Cuộc khủng hoảng này làm rõ những điểm yếu đồng thời cung cấp cái nhìn rõ hơn về động lực thực sự của tăng trưởng kinh tế thế giới và qua đó cho thấy xu thế phát triển của nền kinh tế, t
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
VAI TRÒ CỦA KHỐI BRICs TRONG KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆT NAM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Người viết xin trân trọng cảm ơn PGS TS Vũ Chí Lộc đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ người viết hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Người viết cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại thương
Hà Nội đã truyền đạt kiến thức và giúp đỡ người viết trong 4 năm học tập vừa qua
Do thời gian nghiên cứu có hạn, kinh nghiệm và kiến thức của người viết còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Người viết rất mong nhận được sự góp ý, chỉnh sửa của các thầy cô và bạn đọc để hoàn thiện khóa luận tốt hơn nữa
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BRICs VÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 3
1.1 Nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của BRICs 3
1.1.1 Nguồn gốc ra đời 3
1.1.2 Quá trình phát triển 6
1.2 Vị thế của BRICs trong nền kinh tế thế giới 12
1.2.1 Về quy mô kinh tế 12
1.2.2 Về tốc độ tăng trưởng 13
1.2.3 Về dân số 15
1.2.4 Điều kiện tự nhiên 15
1.3 Diễn biến và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 17
1.3.1 Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 17
1.3.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 21
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA KHỐI BRICs TRONG KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 24
2.1 Là đầu tầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới 24
2.2 Là nơi cung cấp tín dụng quan trọng cho Mỹ, châu Âu, IMF khắc phục khủng hoảng tài chính 28
2.3 Định hình xu hướng phát triển mới của nền tài chính, kinh tế thế giới 36
2.3.1 Đẩy nhanh việc dịch chuyển sức mạnh kinh tế từ các nước phát triển sang các nền kinh tế mới nổi 37
2.3.2 Chuyển diễn đàn chính về hợp tác kinh tế quốc tế từ G7 thành G20 39
2.3.3 Gia tăng quyền lực của các nước mới nổi tại IMF và WB 42
2.3.4 Giảm sự phụ thuộc vào đồng USD 45
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆT NAM 48
3.1 Việt Nam nên tham gia như thế nào vào xu thế mới của nền tài chính, kinh tế thế giới 48
Trang 43.1.1 Trong xu thế chuyển dịch sức mạnh kinh tế từ các nước phát triển sang các nền kinh tế mới nổi 48 3.1.2 Trong quá trình chuyển dịch diễn đàn chính về hoạch định chính sách kinh tế quốc tế từ G7 thành G20 49 3.1.3 Trong xu thế tăng quyền lực của các nước mới nổi tại IMF và WB 51 3.1.4 Trong xu thế các nước giảm dần sự phụ thuộc vào đồng USD 52
3.2 Khi các nguồn tín dụng truyền thống không đáp ứng được yêu cầu vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng do ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng tài chính, Việt Nam nên tìm nguồn cung tín dụng mới ở đâu 53 3.3 Việt Nam nên làm gì khi BRICs thay thế các nước phát triển trở thành đầu tầu tăng trưởng của kinh tế thế giới 59 KẾT LUẬN 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
South Africa
Các nước Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi
chung châu Âu Euro
triển, gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Canada, Italia
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 GDP các nước khối BRICs 6
Bảng 1.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của các nước thuộc khối BRICs 7
Bảng 1.3 16 nền kinh tế lớn nhất thế giới từ 2001 đến 2010 7
Bảng 1.4 Dân số các nước khối BRICs từ 2001 đến 2010 9
Bảng 1.5 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của 7 nước công nghiệp phát triển G7 từ 2007-2011 22
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng trung bình của kinh tế thế giới 24
Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng khối G7 từ 2007 đến 2011 24
Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng trung bình của khối BRICs từ 2007 – 2011 25
Bảng 2.4 Tăng trưởng GDP của các nước khối BRICs từ 2008-2011 28
Bảng 2.5 Nợ công của các nền kinh tế thuộc OECD 31
Bảng 2.6 10 nền kinh tế có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới 33
Bảng 2.7 Tỷ trọng GDP danh nghĩa của BRICs và G7 trong GDP toàn cầu 37
Bảng 3.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ 2007 đến 2011 48
Bảng 3.2 Tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam 49
Bảng 3.3 Danh sách các nước không phải là thành viên G20 được mời tham dự hội nghị thượng đỉnh G20 50
Bảng 3.4 Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam từ 2002-2010 54
Bảng 3.5 Tăng trưởng tiêu dùng bình quân đầu người 60
Bảng 3.6 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tại một số thị trường 64
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Giao dịch thương mại nội khối BRICs 8
Biểu đồ 1.2 GDP bình quân đầu người các nước khối BRICs tính theo PPP 9
Biểu đồ 1.3 Số người có thu nhập lớn hơn 6.000 USD 10
Biểu đồ 1.4 Tăng trưởng thị trường chứng khoán các nước khối BRICs 10
Biểu đồ 1.5 Tăng trưởng của thị trường chứng khoán các nước thuộc khối BRICs so với Mỹ, châu Âu và Nhật Bản từ năm 2001 đến nay 11
Biểu đồ 1.6 Tỷ trọng GDP của BRICs và Mỹ trong GDP toàn cầu năm 2011 12 Biểu đồ 1.7 Các nền kinh tế lớn nhất thế giới năm 2011 13
Biểu đồ 1.8 So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế của khối BRICs với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của thế giới 14
Biểu đồ 1.9 So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế của khối BRICs với G7 14
Biểu đồ 1.10 Tỷ trọng dân số BRICs trong dân số toàn cầu năm 2011 15
Biểu đồ 1.11 8 nước có diện tích lớn nhất thế giới 16
Biểu đồ 1.12 Tỷ trọng diện tích lãnh thổ của BRICs so với các nước trên thế giới 16
Biểu đồ 1.13 Giá nhà trung bình tại Mỹ giai đoạn 1963-2010 18
Biểu đồ 1.14 Tăng trưởng GDP của toàn cầu, các nước phát triển, đang phát triển và mới nổi 23
Biểu đồ 2.1 Chỉ số PMI của BRICs và các nước khác 25
Biểu đồ 2.2 Đóng góp của các nền kinh tế vào tăng trưởng GDP toàn cầu 26
Biểu đồ 2.3 Đóng góp của cầu nội địa vào tăng trưởng GDP thực tế trong 2 năm 2008 và 2009 của một số nước 27
Biểu đồ 2.4 Số người gia nhập tầng lớp có thu nhập từ 6.000 USD trở lên 39
Hình 2.1 Dự trữ ngoại hối và vàng trừ đi các khoản nợ nước ngoài của các nước 33
Biểu đồ 3.1 Đầu tư từ khu vực tư nhân vào cơ sở hạ tầng tại một số nước ở Đông Á giai đoạn 1990-2008 56
Biểu đồ 3.2 Đóng góp vào tiêu dùng toàn cầu của các nền kinh tế 61
Trang 8Biểu đồ 3.3 Dự báo thu nhập bình quân đầu người của các nền kinh tế khối BRICs 62Biểu đồ 3.4 Số người gia nhập tầng lớp có thu nhập trên 15.000 USD đến năm
2025 tại BRICs 63Biểu đồ 3.5 Tiêu thụ hàng hóa trung bình trên 100 người dân tại BRICs 64Biểu đồ 3.6 Cơ cấu nhập khẩu của các nước BRICs 65
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 đã gây nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển chậm lại, nó đem đến cơ hội nhận thức rõ hơn về những chuyển động nằm sâu trong bộ máy kinh tế toàn cầu mà trong điều kiện bình thường ít có điều kiện bộc lộ Cuộc khủng hoảng này làm rõ những điểm yếu đồng thời cung cấp cái nhìn rõ hơn về động lực thực sự của tăng trưởng kinh tế thế giới và qua đó cho thấy xu thế phát triển của nền kinh tế, tài chính toàn cầu
Từ cuộc khủng hoảng này có thể thấy, trong khi các nền kinh tế phát triển đều gặp khó khăn và phải vật lộn để khắc phục những hậu quả tiêu cực, các nền kinh tế mới nổi thuộc khối BRICs nổi lên mạnh mẽ như một thế lực mới trong nền kinh tế toàn cầu, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng của kinh tế thế giới Vai trò,
vị thế của khối BRICs ngày càng được nâng cao cùng với sự chuyển dịch cán cân kinh tế, tài chính toàn cầu từ các nền kinh tế phát triển sang các nền kinh tế mới nổi; đẩy nhanh việc hình thành trật tự kinh tế, tài chính quốc tế mới
Vì vậy, với việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, nghiên cứu vai trò của khối BRICs trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu
có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam Chỉ có nhận thức đúng về vai trò của khối BRICs, qua đó hiểu rõ động lực và xu thế phát triển của kinh tế thế giới, Việt Nam mới có thể chủ động hội nhập và tận dụng tốt các cơ hội khi tham gia vào sân chơi chung toàn cầu
Từ những lý do trên, người viết chọn đề tài "Vai trò của khối BRICs trong
khủng hoảng tài chính toàn cầu và một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam" làm đề
tài khóa luận tốt nghiệp đại học
2 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ vai trò của khối BRICs trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu,
từ đó nêu lên một số vấn đề cho Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: khối kinh tế BRICs gồm 4 nền kinh tế mới nổi là Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc
Trang 10Đề tài chỉ nghiên cứu các vấn đề kinh tế; không nghiên cứu các vấn đề tôn giáo, văn hóa…
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian:
Tháng 4/2011, tại hội nghị thượng đỉnh của khối, các nước đã nhất trí kết nạp thêm Nam Phi (South Africa) vào nhóm và trở thành khối BRICS Tuy vậy, do trong phần lớn thời gian nghiên cứu Nam Phi chưa tham gia khối và trong khái niệm BRICs gốc do ngân hàng Goldman Sachs đưa ra chỉ bao gồm 4 nền kinh tế Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc nên đề tài chỉ nghiên cứu 4 nước này
+ Thời gian: giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu từ 2008 đến nay
4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
Đến nay, ở trong nước chưa có nghiên cứu khoa học nào về khối BRICs Các nghiên cứu về BRICs chủ yếu là của nước ngoài, nhiều nhất là các nghiên cứu của ngân hàng Goldman Sachs Tuy nhiên, các nghiên cứu của Goldman Sachs chủ yếu là những nghiên cứu, dự báo về sự phát triển của các nền kinh tế thuộc khối BRICs, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho khách hàng của Goldman Sachs - phần lớn là giới đầu tư tài chính
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu thập số liệu, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp thông tin, phương pháp phân tích, so sánh; phương pháp mô tả và phương pháp hệ thống hóa
6 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về BRICs và khủng hoảng tài chính toàn cầu
Chương 2 Vai trò của khối BRICs trong khủng hoảng tài chính toàn cầu Chương 3 Một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BRICs VÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
TOÀN CẦU 1.1 Nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của BRICs
1.1.1 Nguồn gốc ra đời
Thuật ngữ BRICs là chữ viết tắt các chữ cái đầu (tiếng Anh) của tên 4 nước
có tốc độ phát triển cao và dân số đông là Brazil, Nga (Russia), Ấn Độ (India) và Trung Quốc (China) Thuật ngữ này lần đầu tiên được Jim O’Neill, kinh tế gia trưởng của ngân hàng Goldman Sachs, đưa ra năm 2001 trong nghiên cứu “Xây dựng nền kinh tế thế giới tốt đẹp hơn - BRICs” (Building better global economic BRICs)
Mục đích ban đầu tiến hành phân tích về BRICs, theo ngân hàng Goldman Sachs, là nhằm xác định những nền kinh tế có thể cạnh tranh về mặt quy mô với các nền kinh tế đã phát triển Goldman Sachs cũng nêu lý do tại sao Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc được lựa chọn để nghiên cứu mà không phải các nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh khác Đó là, nghiên cứu về BRICs không chỉ là nghiên cứu về sự thành công của các nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng cao Điều khiến BRICs đặc biệt chính là các nền kinh tế này có quy mô lớn và có xu hướng thách thức vai trò, ảnh hưởng của các nền kinh tế phát triển trên thế giới Trong các nền kinh tế đang phát triển, rõ ràng Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc vượt trội về quy
mô kinh tế và dân số Do đó, BRICs là đối tượng tiềm năng nhất đáp ứng các tiêu
Còn tác giả của thuật ngữ BRICs, Jim O’Neill, tháng 6/2009 đã trả lời phỏng vấn trang tin CNNMoney về lý do tìm ra khái niệm này như sau: “Lúc đó tôi đang tìm kiếm chủ đề và ý tưởng mới Nguyên nhân cụ thể dẫn đến việc tìm ra khái niệm BRICs chính là sự kiện 11/9 Thông điệp ẩn giấu đằng sau sự kiện kinh hoàng này
là quá trình toàn cầu hóa vẫn cứ tiếp tục và ngày càng phát triển Quá trình này sẽ ngày càng phức tạp và đó không chỉ là quá trình Mỹ hóa thế giới như cách nhiều người thường nghĩ Cho dù sự kiện 11/9 không phải là chỉ dấu trực tiếp cho điều này, nó làm sáng tỏ ý tưởng trong tôi và vào tháng 10 năm đó, tôi đã viết nghiên cứu có tựa đề "Xây dựng nền kinh tế thế giới tốt đẹp hơn - BRICs" Nghiên cứu chỉ
1
Goldman Sachs, 2005, How solid are the BRICs, trang 7
Trang 12ra rằng không thể vận hành thế giới một cách trơn tru nếu không có sự tham gia của các nước này”.2
Trong cuộc phỏng vấn trên, Jim O'Neill cũng cho rằng: nhờ vào quá trình toàn cầu hóa, nếu các nước thuộc khối BRICs nâng cao được năng suất lao động thông qua trao đổi buôn bán với thế giới, cộng với việc họ có sẵn dân số đông, các nước này sẽ trở thành các nền kinh tế lớn.3
Từ một khái niệm học thuật, BRICs đã chính thức trở thành một thực thể trên thực tế
Tháng 5/2008, Ngoại trưởng bốn nước lần đầu tiên đã gặp nhau tại Yekaterinburg, Nga và ra thông cáo báo chí nhấn mạnh: bốn nước sẽ “tăng cường đối thoại trên cơ sở tôn trọng và tin cậy lẫn nhau vì lợi ích chung, hơn nữa có quan điểm gần gũi và giống nhau trong giải quyết vấn đề toàn cầu.” Tháng 3/2009, Bộ trưởng tài chính bốn nước đã họp tại Horsham, Anh, thống nhất hành động, chủ trương tiến hành cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế hiện nay và đòi quyền phát ngôn lớn hơn trên diễn đang kinh tế thế giới
Ngày 16/6/2009 Hội nghị thượng đỉnh BRICs đầu tiên đã họp tại Yekaterinburg, Nga Tại hội nghị này, các nhà lãnh đạo của bốn nền kinh tế đã đưa
ra những nhận định về kinh tế thế giới và cuộc khủng hoảng tài chính Các nguyên thủ nhấn mạnh nhu cầu phải tăng cường hợp tác trong khối BRICs về các vấn đề kinh tế và cải cách hệ thống tài chính quốc tế cũng như cách vận hành nền kinh tế thế giới
Hội nghị thượng đỉnh khối BRICs lần thứ 2 đã được tổ chức vào tháng 4/2010 tại Brasilia, Brazil Tại hội nghị này các nguyên thủ đã tái khẳng định nhu cầu hợp tác chặt chẽ hơn nữa, cải cách các định chế tài chính quốc tế và bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển
Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 3 được tổ chức tại Tam Á, Trung Quốc vào tháng 4/2011 Tại hội nghị này, Nam Phi đã được kết nạp thêm vào khối
Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 4 được tổ chức tại New Delhi, Ấn Độ, vào tháng 3/2012
Trang 13Ngoài các hội nghị thượng đỉnh nêu trên, các nước trong khối còn tổ chức hàng loạt hội nghị cấp bộ trưởng, trong đó có thể kể đến:
- Hội nghị bộ trưởng ngoại giao diễn ra định kỳ tại New York bên lề các kỳ họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (United Nations General Assembly - UNGA)
- Hội nghị bộ trưởng tài chính/kinh tế lần đầu tiên được tổ chức tháng 11/2008 tại Sao Paolo, Brazil nhằm tham vấn lẫn nhau cách ứng phó với khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu Hội nghị bộ trưởng tài chính/kinh tế của BRICs còn được tổ chức định kỳ bên lề các hội nghị nhóm G20 và các hội nghị thường niên của IMF cũng như WB
- Hội nghị bộ trưởng nông nghiệp được tổ chức 2 lần, lần đầu tại Moscow, Nga, ngày 26/3/2010 và lần thứ 2 tại Chengdu, Trung Quốc từ 28/10-1/11/2011
- Hội nghị bộ trưởng thương mại khối BRICs được tổ chức tại Rio, Brazil vào tháng 4/2010 trước thềm hội nghị thượng đỉnh lần thứ 2 và tại Tam Á, Trung Quốc ngày 13/4/2011 bên thềm hội nghị thượng đỉnh làn thứ 3 của khối Các bộ trưởng thương mại BRICs cũng gặp nhau bên lề hội nghị cấp bộ trưởng của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO) lần thứ 8 tại Geneva tháng 12/2011
- Hội nghị quốc tế về cạnh tranh của khối BRICs đã được tổ chức 2 lần, lần đầu tiên được tổ chức tại Kazan, Nga, ngày 1/9/2009, lần thứ 2 được tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc từ ngày 20-22/9/2011
- Diễn đàn doanh nghiệp khối BRICs cũng được tổ chức 2 lần, lần gần đây nhất tổ chức tại Tam Á, bên lề hội nghị thượng đỉnh lần thứ 3 của khối vào tháng 4/2011 Tại hội nghị trên, các bên đã ký vào bản ghi nhớ các vấn đề trọng tâm trong việc phối hợp các hoạt động kinh doanh của các nước BRICs
- Hội nghị của các ngân hàng phát triển của các nước khối BRICs được tổ chức lần đầu tiên tại Brazil vào tháng 4/2010 Tại hội nghị này, các bên đã ký bản ghi nhớ thiết lập cơ chế phối hợp liên ngân hàng khối BRICs Tiếp theo bản ghi nhớ, các ngân hàng phát triển của các nước thành viên khối BRICs đã ký Thỏa thuận khung về "Hợp tác tài chính trong cơ chế hợp tác liên ngân hàng khối BRICS" tại hội nghị thượng đỉnh ở Tam Á, Trung Quốc
Trang 14Lý giải nguyên nhân các nền kinh tế này thống nhất với nhau trở thành một khối trên thực tế, báo BBC cho rằng đó chính là vai trò của ngoại thương “Ngoại thương là chất keo dính các nền văn hóa khác biệt lại với nhau Thế nên, các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, và Brazil nhóm lại với nhau cũng là lẽ tự nhiên Hai thành viên của BRICs - Ấn Độ và Trung Quốc - là hai nước nhập khẩu năng lượng lớn nhất Còn hai thành viên kia - Nga và Brazil - là hai quốc gia xuất khẩu tài nguyên lớn nhất Nga có dự trữ khí và dầu mỏ lớn, còn Brazil thì giàu có khoáng sản, kể cả quặng sắt Do đó, các nhà xuất-nhập khẩu tài nguyên này không có sự lựa chọn nào khác hơn là nhóm lại với nhau và thúc đẩy tiến trình tăng trưởng Ấn Độ
và Trung Quốc còn chia sẻ nét đặc thù về phụ thuộc lẫn nhau Ấn Độ là người khổng lồ về dịch vụ, còn Trung Quốc là nước hàng đầu trong ngành sản xuất gia công Trong vòng 15 năm qua, thương mại giữa Ấn Độ với Mỹ và Nhật hầu như bị đình trệ, tuy nhiên với Trung Quốc thì cứ mỗi bốn năm thì giao dịch ngoại thương giữa Ấn và Trung lại tăng gần gấp đôi và dự kiến đến năm 2013 sẽ đạt mức 100 tỷ USD”4
1.1.2 Quá trình phát triển
- Quy mô nền kinh tế:
Kể từ năm 2001 đến 2010, GDP của các nước thuộc khối BRICs không ngừng gia tăng Năm 2001, GDP của cả 4 nước mới đạt 2.663 tỷ USD, nhưng đến năm 2010 đã tăng gấp gần 5 lần lên 11.221 tỷ USD
Trang 15tốc độ tăng trưởng bình quân của 4 nước chỉ đạt 2,46%, các năm còn lại đều rất cao,
trong đó cao nhất là năm 2007 với tốc độ tăng trưởng bình quân 4 nước đạt 9,66%
Bảng 1.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của các nước thuộc khối BRICs
Nhờ vào tốc độ tăng trưởng cao, thứ hạng của các nền kinh tế thuộc khối
BRICs so với các nền kinh tế lớn trên thế giới cũng gia tăng không ngừng, nhất là từ
năm 2005 trở đi
Bảng 1.3 16 nền kinh tế lớn nhất thế giới từ 2001 đến 2010
Nguồn: Tác giả lập dựa trên số liệu của WB
- Thương mại nội khối:
Cùng với sự phát triển về quy mô kinh tế, thương mại nội khối BRICs cũng
tăng nhanh chóng và các nền kinh tế này cũng sẽ hưởng lợi tương xứng từ việc gia
tăng thương mại nội khối Theo ngân hàng Goldman Sachs, động lực quan trọng
Trang 16cho tăng trưởng của BRICs bắt nguồn từ việc quy mô to lớn của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại Trung Quốc và Ấn Độ tạo ra sức cầu mạnh đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà Nga và Brazil sở hữu với số lượng lớn Thương mại nội khối BRICs đã tăng mạnh trong thập kỷ vừa qua, đạt mức 165 tỷ USD năm
vào đó, 3 trong 4 nước này có đối tác thương mại lớn nhất hoặc nhì là 1 thành viên của BRICs6
Biểu đồ 1.1 Giao dịch thương mại nội khối BRICs
Nguồn: Goldman Sachs
- Về dân số:
Năm 2001, dân số của khối BRICs mới đạt 2,627 tỷ người, đến năm 2010 đã đạt 2,846 tỷ người Đối với các nước thuộc khối này, dân số đông cũng góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế bằng việc cung cấp nguồn nhân lực dồi dào với mức lương thấp
Trang 17Bảng 1.4 Dân số các nước khối BRICs từ 2001 đến 2010
Đơn vị: triệu người
Biểu đồ 1.2 GDP bình quân đầu người các nước khối BRICs tính theo PPP
Đơn vị: USD
Nguồn: Goldman Sachs
Trang 18Biểu đồ 1.3 Số người có thu nhập lớn hơn 6.000 USD
Đơn vị: triệu người
Nguồn: Goldman Sachs
- Thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế Sự phát triển kinh tế của 4 nước thuộc khối BRICs còn được thể hiện ở sự phát triển của thị trường chứng khoán các nước này từ năm 2001 đến 2010 Trong vòng 10 năm, chỉ
số chứng khoán của Russian traded index Nga tăng 884%, tiếp theo là H-share của Trung Quốc với mức tăng 610%, chỉ số BSE của Ấn Độ đạt 319% và Bovespa của Brazil đạt 294%
Biểu đồ 1.4 Tăng trưởng thị trường chứng khoán các nước khối BRICs
Nguồn: Goldman Sachs
Trang 19Sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán các nước khối BRICs càng ấn tượng hơn khi so sánh với các thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới là Mỹ (chỉ
số SP), châu Âu (chỉ số Eurostockxx50) và Nhật Bản (chỉ số Nikkei)
Biểu đồ 1.5 Tăng trưởng của thị trường chứng khoán các nước thuộc khối BRICs so với Mỹ, châu Âu và Nhật Bản từ năm 2001 đến nay
Nguồn: Goldman Sachs
- Ngoài ra, trong nền kinh tế toàn cầu phụ thuộc nhiều vào năng lượng như hiện nay, sự phát triển kinh tế còn được thể hiện ở công nghiệp năng lượng Đây chính là thành tố quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng, tự chủ về phát triển kinh tế
Có thể nói, nhóm BRIC đã vượt qua Mỹ về công nghiệp năng lượng Tính tới thời điểm tháng 6/2007, trong số 20 công ty hàng đầu trong ngành năng lượng thế giới, nhóm BRICs chiếm 35% trong khi Mỹ chỉ chiếm 30% Sự phát triển này của BRICs là đáng nể khi trước đó BRICs không có công ty nào trong danh sách này vào thời điểm sau chiến tranh vùng vịnh năm 1991 trong khi 55% thuộc về Mỹ, 45% thuộc về châu Âu tại thời điểm đó7
7 Báo điện tử Đại biểu Nhân dân, BRIC - Tứ trụ trong trật tự thế giới mới?, truy cập lúc 7:55 ngày 19/3/2012
tại địa chỉ http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=77&NewsId=41441
Trang 201.2 Vị thế của BRICs trong nền kinh tế thế giới
1.2.1 Về quy mô kinh tế
GDP danh nghĩa năm 2011 của Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ và Nga lần lượt đạt 7.260 tỷ USD, 2.148 tỷ USD, 1.855 tỷ USD và 1.540 tỷ USD Như vậy, GDP của toàn khối BRICs đạt 12.803 tỷ USD, chiếm gần 20% GDP toàn thế giới (số liệu tác giả thu thập được từ WB, IMF và Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc)
Con số này xấp xỉ GDP của Mỹ và tỷ trọng của nền kinh tế Mỹ trong nền kinh tế thế giới Theo ước tính của Bộ Thương mại Mỹ, GDP năm 2011 của nước
Biểu đồ 1.6 Tỷ trọng GDP của BRICs và Mỹ trong GDP toàn cầu năm
2011
Nguồn: Tác giả lập dựa trên tài liệu của WB, IMF, Bộ Thương mại Mỹ và
Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc
Quy mô kinh tế của khối BRICs càng thể hiện rõ nét hơn khi so sánh GDP
của 11 nền kinh tế lớn nhất thế giới năm 2011
8 US Department of Commerce, Gross Domestic Product: Fourth Quarter and Annual 2011 second
estimate , truy cập lúc 20:48’ ngày 4/3/2012 tại địa chỉ
http://www.esa.doc.gov/sites/default/files/ei/documents/2012/March/gdp4q11_2nd.pdf
Trang 21Biểu đồ 1.7 Các nền kinh tế lớn nhất thế giới năm 2011
Đơn vị: tỷ USD
Nguồn: Tác giả lập dựa trên số liệu của WB và IMF
Theo nghiên cứu “Đây có phải là thập kỷ của BRICs” (Is This the
“BRICs decade”) phát hành tháng 5/2010, ngân hàng Goldman Sachs dự báo GDP toàn khối BRICs sẽ vượt Mỹ vào năm 2018 Còn theo Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, GDP của BRICs sẽ vượt Mỹ vào năm 2015, sớm hơn dự đoán của Goldman Sachs.9
Như vậy, về mặt quy mô, BRICs sánh ngang với nền kinh tế Mỹ và là trụ cột thứ 2 của nền kinh tế thế giới
1.2.2 Về tốc độ tăng trưởng
Mặc dù có quy mô kinh tế khá lớn, các nước thuộc khối BRICs vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm Trong giai đoạn từ 2002 đến 2011, tốc độ tăng trưởng trung bình của khối BRICs luôn cao hơn mức trung bình của thế giới
9 Sài Gòn Giải Phóng, Nhóm BRICS khẳng định vị thế, truy cập lúc 8:48' ngày 6/3/2012 tại địa chỉ
http://www.sggp.org.vn/thegioi/2011/4/255056/
Trang 22Biểu đồ 1.8 So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế của khối BRICs với tốc
độ tăng trưởng kinh tế trung bình của thế giới
Đơn vị: %
Nguồn: tác giả lập dựa trên số liệu của WB và IMF
So với các nền kinh tế phát triển và có cùng quy mô thuộc khối G7, tốc độ tăng trưởng trung bình của BRICs cũng luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của các nước này
Biểu đồ 1.9 So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế của khối BRICs với G7
Đơn vị: %
Nguồn: tác giả lập dựa trên số liệu của WB và IMF
Trang 23Tốc độ tăng trưởng luôn cao hơn mức trung bình của thế giới và cao hơn các nước có cùng quy mô là lý do quan trọng khiến vị thế của BRICs ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế
Biểu đồ 1.10 Tỷ trọng dân số BRICs trong dân số toàn cầu năm 2011
Nguồn: tác giả lập dựa trên số liệu của UNFPA
Dân số đông giúp các nền kinh tế BRICs có thị trường nội địa rộng lớn, qua
đó duy trì được nhu cầu nội địa ở mức cao Vì vậy, BRICs có thể duy trì được tốc
độ tăng trưởng và giá trị GDP ở mức tương đối lớn so với các nền kinh tế khác có dân số ít
1.2.4 Điều kiện tự nhiên
- Về diện tích, theo số liệu của WB, cả 4 nước thuộc khối BRICs đều nằm trong nhóm 8 nước có diện tích lớn nhất thế giới Tính chung diện tích cả khối, BRICs chiếm 29% lãnh thổ thế giới
Trang 24Biểu đồ 1.11 8 nước có diện tích lớn
nhất thế giới
Đơn vị: triệu km2
Biểu đồ 1.12 Tỷ trọng diện tích lãnh thổ của BRICs so với các nước trên thế giới
Nguồn: Tác giả lập dựa trên số liệu của WB
Lãnh thổ rộng lớn là điều kiện cơ bản giúp các nước thuộc khối BRICs có thể duy trì dân số đông của mình Đồng thời, cho phép các nước này có điều kiện tìm kiếm, khai thác và kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng
Theo số liệu của Cơ quan Thống kê Liên bang Mỹ (Cencus Bereau), trong 2 năm 2009 và 2010, Trung Quốc là nước sản xuất hàng đầu thế giới về than đá, nhôm, vàng, quặng sắt, đất hiếm Nga là nước sản xuất hàng đầu về dầu thô,
sản dồi dào, tạo điều kiện cho các nước này có vị thế và tiếng nói quan trọng trên thị trường quốc tế
10 Cencus, International Statistics: Natural Resources and Energy, truy cập lúc 20:25 ngày 5/3/2012 tại địa
chỉ http://www.census.gov/compendia/statab/cats/international_statistics/natural_resources_and_energy.html
Trang 25dầu mỏ ngoài khơi rất lớn Theo ước tính, Ấn Độ Dương cung cấp 40% sản lượng dầu khai thác trên biển của thế giới.11
Trung Quốc nằm ở trung tâm lục địa châu Á Vị trí trung tâm này đã giúp Trung Quốc có thể quan hệ trực tiếp và gây ảnh hưởng ngày càng lớn đến các nước trong khu vực, từ đó nâng cao vị thế trên trường quốc tế
Brazil nằm ở giữa khu vực Nam Mỹ Với vị trí trung tâm cộng với diện tích
điều kiện tác động, gây ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực này trong các vấn đề kinh
tế
Như vậy, các nước thuộc khối BRICs đều nằm ở những vị trí địa chiến lược, tạo điều kiện cho khối này có vị thế quan trọng trên trường quốc tế
1.3 Diễn biến và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
1.3.1 Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Theo Wikipedia tiếng Việt, khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua “là cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước
Về nguyên nhân của khủng hoảng, sau quá trình điều tra, ngày 13/4/2011 Thượng viện Mỹ công bố bản báo cáo Levin-Coburn, khẳng định cuộc khủng hoảng tài chính lần này là hậu quả của việc sử dụng các công cụ tài chính phức tạp, rủi ro cao; của việc xung đột các lợi ích ngầm; và thất bại của các cơ quan điều hành chính sách, các hãng định mức tín nhiệm cũng như của chính thị trường
Khởi đầu của cuộc khủng hoảng tài chính này là sự sụp đổ của bong bóng nhà đất Mỹ Trong giai đoạn 1997 và 2006, giá nhà đất Mỹ tăng 124% Trong suốt
2 thập kỷ kết thúc vào năm 2001, tỷ số giữa giá nhà và thu nhập hộ gia đình ổn định
Trang 26Giá nhà tiếp tục tăng và lập đỉnh vào năm 2007 Tình trạng bong bóng nhà đất này khiến có rất ít hộ gia đình có thể trả tiền lãi cho việc vay tiền để mua nhà
Biểu đồ 1.13 Giá nhà trung bình tại Mỹ giai đoạn 1963-2010
Đơn vị: USD
Nguồn: Cơ quan Thống kê Liên bang trực thuộc Bộ Thương mại Mỹ
Cạnh tranh giữa các công ty cho vay mua nhà thế chấp ngày càng tăng trong khi số lượng người đủ tiêu chuẩn để vay nợ chỉ có hạn đã khiến các công ty cho vay thế chấp nới lỏng các tiêu chuẩn bảo hiểm và bắt đầu hình thành các khoản cho vay thế chấp có mức rủi ro cao hơn đối với những người vay có mức tín nhiệm thấp hơn
Ngày 27/2/2007, Công ty Tín dụng Địa ốc Liên bang Mỹ Freddie Mac thông báo sẽ không mua các khoản thế chấp dưới chuẩn rủi ro và các chứng khoán liên quan đến thế chấp nhà
Bắt đầu từ quý 2/2007, những tổ chức tài chính đầu tiên của Mỹ liên quan đến tín dụng nhà ở thứ cấp bị phá sản Ngày 2/4/2007, Công ty Tài chính New Century, công ty hàng đầu về các khoản thế chấp dưới chuẩn của Mỹ, đệ đơn xin bảo hộ phá sản Ngày 6/8/2007, đến lượt Công ty Đầu tư Thế chấp Nhà đất Mỹ (American Home Mortgage), một trong những Tổ chức cho vay thể chấp mua nhà lớn nhất của Mỹ, nộp đơn xin bảo hộ phá sản
15 Bloomberg Businessweek, The financial crisis blame game, truy cập lúc 11:30 ngày 12/3/2012 tại địa chỉ
http://www.businessweek.com/investor/content/oct2008/pi20081017_950382.htm?chan=top+news_top+new s+index+-+temp_top+story
Trang 27Bong bóng nhà đất vỡ dẫn đến các khoản vay không thể trả được đối với các
tổ chức tài chính Mỹ Ngày 17/8/2007, Ủy ban Thị trường Mở Liên bang Mỹ (Federal Open Market Committee - FOMC) phải đưa ra thông báo về tình trạng bất
ổn trên thị trường tài chính
Cùng lúc đó, hàng loạt chứng khoán liên quan đến các khoản thế chấp dưới chuẩn bị đánh tụt hạng tín nhiệm Ngày 1/6/2007, 2 hãng định mức tín nhiệm là Standard and Poor's và Moody's Investor Service đã hạ mức tín nhiệm của hơn 100 loại trái phiếu liên quan đến các khoản thế chấp dưới chuẩn Tiếp đó, ngày 11/7/2007, Standard and Poor's đặt 612 loại chứng khoán liên quan đến các khoản thế chấp địa ốc dưới chuẩn vào diện cảnh báo tài chính
Trước tình hình đó, nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tài chính này lo sợ, đã đến rút tiền và gây ra hiện tượng rút tiền gửi đột biến, khiến cho các tổ chức tài chính này càng thêm khó khăn Để ứng phó, FED đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng thanh khoản của thị trường tín dụng như: mua vào các loại trái phiếu Chính phủ Mỹ thông qua thị trường mở, kể cả trái phiếu của các cơ quan chính phủ Mỹ được đảm bảo theo tín dụng nhà đất Tháng 9/2007, FED giảm lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng (Fed fund rates) từ 5,25% xuống 4,75% Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu - ECB bơm 205 tỷ USD vào thị trường tín dụng để nâng cao mức thanh khoản
Tháng 12/2007, cuộc khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn khi các báo cáo kinh tế cuối năm cho thấy thị trường bất động sản điều chỉnh lâu hơn và quy mô cuộc khủng hoảng cũng rộng hơn ước đoán ban đầu Tình trạng đói tín dụng trở nên
rõ ràng FED liên tiếp giảm mạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng 2/2008 nhưng không đạt kết quả như mong đợi
Tháng 3/2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu ngân hàng Bear Sterns nhưng không thành công Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York không cứu được Bear Sterns và phải để công ty này bị đem bán với mức giá rẻ đã khiến công chúng lo ngại về năng lực can thiệp của chính phủ trong việc giải cứu các tổ chức tài chính gặp khó khăn Sự việc này đã khiến cuộc khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn Tháng 8/2008, tổ chức tài chính thuộc hàng lớn nhất và lâu đời nhất của
Mỹ là Lehman Brothers đã bị phá sản Đến cuối năm 2008, Mỹ phải giải thể 25
Trang 28ngân hàng Trong 6 tháng đầu năm 2009, Mỹ phải đóng cửa thêm 52 ngân hàng nữa16
Thông qua quan hệ tài chính, kinh tế mật thiết của Mỹ với các nước khác, cuộc khủng hoảng tài chính từ Mỹ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới Theo Wikipedia, cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ đã lan rộng ra hệ thống ngân hàng
: Nhiều tổ chức tài chính của các nước phát triển cũng tham gia vào thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp ở Mỹ Vì vậy, khi bóng bóng nhà ở của Mỹ bị vỡ, các tổ chức tài chính này cũng gặp nguy hiểm Những nước châu Âu bị ảnh hưởng nặng nhất là Anh, Iceland, Ireland, Bỉ và Tây Ban Nha Tháng 9/2007, ngân hàng Northern Rock của Anh bị rút tiền gửi đột biến và phải quốc hữu hóa Tình trạng người dân rút tiền gửi đột biến cũng diễn ra tại các ngân hàng khác của nước này Năm 2008, đến lượt ngân hàng Bradford & Bingley plc của Anh bị chia tách thành
2 đơn vị riêng biệt Các ngân hàng khác phải đổi chủ sở hữu: Catholic Building Society, Alliance & Leicester Các ngân hàng London Scottish Bank và Dunfermline Building Society phải chịu sự giám sát đặc biệt của Chính phủ Anh
Khủng hoảng ngân hàng diện rộng đã xảy ra ở Iceland Các ngân hàng Glitnir, Straumur Investment Bank, Reykjavík Savings Bank bị quốc hữu hóa Ngân hàng Kaupthing và Landsbanki của nước này cũng bị đặt dưới sự quản lý của cơ quan giám sát tài chính quốc gia Đầu năm 2008, Ngân hàng Ireland bị hạ xếp hạng tín dụng khiến giá cổ phiếu của ngân hàng này tại thời điểm đầu tháng 3/2008 giảm 99% so với mức cao nhất năm 2007 Quý I/2008, GDP của Iceland giảm 1,5% Đầu năm 2009, ngân hàng Anglo Irish Bank bị quốc hữu hóa Cổ phiếu của ngân hàng Allied Irish Banks cũng bị mất giá mạnh và ngân hàng này phải chấp nhận cải cách
để được chính phủ cho vay tái cơ cấu
Cuối năm 2008, ngân hàng Fortis của Bỉ bắt đầu bị đem bán dần và chỉ được giữ lại lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bảo hiểm Ngân hàng Dexia chịu khoản lỗ 3,3 tỷ euro và phải xin trợ giúp của Chính phủ Bỉ Ở Hà Lan, ngân hàng ING Group đã
16
Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2010, Thay đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong điều kiện
khủng hoảng tài chính toàn cầu, Luận văn Thạc sỹ Thương mại, trường Đại học Ngoại thương, trang 16
17 wikipedia tiếng Việt, khủng hoảng tài chính 2007-nay, truy cập lúc 15:30 ngày 12/4/2012 tại địa chỉ
http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_t%C3%A0i_ch%C3%ADnh_2007% E2%80%93nay
Trang 29phải xin Chính phủ nước này cho vay Ở Đức, ngày từ đầu năm 2008, ngân hàng BayernLB đã phải chịu những khoản lỗ lớn do tham gia vào thị trường tín dụng nhà
ở thứ cấp ở Mỹ, sau đó, ngân hàng này đã phải xin trợ giúp của chính phủ liên bang
1.3.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính này đã khiến nền kinh tế toàn cầu lâm vào suy thoái nghiêm trọng
Khủng hoảng tài chính đã khiến tín dụng trở nên khan hiếm, tiêu dùng cá nhân tại Mỹ suy giảm Một mặt tiêu dùng giảm khiến hàng hóa của doanh nghiệp khó tiêu thụ, mặt khác tình trạng thiếu vốn lại khiến doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, sa thải lao động Thất nghiệp gia tăng khiến thu nhập của người dân giảm sút Điều này đến lượt nó lại khiến người dân giảm mua sắm, hàng hóa ế ẩm, sản xuất đình trệ, nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất phải kể đến ngành công nghiệp ô tô của Mỹ với 3 công ty hàng đầu là GM, Ford và Chrysler Tháng 2/2008, GM thông báo năm 2007 hãng bị lỗ 38,7 tỷ USD (trước khi trừ thuế và trả nợ) Cũng trong năm 2007, Ford lỗ 2,723 tỷ USD Sang năm
2008, tình hình kinh doanh càng tồi tệ hơn, doanh số của 3 hãng này giảm xuống mức thấp ngang hồi thập niên 1950 Tám tháng đầu năm 2008, Chrysler lỗ 400 triệu USD GM lỗ trước thuế 4,2 tỷ USD chỉ riêng trong quý III/2008, trong khi Ford lỗ 2,75 tỷ USD18
Thông qua các mối liên kết tài chính phức tạp và đan xen, khủng hoảng tài chính Mỹ đã lan rộng ra ngành tài chính khắp các nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển Các ngân hàng ở châu Âu, sau khi chịu thiệt hại nặng nề do vỡ bong bóng tín dụng nhà ở thứ cấp trên thị trường Mỹ, đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc ứng phó với cuộc khủng hoảng này Để giải cứu hệ thống ngân hàng, chính phủ các nước buộc phải vay nợ nhiều hơn khiến nợ công tại nhiều nước châu
Âu tăng mạnh Điều này dẫn đến khủng hoảng niềm tin vào nợ công của các chính phủ này, đẩy lãi suất lên cao, phá hoại sự ổn định của đồng Euro - đồng tiền chung châu Âu Hệ thống tài chính châu Âu rối loạn, các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn
Trang 30vốn Bên cạnh đó, để giảm nợ công, nhiều nước phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng” khiến tổng cầu giảm sút, nền kinh tế càng rơi vào suy thoái
Tại Nhật Bản, tuy khu vực tài chính của nước này vẫn trụ vững, nhưng việc
có nhiều công ty Mỹ phát hành trái phiếu tại thị trường chứng khoán Tokyo đã khiến cho thị trường chứng khoán của Nhật Bản bị tác động tiêu cực và ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của các công ty Nhật Bản
Bảng 1.5 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của 7 nước công nghiệp phát triển G7 từ 2007-2011
19 Baily, Martin Neil & Elliott, Douglas J., 2009 The U.S Financial and Economic Crisis: Where Does It
Stand and Where Do We Go From Here? Brookings, trang 21
Trang 31Biểu đồ 1.14 Tăng trưởng GDP của toàn cầu, các nước phát triển, đang phát triển và mới nổi
Nguồn: IMF
Đối với BRICs, suy thoái kinh tế tại Mỹ và các nước phát triển cũng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của khối này Ấn Độ và Trung Quốc đều bị giảm xuất khẩu nhưng nhờ thị trường nội địa rộng lớn nên tăng trưởng kinh tế ở các nước này vẫn ở mức thực dương Nga và Brazil chịu tác động nặng nề hơn Kinh tế Nga thậm chí còn bị suy thoái trong năm 2009 do nước này phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu dầu lửa trong khi giá dầu lửa sụt giảm mạnh trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế từ mức đỉnh cao trên 140 USD/thùng xuống còn hơn 30 USD/thùng Kinh tế Brazil cũng bị tác động tiêu cực và tăng trưởng âm trong năm 2009 do nước này cũng phụ thuộc nhiều vào việc xuất khẩu các mặt hàng nguyên liệu trong khi giá nguyên liệu cũng sụt giảm do suy thoái kinh tế toàn cầu Tuy vậy nhìn chung kinh tế khối BRICs vẫn tăng trưởng tốt trong giai đoạn khủng hoảng và hồi phục nhanh hơn phần còn lại của thế giới
Trang 32CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA KHỐI BRICs TRONG KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH TOÀN CẦU 2.1 Là đầu tầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới
Do tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, tăng trưởng kinh tế bắt đầu suy giảm từ năm 2008 và nặng nề nhất
là năm 2009 khi tăng trưởng kinh tế toàn cầu ở mức âm (-2,3%)
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng trung bình của kinh tế thế giới
Đơn vị: %
Nguồn: WB và IMF Trong giai đoạn này, các nền kinh tế phát triển tăng trưởng với tốc độ khá thấp, trong đó có 2 năm tăng trưởng âm là 2008 và 2009
Theo số liệu của Goldman Sachs, chỉ số PMI của Trung Quốc chạm đáy vào tháng 11/2008, sớm hơn tất cả các nền kinh tế khác và đã phục hồi nhanh chóng sau
đó Mặc dù chỉ số PMI của Brazil và Nga phục hồi chậm hơn so với Ấn Độ và Trung Quốc, toàn khối BRICs vẫn vượt xa các nền kinh tế mới nổi khác cũng như các nước công nghiệp phát triển
20 Chỉ số PMI (Purchasing Managers Index) là chỉ báo về tình trạng kinh tế của khu vực sản xuất Chỉ số này được tính dựa trên 5 chỉ báo chính: số đơn đặt hàng mới, mức độ hàng tồn kho, sản xuất, giao hàng và môi trường việc làm
Chỉ số PMI cao hơn 50 cho thấy khu vực sản xuất đang mở rộng, chỉ số thấp hơn 50 chứng tỏ khu vực sản xuất đang thu hẹp lại
Nguồn: Investopedia, truy cập tại địa chỉ http://www.investopedia.com/terms/p/pmi.asp#axzz1pAaePIGD
Trang 33Biểu đồ 2.1 Chỉ số PMI của BRICs và các nước khác
Nguồn: Goldman Sachs
Nhờ sự phục hồi nhanh chóng này nên trong khi các nền kinh tế phát triển đang gặp khó khăn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các nền kinh tế mới nổi thuộc khối BRICs có tốc độ tăng trưởng khả quan, trong các năm 2008 và 2009, GDP toàn khối BRICs luôn đạt tăng trưởng dương
Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng trung bình của khối BRICs từ 2007 – 2011
Đơn vị: %
Nguồn: WB và IMF Chính nhờ sự phục hồi nhanh chóng và mạnh mẽ của mình, cộng với sự suy yếu của các nền kinh tế phát triển, đóng góp của BRICs vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu đã tăng mạnh lên trên 50% Mức đóng góp này cao gần gấp 2 lần so với giai đoạn 2000-2007 khi trung bình đóng góp của BRICs vào tăng trưởng hàng năm của kinh tế thế giới chỉ ở mức 27%21
21
Goldman Sachs, 2011, BRICs remains in the fast lane, trang 2
Trang 34Biểu đồ 2.2 Đóng góp của các nền kinh tế vào tăng trưởng GDP toàn cầu
Nguồn: Goldman Sachs
Như biểu đồ cho thấy, vai trò của các nền kinh tế công nghiệp phát triển trong việc dẫn dắt nền kinh tế toàn cầu đã sụt giảm nghiêm trọng trong giai đoạn khủng hoảng, thậm chí còn kéo tụt sự phát triển của kinh tế thế giới khi các nền kinh tế này tăng trưởng âm trong năm 2009 Các nền kinh tế mới nổi khác (không tính BRICs) cũng có những đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế thế giới, tuy vậy, do quy mô các nền kinh tế này không lớn nên đóng góp vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu chưa nhiều Vì vậy, vai trò đầu tầu tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu thuộc về khối BRICs do khối này duy trì được đà tăng trưởng cao và có quy mô kinh tế đủ lớn Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh còn cho rằng chất lượng và khả năng bền bỉ của tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu phụ thuộc vào việc các nền kinh
Tìm hiểu sâu hơn, ta có thể thấy động lực đã giúp các nước BRICs có thể tăng trưởng mạnh như vậy trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái chính là cầu tiêu dùng của thị trường nội địa các nước này Theo tính toán của ngân hàng Goldman Sachs, trong 2 năm 2008 và 2009, nhu cầu tiêu dùng nội địa chính là
22 Báo Vietnamplus, BRICS đang khẳng định vị thế trên bàn cờ quốc tế, truy cập lúc 16:01 ngày 23/1/2012
tại địa chỉ
http://www.vietnamplus.vn/Home/BRICS-dang-khang-dinh-vi-the-tren-ban-co-quoc-te/20114/85595.vnplus
Trang 35thành tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng GDP của các nền kinh tế thuộc khối BRICs23
Biểu đồ 2.3 Đóng góp của cầu nội địa vào tăng trưởng GDP thực tế trong 2 năm 2008 và 2009 của một số nước
Nguồn: Goldman Sachs
Do đó, các nền kinh tế BRICs ngày càng ít phải phụ thuộc vào xuất khẩu để tăng trưởng kinh tế Bất chấp việc xuất khẩu sụt giảm 25%, nền kinh tế Trung Quốc
của Brazil, Ấn Độ và Nga trong 2 năm 2008 và 2009 cũng ở mức thấp, thậm chí còn đóng góp âm vào tăng trưởng GDP thực tế (như thể hiện trong biểu đồ)
Để làm rõ hơn vai trò của thị trường nội địa trong việc duy trì đà tăng trưởng, chúng ta nghiên cứu kỹ hơn về các nền kinh tế trong khối BRICs Ngay trong khối này, không phải tất cả các nền kinh tế đều chống chọi với khủng hoảng như nhau Trong khi Trung Quốc và Ấn Độ vẫn duy trì được tốc độ phát triển khá cao nhờ vào thị trường nội địa rộng lớn, Nga là nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng
23 Goldman Sachs, 2009, Global Economics Paper No 192: The Long-term Outlook for the BRICs and N-11
Post Crisis, trang 9
24 IMF, BRICs drive global economic recovery, truy cập lúc 19:58 ngày 14/3/2012 tại địa chỉ
http://www.imf.org/external/pubs/ft/survey/so/2009/rea072209a.htm
Trang 36Bảng 2.4 Tăng trưởng GDP của các nước khối BRICs từ 2008-2011
Nguồn: tác giả lập dựa trên số liệu của WB và IMF
Kinh tế Nga chịu tác động nặng nề nhất do nước này phụ thuộc nghiêm trọng vào xuất khẩu tài nguyên năng lượng Giá dầu quốc tế tụt giảm mạnh từ mức 147USD/thùng hồi tháng 7/2008 xuống còn hơn 30USD/thùng vào tháng 12/2008 khiến thặng dự thương mại Nga cũng giảm theo Kinh tế Nga điêu đứng và đương đầu với nhiều thử thách Nước này bị khủng hoảng tài chính trong năm 2008 với giá chứng khoán sụt giảm mạnh, đồng Rúp mất giá, một số ngân hàng bị đổ vỡ Kinh tế Brazil cũng bị suy thoái nhẹ do nước này cũng phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu
2.2 Là nơi cung cấp tín dụng quan trọng cho Mỹ, châu Âu, IMF khắc phục khủng hoảng tài chính
Khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, các nền kinh tế phát triển suy thoái nặng nề, tăng trưởng kinh tế ở mức âm Trong khi cầu tiêu dùng nội địa sụt giảm nghiêm trọng, để duy trì GDP và tránh để nền kinh tế trượt sâu hơn vào suy thoái, chính phủ các nước phát triển đã phải triển khai các chương trình kích thích kinh tế
vô cùng tốn kém
- Các chương trình kích thích kinh tế của Mỹ:
Ngày 13/2/2008, Tổng thống Mỹ Bush đã ký ban hành đạo luật Kích thích Kinh tế năm 2008, đạo luật này cho phép chính phủ Mỹ áp dụng chương trình kích cầu tổng hợp trị giá 168 tỷ USD chủ yếu dưới hình thức hoàn thuế thu nhập cá nhân25
25 AFP, Bush signs economic stimulus package, truy cập lúc 8:53' ngày 16/3/2012 tại địa chỉ
http://afp.google.com/article/ALeqM5j0JeV2tycpeHWizSFX_aAZ6n_WMg
Trang 37Trước tình hình khủng hoảng tài chính vẫn diễn biến nghiêm trọng, sau khi được Thượng viện và Hạ viện Mỹ thông qua, ngày 3/10/2008 Tổng thống Bush đã
Sau khi trúng cử, ngày 17/2/2009, Tổng thống Obama cũng đã ký ban hành đạo luật Tái đầu tư và Phục hồi nước Mỹ Đạo luật này cho phép chính phủ Mỹ thực hiện gói kích thích kinh tế thứ hai trị giá 787 tỷ USD27
- Các gói kích thích, cứu trợ của châu Âu:
Ngày 26/11/2008, Ủy ban châu Âu công bố kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 200 tỷ Euro, tương đương 259 tỷ USD, để kích thích tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm Kế hoạch này sau đó đã được các nhà lãnh đạo châu Âu thông qua tại hội nghị thượng đỉnh EU vào tháng 12/2008 Trong 200 tỷ Euro, có 30 tỷ Euro là từ ngân sách của Ủy ban châu Âu, số còn lại 170 tỷ Euro là từ nguồn ngân sách của các nước thành viên28
Bên cạnh chương trình kích thích kinh tế, châu Âu còn phải triển khai các chương trình cứu trợ đối với các quốc gia chìm trong nợ nần: Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha
Tháng 5/2010, EU và IMF đã nhất trí chi 110 tỷ Euro, tương đương 146 tỷ USD, để ngăn chặn khả năng vỡ nợ của Hy Lạp Trong đó, đóng góp của các thành
tỷ USD cho Hy Lạp, trong đó có hơn 53 tỷ USD là của các ngân hàng và nhà đầu
http://www.msnbc.msn.com/id/26987291/ns/business-stocks_and_economy/t/bush-signs-billion-financial-27 MSNBC, Obama: Stimulus lets Americans claim destiny, truy cập lúc 9:38 ngày 16/3/2012 tại địa chỉ
destiny/#.T2KntcVmKjU
http://www.msnbc.msn.com/id/29231790/ns/politics-white_house/t/obama-stimulus-lets-americans-claim-28 Thanh niên, EU chi 200 tỷ Euro kích thích kinh tế, truy cập lúc 16:55 ngày 16/3/2012 tại địa chỉ
Trang 38http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/quoc-te/2011/07/chau-au-thong-qua-goi-cuu-tro-155-ty-usd-cho-Tháng 11/2010, châu Âu cũng phải thông qua gói cứu trợ tài chính cho Ireland với tổng giá trị 85 tỷ Euro, tương đương 113 tỷ USD Trong đó, 22,5 tỉ Euro đến từ IMF, 45 tỉ Euro đến từ EU và Anh và 17,5 tỉ euro còn lại do chính phủ Ireland đóng góp31
Tháng 5/2011, châu Âu tiếp tục phải thông qua chương trình cho vay khẩn cấp trị giá 78 tỷ Euro, tương đương 110,8 tỷ USD, cho Bồ Đào Nha nhằm ngăn chặn cuộc khủng hoảng nợ công lan rộng Trong gói cứu trợ này, 2/3 giá trị do IMF cung cáp, 1/3 còn lại do châu Âu tài trợ32
Ngày 30/3/2012, các Bộ trưởng tài chính thuộc Eurozone đã đạt được thỏa thuận nâng quy mô quỹ cứu trợ chống khủng hoảng nợ lên hơn 1.000 tỷ USD Sau một hội nghị quan trọng ở Copenhagen, Đan Mạch, Bộ trưởng Tài chính Áo Maria Fekter thông báo đã đạt được thỏa thuận nâng quỹ cứu trợ của khu vực Eurozone lên "tổng cộng hơn 800 tỷ ero” (1.067 tỷ USD) Bà Fekter cho biết 800 tỷ euro nói trên bao gồm 500 tỷ từ quỹ Cơ chế Bình ổn châu Âu, sẽ có hiệu lực từ tháng 7/2012, cùng 200 tỷ thuộc các khoản vay đã cam kết, và 100 tỷ là các khoản vay
Do tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế các nước rơi vào suy thoái, thu ngân sách của các chính phủ bị thu hẹp Thêm vào đó, chính phủ các nước lại phải triển khai hàng loạt chương trình kích thích, cứu trợ nên gánh nặng nợ công ngày càng tăng cao Các nền kinh tế hàng đầu như Mỹ, Anh, Pháp, Canada đều có tỷ lệ nợ công/GDP ở mức xấp xỉ 100%
Trang 39Bảng 2.5 Nợ công của các nền kinh tế thuộc OECD
Nguồn: Global Finance, Public Debt as percent of GDP 2006-2013, truy cập
lúc 20:32 ngày 16/3/2012 tại địa chỉ database/economic-data/10394-public-debt-by-country.html#axzz1pIXs2kHu
http://www.gfmag.com/tools/global-(OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - Organization for Economic Cooperation and Development)
Trang 40Trong khi đó, trải qua quá trình phát triển kinh tế mạnh mẽ suốt thập kỷ vừa qua, dự trữ ngoại hối của các nước BRICs ngày càng tăng Cả 4 nước thuộc khối BRICs đều thuộc top 10 nền kinh tế có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, tính đến
Nổi trội nhất là Trung Quốc với khoản dự trữ ngoại hối đến cuối năm 2011 đạt 3,2 nghìn tỷ USD, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và lớn gấp 3 lần
dự trữ ngoại hối của Nhật bản - nước có lượng dự trữ ngoại hối nhiều thứ 2 thế giới35
Các mốc quan trọng về tăng dự trữ ngoại hối của Trung Quốc: Tháng 11/1996 đạt mức 100 tỷ USD; năm 2001 vượt mức 200 tỷ USD; tháng 2/2006 Trung Quốc vượt Nhật Bản trở thành nước có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới; tháng 10/2006 vượt mức 1.000 tỷ USD; tháng 6/2009 vượt mức 2.000 tỷ USD; tháng 3/2011 vượt mức 3.000 tỷ USD Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu ngân hàng thuộc trường đại học Kinh tế tài chính Gua Tian Jiong cho rằng: dự trữ ngoại hối Trung Quốc tăng mạnh trong thời gian qua là do nền kinh tế Trung Quốc phục hồi nhanh sau khủng hoảng, đạt thặng dư thương mại lớn, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh Ngoài ra, tỷ giá đồng nhân dân tệ có xu hướng tăng, chênh lệch lãi suất ngoại tệ trong và ngoài nước lớn nên dòng vốn từ nước ngoài chảy vào Trung Quốc cũng góp phần làm tăng dự trữ ngoại hối36
Các nước Nga, Brazil và Ấn Độ cũng sở hữu lượng dự trữ ngoại hối rất lớn, lần lượt đạt 505,4 tỷ, 355,1 tỷ và 292,8 tỷ USD37
34 Wikipedia, List of countries by foreign-exchange reserves, truy cập lúc 23:17 ngày 17/3/2012 tại địa chỉ
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_foreign-exchange_reserves
35 Vneconomy, Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc giảm lần đầu trong 13 năm, truy cập lúc 21:01 ngày
17/3/2012 tại địa chỉ lan-dau-trong-13-nam.htm
http://vneconomy.vn/2012011709448977P0C99/du-tru-ngoai-hoi-cua-trung-quoc-giam-36
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Biến động dự trữ ngoại hối của các nước, truy cập lúc 22:10 ngày
17/3/2012 tại địa chỉ
http://www.sbv.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3gDFxNLczdTEwMLQ1 dLA09_X
AYNcAQwNzA_2CbEdFAFjmS9E!/?WCM_PORTLET=PC_7_0D497F540O8A70IOVKL3FS1GE5_WC M&WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/sbv_vn/sbv_vn/vn.sbv.research/vn.sbv.research.resear ch/6253ed004689df979d27ddac4c9fd80c
37 Wikipedia, List of countries by foreign-exchange reserves, truy cập lúc 9:43 ngày 12/4/2012 tại địa chỉ
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_foreign_exchange_reserves