1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học : KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH CỦA BÒ ĐỊA PHƯƠNG VÀ LAI SIND HIỆN NUÔI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ doc

6 571 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 277,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH CỦA BÒ ĐỊA PHƯƠNG VÀ LAI SIND HIỆN NUÔI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ Nguyễn Hữu Văn 1* , Nguyễn Tiến Vởn 1 , Nguyễn Xuân Bả 1 và Tạ Nhân Ái 2 1 Trư

Trang 1

KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH

CỦA BÒ ĐỊA PHƯƠNG VÀ LAI SIND HIỆN NUÔI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ

Nguyễn Hữu Văn 1* , Nguyễn Tiến Vởn 1 , Nguyễn Xuân Bả 1 và Tạ Nhân Ái 2

1 Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế 2

Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Hữu Văn, khoa Chăn nuôi Thú y, trường ĐHNL Huế

Tel: 054-3525439/0914620009 - E-mail: vanobihiro@yahoo.com

ABSTRACT

The growth of local and Red Sindhi crossbred cattle presently raised in Quang Tri province

Nguyn Huu Van 1 , Nguyen Tien Von 1 , Nguyen Xuan Ba 1 and Ta Nhan Ai 2

* Corresponding : Nguyen Huu Van 1 College of Agriculture and Forestry, Hue University

2 Department of Science and Technology, Quang Tri province One survey on 240 local and 546 (Red Sindhi and Vietnamese Yellow) crossbred cattle raised in 4 districts, Quang Tri province, was conducted to evaluate the development of the animals from newborn to mature ages The survey revealed that live weight at birth, at 12 and at 24 months of age of local cattle was 13.3 (male) and 10.7kg (female); 112.1 and 88.9kg; and 182.2 and 164.4kg; respectively Similar values for the crossbreds were: 18.8 and 17.7kg; 143.1 and 136.1kg; and 244.0 and 210.6kg Compared to a previous survey (1992), the local cattle today appeared to have better development features However, the results indicated that the growth of both local and crossbred cattle being raised in Quang Tri were poorer that that of the national average The study suggests that both genetic and nutrition situations need to be intensively improved in order to shift the cattle husbandry to intensive beef production system

Key words: Local cattle of Quang Tri, Red Sindhi crossbred cattle, growth, weight gain

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo số liệu của Cục Chăn nuôi (2008), giai đoạn 2001-2005 đàn bò Quảng Trị tăng với tốc

độ bình quân 3,5%/năm (bình quân toàn quốc tăng 10,5%/năm) Năm 2007, tổng đàn bò của tỉnh là 77.457 con, trong đó có 6241 bò lai Sind, chiếm tỉ lệ 8,1% (bình quân toàn quốc là 26,3%) Nhìn chung tốc độ tăng đàn bò và tỉ lệ bò lai ở Quảng Trị còn thấp so với bình quân của cả nước Giống bò nuôi ở Quảng Trị vẫn chủ yếu là bò vàng địa phương (bò cóc) và kế đến là con lai của chúng với bò Red Sindhi, các con lai Zê-bu và bò lai hướng thịt khác hầu như không đáng kể (Nguyễn Tiến Vởn và cs, 2009)

Bò vàng Việt nam có một số ưu điểm như thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi của nước

ta, khả năng sử dụng thức ăn thô cao, chống chịu tốt với bệnh tật đặc biệt là bệnh ký sinh trùng… Tuy nhiên, chúng có một số nhược điểm như tầm vóc nhỏ, tăng trọng thấp, năng suất thịt không cao Theo kết quả điều tra của trường Đại học Nông Lâm Huế (Nguyễn Tiến Văn, 1992) trên đàn bò vàng tỉnh Quảng Trị thì bình quân khối lượng trưởng thành của bò đực là 243kg, bò cái là 182kg Vì thế trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chỉ tập trung đánh giá sức sinh trưởng bò vàng địa phương và bò lai Sind đang được nuôi trong nông hộ của tỉnh

Mục đích của đề tài nhằm: Đánh giá khả năng sinh trưởng của bò vàng địa phương và bò lai Sind trong cùng điều kiện chăn nuôi hiện tại Thiết lập cơ sở dữ liệu tương đối sát thực để phục vụ cho chiến lược phát triển chăn nuôi bò thịt theo hướng thâm canh, chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Trang 2

VẬT LIỆU VẦ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện tại một số xã của huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh và Cam

Lộ từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2008 Tổng cộng có 240 bò vàng và 546 bò lai Sind ở các độ tuổi: sơ sinh, 3, 6, 9, 12, 15, 18, 24, 30, 36, và trên 42 tháng tuổi đã được cân đo các chiều cao vây, vòng ngực, dài thân chéo và khối lượng cơ thể

Chiều cao vây được tính từ mặt đất lên đến u vai, dùng thước gậy Vòng ngực đo ngay phía sau nách chân trước, dùng thước dây Dài thân chéo được tính từ mỏm trước xương bả vai cánh tay đến u xương ngồi, đo bằng thước gậy Khối lượng bò được xác định bằng cân địên tử chuyên dùng cho đại gia súc của hãng RudWeight (Newzealand) có độ chính xác đến 0,5kg

Xử lý số liệu

Các kết quả thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel 2003

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tầm vóc của giống bò thường được đánh giá thông qua các chiều đo cao vây, vòng ngực và dài thân chéo Kết quả khảo sát của chúng tôi trên đàn bò vàng và bò lai Sind nuôi ở Quảng Trị được trình bày ở các Bảng 1, 2 và 3

Bảng 1 Trung bình cao vây (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau

Tháng

tuổi

Sự phát triển các chiều đo của cả hai giống bò đều tuân theo qui luật chung là tăng nhanh ở thời kỳ còn non, sau đó tăng chậm lại và ổn định ở tuổi trưởng thành Trong cùng một giống thì con đực có tầm vóc lớn hơn đáng kể so với con cái Từ 36 tháng tuổi trở đi kích thước các chiều đo hầu như thay đổi không đáng kể

Nguyễn Tiến Văn, (1992) điều tra trên đàn bò vàng Quảng Trị cho biết trung bình cao vây, vòng ngực và dài thân chéo ở lứa tuổi trưởng thành của con đực tương ứng là 111, 150 và 120cm, của con cái tương ứng là 102, 133 và 111cm Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy

có sự cải thiện chút ít về tầm vóc của đàn bò vàng Quảng Trị trong thời gian qua Nguyên nhân có thể là do đã có sự chọn lọc đàn bò giống theo hướng thịt một cách tự phát, vì nhu cầu sức kéo từ trâu bò có xu hướng giảm

Trang 3

Bảng 2 Trung bình vòng ngực (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau

Tháng

tuổi

Bảng 3 Trung bình dài thân chéo (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau

Tháng

tuổi

Số liệu điều tra cũng cho thấy ở cùng độ tuổi thì bò lai Sind luôn vượt trội về tầm vóc so với

bò vàng Lúc 24 tháng tuổi, kích thước các chiều cao vây, vòng ngực, dài thân chéo của bò lai Sind đã lớn hơn chút ít so với bò vàng lúc 36 tháng tuổi

Khối lượng của đàn bò nuôi ở Quảng Trị được trình bày ở Bảng 4.Vũ Văn Nôi, (1994) cho biết bò vàng Thanh Hoá và bò vàng Nghệ An lúc sơ sinh nặng 14-15kg Lúc 12 tháng tuổi bò Thanh Hoá nặng 90-100kg, bò Nghệ An nặng 110-120kg Lúc 24 tháng tuổi con đực và con cái bò Thanh Hoá cân nặng bình quân là 180 và 170kg, tương ứng bò Nghệ An khối lượng là

260 và 180kg Kết quả điều của chúng tôi trên đàn bò vàng ở Quảng Trị cho thấy khối lượng

sơ sinh bình quân của con đực là 13,3kg và của con cái là 10,7kg, thấp hơn so với bò vàng Thanh Hoá và bò vàng Nghệ An Tại thời điểm 12 và 24 tháng tuổi thì bò vàng Quảng Trị có khối lượng xấp xỉ bò vàng Thanh Hoá, tuy vậy vẫn thấp hơn nhiều so với bò vàng Nghệ An

Trang 4

Bảng 4 Trung bình khối lượng (kg) của bò ở các độ tuổi khác nhau

Tháng

tuổi

Nguyễn Xuân Trạch và cs, (2006) cũng cho biết bò vàng Việt Nam có khối lượng sơ sinh là 14-15kg, trưởng thành của con đực là 250-280kg, con cái là 160-200kg Kết quả điều tra trên đàn bò vàng Quảng Trị cho thấy khối lượng lúc trưởng thành bình quân của con đực nằm ở cận dưới (251kg), trong khi con cái nằm ở cận trên (198kg) của khoảng biến động đó So với kết quả điều tra của Nguyễn Tiến Văn (1992) thì khối lượng trưởng thành của con đực (251

kg so với 243kg) và con cái (198kg so với 182kg) đều có sự cải thiện đáng kể Nguyên nhân của sự cải thiện này có thể là do bên cạnh công tác chọn lọc được quan tâm như đã nói trên thì công tác chăm sóc nuôi dưỡng đàn bò cũng đang được người chăn nuôi dần dần chú trọng (Nguyễn Tiến Vởn và cs, 2009) Số liệu điều tra lần này cũng chỉ ra rằng với đàn bò cái nền

có tầm vóc được cải thiện, công tác lai tạo nâng cao tầm vóc đàn bò Quảng Trị trong thời gian tới sẽ được thuận lợi hơn

So với bò giống địa phương cùng độ tuổi, bò lai Sind ở Quảng Trị có khối lượng cao hơn hẳn Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của cả nước thì khối lượng trưởng thành của cả con đực và con cái đều thấp hơn Khối lượng trưởng thành bò lai Sind trong nước dao động trong khoảng 320-450kg ở con đực và 250-350kg ở con cái (Viện Chăn nuôi, 2004; Nguyễn Xuân Trạch và

cs, 2006)

Kết quả tính toán tăng trọng hàng tháng đàn bò nuôi ở Quảng Trị được trình bày ở Bảng 5 Tăng trọng bình quân của bò vàng Quảng Trị giai đoạn sơ sinh đến 18 tháng tuổi chỉ đạt 8,2kg/tháng (dao động trong khoảng 5,6-11,1kg) ở con đực và 7,1kg/tháng (dao động trong khoảng 4,3-8,2kg) ở con cái Bò lai Sind tăng trọng cao hơn bò vàng nuôi trong cùng điều kiện: từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi, bình quân đạt 10,0kg/tháng (dao động trong khoảng 7,8-11,5kg) ở con đực và 8,7kg/tháng (dao động trong khoảng 5,3-11,1kg) ở con cái

Tuy nhiên, so với các kết quả nghiên cứu trong nước của các tác giả khác công bố thì tăng trọng của bò vàng và bò lai Sind nuôi ở Quảng Trị đều thấp hơn Điều đó có thể là do chế độ nuôi dưỡng ở đây chưa đáp ứng đủ nhu cầu sinh trưởng của bò Một số nghiên cứu khác cho biết bò vàng được nuôi bình thường cho tăng trọng 4,4-9,4kg/tháng, nuôi dưỡng tốt cho tăng trọng 12,9-24,2kg/tháng Nguyễn Xuân Bả và cs (2008) Bò lai Sind được nuôi bình thường cho tăng trọng 6,0-9,5kg/tháng, nuôi dưỡng tốt cho tăng trọng 14,1-25,2kg/tháng (Nguyễn Xuân Bả và

cs, 2007; Vũ Chí Cương và cs, 2007; Vũ Văn Nội và cs, 1999; Lê Viết Ly và cs, 1995)

Trang 5

Bảng 5 Diễn biến tăng trọng (kg/tháng) của bò theo lứa tuổi

Tháng

tuổi

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Kết quả điều tra cho thấy mặc dù tầm vóc, khối lượng và tăng trọng của đàn bò địa phương Quảng Trị đã có sự cải thiện so với trước đây, nhưng so với mặt bằng chung của cả nước thì vẫn còn thấp hơn Trong cùng điều kiện chăn nuôi, bò lai Sind thể hiện sự vượt trội về các chỉ

số nói trên nhưng vẫn còn thấp hơn giá trị trung bình của cả nước Vì vậy, để phát triển chăn nuôi bò thịt theo hướng thâm canh, chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị cần phải có một loạt các giải pháp đồng bộ, trong đó phải chú trọng hơn nữa công tác chọn lọc, lai tạo đồng thời giải quyết tốt vấn đề thức ăn và dinh dưỡng nhằm phát huy được hết tiềm năng di truyền của các giống bò cũng như con lai của chúng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Cục Chăn nuôi, (2008) Số liệu thống kê http://www.cucchannuoi.gov.vn/Statistical.aspx, 2008

Lê Viết Ly, Nguyễn Thiện, Vũ Văn Nội, Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Nguyễn Văn Niêm (1995) Tổng

hợp kết quả nghiên cứu bò lai hướng thịt, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi (1969-1995), NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995

Nguyễn Tiến Văn (1992) Nhận xét bước đầu một số đặc điểm về giống của đàn bò ba tỉnh Quảng Bình, Quảng

Trị và Thừa Thiên Huế, Kỷ yếu khoa học: Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật trên địa bàn miền Trung, Trường Đại học Nông Lâm Huế, (1992), tr 92-95

Nguyễn Tiến Vởn, Nguyễn Hữu Văn, Nguyễn Xuân Bả, Tạ Nhân Ái, Dương Thị Hương, (2009) Kết quả khảo

sát hiện trạng chăn nuôi bò ở tỉnh Quảng Trị, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Số 3, (2009), tr 72-75

Nguyen Xuan Ba, Nguyen Huu Van, Le Duc Ngoan, Clare M Leddin, Peter T Doyle, (2008) Effects of

Amount of Concentrate Supplement on Forage Intake, Diet Digestibility and Live Weight Gain in Yellow Cattle in Vietnam, Asian-Aust J Anim Sci., Vol 21, No 12, (2008), p.1736-1744

Nguyễn Xuân Bả, Nguyễn Hữu Văn, Lê Đức Ngoan, CM Leddin, PT Doyle, (2007) Kết quả nghiên cứu sử dụng

thức ăn trong chăn nuôi bò thịt ở miền Trung Việt Nam Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,

Số 4, (2007), tr 15-18

Nguyễn Xuân Trạch, (2006) Giáo trình Chăn nuôi trâu bò, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 2006

Viện Chăn nuôi-Vụ Khoa học Công nghệ, (2004) Át lát các giống vật nuôi ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà

Nội

Trang 6

Vũ Chí Cương, (2007).: "Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ nhằm phát triển chăn nuôi bò

thịt và xác định một số bệnh nguy hiểm đối với bò để xây dựng biện pháp phòng dịch bệnh ở Tây Nguyên", Báo cáo tổng kết khoa học kỹ thuật đề tài Viện Chăn nuôi, Hà Nội

Vũ Văn Nội,(1994) Nghiên cứu khả năng sản xuất của đàn bò lai Sind, bò lai kinh tế hướng thịt trên nền bò lai

Sind ở một số tỉnh miền Trung, Luận án Phó tiến sĩ Nông nghiệp Viện Chăn nuôi, Hà Nội

Vũ Văn Nội, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Kim Cương và Đinh Văn Tuyền, (1999) Sử dụng nguồn thức ăn sẵn có

để vỗ béo bò nâng cao khả năng cho thịt và hiệu quả kinh tế, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1998-1999, NXB Nông nghiệp Hà Nội

*Người phản biện: TS Trần Trọng Thêm ; TS Trịnh Xuân Cư

Ngày đăng: 28/06/2014, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Trung bình cao vây (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau - Báo cáo khoa học : KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH CỦA BÒ ĐỊA PHƯƠNG VÀ LAI SIND HIỆN NUÔI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ doc
Bảng 1. Trung bình cao vây (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau (Trang 2)
Bảng 2. Trung bình vòng ngực (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau - Báo cáo khoa học : KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH CỦA BÒ ĐỊA PHƯƠNG VÀ LAI SIND HIỆN NUÔI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ doc
Bảng 2. Trung bình vòng ngực (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau (Trang 3)
Bảng 3. Trung bình dài thân chéo (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau - Báo cáo khoa học : KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH CỦA BÒ ĐỊA PHƯƠNG VÀ LAI SIND HIỆN NUÔI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ doc
Bảng 3. Trung bình dài thân chéo (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau (Trang 3)
Bảng 4. Trung bình khối lượng (kg) của bò ở các độ tuổi khác nhau - Báo cáo khoa học : KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH CỦA BÒ ĐỊA PHƯƠNG VÀ LAI SIND HIỆN NUÔI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ doc
Bảng 4. Trung bình khối lượng (kg) của bò ở các độ tuổi khác nhau (Trang 4)
Bảng 5. Diễn biến tăng trọng  (kg/tháng) của bò theo lứa tuổi - Báo cáo khoa học : KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH CỦA BÒ ĐỊA PHƯƠNG VÀ LAI SIND HIỆN NUÔI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ doc
Bảng 5. Diễn biến tăng trọng (kg/tháng) của bò theo lứa tuổi (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w