Lợi thế này được hình thành bởi ưu thế về vị trí kinh doanh, về danh tiếng và uy tín với bạn hàng, về trình độ tay nghề của lao động, về tài điều hành, tổ chức của Ban quản lý doanh nghi
Trang 1
LUẬN VĂN:
Nghiên cứu thống kê hiệu quả vốn sản
xuất kinh doanh của Tổng công ty thuỷ
sản Hạ Long chi nhánh tại Hà Nội
Trang 2
Lời nói đầu
Từ khi nước ta chuyển đổi cơ cấu kinh tế – chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã tạo ra những bước phát triển nhảy vọt cho nền kinh tế đất nước Cơ chế thị trường đã tạo ra những cơ hội cũng như thách thức cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng Để có thể tồn tại
và phát triển được trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, đồng thời tạo
ra chỗ đứng vững chắc cho mình, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có các chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và cạnh tranh đúng đắn, đạt hiệu quả kinh tế cao
Một trong những vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp cần quan tâm nhất là việc sử dụng các đầu vào một cách hiệu quả nhất, đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp Vì thế để đạt được lợi nhuận cao, thực hiện mở rộng sản xuất và tạo được sức mạnh cạnh tranh thì buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn có hiệu quả
Từ tầm quan trọng đó của vốn nên việc sử dụng vốn làm sao cho có hiệu quả kinh
tế cao nhất ngày càng trở nên quan trọng và được quan tâm nhất đối với các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế đất nước
Xuất phát từ thực tế đó cũng như từ thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ quan thực tập là Tổng công ty Thuỷ sản Hạ Long chi nhánh tại Hà Nội, em đã chọn đề tài thực tập tốt nghiệp là:
“Nghiên cứu thống kê hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của Tổng công ty thuỷ
sản Hạ Long chi nhánh tại Hà Nội”
Trang 3
Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về vốn
sản xuất kinh doanh
I lý luận chung về vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1 Khái niện vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là giá trị của các nguồn vốn đã hình thành nên toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
Nói cách khác, vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hình thái tiền tệ của toàn bộ giá trị TSCĐ, đầu tư dài hạn và các TSLĐ, đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp Hoặc cũng có thể nói, tổng vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ) được doanh nghiệp dùng vào quá trình tái sản xuất
1.1 Vốn cố định
Vốn cố định là hình thái tiền tệ của các TSCĐ và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp Trong đó, phần VCĐ là biểu hiện bằng tiền của giá trị các TSCĐ là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất trong VCĐ của doanh nghiệp Do trong quá trình chu chuyển quy mô VCĐ bị giảm dần, nên khi tính các chỉ tiêu có liên quan đến quy mô VCĐ, người thường tính theo quy mô còn lại của nó, tức là:
Quy mô VCĐ tại thời điểm thống kê =
Tổng giá trị TSCĐ và đầu tư dài hạn tại thời điểm đó
Hoặc = Nguyên giá (hay giá
đánh giá lại) của TSCĐ
-
Giá trị hao mòn luỹ kế +
Tổng giá trị các khoản đầu tư dài hạn
1.1.1 Khái niệm tài sản cố định
Trang 4
Để tiến hành sản xuất, kinh doanh, bên cạnh sức lao động và đối tượng lao động, các doanh nghiệp còn phải có tư liệu lao động Trong đó, bộ phận các tư liệu lao động có giá trị lớn và có thời gian sử dụng qua nhiều chu kỳ sản xuất, kinh doanh được gọi là tài sản cố định
Cơ sở để nhận biết các tư liệu lao động là TSCĐ phải dựa trên hai tiêu chuẩn (được quy định trong chế độ quản lý tài chính hiện hành của mỗi quốc gia): Tiêu chuẩn
về mặt giá trị và về thời gian sử dụng Hai tiêu chuẩn này thường thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế (nhất là tiêu chuẩn về mặt giá trị) Chế độ quản lý tài chính hiện nay ở Việt Nam quy định các tư liệu lao động có giá trị tối thiểu 5 triệu đồng
và có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên được xếp vào TSCĐ
* TSCĐ trong doanh nghiệp có nhiều loại Để thuận tiện cho công tác quản lý, công tác hạch toán và các nghiên cứu về TSCĐ ở doanh nghiệp cần phải phân loại chúng theo một số tiêu thức chủ yếu sau :
a Tài sản cố định tự có
Là TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ được biếu, tặng … đây là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
b Tài sản cố định thuê ngoài
Là TSCĐ đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng thuê tài sản Tuỳ theo điều khoản của hợp đồng thuê mà TSCĐ đi thuê được chia thành TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê hoạt động
- TSCĐ thuê tài chính: Là các TSCĐ doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài
chính nhưng doanh nghiệp có quyền kiểm soát và sử dụng lâu dài theo các điều khoản của hợp đồng thuê Các TSCĐ được gọi là thuê tài chính nếu thoả mãn một trong các điều kiện sau:
+ Quyền sở hữu TSCĐ thuê được chuyển cho bên đi thuê khi hết hạn hợp đồng
Trang 5+ Hợp đồng cho phép bên đi thuê được lựa chọn mua lại TSCĐ thuê với giá thấp hơn giá thực tế của TSCĐ tại thời điêmr mua lại
+ Thời hạn thuê hợp đồng ít nhất phải bằng 75% thời gian dự kiến sử dụng của TSCĐ thuê
+ Giá trị hiện tại của khoản chi theo hợp đồng ít nhất phải bằng 90% giá trị của tài sản thuê
TSCĐ thuê tài chính cũng coi như TSCĐ của doanh nghiệp Doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý, sử dụng và trích khấu hao như các TSCĐ tự có của mình
- Tài sản cố định thuê hoạt động: Là TSCĐ của doanh nghiệp nhưng không thoả
mãn một điều khoản nào của hợp đồng thuê tài chính Bên đi thuê chỉ được quản lý, sử dụng tài sản trong thời hạn của hợp đồng và phải hàon trả cho bên cho thuê khi kết thúc hợp đồng
Ngoài ra, TSCĐ cảu doanh nghiệp cốnc thể được phân loại theo thời hạn sử dụng, theo hình thái sử dụng, theo cong dụng, theo nguồn gốc hình thành …
* TSCĐ từng loại tính theo đơn vị hiện vật là cơ sở để lập kế hoạch đầu tư mua sắm, xây dựng bổ sung, sửa chữa TSCĐ và đánh giá hiệu quả của từng loại TSCĐ Nhưng trong nhiều nghiên cứu khác người ta lại cần dùng đến chỉ tiêu giá trị toàn bộ TSCĐ Trong trường hợp này, TSCĐ của doanh nghiệp phải được tính theo đơn vị tiền
tệ Vì vậy, cần phải đánh giá TSCĐ theo các loại giá khác nhau để nắm được tổng giá trị TSCĐ đã đầu tư ban đầu, tổng giá trị TSCĐ đã hao mòn và tổng giá trị TSCĐ còn lại
a Nguyên giá (giá ban đầu) của tài sản cố định
Là toàn bộ chi phí đã chi ra để mua sắm, xây dựng TSCĐ, kể cả các chi phí vận chuyển, lắp đặt, chạy thử và các chi phí hợp lý, cần thiết khác trước khi sử dụng Nguyên giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ trong từng trường hợp cụ thể được xác định như sau:
Đối với TSCĐ hữu hình:
Trang 6
- Nguyên giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ mua sắm (kể cả mua sắm mới và đã sử dụng) bằng (=) Giá mua thuần (đã khấu trừ các khoản chiết khấu, giảm giá) cộng (+) Thuế nhập khẩu và các loại thuế không thể thu hồi (thuế giá trị gia tăng không được khấu trừ, thuế trước bạ …) cộng (+) Chi phí vận chuyển và các chi phí hợp lý, cần thiết liên quan đến việc đưa TSCĐ vào hoạt động
- Nguyên giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ doanh nghiệp tự chế tạo, xây dựng cũng được xác định tương tự như đối với TSCĐ mua sắm, gồm toàn bộ các chi phí liên quan đến việc chế tạo, xây dựng và đưa tài sản đó vào hoạt động
- Nguyên giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ nhận của đơn vị khác góp vốn liên doanh bằng (=) Trị giá thoả thuận của cac bên tham gia liên doanh đánh giá cộng (+) Chi phí vận chuyển và các chi phí hợp lý khác liên quan đến việc đưa TSCĐ vào hoạt động (nếu là TSCĐ cũ thì phải trừ đi các khoản chi phí này vì đã được tính vào nguyên giá của tài sản này trước khi tham gia liên doanh)
- Nguyên giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ quyên tặng bằng nguyên giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ tương đương
b Giá đánh giá lại (giá khôi phục) của tài sản cố định
Là nguyên giá (hay giá ban đầu) của TSCĐ mới nguyên sản xuất ở kỳ báo cáo, được dùng để đánh giá lại TSCĐ cùng loại đã mua sắm ở các kỳ trước
Các TSCĐ giống nhau sẽ có giá trị khôi phục giống nhau, mặc dù chúng được mua sắm, xây dựng vào các thời kỳ khác nhau và có nguyên giá (hay giá ban đầu)
Đối với TSCĐ vô hình :
- Chi phí về sử dụng đất: Là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra có liên quan trực
tiếp tới đất sử dụng Trường hợp doanh nghiệp trả tiền sử dụng đất hoặc trả tiền thuê đất hàng năm hoặc định kỳ nhiều năm thì các chi phí này được phân bố dần vào chi phí kinh
doanh trong (các) kỳ, không hạch toán vào nguyên giá TSCĐ
Trang 7
- Chi phí thành lập doanh nghiệp: Là các chi phí thực tế hợp lý, hợp lệ và cần thiết
đã được những người tham gia thành lập doanh nghiệp chi ra có liên quan trực tiếp tới
việc chuẩn bị cho sự khai sinh ra doanh nghiệp
- Chi phí nghiên cứu, phát triển: Là toàn bộ chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi ra
để thực hiện các công việc nghiên cứu, thăm dò, xây dựng các kế hoặch đầu tư dài hạn … nhằm đem lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp
- Chi phí về bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, mua bản quyền tác giả, nhận chuyển giao công nghệ… là toàn bộ các chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi
ra cho các công trình nghiên cứu được Nhà nước cấp bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, hoặc các chi phí để doanh nghiệp mua lại bản quyền tác giả, bản quyền nhãn hiệu, chi cho việc nhận chuyển giao công nghệ từ các tổ chức và cá nhân … mà các chi phí này có tác dụng phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chi phí lơi thế doanh nghiệp: Là khoản chi cho phần chênh lệch doanh nghiệp
công nghiệp phải trả thêm (=) Giá mua – Giá trị các tài sản theo đánh giá thực tế) ngoài giá trị nhận sáp nhập, hợp nhất một doanh nghiệp khác Lợi thế này được hình thành bởi
ưu thế về vị trí kinh doanh, về danh tiếng và uy tín với bạn hàng, về trình độ tay nghề của lao động, về tài điều hành, tổ chức của Ban quản lý doanh nghiệp đó…
Đối với tài sản thuê tài chính:
Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê TSCĐ là giá trị hiện tại của các khoản chi trong tương lai, được xác định như sau:
- Nếu hợp đồng thuê TSCĐ có quy định tỷ lệ lãi suất phải trả theo năm thì nguyên giá TSCĐ thuê tài chính được phản ánh ở đơn vị thuê TSCĐ chính là giá trị hiện tại của các khoản chi trong tương lai, được xác định theo công thức:
n
r G
Trang 8Trong đó NG là nguyên giá TSCĐ thuê tài chính
G là giá trị các khoản chi bên thuê phải trả mỗi năm theo hợp đồng
r là lãi suất vay vốn tính theo năm ghi trong hợp đồng thuê tài sản
n thời hạn thuê TSCĐ theo hợp đồng
Trường hợp trong hợp đồng khong quy định tỷ lệ lãi suất thì tỷ lệ lãi suất được xác định theo lãi suất vay vốn trên thị trường nhưng không được vượt quá trần lãi suất do ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố cho tường kỳ hạn vay vốn tương ứng
- Nếu trong hợp đồng thuê TSCĐ đã xác định tổng số tiền bên đi thuê phải trả cho
cả giai đoạn thuê, trong đó có ghi rõ số tiền lãi phải trả cho mỗi năm thì nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê được xác định theo công thức:
NG = Tổng số nợ phải
trả theo hợp đồng
thuê
- Số tiền lãi phải trả mỗi năm
Số năm
thuê TSCĐ
c Giá còn lại của TSCĐ
Là hiệu số giữa nguyên giá (hay giá đánh giá lại) với số kế
Hoặc:
Giá trị còn lại
của TSCĐ
= Nguyên giá (hay giá
đánh giá lại) của TSCĐ
Tỷ lệ còn lại của TSCĐ
Đối với TSCĐ vô hình, khi đánh giá lại người ta cũng dùng ba loại giá nói trên Trong đó, nguyên giá của TSCĐ là tổng số tiền chi trả hoặc chi phí thực tế về thành lập doanh nghiệp, về công tác nghiên cứu phát triển doanh nghiệp, về mua bằng phát minh, sáng chế …
* Các cách đánh giá tài sản cố định
Trang 9
a Đánh giá tài sản cố định theo nguyên giá (hay giá ban đầu)
Cách đánh giá này cho biết quy mô của các nguồn vốn đã đầu tư vào TSCĐ từ khi doanh nghiệp mới thành lập đến nay Tuy nhiên, do thời kỳ mua sắm hoặc xây dựng khác nhau nên cùng một loại TSCĐ trong doanh nghiệp nhưng có nhiều giá ban đầu khác nhau, gây khó khăn trong công việc so sánh và nghiên cứu các chỉ tiêu về sử dụng TSCĐ
b Đánh giá tài sản cố định theo giá ban đầu còn lại
Cách đánh giá này phản ánh tổng giá trị TSCĐ danh nghĩa còn lại tại thời điểm đánh giá sau khi đã trừ đi giá trị hao mòn hữu hình luỹ kế của chúng
c Đánh giá tài sản cố định theo giá đánh giá lại (giá khôi phục)
Cách đánh giá này giúp nắm được quy mô nguồn vốn để trang bị lại TSCĐ ở tình trạng mới nguyên Đó cũng là tổng giá trị ban đầu của các TSCĐ tương tự được sản xuất
ở thời kỳ đánh giá lại
d Đánh giá tài sản cố định theo giá khôi phục còn lại
Cách đánh giá này phản ánh tổng giá trị TSCĐ thực tế còn lại tại thời điểm đánh giá sau khi đã trừ đi giá trị hao mòn của chúng Chỉ tiêu này phản ánh đúng đắn nhất hiện trạng của TSCĐ vì nó đã loại trừ cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
Trường hợp cần nghiên cứu tình hình tăng, giảm TSCĐ theo thời gian, có thể dùng cách đánh giá TSCĐ theo giá so sánh để loại trừ ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả
1.1.2 Khái niệm về đầu tư dài hạn
Đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là các khoản đầu tư có tính chất lâu dài (từ 1 năm trở lên và giá trị tối thiểu 5 triệu đồng)
Theo chế độ quản lý tài chính hiện hành, đầu tư dài hạn của doanh nghiệp bao gồm
- Các khoản đầu tư tài chính dài hạn:
+ Đầu tư chứng khoán dài hạn
Trang 10+ Góp vốn liên doanh
+ Đầu tư dài hạn khác
+ Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
- Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
- Các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn
Quy mô VLĐ tại
thời điểm thống kê
= Tổng giá trị của TSLĐ và đầu tư ngắn
hạn tại thời điểm đó
1.2.1 Khái niệm tài sản lưu động của doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, bên cạnh sức lao động và TSCĐ doanh nghiệp cần phải có tài sản lưu động(TSLĐ) TSLĐ của doanh nghiệp là hình thái hiện vật của vốn lưu động được doanh nghiệp dùng vào quá trình sản xuất, kinh doanh, nó bao gồm: Tiền các loại, các khoản phải thu, hàng tồn kho, TSLĐ khác và chi sự nghiệp
TSLĐ khác với TSCĐ ở tính chất tái sản xuất và mức độ chuyển dịch của chúng vào sản phẩm TSLĐ không tham gia nhiều lần như TSCĐ, mà chỉ tham gia một lần vào quá trình sản xuất, kinh doanh và do đó toàn bộ giá trị của nó được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm Tính chất này làm cho việc tính giá thành được thuận tiện, đưa toàn
bộ giá trị nguyên, nhiên, vật liệu đã sử dụng vào chi phí sản xuất, kinh doanh mà không cần phải trích khấu hao từng phần
Trang 11Một đặc điểm khác nữa là TSLĐ phải trải qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn, ở nhiều bộ phận quản lý khác nhau ở mỗi khâu và giai đoạn đó TSLĐ bị thay đổi hình thái (từ các loại nguyên, vật liệu cho đến khi trở thành thành phẩm), nên việc đảm bảo đầy đủ
và cân đối các bộ phận của TSLĐ có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất, kinh doanh được tiến hành thường xuyên và liên tục
TSLĐ trong doanh nghiệp có nhiều loại Để thuận tiện cho công tác quản lý, công tác hạch toán và các nghiên cứu về TSLĐ ở doanh nghiệp cần phải phân loại chúng theo
một số tiêu thức chủ yếu sau :
a Theo các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh
- Tài sản trong khâu dự trữ là tài sản hiện vật đã được mua sắm như nguyên,
nhiên, vật liệu để chuẩn bị đưa vào giai đoạn sản xuất
- Tài sản trong khâu sản xuất là những chi phí cho sản phẩm trung gian còn đang
tiếp tục chế biến trong giai đoạn sản xuất
- Tài sản trong khâu lưu thông là những chi phí sản xuất và tiêu thụ của thành
phẩm của hàng hoá trước khi tiêu thụ xong và tài sản dười dạng tiền
Phân loại theo tiêu thức này nhằm nghiên cứu sự phân bố TSLĐ giữa các khâu sản xuất, kinh doanh, sự thay đổi về cơ cấu tài sản trong các khâu và đặc điểm của từng loại hình sản xuất, kinh doanh
b Theo trạng thái tồn tại của tài sản lưu động
- Các khoản tiền nằm trong quỹ hay ngân hàng
- Các khoản phải thu từ khách hàng, từ nội bộ
Trang 12
c Theo hình thái biểu hiện
- Tiền mặt và ngân phiếu (gồm tiền Việt Nam và ngoại tệ), các chứng từ có giá trị như tiền nằm trong quỹ hay trong các tổ chức tài chính
- Giá trị vàng bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, đồ trang sức
- Công cụ, dụng cụ (gồm cả công cụ lao động nhỏ)
- Nguyên, nhiên, vật liệu (đang trên đường về và tại kho)
- Sản phẩm dở dang, nửa thành phẩm và công cụ mô hình tự chế
- Thành phẩm
- Hàng hoá
Mỗi loại tài snr nói trên đều cần thiết cho một hoạt động sản xuất, kinh doanh nhất định và được sử dụng trong một giai đoạn nhất định của quá trình đó
1.2.2 Khái niệm đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp
Đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp là các khoản đầu tư có tính chất tạm thời (thời gian đầu tư dưới một năm)
Theo chế độ quản lý tài chính hiện hành, đù tư ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm:
- Đầu tư chứng khoán ngắn hạn
- Đầu tư ngắn hạn khác
- Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
- Các khoản cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn
2 Các nguồn hình thành vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Xét trên góc độ tài chính thì các nguồn vốn hình thành nên toàn bộ tài sản của doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, được phản ánh trong báo cáo tài chính (bảng cân đối kế toán)
Trang 13
2.1 Nợ phải trả
Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải trả hay phải thanh toán cho các đơn vị bạn, các tổ chức kinh tế – xã hội hoặc cá nhân (gồm nợ tiền vay, nợ phải trả cho người bán, nợ phải trả, phải nộp cho Nhà nước, cho CNV, cho cơ quan quản lý cấp trên và các khoản phải ttrả khác) Theo tính chất và thời hạn thanh toán, các khoản nợ phải trả được phân thành: Nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác
- Phải trả cho người bán, người nhận thầu
- Người mua trả tiền trước
- Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
- Lương, phụ cấp phải trả cho CNV
- Các khoản phải trả nội bộ
- Các khoản phải trả, phải nộp khác
2.1.2 Nợ dài hạn
Là các khoản tiền doanh nghiệp nợ các đơn vị, cá nhân, cá tổ chức kinh tế – xã hội sau một năm trở lên mới phải hoàn trả Nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm:
- Vay dài hạn cho đầu tư phát triển
- Nợ thuê mua TSCĐ (thuê tài chính)
2.1.3 Nợ khác (nợ không xác định)
Trang 14Trong một doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu có thể được hình thành từ một hoặc nhiều chủ sở hữu
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước, do mọi loại hoạt động của loại hình doanh nghiệp này đều do Nhà nước cấp vốn hoặc đầu tư vốn, nên Nhà nước là chủ sở hữu vốn
- Đối với các doanh nghiệp liên doanh và công ty TNHH thì chủ sở hữu vốn là các thành viên tham gia góp vốn hoặc các tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn
- Đối với các công ty cổ phần thì chủ sở hữu vốn là các cổ đông
- Đối với các doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu vốn là cá nhân hoặc một hộ gia đình
Trong một doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Tuy nhiên có thể phân thành hai nguồn cấp là:
bổ sung từ lợi nhuận trong quá trình kinh doanh Nguồn vốn – quỹ được hợp thành từ 7 nguồn cấp hai như sau:
Trang 15
- Nguồn vốn kinh doanh
- Chênh lệch đánh giá lại tài sản
- Chênh lệch tỷ giá
- Quỹ đầu tư phát triển
- Quỹ dự phòng tài chính
- Lợi nhuận chưa phân phối
- Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản
2.2.2 Nguồn kinh phí và quỹ khác
Là nguồn được hình thành từ trích lợi nhuận và từ kinh phí do ngân sách cấp và kinh phí quản lý do các đơn vị phụ thuộc nộp Nguồn kinh phí và quỹ khác được hợp thành từ 5 nguồn cấp hai như sau:
- Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm
- Quỹ khen thưởng và phúc lợi
- Quỹ quản lý của cấp trên
- Nguồn kinh phí sự nghiệp
- Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ
3 Vai trò của vốn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nnghiệp là các tổ chức được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao, xây dựng doanh nghiệp mình ngày càng vững mạnh, đồng thời góp phần phát triển kinh tế đất nước
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có một số lượng vốn nhất định để thực hiện các khoản đầu tư như: Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả lãi tiền vay,
Trang 16tiền lương, nộp thuế,… đồng thời, đầu tư để thực hiện tái sản xuất mở rộng, phát triển doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không ngừng vận động và doanh nghiệp phải hoạt động sao cho thu được lợi nhuận cao sau khi trừ đi các khoản chi phí cần thiết để đảm bảo được nguồn vốn và ngày càng tăng nguồn vốn, đảm bảo cho việc phát triển sản xuất kinh doanh
Như vậy, vốn là một phạm trù kinh tế cơ bản trong doanh nghiẹp, “vốn là biểu
hiện bằng tiền của tất cả các tài sảndùng cho sản xuất kinh doanh, là một trong các yếu
tố quan trọng đem lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp, nó là điều kiện tiền đề cho sự
ra đời và là cơ sở để mở rộng sản xuất kinh doanh”
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì nhu cầu về vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh ngày càng lớn Việc đảm bảo đủ nguồn vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thường xuyên và liên tục, mặt khác doanh nghiệp có thể chớp được thời cơ trong kinh doanh và lợi thế trong cạnh tranh
Trước đây, trong nền kinh tế tập trung bao cấp, vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước đều được Nhà nước cấp phát, nếu lỗ thì Nhà nước sẽ bù lỗ Hơn nữa, các doanh nghiệp đều hoạt động sản xuất kinh doanh theo các chỉ tiêu ké hoạch mà Nhà nước đề ra Bởi vậy, vai trò của vốn không được coi trọng, điieù này làm mất đi tính chủ động và sáng tạo của các doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước với nhiều thành phần kinh tế, để có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế cạnh tranh này buộc các doanh nghiệp phải năng động nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư đổi mới may móc thiết
bị, cải tiến quy trình công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm và tìm cách hạ giá thành hợp lý, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá Muốn đạt được những mục tiêu đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn, đồng thời phải sử dụng nguồn vốn đó sao cho có hiệu quả nhất
Trang 17Như vây, nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh đã trở thành động lực và yêu cầu cấp thiết đối với tất cả các doanh nghiệp, nó quyết định cơ cấu đầu tư, đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn sản xuất kinh doanh đang là vấn đề mà tất cả các doanh nghiệp đang hết sức quan tâm và coi trọng hàng đầu
II lý luận chung về hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh
1 Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
Kinh doanh là một hoạt động kiếm lời mà lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Để đạt được lợi nhuận tối đa, các doanh nghiệp không ngừng nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh, trong đó quản lý và sử dụng vốn là một bộ phận quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh Khi chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp nắm quyền chủ động trong việc sử dụng vốn Để thực hiện được mục tiêu này, các doanh nghiệp phải chú trọng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh việc sử dụng các nguồn nhân lực, tài lực, vật lực của các doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất Cách thức đo lường chính xác nhất, thể hiện rõ nhất hiệu quả đó là sử dụng thước đo tiền tệ để lượng hoá các đầu ra và đầu vào, đánh giá quan hệ giữa chúng của các quá trình kinh doanh đó Hiệu quả kinh doanh được xác định bằng thước đo tiền tệ gọi là hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Như vậy, hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quan hệ giữa đầu ra và đầu vào hay là quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh với vốn bỏ ra cho quá trình kinh doanh đó Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nghĩa là với một khối lượng vốn không tăng (hoặc tăng với một tỉ lệ nhỏ) so với kỳ trước nhưng kết quả sản xuất kinh doanh tăng lên (hoặc tăng với tỉ lệ lớn hơn) so với tốc độ tăng của
vốn sản xuất kinh doanh
Trang 18Theo số liệu thống kê thì vốn sản xuất kinh doanh trong khu vực quốc doanh không nhiều, hiệu quả sử dụng vốn thấp Đối với tài sản cố định mới chỉ sử dụng được 50% - 60% công suất hiện có, phổ biến chỉ hoạt động 1ca/ ngày Vì vậy hệ số sinh lời của đồng vốn rất thấp
Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN các doanh nghiệp phải chuyển mình theo cơ chế mới để có thể tồn tại
và phát triển Cạnh tranh là quy luật của thị trường, nó cho phép tận dụng triệt để mọi nguồn lực của doanh nghiệp và của toàn xã hội vì nó buộc doanh nghiệp phải luôn tự đổi mới, hạ giá thành, tăng năng suất lao động cải tiến mẫu mã và chất lượng sản phẩm để có thể thắng được trên thương trường và nhằm thực hiện mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận Bởi vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm ra phương hướng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo được tính an toàn về tài chính cho doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Qua đó các doanh nghiệp sẽ đảm bảo việc huy động các nguồn tài trợ và khả năng thanh toán, khắc phục được rủi ro trong kinh doanh
Trang 19Ngoài ra, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp sẽ nâng cao mức sống cho người lao động, tạo ra công ăn việc làm nhờ mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả đóng góp cho xã hội, đồng thời nó cũng làm tăng các khoản nộp ngân sách Nhà nước
Như vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh không những đem lại những hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là trong cơ chế hiện nay
3 Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
Hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh được xác định bằng các chỉ tiêu tương đối cường độ, là quan hệ so sánh giữa đầu vào (vốn sản xuất kinh doanh V) và đầu ra (kết quả kinh tế: Q = DT, LN, GO, VA, NVA) Có hai loại chỉ tiêu:
Chỉ tiêu dạng thuận: Thể hiện quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế với vốn sản xuất kinh doanh :
tế cần bao nhiêu đơn vị vốn sản xuất kinh doanh
Hai chỉ tiêu này có vai trò khác nhau nhưng có liên hệ mật thiết với nhau, cũng được dùng để phản ánh hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu H dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh đến hiệu quả kinh tế, còn chỉ tiêu H' là cơ sở để xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí vốn sản xuất kinh doanh
Trang 20Các chỉ tiêu như trên gọi là chỉ tiêu toàn phần vì dựa vào toàn bộ thông tin của mỗi đầu vào (vốn) và đầu ra (kết quả kinh tế) Ngoài ra, để đánh giá và phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, người ta còn sử dụng các chỉ tiêu cận biên sau:
Tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp được phản ánh thông qua phân tích và so sánh các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng từng bộ phận của vốn và hiệu quả sử dụng tổng số Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một nội dung quan trọng phản ánh chất lượng của hoạt động tài chính doanh nghiệp Để phản ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách đầy đủ chính xác cần phải xác định rõ nhiệm vụ của việc đo lương hiệu quả này Điều này có ý nghĩa quan trọng vì nó ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu, cũng như việc sử dụng các phương pháp khác nhau trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh Nhiệm vụ của việc xác định hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh nhằm giải quyết những vấn đề sau:
Phản ánh trình độ thực tế đạt được về hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cung cấp những thông tin
cơ bản cho quá trình nghiên cứu tiếp theo
Chuẩn bị cho việc lựa chọn các quyết định về nhiệm vụ, hướng phát triển của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định
Trang 21
* Kiểm tra việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong quá trình nâng cao hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh, qua đó phát triển và khai thác những khả năng tiềm tàng nhằm nâng cao hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh
* Xác định tốc độ phát triển hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh đã đạt được đối với toàn bộ quá trình tái sản xuất của công ty trong từng khâu và từng bộ phận
Phương pháp luận xây dựng hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên hai góc độ:
Xây dựng các chỉ tiêu hiệu năng, mức sinh lời (mức doanh lợi) bằng cách so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng hữu ích với vốn sản xuất kinh doanh trong kỳ nghiên cứu
Xây dựng các chỉ tiêu cường độ chi phí bằng cách so sánh giữa vốn sản xuất kinh doanh với kết quả cuối cùng hữu ích trong kỳ nghiên cứu Hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh không phải là một sự tổng hợp ngẫu nhiên các chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh mà chúng được xây dựng theo một nguyên tắc thống nhất
Để xây dựng được một hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh có căn
cứ khoa học, đáp ứng được các mục đích nghiên cứu khác nhau và giúp cho việc đánh giá tổng hợp hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh, đồng thời giúp cho việc phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh, xuất phát từ quan điểm hệ thống, gắn liền với sự phân tích kinh tế, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu khi vận dụng tính toán, cần lập bảng để tính và phân tích các chỉ tiêu, và tính riêng cho từng loại vốn sản xuất kinh doanh (vốn cố định, vốn lưu động, tổng vốn)
Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
3.1 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả vốn cố định
Hiệu quả sử dụng vốn cố định được phản ánh qua tính và so sánh các chỉ tiêu sau:
a Hiệu năng vốn cố định (H vc ):
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh và vốn cố định bằng bình quân trong kỳ
Trang 22V dk V
Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh và vốn cố định bình quân của doanh nghiệp
c Mức doanh lợi vốn cố định (tỷ suất lợi nhuận vốn cố định)
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa lợi nhuận của doanh nghiệp với vốn cố định bình quân trong kỳ
Rvc = VM
c
Trang 23Đây là chỉ tiêu tương đối cường độ, thời kỳ Đơn vị tính của chỉ tiêu là (đơn vị tiền tệ/ đơn vị tiền tệ)
Chỉ tiêu cho biết cứ một đơn vị tiền tệ vốn cố định đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được mấy đơn vị tiền tệ lợi nhuận
Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về lợi nhuận và vốn cố định bình quân của doanh nghiệp
3.2 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả vốn lưu động
a Hiệu năng vốn lưu động
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa kết quả sản xuất kinh doanh với vốn lưu động có bình quân trong kỳ
Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh và vốn lưu động bình quân của doanh nghiệp
b Mức đảm nhiệm vốn lưu động
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa vốn lưu động có bình quân trong
kỳ với kết quả sản xuất kinh doanh
Trang 24Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh và vốn lưu động bình quân của doanh nghiệp
c Tỷ suất lợi nhuận (hay doanh lợi) vốn lưu động
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa lợi nhuận của doanh nghiệp với vốn lưu động có bình quân trong kỳ
L
V
V
M R
Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh và vốn lưu động bình quân trong kỳ của doanh nghiệp
3.3 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tổng vốn
a Hiệu năng (hay năng suất) tổng vốn
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa kết quả sản xuất kinh doanh với tổng vốn bình quân trong kỳ
Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh và tổng vốn bình
quân của doanh nghiệp
b Mức đảm nhiệm tổng vốn
Trang 25c Tỷ suất lợi nhuận (hay doanh lợi) tổng vốn
Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa lợi nhuận của doanh nghiệp với tổng vốn có bình quân trong kỳ
RTV = TVM
Đây là chỉ tiêu tương đối cường độ, thời kỳ Đơn vị tính của chỉ tiêu là (đơn vị tiền/ tệ đơn vị tiền tệ)
Chỉ tiêu cho biết cứ một đơn vị tiền tệ tổng vốn đầu vào sản xuất kinh doanh trong
kỳ thì tạo ra được mấy đơn vị tiền tệ lợi nhuận
Nguồn số liệu: Từ các chỉ tiêu về lợi nhuận và tổng vốn bình quân của doanh nghiệp
Để cho việc tính toán và phân tích hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh một cách hệ thống, rõ ràng ta có bảng sau:
Trang 26sử dụng vốn cố định
Hiệu năng vốn
cố định
c Vc
V
NVA VA GO DT Q
H ( , , , ) Hc >0 Max
Mức đảm nhiệm VCĐ
),,,(
'
NVA VA GO DT Q
V
Mức doanh lợi vốn cố định
Rvc = VM
c Rvc>0 Max
Hiệu quả
Hiệu năng vốn lưu động
L
Vc
V
NVA VA GO DT Q
H ( , , , ) HVL >0 Max
Trang 27
sử dụng vốn lưu động
Mức đảm nhiệm VLĐ ( , , , )
'
NVA VA GO DT Q
RvL = M
VL RVL >0 Max
Tốc độ chu chuyển vốn lưu động
Hiệu năng tổng vốn
V TV
V
NVA VA GO DT Q
H ( , , , ) HTV >0 Max
Mức đảm nhiệm tổng vốn
),,,(
'
NVA VA GO DT Q
Trang 28thực hiện tái sản xuất Đặc biệt, vấn đề sử dụng vốn có hiệu quả được công ty rất quan tâm do nhân thức được vai trò của vốn đối với sản xuất kinh doanh
Việc tính toán, xác định và lựa chọn các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh nói riêng là những vấn đề phức tạp, vì thế để phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế cũng như hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh phải
sử dụng một hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường
Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của công ty là cơ sở để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và đặc biệt là sử dụng vốn
1 Nguyên tắc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một tập hợp các chỉ tiêu có thể phản ánh các mặt, các tính chất quan trọng nhất, các mối liên hệ
cơ bản giữa các mặt của hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp và mối liên hệ của nó với các đối tượng có liên quan
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu hoàn chỉnh có ý nghĩa to lớn trong việc lượng hóa các mặt, các biểu hiện quan trọng nhất, lượng hóa cơ cấu và các mối liên hệ cơ bản của hiện tượng Từ đó tạo tiền đề nhận thức bản chất cụ thể và tính quy luật về sự phát triển của hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh Đó là tính quy luật về mối liên hệ giữa nhân tố ảnh hưởng và chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh, tính quy luật về sự phát triển của hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh và tính quy luật về sự tác động có tính chất thời vụ
Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp được tạo nên không chỉ đơn thuần là các chỉ tiêu nào đó mà phải bao quát được tất cả các mặt, các biểu hiện và phản ánh một cách rõ nhất các bản chất của hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh Đồng thời đảm bảo đầy đủ nguồn thông tin có thể thu thập và phân tích được
Do vậy, việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Trang 29Thứ nhất: Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tính hướng đích
Các chỉ tiêu phải đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết phục vụ cho việc đánh giá phân tích hiệu quả sử dụng nguồn vốn sản xuất kinh doanh ở phạm vi doanh nghiệp, ngành kinh tế hoặc nền kinh tế quốc dân
Thứ hai: Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tính hệ thống
Hệ thống chỉ tiêu phải nêu được mối liên hệ giữa các bộ phận, các mặt của bộ phận nghiên cứu, mối quan hệ giữa hiện tượng nghiên cứu với hiện tượng có liên quan trong phạm vi và mục đích nghiên cứu
Hệ thống chỉ tiêu phải bao gồm các chỉ tiêu mang tính, chất chung, các chỉ tiêu mang tính bộ phận và các chỉ tiêu nhân tố nhằm phản ánh sâu sắc và đầy đủ hiện tượng nghiên cứu
Đối với các chỉ tiêu cùng loại thì phải đảm bảo thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính toán
Các chỉ tiêu trong hệ thống phải có mối liên hệ với nhau và có mối liên quan chặt chẽ với các chỉ tiêu tính hiệu quả, đó là các chỉ tiêu về vốn và kết quả sản xuất kinh doanh
Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải là một
hệ thống chỉ tiêu phù hợp và nó thuộc hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả vốn nói riêng cũng như hệ thống chỉ tiêu hiệu quả nói chung của nền kinh tế quốc dân, của khu vực và cả thế giới
Thứ ba: Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tính khả thi
Doanh nghiệp khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh phải căn cứ vào hoạt động của doanh nghiệp mình để xác định hệ thống cho phù hợp Phải cân nhắc kỹ tính khả thi để xác định những chỉ tiêu cơ bản, quan trọng nhất vừa đủ
số chỉ tiêu, không nhiều, tránh sự trùng lặp các chỉ tiêu nhưng vẫn đầy đủ thông tin phản
Trang 30ánh đúng bản chất hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ tư: Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tính
hiệu quả
Thông tin cần được coi là hàng hóa Quá trình tạo ra thông tin phải được coi là quá trình sản xuất Thông tin cần được coi là đầu vào của các hoạt động sản xuất khác Vì vậy, hệ thống chỉ tiêu cần được xây dựng phù hợp với mục đích nghiên cứu, với nhu cầu thông tin cho quản lý vĩ mô và quản trị kinh doanh Không đưa vào các thông tin thừa, chưa cần thiết
2 Hệ thống chỉ tiêu hiện hành
2.1 Các chỉ tiêu hiện có
ở Tổng công ty thủ sản Hạ Long chi nhanh tại Hà Nội, hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh được tính gốm ba loại chỉ tiêu đó là: Chỉ tiêu hiệu quả vốn cố định, vốn lưu động
và chỉ tiêu hiệu quả tổng vốn Cụ thể bao gồm các chỉ tiêu sau đây:
a Các chỉ tiêu hiệu quả nhóm bộ phận
Chỉ tiêu hiệu quả vốn cố định
- Hiệu năng vốn cố định theo doanh thu
- Mức doanh lợi vốn cố định
Chỉ tiêu hiệu quả vốn lưu động
- Hiệu năng vốn lưu động theo doanh thu
- Mức doanh lợi vốn lưu động
b Chỉ tiêu hiệu hiệu quả tổng hợp
Hiệu năng tổng vốn theo doanh thu
Mức doanh lợi, tổng vốn
Trang 31
Sơ đố : các chỉ tiêu hiệu quả hiện có
2.2 Đặc điểm và vai trò của các chỉ tiêu trong hệ thống
- Chỉ tiêu này cho biết cứ bình quân một đơn vị tiền tệ vốn cố định (giá trị tài sản
cố định) bỏ vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được bao nhiêu đơn vị tiền tệ kết quả sản xuất
Mức doanh lợi vốn cố định (tỷ suất lợi nhuận vốn cố định)
- Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa lợi nhuận của doanh nghiệp với vốn cố định bình quân trong kỳ
- Đây là chỉ tiêu tương đối cường độ, thời kỳ Đơn vị tính của chỉ tiêu là (đơn vị tiền tệ/ đơn vị tiền tệ)
h lợi
Hiệu năng VLĐ
Mức doan
h lợi
Hiệu năng
TV
Mức doan
h lợi
Trang 32Chỉ tiêu cho biết cứ một đơn vị tiền tệ vốn cố định đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được mấy đơn vị tiền tệ lợi nhuận
Hiệu năng vốn lưu động
- Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa kết quả sản xuất kinh doanh với vốn lưu động có bình quân trong kỳ
- Đây là chỉ tiêu tương đối cường độ, thời kỳ Đơn vị tính của chỉ tiêu là (đơn vị tiền tệ/ đơn vị tiền tệ)
- Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị tiền tệ vốn lưu động mà doanh nghiệp bỏ vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được mấy đơn vị tiền tệ kết quả sản xuất kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận (hay doanh lợi) vốn lưu động
- Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa lợi nhuận của doanh nghiệp với vốn lưu động có bình quân trong kỳ
- Đây là chỉ tiêu tương đối cường độ, thời kỳ Đơn vị tính của chỉ tiêu là vòng (lần)
- Chỉ tiêu cho biết cứ một đơn vị vốn lưu động bỏ vào sản xuất kinh doanh trong
kỳ có thể mang lại bao nhiêu đơn vị doanh thu Nó phản ánh tốc độ chu chuyển của vốn lưu động trong kinh doanh, hay nói cách khác chỉ tiêu cho biết trong kỳ vốn lưu động của công ty quay được mấy vòng hay chu chuyển được mấy lần
Hiệu năng (hay năng suất) tổng vốn
- Là chỉ tiêu được xác định bằng thương số giữa kết quả sản xuất kinh doanh với tổng vốn bình quân trong kỳ
- Đây là chỉ tiêu tương đối cường độ, thời kỳ Đơn vị tính của chỉ tiêu là (đơn vị tiền tệ/ đơn vị tiền tệ)
- Chỉ tiêu cho biết cứ một đơn vị tiền tệ tổng vốn đầu vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được mấy đơn vị tiền tệ tổng vốn
Tỷ suất lợi nhuận (hay doanh lợi) tổng vốn
Trang 33Hiện nay hệ thống chỉ tiêu của công ty mới chỉ chú trọng đến các chỉ tiêu dạng thuận mà chưa quan tâm nhiều đến chỉ tiêu nghịch Vì vậy về cơ bản hệ thống chỉ tiêu hiện hành từ các chỉ tiêu bộ phận đến các chỉ tiêu tổng hợp đều thiếu chỉ tiêu mức đảm nhiệm của vốn
Cũng vì mới chỉ quan tâm đến các chỉ tiêu dạng thuận nên việc lập kế hoạch và theo dõi kế hoạch gặp nhiều khó khăn Và thực tế các chỉ tiêu hiệu quả vốn hiện nay của công ty mới chỉ có vai trò kiểm soát vốn cùng với chức năng của kế toán Hệ thống chỉ tiêu này chưa được được dùng là một căn cứ khoa học trong việc hoạch định, xây dựng
kế hoạch và đánh giá mức độ hoàn thành của kế hoạch
3 Kiến nghị hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
Trang 34
có thêm các chỉ tiêu hiệu quả vốn tính theo các chỉ tiêu kết quả khác như GO, VA, NVA Bên cạnh đó việc cho thêm vào hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh dạng nghịch sẽ làm hoàn thiện hơn hệ thống Do vậy ngoài các chỉ tiêu trên, hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Thuỷ sản Hạ Long chi nhánh Hà Nội cần có thêm các chỉ tiêu sau:
* Các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận
Chỉ tiêu hiệu quả vốn cố định
- Hiệu năng vốn cố định theo GO, VA, NAV
- Mức đảm nhiệm vốn cố định theo GO, VA, NVA
Chỉ tiêu hiệu quả vốn lưu động
- Hiệu năng vốn lưu động theo GO, VA, NVA
- Mức đảm nhiệm vốn lưu động theo GO, VA, NVA
Chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp
- Hiệu năng tổng vốn theo GO, VA, NVA
- Mức đảm nhiệm tổng vốn theo GO, VA, NVA
Sơ đồ 2: Các chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh
h lợi VCĐ
Hiệu năng VLĐ
Mức doan
h lợi VLĐ
Hiệu năng
TV
Mức doan
h lợi
Mức đảm nhiệm
TV
Trang 35
3.2 Đề xuất về vai trò của hệ thống chỉ tiêu
Hiện nay, hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của công ty còn chưa đầy đủ và vai trò của nó còn bị xem nhẹ Vì vậy sau khi kiến nghị hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu hiệu quả vốn cần phải nhìn nhận lại vai trò của hệ thống chỉ tiêu một cách đầy đủ:
Phản ánh trình độ thực tế đạt được về hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và cung cấp những thông tin cơ bản cho quá trình nghiên cứu tiếp theo
Chuẩn bị cho việc lựa chọn các quyết định về nhiệm vụ, hướng phát triển của công
Xác định tốc độ phát triển hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh đã đạt được đối với toàn bộ quá trình tái sản xuất của công ty trong từng khâu và từng bộ phận
Trang 36* Đảm bảo tính hướng đích: Tức là phải căn cứ vào nhiệm vụ phân tích để xây dựng phương phân tích phù hợp Không thể phân tích theo các phương pháp mà thực tế không đòi hỏi, không phù hợp với nhu cầu đặt ra Phải dựa vào yêu cầu của thực tế để xây dựng các phương pháp phù hợp và phải biết khéo léo kết hợp nhiều phương pháp khác nhau nhằm phát huy tổng hợp tác dụng của chúng
Đảm bảo tính hệ thống: Các phương pháp phân tích là các phương pháp thuộc hệ thống các phương pháp thống kê, được áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng thuộc nhiều lĩnh vực Các phương pháp cùng loại thì phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính toán
Đảm bảo tính khả thi: Để đảm bảo nguyên tắc này đòi hỏi các phương pháp phải phù hợp với số liệu thực tế hiện có
Trang 37Đảm bảo tính hiệu quả: Các phương pháp phải đáp ứng được yêu cầu của việc phân tích các chỉ tiêu để phản ánh, đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
II các phương pháp thống kê phân tích hiện dùng của tổng công ty thuỷ sản hạ long chi nhánh hà nội
1 Số lượng và nhiệm vụ của các phương pháp hiện dùng
1.1 Phương pháp chỉ số
Phương pháp chỉ số cho phép giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Xác định được so với kỳ gốc, ở kỳ nghiên cứu chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh tăng hay giảm (cả về số tuyệt đối và tương đối) là bao nhiêu
- Xác định mức độ biến động của chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh thông qua tính các chỉ số
- Xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh
1.2 Phương pháp dãy số thời gian
Phương pháp dãy số thời gian cho phép giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Cho phép xác định qua thời gian, các chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh biến động theo quy luật nào
- Cho phép xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh thông qua tính các chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian
- Xác định ảnh hưởng của các nhân tố thông qua phân tích sự biến động theo thành phần
- Cho phép dự báo về mức độ của chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh trong
tương lai
2 Đặc điểm vận dụng của các phương pháp hiện dùng
2.1 Phương pháp chỉ số
Trang 38Hiểu một cách chung nhất, chỉ số là một số tương đối (bằng lần hoặc %) tính được bằng cách so sánh hai mức độ của hiện tượng kinh tế xã hội
Do vậy, trước hết phương pháp chỉ số được dùng để tính các chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh thông qua quan hệ so sánh giữa các kết quả đạt được với vốn sản xuất kinh doanh
Ngoài ra phương pháp chỉ số còn được dùng để giải quyết các nhiệm vụ sau:
2.1.1 Đo mức độ biến động của các chỉ tiêu hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh
Thông qua tính các chỉ số phát triển sau:
- Mức độ biến động của chỉ tiêu hiệu năng vốn sản xuất kinh doanh
O
TV
TV
TV H
H
H
(lần)
HTVo: Hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh ở kỳ gốc
HTV1: Hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh ở kỳ nghiên cứu
HTV: là chỉ tiêu tổng hợp, khi phân tích ta tính cụ thể cho vốn cố định và vốn lưu động
0
1 ,
TV
TV
H I
TV
(lần)
H'TVo: Mức đảm nhiệm vốn sản xuất kinh doanh ở kỳ gốc
H'TVo: Mức đảm nhiệm vốn sản xuất kinh doanh kỳ nghiên cứu
R
R I
TV (lần)
Trang 39
RTVo: Mức doanh lợi vốn sản xuất kinh doanh ở kỳ gốc
RTV1: Mức doanh lợi vốn sản xuất kinh doanh ở kỳ nghiên cứu
RTV: Bao gồm có mức doanh lợi vốn CĐ, vốn LĐ, tổng vốn
IRtv: Cho biết so với kỳ gốc, ở kỳ nghiên cứu mức doanh lợi tổng vốn tăng (giảm) bao nhiều lần
2.1.2 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh
Thông qua phân tích các mô hình biểu biểu mối liên hệ giữa các chỉ tiêu hiệu quả vốn với các chỉ tiêu hiệu quả có liên quan
Một số mô hình như sau:
Q TV
M x V
M TV
c c
M x V
M TV
L c
Hay RTV = RVL x dVL
Đây là các mô hình phân tích sự biến động của mức doanh lợi tổng vốn do ảnh
hưởng của mức doanh lợi vốn CĐ (vốn LĐ) và cơ cấu vốn CĐ (vốn LĐ) trong tổng vốn