Hiểu theo nghĩa rộng, một số quan điểm lại cho rằng vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức
Trang 2
Lời nói đầu
Theo quan điểm hiện đại, mỗi doanh nghiệp được xem như một tế bào sống cấu thành nên toàn bộ nền kinh tế Tế bào sống đó cũng cần phải có quá trình trao đổi chất với môi trường bên ngoài thì mới tồn tại và phát triển được, Vốn chính là đối tượng của quá trình trao đổi đó Nó đảm bảo sự sống cho doanh nghiệp, nếu thiếu hụt thì doanh nghiệp sẽ mất khả năng thanh toán Nói cách khác, vốn là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào
Do đó, hiệu quả của quản lý và sử dụng vốn trở thành vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng với các doanh nghiệp Nếu đồng vốn mà doanh nghiệp sử dụng có khả năng đem lại lợi nhuận cao thì doanh nghiệp không những bù đắp được chi phí mà còn tích luỹ được để tái sản xuất mở rộng Vốn kinh doanh tham gia vào hầu hết các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh Vì vậy, việc quản lý và sử dụng nguồn vốn kinh doanh sao cho có hiệu quả tác động mạnh mẽ tới khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy vậy, trên thực tế tình hình quản lý và sử dụng của các doanh nghiệp kinh doanh còn nhiều bất cập và chưa được quan tâm đúng mức
đề tài: “ Vốn kinh doanh và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh tại Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9” làm đề tài cho
khoá luận tốt nghiệp của mình
Ngoài lời nói đầu và kết luận, Khóa luận của em được trình bày theo 3 phần:
Phần I : Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Phần II: Thực trạng vốn và công tác quản lý sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9
Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9
Trang 3Theo các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn dưới góc độ hiện vật, “Vốn là yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh” [3] Đây là cách hiểu phù hợp với trình độ
quản trị còn sơ khai, nó rất đơn giản, dễ hiểu nhưng chưa đầy đủ và chưa phản ánh hết mặt tài chính của vốn
Theo quan điểm của Mác dưới góc độ các yếu tố sản xuất, “Vốn (tư bản) là giá trị
mang lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất” [3] Định nghĩa của
C.Mác có tầm khái quát lớn, tuy nhiên trong bối cảnh lúc đó khi mà nền kinh tế chưa phát triển, C.Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế
Và tiền chỉ được gọi là vốn khi nó được dùng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với mục đích là lợi nhuận Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản trị và
sử dụng vốn, nhưng quan điểm này lại mang tính trừu tượng, do đó hạn chế về ý nghĩa nhất là đối với các vấn đề như hạch toán, phân tích tình hình quản trị và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trang 4
Theo Paul-Sammelson, nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển đã kế thừa quan niệm về các yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và chia yếu tố đầu vào của quá trình sản
xuất ra làm ba loại: đất đai, lao động và vốn Theo ông, “Vốn là hàng hoá được sản xuất ra
để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp” – [3] Khái niệm này không đề cập đến các loại tài sản khác, các giấy
tờ có giá trị có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Do đó, cũng không phản ánh đầy đủ mặt tài chính của vốn
Theo một số nhà tài chính thì “Vốn là tổng số tiền do những người có cổ phần
trong công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chia cho các chứng khoán của công ty” – [4] Quan điểm này đã đề cập đến mặt tài chính của vốn, khuyến khích các nhà
đầu tư tăng cường đầu tư , mở rộng và phát triển sản xuất Song nó có hạn chế là không nói rõ nội dung và trạng thái của vốn trong quá trình phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiểu theo nghĩa rộng, một số quan điểm lại cho rằng vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản trị và tác nghiệp của cán bộ điều hành cùng chất lượng của đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp, các lợi thế về cạnh tranh như vị trí, uy tín của doanh nghiệp trên thương trường Quan điểm này có ý nghĩa rộng trong việc khai thác đầy đủ mọi hình thức thức của vốn trong nền kinh tế thị trường nhưng việc xác định và quản trị vốn theo quan điểm này rất khó khăn, phức tạp nhất là khi trình độ quản trị chưa cao và hệ thống pháp luật chưa thực sự hợp lý và hoàn thiện như nước ta hiện nay
Cũng có quan niệm lại cho rằng: “Vốn kinh doanh là giá trị của các tài sản hiện có
của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền” – [4], nhưng quan điểm này mới dừng lại ở
mặt hình thái của vốn mà không phản ánh trạng thái, mục đích của vốn nên cũng không thuận lợi cho phân tích kinh tế
Như vậy, các quan điểm về vốn ở trên một mặt đã thể hiện được vai trò của vốn trong những điều kiện lịch sử cụ thể với những yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể Nhưng mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên góc độ hạch toán và quản trị, các quan điểm đó còn gây khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu của quản trị vốn hiệu quả
Trang 5- Trạng thái vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh là tài sản vật chất (tài sản
cố định, tài sản dự trữ ) và tài sản tài chính (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các chứng khoán, tín phiếu…) là cơ sở để ra biện pháp quản trị vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách hiệu quả
- Mối quan hệ mật thiết giữa vốn và các nhân tố khác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (đất đai, lao động) Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải sử dụng tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả vốn
- Mục đích của quá trình đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận Vấn đề này sẽ định hướng cho quá trình quản trị kinh doanh nói chung và quản trị vốn nói riêng
Từ những quan điểm trên, có thể định nghĩa: “Vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới
dạng tài sản vật chất hay tài sản tài chính được các cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp bỏ ra, đầu tư phục vụ sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận” – [11]
2 Đặc trưng của vốn:
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có tư liệu lao động đội tượng lao động và sức lao động Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm, lao vụ, dịch vụ Để tạo ra các yếu tố phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định ban đầu để xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị, thuê lao động hay mua sắm nguyên vật liệu,
…Có vốn tiền tệ, doanh nghiệp mới tiến hành sản xuất kinh doanh Sau khi tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp dành một phần thu nhập của mình để bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra như tài sản cố định đã bị hao mòn, chi phí vật tư, tiền lương, tiền công … và một phần để tạo lập quỹ
dự trữ cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo
Như vậy, có thể thấy các tư liệu lao động và đối tượng lao động mà doanh nghiệp phải đầu tư để sản xuất và tái sản xuất mở rộng là hình thái hiện vật của vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, vốn phải có những đặc trưng cơ bản sau:
Trang 6
- Vốn phải là một lượng tài sản nhất định Vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp
- Vốn phải được tích tụ và tập trung tới một qui mô nhất định mới có thể bỏ ra để đầu
tư vào sản xuất kinh doanh và phát huy tác dụng Các nhà quản trị, các nhà đầu tư không chỉ tìm cách khai thác mọi tiềm năng của vốn mà còn tìm cách tập trung, huy động vốn từ những nguồn cung ứng thích hợp
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản trị chặt chẽ Trong nền kinh tế thị trường không có những đồng vốn vô chủ, mà nếu có tồn tại những đồng vốn vô chủ thì cũng đồng nghĩa với việc sử dụng lãng phí và kém hiệu quả vốn Khi đồng vốn gắn liền với chủ sở hữu nhất định thì nó mới là động lực để vốn được chi tiêu hợp lý, hiệu quả
- Vốn là một loại hàng hoá đặc biệt có giá trị (trao đổi, mua bán) và giá trị sử dụng Những người có vốn có thể đưa vào thị trường và những người cần vốn tới thị trường để vay vốn, tức là chuyển quyền sử dụng vốn Người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất nhất định tức là phải trả giá cho quyền sử dụng vốn (chi phí sử dụng vốn) Như vậy, khác với hàng hoá thông thường, vốn khi được bán sẽ không mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng vốn
- Vốn phải có giá trị về mặt thời gian, có nghĩa là khi tiến hành đầu tư vào một dự án kinh doanh nào thì đều phải xét đến yếu tố thời gian của vốn vì trong nền kinh tế thị truờng
do ảnh hưởng của nhiều nhân tố như giá cả, lạm phát,…nên sức mua của đồng tiền tại những thời điểm khác thì cũng khác nhau
- Vốn phải được vận động để sinh lời Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, còn để trở thành vốn sản xuất kinh doanh thì vốn phải được vận động, đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận
Khi tham gia vào sản xuất kinh doanh, vốn luôn biến động và chuyển hoá hình thái vật chất theo thời gian và không gian Toàn bộ sự vận động của vốn khi tham gia quá trình sản xuất kinh doanh được thể hiện ở sơ đồ sau:
TLSX
T - H SX - H - T
Trang 7
SLĐ
Sự vận động của vốn trong doanh nghiệp thương mại có thể chỉ là: T-H- T’ và trong doanh nghiệp ngân hàng là: T - T’
Qua sơ đồ ta thấy: quá trình vận động của vốn trải qua ba giai đoạn chủ yếu sau đây:
- Giai đoạn một: vốn hoạt động trong phạm vi lưu thông, lúc đầu là vốn tiền tệ (T)
tích luỹ được đem ra thị trường (đó là thị trường các yếu tố đầu vào) mua hàng hoá bao gồm tư liệu sản xuất và sức lao động Trong giai đoạn này vốn thay đổi từ hình thái vốn tiền tệ sang vốn sản xuất
TLSX
T - H
SLĐ
- Giai đoạn hai: Vốn rời khỏi lĩnh vực lưu thông bước vào hoạt động trong khâu sản xuất
ở đây các yếu tố sản xuất hay còn gọi là các yếu tố hàng hoá dịch vụ được sản xuất ra trong đó
có phần giá trị mới (do giá trị sức lao động con người tạo ra)
TLSX
- H’
SLĐ
- Giai đoạn ba: Sau giai đoạn sản xuất tạo ra H’ thì vốn lại trở lại hoạt động trên lĩnh
vực lưu thông dưới hình thái hàng hoá Kết thúc giai đoạn này (hàng hoá được tiêu thụ) thì vốn dưới hình thái hàng hoá chuyển thành hình thái vốn tiền tệ ban đầu nhưng về mặt số lượng có thể là khác nhau
H’ _ T’ (T’ T)
Từ sự phân tích sự vận động của vốn thông qua “vòng tuần hoàn vốn” ta thấy rằng: tiền
có khả năng chuyển hoá thành vốn chỉ khi tiền được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh thông qua hoạt động đầu tư nhằm mục đích sinh lời mới được gọi là vốn Với tư cách đầu tư thì mục đích cuối cùng là tạo được T’ phải lớn hơn T
Vòng tuần hoàn của vốn bắt đầu từ hình thái tiền tệ (T) và chuyển sang hình thái hàng hoá (H) dưới dạng các tư liệu lao động và đối tượng lao động Qua quá trình sản xuất kinh
Trang 8
doanh tạo ra sản phẩm, lao vụ và dịch vụ, vốn chuyển sang hình thái sản phẩm hàng hoá được bán trên thị trường và cuối cùng vốn lại trở về hình thái tiền tệ (T’) Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong sản xuất kinh doanh nên cùng một lúc, vốn sản xuất kinh doanh tồn tại dưới các hình thức khác nhau trong lĩnh vực dự trữ, sản xuất và lưu thông
Như vậy, từ những phân tích trên cho thấy trong nền kinh tế thị trường, phạm trù vốn phải được nhận thức một cách đầy đủ, phù hợp Đây là vấn đề có tính chất nguyên lý, là cơ
sở cho việc quản trị và sử dụng vốn hiệu quả trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
3 Vai trò của vốn :
Trong nền kinh tế thị trường, mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hoá, do vậy bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào dù ở bất cứ cấp độ nào: cá nhân, tổ chức, gia đình, doanh nghiệp hay quốc gia luôn luôn cần có một lượng vốn nhất định dưới dạng tiền tệ, tài nguyên đã được khai thác, bản quyền phát minh,…Vốn là điều kiện tiền đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
- Về mặt kinh tế:
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là mạch máu của doanh nghiệp Vốn không những đảm bảo mua sắm máy móc thiết bị dây chuyền công nghệ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, thường xuyên
Vốn cũng là yếu tố quyết định việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp Để
có thể tiến hành tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng thì sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải có lãi đảm bảo cho vốn của doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển
Đó là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư mở rộng phạm vi sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường
Nhu cầu về vốn xét trên giác độ mỗi doanh nghiệp là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi
mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho người lao động, đóng góp cho xã hội Như vậy:
Trang 9- Về mặt pháp lý:
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định Đối với một số ngành, lĩnh vực thì lượng vốn đó tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định (do Nhà nước quy định) Nếu không, doanh nghiệp sẽ không được thành lập Và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, lượng vốn doanh nghiệp không đạt điều kiện Nhà nước quy định thì doanh nghiệp sẽ tự tuyên bố chấm dứt hoạt động như phá sản, sát nhập với doanh nghiệp khác Như vậy, với một số ngành, vốn
có thể được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn, các doanh nghiệp nhất thiết phải tìm mọi cách huy động, bảo toàn và phát triển vốn bằng cách sử dụng tiết kiệm, hợp lý vốn tức là phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
4 Phân loại vốn :
Do trong quá trình vận động, vốn biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau nên cũng
có nhiều cách phân loại vốn khác nhau:
4.1 Căn cứ vào nguồn hình thành vốn
4.1.1 Vốn chủ sở hữu
Là số vốn góp của các chủ sở hữu, của các nhà đầu tư đóng góp Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải chịu lãi suất Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do sản xuất kinh doanh có lãi của doanh nghiệp sẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp của mình Tuỳ theo từng loại hình
Trang 10 Lãi chưa phân phối
Là số vốn có nguồn gốc từ lợi nhuận hay các khoản thu nhập hợp pháp khác của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản phải nộp hay thanh toán Số lãi trong khi chưa phân phối cho các chủ đầu tư, trích quỹ thì được sử dụng trong sản xuất kinh doanh như vốn chủ sở hữu
4.1.2 Vốn vay
Vốn vay là khoản vốn đầu tư ngoài vốn chủ sở hữu được hình thành từ nguồn vốn đi vay, đi chiếm dụng của các cá nhân, đơn vị, tổ chức trong và ngoài nước và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải trả cho người cho vay cả gốc lẫn lãi Phần vốn này, doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời hạn sử dụng, lãi suất, thế chấp,…) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vốn vay luôn được ưu tiên chi trả trước vốn chủ sở hữu trong bất cứ hoàn cảnh nào đặc biệt doanh nghiệp khó khăn về tài chính Doanh nghiệp càng sử dụng vốn vay càng nhiều thì độ rủi ro càng cao nhưng để phục vụ sản xuất kinh doanh thì đây là nguồn huy động vốn rất lớn tuỳ thuộc vào khả năng thế chấp, tình hình sản xuất kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp Vốn vay có hai loại: Vốn vay, nợ ngắn hạn và vốn vay, nợ trung, dài hạn với nhiều hình thức khác nhau như tín dụng thương mại, hùn vốn qua phát hành trái phiếu, tín dụng cầm đồ hoặc thế chấp tài sản
Thông thường, một doanh nghiệp đều nên phối hợp cả hai nguồn vốn trên để đảm bảo nhu cầu vốn của doanh nghiệp cũng như bảo đảm nguyên tắc phân tán rủi ro trong đầu tư Kết cấu hợp lý của hai nguồn vốn này tuỳ thuộc đặc điểm ngành doanh nghiệp đang hoạt
Trang 11
động, quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp trên cở sở xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp và tình hình chung của nền kinh tế đất nước
4.2 Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn
4.2.1 Nguồn vốn thường xuyên
Đây là nguồn vốn mang tính chất ổn định, lâu dài mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư vào TSCĐ và một bộ phận TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn vốn này bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn
4.2.2 Nguồn vốn tạm thời
Đây là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (sử dụng trong thời gian dưới một năm) để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay, nợ ngắn hạn và các khoản chiếm dụng của doanh nghiệp với các bạn hàng
Với cách phân loại này còn giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp lập các kế hoạch tài chính, hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở xác định quy mô vốn cần thiết, lựa chọn nguồn cung ứng và quy mô vốn thích hợp cho từng nguồn vốn đó, khai thác nguồn tài chính tiềm năng, tổ chức sử dụng vốn đạt hiệu quả cao
Trang 12
4.3 Căn cứ vào vai trò, đặc điểm chu chuyển cuả vốn trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
4.3.1 Vốn cố định
VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư, ứng trước về TSCĐ, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng
Quy mô của VCĐ quyết định quy mô của TSCĐ nhưng các đặc điểm của TSCĐ lại ảnh hưởng tới sự vận động và công tác quản trị VCĐ Vì vậy, muốn quản trị VCĐ hiệu quả thì phải quản trị, sử dụng hiệu quả TSCĐ Từ mối quan hệ này, ta có thể khái quát những nét đặc thù của VCĐ như sau:
- VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh do TSCĐ có thể phát huy trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên VCĐ-hình thái biểu hiện của nó cũng được tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh tương ứng
- VCĐ được luân chuyển dần từng phần khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất của nó bị giảm dần và kéo theo giá trị tài sản đó cũng bị giảm đi Theo đó, VCĐ cũng được tách làm hai phần:
+ Một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức khấu haoTSCĐ Tức là trong quá trình sử dụng và bảo quản, TSCĐ bị hao mòn Bộ phận giá trị của TSCĐ tương ứng với mức hao mòn mà nó được chuyển dịch dần dần vào giá trị sản phẩm, gọi là khấu hao TSCĐ
+ Phần còn lại của VCĐ được “cố định ” trong TSCĐ Việc quản trị VCĐ và TSCĐ trên thực tế là một công việc rất phức tạp Để giảm nhẹ khối lượng quản trị, về kế toán tài chính người ta có những quy định thống nhất về tiêu chuẩn giới hạn về giá trị và thời gian
sử dụng một TSCĐ Hiện nay, ở nước ta một tư liệu lao động là TSCĐ phải đồng thời thoả mãn hai điều kiện: Giá trị tối thiểu từ 10 triệu đồng Việt nam và thời gian sử dụng ít nhất
là 1năm
Để quản trị VCĐ hiệu quả, cần nghiên cứu kết cấu và phân loại VCĐ
Cơ cấu của vốn cố định
Trang 13
Là tỷ trọng của từng loại VCĐ so với tổng toàn bộ VCĐ của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Cần lưu ý rằng quan hệ tỷ lệ trong cơ cấu vốn là một chỉ tiêu động mang tính biện chứng và phụ thuộc nhiều nhân tố như: khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, khả năng thu hút vốn đầu tư, phương hướng mục tiêu sản xuất kinh doanh, trình độ trang bị kỹ thuật, quy mô sản xuất Việc nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có ý nghĩa quan trọng trong việc huy động và sử dụng vốn Khi nghiên cứu vốn cố định phải nghiên cứu trên hai góc độ là: nội dung kế hoạch và quan hệ mỗi bộ phận so với toàn bộ Vấn đề đặt ra
là phải xây dựng được một cơ cấu hợp lý phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp và với trình độ phát triển khoa học- kỹ thuật
Phân loại vốn cố định
Có nhiều cách phân loại TSCĐ:
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện :
- Căn cứ theo công dụng kinh tế:
+ TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh
+ TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh :
- Căn cứ theo quyền sở hữu:
+ TSCĐ doanh nghiệp tự có
+ TSCĐ doanh nghiệp thuê ngoài
+ TSCĐ doanh nghiệp bảo quản, giữ hộ cho đơn vị khác
Trang 14
4.3.2 Vốn lưu động
VLĐ của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ và vốn lưu thông nhằm đảm
bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của doanh nghiệp tiến hành thường xuyên, liên tục
Khác với VCĐ, VLĐ chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm sau mỗi chu kỳ sản xuất Trong quá trình sản xuất kinh doanh VLĐ được luân chuyển không ngừng qua ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và tiêu thụ VLĐ chu chuyển nhanh hơn VCĐ Trong mỗi giai đoạn
đó VLĐ được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, có thể là hình thái hiện vật hay hình thái giá trị
Có thể thấy rằng VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất Nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp nhiều khó khăn
và do đó quá trình sản xuất cũng bị trở ngại hay gián đoạn Để quản trị VLĐ tốt, cần nghiên cứu kết cấu và phân loại VLĐ
Cơ cấu vốn lưu động
Là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động chiếm trong tổng số VLĐ ở những doanh nghiệp khác nhau, kết cấu vốn lưu động không giống nhau Xác định được cơ cấu VLĐ hợp lý sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả VLĐ
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VLĐ thì cần thiết phải tiến hành phân loại vốn khác nhau
+ Vốn trong sản xuất: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản xuất
+ Vốn trong lưu thông: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưu thông như thành phẩm, vốn tiền mặt
- Căn cứ vào phương pháp xác định vốn người ta chia vốn thành:
Trang 15
+ VLĐ định mức: là số VLĐ cần thiết tối thiểu thường xuyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm: vốn dự trữ, vốn trong sản xuất và thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến
+ VLĐ không định mức: là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh nhưng không có căn cứ để tính định mức được
- Căn cứ vào nguồn hình thành:
+ VLĐ tự có: là số vốn doanh nghiệp được Nhà nước cấp, VLĐ từ bổ sung lợi nhuận, các khoản phải trả nhưng chưa đến kỳ hạn
+ VLĐ đi vay: đây là nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp có thể sử dụng
để đáp ứng nhu cầu về VLĐ thường xuyên cần thiết trong kinh doanh Có thể vay vốn ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoặc có thể vay vốn của các đơn vị, tổ chức và các cá nhân khác trong và ngoài nước
Mỗi doanh nghiệp cần xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý
Sự khác nhau cơ bản giữa VCĐ và VLĐ là: nếu như VCĐ tham gia vào quá trình sản xuất như tư liệu lao động thì VLĐ là đối tượng lao động Nếu như VLĐ tạo ra thực thể của sản phẩm hàng hoá thì VCĐ là phương thức để dịch chuyển VLĐ thành sản phẩm hàng hoá Mặt khác nếu như VLĐ được kết chuyển một lần vào giá trị của sản phẩm hàng hoá và thu hồi được ngay sau khi doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá còn VCĐ tham gia nhiều vào quá trình sản xuất kinh doanh và kết chuyển vào giá trị sản phẩm hàng hoá dưới hình thức khấu hao
4.4 Căn cứ vào phạm vi nguồn hình thành vốn
4.4.1 Nguồn vốn do doanh nghiệp tự cung ứng
Khấu hao tài sản cố định
Việc xác định mức khấu hao cụ thể phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cố định cũng như
ý muốn chủ quan của con người Đối với doanh nghiệp nhà nước trong chừng mực nhất định phải phụ thuộc ý đồ của Nhà nước, các doanh nghiệp khác có thể tự lựa chọn thời hạn sử dụng và phương pháp tính khấu hao cụ thể Trong chính sách tài chính của mình, doanh nghiệp có thể lựa
Trang 16
chọn và điều chỉnh khấu hao tài sản cố định và coi đây là một nguồn cung ứng vốn bên trong của mình
Tích luỹ tái đầu tư
Nguồn này phụ thuộc vào hai nhân tố cụ thể và tổng số lợi nhuận thu được trong từng thời kỳ kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp nhà nước toàn bộ lợi nhuận thu được sẽ phải sử dụng cho các khoản
+ Nộp tiền sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định
+ Trả các khoản phải quy định
+ Lập các quỹ đặc biệt
Điều chỉnh cơ cấu tài sản
Phương thức này tuy không làm tăng tổng số vốn sản xuất - kinh doanh nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt động cần thiết trên cơ sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết
4.4.2 Nguồn vốn do bên ngoài cung ứng
Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu
Là hình thức do doanh nghiệp được cung ứng vốn trực tiếp từ thị trường chứng khoán Khi có cầu về vốn và lựa chọn hình thức này, doanh nghiệp tính toán và phát hành
cổ phiếu bán trên thị trường chứng khoán Đặc trưng cơ bản là tăng vốn nhưng không tăng
nợ của doanh nghiệp bởi lẽ những người sở hữu cổ phiếu trở thành cổ đông của doanh nghiệp Vì lẽ đó nhiều nhà quản trị học coi hình thức này là nguồn cung ứng nội bộ
Tuy nhiên chỉ có công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn mới được phát hành cổ phiếu Và doanh nghiệp phải có nghĩa vụ công khai hoá thông tin tài chính theo Luật doanh nghiệp
Vay tiền bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn
Đây là hình thức cung ứng vốn trực tiếp từ công chúng Doanh nghiệp phát hành lượng vốn cần thiết dưới hình thức trái phiếu thường có kỳ hạn xác định và bán cho công
Trang 17- Hạn chế: đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm chắc kỹ thuật tài chính để tránh áp lực nợ đến hạn và vẫn có lợi nhuận đặc biệt khi kinh tế suy thoái lạm phát cao Chi phí kinh doanh phát hành trái phiếu khá cao vì doanh nghiệp cần có sự trợ giúp của ngân hàng thương mại Doanh nghiệp phải tính toán thoả mãn hai điều kiện: TSCĐ phải nhỏ hơn tổng
số vốn và nợ dài hạn của doanh nghiệp Những doanh nghiệp nào thoả mãn các điều kiện theo luật định mới được phép phát hành trái phiếu
Vay vốn của các ngân hàng thương mại
Vay vốn từ các ngân hàng thương mại là hình thức doanh nghiệp vay vốn dưới các hình thức cụ thể ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn từ các ngân hàng thương mại Đây là mối quan hệ tín dụng giữa một bên đi vay và một bên cho vay Với hình thức này doanh nghiệp có thể huy động được một lượng vốn lớn, đúng hạn và có thể mời các doanh nghiệp cùng tham gia thẩm định dự án nếu có cầu vay đầu tư lớn Yêu cầu doanh nghiệp phải có
uy tín lớn, kiên trì đàm phán, chấp nhận các thủ tục thẩm định ngặt nghèo Nếu doanh nghiệp vay tiền của ngân hàng có thể bị ngân hàng thương mại kiểm soát các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian cho vay
Tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp:
Trong hoạt động kinh doanh, quan hệ mua bán trao đổi giữa các doanh nghiệp thông thường không kết thúc tại một điểm, tức là xuất hiện sự chênh lệch về mặt thời gian giữa dòng tài chính và dòng vật chất Thực chất luôn diễn ra đồng thời quá trình doanh nghiệp
nợ khách hàng tiền và chiếm dụng tiền của khách hàng Nếu tiền doanh nghiệp chiếm dụng của khách hàng nhiều hơn số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng thì số tiền dôi ra sẽ mang bản chất tín dụng thương mại hay tín dụng nhà cung cấp Ngoài tín dụng thương mại còn gồm cả khoản đặt cọc trước của khách hàng
Trang 18
Đây là một hình thức tín dụng ngắn hạn quan trọng (thường phải thanh toán trong vòng 30-90 ngày) đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp đang trong thời kỳ tăng trưởng
Tín dụng thuê mua
Trong cơ chế thị trường hình thức này được thực hiện giữa một doanh nghiệp có cầu
sử dụng máy móc, thiết bị với một doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua diễn ra khá phổ biến Hình thức này có ưu điểm rất cơ bản là giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, khi nào doanh nghiệp có cầu về sử dụng máy móc, thiết bị cụ thể mới đặt vấn đề thuê mua Doanh nghiệp không chỉ được nhận máy móc thiết bị mà còn được nhận tư vấn đào tạo Tuy nhiên cũng có những hạn chế như: chi phí kinh doanh cho việc sử dụng máy móc thiết bị cao và hợp đồng tương đối phức tạp
Vốn liên doanh, liên kết
Với phương thức này doanh nghiệp liên doanh, liên kết với một hoặc một số doanh nghiệp khác nhằm tạo vốn cho hoạt động liên doanh nào đó
- Ưu điểm: với hình thức này doanh nghiệp sẽ có một lượng vốn cần thiết cho một hoặc một số hoạt động nào đó mà không tăng nợ
- Nhược điểm: các bên liên doanh cùng tham gia liên doanh và cùng chia sẽ lợi nhuận thu được
Nguồn vốn ODA
Đối tác mà doanh nghiệp có thể tìm kiếm và nhận được nguồn vốn này là các chương trình hợp tác của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế khác Hình thức cấp vốn ODA có thể là hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện
ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán Hình thức này có chi phí kinh doanh thấp (sử dụng vốn) Tuy nhiên để nhận được nguồn vốn này các doanh nghiệp phải chấp nhận thủ tục chặt chẽ Đồng thời doanh nghiệp phải có điều kiện làm việc với các cơ quan Chính phủ và chuyên gia nước ngoài
Nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp FDI
Trang 19
Với phương thức này doanh nghiệp không chỉ nhận được vốn mà còn nhận được cả
kỹ thuật - công nghệ cũng như phương thức quản trị tiên tiến và cũng được chia sẻ thị trường xuất khẩu Tuy nhiên huy động vốn theo hình thức này phải chịu sự kiểm soát điều hành của doanh nghiệp (tổ chức kinh tế) nước ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn
Cung ứng vốn từ sự kết hợp công và tư trong xây dựng cơ bản
Phương thức này rất có ý nghĩa với các doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng, song cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có những điều kiện nhất định
Như vậy, tuỳ mục đích nghiên cứu, đặc thù của doanh nghiệp mà lựa chọn cách phân loại, cũng như kết cấu thích hợp
Trang 20
II Hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp
1 Khái niệm chung về hiệu quả - hiệu quả sử dụng vốn
Mặc dù có rất nhiều các quan điểm khác nhau về vấn đề hiệu quả song có thể khẳng định trong nền kinh tế thị trường hiệu qủa là công cụ để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều có mục tiêu bao trùm lâu dài
là tối đa hoá lợi nhuận
Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rất rộng rãi trong cả các lĩnh vực kinh tế xã hội và kỹ thuật Song ở đây chúng ta chỉ xem xét hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả kinh doanh ) Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn ) để đạt mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào Vì vậy có thể mô tả bằng công thức:
+ Hiệu quả kinh doanh : H =K/C
Trong đó : K: là kết quả đạt được
C: hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả
Như vậy, Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt
động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào qui mô, tốc độ biến động của từng nhân tố – [8]
Hiệu quả kinh doanh cũng là một phạm trù phức tạp, và khó xác định tính toán bởi cả phạm trù kết quả và hao phí nguồn lực gắn với một thời kỳ cụ thể đều khó xác định một cách chính xác
Từ các vấn đề trên suy ra : ‘Hiệu quả sử dụng vốn là một bộ phận của hiệu quả
kinh doanh, nó phản ánh trình độ lợi dụng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm mục tiêu xác định Hiệu quả sử dụng vốn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả thu
Trang 21có tiêu thụ được không và bao giờ thì tiêu thụ và thu được tiền về …nên nó cũng lại tách rời quá trình tiêu thụ
Trong khi đó, hiệu quả sử dụng vốn là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực vốn Trình độ lợi dụng nguồn lực vốn không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị
mà là một phạm trù tương đối, chỉ có thể được phản ánh bằng số tương đối: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực vốn tạo ra kết quả đó Cũng cần tránh nhầm lẫn giữa phạm trù hiệu quả với phạm trù mô tả sự chênh lệch giữa kết quả và vốn Chênh lệch giữa kết quả
và vốn luôn là số tuyệt đối, phạm trù này phản ánh mức độ đạt được của vốn nên cũng mang bản chất kết quả của việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh và không bao giờ phản ánh trình độ lợi dụng nguồn lực vốn Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả sử dụng vốn là phương tiện để doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu đó
Trang 22
Mặt khác, hao phí nguồn lực vốn của một thời kỳ trước hết là hao phí về mặt hiện vật, cũng có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật hay đơn vị giá trị Tuy nhiên, thông thường người ta hay xác định bằng đơn vị giá trị vì nó mang tính so sánh cao hơn Việc xác định hao phí nguồn lực trong một thời kỳ là một vấn đề không đơn giản, không đơn giản ngay ở sự nhận thức về vấn đề này: Hao phí nguồn lực vốn này được đánh giá thông qua phạm trù chi phí kế toán hay chi phí sản xuất kinh doanh ? Chỉ có phạm trù chi phí sản xuất kinh doanh mới phản ảnh tương đối đầy đủ chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra Nhưng việc có tính toán được chi phí kinh doanh trong từng thời kỳ kinh doanh ngắn hay không cũng như có tính toán được chi phí kinh doanh tới từng bộ phận hay không còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học quản trị chi phí kinh doanh
Cũng cần chú ý rằng hiệu quả sử dụng vốn phản ánh trình độ lợi dụng nguồn lực vốn trong một thời kỳ kinh doanh nào đó cũng hoàn toàn khác với việc so sánh sự tăng lên của kết quả với
sự tăng lên của sự tham gia các yếu tố đầu vào
Vậy, bản chất của phạm trù kết quả và hiệu quả sử dụng vốn là hoàn toàn khác nhau Kết quả là mục tiêu còn hiệu quả sử dụng vốn là phuơng tiện để doanh nghiệp đạt mục tiêu
đó trong một thời kỳ nhất định
3 Mục đích Phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nhằm mục đích thông tin giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có các quyết định đúng đắn, kịp thời
- Xác lập được một cơ cấu vốn hợp lý
- Giúp cho các nhà quản trị đánh giá được tình hình thực tế về vấn đề sử dụng vốn
- Từ đó tìm ra những mặt yếu kém, chưa có hiệu quả cụ thể đến từng bộ phận và xem xét, phát hiện ra những nguyên nhân để tìm ra những biện pháp khắc phục
Tuy nhiên để công việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn là đúng, xác thực và phát huy được những mục đích trên thì cần quán triệt một số nhiệm vụ sau:
- Thông tin thu thập để phân tích được lấy từ nguồn như báo cáo về tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp khác đặc biệt cùng ngành, tài liệu thống kê các vấn đề có liên quan của ngành
- Xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thích hợp
Trang 23
- Sử dụng các phương pháp đánh giá kết hợp với các chỉ tiêu đã xây dựng
- Lựa chọn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả thích hợp
- Cung cấp thông tin đánh giá đến cán bộ quản trị doanh nghiệp
4 Các chỉ tiêu đánh giá và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
4.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
Hệ số doanh lợi của tổng vốn = (lợi nhuận thuần + lãi trả vốn vay)/tổng tài sản
- ý nghĩa: hệ số doanh lợi của vốn cho biết cứ đầu tư một đồng vốn vào sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần (gồm cả lãi trả vốn vay) Chỉ tiêu này càng cao thì có thể khẳng định hiệu quả sử dụng tổng vốn của doanh nghiệp càng cao Nhưng, nếu lãi trả vốn vay là quá lớn thì cũng cần xem xét lại bởi thực chất, lãi trả vốn vay cũng là chi phí kinh doanh
Số vòng quay của toàn bộ vốn kinh doanh = doanh thu/ tổng tài sản
- ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết, tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng trong kỳ sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn càng quay được nhiều vòng trong kỳ và hiệu quả sử dụng vốn càng cao
4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ thường sử dụng là:
Sức sản xuất của VCĐ = Doanh thu thuần/VCĐ bình quân
- ý nghĩa: Sức sản xuất của VCĐ cho biết, cứ một đồng VCĐ đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng
tỏ sức sản xuất của VCĐ càng cao và hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao
Hệ số đảm nhiệm của VCĐ = VCĐ bình quân/Doanh thu thuần
- ý nghĩa: Hệ số đảm nhiệm cho biết, để tạo ra được một đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng VCĐ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp càng tiết kiệm được VCĐ và hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao
Hiệu suất sử dụng VCĐ = Lợi nhuận thuần/VCĐ bình quân
Trang 24
- ý nghĩa: Hiệu suất sử dụng VCĐ cho biết cứ đầu tư một đồng VCĐ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao
Suất hao phí của VCĐ = VCĐ bình quân/lợi nhuận thuần
- ý nghĩa: Suất hao phí cho biết, để tạo ra được một đồng lợi nhuận thuần thì doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng đầu tư vào sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp càng tiết kiệm được VCĐ nên hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao
Trang 25
4.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ thường được sử dụng là:
Số vòng quay của VLĐ = doanh thu thuần/VLĐ bình quân
- ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết, VLĐ của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng trong kỳ sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ VLĐ trong kỳ càng quay vòng nhanh nên hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao
Mức đảm nhiệm của VLĐ = VLĐ bình quân / doanh thu thuần
- ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết để tạo ra được một đồng doanh thu thuần, doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng VLĐ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ doanh nghiệp càng tiết kiệm được VLĐ, do đó hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao
Số ngày bình quân của một vòng luân chuyển VLĐ = 365/ số vòng quay của VLĐ
- ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để VLĐ quay được một vòng quay Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ VLĐ càng quay vòng nhanh và hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao
Hiệu suất sử dụng VLĐ = lợi nhuận thuần / VLĐ bình quân
- ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết cứ đầu tư một đồng VLĐ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ hiệu quả
sử dụng VLĐ càng cao
4.4 Tiêu chuẩn hiệu quả
Từ công thức xác định hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng nói riêng,
ta có thể xác lập được một dãy các giá trị có thể có của kết quả/chi phí kinh doanh Nếu xét các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh cụ thể thì với mỗi chỉ tiêu cũng đều xác lập được một dãy các giá trị có thể Vấn đề được đặt ra là liệu mọi giá trị đó đều phản ánh có hiệu quả ở mức
độ khác nhau hay trong dãy các giá trị đó thì giá trị nào thì có hiệu quả ? Rõ ràng, trong dãy giá trị có thể của mỗi chỉ tiêu không phải giá trị nào cũng phản ánh sự có hiệu quả Trường hợp doanh nghiệp bị lỗ vốn chỉ tiêu lợi nhuận/vốn âm thì rõ ràng là doanh nghiệp
Trang 265 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
5.1 Các nhân tố bên trong
5.1.1 Lực lượng lao động
Người ta thường nhắc đến luận điểm ngày nay khoa học công nghệ kỹ thuật công nghệ đã
trở thành lực lượng lao động trực tiếp áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, máy móc dù có tối tân đến đâu cũng do con người chế tạo ra Nếu không có lao động sáng tạo của con người, sẽ không thể có các máy móc thiết bị đó Mặt khác máy móc thiết bị dù có hiện đại tối tân đến đâu cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật, trình độ sử dụng máy móc thiết bị của người lao động
Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp nhập tràn lan máy móc thiết bị hiện bại của nước ngoài nhưng do trình độ sử dụng yếu kém nên không những không đem lại hiệu quả
mà còn vừa tốn kém tiền của cho hoạt động sửa chữa nên hiệu quả kinh doanh rất thấp Trong sản xuất kinh doanh lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với cầu người tiêu dùng làm cho sản phẩm của doanh nghiệp có thể bán được tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả Lực luợng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các nguồn lực khác nên tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng
5.1.2 Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật
Trang 27
Cơ sở vật chất kỹ thuật là nền tảng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trong quá trình sử dụng nó sẽ bị hao mòn (cả hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình) Do vậy, doanh nghiệp phải luôn luôn quan tâm để sửa chữa, nâng cấp đổi mớivì nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến năng suất lao động Năng suất lao động tăng, làm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng chất lượng….và sẽ làm tăng hiệu quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn
5.1.3 Nhân tố quản trị
Nhà quản trị là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong doanh nghiệp vai trò của nhà quản trị trong kinh doanh hiện đại ngày nay càng được coi trọng Sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ quản trị Các quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp về các hoạt động đầu tư sẽ liên quan đến toàn bộ quá trình sản xuất của hoạt động đầu tư đó Nếu quyết định đầu tư đúng thì mới có cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Mặt khác, những quyết định đúng về cầu, lựa chọn nhà cung ứng thích hợp, linh hoạt trong điều chỉnh chiến luợc sản xuất, sử dụng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và khéo léo trong thu hồi vồn… cũng sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn
5.1.4 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
Trong kinh doanh hiện đại, thông tin có một vai trò hết sức quan trọng, nó chính là phương tiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển cũng như chiến thắng trong cạnh tranh Các thông tin đó bao gồm các thông tin về thị trường với cầu về sản phẩm, giá cả, đối thủ cạnh tranh và nhà cung ứng, ; về chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước, về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những thông tin đúng đắn, đầy đủ, kịp thời là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định và điều chỉnh chiến lược kinh doanh sao cho phù hợp, đảm bảo tính chất “động và tấn công” nhằm đáp ứng tốt cầu thị trường, chiến thắng đối thủ cạnh tranh, tăng thị phần và nâng cao vị thế, uy tín của doanh nghiệp Từ đó, tăng doanh thu, lợi nhuận, tăng số vòng quay của vốn, tạo điều kiện đổi mới công nghệ, khuyến khích người lao động tích cực làm việc, tăng năng suất Đây chính là tiền đề nâng hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng
5.1.5 Nhân tố tính toán kinh tế
Trang 28
Hiệu quả sử dụng vốn được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và hao phí nguồn lực vốn để đạt được kết quả đó Mà các đại lượng kết quả và chi phí trong mỗi thời kỳ đều rất khó xác định Hiệu quả sử dụng vốn ở đây phải gắn với chi phí kinh doanh mới có thể phản ánh chính xác và có ý nghĩa đích thực nhưng để làm được điều này thì doanh nghiệp phải triển khai tính chi phí kinh doanh
5.2 Các nhân tố bên ngoài
là một thuận lợi và doanh nghiệp phải nắm bắt Ngược lại, doanh nghiệp phải tự điều chỉnh
để hạn chế, khắc phục khó khăn nhằm đạt hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn
5.2.2 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là môi truờng bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Trước hết phải kể đến chính sách đầu tư, chính sách phát triển, …mang tầm vĩ mô của Nhà nước Nó có thể thúc đấy hoặc kìm hãm sự phát triển của từng ngành, vùng cụ thể và do đó tác động đến hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn
5.2.3 Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng
Doanh nghiệp ở khu có cơ sở hạ tầng (ví dụ giao thông thuận tiện, mạng lưới thông tin, điện nước,…) tốt thì sẽ tạo thuận lưọi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh , tăng tốc
độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí góp phần tăng hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trang 29
phần II
Thực trạng vốn và công tác quản lý sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng công
trình thăng long 9
I Giới thiệu tổng quan về công ty:
Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9 – Là đơn vị thi công xây
dựng với chuyên ngành xây dựng cơ bản Là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân đầy đủ
1 Tên công ty: Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9
Tên giao dịch: 9 Thăng Long construction joint stock company
Tên viết tắt: T.L., JSC
2 Địa chỉ trụ sở chính: Phòng 406 Toà nhà CT4A2 – Khu đô thị Bắc Linh Đàm,
Phường Đại Kim, Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội
- Điện thoại: 04.6413920 Fax: 04.6413973
3 Ngành nghề kinh doanh:
- Xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông thuỷ lợi
Trang 30
- Sản xuất, buôn bán vật liệu xây dựng
- Buôn bán máy móc, linh kiện, thiết bị điện tử, viễn thông, tin học
- Sản xuất, thiết kế cài đặt phần mềm tin học
- Đại lý bán lẻ xăng dầu, khí đốt, gas hoá lỏng
- Vận chuyển hành khách và hàng hóa
- Kinh doanh bất động sản
- Kinh doanh nhà hàng, khách sạn
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá
- Đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu Đô thị mới, bao gồm cả đường giao thông, cầu, phà, các công trình điện nước
- Kinh doanh phát triển nhà
- Đầu tư và xây dựng nhà máy thuỷ điện, kinh doanh điện
- Đầu tư khai thác khoáng sản và kinh doanh khoáng sản
( Doanh nghiệp chỉ kinh doanh khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật)
4 Người đại diện theo pháp luật của công ty:
Chức danh : Giám đốc
Họ và tên: Lê Thống Nhất
Giới tính: ( Nam)
Sinh ngày: 18/07/1976 Dân tộc: Kinh
Quốc tịch: Việt Nam,
Chứng minh nhân dân số: 090698108
Ngày cấp: 24/04/1994 Nơi cấp: Công an tỉnh Bắc Thái
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 17, phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Chỗ ở hiện tại: xóm Đền, thôn Kim Lũ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, Hà Nội
5 Chức năng, nhiệm vụ của công ty:
Là một doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng cơ bản nên toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính của Công ty đều được tổ chức phù hợp với quy trình công nghệ xây dựng rất phức tạp Các sản phẩm xây dựng của Công ty thường là các công trình hay hạng mục công trình có giá trị lớn, có tính đơn chiếc, được xây dựng cố định Phương thức hoạt
Trang 31
động chủ yếu của Công ty là hình thức đấu thầu công trình, vì vậy kế hoạch tài chính, kế hoạch
sản xuất đều được xây dựng trên cơ sở các hợp đồng trúng thầu
- Là công ty xây lắp do vậy những sản phẩm chủ yếu của Công ty là các công trình dân dụng và quốc phòng Trong lúc đó đầu tư xây dựng ngày càng giảm Vì vậy, việc tìm kiếm việc làm của công ty gặp nhiều khó khăn
- Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản năm 2001 Nhà nước và Bộ xây dựng có các văn bản quy định chỉ thị chặt chẽ từ đấu thầu, chất lượng, thanh quyết toán công trình Đặc biệt yêu cầu về chất lượng giá thành công trình hết sức nghiêm ngặt
- Vốn sản xuất kinh doanh của Công ty còn hạn chế kể cả con người và trang thiết
bị
6 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất của công ty:
Như chúng ta đã biết sản phẩm xây dựng là những công trình, nhà cửa, xây dựng và sử dụng tại chỗ, sản phẩm mang tính đơn chiếc, có kích thước và chi phí lớn, thời gian xây dựng lâu dài Xuất phát từ đặc điểm đó nên quá trình sản xuất các loại sản phẩm chủ yếu của Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9 nói riêng và các công ty xây dựng nói chung là sản xuất liên tục, phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau( điểm dừng kỹ thuật) mỗi công trình đều có một dự toán, thiết kế riêng và phân bổ rải rác ở các địa điểm khác nhau Tuy nhiên hầu hết các công trình đều phải tuân theo một quy trình công nghệ như sau:
Trang 32
Quy trình công nghệ sản xuất của công ty
7 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty:
Đấu thầu
Phòng
TCKT
Phòng KD BĐS
Phòng TCHC
Công trường C
Trang 33
8 Sơ đồ cơ cấu bộ máy kế toán của công ty:
9 Những thuận lợi, khó khăn và hướng phát triển :
Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9 là một doanh nghiệp còn non trẻ đang trên đà phát triển, tuy nhiên qua số liệu một vài năm qua cho thấy doanh thu, lợi nhuận, thu nhập bình quân đầu người và đặc biệt là tài sản của Công ty tăng lên nhanh chóng Công ty đã tự khẳng định được mình và không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động Được các nhà đầu tư đánh giá cao về chất lượng và tiến độ của các công trình mà Công ty thi công Đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty nhiệt tình, gắn bó với công việc, trình độ nghiệp vụ, tay nghề ngày một cao Thu nhập của cán bộ quản lý và nhân viên ổn định, đời sống luôn được cải thiện ngày một tốt hơn
Nhưng bên cạnh đó Công ty còn gặp nhiều khó khăn do Công ty là một doanh nghiệp còn non trẻ nên còn rất nhiều hạn chế trong khi tham gia đấu thầu các công trình Ngoài ra Công ty cần một lượng vốn rất lớn để đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị
để mở rộng phạm vi kinh doanh nên rất cần thiết được các nhà đầu tư bổ sung, góp vốn cổ phân, các ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty vay vốn với lãi suất ưu đãi
Nhận thức được vấn đề đó, Công ty vẫn đang từng bước khắc phục và khẳng định
vị trí của mình luôn đề ra kế hoạch, biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và hướng phát triển trong tương lai:
- Luôn hoàn thành kế hoạch đặt ra
- Tăng cường các khâu quản lý
Kế toán trưởng
Kế toán tổng
hợp
Kế toán vật
tư
Thủ quỹ
Kế toán than
h
Kế toán
Trang 34
- Tăng cường sử dụng tối đa tài sản
- Quản lý và sử dụng hợp lý nguồn vốn
- Đầu tư trọng điểm các công trình có lợi nhuận cao
- Liên doanh liên kết, hợp tác với các đơn vị khác…
Trang 35trong một số năm gần đây
Trang 36
0 100,000 200,000
1500
nghìn
đồng
Nă m 2004 Nă m 2005 Nă m 2006
Cụng ty Cổ phần Xõy dựng Cụng trỡnh Thăng Long 9 được thành lập dưới hỡnh thức cụng ty cổ phần nờn Cụng ty phải tự tạo nguồn vốn kinh doanh cho mỡnh bằng cỏch
tự bổ sung từ lợi nhuận hoạt động kinh doanh của Cụng ty, cỏc khoản vay ngắn hạn Ngõn hàng để đầu tư cho cỏc hoạt động sản xuất kinh doanh và bổ sung bằng cỏc nguồn tài chớnh bờn ngoài khỏc
Bằng hỡnh thức trả chậm số những khoản nợ trong thời gian cho phộp của cỏc bạn hàng, cỏc nhà thầu phụ, Cụng ty cú thể tranh thủ được nguồn vốn này để phục vụ quỏ trỡnh sản xuất kinh doanh tiếp theo đú là một cỏch chiếm dụng vốn của đơn vị khỏc mà chỳng ta
cú thể thấy ở bất kỳ doanh nghiệp sản xuất nào đú
Trang 37
Bảng 2 Bảng nghiên cứu đánh giá biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm
2005- 2006
(Đơn vị tính: triệu đồng)
( Nguồn:[6] )
Trong đó: Số tuyệt đối = năm 2006 - năm 2005
Số tương đối =[(năm 2006/năm 2005)x 100%] - 100%
(Số liệu của hai năm lấy trong bảng kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty)
Nhìn vào bảng nghiên cứu đánh giá biến động hoạt động sản xuất kinh doanh, ta có nhận xét sau:
So sánh Tuyệt đối
Tương đối(%)
5.Chi phí quản lý doanh nghiệp 574,17 776,18 202 35,18
6.Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
7.Thu nhập hoạt động tài chính 2,17 8,19 6,02 278,00
9.Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính 2,17 8,19 6,02 278,00
10.Các khoản thu nhập bất thường 4,52 0,792 -3,736 -82,51
13.Tổng lợi nhuận trước thuế 223,24 436,30 213,06 95,44
14.Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp
Trang 38
Năm 2006 so với năm 2005 doanh thu tăng gần gấp đôi doanh thu năm 2005, cụ thể tăng
tuyệt đối là 13.525,77 triệu đồng, tương đương với 88,46% Điều này cho thấy năm 2006, Công ty kinh doanh rất phát triển, có nhiều công trình đã đưa vào nghiệm thu và sử dụng Do Công ty là một công ty xây dựng nên chi phí bỏ ra ban đầu cũng tương đối lớn Nhưng bên cạnh đó, các khoản giảm trừ như giảm giá hàng bán, hàng bị trả lại, thuế TTĐB, thuế xuất khẩu phải nộp đều không có nên doanh thu không thay đổi cũng chính là tổng doanh thu
Giá vốn hàng bán: tăng 13.113,53 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 88,46%, do doanh thu tăng mà
doanh thu tăng là do năm 2006 Công ty sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Lợi nhuận gộp: tăng cụ thể là :412,77 triệu đồng so với năm 2005, tương đương
với 52,20%
Năm 2006, Công ty có nhiều công trình hoàn thành quyết toán nên chi phí quản lý doanh
nghiệp cũng tăng lên Công ty có nhiều khoản phải chi nên chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 202
triệu đồng, với tỷ lệ tăng là 35,18% so với năm 2005
Năm 2006, lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên một cách đáng kể, đó
là 211 triệu đồng, với tỷ lệ tăng là 97,34% so với năm 2005 Đây là một điều đáng mừng cho Công ty Là một công ty xây dựng để lãi số tiền như vậy cũng là một thành công không nhỏ
Hơn nữa, năm 2006 Công ty có nhiều công trình quyết toán và thanh toán bằng chuyển
khoản nên năm 2006 lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính tăng lên 6,02 triệu đồng, với tỷ lệ
tăng là 278% so với năm 2005 Chứng tỏ một điều rằng khả năng thanh toán của Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9 hoàn toàn tăng lên, nhu cầu vay vốn nhờ đó cũng có phần giảm bớt Lợi nhuận tài chính tăng lên không những giúp cho Công ty phát triển, đứng vững trong nền kinh tế cạnh tranh này, mà còn chứng tỏ một điều chắc chắn rằng khả năng thu hồi vốn của Công ty
là rất an toàn và có hiệu quả
Chi phí hoạt động tài chính năm 2006 so với năm 2005 không có gì biến đổi
Do năm 2006 Công ty có doanh thu lớn nên các khoản lợi nhuận bất thường
không tăng lên mà còn giảm từ 4,53 triệu đồng năm 2005 đến năm 2006 giảm xuống còn 0,79 triệu đồng Tức là giảm 3,73 triệu đồng, với tỷ lệ giảm là 82,51% Điều này hoàn toàn
dễ hiểu, do năm 2005 Công ty còn có khoản nợ phải thu khó đòi nên Công ty có thu lãi bất thường từ các khoản mà khách hàng chưa thanh toán hết Xong, năm 2006 dường như các công trình, các khoản nợ của khách hàng đều được giảm một cách đáng kể
Trang 39
Do tổng doanh thu tăng mà các khoản thu nhập bất thường khác giảm nên tổng lợi nhuận trước thuế tăng, cụ thể là từ 223,23 triệu đồng đến 436,30 triệu đồng, tức là tăng 213,06 triệu đồng, tương đương với tỷ lệ tăng là 95,44%
Do lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tăng, năm 2006 Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả nên sau khi trừ các khoản chi phí khác Công ty đã có lợi nhuận Điều này thể
hiện ở thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2006 tăng so với năm 2005 là 83,80 triệu đồng với tỷ
lệ tăng là 150,17%
Tuy nhiên, xét cho cùng thì năm 2006 cũng là một thắng lợi của Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9 vì năm 2006, Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long
9 đã thu được lợi nhuận sau thuế tăng 129,25 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 77,20%, là một điều
đáng vui nhất của Công ty, để tạo niềm tin cho bước tiến tiếp theo của Công ty một cách vững vàng nhất Mà nguyên nhân của sự tăng giảm này không gì khác đó chính là sự tăng doanh thu và giảm các khoản nợ khó đòi là hai yếu tố quyết định nên phần tăng lợi nhuận một cách rõ ràng nhất hiện nay của Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Thăng Long 9
2 Thực trạng về tổ chức quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần
Xây dựng Công trình Thăng Long 9
2.1 Thực trạng về tổ chức nguồn vốn kinh doanh
Để làm rõ được thực trạng về tổ chức nguồn vốn của Công ty ta phải biết rõ đâu là nhân tố ảnh hưởng chủ yếu , tích cực hay tiêu cực Để làm được điều này ta không thể nhìn ngay vào bảng cân đối về nguồn vốn mà có thể nhận xét chính xác được Nguồn vốn qua các năm đều có thể biến đổi nhiều hay ít phụ thuộc vào sự quản lý và quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty Để nhận xét được sự biến động của nguồn vốn ta có thể lấy số liệu hai năm gần đây nhất là năm 2005 và 2006 Từ bảng cân đối kế toán của năm 2005 và 2006 ta lập bảng
nghiên cứu đánh giá biến động về nguồn vốn kinh doanh
Bảng 3 Bảng Nghiên cứu đánh giá biến động nguồn vốn kinh doanh
Năm 2005-2006
(Đơn vị tính :Triệu đồng)
Trang 404 Người mua trả tiền trước 2.972,75 6.278,41 3.305,65 111,20
5 Thuế và các khoản phải nộp Nhà
nước 76,51 110,31 33,80 44,18
6 Phải trả công nhân viên - - - -
7 Phải trả các đơn vị nội bộ 19,55 - -19,55 -100
8 Các khoản phải trả phải nộp khác 221,86 226,21 4,35 1,96
1 Nguồn vốn kinh doanh 2.149,50 2.177,47 27,96 1,30
2 Chênh lệch đánh giá lại tài sản - - - -
3 Chênh lệch tỷ giá - - - -
4 Quỹ đầu tư phát triển 75,60 137,44 61,84 81,8
5 Quỹ dự phòng tài chính 47,10 67,03 19,93 42,33
6 Lợi nhuận chưa phân phối - - - -
7 Nguồn vốn đầu tư XDCB 73,65 73,65 0 0
II Nguồn kinh phí, quỹ khác 60,14 100,01 39,87 66,30
1 Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc - 13,52 13,52 100