1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt

99 541 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Các Ngành Kinh Tế Việt Nam Giai Đoạn 2000-2008 Bằng Mô Hình Toán Học
Tác giả Nguyễn Văn Hùng
Người hướng dẫn PGS.TS Đỗ Văn Thành
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội - Trường Đại Học Công Nghệ
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 7,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So với các công cụ dự báo kinh tế vĩ mô khác, mô hình IO có ưu điểm là có thể phân tích đồng thời quan hệ kinh tế giữa các ngành, trên phương diện phân phối và hình thành sản phẩm; phân

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

-o0o -

NGUYỄN VĂN HÙNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH

TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong luận văn là sản phẩm của riêng

cá nhân tôi Trong toàn bộ nội dung của luận văn, những điều được trình bầy hoặc là của cá nhân hoặc là được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu Tất cả các tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng và được trích dẫn hợp pháp

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định cho lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2011

Người cam đoan

Nguyễn Văn Hùng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên từ thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi muốn bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc của mình tới tất cả mọi người

Tôi xin bày tỏ sự cám ơn đặc biệt tới PGS.TS Đỗ Văn Thành, người

đã định hướng cho tôi trong lựa chọn đề tài, đưa ra những nhận xét quý giá và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong khoa CNTT - Trường Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội đã dạy bảo tận tình cho tôi trong suốt khoảng thời gian học tập tại trường

Tôi xin cảm anh Đặng Huyền Linh, người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình tìm hiểu và thu thập dữ liệu các bảng IO để xây dựng chương trình tính toán

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình của mình, nguồn động viên và cổ vũ lớn lao và là động lực giúp tôi thành công trong công việc và trong cuộc sống

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2011

Nguyễn Văn Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 2

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH IO 5

1.1 Mô hình Input-Output (Mô hình IO) 5

1.1.1 Lý thuyết về mô hình IO 5

1.1.1.1 Bảng IO 5

1.1.1.1.1 Một số bảng IO 9

1.1.1.1.2 Cách lập bảng IO 11

1.1.1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản để xây dựng bảng danh mục các ngành sản phẩm .11

1.1.1.1.4 Một số biến đổi trong quá trình lập bảng IO 12

1.1.1.2 Phân tích những ảnh hưởng kinh tế thông qua nhân tử vào – ra (IO multipliers) 14

1.1.1.2.1 Phương trình ảnh hưởng cơ bản 14

1.1.1.2.2 Những ảnh hưởng ban đầu từ nhu cầu cuối cùng 15

1.1.1.2.3 Tính tổng ảnh hưởng 16

1.1.1.2.4 Phân tích qua các nhân tử vào - ra 17

1.1.2 Các bảng IO của Việt Nam 22

1.2 Các ứng dụng mô hình IO 23

1.3 Kết luận 23

CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH IO VÀO CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ TÁC GIAI ĐOẠN 1996-2008 24

2.1 Phương pháp đánh giá tác động của nhân tố cầu đến tăng trưởng 24

2.1.1 Mô hình lý thuyết về phân tích tác động của các nhân tố cầu đến tăng trưởng 24

2.1.2 Dữ liệu phục vụ cho đánh giá 29

2.2 Vận dụng phương pháp để đánh giá tác động của 38 ngành sản phẩm công nghiệp chế tác 30

2.2.1 Luận cứ lựa chọn các ngành sản phẩm công nghiệp chế tác đưa vào phân tích 30

2.2.1.1 Danh mục các ngành sản phẩm 30

2.2.1.2 Một số ưu điểm 32

2.2.1.3 Một số nhược điểm 32

2.2.2 Quá trình phân tích bằng phần mềm Excel 33

2.2.2.1 Một số phương pháp phân tích cơ bản 33

2.2.2.1.1 Tính tỷ lệ VA/GO 35

2.2.2.1.2 Các tỷ lệ thành phần của VA 35

2.2.2.1.3 Đo lường đóng góp của nhân tố lao động vào giá trị gia tăng (VA) của ngành 35

2.2.2.1.4 Tỉ trọng đóng góp của các ngành vào giá trị gia tăng (VA) 36

Trang 5

2.2.2.1.5 Ma trận hệ số kỹ thuật A(ij) 36

2.2.2.1.6 Tỉ lệ chi phí trung gian của ngành 36

2.2.2.1.7 Ma trận Leontief 36

2.2.2.1.8 Hệ số nhân tử đầu ra - Output Multiplier 37

2.2.2.1.9 Hệ số nhân tử đầu vào - Input Multiplier 37

2.2.2.2 Phương pháp phân rã tăng trưởng 38

2.2.2.2.1 Quá trình tính toán trên từng bảng IO 38

2.2.2.2.2 Quá trình tính toán trên cùng 2 bảng IO (bảng IO1, IO2) 38

2.3.3 Các kết quả phân tích bằng phần mềm Excel cho 38 ngành công nghiệp chế tác 41

2.3 Kết luận 50

CHƯƠNG III: XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM BẰNG MÔ HÌNH IO 52

3.1 Xác định bài toán 52

3.3 Mô hình nghiệp vụ của hệ thống 52

3.3.1 Các chức năng nghiệp vụ 53

3.3.1.1 Chức năng nhập, sửa đổi bảng IO 53

3.3.1.2 Chức năng tìm kiếm bảng IO 54

3.3.1.3 Chức năng xóa bảng IO 54

3.3.1.4 Chức năng nhóm gộp các ngành 54

3.3.1.5 Chức năng các kỹ thuật phân tích 54

3.3.2 Sơ đồ ngữ cảnh của hệ thống 55

3.3.3 Mô hình hóa quá trình xử lý 56

3.4 Mô hình kiến trúc hệ thống 57

3.4 Xây dựng chương trình 57

3.4.1 Xây dựng các hàm cho hệ thống 57

3.4.2 Xây dựng các màn hình chức năng cho hệ thống 64

3.5 Môi trường thử nghiệm 65

3.6 Cài đặt chương trình 65

3.7 Dữ liệu đầu vào của hệ thống 65

3.8 Một số giao diện thực hiện chương trình 65

3.9 Kết luận 71

KẾT LUẬN 73

1 Những kết quả chính đạt được của luận văn 73

2 Hướng nghiên cứu, mở rộng 73

TÀI LIỆU KHAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 75

Trang 6

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

in the domestic Final Demand

Thay thế nhập khẩu cho nhu cầu nội địa

in the Entermediate Demand

Thay thế nhập khẩu cho nhu cầu trung gian

Trang 7

Hình 3.7 Giao diện nhập để cho phép Import từ Excel 67 Hình 3.8 Giao diện Import Ngành và DL ngành từ Excel 68

Trang 8

MỞ ĐẦU

Phân tích, dự báo kinh tế là công việc phức tạp nhưng rất cần thiết đối với mọi quốc gia Các cơ quan Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp… luôn cần có các thông tin phân tích, dự báo kinh tế để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, ra quyết định trong quản lý điều hành, xây dựng chiến lược và kế hoạch sản xuất kinh doanh… Để có được những thông tin như vậy, các nhà nghiên cứu đã cố gắng ứng dụng các mô hình toán học để phân tích

và dự báo các hành vi của các tác nhân kinh tế Một trong những mô hình được ứng dụng khá phổ biến trên thế giới để phân tích, dự báo kinh tế là mô hình bảng vào-ra (Input-Output - IO)

Mô hình IO lần đầu tiên được đưa ra bởi Wassily Leontief Đây là một trong những mô hình vĩ mô đầu tiên của kinh tế học hiện đại và được ứng dụng trong phân tích kinh tế từ những năm 1930 So với các công cụ dự báo kinh tế vĩ

mô khác, mô hình IO có ưu điểm là có thể phân tích đồng thời quan hệ kinh tế giữa các ngành, trên phương diện phân phối và hình thành sản phẩm; phân tích đuợc các mối quan hệ cân đối hiện vật cũng như giá trị; phân tích được các tác động dây chuyền trong nền kinh tế…

Ở Việt Nam, mô hình IO chỉ được bắt đầu nghiên cứu xây dựng từ giữa những năm 1980; việc lập trình cho một số ứng dụng của bảng IO ở Việt Nam chưa được quan tâm Hiện việc phân tích và tính toán ứng dụng mô hình IO chỉ dựa vào bảng tính EXCEL

Việc ứng dụng các kỹ thuật tin học để xây dựng phần mềm/chương trinh tin học nhằm hỗ trợ quá trình phân tích và dự báo kinh tế nói chung và phân tích kinh tế dựa vào bảng IO nói riêng đang được các nhà tin học kinh tế quan tâm

Đề tài “Đánh giá hiệu quả các ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2008 bằng mô hình toán học” sẽ tập trung tìm hiểu và ứng dụng của mô

hình IO để phân tích đánh giá hiệu quả của ngành Công nghiệp chế tác của Việt Nam dựa trên số liệu thực tế của nền kinh tế và lập chương trình tin học cho quá tình tính toán và phân tích đó Trong Đề tài này, tác giả ứng dụng 3 mô hình IO các năm 1996, 2000 và 2007 do Tổng Cục Thống kê điều tra, xây dựng để phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành Công nghiệp chế tác của Việt Nam giai đoạn 1996-2007 Các kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là một bằng chứng thực nghiệm chứng minh cho một số kết luận định tính về các nhân

tố quyết định sự phát triển của các ngành Công nghiệp chế tác ở Việt Nam hiện nay

Nội dung chính của Đề tài được trình bày trong 3 chương nội dung và phần phụ lục

Trang 9

4 Chương I: Tổng quan về mô hình IO sẽ trình bầy một cách tóm lược về

mô hình này và những ứng dụng chủ yếu của nó này trong phân tích, nghiên cứu các ngành kinh tế

Chương II: Ứng dụng mô hình IO vào các ngành công nghiệp chế tác giai đoạn 1996-2008 sẽ ứng dụng lý thuyết mô hình IO và sử dụng bảng tính Excel làm môi trường tính toán để nghiên cứu tác động của các nhân tố về phía cầu (hay sử dụng), của việc thay đổi hệ số kỹ thuật đến tăng trưởng và chuyển dịch

cơ cấu các ngành công nghiệp chế tác giai đoạn 1996-2008

Chương III: Xây dựng chương trình đánh giá hiệu quả các ngành kinh tế Việt Nam bằng mô hình IO sẽ trình bầy kết quả xây dựng chương trình tin học nhằm tự động hoá quá trình tính toán trong phân tích IO của các nhà phân tích

và dự báo kinh tế Phần phụ lục sẽ giới thiệu mã lệnh (code) của một số thủ tục, hàm và chương trình con của chương trình tin học được xây dựng

Cuối cùng là phần Kết luận và Tài liệu tham khảo

Trang 10

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH IO

Trong nhiều thập kỷ qua, với việc ứng dụng ngày càng nhiều các công cụ toán học vào nghiên cứu kinh tế, các phương pháp dự báo kinh tế đã phát triển không ngừng Các mô hình toán và kinh tế lượng rất được quan tâm trong công tác dự báo Tuy nhiên, cho đến nay, tính chính xác của các mô hình dự báo kinh

tế còn nhiều giới hạn Các cơ quan nghiên cứu lớn như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đều có các mô hình dự báo rất phức tạp và chi tiết nhưng các kết quả dự báo của họ so với thực tiễn nhiều khi vẫn có sai số khá lớn Điều này có thể nhận thấy qua việc so sánh các chỉ tiêu dự báo của họ với các chỉ tiêu thực tế xẩy ra sau đó

Mặc dù các kết quả dự báo so với thực tiễn vân chưa thật chính xác nhưng nói chung chúng phản ánh được xu thế biến động của các hiện tượng kinh tế Việc nghiên cứu tìm kiếm các phương thức dự báo thích hợp với nền kinh tế luôn là một việc cần thiết, quan trọng đối với mỗi quốc gia Một trong các mô hình toán học hỗ trợ cho các nhà kinh tế trong việc phân tích và dự báo là mô hình Input-Output

Chương này sẽ trình bầy tổng quan về mô hình này và việc ứng dụng của

nó trong việc phân tích, dự báo kinh tế

1.1 Mô hình Input-Output (Mô hình IO)

1.1.1 Lý thuyết về mô hình IO

Mô hình IO về cơ bản là một hệ phương trình tuyến tính (linear) mô tả mối liên hệ giữa đầu vào (input) và đầu ra (output) của từng ngành sản xuất trong nền kinh tế Vì đầu vào của một ngành có thể là đầu ra của nhiều ngành khác, bất kỳ một thay đổi nào trong một ngành (ví dụ sản phẩm tăng, thuế thay đổi, công nghệ thay đổi…) đều có sự “lan tỏa” ra các ngành khác, không trực tiếp cũng gián tiếp Bởi vậy ứng dụng quan trọng nhất của mô hình này là tính các “chỉ số lan tỏa” (multiplier) của từng ngành, nghĩa là ảnh hưởng khi nó thay đổi vào các ngành khác

1.1.1.1 Bảng IO

Bảng IO bắt nguồn từ những ý tưởng trong cuốn ‘Tư bản’ của Karl Marx khi ông tìm ra mối quan hệ trực tiếp theo quy luật kỹ thuật giữa các yếu tố tham gia quá trình sản xuất Tư tưởng này của ông sau đó được Wassily Leontief (Nobel kinh tế, 1973) phát triển bằng cách toán học hoá toàn diện quan hệ cung, cầu trong toàn nền kinh tế Leontief coi mỗi công nghệ sản xuất là một mối quan

Trang 11

6

hệ tuyến tính giữa số lượng sản phẩm được sản xuất ra và các sản phẩm vật chất

và dịch vụ làm chi phí đầu vào Mối liên hệ này được biểu diễn bởi một hệ thống hàm tuyến tính với những hệ số được quyết định bởi quy trình công nghệ Với tư tưởng này, vào năm 1936 W Leontief đã xây dựng cho Hoa kỳ hai bảng IO đầu tiên với số liệu của các năm 1919 và 1929 Năm 1941 chúng được xuất bản với tên gọi “ Cấu trúc của nền kinh tế Hoa kỳ”

Sau này bảng IO đã được phát triển và mở rộng để nghiên cứu rất nhiều vấn đề về kinh tế, xã hội, nhân khẩu học và môi trường … Đến nay, bảng IO còn được sử dụng như một công cụ quan trọng để lượng hóa mối quan hệ giữa kinh

tế và môi trường

Hệ thống các tài khoản quốc gia (SNA), một hệ thống thống kê phản ánh

vĩ mô nền kinh tế trong nhiều thập kỷ, được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, coi mô hình IO là trung tâm của hệ thống này Tuy nhiên hệ thống SNA lần đầu tiên được Liên Hợp Quốc xuất bản vào năm 1953 không có mô hình IO

Hệ thống tài khoản quốc gia được điều chỉnh năm 1968 đã coi bảng IO là trung tâm của toàn bộ hệ thống SNA đã sử dụng bảng IO để mô tả việc sử dụng các sản phẩm vật chất và dịch vụ, lao động (được đo bằng thu nhập người lao động), tài sản cố định (được thể hiện bằng khấu hao tài sản cố định) trong quá trình sản xuất của từng hoạt động sản xuất Bảng IO không những cho biết chi phí trực tiếp cho sản xuất mà cả chi phí gián tiếp trong vòng tròn khép kín của quá trình sản xuất

Bảng IO có cấu trúc như sau:

x 11 x 12 x 1n y 11 y 1p m 1 x 1

x 21 x 22 x 2n y 21 y 2p m 2 x 2

X Y

x n1 x n2 x nn y n1 y np m n x n -

Trang 12

x = - véc tơ cột gồm n thành phần x1, , xn là giá trị sản xuất của các ngành

p = 5 - Số thành phần của nhu cầu cuối cùng, cụ thể là các thành phần tiêu dùng

cá nhân, tiêu dùng xã hội, tích luỹ tài sản cố định, tích luỹ tài sản lưu động và xuất khẩu

X = (xij) - ma trận kích thước n  n các sản phẩm trung gian, cụ thể xij là giá trị các sản phẩm ngành i tham gia vào quá trình sản xuất của ngành j

Y = (yij) - ma trận kích thước n  5 các thành phần của nhu cầu cuối cùng, cụ thể yij là giá trị các sản phẩm ngành i tham gia vào nhu cầu cuối cùng loại j

Xm, Ym - các ma trận tương tự như ma trận X, Y nhưng xây dựng đối với các sản phẩm nhập khẩu

m - véc tơ cột gồm n thành phần m1, , mn là giá trị sản phẩm nhập khẩu của các ngành

q = 4 - số thành phần của đầu vào đầu tiên (primary inputs), cụ thể là các thành phần khấu hao tài sản cố định, thù lao lao động, lợi nhuận và thuế sản xuất

V = (vij) - ma trận kích thước 4  n các thành phần của đầu vào đầu tiên đối với

n ngành, cụ thể vij là giá trị của đầu vào đầu tiên loại i trong ngành j,

Trang 13

8 khấu hao tài sản cố định, thuế sản xuất (còn gọi là thuế gián thu), thặng dư sản xuất Tổng giá trị sản phẩm mới được sản xuất ra theo cột gọi là Sản lượng đầu vào (Gross Input - GI) hay còn được gọi là tổng chi phí sản xuất tạo ra giá trị sản phẩm (bằng chi phí trung gian cộng với giá trị tăng thêm)

- Về giác độ hiện vật (theo hàng hay ngành sản phẩm): Thể hiện cầu (sử dụng) của sản phẩm tức là sản phẩm đó được dùng như thế nào? Sản phẩm có thể được dùng cho sản xuất, cho Tiêu dùng cuối cùng (bao gồm tiêu dùng của hộ gia đình và tiêu dùng của Chính phủ), cho Tích lũy hoặc cho Xuất khẩu

- Dùng cho sản xuất ở đây được hiểu là sản phẩm vật chất và dịch vụ được sử dụng làm chi phí đầu vào trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm khác

Về bản chất việc sử dụng sản phẩm đó không bị mất đi trong quá trình sản xuất

mà được chuyển dịch vào sản phẩm mới được tạo ra Trong tài khoản quốc gia cũng như trong bảng IO, sản phẩm được dùng vào sản xuất được gọi là tiêu dùng trung gian (Intermediate Consumption)

- Các nhân tố cầu ở trong bảng IO là các nhân tố: (i) Tiêu dùng cuối cùng, bao gồm tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng chính phủ; (ii) Tích lũy tài sản, bao gồm tích lũy tài sản cố định và tích lũy tài sản lưu động; (iii) Xuất khẩu

- Các nhân tố cung trong bảng IO là các nhân tố: Thù lao lao động, vốn khấu hao tài sản cố định và lợi nhuận

- Tiêu dùng cuối cùng (Final Consumption): là những sản phẩm vật chất

và dịch vụ được sử dụng vào mục đích thường ngày về đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội Những sản phẩm đó sẽ tiêu phí mất đi trong quá trình sử dụng

- Tích lũy tài sản (Gross Capital Formation): là sản phẩm được sử dụng để tích lũy cho quá trình sản xuất của thời kỳ sau

- Xuất khẩu (Export): là sản phẩm vật chất và dịch vụ được dùng cho xuất khẩu Những sản phẩm này được sản xuất trong nước nhưng được tiêu dùng cho nhu cầu sử dụng của nước ngoài (bên ngoài lãnh thổ kinh tế)

- Chỉ tiêu nhập khẩu (Import): được sử dụng để cân đối giữa cung và cầu hoặc giữa nguồn và sử dụng

Chỉ tiêu tổng hợp của các chỉ tiêu tiêu dùng cuối cùng, tích lũy, xuất khẩu

và nhập khẩu là chỉ tiêu sử dụng cuối cùng (Final Demand)

Tổng theo hàng được gọi là Giá trị sản xuất (Gross Output: GO) Tổng theo cột (nguồn - cung) là tổng chi phí sản xuất (Gross Input: GI), tổng chi phí theo cột bằng tổng giá trị sản xuất theo hàng, hoặc tổng nguồn phải bằng tổng sử dụng, đó cũng là lý do nhiều nhà kinh tế cho rằng mô hình IO là mô hình toàn diện nhất phản ánh mối quan hệ cung - cầu Nói cách khác, mô hình IO vừa thể

Trang 14

hiện kết cấu về mặt giá trị, vừa thể hiện kết cấu về mặt hiện vật của sản phẩm và thể hiện mối quan hệ cung - cầu đối với từng sản phẩm

Sử dụng cuối cùng

GO giá

sử dụng cuối cùng

Phí

TN, vận tải

GO Giá người sản xuất

GI giá người

sản xuất X1 X2 A Xn A

Ghi chú: A là giá trị sản xuất của ngành thương nghiệp, vận tải hàng hóa

Trong bảng IO giá sử dụng cuối cùng các phần tử Xij bao gồm giá trị sản phẩm i theo giá thành công xưởng, phí lưu thông và thuế sản phẩm

b Bảng IO giá người sản xuất

BẢNG IO GIÁ SẢN XUẤT

Tiêu dùng trung gian

Thương nghiệp, vận tải

Sử dụng cuối cùng

GO Giá người sản xuất

Trang 15

Trong bảng IO giá sản xuất phần tử Aij không bao gồm phí lưu thông Do

đó phí lưu thông nằm trong các sản phẩm này được đưa về dòng thương nghiệp

và vận tải hàng hóa; tổng chi phí theo hàng giá người sản xuất cân bằng với tổng giá trị sản xuất theo cột của bảng IO giá người sản xuất

Bảng IO đem đến cho người đọc cái nhìn tổng thể về nền kinh tế, số liệu trong bảng phản ánh một cách tập trung và khái quát nhất mối quan hệ liên ngành trong quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm cho tiêu dùng cuối cùng; tích lũy tài sản; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Nó cho thấy để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm của một ngành thì cần bao nhiêu sản phẩm của ngành khác và ngược lại ngành đó cung cấp bao nhiêu sản phẩm để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm của ngành khác Từ đó cho phép tính toán và phân tích được các mối quan hệ; đánh giá hiệu quả sản xuất, tính toán được các chỉ tiêu tổng hợp khác Điều này rất quan trọng đối với các nhà sản xuất, các nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách

c Bảng IO theo giá cơ bản

Bảng IO theo giá cơ bản là bảng tốt nhất để tính ma trận nghịch đảo Leontief, vì làm tăng độ tuyến tính trong các quan hệ của bảng IO Để có bảng

IO theo giá cơ bản phải lập ma trận thuế, phần tử của ma trận thuế thể hiện: thuế nằm trong giá trị các sản phẩm vật chất đối với cả tiêu dùng trung gian và tiêu dùng cuối cùng Ta có:

Giá cơ bản = Giá người sản xuất – Thuế sản xuất

d Bảng IO cạnh tranh

Bảng IO loại này có thể lập trên phạm vi quốc gia hoặc vùng Trong bảng

IO này thì chi phí trung gian bao gồm cả sản phẩm trong nước và sản phẩm sản xuất ở nước ngoài (nhập khẩu)

e Bảng IO không cạnh tranh

Trang 16

Bảng IO loại này cũng có thể được lập trên phạm vi quốc gia hoặc vùng Trong bảng IO này chi phí trung gian được tách ra sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu

g Bảng IO liên vùng

Một trong những đóng góp quan trọng của các mô hình liên kết là sự phát triển của mô hình IO thành mô hình IO liên vùng Cùng với các mô hình kinh tế lượng, ma trận hoạch toán xã hội, mô hình cân bằng tổng thể, mô hình IO liên vùng được xem như một đối thủ trong việc lựa chọn các mô hình thích hợp đối với các nhà kinh tế Mô hình IO liên vùng thường là sự lựa chọn hàng đầu đối với Nhật Bản

Trước đây khi nghiên cứu về vùng, các mô hình phân tích chỉ xem xét các ảnh hưởng từ bên ngoài đến một vùng nào đó, mô hình IO liên vùng cho thầy được mức độ ảnh hưởng ngược của vùng này tới vùng khác, sau đó quay ngược

cả vùng

1.1.1.1.2 Cách lập bảng IO

Để lập bảng IO sẽ theo các bước sau:

 Bước 1: Xác định cỡ của bảng IO tức là số ngành sản phẩm dự định

 Bước 2: Xác định đối tượng điều tra để lập bảng IO, đối tượng điều tra phục vụ việc lập bảng IO thường là các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạch toán độc lập

 Bước 3: Sau khi xác định đối tượng điều tra, lấy đó làm cơ sở để lập dàn mẫu

 Bước 4: Xác định cỡ mẫu và tiến hành điều tra chọn mẫu với dàn mẫu đã được lập ở bước 3

 Bước 5: Thiết kế phiếu điều tra Việc thiết kế phiếu điều tra để lập bảng IO hết sức phức tạp, điều tra viên hoặc kế toán các doanh nghiệp cần bóc tách rất chi tiết các khoản chi phí

 Bước 6: Tiến hành tập huấn cho giám sát viên và các điều tra viên một cách kỹ lưỡng, vì điều tra để lập được bảng IO hết sức phức tạp

 Bước 7: Nghiệm thu kỹ phiếu điều tra trước khi tiến hành xử lý

 Bước 8: Làm sạch số liệu, xử lý và lập bảng IO

1.1.1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản để xây dựng bảng danh mục các ngành sản

phẩm

Trang 17

12 Ngành trong bảng IO được hiểu là ngành sản phẩm, bao gồm cả sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ Dù là phân ngành kinh tế hay phân ngành sản phẩm, đơn vị quan sát vẫn là các đơn vị hoạt động kinh tế có hoạch toán, căn cứ vào kết quả hoạt động sản xuất ra sản phẩm của đơn vị để phân loại các sản phẩm trong những ngành kinh tế khác nhau về các ngành sản phẩm tương ứng

Không coi sản phẩm hoàn thành trong từng công đoạn của phân xưởng thuộc ngành sản phẩm, nếu chúng không được bán ra bên ngoài mà chỉ sử dụng tiếp tục trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Nếu tách sản phẩm đến từng phân xưởng trong xí nghiệp công nghiệp thì chỉ tiêu giá trị sản xuất sẽ bị trùng và không phù hợp với phương pháp công xưởng trong việc tính giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp

1.1.1.1.4 Một số biến đổi trong quá trình lập bảng IO

Ma trận nghịch đảo Leontief (I – A)-1 với dòng và cột đều thể hiện ngành sản phẩm thuần túy, nó là tổng thể các sản phẩm đồng loại hoặc có thể thay thế cho nhau, thường giống nhau về công dụng, về quy trình công nghệ sản xuất Ngành ở đây được gọi là ngành sản phẩm thuần túy hoặc ngành sạch và do vậy trong nền kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp thường sản xuất nhiều hơn một sản phẩm Ví dụ doanh nghiệp sản xuất hàng dệt, nhưng lại có sản xuất phụ là may mặc, hoặc những sản phẩm phụ trợ khác mà … trong hạch toán của doanh nghiệp không thể bóc tách bao nhiêu là chi phí cho sản xuất chính là dệt, bao nhiêu là chi phí cho sản xuất phụ khác Từ thực tiễn trên Richard Stone đưa ra ý niệm xây dựng các ma trận vệ tinh trước khi tính ma trận A với dòng và cột là ngành sản phẩm, những ma trận vệ tinh được gọi là ma trận sử dụng (use matrix)

và ma trận sản xuất (make matrix) SNA xuất bản năm 1993 gọi là bảng sử dụng (Use table) và bảng nguồn (Supply table), còn gọi tắt là SUT (Supply and Use table) Tuy tên gọi có thay đổi nhưng những ý niệm cơ bản không thay đổi Sau đây là những khái niệm về các ma trận này:

Trang 18

Ở ma trận X ngành sản phẩm được thể hiện theo dòng và ngành kinh tế được thể hiện theo cột

Tức là ∑ Xjk (j = 1, n) là tổng theo dòng của ma trận X, thể hiện sản phẩm

j được sử dụng làm chi phí trung gian của các ngành trong nền kinh tế

Và ∑ Xjk (j = 1, n) với k = 1, n là tổng theo cột của ma trận

X là thể hiện tổng chi phí trung gian của ngành k

Phần tử Xjk thể hiện giá trị sản phẩm của sản phẩm j được dùng cho sản xuất của ngành kinh tế k

Gọi Y là vector sử dụng cuối cùng Y = (Y1, , Yn)

Với Yi là phần giá trị của sản phẩm i được sử dụng cho nhu cầu cuối cùng

qi vector biểu thị giá trị sản xuất của sản phẩm i

q’ vector chuyển vị của vector q

L vector biểu thị giá trị tăng thêm (GDP)

Trang 19

14 Các phần tử bên ngoài đường chéo của ma trận V cũng có thể tồn tại vì như lập luận ở trên, một đơn vị sản xuất không chỉ sản xuất một loại sản phẩm chủ yếu mà còn sản xuất nhiều loại sản phẩm khác

Vì vậy việc xây dựng ma trận V là phù hợp thực tế và đó cũng là một trong những sự khác nhau cơ bản trong cách tiếp cận thông tin với mô hình cân đối liên ngành mà chúng ta đã làm quen

Từ ma trận V như vừa nêu trên gọi V’ là ma trận chuyển vị của ma trận V

đó dựa vào nghiên cứu, hoặc những ảnh hưởng của ngành kinh tế đó đối với các ngành kinh tế khác

1.1.1.2.1 Phương trình ảnh hưởng cơ bản

Một mô hình vào ra ở dạng đơn giản nhất của nó là sự khớp nối đầy đủ việc phân tích các hoạt động qua lại trong nền kinh tế; Sự phát triển của một ngành kinh tế nào đó có sự tác động qua lại tới sự phát triển các ngành kinh tế khác Vì vậy, một phương pháp tiếp cận đúng được sử dụng để nghiên cứu một ngành kinh tế bằng cả 2 cách để dự báo xu hướng tăng trưởng của vector tiêu dùng cuối cùng, ví dụ việc tăng tiêu dùng cuối cùng của mỗi một loại mặt hàng trong nền kinh tế sẽ kéo theo sự đòi hỏi về sản lượng của những ngành kinh tế tương ứng và sau đó sử dụng phương trình ảnh hưởng cơ bản sau đây để tính tổng ảnh hưởng tới giá trị sản xuât:

Trang 20

Y: Là vector cột thể hiện nhu cầu tiêu dùng cuối cùng

S: Vector cột thể hiện chi tiêu dùng cuối cùng

E: Vector xuất khẩu

M: Vector nhập khẩu

Mỗi phần tử của ma trận chi phí trung gian AX được chia thành 2 bộ phận: Một bộ phận có nguồn gốc từ trong nước (AdX) và bộ phận còn lại có nguồn gốc từ nước ngoài (Mid), phương trình (3) được viết lại như sau:

X = (AdX + Mid) + Y (4) Hoặc

X = AdX + (S + E – M + Mid) (5) Khi đó, có phương trình sau:

Y = S + E – M

Yd = S + E – (M – Mid) Phương trình này có thể được áp dụng cho Yd hoặc cho sự thay đổi về nhu cầu cuối cùng đối với các sản phẩm được sản xuất trong nước ΔYd (M – Mid) là phần tử nhập khẩu cho tiêu dùng cuối cùng ΔYd là sự thay đổi nhu cầu cuối cùng Ad thể hiện ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp sử dụng các sản phẩm được sản xuất trong nước làm chi phí đầu vào Yd là sự thay đổi nhu cầu cuối cùng về hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước

1.1.1.2.2 Những ảnh hưởng ban đầu từ nhu cầu cuối cùng

ΔYd là vector ảnh hưởng ban đầu được sử dụng để tính toàn bộ những ảnh hưởng tới các ngành khác trong nền kinh tế ΔYd thể hiện sự thay đổi về nhu cầu cuối cùng về hàng hóa và dịch vụ trong nước Nhu cầu cuối cùng về hàng hóa và dịch vụ trong nước được hiểu là chi tiêu dùng cuối cùng cộng (+) xuất khẩu và trừ (-) đi nhập khẩu chi tiêu dùng cuối cùng

Nhu cầu cuối cùng về hàng hoá và dịch vụ có tác động trở lại hay hiệu ứng nhân tử tới nền kinh tế Trong chu kỳ đầu tiên, nhu cầu tăng lên về một sản phẩm của một ngành nhất định đòi hỏi ngành đó cần phải sản xuất ra sản phẩm nhiều hơn Kéo theo đó là sự gia tăng chi phí đầu vào để sản xuất sản phẩm Kết

Trang 21

16 quả là, nhu cầu tăng lên dẫn đến khối lượng sản xuất tăng theo và thu nhập của các ngành liên quan theo đó cũng gia tăng

1.1.1.2.3 Tính tổng ảnh hưởng

Tổng ảnh hưởng tới các chỉ tiêu kinh tế như giá trị tăng thêm, lao động, tổng giá trị tài sản và nhập khẩu là kết quả của việc tính toán toàn bộ những ảnh hưởng tới giá trị sản xuất

Tổng ảnh hưởng tới giá trị sản xuất:

ΔX được xem như tổng ảnh hưởng tới giá trị sản xuất xuất hiện do sự thay đổi về nhu cầu cuối cùng về hàng hóa và dịch vụ ΔX được tính toán theo phương trình (1)

Tổng ảnh hưởng tới giá trị tăng thêm:

ΔL là những thay đổi về số lao động được tạo ra do những thay đổi về nhu cầu cuối cùng (Y), l là vector hàng về hệ số lao động (ví dụ lao động, giờ làm việc bình quân của một đơn vị giá trị sản xuất của từng ngành kinh tế)

ΔK là những thay đổi về tổng giá trị tài sản cố định được đề xuất để thỏa mãn nhu cầu cuối cùng mới và k là vector hàng thể hiện tổng giá trị của tích sản xuất và tích tài sản không có nguồn gốc từ sản xuất (như đất đai) bình quân của một đơn vị giá trị sản xuất của từng ngành kinh tế nếu như tổng tích sản được gộp lại với nhau

Các vector v, l và k có thể được thay thế bằng ma trận nếu có giá trị tăng thêm, lao động và vốn có thể được tách ra theo loại (loại lao động, loại tài sản cố định) Ví dụ, giá trị tăng thêm bao gồm tiền công trả cho người lao động, thặng

dư sản xuất, khâu hao tài sản cố định, thuế sản xuất và thuế gián thu; Lao động

có thể được chia ra các loại: Lao động quản lý, lao động có kỹ năng tay nghề và lao động giản đơn Để nghiên cứu tích lũy tài sản thì rất cần phải có một sự điều chỉnh trong các khái niệm của SNA Trong SNA, giá trị tài sản được gắn liền với các hoạt động kinh tế hoặc ngành kinh tế có sở hữu vốn Chính vì nguyên

Trang 22

nhân này, nên đầu tư về đường sá, bến cảnh, sân bay và mạng lưới tiêu dùng do nhà nước xây dựng và sở hữu gắn liền với các hoạt động sản xuất ra các dịch vụ của Chính phủ thay vì từ các hoạt động kinh tế mà có được nguồn lợi trực tiếp từ các ngành đó, ví dụ như ngành công nghiệp vận tải và ngành nông nghiệp

1.1.1.2.4 Phân tích qua các nhân tử vào - ra

Nói đến phân tích IO tức là nói đến các nhân tử IO, các nhân tử IO được

sử dụng cho các loại bảng IO từ bảng IO dạng cạnh tranh, không cạnh tranh đến bảng IO liên vùng

Với A là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp; X là vector giá trị sản xuất; Y là vector sử dụng cuối cùng Quan hệ cơ bản của mô hình có dạng:

X = (I – A)-1Y (6)

Ma trận (I – A)-1 là ma trận nghịch đảo Leontief mở, ma trận này thể hiện

hệ số chi phí toàn phần của các ngành cho một đơn vị sử dụng cuối cùng tương ứng Mô hình IO “mở” bao gồm các hoạt động sản xuất và sử dụng cuối cùng (tiêu dùng cuối cùng hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước, tích lũy tài sản cố định, thay đổi tồn kho và xuất khẩu) Tuy nhiên, mô hình có thể được mở rộng với một cột và một dòng thêm ra cho ma trận hệ số chi phí trực tiếp A; cột thêm ra thể hiện tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình; dòng thêm ra thể hiện thu nhập của người lao động Ma trận A mở rộng ký hiệu là B và (I – B)-1 là ma trận nghịch đảo đóng Ma trận nghịch đảo đóng có cỡ lớn hơn ma trận nghịch đảo

mở (I – A)-1 một dòng và một cột

Trong phân tích IO, cột cuối cùng của ma trận (I – B)-1 là vector nhân tử tiêu dùng (Consumption multiplier) Ý nghĩa của vector này là khi tiêu dùng cuối cùng tăng thêm 1 đơn vị thì đòi hỏi giá trị sản xuất phải tăng thêm là bao nhiêu, điều này rất quan trọng trong việc định hướng các chính sách về kích cầu, xác định rõ khi tăng tiêu dùng cuối cùng của sản phẩm nào sẽ kích thích nhiều nhất đến nền kinh tế

Dòng cuối cùng của ma trận (I – B)-1 là vector nhân tử thu nhập của hộ gia đình (Household income multiplier) Vector này thể hiện khi tăng lên 1 đơn vị tiêu dùng cuối cùng thì thu nhập sẽ tăng lên bao nhiêu, vì khi tiêu dùng cuối cùng tăng sẽ kích thích sản xuất tăng, sản xuất tăng dẫn đến thu nhập tăng (một nhân tố của giá trị tăng thêm); điều này cũng có thể được hiểu khi có thu nhập là bao nhiêu sẽ tiêu dùng 1 đơn vị

Ma trận nghịch đảo đóng (I – B)-1 có (n+1) dòng và (n+1) cột Gọi B* là phần tử sản xuất của ma trận (I – B)-1, tức là ma trận (I – B)-1 nhưng không bao gồm dòng và cột cuối cùng B* được gọi là ma trận nghịch đảo Leontief mở rộng cho tiêu dùng cuối cùng và thu nhập Những phần tử của ma trận nghịch đảo

Trang 23

18 Leontief mở rộng lớn hơn phần tử của ma trận nghịch đảo Leontief mở, bởi vì chúng bao gồm cả phần thêm ra của sản lượng để đáp ứng ảnh hưởng của sản lượng do tiêu dùng cuối cùng gây ra Ma trận B* , A và (I – A)-1 là nền tảng cho các nhân tử vào ra (Input – Output multipliers)

Nhân tử đầu ra (Output Multipliers – OM)

Đây là chỉ tiêu quan trọng được sử dụng để các nhà phân tích hoặc hoạch định chính sách sử dụng để đưa ra những quyết định kinh tế vĩ mô Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:

Ψj = 

n i ii

r

rij: Phần tử của ma trận nghịch đảo Leontief

Ψj : Nhân tử đầu ra của ngành j

Công thức này được hiểu là để đáp ứng cho một đơn vị nhu cầu sử dụng cuối cùng, tổng chi phí đầu vào (bao gồm chi phí trực tiếp và gián tiếp cho sản xuất) là bao nhiêu Nếu Ψj càng lớn tức là ngành j sẽ có tác dụng kích thích sản xuất của các ngành khác trong nền kinh tế càng nhiều, vì nó sử dụng nhiều chi phí đầu vào là sản phẩm của ngành khác

Hay ta có thể diễn giải cách khác là:

Ma trận nghịch đảo Leontief (I – A)-1 có thể được biểu diễn theo lý thuyết chuỗi như sau:

(I – A)-1 = A0 + A1 + … + An (với n→ ∞) (7) Điều này cho thấy quá trình sản xuất bao gồm một chuỗi những vòng tròn khép kín

là những vector chuyển vị của vector

V0, V1, V2, V3 từ những ảnh hưởngnhân tử khác nhau được biểu diễn như sau:

- V’0 là vector đơn vị thể hiện ảnh hưởng ban đầu của quá trình sản xuất

- V’1 thể hiện vòng tròn đầu tiên trong quá trình sản xuất và cũng là tổng chi phí trung gian trên một đơn vị sản phẩm trong quá trình sản xuất

- V’2 là vector tổng chi phí toàn phần cho một đơn vị sản phẩm, bao gồm tổng tất cả các vòng tròn trong quá trình sản xuất – còn gọi là nhân tử đầu ra (Output multipliers)

Trang 24

- V’3 là vector cột thể hiện tổng đòi hỏi về đầu ra (sản lượng) khi sản xuất ảnh hưởng bởi sự gia tăng về tiêu dùng cuối cùng – còn gọi là tổng nhân tử đầu ra

- (V’3 – V’2) thể hiện ảnh hưởng về đầu ra khi có sự gia tăng về nhu cầu tiêu dùng cuối cùng

Nhân tử đầu vào (Input Multipliers – IM)

Vector này là tổng theo hàng của ma trận nghịch đạo Leontief Vector này thể hiện: Để tăng một đơn vị giá trị tăng thêm của ngành j thì nhu cầu sử dụng sản phẩm ngành j của các ngành khác trong nền kinh tế là bao nhiêu

Nhân tử thu nhập (Income Multipliers)

Gọi h là vector hệ số giữa thu nhập của người lao động và giá trị sản xuất Cũng như các vòng tròn liên tiếp trong quá trình sản xuất trong quan hệ (7), nhân hai vế của quan hệ (7) với h sẽ có:

h(I – A)-1 = h(A0 + A1 + … + An) = h + hA + … + hAn (8) Đặt: V1* = hA

V*2 = h(I – A)-1

V*3 = hB*Đặt h’, V1*’, V2*’, V3*’ là chuyển vị của vector h, V1*, V2*, V3*; h’, V1*’,

V2*’, V3*’ là những vector cột Lúc đó

- h’ là vector thể hiện ảnh hưởng ban đầu của sản xuất đến thu nhập

- V1*’ thể hiện vòng tròn đầu tiên của thu nhập, hoặc là hệ số thu nhập trực tiếp từ sản xuất

- V2*’ là vector tổng thu nhập từ sản xuất (Income multipliers)

- (V2*’ – h’ – V1*’) là thu nhập gián tiếp từ sản xuất

Nhân tử nhập khẩu (Import Multipliers)

Gọi k là vector hệ số nhập khẩu giữa giá trị nhập khẩu và giá trị sản xuất đối với từng sản phẩm Ta có:

Trang 25

Liên kết ngược (Backward linkage – BL)

Liên kết ngược dùng để đo mức độ quan trọng tương đối của một ngành với tư cách là bên sử dụng các sản phẩm vật chất và dịch vụ làm đầu vào từ toàn

bộ hệ thống sản xuất Liên kết ngược được xác định bằng tỷ lệ của tổng các phần tử theo cột của ma trận Leontief so với mức trung bình của toàn bộ hệ thống sản xuất Tỷ lệ này được gọi là hệ số lan toả (Index of the power of dispersion) và được xác định như sau:

n i ij k

r n

Liên kết xuôi ( Forward Linkage – FL)

Liên kết xuôi hàm ý mức độ quan trọng của một ngành như là nguồn cung sản phẩm vật chất và dịch vụ cho toàn bộ hệ thống sản xuất, liên kết này được xem như độ nhạy của nền kinh tế, được đo lường bằng tổng các phần tử theo hàng của ma trận nghịch đảo Leontief so với mức trung bình của toàn bộ hệ thống

Xét về độ nhậy và chỉ số lan tỏa có thể thấy mức độ thay đổi rõ rệt ở hầu hết các ngành (trong 22 ngành), đặc biệt là nhóm ngành nông nghiệp, suốt từ năm 1986 (dựa vào các bảng cân đối liên ngành 1989, 1996 và 2000) đến giai đoạn 2005 chỉ số lan tỏa của nhóm ngành nông nghiệp luôn nhỏ hơn 1, chỉ có độ nhậy là luôn lớn hơn 1; đến giai đoạn từ 2007 trở đi cả độ nhạy và độ lan tỏa của nhóm ngành nông nghiệp đều lớn hơn 1; tương tự là ngành thủy sản Đáng kể nhất là ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp có độ nhậy và độ lan tỏa mạnh nhất trong nền kinh tế Như vậy có thể thấy nhóm ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp có sự ảnh hưởng kích thích rất mạnh đến nền kinh tế trong giai đoan hiện nay, như vậy, có thể thấy chính sách về tam nông đã phát huy hiệu quả tích cực đối với nền kinh tế; nhưng xét về cơ cấu của những nhóm ngành này trong giai đoạn hiện nay có xu hướng giảm xuống Chẳng hạn cơ cấu của nhóm ngành nông nghiệp từ 13,35% năm 2000 giảm

Trang 26

xuống còn 8,27% trong năm 2007; cơ cấu nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm từ 12% xuống 10% …

Bảng thống kê: Liên kết ngược (LKN) và liên kết xuôi (LKX) trong nền kinh tế Việt Nam năm 2007 và 2000

Các kim loại cơ bản và các sản phẩm

Trang 27

22 doanh bất động sản

1.1.2 Các bảng IO của Việt Nam

Ở Việt Nam một số mô hình kinh tế sử dụng phân tích bảng IO để đánh giá tác động trực tiếp, gián tiếp lên quá trình sản xuất bởi yếu tố ngoại sinh, tức

là thay đổi do yếu tố bên ngoài mang đến đối với nhu cầu cuối cùng Ở Việt Nam, đối với loại mô hình này ma trận ngành sản phẩm x ngành sản phẩm phù hợp hơn

Bảng IO ở Việt Nam được lập theo 3 loại giá: giá người dụng cuối cùng, giá sản xuất và giá cơ bản Bảng IO theo giá cơ bản dùng trong phân tích đầu vào-đầu ra Điều quan trọng nhất là:

- Bảng IO theo giá cơ bản cung cấp giá trị thuần khiết nhất theo hàng

- Bảng IO theo giá cơ bản phản ánh thu nhập từ người lao động và vốn góp

 Bảng IO 1989: Đây là bảng IO đầu tiên được xây dựng và công bố Bảng

IO 1989 được lập với kích cỡ 54 x 54 ngành sản phẩm dưới sự giúp đỡ của Thống kê Liên Hợp Quốc

 Bảng IO 1996: là bảng IO lần thứ 2 được xây dựng vào năm 1996 với kích cỡ 97 x 97 ngành sản phẩm với kinh phí của Nhà nước và một phần của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

 Bảng IO 2000: là Bảng IO thứ 3 được xây dựng vào năm 2000 với kích cỡ

Trang 28

cung cấp bao nhiêu sản phẩm để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm của ngành khác Từ đó cho phép tính toán và phân tích được các mối liên hệ, đánh giá hiệu quả sản xuất, tính toán được các chỉ tiêu tổng hợp khác

Để thực hiện các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành công nghiệp chế tác đề tài sử dụng các bảng IO 1996, 2000 và 2007 mà không sử dụng bảng IO 1989 vì muốn làm rõ tác động của hội nhập kinh tế được thể hiện trong giai đoạn 1996-2008

1.2 Các ứng dụng mô hình IO

 Nhu cầu về sản xuất khi thay đổi nhu cầu cuối cùng

 Phân tích nhu cầu của sản phẩm (i nào đó) với giá trị tăng thêm của ngành

đó

 Ảnh hưởng của từng nhân tố của tổng cầu đến sản lượng

 Ảnh hưởng về giá cả nền kinh tế khi tăng lương hoặc thuế

 Ảnh hưởng của cầu đối với VA

 Tính toán và dự báo nhu cầu năng lượng

 Ảnh hưởng của nền kinh tế đến môi trường

 Nhu cầu về vốn, lao động và nhập khẩu

 Quan hệ giữa tiêu dùng (theo nhóm) và thu nhập

1.3 Kết luận

Trong chương này tác giả đã trình bày phần tìm hiểu về mô hình IO trong phân tích và đánh giá kinh tế Dựa trên phần lý thuyết mô hình IO mà trọng tâm của mô hình này là các bảng IO Dựa trên bảng IO có thể phân tích và dự báo một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và lập các dự án kế hoạch cho sản xuất kinh doanh Trong đó tác giả tập trung tìm hiểu các vấn đề sau:

Thứ nhất, tác giả đã tìm hiểu về bảng IO bao gồm cấu trúc của một bảng

IO, cách lập một bảng IO, các nghành trong bảng IO và các loại bảng IO đang

sử dụng ở Việt Nam

Thứ hai, tác giả đã trình bày những ảnh hưởng kinh tế thông qua các nhân

tử vào – ra (IO multiplier) từ bảng IO để biết xem sự lan tỏa, kích thích sự phát triển giữa các ngành kinh tế với nhau như nào

Thứ ba, tác giả giới thiệu về các bảng IO của Việt Nam lập và công bố

Trang 29

24

CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH IO VÀO CÁC NGÀNH CÔNG

NGHIỆP CHẾ TÁC GIAI ĐOẠN 1996-2008

Các nội dung của Chương I đã cho chúng ta những khái niệm cơ bản về

Mô hình IO Để hiểu rõ hơn Chương I, chương này sẽ tiến hành phân tích cụ thể vào ngành công nghiệp chế tác

Vận dụng các kỹ thuật phân tích mô hình IO, tất cả các nhân tố tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế nói chung cũng như các ngành công nghiệp chế tác nói riêng đều được xem xét Chính nhờ đó mà chúng

ta có thể đánh giá được các động lực quyết định tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp chế tác

Để vận dụng với điều kiện số liệu cụ thể của Việt Nam, tác giả tiến hành theo trình tự như sau: (i) Thứ nhất, lựa chọn các ngành công nghiệp chế tác để đưa vào phân tích; (ii) Thứ hai, xem xét các tác động ở cấp vĩ mô, tổng thể nền kinh tế; (iii) Thứ ba, xem xét các tác động ở cấp ngành để rút ra các nhận định

về quá trình chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp chế tác

2.1 Phương pháp đánh giá tác động của nhân tố cầu đến tăng trưởng

2.1.1 Mô hình lý thuyết về phân tích tác động của các nhân tố cầu đến tăng trưởng

Để phân tích tác động của các nhân tố cầu đến tăng trưởng và chuyển dịch

cơ cấu các ngành công nghiệp chế tác, tác giả sử dụng phương pháp phân rã nguồn tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu do Kubo-Robinson-Syrquin (1986) phát triển Nội dung cụ thể của phương pháp này được luận văn trích dẫn từ nghiên cứu "Thay đổi cơ cấu kinh tế theo thời gian tiếp cận từ phía cầu và cung" của các tác giả Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Việt Hùng và Nguyễn thị Cẩm Vân,

cụ thể như sau:

a Phương trình cân đối vật chất của mô hình vào ra trong nền kinh tế đóng

Phương trình cân đối vật chất cho một nền kinh tế đóng được định nghĩa như sau:

Xij = luồng hàng hoá trung gian từ ngành i sang ngành j

Xi = sản xuất trong ngành i

Pi = giá đầu ra trong ngành i

Fi = cầu cuối cùng đối với ngành i

aij = đòi hỏi sản phẩm trung gian từ ngành i trên một đơn vị đầu ra ngành

j

Trang 30

Tạm thời bỏ qua xuất khẩu và nhập khẩu, các hàng của các tài khoản vào

ra danh nghĩa có thể được viết là:

i i j

ij i i

i X P X P F

(1) Khi giả định công nghệ với hệ số cố định, các hệ số vào-ra là hằng số và được xác định bởi:

j

ij ij

X

X

a 

(2) Với một năm cho trước, tỷ số của các luồng trung gian trên đầu ra được tính như sau:

j j

ij i j

ij i

X P

X P P

a P

Nếu chọn một bảng vào-ra đại diện làm năm cơ sở, thì đơn vị của các luồng thực được định nghĩa sao cho tất cả các giá của nó bằng 1 Trong trường hợp này, các phương trình (2) và (3) là như nhau Các hệ số aij được định nghĩa

là giá tính bằng Việt Nam đồng của đầu vào từ ngành i cần thiết để sản xuất ra đầu ra trong ngành j theo giá năm cơ sở (trong nghiên cứu này năm cơ sở được chọn là năm 1994) và được tính trực tiếp từ bảng kế toán vào-ra danh nghĩa Lưu

ý rằng các hệ số tính từ phương trình (3) đối với những năm khác nhau trong đó giá tương đối là khác nhau không thể so sánh với nhau, bởi vì các đơn vị đầu ra thực khác nhau

Khi ta chia cả 2 vế của phương trình (1) cho mức giá, thì phương trình (1)

có thể viết lại như sau :

i j

j ij

b Phương trình cân đối vật chất của mô hình vào ra trong nền kinh tế mở

Khi xem xét ý nghĩa của thương mại trong hầu hết các nước đang phát triển hiện thời, quan trọng là đưa nhập khẩu và xuất khẩu vào mô hình vào-ra một cách tường minh Một cách tiếp cận chuẩn và có lẽ đơn giản nhất là giả định

Trang 31

26 rằng hàng hoá nhập khẩu và trong nước là “như nhau”; nghĩa là, chúng là những sản phẩm thay thế hoàn hảo trong mọi công dụng Khi đó có thể viết lại phương trình cân đối vật chất, phân biệt các nhóm khác nhau của cung và cầu:

ở đây các biến mới là

M = véc tơ nhập khẩu

F = véc tơ cầu trong nước

E = véc tơ xuất khẩu

Giải đối với X:

i i

d i d i i

V F

E X d

Xd = véc tơ sản xuất trong nước

V = véc tơ cầu trung gian (hỗn hợp của hàng nhập khẩu và trong nước)

F = véc tơ cầu cuối cùng trong nước (hỗn hợp của hàng nhập khẩu và trong nước)

Ed = véc tơ xuất khẩu hàng trong nước

Mm = véc tơ nhập khẩu

A = ma trận hệ số bảng vào - ra (I - O) với aij là cầu trung gian hỗn hợp của ngành i trên một đơn vị đầu ra trong nước trong ngành j Trong mô hình chuẩn thì V = A Xd

Bây giờ giả thiết rằng tỷ lệ của cầu trong nước đối với hàng hoá sản xuất trong nước trên tổng cầu trong nước là cố định theo ngành Các tỷ lệ cầu trong nước này được định nghĩa bằng ma trận Dˆ với các phần tử là các tham số di, phương trình cân đối vật chất đối với hàng hoá trong nước được viết như sau:

d d d

( ) ˆ

)

d I A F E

Trang 32

ở đây: A dDˆA

c Phương pháp phân rã xác định nguồn tăng trưởng của các ngành kinh tế

Từ phân tích ở trên ta có thể viết các phương trình cân đối vật chất đối với cung và cầu hàng hoá sản xuất trong nước là:

i i i i

i d F V E

ở đây (bỏ các chỉ số d)

Xi = sản xuất trong nước của ngành i

Di = tỷ lệ giữa cầu trong nước đối với hàng hoá sản xuất trong nước trên tổng cầu trong nước, như trong phương trình (8)

( ) ˆ

1

1D F R

1Dˆ ( A)X

ở đây R1  (IDˆ1A1 )1 và các chỉ số 1 và 2 ký hiệu cho các thời kỳ Phương trình này cho ta công thức phân rã cơ bản của thay đổi đầu ra ngành thành các nguồn thay đổi khác nhau gồm F, E, D và A

Hai số hạng đầu ở vế phải là những thay đổi trong tổng đầu ra do đóng góp của sự mở rộng cầu trong nước và xuất khẩu Số hạng thứ ba đo ảnh hưởng của thay thế nhập khẩu đối với sản xuất, thâu tóm bởi những thay đổi trong các

tỷ lệ cung trong nước Số hạng cuối cùng cho thấy ảnh hưởng của những thay đổi trong các hệ số IO biểu diễn sự mở rộng và làm sâu thêm những mối quan hệ liên ngành qua thời gian do những thay đổi trong hỗn hợp đầu vào trung gian

Đó là do những thay đổi trong công nghệ sản xuất cũng như sự thay thế giữa các đầu vào khác nhau (do thay đổi trong giá tương đối), mặc dù ta không thể tách các ảnh hưởng này

Trang 33

28 Phương trình (14) phân rã sai phân cấp một trong đầu ra thành các thành phần khác nhau có ý nghĩa hơn nhiều sự phân rã trực tiếp dựa trên phương trình (13), vì nó có thể giải thích cả tăng trưởng trong cầu trung gian mà cách phân rã trực tiếp đã bỏ qua Vì phương trình này phân rã tổng thay đổi trong đầu ra, nó được gọi là công thức sai phân cấp một và thích hợp nhất để nhận diện các “đầu máy” chính của tăng trưởng ngành

Có vài điểm đáng lưu ý về phương trình phân rã Thứ nhất, thay thế nhập khẩu được xác định theo ngành từ những thay đổi trong tỷ lệ nhập khẩu trên tổng cầu Chỉ định này ngầm giả định rằng hàng nhập khẩu là những hàng thay thế không hoàn hảo đối với hàng hoá trong nước Nó khác về quan niệm so với cách xử lý của Chenery và các tác giả khác (1962), trong đó hàng nhập khẩu được coi là thay thế hoàn hảo cho hàng trong nước và cả hai được cộng lại với nhau không có sự phân biệt trong cầu cuối cùng và trung gian Như đã trình bày

ở trên, cách tiếp cận trong nghiên cứu này cho phép chúng ta xử lý riêng rẽ hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước Theo định nghĩa sử dụng ở đây, tổng đóng góp của thay thế nhập khẩu vào tăng trưởng nhạy cảm với mức chi tiết hoá ngành Thí dụ, có thể có thay thế nhập khẩu dương trong mọi ngành nhưng lại

có tổng nhập khẩu trên tổng cầu tăng do những thay đổi trong cơ cấu theo ngành của cầu

Thứ hai, lưu ý rằng ảnh hưởng của những thay đổi trong các hệ số vào-ra bao gồm những thay đổi trong hệ số tổng và không phân biệt riêng rẽ giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá sản xuất trong nước Như vậy, các hệ số vào-ra có thể vẫn bằng hằng số (Aij = 0) và vì vậy số hạng cuối cùng trong (14) sẽ bằng

0, cho dù có những thay đổi trong các tỷ lệ cung trong nước (điều đó gây ra những thay đổi trong DˆA hoặc A d) Những thay đổi công nghệ được định nghĩa

là những thay đổi trong hệ số tổng, còn bất kỳ thay đổi trong các tỷ lệ cung trong nước trung gian được đưa vào trong số hạng thay thế nhập khẩu

Thứ ba, mỗi số hạng trong phân rã được nhân với các phần tử của ma trận nghịch đảo trong nước Leontief Do đó, nó thâu tóm cả những ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp của mỗi nhân tố tác động lên tổng đầu ra, có xét đến những liên kết qua cầu trung gian

Cuối cùng, lưu ý rằng có vấn đề chỉ số không tường minh trong phương trình phân rã vì phép phân rã có thể được định nghĩa hoặc sử dụng các hệ số cơ cấu năm cuối và các trọng số khối lượng năm khởi đầu, hoặc sử dụng các hệ số

cơ cấu năm khởi đầu và các trọng số khối lượng năm cuối [như trong (14)] Hai phiên bản tương tự với các chỉ số giá Paasche và Laspeyres Trong phân tích sau

Trang 34

đây, tính toán riêng rẽ cả hai chỉ số đối với phép phân rã trong mỗi thời kỳ và trình bày trung bình của hai chỉ số

Để phân tích những nguyên nhân thay đổi trong cơ cấu đầu ra, cần xem xét những độ lệch so với tăng trưởng theo tỷ lệ Nếu định nghĩa độ lệch so với tăng trưởng theo tỷ lệ của đầu ra của ngành i là  X i2  X i2  X i1, ở đây  là tỷ số của tổng sản phẩm quốc gia (GNP) trong thời kỳ 2 trên GNP trong thời kỳ 1 Sau khi biểu diễn phương trình cân đối vật chất ở dạng độ lệch, ta có thể giải thích sự tăng trưởng không tỷ lệ trong đầu ra theo kiểu tương tự với (14) như sau:

F D R

1Dˆ ( A)X

Trong công thức này các độ lệch () thay thế các số gia (), còn hai số hạng cuối đo thay thế nhập khẩu và thay đổi công nghệ thì trùng với (14) Lưu ý rằng vì tổng các độ lệch so với tăng trưởng cầu là bằng 0, các số hạng cầu kết hợp các ảnh hưởng Engel và ảnh hưởng giá tương đối Hơn nữa, vì độ lớn của

Xi thường nhỏ hơn nhiều so với Xi, và vì những ảnh hưởng thay thế nhập khẩu và thay đổi kỹ thuật là vẫn như thế, tầm quan trọng tương đối của cầu trong nước trong công thức độ lệch giảm đi đáng kể Công thức này hữu ích để giải thích thay đổi cơ cấu trong sản xuất

Để mở rộng hơn phân tích, chúng ta có thể phân rã tiếp tục mở rộng cầu cuối cùng (F) trong nước thành 4 thành phần sau:

(1) F1= tiêu dùng của hộ gia đình;

(2) F2= chi tiêu của chính phủ;

(3) F3= hình thành vốn;

(4) F4= thay đổi trong hàng tồn kho

Sử dụng ký hiệu thay đổi tổng cầu trong nước là X; Mở rộng cầu trong nước ký hiệu là DD; Mở rộng xuất khẩu ký hiệu là EE; Thay thế nhập khẩu ký hiệu là IS; Thay đổi trong các hệ số vào-ra ký hiệu là IO Với ký hiệu đó phương trình (14) có thể viết lại như sau:

Trang 35

30

Dữ liệu phục vụ cho đánh giá chính là các bảng IO do cục thống kê đưa

ra Hiện giờ tổng cục thống kê đưa ra 4 bảng IO đã có kết quả điều tra là:

- Bảng IO 1989: Đây là bảng IO đầu tiên được xây dựng và công bố Bảng IO 1989 được lập với kích cỡ 54 x 54 ngành sản phẩm dưới sự giúp đỡ của Thống kê Liên Hợp Quốc

- Bảng IO 1996: là bảng IO lần thứ 2 được xây dựng vào năm 1996 với kích cỡ 97 x 97 ngành sản phẩm với kinh phí của Nhà nước và một phần của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

- Bảng IO 2000: là Bảng IO thứ 3 được xây dựng vào năm 2000 với kích

Căn cứ vào các danh mục ngành sản phẩm của 3 bảng IO 1996, 2000 và

2007 và mục tiêu, phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả nghiên cứu đã tiến hành gộp các ngành sản phẩm trong 3 bảng IO thành 38 ngành sản phẩm Danh mục cụ thể của 38 ngành sản phẩm như sau:

Bảng: Danh mục 38 ngành sản phẩm đưa vào phân tích

su

N4 Chế biến bảo quản thịt và các

loại (dụng cụ y tế, thiết bị chính xác quang học, đồng hồ các loại,

Trang 36

Ngành Gộp ngành Ngành Gộp ngành

dụng cụ gia đình, mô tô xe máy,

xe đạp và các máy móc thông dụng khác)

chuyên dùng, ô tô các loại và thiết bị vận tải khác)

móc thiết bị điện, máy móc thiết

bị truyền thanh, truyền hình và thông tin)

bằng kim loại đen đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị)

N10 Chế biến thuỷ sản và sản phẩm

từ thuỷ sản

N29 Luyện kim màu và các sản phẩm

bằng kim loại màu đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị)

N11 Xay xát, chế biến lương thực và

thực phẩm khác

N30 Dệt vải, dệt kim

biến thức ăn gia súc, sản phẩm công nghiệp in, sản phẩm công nghiệp khác còn lại)

N18 Hóa chất hữu cơ và vô cơ căn

bản

N37 Các dịch vụ thị trường

Nguồn: Tính toán của tác giả

Theo bảng "Danh mục 38 ngành sản phẩm đưa vào phân tích", khối ngành nông lâm ngư nghiệp được nhóm thành 2 ngành sản phẩm, khối ngành dịch vụ cũng được nhóm thành 2 ngành sản phẩm Còn lại, 34 ngành là các ngành sản phẩm của khu vực công nghiệp và xây dựng, trong đó 32 ngành sản phẩm của

Trang 37

32 công nghiệp chế tác Việc lựa chọn 38 ngành sản phẩm này được dựa vào hai tiêu chí sau:

1 Đảm bảo nhiều nhất có thể được các ngành công nghiệp chế tác trong các bảng IO 1996, 2000 và 2007

2 Các ngành không nằm trong phạm vi nghiên cứu được ghép lại tối đa

để đảm bảo sai số trong quá trình phân rã tăng trưởng là thấp nhất có thể được Thực tế vận dụng các phương pháp phân rã tăng trưởng đã cho thấy số lượng ngành sản phẩm đưa vào phân tích tăng lên thì sai số cũng tăng lên tương ứng

Việc lựa chọn nhóm ngành này có một số ưu nhược điểm sau:

2.2.1.2 Một số ưu điểm

Nhóm 38 ngành sản phẩm gộp kể trên bao quát được tất cả các ngành sản phẩm công nghiệp chế tác của 3 bảng IO 1996, 2000 và 2007, tạo điều kiện cho việc phân tích động lực thúc đẩy tăng trưởng của các ngành cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu giai đoạn 1996-2007

Việc nhóm, gộp các ngành sản phẩm trong bảng IO nhưng vẫn đảm bảo

số lượng tối đa có thể có các sản phẩm công nghiệp chế tác sẽ cho phép phân tích chi tiết nhất về các động lực của tăng trưởng cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu nội bộ nhóm ngành công nghiệp chế tác

Các nhóm ngành sản phẩm được lựa chọn là khá tương thích với các ngành công nghiệp trong các niên giám thống kê Điều này sẽ cho phép dễ dàng tìm kiếm các số liệu thống kê để đối chứng, bổ sung cho các phân tích bằng mô hình IO trong chương này

bỏ các yếu tố về giá Nhằm hạn chế nhược điểm này, Đề tài sẽ chú trọng phân

Trang 38

tích, đánh giá các khía cạnh về chuyển dịch cơ cấu phía cung, phía cầu của các ngành sản phẩm giữa hai giai đoạn 1996-2000 và 2000-2007

2.2.2 Quá trình phân tích bằng phần mềm Excel

2.2.2.1 Một số phương pháp phân tích cơ bản

Minh họa quá trình tính toán là bảng IO 2000 đã gộp thành 3 ngành: Công nghiệp – Xây dựng, Nông nghiệp và Dịch vụ

Kết quả gộp bảng IO như sau:

Trang 39

34

Mô tả bảng IO:

Trang 40

2.2.2.1.1 Tính tỷ lệ VA/GO

Đo lường tỉ lệ giá trị gia tăng thu được từ tổng giá trị sản xuất của ngành

Tỷ lệ này tính theo công thức như sau:

j

j

GO

VA GO

V1j: Đo lường tỉ lệ chi phí nhân công trong tổng giá trị sản xuất của ngành

j (Tỷ lệ này chính là phép chia của hàng "Lương"j cho tổng giá trị sản xuất GOj

của ngành j)

V2j: Đo lường tỉ lệ lợi nhuận trong tổng giá trị sản xuất của ngành j (Tỷ lệ này chính là phép chia của hàng "Khấu hao"j cho tổng giá trị sản xuất GOj của ngành j)

V3j: Đo lường tỉ lệ khấu hao tài sản cố định trong tổng giá trị sản xuất của ngành j (Tỷ lệ này chính là phép chia của hàng "Lợi nhuận"j cho tổng giá trị sản xuất GOj của ngành j)

V4j: Đo lường tỉ lệ thuế gián thu trong tổng giá trị sản xuất của ngành j (Tỷ lệ này chính là phép chia của hàng "Thuế"j cho tổng giá trị sản xuất GOj của ngành j)

V5j: Đo lường tỉ lệ chi phí vốn trong tổng giá trị sản xuất của ngành j (Tỷ

lệ này chính là phép chia của hàng "Khấu hao + Lợi nhuận"j cho tổng giá trị sản xuất GOj của ngành j)

Ngày đăng: 28/06/2014, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT  TT  Chữ viết tắt  Tên đầy đủ  Ý nghĩa - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
h ữ viết tắt Tên đầy đủ Ý nghĩa (Trang 6)
Bảng IO có cấu trúc như sau: - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
ng IO có cấu trúc như sau: (Trang 11)
Bảng IO giá sử dụng cuối cùng có dạng như sau: - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
ng IO giá sử dụng cuối cùng có dạng như sau: (Trang 14)
BẢNG IO GIÁ SỬ DỤNG CUỐI CÙNG - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
BẢNG IO GIÁ SỬ DỤNG CUỐI CÙNG (Trang 14)
Bảng IO đem đến cho người đọc cái nhìn tổng thể về nền kinh tế, số liệu  trong  bảng  phản  ánh  một  cách  tập  trung  và  khái  quát  nhất  mối  quan  hệ  liên  ngành  trong  quá  trình  sản  xuất  và  sử  dụng  sản  phẩm  cho  tiêu  dùng  cuối  cùng; - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
ng IO đem đến cho người đọc cái nhìn tổng thể về nền kinh tế, số liệu trong bảng phản ánh một cách tập trung và khái quát nhất mối quan hệ liên ngành trong quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm cho tiêu dùng cuối cùng; (Trang 15)
Bảng thống kê: Liên kết ngược (LKN) và liên kết xuôi (LKX) trong nền kinh tế  Việt Nam năm 2007 và 2000 - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
Bảng th ống kê: Liên kết ngược (LKN) và liên kết xuôi (LKX) trong nền kinh tế Việt Nam năm 2007 và 2000 (Trang 26)
Bảng IO ở Việt Nam được lập theo 3 loại giá: giá người dụng cuối cùng,  giá  sản  xuất  và  giá  cơ  bản - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
ng IO ở Việt Nam được lập theo 3 loại giá: giá người dụng cuối cùng, giá sản xuất và giá cơ bản (Trang 27)
Bảng IO 1989 được lập với kích cỡ 54 x 54 ngành sản phẩm dưới sự giúp đỡ của  Thống kê Liên Hợp Quốc - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
ng IO 1989 được lập với kích cỡ 54 x 54 ngành sản phẩm dưới sự giúp đỡ của Thống kê Liên Hợp Quốc (Trang 35)
Bảng IO 2000 gộp thành 3 ngành: - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
ng IO 2000 gộp thành 3 ngành: (Trang 39)
Bảng 8: Hiệu hai ma trận I-A ij - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
Bảng 8 Hiệu hai ma trận I-A ij (Trang 42)
Bảng 13: Tỉ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất (VA/GO), %  Ngành  VA/GO - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
Bảng 13 Tỉ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất (VA/GO), % Ngành VA/GO (Trang 47)
Bảng 15: Đóng góp của các thành phần cầu đối với sự gia tăng đầu ra của  các sản phẩm chế tác có tỉ trọng xuất khẩu lớn, % - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
Bảng 15 Đóng góp của các thành phần cầu đối với sự gia tăng đầu ra của các sản phẩm chế tác có tỉ trọng xuất khẩu lớn, % (Trang 49)
Bảng 15 (tiếp): Đóng góp của các thành phần cầu đối với sự gia tăng đầu  ra của các sản phẩm chế tác có tỉ trọng xuất khẩu lớn, % - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
Bảng 15 (tiếp): Đóng góp của các thành phần cầu đối với sự gia tăng đầu ra của các sản phẩm chế tác có tỉ trọng xuất khẩu lớn, % (Trang 50)
Bảng 16: Đóng góp của các thành phần cầu đối với sự gia tăng đầu ra của  các sản phẩm phục vụ thị trường tiêu dùng nội địa, % - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
Bảng 16 Đóng góp của các thành phần cầu đối với sự gia tăng đầu ra của các sản phẩm phục vụ thị trường tiêu dùng nội địa, % (Trang 50)
Bảng 16 (tiếp): Đóng góp của các thành phần cầu đối với sự gia tăng đầu  ra của các sản phẩm phục vụ thị trường tiêu dùng nội địa, % - LUẬN VĂN: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt
Bảng 16 (tiếp): Đóng góp của các thành phần cầu đối với sự gia tăng đầu ra của các sản phẩm phục vụ thị trường tiêu dùng nội địa, % (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm