1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Hoàn thiện công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt Nam docx

87 279 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt Nam
Người hướng dẫn P. T. S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Marketing Thương Mại Quốc Tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 784,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với xuất khẩu thì nhập khẩu cũng được định hướng chặt chẽ với mục tiêu là phục vụ cho xuất khẩu, trong đó chú trọng đến hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu phụ, đặc biệt là những ng

Trang 1

LUẬN VĂN:

Hoàn thiện công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt Nam

Trang 2

Lời nói đầu

Hội nhập là xu thế tất yếu của thời đại, quá trình này diễn ra dưới nhiều lĩnh vực và dưới nhiều hình thức – quốc tế hoá về thương mại, về vốn, về sản xuất và dưới dạng tham gia nhiều tổ chức kinh tế thế giới Việt Nam đã là thành viên chính thức của hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN), của diễn đàn hợp tác Châu á Thái Bình Dương (APEC), của tiến trình hợp tác á - Âu (ASEM) và tổ chức thương mại thế giới WTO Tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam sẽ làm tăng sự cạnh tranh, cọ sát giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài, từ đó tạo cơ hội để các doanh nghiệp nước ta vươn lên và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế Đồng thời, hội nhập và tự do hoá thương mại sẽ phát huy được lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng được những nguồn lực từ bên ngoài nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu Trọng tâm của chiến lược phát triển xuất nhập khẩu giai đoạn 2001-2010 là ưu tiên cho xuất khẩu tạo ra những khâu đột phá với những bước đi vững chắc trong lĩnh vực này Cùng với xuất khẩu thì nhập khẩu cũng được định hướng chặt chẽ với mục tiêu là phục vụ cho xuất khẩu, trong

đó chú trọng đến hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu phụ, đặc biệt là những nguyên liệu

mà hiện nay trong nước vẫn chưa cung cấp được, vì nó giúp bảo vệ nguồn tài nguyên trong nước, bảo vệ môi trường và phục vụ tốt hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Ngành công nghiệp da giầy Việt Nam đã có từ lâu đời, là ngành cung cấp các sản phẩm tiêu dùng cho xã hội, gắn với nhu cầu thiết yếu của con người Mặc dù có những lúc thăng trầm trong quá trình phát triển, nhưng Da giầy là ngành có mức tăng trưởng cao, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của ngành chiếm bình quân hơn 10% so với kim ngạch xuất khẩu của cả nước Đóng góp một phần vào những thành công của ngành Da giầy Việt Nam

là Công ty Da - giầy Việt Nam Hoạt động kinh doanh chính của Công ty là nhận gia công giầy dép quốc tế, khách hàng chính của Công ty là các doanh nghiệp ở EU, Mỹ, Nhật Bản,… khi hoạt động kinh doanh theo hình thức này Công ty không không phải lo đầu ra cho sản phẩm, không phải lo phần nguyên vật liệu chính để phục vụ cho sản xuất Những hoạt động này do bên đặt gia công chịu trách nhiệm Thông thường Công ty chỉ lo phần

Trang 3

Qua quá trình học tập tại trường Đại học Thương Mại và thời gian thực tập tại Công

ty Da – Giầy Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của việc hoàn thiện công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu, được sự hướng dẫn tận tình của thầy Lê Hữu Châu cùng toàn thể các cô, các chú cán bộ, nhân viên

tại Công ty Da – Giầy Việt Nam, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Hoàn thiện công nghệ

marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp

- Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt Nam, từ đó chỉ ra những ưu, nhược điểm của hoạt động nhập khẩu của Công ty Trên cơ sở

đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công nghệ nhập khẩu của Công ty

- Phạm vi, nội dung nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận môn học marketing thương mại và marketing thương mại quốc tế

- Phương pháp nghiên cứu: trong bài luận văn tốt nghiệp này em sử dụng phương pháp duy vật biện chứng Ngoài ra, em còn sử dụng phương pháp quan sát, phân tích, thống kê, so sánh…

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cầu của bài luận văn được chia làm ba phần:

Chương I: cơ sở lý luận về công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản

xuất hàng gia công xuất khẩu của công ty kinh doanh trong xu thế hội nhập

Chương II: phân tích tình hình xác lập, thực hiện công nghệ marketing nhập khẩu

nguyên vật liệu phụ sản xuất tại Công ty Da – Giầy Việt Nam

Chương III: đề xuất hoàn thiện công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ

sản xuất hàng gia công xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt Nam

Trang 4

Chương I

cơ sở lý luận về công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng

gia công xuất khẩu của công ty kinh doanh trong xu thế hội nhập

I Tiến trình hội nhập và vai trò của công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của công ty kinh doanh việt Nam

1 Tiến trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam

1.1 Chủ trương của Đảng về tiến trình hội nhập

Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đặt ra từ Đại hội VI (năm

1986 ) trên cơ sở đường lối đổi mới và “mở cửa” nền kinh tế và trên cơ sở chính sách, quan

hệ đối ngoại của Việt Nam với phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế Hội nghị Ban chấp hành TW 3 (khoá VI) chỉ rõ: Việt Nam sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước, các công ty nước ngoài trên cơ sở cùng có lợi và không có điều kiện chính trị ràng buộc, hạn chế đến mức thấp nhất các giá phải trả

Đại hội VII (năm 1991 ) đã thông qua cương lĩnh của Đảng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, đồng thời cũng nêu ra tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế là: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển

Cụ thể hoá đường lối Đại hội VII, Hội nghị Ban Chấp hành TW 3 (khoá VII) đã ra chuyên đề Chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá mà Đại hội VII nêu ra, đánh dấu bước khởi đầu của tiến trình hội nhập của Việt Nam

Đại hội VIII (năm 1996) đã khẳng định chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, đó là xây dựng một nền kinh tế mở và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Hội nghị Ban chấp hành TW4 (khoá VIII) đã nêu nhiệm vụ cụ thể cho quá trình này

là tích cực chủ động xâm nhập và mở rộng vào thị trường vững chắc, tích cực, khẩn trương đàm phán với Mỹ, gia nhập diễn đàn hợp tác Châu á- Thái Bình Dương (APEC) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Có kế hoạch cụ thể chủ động cam kết gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Như vậy, Đại hội VIII và các Nghị quyết TW khoá này

đã chỉ đạo tiến trình hội nhập khẩn trương hơn

Đến đại hội IX (năm 2001), tiếp tục khẳng định chủ trương đại hội VIII nêu ra và đã đưa ra một khẩu hiệu: Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng

Trang 5

Như vậy, chủ trương hội nhập kinh tế của Việt Nam từng bước được hình thành cùng với sự phát triển của đất nước

1.2 Các bước đi trong quá trình hội nhập

Về các bước đi trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, chúng ta cần xem xét đến hai mặt

Đối với bên ngoài: Chúng ta đã thực hiện lần lượt các bước đi cụ thể Đó là:

+ Năm 1993 đã khai thông quan hệ với Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)

+ Tháng 1/1995 gửi đơn xin gia nhập WTO Chúng ta đã tiến hành được 10 phiên đàm phán đa phương và kết thúc đàm phán với 20 đối tác song phương Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam đã bước vào giai đoạn cuối cùng Phiên đàm phán đa phương thứ 10 về việc Việt Nam gia nhập WTO được tiến hành vào ngày 15/9, là phiên rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với quá trình đàm phán của Việt Nam với các đối tác đa phương Việc đạt được thoả thuận sớm với các nước EU, một đối tác thương mại lớn

có 25 nước thành viên, đã tác động tích cực đối với quá trình đàm phán của Việt Nam Ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới

+ Ngày 25/7/1995 đã chính thức gia nhập hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN), đồng thời tham gia vào AFTA và chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) + Tháng 3/1996 tham gia diễn đàn á- âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập + Ngày 15/6/1996 gửi đơn xin gia nhập APEC 11/1998 được công nhận là thành viên của APEC

+ Năm 2000 ký hiệp định thương mại song phương Việt- Mỹ

Đối với trong nước chúng ta đã làm được 3 việc cơ bản: Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý phù hợp cho hội nhập Thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế, đổi mới chính sách và hệ thống kinh tế vĩ mô và cố gắng cải

Trang 6

cách kinh tế, xây dựng cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế; Để thống nhất việc chỉ đạo quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 12/2/1998 Thủ tướng chính phủ ra quyết định 31/1998-TTg thành lập

Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế Uỷ ban này có nhiệm vụ giúp Thủ Tướng chỉ đạo điều hành các bộ, ban, nghành trong việc tham gia hội nhập quốc tế

1.3 Những kết quả đạt được trong tiến trình hội nhập

Nước ta triển khai hội nhập kinh tế chưa lâu, kinh nghiệm còn hạn chế nhưng đã mang lại kết quả bước đầu khá khả quan Đó là:

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước và có quan hệ thương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ, với hầu hết các tổ chức quốc tế, khu vực quan trọng Đẩy lùi được chính sách bao vây, cấm vận của các nước, thế lực thù địch Tạo được thế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao vị thế của Việt Nam trên chính trường quốc tế và thương trường quốc tế

Khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, khủng hoảng khu vực năm 1996, đồng thời cũng đã

mở rộng thị trường xuất khẩu Năm 2004, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước đạt 26,003 tỷ USD, tăng 28,9 % so với năm 2003 và là mức tăng cao nhất trong bốn năm trở lại đây Đây là một trong những thành tựu nổi bật của nền kinh tế nước ta Tính riêng trong tháng 8 năm nay, kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt 2,8 tỷ USD, nâng kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng qua lên hơn 20,3 tỷ USD, tăng gần 19% so với cùng kỳ năm trước,

đã chứng tỏ đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước đã được thực tiễn khẳng định

Thu hút được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tranh thủ được nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn và giảm đáng kể nợ nước ngoài Doanh thu của khu vực đầu tư nứơc ngoài trong năm 2004 đạt khoảng 18 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2003 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo thêm việc làm cho 7,4 vạn lao động, đưa tổng số lao động trực tiếp lên khoảng 74 vạn người

Tiếp thu được nhiều thành tựu mới về khoa học, công nghệ và kỹ năng quản lý Nhiều ngành kinh tế mới đã xuất hiện dựa trên cơ sở tăng cao hàm lượng chất xám trong sản xuất- kinh doanh Các ngành cơ khí chế tạo, đóng tàu, từng bước được nâng lên tầm cao

Trang 7

mới, sản phẩm ngày càng tạo được uy tín trên thị trường trong và ngoài nước Cơ cầu kinh

tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá

Giữ vững ổn định về kinh tế Điều này thể hiện ở nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng liên tục khá cao và tương đối ổn định Từ năm 1991 đến năm 2000, GDP tăng liên tục qua các năm với nhịp tăng bình quân hàng năm 7,5 % So với năm 1990, năm 2000 GDP tăng gấp 2,07 lần Tuy xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực năm 1997, nhưng từ năm

2001 đến năm 2004, GDP của Việt Nam vẫn có nhịp tăng trưởng bình quân hàng năm 7,25$ Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng GDP quý I đạt 7,23%, 6 tháng đầu năm đạt 7,63% Đặc biệt, tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam giảm mạnh, từ 58% ( năm 1993) xuống 24,1% (năm 2001) ( theo chuẩn nghèo 1USD/ngày)

Bước đầu chúng ta đã đạt được kết quả đáng khích lệ, nhưng vẫn còn những mặt hạn chế, yếu kém nhất định Cụ thể là: nhận thức về hội nhập của cán bộ và nhân dân chưa được nhất trí cao Chưa có một kế hoạch tổng thể và dài hạn để hội nhập kinh tế quốc tế;

hệ thống chính sách, luật pháp quản lý kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh, còn có những chính sách, luật chưa phù hợp với những thông lệ quốc tế; lực lượng sản xuất có nguy cơ tụt hậu so với trình độ phát triển chung của thế giới, do đó sức cạnh tranh hàng hoá kém, hiệu quả đầu tư thấp Trước xu thế nhập khẩu và sức cạnh tranh chưa đủ mạnh có thể dẫn đến khả năng mất thị trường trong và ngoài nước Trong thời gian qua, mục tiêu phát triển kinh tế của nước ta là hướng về xuất khẩu, nhưng thực tế lại có xu hướng thực hiện theo

mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu Nền kinh tế đang ở trình độ phát triển chậm, còn chênh lệch khá nhiều so với các nước trong khu vực; đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế còn thiếu, yếu, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại; bản sắc văn hoá đang bị đe doạ, đặt biệt là lối sống của lớp trẻ

Với những thành công bước đầu về hội nhập kinh tế mà Đảng và nhà nước ta đã xác định trong thời gian qua, chúng ta tin tưởng rằng đến năm 2020, nước ta cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

2 Gia công quốc tế và vai trò của nó đối với các công ty kinh doanh Việt Nam

2.1 Khái niệm gia công quốc tế

Có nhiều khái niệm về hoạt động gia công quốc tế:

Trang 8

- Khái niệm 1: gia công hàng hoá là phương thức sản xuất hàng hoá, trong đó người đặt gia công sẽ cung cấp toàn bộ tư liệu sản xuất cùng nguyên vật liệu và nhận về sản phẩm hoàn chỉnh Người nhận gia công sẽ sản xuất sản phẩm theo mẫu, giao sản phẩm đó cho người đặt gia công và nhận tiền gia công trên số lượng sản phẩm làm ra

- Khái niệm 2: gia công hàng hoá là một phương thức sản xuất hàng hoá trong đó người đặt gia công sẽ cung cấp nguyên phụ liệu, có khi cung cấp luôn cả nguyên phụ liệu máy móc, bán thành phẩm và nhận lại sản phẩm hoàn chỉnh Người nhận gia công tự tổ chức quá trình sản xuất, làm ra sản phẩm theo mẫu của khách, giao toàn bộ cho người đặt gia công và nhận tiền gia công

- Khái niệm 3: gia công hàng hoá là một phương thức sản xuất theo đơn đặt hàng và mẫu của người đặt gia công Người nhận gia công tổ chức quá trình sản xuất theo mẫu và bán những sản phẩm làm ra cho người đặt gia công hoặc người nào đó mà bên đặt gia công chỉ định theo giá cả hai bên thoả thuận

Tóm lại, có thể hiểu gia công quốc tế là một hình thức chuyên môn hoá sản xuất theo quá trình phân công lao động quốc tế, thể hiện mối quan hệ giữa hai bên, trong đó: bên đặt gia công là những đơn vị có đủ những yếu tố vật chất để sản xuất; muốn tìm kiếm thị trường có lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, nguồn nguyên liệu tự nhiên sẵn có

để sản xuất sản phẩm với mức giá thành sản phẩm thấp nhất Bên nhận gia công là các doanh nghiệp không đủ điều kiện về vốn đầu tư cho công nghệ mới, thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm, hoặc yếu về khả năng thiết kế mẫu mã, trình độ kỹ thuật chưa cao… nên nhận sản xuất, chế biến hàng hoá cho bên đặt gia công nhằm duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp và từng bước tiếp cận với thị trường nước ngoài, tiếp thu kinh nghiệm quản lý, công nghệ kỹ thuật mới, tạo tiền đề vươn ra thị trường bên ngoài Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để nhận tiền công

Trong điều kiện kinh tế thế giới hiện nay, gia công hàng xuất khẩu giữ một vai trò quan trọng cho việc tăng thu nhập cho người lao động cho những nước nghèo Kinh nghiệm các nước trong thời kỳ đầu phát triển: đầu tư vào công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến để nhận gia công cho nước ngoài cũng là một cách tăng thu ngoại tệ, đồng thời giải quyết được nạn thất nghiệp trong nước

Trang 9

ở Việt Nam,việc nhận gia công cho nước ngoài đã có từ lâu với các mặt hàng truyền thống như may mặc, giầy dép, hàng thủ công mỹ nghệ…với khách hàng chủ yếu là Liên

Xô (cũ) và các nước Đông Âu

Hiện nay, chính sách mở cửa kinh tế và sự biến động trong nhận thức của người lao động Việt Nam, đã giúp cho gia công quốc tế ngày càng phát huy tác dụng của nó; trong

đó gia công hàng dệt - da - may mặc góp một phần không nhỏ trong việc thúc đẩy ngoại thương Việt Nam phát triển, gia tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần cải thiện cán cân thanh toán Hơn nữa, những mặt hàng nhận gia công lại cần một số lượng lao động lớn, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp của Việt Nam

2.2 Các loại gia công quốc tế

* Nếu xét theo nguồn cung cấp các yếu tố vật chất sản xuất: có 4 hình thức:

- Bên nhận gia công có sẵn thiết bị; bên kia cung cấp 100% nguyên phụ liệu:

+ Bên đặt gia công cung cấp toàn bộ số nguyên phụ liệu cần thiết để hoàn thành sản phẩm cho bên đặt gia công

+ Bên nhận gia công có trách nhiệm tổ chức quy trình sản xuất theo đúng điều kiện hợp đồng và tái xuất thành phẩm cho bên đặt gia công

+ Mỗi lần giao hàng cả hai bên đều phải ký xác nhận trên bảng kê chi tiết số lượng nguyên phụ liệu đã sử dụng

- Bên nhận gia công có sẵn thiết bị; bên đặt gia công hoàn toàn không cung cấp nguyên phụ liệu:

Bên đặt gia công giao phần ngoại tệ tạm tính cho bên nhận gia công để họ tự tìm và mua nguyên phụ liệu trên thị trường theo giá quy định do hai bên thoả thuận trước

- Bên đặt gia công cung cấp nguyên phụ liệu chính theo định mức hợp đồng: phần phụ liệu còn thiếu sẽ do bên nhận gia công tự tìm kiếm trên thị trường để bổ sung Các chi tiết bổ sung được kê khai đầy đủ và theo sự đồng ý của hai bên

- Trường hợp bên nhận gia công không có máy móc thiết bị: bên đặt gia công sẽ cung cấp máy móc thiết bị và 100% nguyên phụ liệu cần thiết để hoàn thành sản phẩm ( bên nhận gia công coi như chỉ làm thuê)

* Theo hình thức thanh toán tiền gia công: có 3 hình thức:

- Hợp đồng khoán: hai bên xác định chi phí, thù lao định mức cho mỗi sản phẩm và thanh toán theo định mức đó bất kể chi phí thực tế thực hiện hợp đồng là bao nhiêu

Trang 10

* Theo đối tượng tham gia hợp đồng: có 2 loại gia công:

- Gia công trực tiếp: bên đặt gia công và bên nhận gia công kí kết hợp đồng gia công trực tiếp với nhau

- Gia công chuyển tiếp (còn gọi là xuất khẩu tại chỗ): bên đặt gia công và bên nhận gia công kí kết hợp đồng gia công trực tiếp với nhau Sau đó bên nhận gia công kí kết hợp đồng gia công chuyển tiếp với các cơ sở gia công khác trong nước Có hai hình thức:

+ Hình thức thư nhất:

Theo điều 17 Nghị định 57/1998/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động xuất nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài (ban hành ngày 31/7/1998) thì:

Gia công chuyển tiếp là hình thức gia công mà sản phẩm gia công của hợp đồng này được sử dụng làm nguyên liệu gia công cho hợp đồng gia công khác Sản phẩm gia công của hợp đồng gia công công đoạn trước được giao theo chỉ định của bên đặt gia công cho hợp đồng gia công công đoạn tiếp theo

+ Hình thức thứ hai:

Trang 11

Biểu hình 1.1 :

Hình thức gia công chuyển tiếp

Giải thích:

- Bên nước ngoài và bênViệt Nam ký hợp đồng gia công quốc tế

- Bên Việt Nam nhận trách nhiệm gia công cho nước ngoài, sau đó kí tiếp hợp đồng trong nước với bên nhận gia công khác

Trong trường hợp này người nhận gia công quốc tế (người nhận gia công và đặt gia công chuyển tiếp) là người trung gian ăn hoa hồng gia công

2.3 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận gia công

2.3.1 Quyền của bên nhận gia công

Bên nhận gia công có các quyền sau:

- Yêu cầu bên đặt gia công giao nguyên vật liệu đúng chất lượng, số lượng, thời hạn

và địa điểm đã thoả thuận

- Từ chối sự chỉ dẫn không hợp lý của bên đặt gia công, nếu thấy chỉ dẫn đó có thể làm giảm chất lượng sản phẩm, nhưng phải báo ngày cho bên đặt gia công

- Yêu cầu bên đặt gia công trả đủ tiền công theo đúng thời hạn và phương thức đã thoả thuận

2.3.2 Nghĩa vụ của bên nhận gia công

Bên nhận gia công có nghĩa vụ sau:

- Bảo quản nguyên vật liệu do bên đặt gia công cung cấp

- Báo cho bên đặt gia công biết để đổi nguyên vật liệu khác, nếu nguyên vật liệu không đảm bảo chất lượng, từ chối thực hiện gia công, nếu việc sử dụng nguyên vật liệu có

Nội địa nước nhận gia công

(Việt Nam)

Người đặt hàng gia công (bên nước ngoài)

Người nhận

GC và đặt

GC chuyển tiếp

Người nhận

gia công

chuyển tiếp

Trang 12

- Giữ bí mật các thông tin về quy trình gia công và sản phẩm tạo ra

- Chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm nếu thực hiện công việc bằng nguyên vật liệu của mình

- Hoàn trả nguyên vật liệu còn lại cho bên đặt gia công sau khi hoàn thành hợp đồng

2.4 Xác định chi phí gia công:

Thông thường với bất cứ hình thức gia công nào chi phí gia công gồm:

+ Tiền gia công: tiền gia công là tổng số tiền mà bên đặt gia công trả cho bên nhận gia công căn cứ vào số lượng sản phẩm gia công và chi phí gia công bình quân cho một đơn vị sản phẩm Chi phí gia công bình quân cho một đơn vị sản phẩm do hai bên thống nhất trên

cơ sở xem xét đến tiền công lao động, khấu hao, chi phí quản lý, thuế, lợi nhuận của bên nhận gia công

+ Giá cả nguyên phụ liệu: nguyên phụ liệu là một phần của các yếu tố đầu vào của quá trình gia công, nó thuộc sở hữu của bên nhận gia công Thông thường bên đặt gia công

để bên nhận gia công mua những nguyên vật liệu phụ này Do vậy, việc xác định giá cả nguyên vật liệu phụ do hai bên căn cứ vào mức giá nguyên vật liệu phụ đó ở nước của bên nhận gia công

+ Chi phí đào tạo: chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi phí đào tạo, hướng dẫn công nhân lao động, cán bộ kỹ thuật của bên nhận gia công

+ Chi phí gói, giao nhận, vận chuyển: chi phí này bao gồm các khoản cụ thể sau: Chi phí đóng gói hàng gia công

Chi phí nhận nguyên vật liệu gia công

Chi phí vận chuyển, giao hàng gia công

Chi phí chứng từ giao hàng gia công, làm thủ tục hải quan

Xác định chi phí gia công hợp lý không những đảm bảo lợi ích kinh tế của các bên đặt gia công và bên nhận gia công mà còn góp phần tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hai bên, cơ sở để xác định giá bán, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Trang 13

Do vậy, các bên cần căn cứ vào khả năng của mình, hình thức gia công, các chi phí vận tải, giao nhận, mức tiền công lao động, các loại thuế để xác định chi phí gia công thích hợp

2.5 Vai trò của gia công đối với các công ty kinh doanh Việt Nam

- Hoạt động nhận gia công quốc tế giúp công ty vẫn có thể thu được lợi nhuận mặc dù

có thể công ty gặp những khó khăn về vốn, máy móc, nguyên vật liệu… nhờ sự giúp đỡ và cung cấp của bên đặt gia công

- Giúp các công ty kinh doanh Việt Nam từng bước tiếp cận với thị trường nước ngoài, tạo tiền đề vươn ra thị trường bên ngoài, thâm nhập vào thị trường quốc tế

- Các công ty có cơ hội nâng cao trình độ kỹ thuật, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiếp thu công nghệ sản xuất mới, tăng khả năng thiết kế mẫu mã,… thông qua hoạt động nhận gia công quốc tế

3 Vai trò của hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của công ty kinh doanh Việt Nam

3.1 Đối với doanh nghiệp

Cùng với xuất khẩu, thì hoạt động nhập khẩu là hình thức hoạt động chủ yếu của kinh doanh thương mại quốc tế Mà thương mại quốc tế là một bộ phận của thương mại, cho nên trước hết nó phải đảm bảo lợi nhuận mục tiêu của doanh nghiệp Thông qua nó các doanh nghiệp có thể tăng năng lực sản xuất

Kinh doanh thương mại quốc tế nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp, tạo thế và lực cho doanh nghiệp, không những ở thị trường quốc tế mà cả ở thị trường trong nước, thông qua việc mua bán hàng hóa ở thị trường trong và ngoài nứơc cũng như việc mở rộng quan hệ với bạn hàng

Việc nhập khẩu nguyên vật liệu đảm bảo cho việc duy trì và phát triển hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp Với nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng như hiện nay không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có thể tìm được nguồn nguyên vật liệu trong nước đáp ứng được nhu cầu sản xuất cả về số lượng và chất lượng Vì vậy doanh nghiệp cần nhập khẩu để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường Từ đó tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

3.2 Đối với nền kinh tế quốc dân

Trang 14

Nhập khẩu hàng hoá phục vụ đắc lực trong công cuộc đổi mới kinh tế thông qua việc

sử dụng tốt hơn nguồn lao động và tài nguyên của đất nước Tăng giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân và tăng hiệu quả của hoạt động sản xuất

Bất kỳ một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù giàu tài nguyên đến đâu cũng không thể

tự mình cung cấp đủ nguyên vật liệu cho nền sản xuất trong nước nhất là khi nền kinh tế đang phát triển với tốc độ “chóng mặt” như hiện nay

Nhập khẩu hàng hoá cũng là một trong những nhân tố góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế

4 Khái niệm và vai trò của công nghệ marketing nhập khẩu

4.1 Khái niệm marketing nhập khẩu

Marketing nhập khẩu là việc thực hiện các hoạt động kinh doanh của công ty nhằm định hướng dòng vận động của hàng hoá và dịch vụ từ nguồn cung cấp nước ngoài để thoả mãn nhu cầu tới người tiêu dùng hoặc người mua trong nước nhằm thu lợi nhuận và đáp ứng hữu hiệu hơn so với đối thủ cạnh tranh cùng kinh doanh trên thị trường

4.2 Khái niệm công nghệ marketing nhập khẩu

Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, bất cứ một sự tăng trưởng kinh tế nào cũng phải gắn với sự đổi mới, phát triển công nghệ, công nghiệp hoá , hiện đại hoá Cốt lõi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nâng cao trình độ công nghệ của đất nước Khoa học và công nghệ quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế

- xã hội của một quốc gia Đổi mới và phát triển công nghệ là phương thức nhanh nhất để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội càng cao thì nhu cầu về khoa học công nghệ càng lớn

Thuật ngữ công nghệ (Technologie) có nguồn gốc từ tiếng cổ Hi Lạp, được cấu tạo từ hai phần : “techne” nghĩa là nghệ thuật, sự khéo léo, thủ pháp pha trộn và thực hiện, kỹ thuật hoạt động hữu hiệu và “logos” có nghĩa là khoa học Theo nghĩa phổ thông công nghệ được hiểu là phương pháp thực thi hữu hiệu một quá trình lao động Trong quá trình lịch sử công nghiệp hoá sản xuất, thuật ngữ này được sử dụng như là đặc trưng kỹ thuật của sản xuất công nghiệp và được hiểu nặng về hướng thiết bị, dây chuyền cơ khí hoá Cho đến nay tồn tại nhiều quan niệm không đầy đủ về công nghệ như coi công nghệ

là máy móc dùng trong sản xuất, có những định nghĩa coi kiến thức dùng trong sản xuất là

Trang 15

Công nghệ trong quá trình sản xuất xuất hiện trong hệ thống máy móc (chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí) Cùng với sự phát triển của kỹ thuật trong sản xuất, công nghệ cũng phát triển thành môn công nghệ học và được ứng dụng rộng dãi trong lĩnh vực sản xuất vật chất và khái niệm công nghệ ngày càng được hoàn thiện cùng với sự phân công lao động ngày càng cao

Ngày nay, theo quan niệm hiện đại: “công nghệ là tổng hợp các quá trình chức năng

cơ bản trong một hoạt động cụ thể của con người Trong quá trình sản xuất vật chất : công nghệ học bao gồm quá trình sản xuất chủ yếu Trong quá trình sản xuất vận tải là các quá trình chuyên chở hàng hoá Trong kinh doanh thương mại là các quá trình vận động hàng hoá hay dịch vụ”

Đồng thời với các khái niệm công nghệ, xuất hiện khái niệm quy trình công nghệ Nó chính là hệ thống các thao tác công nghệ và các khâu tác nghiệp có liên quan chặt chẽ với nhau, trình tự kế tiếp nhau, tác động có mục đích đến đối tượng lao động trong mọi lĩnh vực lao động cụ thể của con người

Quy trình công nghệ trong lĩnh vực sản xuất và quy trình công nghệ trong lĩnh vực thương mại hợp thành quy trình công nghệ Marketing kinh doanh Do đó chúng có cùng bản chất và đều là nhằm thoả mãn mục đích tối đa nhu cầu tiêu dùng của mọi thành viên trong xã hội Song môĩ quy trình công nghệ có đặc điểm riêng:

- Đối tượng của quy trình công nghệ trong sản xuất: những dạng vật chất chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu người tiêu dùng

Trang 16

- Đối tượng của quy trình công nghệ trong thương mại : tổ chức cung ứng sản phẩm hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng, thực hiện hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cả về hàng hoá và dịch vụ đảm bảo quan hệ kinh doanh trong hệ thống để tồn tại

và thành công

Quy trình công nghệ trong lĩnh vực sản xuất là giai đoạn đầu, còn quy trình công nghệ thương mại là giai đoạn cuối cùng của công nghệ Marketing kinh doanh

Quy trình công nghệ Marketing là một phác đồ quy định trật tự tiến hành tác nghiệp

để hoàn thành một nội dung của một nghiệp vụ hoặc một quá trình Marketing trong đó xác định rõ đối tượng, trách vụ, phương tiện, thủ tục, cách thức và quy tắc chuẩn mực đạt tới từng loại và từng bước công việc

Khái niệm công nghệ Marketing nhập khẩu : công nghệ marketing nhập khẩu là một quá trình công nghệ marketing nói chung được vận dụng trong kinh doanh nhập khẩu, đó là một phác đồ quy định trật tự tiến hành tác nghiệp để hoàn thành một nội dung của nghiệp

vụ nhập khẩu hàng hóa, trong đó xác định đối tượng, trách vụ, thủ tục, cách thức và quy tắc chuẩn mực trong nhập khẩu hàng hoá

4.3 Vai trò công nghệ marketing nhập khẩu

Đối với các công ty có hoạt động xuất nhập khẩu thì việc áp dụng marketing vào lĩnh vực nhập khẩu là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu Marketing nhập khẩu có thể giúp công ty tồn tại lâu dài và vững chắc trên thị trường

Marketing nhập khẩu giúp doanh nghiệp tìm được nguồn hàng hợp lý nhằm thoả mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước, từ đó tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao thì công việc đầu tiên của nhà quản trị marketing là tiến hành nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu sau đó tiến hành phân tích lựa chọn nhà cung ứng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng ở đa số các quốc gia hiện nay đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam thì sản xuất trong nước chưa thể đáp ứng được nhu cầu thị trường vì vậy nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài là một trong những cách mà nhà quản trị sử dụng để thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng

4.4 Bản chất của công nghệ marketing nhập khẩu

Cũng như marketing nội địa, bản chất của marketing nhập khẩu là toàn bộ hoạt động tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của thị trường nội địa từ đó thiết lập các chương trình

Trang 17

Như vậy, bản chất của marketing nhập khẩu là quá trình nghiên cứu, hoạch định, thực thi, kiểm soát chương trình đã được vạch ra nhằm xác lập, bồi đắp và duy trì các trao đổi có lợi với khách hàng nhằm đạt được các mục tiêu của công ty

II Phân định nội dung cơ bản của công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của công ty kinh doanh Việt nam

1 Nghiên cứu marketing nhập khẩu và phân tích khả năng của công ty kinh doanh

1.1 Nghiên cứu marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công của công ty kinh doanh Việt Nam

Có nhiều khái niệm khác nhau về nghiên cứu marketing Theo Phillip Kotler “ nghiên cứu marketing là việc phác hoạ, thu thập, phân tích một cách có hệ thống và tường trình dữ kiện cũng như các những điều tìm thấy thích ứng với một tình huống marketing đặc thù đang đặt ra trước mắt công ty” Còn theo Mark Speece “ nghiên cứu marketing là một phương thức có tổ chức, có tính khách quan và rất phổ biến nhằm thu thập các dữ liệu marketing, những dữ liệu này sau khi lên bảng biểu phân tích, diễn giải và báo cáo có thể giúp cho giám đốc marketing nắm vững tình huống để ra quyết định, cũng như giảm các rủi ro trong quá trình ra quyết định ấy” Nghiên cứu marketing thực chất là quá trình tìm kiếm, thu thập những thông tin cần thiết phục vụ cho việc ra các quyết định về marketing của nhà quản trị

Đánh giá về tác dụng của nghiên cứu marketing, thường có hai trường phái khác nhau Trường phái thứ nhất cho rằng nghiên cứu marketing có vai trò hết sức quan trọng

Nó được coi là chìa khoá của thành công Bằng chứng là đã có rất nhiều công ty, các hãng

Trang 18

kinh doanh khác nhau trở lên phát đạt và nổi tiếng vì đã rất chú tâm đến hoạt động nghiên cứu marketing Trường phái thứ hai tỏ ý nghi ngờ sự nghiên cứu, đặc biệt là nghi ngờ hiệu quả của hoạt động thử nghiệm thị trường Họ cho rằng đã có rất nhiều sản phẩm được nghiên cứu nhưng vẫn bị thất bại trên thị trường Quan niệm đúng đắn về vai trò của nghiên cứu marketing là phải nắm giữ hai thái cực nêu trên Nghiên cứu marketing, nếu được chỉ đạo và hướng dẫn đúng, có thể giảm bớt sự không chắc chắn bao phủ nhiều quyết định mà nhà quản trị phải đối mặt Tuy nhiên, không nên quá đề cao vai trò của nghiên cứu marketing Nó không tự giải quyết tất thảy mọi vấn đề và không phải liều thuốc đặc trị cho các căn bệnh trong kinh doanh Nếu quá vội vàng áp dụng ngay các kết quả nghiên cứu marketing mà không có kiểm chứng hoặc thử nghiệm thì kết qủa sẽ ngược với điều mong muốn

Nghiên cứu marketing xuất phát từ quan điểm “ khách hàng là thượng đế” Nó bao gồm tập hợp các công đoạn, bắt đầu từ khai thác nhu cầu khách hàng, từ đó bằng các giải pháp marketing hỗn hợp đáp ứng tốt nhất nhu cầu, thuyết phục, lôi kéo, hướng họ về phía doanh nghiệp Nghiên cứu marketing còn cho thấy sự thay đổi sở thích của khách hàng để

từ đó nắm bắt một cách nhạy bén thị trường mục tiêu, từng bước phân tích thời cơ, đánh giá lợi thế bất lợi của đối thủ cạnh tranh, nhìn nhận đánh giá vị thế của công ty trên thị trường

Tóm lại, nghiên cứu marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu để nhằm tìm được nguồn cung ứng nước ngoài tốt nhất để thoả mãn những nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp

1.1.1 Nghiên cứu nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của công ty kinh doanh Việt Nam

Khi nghiên cứu nhu cầu sử dụng nguyên liệu phụ chú ý đến các vấn đề sau:

+ Chủng loại: tuy mặt hàng nhận gia công mà nguyên liệu phụ có sự khác nhau ở nước ta hình thức gia công chủ yếu là dệt may, giầy dép, lắp ráp hàng điện tử Với ngành giầy dép nguyên vật liệu phụ có thể là keo, da trang chí, chỉ… với ngành dệt may nguyên vật liệu phụ có thể là cúc, khuy, chỉ,… hiện nay thị trường trong nước mới đáp ứng được một phần các nguyên phụ liệu này, phần còn lại các doanh nghiệp phải nhập khẩu từ nước ngoài

Trang 19

+ Chất lượng: thông thường khi kí hợp đồng gia công quốc tế, bên đặt gia công quốc

tế sẽ có những quy định cụ thể về chất lượng của phần nguyên vật liệu phụ mà bên nhận gia công chịu trách nhiệm mua, đôi khi để đảm bảo chất lượng bên đặt gia công sẽ yêu cầu bên nhận gia công mua ở những nhà cung cấp nhất định

+ Số lượng: tuỳ thuộc vào hợp đồng gia công là lớn hay nhỏ mà số lượng nguyên phụ liệu là nhiều hay ít Nếu bên nhận gia công có kỹ thuật sử dụng tiết kiệm mà vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm thì có thể tăng thêm được lợi nhuận của mình

+ Thời gian: mặt hàng gia công chủ yếu của nước ta là may mặc và giầy dép, đây là những yếu tố thay đổi the thời gian, tức la tuỳ từng thời điểm mà khách hàng có sự ưa chuộng khác nhau Vì vậy, bên nhận gia công cần có sự tính toán để mua nguyên vật liệu phù hợp

1.1.2 Nghiên cứu nguồn cung cấp ở nước ngoài

+ Nghiên cứu nguồn hàng nhập khẩu : công ty phải nắm bắt được nguồn hàng này là

do nhà sản xuất cung ứng hay do các trung gian thương mại ở nước ngoài cùng các đặc tính của nhà cung ứng Nhìn chung chúng ta nghiên cứu trên các mặt sau:

- Chất lượng hàng hoá theo các tiêu chuẩn về kích cỡ, chủng loại, thông số kỹ thuật

- Khả năng cung ứng của nguồn hàng và tính ổn định của nguồn hàng: nguồn hàng có đáp ứng thường xuyên không? có kịp thời không? có đáp ứng được thị trường khi biến động không

- Giá cả quốc tế : giá cả quốc tế là giá cả của giao dịch thương mại, thông thường không kèm theo điều kiện đặc biệt nào Và thanh toán bằng ngoại tệ được tự do chuyển đổi Giá cả quốc tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : cạnh tranh, lạm phát, độc quyền

- Các điều kiện thanh toán, thời gian giao hàng, điều kiện và phương thức giao hàng: các nội dung này phải ghi rõ một cách chính xác cụ thể, dễ hiểu nhất

- Dịch vụ sau bán như: vận chuyển, tổ chức, sửa chữa, bảo hành sản phẩm

Trang 20

Tất cả các nội dung trên nó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Do

đó, các doanh nghiệp phải đầu tư nghiên cứu và đầu tư đúng mức

+ Nghiên cứu chính sách thị trường, chính sách mặt hàng, chính sách hỗ trợ của các quốc gia mà công ty quan hệ, hợp tác, dự báo biến động cung cầu trên thị trường

1.1.3 Nghiên cứu vận tải và bảo hiểm quốc tế

+ Nghiên cứu vận tải là việc nghiên cứu các phương tiện vận tải phù hợp với các đặc điểm của hàng hoá như số lượng, chất lượng, điều kiện bảo quản, tính chất lí, hoá học,…khi vận chuyển hàng hoá từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu Đây là một nhân

tố cũng rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí hay giá cả hàng hoá, niềm tin của khách hàng với các công ty, khả năng cung ứng kịp thời hay không? Trình độ phục vụ khách hàng ra sao?

Trên thực tế có rất nhiều phương thức vận tải song phải tuỳ thuộc vào nhiều căn cứ để lựa chọn như : đặc điểm của hàng hoá, khối lượng hàng hoá, cước phí vận chuyển, mức độ hao hụt của hàng hoá trong quá trình chuyên trở, thời gian chuyên trở, phí bảo hiểm, trong thực tế có thể phương thức vận tải này có cước phí thấp nhưng thời gian chuyên chở lại dài

và mức độ rủi ro cao Trong khi loại hình khác tuy có cước phí cao nhưng thời gian chuyên chở ngắn Chính vì vậy mà người ta thường kết hợp một cách hợp lý các phương thức vận tải trong một hành trình

Dựa vào những tiêu thức khác nhau, người ta chia ra làm nhiều phương thức vận tải Nhưng chủ yếu có các phương thức vận chuyển sau : vận tải đường biển, vận tải đường hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đặc biệt…

- Vận tải đường biển: vận tải đường biển xuất hiện từ rất sớm và phát triển với tốc độ nhanh chóng Hiện nay theo ước tính thì vận tải đường biển chiếm khoảng 95% tổng khối lượng hàng hoá được chuyên chở trong thương mại quốc tế Vận tải đường biển phát triển

là do có những đặc điểm sau:

 Ưu điểm :

Diện tích mặt biển chiếm đến 2/3 diện tích địa cầu, hơn nữa các tuyến đường biển hầu hết là tuyến đường giao thông tự nhiên Vì thế mà chi phí đầu tư cho việc xây dựng, bảo quản, duy trì các tuyến đường là nhỏ

Trang 21

Năng lực chuyên chở trên biển là rất lớn Điều này thể hiện ở chỗ, trên cùng một tuyến đường biển có thể tổ chức cho nhiều tàu cùng chạy với cả hai chiều Đầy là một ưu thế rất quan trọng của vận tải đường biển

Giá cước chuyên chở rẻ nhất trong các phương thức vận chuyển

- Vận chuyển bằng đường hàng không

Không phù hợp khi chuyên chở nhiều hàng hoá, hàng cồng kềnh, giá trị thấp

Trong vận chuyển quốc tế thì hai hình thức vận chuyển bằng đường biển và đường hàng không là chủ yếu Ngoài ra, còn rất nhiề hình thức vận tải khác như : vận tải đường

bộ, vận tải đường sắt,…trong thực tế nghiệp vụ vận tải quốc tế thường kết hợp nhiều phương thức vận tải khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm hàng hoá, điều kiện khách quan như thời tiết, khí hậu, quốc gia mà hàng hoá đi qua… nhưng việc kết hợp này phải đảm bảo đạt được hiệu quả cao nhất và phù hợp nhất cả về giá cả, độ an toàn cho hàng hoá…

+ Nghiên cứu bảo hiểm quốc tế

Trang 22

Bảo hiểm là một sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm

về những thiệt hại, mất mát, hư hỏng của đối tượng bảo hiểm do những rủi ro đã được thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm

đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm

Trong thực tiễn thương mại quốc tế, hàng hóa chủ yếu là được chuyên chở bằng đường biển và lĩnh vực hàng hải là lĩnh vực hay nảy sinh nhiều rủi ro tiềm ẩn và bất ngờ vượt quá khả năng kiểm soát của con người Để đối phó với những tai hoạ và sự cố bất ngờ

đó, bảo hiểm ra đời và trở thành một nhu cầu cấp thiết trong xã hội nói chung, trong hoạt động kinh tế nói riêng, là điều dường như không thể thiếu cho bất kỳ một hợp đồng ngoại thương nào Bởi vì:

- Hàng hoá xuất nhập khẩu được bảo hiểm thì sẽ giảm được rủi ro, hạn chế tổn thất nhờ tăng cường công tác bảo quản, kiểm tra, đồng thời kết hợp các biện pháp hạn chế tổn thất

- Khi hàng hoá nhập khẩu bị rủi ro, tổn thất thì phía bảo hiểm sẽ giúp công ty về mặt pháp lý và giải quyết các tranh chấp Hơn nữa, khi tham gia bảo hiểm các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh sẽ nhanh chóng khắc phục được hậu quả rủi ro nhờ vào số tiền bồi thường

mà công ty bảo hiểm chi trả cho người đựơc bảo hiểm

- Mua bảo hiểm tạo ra nguồn vốn lớn cho xã hội thông qua việc tập trung phí bảo hiểm vào một đầu mối để sử dụng có hiệu quả

Trong vận tải đường biển có hai loại hợp đồng bảo hiểm chủ yếu là hợp đồng bảo hiểm chuyến và hợp đồng bảo hiểm bao

- Hợp đồng bảo hiểm chuyến: là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng từ một địa điểm này đến một địa điểm khác ghi trên hợp đồng

- Hợp đồng bảo hiểm bao : là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng trong một thời gian nhất định

+ Các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: về cơ bản đó là phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn tư liệu xuất bản hay không xuất bản, là phương pháp phổ thông nhất về nghiên cứu thị trường, vì nó tốn ít chi phí và phù hợp với khả năng của doanh nghiệp xuất nhập khẩu mới tham gia vào thị trường thế giới Tuy nhiên những thông tin thu thập được thường có tính chính xác không cao và không được cập nhật thường xuyên

Trang 23

- Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường : phương pháp này chủ yếu thu thập thông tin bằng trực quan thông qua các quan hệ giao tiếp với người tiêu dùng, với các thương nhân trên thị trường Phương pháp này khá tốn kém và mất thời gian Một số phương pháp nghiên cứu tại hiện trường như:

Phương pháp thăm dò bằng phiếu kiểm tra

Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp quan sát

Phương pháp thăm dò mẫu

1.2 Phân tích khả năng nhập khẩu của công ty kinh doanh

Bất kỳ một công ty nào khi tham gia vào thị trường quốc tế đều cần có những năng lực nhất định, đặc biệt là với một quốc gia nhỏ và đang phát triển như Việt Nam Thị trường thế giới có nhiều biến động và khác biệt rất nhiều so với thị trường trong nước, do

đó công ty cần có một số điều kiện để có thể thành công trên thị trường quốc tế:

- Khả năng về vốn: bất kỳ công ty nào khi tham gia vào thi trường đều phải có một khoản vốn nhất định để đảm bảo duy trì được hoạt động kinh doanh của mình Nguồn vốn còn thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp, nó thể hiện khả năng kinh doanh, khả năng thực hiện hợp đồng Đây là điều rất quan trọng trong kinh doanh, các đối tác của doanh nghiệp thường dựa vào khả năng này để quyết định có ký hợp đồng với doanh nghiệp hay không

- Khả năng về nhân lực: nguồn nhân lực luôn là điều tối quan trọng đối với bất kỳ một công ty nào Nó đảm bảo đem lại thành công cho doanh nghiệp Ngoài những khả năng như: trình độ chuyên môn, hăng say công việc, năng động… thì khi tham gia thị trường thế giới, đội ngũ nhân viên của công ty còn cần một số phẩm chất khác như: thông thạo ngoại ngữ, khả năng nghiên cứu thị trường nước ngoài, giữ vững truyền thống dân tộc…

- Khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng: đây là điều mà hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu, kém Khi tham gia kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài, nếu chúng ta biết cách đàm phán trong việc ký kết hợp đồng sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho công ty

- Thông thạo luật pháp quốc tế và luật pháp nước chủ nhà: điều này để tránh cho doanh nghiệp khỏi những vướng mắc và những thiệt thòi không cần thiết, cũng như giúp công ty thoát khỏi những tranh chấp, khiếu lại hay những vụ kiện tụng, lừa đảo

2 Lựa chọn nguồn nhập khẩu nguyên vật liệu phụ của công ty kinh doanh

Trang 24

+ Khoảng cách địa lý: trong kinh doanh quốc tế, chi phí vận chuyển là rất lớn, đôi khi

nó còn lớn hơn chi phí của hàng hoá vận chuyển, do đó cần chú ý đến khoảng cách để giảm chi phí mua hàng cho doanh nghiệp

+ Mối quan hệ thương mại giữa hai nước: đó có thể là các hiệp định song phương, đa phương mà hai nước đã kí kết để thúc đẩy hoạt động thương mại giữa hai nước Là những chính sách, những ưu đãi mà hai nước đã giành cho nhau

+ Một số yếu tố khác như: sự phát triển kinh tế, sự ổn định về chính trị, nền văn hoá…

Khi lựa chọn đơn vị xuất khẩu cụ thể công ty dựa trên một số yếu tố như:

+ Loại sản phẩm: tuỳ vào chủng loại nguyên vật liệu mà công ty cần để lựa chọn những nhà cung cấp nhất định

+ Các yếu tố liên quan đến nguyên vật liệu: bao gồm các yếu tố như: giá, chất lượng, mẫu mã…mà công ty có sự lựa chọn bạn hàng sao cho đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đem lại nhiều lợi ích nhất cho công ty

+ Truyền thống: dựa trên những mối quan hệ truyền thống, làm ăn từ lâu của công ty

để lựa chọn bạn hàng phù hợp nhất

Trong hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất thì việc lựa chọn nguồn hàng nhập khẩu là khâu rất quan trọng vì nó quyết định đến chất lượng hàng hoá mà công

ty sẽ sản xuất ra, nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp Do

đó, muốn sản phẩm của công ty có sức cạnh tranh trên thị trường thì khâu lựa chọn bạn hàng phải được doanh nghiệp thực sự chú trọng và có sự đầu tư đúng mức

3 Lựa chọn hình thức nhập khẩu phù hợp của công ty kinh doanh

Trước đây các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu chỉ được tiến hành ở các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp Ngày nay, do tác động của điều kiện khách quan, nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc xuất nhập khẩu Cụ thể là nghị định 57/CP ra đời cho phép tất cả các doanh nghiệp đều được quyền xuất nhập khẩu những mặt hàng có

Trang 25

trong đăng ký kinh doanh của mình (trừ những mặt hàng cấm và các mặt hàng bị quản lý bởi giấp phép, hạn ngạch) với một điều kiện duy nhất là doanh nghiệp phải đăng ký mã số hải quan Sau đây là một số hình thức nhập khẩu đang được áp dụng trên thực tế

3.1 Nhập khẩu uỷ thác (gián tiếp)

Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động được hình thành khi các đơn vị kinh doanh có nhu cầu nhập khẩu hàng hoá nhưng không có quyền nhập khẩu trực tiếp hoặc không có kinh nghiệm nhập khẩu trực tiếp nên công ty đã uỷ thác cho một công ty khác có chức năng giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của đơn vị Bên nhận uỷ thác tiến hành đàm phán với nước ngoài để làm thủ tục, ký kết hợp đồng nhập khẩu và được một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác

Ưu điểm :

- Doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu (bên nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu cần), không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ, mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để tìm và giao dịch với bạn hàng nước ngoài, ký kết hợp đồng cũng như thay mặt bên uỷ thác khiếu nại, đòi bồi thường với bên nước ngoài khi có tổn thất

- Mức độ rủi ro của đơn vị uỷ thác là thấp

Nhược điểm :

- Bên nhận uỷ thác phải lập hai hợp đồng : một hợp đồng mua bán hàng hóa với nước ngoài (giữa bên nhận uỷ thác với bên xuất khẩu) và một hợp đồng giữa bên nhận uỷ thác với bên uỷ thác

- Không kiểm soát được nguồn hàng, mất sự liên hệ trực tiếp với nguồn hàng

Đặc điểm:

Trang 26

3.3 Hợp tác nhập khẩu

Hợp tác nhập khẩu là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó phải có ít nhất một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng để cùng thực hiện giao dịch, thúc đẩy hoạt động ngoại thương theo hướng có lợi cho hai bên

Đây được xem như một hình thức gia công quốc tế đặc biệt Nó chỉ khác gia công quốc tế là trong hợp đồng được thể hiện mua đứt, bán đoạn, có nghĩa là doạnh nghiệp nước tái nhập lập hai hợp đồng : một hợp đồng xuất khẩu (bán nguyên vật liệu, bán thành phẩm hoặc sản phẩm thô) và một hợp đồng nhập khẩu (mua sản phẩm hoàn chỉnh)

4 Xác lập các yếu tố marketing hỗn hợp nhập khẩu nguyên vật liệu phụ của công ty kinh doanh

4.1 Xác lập mặt hàng nhập khẩu

Đối với một doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu để phục vụ cho hoạt động sản xuất thì việc nhập khẩu loại nguyên vật liệu nào là điều rất quan trọng Vì nó quyết định đến chất lượng và giá thành của sản phẩm Doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng và phải trả lời các câu hỏi sau :

- Nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu phụ để sản xuất

Thông thường khi nhận gia công quốc tế, các nguyên vật liệu phụ sẽ do bên nhận gia công đảm nhiệm với mức giá đã thoả thuận với bên đặt gia công Bên nhận gia công có trách nhiệm tìm kiếm nguồn hàng để phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình

- Tình hình tiêu thụ nguyên vật liệu đó như thế nào?

Nắm được tình hình tiêu thụ của hàng hoá đó hiện nay trên thị trường ra sao để có sự tính toán, xác định giá cả, lợi nhuận có thể đạt được Đồng thời quyết định xem có nên nhập khẩu loại nguyên vật liệu đó không hay chọn loại khác thay thế

- Tình hình sản xuất nguyên vật liệu đó trong nước?

Trang 27

Nếu chất lượng và mẫu mã nguyên vật liệu trong nước không cách biệt nhiều so với nước ngoài thì doanh nghiệp có thể tính toán xem có nên mua trong nước hay không Việc mua trong nước vừa tiết kiệm chi phí vừa đơn giản hơn so với nhập khẩu

- Tỷ suất ngoại tệ của hàng nhập khẩu?

Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu là số tiền nội tệ thu được khi phải chi ra một đơn vị ngoại tệ Chỉ số này nhằm đánh giá mức độ hiệu quả của hoạt động nhập khẩu Nếu tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu thấp hơn tỷ giá hối đoái thì không nên nhập khẩu

4.2 Xác lập giá nhập khẩu

Trên thị trường thế giới, giá cả không những phản ánh mà còn điều tiết cung cầu Việc xác định đúng đắn giá cả trên thị trường quốc tế trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động thương mại quốc tế Cụ thể nó sẽ làm tăng thu ngoại tệ xuất khẩu và giảm chi ngoại tệ nhập khẩu Khi tiến hành nhập khẩu hàng hoá, nguyên vật liệu công ty kinh doanh cần chú ý :

- Dự đoán biến động giá cả

Giá cả trên thị trường thế giới biến động liên tục và rất phức tạp Để có thể dự đoán được xu hướng biến động giá cả của mỗi loại hàng hoá, nguyên vật liệu trên thị trường thế giới trước hết phải dựa vào kết quả nghiên cứu và dự báo thị trường loại hàng hoá đó, đánh gía đúng xu hướng biến động của hàng hoá đó

Tuỳ theo mục đích mà dự báo trong thời gian dài hay ngắn Kết quả nghiên cứu dự báo trong thời gian dài thường được sử dụng vào mục đích lập kế hoạch nhập khẩu hàng năm, dự báo trong ngắn hạn phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu hiện tại

- Các nhân tố tác động lên xu hướng biến động giá cả của hàng hoá

Các nhân tố biến động lâu dài gồm : chu kỳ, lũng đoạn, giá trị Các nhân tố biến động ngắn hạn gồm: các nhân tố tác động lên cung cầu giá cả hàng hoá trên thị trường, các nhân

tố mang tính chất tạm thời như thời vụ, đầu cơ, nhân tố tự nhiên Dưới đây là một số nhân

tố chủ yếu tác động đến giá cả :

+ Nhân tố chu kỳ: sự vận động có tính chất quy luật của nền kinh tế qua các giai đoạn

sẽ làm thay đổi quan hệ cung cầu về các loại hàng hoá trên thị trường Khi quan hệ cung cầu thay đổi thì tất yếu kéo theo sự thay đổi về giá cả hàng hoá

Trang 28

+ Nhân tố lũng đoạn và giá cả: đây là nhân tố có tác động rất lớn đến sự hình thành giá cả và sự biến động của chúng trên thị trường Lũng đoạn làm xuất hiện nhiều mức gía khác nhau đối với cùng một loại hàng hoá, thậm chí ngay trên cùng một khu vực thị trường Tuỳ theo mối quan hệ giữa người mua và người bán mà thị trường thế giới có lũng đoạn cao và lũng đoạn thấp Giá lũng đoạn cao là giá bán thành phẩm công nghiệp, máy móc thiết bị mà người bán là các nhà tư bản công nghiệp ở các nước tư bản chủ nghĩa Giá lũng đoạn thấp là giá bán các loại nguyên vật liệu, lương thực của những sản xuất nhỏ mà người bán là các nước đang phát triển

+ Nhân tố cạnh tranh: nhân tố cạnh tranh có thể làm cho giá biến động theo các xu hướng khác nhau Cạnh tranh giữa người bán diễn ra khi thị trường cung có xu hướng lớn hơn thị trường cầu Khi đó giá cả hàng hoá sẽ giảm Cạnh tranh giữa người mua xuất hiện khi thị trường cầu có xu hướng lớn hơn thị trường cung Khi đó giá sẽ có xu hướng tăng Ngoài ra còn có một số các nhân tố khác cũng tác động đến xu hướng biến động của giá cả như: giá hiện thời, lạm phát, tỷ giá hối đoái…

Trên cơ sở phân tích đúng đắn ảnh hưởng của các nhân tố, ta có thể dự đoán được xu hướng biến động của giá cả trên thị trường thế giới, từ đó xác định được mức giá hợp lý cho loại hàng mà doanh nghiệp có kế hoạch lập

Nếu là hàng hoá giao dịch phổ biến thì phải tham khảo thị trường thế giới về hàng hoá

đó, đồng thời cần tham khảo giá xuất khẩu loại hàng đó từ khu vực thị trường bạn hàng đến các nước nhập khẩu khác Cần chú ý tới chi phí vận tải, chế độ ưu đãi thuế quan để xác định chính xác giá

Với mặt hàng xuất khẩu thông thường có thể dựa vào giá chào hàng của các đơn vị cung ứng, giá nhập khẩu của các năm trước đó, có tính đến các thay đổi sản phẩm và các yếu tố liên quan để đưa ra một mức giá nhập khẩu hợp lý, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

4.3 Xác lập kênh phân phối (nhập khẩu) và chọn phương thức vận chuyển

Phương thức hoạt động marketing là một khái niệm của hoạt động kinh doanh nhằm định hướng và chuyển giao quyền sở hữu của người bán và người mua, đồng thời thực hiện việc tổ chức, điều hoà, phối hợp các tổ chức trung gian đảm bảo việc vận chuyển hàng hoá

về công ty an toàn

Trang 29

- Nhóm C (CFR, CIP, CIF, CPT) : người bán giao hàng tại cảng đích cho người mua

- Nhóm D (DAF, DES, DEA, DDU, DDP) : người bán giao hàng tại cảng đích cho người mua và phải chịu mọi chi phí, rủi ro trong quá trình giao hàng

Trên cơ sở thực hiện các phương thức nhập khẩu được quy định trong hợp đồng công

ty kinh doanh xuất khẩu sẽ xác định cho mình:

- Sử dụng kênh phân phối nào ?

- Bao nhiêu trung gian tham gia vào kênh phân phối ?

- Trách nhiệm của các bên tham gia trong kênh phân phối là gì ?

- Người cung ứng : Có thể sản xuất hoặc là nhà xuất khẩu

- Người trung gian : Trực tiếp tham gia vận chuyển hàng hoá, hệ thống kho tàng, phương tiện vận chuyển làm nhiệm vụ vận chuyển dự trữ hàng hoá

- Hệ thống thông tin thị trường

- Người tiếp nhận : Cơ quan hải quan, công ty kinh doanh nhập khẩu, khách hàng công ty

4.4 Quyết định xúc tiến nhập khẩu nguyên vật liệu phụ của công ty kinh doanh

Xúc tiến thương mại là phương thức để khách hàng mua hàng nhập khẩu và các bạn hàng cung ứng hàng nhập khẩu… biết đến công ty một cách nhanh nhất Qua đó, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn

Tuỳ thuộc vào điều kiện, khả năng của công ty có nhiều hình thức xúc tiến để hướng đến tập khách hàng cũng như nguồn hàng cung ứng Cụ thể, để hướng đến nhà cung ứng ở nước ngoài, mặc dù khoảng cách ở xa nhưng do tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, ngày nay các công ty kinh doanh quốc tế có thể truy cập qua mạng internet, mạng điện thoại, máy fax , để gửi thư chào hàng, giao dịch đàm phán, giới thiệu hình ảnh đến bạn hàng Ngoài ra công ty cũng có thể thông qua các trung gian thương mại để thuê

Trang 30

họ quảng bá cho hình ảnh của công ty đến các bạn hàng khác hoặc lấy thông tin từ các trung gian thương mại về các công ty có hàng hoá hay loại nguyên vật liệu mà công ty cần

Trang 31

- Tổ chức theo nguyên lý địa lý : khi thị trường của doanh nghiệp phát triển mạnh thì

mô hình tổ chức marketing có thể được tổ chức theo hướng vừa kết hợp tổ chức theo chức năng vừa tổ chức theo khu vực địa lý

- Tổ chức theo mặt hàng sản xuất : ở mô hình này mỗi người quản trị mặt hàng đều tự xây dựng các kế hoạch nhập khẩu cho riêng mình, theo dõi việc thực hiện, kiểm tra kết quả

và khi cần thiết có thể điều chỉnh kế hoạch đó

5.2 Kiểm tra, kiểm soát hoạt động marketing nhập khẩu

Trong quá trình thực hiện hoạt động marketing nhập khẩu có thể gặp phải rất nhiều vấn đề mà công ty không thể lường trước được Chính vì vậy, để đảm bảo hiệu quả của hoạt động này, doanh nghiệp tiến hành kiểm soát hoạt động marketing nhập khẩu, tức là kiểm tra các khâu, các công đoạn, biện pháp mà công ty đã sử dụng Từ đó đánh giá, chỉ ra những mặt tồn tại và xác định những hoạt động điều chỉnh một cách thích hợp nhất

Kiểm tra marketing bao gồm: kiểm tra năm, kiểm tra khả năng sinh lời, kiểm tra hiệu suất marketing, kiểm tra chiến lược marketing

Trang 32

vì vậy nó phải đáp ứng các yêu cầu như: chất lượng, mẫu mã, mầu sắc, chủng loại…

+ Công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ phải không trái với quy định của pháp luật Các nguyên phụ liệu này phải thuộc trong danh mục hàng được phép nhập khẩu

+ Nguyên phụ liệu nhập khẩu không làm tổn hại đến môi trường hay gây nguy hại cho xã hội

2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất gia công xuất khẩu của công ty kinh doanh

2.1 Doanh thu

Tuỳ thuộc vào tính chất hoạt động của từng công ty mà các công ty có cách tính doanh thu khác nhau Trong các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu giá trị doanh thu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của công ty bao gồm:

- Doanh thu xuất khẩu

- Doanh thu bán hàng nhập khẩu trong nội địa

- Doanh thu hàng hoá do thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu uỷ thác

- Doanh thu chênh lệch giá do hoạt động tái xuất

Trong đó doanh thu bán hàng của công ty kinh doanh xuất nhập khẩu là toàn bộ giá trị hàng hoá và dịch vụ đã bán, đã thu được tiền và chưa thu được tiền trong kì kinh doanh Doanh thu = khối lượng hàng hoá * giá hàng hoá bán

Trang 33

Lợi nhuận = doanh thu – trị giá mua – chi phí – thuế

Trong đó :

Thuế gồm : thuế nhập khẩu, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt…

Chi phí gồm : chi phí nhập khẩu, chi phí vận chuyển, bốc xếp lưu kho, lưu bãi và các chi phí khác

2.3 Tỷ suất lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng đánh giá trong 100 đồng vốn hoặc 100 đồng chi phí sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận

Kln = lợi nhuận/ doanh thu

Kln càng lớn thì hoạt động kinh doanh càng có hiệu quả và ngược lại

2.6 Tốc độ chu chuyển và bảo toàn vốn

Tốc độ chu chuyển và bảo toàn vốn là chỉ tiêu là đánh giá hiệu quả sử dụng vốn + Số vòng chu chuyển vốn =doanh thu tiêu thụ hàng nhập khẩu/ vốn lưu động bình quân

Trang 34

+ Số ngày chu chuyển = vốn lưu động bình quân/ mức lưu chuyển bình quân một ngày

+ Hệ số bảo toàn vốn ( K ) = vốn tự có cuối kỳ/ vốn tự có đầu kỳ

Nếu K = 1 : vốn được bảo toàn

K>1 : vốn tăng trưởng

K<1 : vốn giảm

Nếu tốc độ chu chuyển vốn tăng sẽ tiết kiệm được chi phí lưu thông, tốc độ thu hồi vốn nhanh giúp công ty mở rộng hoạt động kinh doanh

2.7 Lợi nhuận/ tổng kim ngạch nhập khẩu

Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh tế, hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp so với tổng mức lưu chuyển hàng hoá nhập khẩu

Trang 35

Chương II Phân tích tình hình xác lập, thực hiện công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu tại Công ty Da giầy Việt Nam

I Khái quát tình hình tổ chức và kinh doanh của Công ty Da giầy Việt Nam

1 Lịch sử hình thành và phát triển

1.1 Quá trình hình thành :

Năm 1987 Công ty Da- Giầy Việt Nam được thành lập, trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp Da Giầy Việt Nam theo quyết định của Bộ Công nghiệp nhẹ

Đến ngày 24/10/1989 theo quyết định phê duyệt của HĐBT số 297-CT và quyết định

420 CN TCLD ngày 30/10/1989 của Bộ Công nghiệp nhẹ, thành lập Liên hiệp sản xuất – xuất khẩu Da – Giầy Việt Nam Đến ngày 09/04/1993, Bộ công nghiệp nhẹ có quyết định đổi Liên hiệp sản xuất – xuất khẩu Da - Giầy Việt Nam thành Tổng công ty Da – Giầy Việt Nam

Theo chủ trương của nhà nước là sắp xếp tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp, sản xuất kinh doanh theo QĐ 1188/ QĐ-TCCB, Tổng công ty Da- Giầy Việt Nam được xếp hạng Tổng công ty nhà nước, theo quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07/03/1994

Thực hiện quyết định số 125/QĐ-TTg ngày 28/1/2003 của thủ tướng Chính phủ về sắp xếp đổi mới Tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, ngày 6/5/2003 Công ty Da-Giầy VN được thành lập theo quyết định số 76/2003-BCN của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp trên cơ sở sắp xếp tổ chức lại một số đơn vị phụ thuộc của Tổng Công ty Da- Giầy

VN

Công ty có tên giao dịch đối ngoại là THE VIETNAM LEATHER AND FOOTWEAR CORPORATION

Viết tắt là : LEAPRODEXIM VIETNAM

Trụ sở chính tại : 25 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Điện thoại (84.4)8253937 – 8255780 – 8265694

Fax : (84.4)8253937

1.2 Quá trình phát triển

Trang 36

Vào những năm 1990-1991, Liên Xô và Đông Âu tan rã đã tác động sâu sắc đến nghành Da-Giầy VN còn yếu kém và non trẻ Quan hệ quốc tế thông qua các Nghị định thư

và hiệp định giữa ngành Da-Giầy VN và thị trường truyền thống bị đảo lộn

Từ năm 1993 đến năm 1995, sau khi Tổng công ty Da- Giày VN được thành lập ngành Da-Giầy đã có tốc độ phát triển cao vượt chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm Năm 1995, năng lực sản xuất của ngành Da-Giầy tăng 7-9 lần so với năm 1992, kim ngạch xuất khẩu đạt 300 triệu USD

Năm 1996, do đặc điểm tình hình kinh tế thay đổi, Tổng công ty Da- Giầy VN được sắp xếp và tổ chức lại nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài và các mặt hàng nhập khẩu giầy và đồ da Nhưng vào cuối năm 1997 khủng hoảng kinh tế toàn khu vực và thế giới đã gây khó khăn cho ngành Da – Giầy VN nói chung và Tổng công ty Da- Giầy VN nói riêng

Bước vào năm 1999 tình hình thị trường của ngành Da_Giầy có khả quan hơn năm

1998, tuy còn một số khó khăn nhưng với sự nỗ lực của toàn Tổng công ty, đã đạt chỉ tiêu giá trị tổng sản lượng vượt năm 1998 là 6%, kim ngạch xuất khẩu đạt 155 triệu USD

2 Chức năng hoạt động và cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty Da – giầy Việt Nam:

Hợp tác quốc tế xuất khẩu lao động, kinh doanh hội chợ triển lãm, thông tin quảng cáo, cho thuê văn phòng làm việc

Làm đại lý mua, bán, giới thiệu sản phẩm cho các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước

Kinh doanh các mặt hàng, dịch vụ khác theo quy định của pháp luật

2.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty Da giầy Việt Nam

Trang 37

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quy mô và phương thức hoạt động của mình, Công

ty đã xây dựng mô hình, cơ cấu cụ thể:

Biều hình 2.1:

Sơ đồ tổ chức của công ty da giầy Việt Nam

Các phó tổng giám đốc

Các đơn vị thành viên (

- kế toán

Phòng

Tổ chức- hành chính

Phòng Kinh doanh

- xuất nhập khẩu

Phòng hợp tác quốc

tế và xuất khẩu

Phòng đại diện trong

và ngoài nước Tổng giám

đốc

Trang 38

Các đơn vị thành viên:

+ Nhà máy thuộc da Vinh (đã thực hiện cổ phần hoá cuối năm 2004)

+ Nhà máy giầy Phúc Yên: thị trấn Phúc Yên – Mê Linh – Vĩnh Phúc (đã thực hiện cổ phần hoá cuối năm 2004)

+ Xí nghiệp sản xuất dịch vụ thương mại Da giầy : 26 Lê Đại Thành – Hà Nội

3 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Da giầy Việt Nam qua một số năm

3.1 Tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2006

Nhiệm vụ kế hoạch năm 2006:

Căn cứ vào khả năng và tình hình thực hiện thực tế, Công ty Da giầy Việt Nam đã xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch năm 2006 như sau:

+ Giá trị sản xuất công nghiệp : 41 tỷ đồng

+ Tổng doanh thu : 90 tỷ đồng

( trong đó doanh thu từ sản xuất công nghiệp là 39 tỷ đồng )

+ Sản phẩm sản xuất chủ yếu :

- Giầy thể thao:2,5 triệu đôi

- Dép đi trong nhà : 500.000 đôi

+ Kim ngạch xuất khẩu : 17 triệu USD

+ Kim ngạch nhập khẩu : 10 triệu USD

+ Tổng vốn đầu tư XDCB : 4,35 tỷ đồng

3.2 Kết quả thực hiện kế hoạch năm 2006:

Qua số liệu thống kê trong cả năm 2006, Công ty Da giầy Việt Nam đã đạt được một

số kết quả sản xuất kinh doanh năm 2006 cụ thể như sau:

+ Giá trị sản xuất công nghiệp : 42,309 tỷ đồng, đạt 103 % kế hoạch năm 2006 và tăng 2% so với năm 2005

+ Tổng doanh thu : 93,604 tỷ đồng đạt 104% kế hoạch năm 2006

+ Giá trị kim ngạch xuất khẩu : 19,064 triệu USD, đạt 112 % kế hoạch năm 2006 và tăng 19 % so với năm 2005

+ Giá trị kim ngạch nhập khẩu : 12,298 triệu USD, đạt 112% kế hoạch năm 2006 và tăng 14% so với năm 2005

Biểu hình 2.2:

Trang 39

Tổng hợp số liệu các chỉ tiêu chủ yếu của công ty

trong thời gian qua

80.700 42.700 38.000

93.604 41.703 51.901

116

III Sản phẩm chủ yếu

IV Giá trị xuất khẩu 1000 USD 16.400 17.010 19.064 112

V Sản phẩm xuất khẩu

VI Giá trị nhập khẩu 1000 USD 8.900 9.780 12.298 126

VII Tổng vốn đầu tư XDCB Tr đồng 3.210 3.357 4.916 146

Nhìn chung tình hình kinh doanh của Công ty trong những năm vừa qua và đăc biệt

là năm 2006 là tương đối tốt và ổn định Điều này khẳng định khả năng cạnh tranh và phát triển mở rộng hoạt động kinh doanh của Công ty

Trang 40

Với tổng doanh thu năm 2006 là gần 100 tỷ đồng Trong đó doanh thu từ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đạt hơn 61 tỷ đồng (chiếm 62,2% tổng doanh thu của Công ty) điều này phản ánh đúng nỗ lực của Công ty trong việc tập chung vào lĩnh vực xuất khẩu đặc biệt là mặt hàng giầy dép Đây là mặt hàng kinh doanh chủ lực của Công ty ở hiện tại

và trong thời gian tới

Năm 2006, mặc dù hoàn cảnh khó khăn về thị trường, vốn, khách hàng nhưng công ty cũng đã chủ động triển khai kế hoạch sản xuất, tìm kiếm thị trường, tổ chức sản xuất kinh doanh, duy trì ổn định sản xuất kinh doanh của mình nên nhìn chung việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2006 của Công ty so với kế hoạch của Bộ giao đạt và vượt kế hoạch Bên cạnh đó, ngoài việc sản xuất giầy dép Công ty còn nhận may gia công màn tuyn cho Công ty dệt 10/10 và sản xuất nguyên liệu màn tuyn phục vụ cho gia công xuất khẩu Việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của toàn Công ty năm 2006 là tương đối cao: giá trị sản xuất công nghiệp đạt 103% kế hoạch năm và tăng 2% so với năm 2005, doanh thu từ sản xuất công nghiệp đạt 107% kế hoạch Đặc biệt là giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 112% kế hoạch và giá trị kim ngạch nhập khẩu đạt 112% kế hoạch

Mặc dù đã có những bước tiến nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng

so với tình hình phát triển chung của ngành da giầy Việt Nam thì con số tăng 2% so với năm 2005 của Công ty là khá khiêm tốn Công ty cần có những kế hoạch phát triển lâu dài

và hữu hiệu hơn nữa để có thể tăng sức cạnh tranh và tăng khả năng sản xuất của mình

3.2.1 Về lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu

Ngoài lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là da giầy, trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ cho phép, Công ty còn tiến hành thêm một số hoạt động xuất nhập khẩu những mặt hàng

có khả năng đem lại lợi nhuận cao cho Công ty như nhập khẩu các loại nguyên liệu để phục sản xất cho một số ngành công nghiệp trong nước, xuất khẩu các mặt hàng mây tre cho Nhật Bản, xuất khẩu lao động…

Bộ phận kinh doanh xuất nhập khẩu năng động trong việc khai thác và mở rộng thị trường cũng như đa dạng hoá các mặt hàng nhưng do khó khăn về tài chính, thiếu vốn kinh doanh nên nhiều hợp đồng xuất khẩu không thực hiện được

Mặt khác do biến động của thị trường trong và ngoài nước nên các đơn hàng cũng bị cắt giảm nhiều Ngoài ra, giầy dép Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh lớn, mẫu mã đa dạng,

Ngày đăng: 28/06/2014, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức gia công chuyển tiếp - LUẬN VĂN: Hoàn thiện công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt Nam docx
Hình th ức gia công chuyển tiếp (Trang 11)
Sơ đồ tổ chức của công ty da giầy Việt Nam - LUẬN VĂN: Hoàn thiện công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt Nam docx
Sơ đồ t ổ chức của công ty da giầy Việt Nam (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm