 lên 2,15 triệu tấn năm 1999, tương ứng mức lương thực bình quân đầu người từ 790 kg lên 1.369 kg Như vậy, trong vòng 8 năm trở lại đây, sản lượng lương thực của tỉnh tăng trên 1 triệu tấn Nông nghiệp của tỉnh vượt qua mốc chỉ tiêu

2 triệu tấn lương thực, hoàn thành chỉ tiêu mà Nghị quyết đại hội VI Tỉnh Đảng bộ đề ra thời gian trước 1 năm [9, 6] Đây không chỉ là thành tích mà còn là thc lực kinh tế để giải quyết vấn đề PHGN ở địa phương Ngoài sản xuất lương thực, các cây con thế mạnh của tỉnh về cơ bản giữ được quy mô mặc dù gặp nhiều khó khăn vì giống có năng suất thấp, thị trường đầu ra khó khăn, hiệu quả kinh tế thấp Bên cạnh đó các hoạt động kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp nước sạch nông thôn, văn hóa giáo dục trên địa bàn nông thôn đều được chú trọng phát triển

Những năm qua, từ khi xác định HND là đối tượng phục vụ của mình, hệ thống Ngân hàng nông nghiệp đã mở rộng đại lý xuống xã Doanh số cho vay năm 1998 đạt 1.357,6 tỷ, trong đó cho vay phục vụ và sản xuất nông nghiệp là 888 tỷ; cho ngành hải sản là 162 tỷ Tỉnh có 45 quỹ tín dụng nhân dân với doanh số cho vay đạt 307 tỷ Ngoài

ra, khu vực nông thôn còn được hỗ trợ vốn từ các chương trình cho vay theo dự án, chương trình, vốn xóa đói giảm nghèo của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tài trợ Tuy nhiên, hoạt động tín dụng trong nông thôn của hệ thống ngân hàng, quỹ tín dụng còn hạn chế chưa sát xóm ấp, người nông dân Việc thẩm định và theo dõi

sử dụng vốn đúng mục đích đạt hiệu quả còn thấp Do thiếu vốn, tình trạng hộ nông dân phải cầm cố ruộng đất, bán lúa non, vay nặng lãi vẫn còn khá phổ biến

Thành tựu to lớn trong việc tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp- nông thôn đó

là phong trào kinh tế hợp tác và phong trào nông dân thi đua sản xuất giỏi được tỉnh quan tâm chỉ đạo hơn mười năm nay Toàn tỉnh hiện có 33 HTX sản xuất nông nghiệp, 270 tập đoàn và hơn 5000 tổ đoàn kết sản xuất nông nghiệp [18]

Trang 40

Về kinh tế hợp tác, qua kiện toàn đổi mới theo Luật Hợp tác xã, bình quân 1 HTX có ban quản lý từ 2-3 người, ban kiểm soát từ 1-3 người, tiền lương trả cho cán bộ ban quản lý được trích từ lãi nguồn thu dịch vụ của HTX So với năm 1986 cán bộ gián tiếp của HTX giảm 41,6%, từng bước năng lực điều hành, quản lý của ban quản lý HTX được nâng lên, tinh gọn, hoạt động có hiệu quả hơn Hoạt động của HTX nông nghiệp phần lớn tập trung sản xuất cây lúa, điều hành kế hoạch sản xuất, lịch thời vụ cũng như các dịch vụ: bơm tưới, chuyển giao kỹ thuật

Qua kết quả sản xuất từ năm 1991 lại đây, nhờ điều hành hoạt động theo cơ chế mới, tập trung đầu tư san lấp mặt bằng, phát triển hệ thống thủy lợi, áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật như cơ cấu giống mới, lịch thời vụ phòng chống sâu bệnh, lũ lụt nên năng suất, sản lượng và thu nhập của khu vực HTX không ngừng được nâng lên Năng suất lúa bình quân từ 8,1 tấn/ha/năm 1991 lên 10,8 tấn/ha/năm 1996 So với sản xuất cá thể, chi phí sản xuất của HTX thấp hơn 16% và năng suất cao hơn 25-30%, bình quân lương thực đầu người đạt 3.412 kg/năm, cao hơn toàn tỉnh 2,7 lần, thu nhập bình quân hộ

xã viên đạt 5,18 triệu đồng/người/năm, cao hơn mức thu nhập cá thể Đời sống mọi mặt của hộ nông dân trong khu vực kinh tế HTX được cải thiện tích cực Có gần 50% số hộ

có nhà xây dựng kiên cố,100% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt và sản xuất, 90% số hộ

có ti vi, cassette Trạm xá, trường học được xây dựng kiên cố, có cả trường dân lập, làm bảo hiểm y tế Đời sống văn hóa, phong trào cách mạng ở địa phương được các hộ xã viên tích cực hưởng ứng, an ninh trật tự giữ vững làm hạn chế thấp nhất các tệ nạn xã hội, tình làng nghĩa xóm được nâng cao [34]

Một phong trào được phát động và duy trì hơn 10 năm nay, thu hút hàng vạn hộ nông dân trong tỉnh tham gia, đó là phong trào nông dân thi đua sản xuất giỏi Kết quả trong năm 1999 qua bình xét toàn tỉnh có 21.500 hộ và 14 tập thể đạt danh hiệu "Nông dân sản xuất giỏi" Đến năm 1999 toàn tỉnh có hơn 60.000 HND đạt danh hiệu sản xuất giỏi, chiếm 27,2% số hộ nông nghiệp của tỉnh [44]

Những HND sản xuất giỏi là những hộ sản xuất hàng hóa, luôn phải suy nghĩ tính toán sao cho có lãi, có ý thức tự lực tự cường vươn lên làm giàu, phát huy nội lực gia đình là chính, nhờ vậy sử dụng có hiệu quả lao động, đất đai, đồng vốn Đây cũng là

Ngày đăng: 28/06/2014, 03:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Chung á - Nguyễn Đình Tấn, Nghiên cứu xã hội học. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xã hội học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[2] ĐBA, Bài 1, Những nghịch lý thừa và thiếu, giàu và nghèo. Tại sao? Báo Sài Gòn giải phóng, 26/9/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghịch lý thừa và thiếu, giàu và nghèo. Tại sao
[3] ĐBA, Tập trung mọi nguồn lực xóa đói giảm nghèo. Báo Sài Gòn giải phóng, 30/9/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập trung mọi nguồn lực xóa đói giảm nghèo
[5] Ban nghiên cứu lịch sử đảng tỉnh Kiên Giang, Tìm hiểu Kiên Giang. ấn hành 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Kiên Giang
[6] Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, Văn phòng chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo, Tài liệu tập huấn sử dụng cho cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo, các đoàn thể cấp tỉnh, thành phố và huyện. Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn sử dụng cho cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo, các đoàn thể cấp tỉnh, thành phố và huyện
[7] Bộ Lao động - Thương Binh - Xã hội, Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về xóa đói giảm nghèo. Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về xóa đói giảm nghèo
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
[10] Cục thống kê Kiên Giang, Thực trạng người nghèo. tháng 10/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng người nghèo
[11] Cục Thống kê Kiên Giang, Báo cáo kết quả điều tra HND không đất sản xuất. Báo cáo số 17 BC/TK, ngày 22/9/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra HND không đất sản xuất
[12] Ngọc Dung, Đảng viên phải đi đầu trong xóa đói giảm nghèo. Báo Kiên Giang, số 1204, ngày 6-1-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng viên phải đi đầu trong xóa đói giảm nghèo
[13] Đominique Haughton, Jonathan Haughton, Sarah Bales, Trương Thị Kim Chuyên, Nguyễn Nga, Hoàng Văn Kỉnh, Hộ gia đình Việt Nam nhìn qua phân tích định lượng. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hộ gia đình Việt Nam nhìn qua phân tích định lượng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[14] Nguyễn Thị Hằng, Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[16] Dương Phú Hiệp, Phân hóa giàu nghèo ở một số quốc gia khu vực châu á - Thái Bình Dương. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân hóa giàu nghèo ở một số quốc gia khu vực châu á - Thái Bình Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[17] Dương Phú Hiệp, Phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản từ 1945 đến nay. Nxb Chính trị quốc gia, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản từ 1945 đến nay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[18] Lê Văn Hồng, Nông nghiệp, nông thôn Kiên Giang - thực trạng và phương hướng phát triển đến năm 2000 và 2010. Tạp chí Nông nghiệp, công nghiệp, thực phẩm, số 8, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Kiên Giang - thực trạng và phương hướng phát triển đến năm 2000 và 2010
[20] Nguyễn Văn Huấn, Khái niệm nông hộ. Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 6/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm nông hộ
[4] Ban chỉ đạo điều tra hộ nghèo, Báo cáo kết quả điều tra biến động hộ nghèo và một số đối tượng xã hội năm 1997 tỉnh An Giang Khác
[9] Cục Thống kê Kiên Giang, Thông báo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang năm 1999 Khác
[15] Vũ Hiền - Trịnh Hữu Đản, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VIII) và vấn đề tín dụng nông nghiệp, nông thôn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w