Thông thường, các công ty bảo hiểm sẽ bảo hiểm thân tàu thuyền theo điều kiện A, B; bảo hiểm ngư lưới cụ và trang thiết bị đánh bắt hải sản khi bị tổn thất toàn bộ; bảo hiểm rủi ro ô nhi
Trang 1Luận văn
Đề tài “ Bảo hiểm tàu cá tại Việt Nam - thực
trạng và giải pháp”
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG 3
1.1 Cơ sở pháp lý 3
1.2 Quy tắc bảo hiểm tàu cá của các Công ty bảo hiểm 3
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO HIỂM TÀU CÁ TẠI VIỆT NAM 10
2.1 Số lượng tàu cá và tình hình tai nạn tàu cá ở Việt Nam 10
2.2 Tình hình mua bảo hiểm tàu cá của ngư dân 14
2.3 Nguyên nhân của thực trạng trên 16
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM TÀU CÁ Ở VIỆT NAM 23
3.1 Từ phía Nhà nước 23
3.2 Về phía cơ quan đăng kiểm tàu cá 24
3.3 Về phía công ty bảo hiểm 26
3.4 Về phía ngư dân 27
KẾT LUẬN 29
Danh mục tài liệu tham khảo 30
Trang 3MỞ ĐẦU
Nghề đánh bắt cá, đánh bắt thủy hải sản vốn là nghề có ý nghĩa sống còn với ngư dân vùng biển –một nghề mà đặc thù rong ruổi có khi hàng tháng trời trên biển mỗi mẻ lưới vốn mang lại nhiều rủi ro Chính vì thế mà nghiệp vụ bảo hiểm tàu cá vốn đã tồn tại rất lâu ở Việt Nam ngày càng được quan tâm nhiều hơn bởi ngư dân, các tổ chức, nhà nước
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm thì đây có lẽ sẽ mà một lĩnh vực rất tiềm năng, nhất là đối với một nước có đường bờ biển dài trên 3.000km như Việt Nam Đối với ngư dân mà nói, thiệt hại phải gánh chịu quá nhiều- rất cần được bảo hiểm Đối với nhà nước, phát triển bảo hiểm tàu cá sẽ góp phần đảm bảo an ninh tài chính cho ngư dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội
Thế nhưng việc bảo hiểm tàu cá lại gặp phải những khó khăn nhất định như : hầu hết các ngư dân đều có trình độ thấp, nhận thức hạn chế, và đối với bảo hiểm tàu cá nhiều ngư dân còn e dè, vì không hiểu rõ, khi đặt bút ký không đọc hết các điều kiện bảo hiểm; các doanh nghiệp bảo hiểm cũng lung túng trước các tình huống ngư dân không đáp ứng được điều kiện bảo hiểm , khiến cho việc thi hành hợp đồng bảo hiểm kéo dài,… đều là những khó khăn khiến nghiệp vụ bảo hiểm tàu cá dường như chìm lắng, thiếu sôi động ở Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của bảo hiểm tàu cá, nhóm chúng em đã
chọn đề tài “ Bảo hiểm tàu cá tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp” nhằm
góp phần ứng dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, tìm ra giải pháp nhằm phát triển thị trường tiềm năng này
Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp luận Mác-Lênin, các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: tổng hợp, so sánh… và được chia thành 3 chương:
Chương 1 Lý luận chung
Chương 2 Thực trạng bảo hiểm tàu cá tại Việt Nam
Trang 4Chương 3 Giải pháp phát triển bảo hiểm tàu cá ở Việt Nam
Do tính chất phức tạp của vấn đề cùng với kiến thức thực tế còn hạn chế nên trong quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót, nhóm nghiên cứu rất mong duợc sự góp ý của quý thầy cô giáo cùng bạn đọc để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn
Qua đây nhóm nghiên cứu cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo, Tiến sĩ Trịnh Thị Thu Hương đã hướng dẫn tận tình để chúng em có thể hoàn thành tốt đề tài được giao
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm tiểu luận
Trang 5
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Cơ sở pháp lý
Ở Việt Nam, lĩnh vực bảo hiểm tàu cá là một lĩnh vực tồn tại khá lâu, được nhà nước quan tâm, ban hành nhiều văn bản điều chỉnh Nghiệp vụ bảo hiểm tàu cá ở Việt Nam được Nhà nước Việt Nam quy định trong:
- Quy tắc bảo hiểm vật chất và trách nhiệm dân sự đối với tàu thuyền đánh cá do Bộ Tài chính ban hành ngày 8/7/1986
- Quy tắc bảo hiểm thân tàu, trách nhiệm dân sự của chủ tầu đối với tàu , thuyền hoạt động trong vùng nội thủy và lãnh thổ Việt nam do Bộ Tài chính ban hành ngày 2/12/ 1994
- Nghị định số 66/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ về đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản
- Quyết định 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân
1.2 Quy tắc bảo hiểm tàu cá của các Công ty bảo hiểm
Theo các bộ quy tắc bảo hiểm tàu cá do các công ty bảo hiểm ban hành, bảo hiểm tàu cá bao gồm:
- Bảo hiểm thân tàu
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
Hầu hết các điều kiện bảo hiểm thân tàu , bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu cá của các công ty, tập đoàn bảo hiểm tại Việt Nam như Bảo Việt , Bảo Minh, MIC, PIV,… được thiết lập dựa trên Bộ quy tắc QTC 1990 của Bộ Tài chính
Trang 6Thông thường, các công ty bảo hiểm sẽ bảo hiểm thân tàu thuyền theo điều kiện A, B; bảo hiểm ngư lưới cụ và trang thiết bị đánh bắt hải sản khi bị tổn thất toàn bộ; bảo hiểm rủi ro ô nhiễm và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu, cụ thể:
1.2.1 Bảo hiểm thân tàu
Đối tượng bảo hiểm:
- Thân tàu (bao gồm: vỏ tàu, máy tàu, các trang thiết bị hàng hải, máy móc thiết bị dùng để chế biến thủy sản hay nghiên cứu khoa học…);
- Ngư lưới cụ và trang thiết bị đánh bắt thủy sản
Thuật ngữ “Tàu” gồm các loại tàu thuyền dùng để khai thác, chế biến, chuyên chở thủy sản, nghiên cứu khoa học, và tàu thuyền phục vụ trong ngành thủy sản như dùng để tiếp nhiên liệu, lương thực, thực phẩm, kể cả tàu thuyền công tác, kiểm tra…
Điều kiện A: Bảo hiểm mọi rủi ro đối với thân tàu (M.R.R)
Tổn thất toàn bộ hoặc tổn thất bộ phận và những chi phí cần thiết xảy ra đối với thân tàu được bảo hiểm: Đâm va, đắm, mắc cạn, cháy nổ, mất tích, hạn chế tổn thất, đóng góp tổn thất chung….ngoại trừ những rủi ro được loại trừ
a) Tổn thất toàn bộ hoặc tổn thất bộ phận xảy ra đối với thân tàu được bảo hiểm là hậu quả gây ra bởi những nguyên nhân trực tiếp sau đây:
Đâm va với tàu, máy bay, phương tiện vận chuyển trên bờ hoặc dưới nước; Mắc cạn, đâm va vào đá, vật thể ngầm hoặc nổi, trôi hoặc cố định (trừ bom mìn và thủy lôi), cầu, phà, đà, công trình đê đập, kè, cầu cảng; Cháy, nổ ngay trên tàu hoặc ở nơi khác gây tổn thất cho tàu; Vứt bỏ tài sản khỏi tàu để cứu người và/hoặc cứu tàu, tài sản trên tàu trong trường hợp nguy hiểm; Động đất, sụt lở, núi lửa phun, mưa đá hay sét đánh; Bão tố, sóng thần, gió lốc; Mất tích; Cướp biển; Tai nạn xảy ra trong lúc xếp dỡ di chuyển sản phẩm thủy sản,
Trang 7hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu hoặc trong khi tàu đang neo đậu, lên đà, sửa chữa ở xưởng; Nổ nồi hơi, gãy trục cơ hoặc hư hỏng do khuyết tật ngầm gây ra với điều kiện kiểm tra giám định bình thường không thể phát hiện được (nhưng không bồi thường chính bản thân nồi hơi, trục cơ hay những bộ phận khuyết tật gây ra tổn thất cho tàu, trừ trường hợp nồi hơi hay trục cơ bị tổn thất do một trong những hiểm họa được bảo hiểm gây ra)
b) Tổn thất toàn bộ xảy ra đối với thân tàu được bảo hiểm là hậu quả gây ra bởi những nguyên nhân trực tiếp sau đây:
Sơ suất của người sửa chữa với điều kiện người này không phải là người được bảo hiểm; Sơ suất của thuyền trưởng, sĩ quan, thủy thủ, hoa tiêu, ngay cả trong trường hợp những người này là người được bảo hiểm hoặc có cổ phần trên tàu;
c) Những chi phí cần thiết và hợp lý trong việc: Hạn chế tổn thất có thể dẫn đến khiếu nại đòi bồi thường theo Quy tắc bảo hiểm này; Trợ giúp hay cứu
hộ với điều kiện những chi phí này không đòi được từ phía người được trợ giúp, cứu hộ, chi phí tố tụng đã được MIC đồng ý trước; Kiểm tra, giám định hư hại, tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm, đã được sự đồng ý trước của nhân viên bảo hiểm; Đóng góp chi phí tổn thất chung; Kiểm tra đáy tàu sau khi mắc cạn kể cả trong trường hợp không phát hiện được tổn thất
Điều kiện B: Bảo hiểm tổn thất toàn bộ đối với thân tàu (TTTB)
Theo điều kiện này, trừ những trường hợp loại trừ dưới đây Công ty bảo hiểm nhận trách nhiệm bồi thường:
Tổn thất toàn bộ (thực tế và ước tính) đối với thân tàu được bảo hiểm là hậu quả gây ra bởi những nguyên nhân trực tiếp sau đây:
Đâm va với tàu, máy bay, phương tiện vận chuyển trên bờ hoặc dưới nước; Mắc cạn, đâm va vào đá, vật thể ngầm hoặc nổi, trôi hoặc cố định (trừ bom mìn và thủy lôi), cầu, phà, đà, công trình đê đập, kè, cầu cảng; Cháy, nổ ngay trên tàu hoặc ở nơi khác gây tổn thất cho tàu; Động đất, sụt lở, núi lửa
Trang 8phun, mưa đá hay sét đánh; Bão tố, sóng thần, gió lốc; Mất tích; Cướp biển; Tai nạn xảy ra trong lúc xếp dỡ di chuyển sản phẩm hải sản, hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu, hoặc khi tàu đang neo đậu, lên đà, sửa chữa ở xưởng; Sơ suất của người sửa chữa với điều kiện người này không phải là người được bảo hiểm; Sơ suất hay bất cẩn của thuyền trưởng, sĩ quan, thủy thủ, hoa tiêu, ngay cả trong trường hợp những người này là người được bảo hiểm hoặc có cổ phần trên tàu; Những chi phí cần thiết và hợp lý mà chủ tàu phải gánh chịu trong việc hạn chế tổn thất
có thể dẫn đến khiếu nại đòi bồi thường theo Quy tắc bảo hiểm này
Bảo hiểm ngư lưới cụ
Công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm thêm ngư cụ và trang thiết bị đánh bắt thủy sản mang theo tàu bị mất khi tàu bị tổn thất toàn bộ do những nguyên nhân trực tiếp sau đây: Đâm va với tàu, máy bay, phương tiện vận chuyển trên bờ hoặc dưới nước; Mắc cạn, đâm va vào đá, vật thể ngầm hoặc nổi, trôi hoặc cố định, cầu, phà, đà, công trình đê, đập, kè, cầu cảng; Cháy nổ ngay trên tàu hoặc cháy nổ ở nơi khác gây tổn thất cho tàu; Mất tích, động đất, sụt lở, núi lửa phun; Bão tố, sóng thần, gió lốc, mưa đá hay sét đánh; Tai nạn xảy ra trong lúc xếp dỡ,
di chuyển sản phẩm hải sản, hàng hóa, nguyên, nhiên vật liệu; Sơ suất của thuyền trưởng, sĩ quan, thủy thủ hoặc hoa tiêu ngay cả trong truờng hợp những người này là chủ tàu hoặc có cổ phần trên tàu
Giá trị bảo hiểm:
Giá trị bảo hiểm thân tàu được tính căn cứ vào giá trị thực tế của vỏ, máy móc và các trang thiết bị hàng hải của tàu trên thị trường trong nước hoặc quốc
tế tại thời điểm tham gia bảo hiểm do người được bảo hiểm tự khai báo hoặc theo thoả thuận giữa người được bảo hiểm và công ty bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm ngư lưới cụ và trang thiết bị đánh bắt thủy sản trang bị cho tàu khi đi sản xuất được xác định theo giá trị thực tế do người được bảo hiểm khai báo trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản
1.2.2 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu
Trang 9 Đối tượng bảo hiểm:
- Tất cả những chủ tàu đều có thể tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu cá
Ngoại trừ những trường hợp không thuộc trách nhiệm bảo hiểm loại trừ dưới đây, và không vượt quá giới hạn trách nhiệm đã ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm, với loại hình bảo hiểm này công ty bảo hiểm nhận trách nhiệm bồi thường:
a) Những chi phí thực tế phát sinh từ hoạt động của tàu được bảo hiểm mà chủ tàu phải chịu trách nhiệm theo luật định: Chi phí tẩy rửa lấm bẩn hoặc ô nhiễm dầu, tiền phạt của chính quyền địa phương và các khiếu nại về hậu quả do lấm bẩn hoặc do ô nhiễm dầu gây ra; Chi phí thắp sáng, đánh dấu, phá hủy, trục vớt, di chuyển xác tàu được bảo hiểm bị đắm (theo yêu cầu hoặc qui định của chính quyền địa phương, nếu có); Chi phí cần thiết và hợp lý trong việc ngăn ngừa và hạn chế tổn thất, trợ giúp cứu nạn; Chi phí liên quan tới việc tố tụng, tranh chấp, khiếu nại về trách nhiệm dân sự;
b) Phần trách nhiệm pháp định mà chủ tàu phải gánh chịu do tàu được bảo hiểm gây ra làm: Thiệt hại cầu cảng, đê đập, kè cống, bè mảng, giàn đáy, công trình trên bờ hoặc dưới nước, cố định hoặc di động; Bị thương hoặc thiệt hại tính mạng, tài sản của người thứ ba khác (không phải thuyền viên trên tàu được bảo hiểm)
c) Những chi phí mà chủ tàu phải chịu trách nhiệm bồi thường theo luật định đối với: Thiệt hại về thân thể hoặc các tổn thất vật chất đối với thuyền viên trên tàu được bảo hiểm; Lương và các khoản phụ cấp lương hoặc trợ cấp của thủy thủ đoàn trong trường hợp tàu được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ theo qui định của Luật Lao động
d) Trách nhiệm đâm va: Thiệt hại hư hỏng tàu khác hay tài sản trên tàu ấy; Chậm trễ hay mất thời gian sử dụng tàu khác hay tài sản trên tàu khác ấy; Tổn thất chung, cứu nạn hay cứu hộ theo hợp đồng của tàu khác hay tài sản trên
Trang 10tàu khác ấy; Trục vớt, di chuyển hoặc phá hủy xác tàu khác ấy; Thuyền viên trên tàu khác ấy bị chết hoặc bị thương; Tẩy rửa ô nhiễm do tàu khác ấy gây ra
e) Công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm cả trong trường hợp xếp, dỡ sản phẩm hải sản, hàng hóa hoặc nguyên nhiên vật liệu ở ngoài biển sang tàu khác hoặc từ tàu khác sang tàu được bảo hiểm
Trách nhiệm cao nhất của Công ty bảo hiểm đối với mỗi một vụ tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm là thiệt hại thực tế do tàu được bảo hiểm gây ra mà chủ tàu phải chịu trách nhiệm theo luật pháp hoặc quyết định của tòa án, nhưng trong mọi trường hợp không vượt quá giới hạn trách nhiệm đã ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm
1.2.3 Những loại trừ bảo hiểm chung cho cả bảo hiểm thân tàu cá và bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu cá
a) Công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất xảy ra bởi mọi nguyên nhân kể cả những hiểm họa được bảo hiểm, trong những trường hợp sau đây:
Tàu không đủ khả năng hoạt động, không có giấy phép hoạt động hoặc hoạt động ngoài phạm vi qui định, giấy phép đăng kiểm bị đình chỉ, hết hạn hoặc cho chạy tạm khi đã đến kỳ hạn kiểm tra tàu; Hành động cố ý của người được bảo hiểm hoặc người thừa hành như: Người đại lý, đại diện hoặc thuyền trưởng, sĩ quan hoặc thuyền viên; Vi phạm lệnh cấm do nhà chức trách ban hành, vi phạm nghiêm trọng luật lệ giao thông hoặc hoạt động đánh bắt hải sản trái phép; Thuyền trưởng, máy trưởng không có bằng theo qui định hoặc tai nạn xảy ra do những người này say rượu bia, ma túy hoặc các chất kích thích tương tự khác
a) Công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường nếu tổn thất xảy ra do những nguyên nhân sau:
Cũ kỹ hay hao mòn tự nhiên của vỏ, máy móc hoặc trang thiết bị của tàu, hoặc những tổn thất do rò rỉ tự nhiên không do tai nạn gây ra; Tàu bị nằm cạn
Trang 11bởi ảnh hưởng của thủy triều hoặc con nước lên xuống; Tàu đậu ở bến không được neo cột chắc chắn hoặc thuyền viên trực tàu, bảo quản tàu bỏ tàu đi vắng;
b) Công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với những chi phí có liên quan sau đây, dù những chi phí đó do những hiểm họa được bảo hiểm gây ra:
Chi phí liên quan đến sự chậm trễ hành trình của tàu được bảo hiểm, sản phẩm hải sản, hoặc hàng hóa bị giảm giá trị, mất thị trường hoặc chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh của tàu được bảo hiểm; Mọi chi phí liên quan về: Cạo hà, sơn lườn, hoặc đáy tàu (không bao gồm chi phí làm sạch bề mặt và sơn phần tôn thay thế thuộc trách nhiệm bảo hiểm); Kiểm tra phân cấp lại tàu theo định kỳ; Lương và các khoản phụ cấp lương hoặc trợ cấp của thủy thủ đoàn, trừ trường hợp tổn thất chung; Công tác phí, các chi phí có liên quan của người được bảo hiểm hoặc của người được người được bảo hiểm ủy quyền bỏ ra
để thu thập hồ sơ khiếu nại hay giải quyết sự cố; Tiền cước vận chuyển hoặc tiền cho thuê tàu
d) Công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường mọi hư hỏng, mất mát và tổn thất hoặc những chi phí phát sinh do: Rủi ro chiến tranh hoặc những rủi ro tương tự chiến tranh; Bị cướp, bị bắt giữ tàu tại bất cứ nơi nào vì bất cứ lý do gì; Tàu được trưng dụng hoặc sử dụng vào mục đích quân sự; Hành động phá hoại hoặc khủng bố có tính chất chính trị; Bất cứ vụ nổ của các loại vũ khí hoặc chất nổ nào; Rủi ro nguyên tử
1.2.4 Thời hạn bảo hiểm
Ngư dân có thể chọn 1 trong 2 loại hình bảo hiểm:
Bảo hiểm theo thời hạn: Thời hạn bảo hiểm tính theo dương lịch dài
nhất là 12 tháng, ngắn nhất không dưới 3 tháng Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc theo thời gian ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm
Bảo hiểm theo chuyến: Chuyến đi được bảo hiểm kể từ khi tàu thuyền
tháo gỡ dây chằng cột hoặc nhổ neo để đi đến nơi đánh bắt thuỷ sản và chấm dứt hiệu lực kể từ khi thả neo hoặc được cột vào bờ ở nơi đến ghi trong giấy chứng
Trang 12nhận bảo hiểm hoặc giấy sữa đổi bổ sung theo giấy chứng nhận bảo hiểm đó (nếu
có) Tuy nhiên nếu cần, bảo hiểm có thể kéo dài cho đến khi dỡ xong sản phẩm
đánh bắt được nhưng không quá 10 ngày kề từ ngày tàu thuyền về đến bến
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO HIỂM TÀU CÁ TẠI VIỆT NAM
2.1 Số lượng tàu cá và tình hình tai nạn tàu cá ở Việt Nam
Qua số liệu của các cuộc khảo sát điều tra gần đây, có thể nhận thấy một
thực trạng chung trên toàn quốc là số lượng tàu cá không ngừng gia tăng, số vụ
tai nạn cũng không hề giảm
Với đặc điểm là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đường bờ biển
dài (hơn 3.000 km) nên Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
ngành đánh bắt thủy hải sản
Với việc coi hải sản là một trong những nguồn lợi quan trọng để phát triển
kinh tế, hầu hết các tỉnh ven biển đều có đội tàu cá được đầu tư và tạo điều kiện
phát triển mạnh Chỉ tính đội tàu đánh bắt cá xa bờ của cả nước, từ năm 2000
đến năm 2010 đã tăng gần 3 lần, từ 9.766 tàu năm 2000 lên 25.346 tàu năm
2010 Tổng công suất của các tàu cá này cũng tăng tương ứng từ 1.385.100 CV
năm 2000 lên 4.498.700 CV năm 2010
Bảng 1 Số tàu đánh bắt hải sản xa bờ phân theo địa phương (nguồn:
Tổng cục Thống kê)
Chiếc
Trang 14Bảng 2 Tổng công suất các tàu đánh bắt hải sản xa bờ phân theo địa phương (nguồn: Tổng cục Thống kê)
Trang 15Cùng với sự gia tăng của số lượng tàu cá, số vụ tai nạn tàu cá trên biển ngày càng gia tăng Theo thống kê chưa đầy đủ, tai nạn của tàu cá đang hết sức nhức nhối và hàng năm chiếm hơn 80% tổng số vụ tai nạn trên biển.1
Chỉ riêng năm 2006, ngoài tai nạn do các cơn bão gây ra làm chìm, đắm hàng chục tàu cá, làm chết và mất tích hàng trăm người, làm hàng ngàn tàu bị hư hại do va đập thì theo thông tin tổng hợp từ các địa phương và Ðài thông tin Duyên hải, trên vùng biển Việt Nam đã xảy ra 73 vụ tai nạn với 55 tàu cá và 447 ngư dân.2
1
Báo Quân đội nhân dân, 2008, Báo động đỏ, vn/75/27793/print/Default.aspx , truy cập ngày 1/10/2011
Trang 16http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-Trong năm 2009, nguồn tin tổng hợp từ các địa phương và Đài thông tin duyên hải, dọc vùng biển miền Trung đã xảy ra hơn 120 vụ tai nạn tàu cá làm hư hỏng, đắm chìm 97 tàu cá và hơn 700 ngư dân gặp nạn Trung bình mỗi tháng Đài thông tin duyên hải phải tiếp nhận từ 20 - 25 thông tin cấp cứu từ tàu cá với những sự cố như: hỏng máy, mất liên lạc, vỏ tàu bị phá nước…3
2.2 Tình hình mua bảo hiểm tàu cá của ngư dân
Có thể thấy rằng với tình hình số lượng các vụ tai nạn tàu cá ngày một tăng và khó kiểm soát như trên thì việc mua bảo hiểm cho con tàu của mình là hết sức cần thiết với mỗi ngư dân Tuy nhiên, thực tế cho thấy: Số lượng tàu mua bảo hiểm đang giảm dần
- Thời điểm trước năm 2008, việc tham gia bảo hiểm tàu cá và bảo hiểm thuyền viên là quyền lợi và nghĩa vụ bắt buộc đối với chủ tàu, được quy định tại khoản 4, điều 5 chương II Nghị định số 66/2005/NĐ-CP của Chính phủ Quyền lợi của chủ tàu tham gia bảo hiểm là được Bảo Việt bồi thường các thiệt hại về thân tàu và thuyền viên do các rủi ro, tai nạn gây ra thuộc phạm vi bảo hiểm theo quy tắc bảo hiểm tàu cá của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam và quy tắc bảo hiểm tai nạn thuyền viên của Bộ Tài chính Tuy vậy, việc ngư dân tự bỏ tiền ra mua bảo hiểm là rất hiếm
Ví dụ, trong năm 2005, toàn tỉnh Phú Yên chỉ có 312 tàu tham gia bảo hiểm, đạt 8% tổng số tàu trong tỉnh và chỉ có khoảng 24% trong tổng số khoảng 20.000 thuyền viên cũng tham gia đóng bảo hiểm Có thể nói, chủ tàu tham gia bảo hiểm tàu cá còn hạn chế, số lượng thuyền viên được bảo hiểm rất thấp 4
- Thời điểm ngay sau khi Chính phủ ban hành Quyết định 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân, các chủ tàu thuyền đổ xô đi mua bảo hiểm
3 Báo Công an nhân dân, 2010, Miền Trung: Cảnh báo tai nạn tàu cá trên biển,
http://ca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=169019 , truy cập ngày 1/10/2011
4
Báo Phú Yên, 2006, Tàu cá và thuyền viên đánh bắt xa bờ buộc phải mua bảo hiểm,