1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tư tưởng của fukuzawa yukichi về vấn đề công dân nội dung đặc điểm và ý nghĩa lịch sử

137 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về Vấn đề Công dân - Nội dung, Đặc điểm và Ý nghĩa Lịch sử
Tác giả Đỗ Thị Thùy Dung
Người hướng dẫn PGS. TS. Cao Xuân Long
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài (9)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (22)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (22)
  • 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu (23)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (23)
  • 7. Kết cấu nội dung (23)
  • Chương 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA FUKUZAWA YUKICHI VỀ VẤN ĐỀ CÔNG DÂN (24)
    • 1.1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA (24)
      • 1.1.1. Điều kiện lịch sử - xã hội của thế giới thế kỷ XIX hình thành tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân (24)
      • 1.1.2. Điều kiện lịch sử - xã hội của Nhật Bản thế kỷ XIX hình thành tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân (28)
    • 1.2. TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA FUKUZAWA (48)
      • 1.2.1. Tư tưởng Nho giáo hình thành tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân (48)
      • 1.2.2. Tư tưởng khai sáng phương Tây hình thành tư tưởng của Fukuzawa (55)
      • 1.3.1. Năng lực học tập của Fukuzawa Yukichi hình thành tư tưởng về vấn đề công dân (66)
      • 1.3.2. Tính cách của Fukuzawa Yukichi hình thành tư tưởng về vấn đề công dân (70)
  • Chương 2: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG CỦA FUKUZAWA YUKICHI VỀ VẤN ĐỀ CÔNG DÂN 67 2.1. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA FUKUZAWA YUKICHI VỀ VẤN ĐỀ CÔNG DÂN (73)
    • 2.1.1. Khái niệm “công dân” (73)
    • 2.1.2. Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về mối quan hệ giữa công dân với nhà nước (80)
    • 2.1.3. Vai trò và phát huy vai trò của công dân đối với sự phát triển đất nước88 2.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CỦA FUKUZAWA (94)
    • 2.2.1. Đặc điểm tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân (111)
    • 2.2.2. Ý nghĩa lịch sử tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân 111 Kết luận chương 2 (117)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (129)
  • PHỤ LỤC (135)

Nội dung

Sống giữa bối cảnh chuyển giao thời đại của thế kỷ XIX, Fukuzawa Yukichi đã phân tích nhiều nội dung then chốt đối với một quốc gia, chẳng hạn như tính bình đẳng, mối quan hệ giữa nhà nư

Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài

Trong các công trình nghiên cứu về tư tưởng của Fukuzawa Yukichi tại Việt Nam, nổi bật hai hướng tiếp cận chính:

Hướng thứ nhất: các công trình nghiên cứu, tìm hiểu sâu về cơ sở lịch sử xã hội, tiền đề lý luận và nhân tố chủ quan đối với sự hình thành tư tưởng của

Fukuzawa Yukichi về công dân, trong đó cũng có nhắc đến một số giá trị tư tưởng của ông nhưng chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu sơ lược

Nhật Bản cận đại của tác giả Vĩnh Sính do nhà xuất bản Lao động xuất bản năm 2014 là công trình nghiên cứu những sự kiện và thành tựu phát triển quan trọng trong lịch sử Nhật Bản từ thế kỷ XVII đến khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai Ở chương V: Minh Trị Duy Tân – giai đoạn I (1868 –

1885), học giả Vĩnh Sính có phân tích những cải cách chính yếu đầu thời

Minh Trị Trong đó, Fukuzawa Yukichi được khẳng định là nhân vật có công lao lớn nhất đối với việc định hình nền giáo dục Nhật Bản hiện đại thông qua những đóng góp như xây dựng trường học, đào tạo ra các chính trị gia tài năng, viết sách, biên tập tạp chí

Tác phẩm "Duy tân thập kiệt" của Nguyễn Tiến Lực (2018) tập trung phân tích mười nhân vật chủ chốt góp phần vào thành công của Minh Trị Duy tân, trong đó Chương 9 dành riêng cho Fukuzawa Yukichi Tác phẩm giới thiệu tiểu sử và tư tưởng khai sáng của Fukuzawa, bao gồm: trọng vọng văn minh, tinh thần tự tôn độc lập, chủ quyền dân quyền, thương mại lập quốc và đề cao giáo dục "thực học".

Tác phẩm Fukuzawa and the making of the modern world của tác giả Alan Màcarlane viết vào năm 2002 được Phạm Thúy Ngân chuyển ngữ, nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2017 dưới tiêu đề Fukuzawa

Yukichi và công cuộc kiến thiết thế giới hiện đại đã phân tích khá chi tiết về cuộc đời và những đóng góp quan trọng của Fukuzawa Yukichi Tư tưởng nêu trong tác phẩm trải trên các vấn đề như văn minh, Tây học, tự do, bình đẳng, gia đình… Công trình này giúp mang lại một cái nhìn tổng quát về nhân vật Fukuzawa Yukichi và đóng góp của ông đối với nước Nhật lúc bấy giờ

Năm 2011, Masako N Racel thuộc Khoa Lịch sử, Đại học Georgia State (Hoa Kỳ) đã thực hiện luận án triết học đề tài Finding their Place in the

World: Meiji Intellectuals and the Japanese Construction of an East-West Binary, 1868-1912 (tạm dịch: Định vị bản thân trên thế giới: Trí thức Minh Trị và công cuộc xây dựng nhị nguyên Đông-Tây Nhật Bản, 1868-1912)

Luận án này nghiên cứu về năm nhân vật nổi bật thời Minh Trị trong việc tiếp thu văn minh và định vị chính mình trước hai làn sóng đông và tây ở giai đoạn cải cách mở cửa của Nhật Bản cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Fukuzawa Yukichi là một trong năm nhà tư tưởng được nghiên cứu trong luận án và được xem như người “dẫn nhập vào văn minh” Trong luận án, tác giả Masako N Racel nhắc đến công lao của Fukuzawa qua việc chuyển các thuật ngữ như “văn minh”, “dã man”, “lục địa”… sang tiếng Nhật, đưa ra những khái niệm phân biệt phương Đông và phương Tây về mặt địa lý lẫn mặt văn minh Tác giả luận án chú ý đến cách phân biệt trình độ các dân tộc thành dã man, bán khai và văn minh, cũng như cách Fukuzawa sắp xếp các quốc gia xung quanh vào cấp bậc ấy Song song đó, luận án còn chỉ ra thái độ của Fukuzawa Yukichi đối với cách vận hành nhà nước, quản lý người dân, đó là tinh thần đề cao tính tự do, tự chủ và đồng thời phê phán mạnh mẽ những lý luận vốn có đang kìm hãm sự phát triển của mỗi cá nhân

Tạp chí Prospects: The quarterly review of comparative education năm 1993 số XXIII, quyển 3/4 có bài viết của Nishikawa Shunsaku giới thiệu về Fukuzawa Yukichi, cuộc đời và tư tưởng giáo dục khai phóng của ông Bài viết nêu những dấu ấn trong cuộc đời Fukuzawa như thời thơ ấu, sự kiện sang nước ngoài tiếp thu văn minh phương Tây Hai tác phẩm tiêu biểu được nhắc đến là Khuyến học và Bàn về văn minh cùng quá trình điều hành trường học khai phóng Bài viết kết luận Fukuzawa không chỉ là thầy của những học trò mà còn là người thầy của cả dân tộc Nhật Bản, là nhà giáo dục với tư tưởng vẫn có giá trị đến ngày nay.

Hướng thứ hai: nghiên cứu những nội dung, đặc điểm, giá trị và ý nghĩa trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi trên một số lĩnh vực nhất định

Năm 1958, Carmen Blacker có bài báo tiêu đề Fukuzawa Yukichi on Family Relationships (tạm dịch: Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về quan hệ gia đình) đăng trên Tạp chí Monumenta Nipponica, quyển 14, số 1/2 Bài báo này tập trung vào những quan niệm của Fukuzawa Yukichi trước các mối quan hệ gia đình như cha mẹ-con cái, vợ-chồng Bài báo đưa ra so sánh giữa quan hệ gia đình truyền thống có trong xã hội Nho giáo Nhật Bản, sau đó nêu lên thái độ của Fukuzawa Yukichi trước những tục lệ vốn có Cụ thể, đối với mối quan hệ cha mẹ-con cái, Fukuzawa Yukichi không đồng tình với cách nghĩ rằng cha mẹ vì đã có công sinh thành mà có toàn quyền sở hữu và quyết định đối với con cái Ông giới hạn lại quyền hạn của cha mẹ, cho rằng cha mẹ cần tôn trọng con cái bởi cha mẹ và con cái cũng là một mối quan hệ xã hội dân sự nên phải tuân theo các nguyên tắc của xã hội dân sự Ở mối quan hệ vợ chồng, Fukuzawa nêu lên tính bình đẳng Ông phản đối mạnh mẽ sự áp đặt và những quy tắc mà xã hội dành cho phụ nữ Ông cho rằng người phụ nữ/người vợ cũng phải có những quyền hạn ngang bằng với nam giới/người chồng Giữa phụ nữ và nam giới nên là mối quan hệ cởi mở thay vì là những tục lệ ngăn cấm sự thân mật Chỉ khi phá vỡ được những lối suy nghĩ lạc hậu trong mối quan hệ gia đình, các cá nhân mới có thể phát triển tự do, xã hội mới có thể tiến bộ Năm 1982, tác giả Iida Kanae (飯田鼎) công bố trên Tạp chí Kinh tế Keio (三田学会雑誌) quyển 75, số 3 (1982.6), trang 283(55)-297(69) bài nghiên cứu 福沢諭吉における民権とナショナリズムの形成:『西洋事

情』と『学問のすすめ』を中心に (tạm dịch: Sự hình thành tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về dân quyền và chủ nghĩa dân tộc trong hai tác phẩm:

“Tây dương sự tình” và “Khuyến học” Bài nghiên cứu nhằm phân tích sự chuyển biến và phát triển của tư tưởng Fukuzawa Yukichi về dân quyền và chủ nghĩa dân tộc, cũng như chỉ ra mối liên hệ giữa hai vấn đề này Trong đó, tác giả Iida chia tư tưởng của Fukuzawa Yukichi thành hai giai đoạn gắn với từng trước tác: (1) giai đoạn đầu gắn với tác phẩm Tây dương sự tình: chính phủ Minh Trị chưa được thành lập, chính trị rơi vào khủng hoảng, giới trí thức còn mơ hồ về hình mẫu chính trị tương lai và (2) giai đoạn sau đó gắn với tác phẩm Khuyến học: chính phủ Minh Trị mở ra một thời đại mới, xây dựng một đất nước hiện đại Ở giai đoạn đầu, Fukuzawa chủ yếu khảo sát lịch sử xã hội, chính trị của các quốc gia phương Tây phát triển Thông qua đó, ông đã giới thiệu đến người dân Nhật Bản – lúc bấy giờ vẫn còn trong tình trạng phong kiến lạc hậu – những khái niệm đầu tiên về tự do và quyền cá nhân Giữa sự mơ hồ mất định hướng, việc tiếp cận với tri thức kinh tế, chính trị, pháp luật phương Tây đã mở ra cho ông ý tưởng về một nhà nước dân chủ hiện đại, có sự kiểm soát của Hội đồng nhân dân, vận hành bằng pháp luật và hệ thống thuế quan Đến giai đoạn sau, khi nhà nước Minh Trị ra đời và áp dụng những lý thuyết chính trị phương Tây vào thực tiễn Nhật Bản, Fukuzawa Yukichi tiếp tục làm rõ và củng cố tư tưởng về dân quyền Trong đó, ông nhấn mạnh vào quyền tự do cá nhân, sự độc lập của cá nhân trước chính quyền cai trị, quyền và nghĩa vụ đấu tranh của mỗi công dân nhằm bảo vệ tính tự do chính đáng của mình Bằng sự khảo sát chuyển biến tư tưởng trong hai tác phẩm đại diện cho hai giai đoạn tư tưởng như thế, bài nghiên cứu của Iida đã cho thấy bối cảnh xã hội và đặc trưng của tư tưởng Fukuzawa Yukichi về vấn đề quyền công dân và chủ nghĩa dân tộc, qua đó cũng thấy được một số quan điểm nổi bật của Fukuzawa về công dân trong một nhà nước hiện đại

Cũng trên Tạp chí Kinh tế Keio, ở quyển 78, số 6 (1986.2), trang 668(20)-684(36), Iida Kanae vào năm 1986 tiếp tục có bài nghiên cứu với tiêu đề 福沢

Fukuzawa Yukichi, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản nửa sau thế kỷ XIX, đã đóng góp to lớn cho quá trình Duy Tân Minh Trị, đưa nước Nhật thoát khỏi tình trạng lạc hậu, vươn lên trở thành quốc gia hiện đại Trong tác phẩm "Cải cách dân tình", Fukuzawa đã thể hiện quan điểm sâu sắc về văn minh, cho rằng văn minh thực sự không nằm ở sự phồn vinh vật chất mà cốt lõi nằm ở sự tiến bộ về mặt trí tuệ, đạo đức và tinh thần độc lập.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận văn trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử Về phương pháp luận, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như lịch sử-logic, diễn dịch-quy nạp, phân tích-tổng hợp.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử trong quan điểm của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân sẽ góp phần làm rõ hệ thống lý luận của nhà tư tưởng này, đồng thời giúp hiểu được phần nào những tư tưởng nền tảng của Nhật Bản trong việc xây dựng một nhà nước châu Á hiện đại Ý nghĩa thực tiễn:

Những ý nghĩa mà nội dung luận văn rút ra có thể là bài học bổ ích cho quá trình phát triển đất nước Việt Nam Luận văn có thể làm tài liệu cho những ai quan tâm về lịch sử tư tưởng Nhật Bản giai đoạn thế kỷ XIX.

Kết cấu nội dung

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn bao gồm 2 chương, 5 tiết:

Chương 1: Điều kiện lịch sử - xã hội và tiền đề lý luận hình thành tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân

Chương 2: Nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân

ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA FUKUZAWA YUKICHI VỀ VẤN ĐỀ CÔNG DÂN

ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội của thế giới thế kỷ XIX hình thành tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân

Vào đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển rực rỡ và chiếm địa vị thống trị tại phương Tây Chế độ quý tộc phong kiến nay phải nhường bước cho sự lên ngôi của giai cấp tư sản mới nổi Các cuộc cách mạng tư sản ở Hà Lan, Anh, Mỹ… diễn ra vào thế kỷ trước đó đã làm thay đổi toàn bộ các mối quan hệ xã hội phương Tây Nước Anh vươn lên vị trí đứng đầu trong nền kinh tế thế giới nhờ vào các phát minh khoa học kỹ thuật Công nghiệp thay thế nông nghiệp ở vai trò kinh tế mũi nhọn Các ngành công nghiệp nặng như luyện kim, cơ khí, đường sắt phát triển mạnh mẽ, tăng cường khả năng đi lại, vận chuyển và quân sự của các quốc gia tư bản Tiếp sau Anh, nước Pháp cũng vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Nước Mỹ giai đoạn này cũng đã hoàn thành công cuộc giành độc lập thoát khỏi sự cai trị của Anh, từ đó có thêm điều kiện để phát triển kinh tế theo hình thái tư bản chủ nghĩa và đạt những thành tựu nhất định trong ngành dệt, luyện kim, công nghiệp nặng và đường sắt

Cách mạng tư sản dù chỉ diễn ra ở một số nước châu Âu và châu Mỹ nhưng lúc bấy giờ, trong mỗi nền kinh tế châu Âu đều đã xuất hiện những nhân tố của chủ nghĩa tư bản Nước Đức vẫn chịu sự thống trị của chính quyền phong kiến, thế nhưng quan hệ tư bản chủ nghĩa cũng đã hình thành và phát triển mạnh tại một số khu vực nhất định, phần nào giải phóng nhân dân khỏi quan hệ phong kiến Từ đầu thế kỷ XIX, Đức có những công trường thủ công đầu tiên cùng với những tiến bộ vượt bậc trong ngành vận tải và giao thông hàng hải, xuất hiện tàu hơi nước và đường sắt Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế tư bản Đức bị kìm hãm đáng kể bởi hình thái phong kiến Tương tự như Đức, Ý và Áo cũng vẫn còn tồn tại chế độ phong kiến khiến giai cấp tư sản không thể đạt được nhiều thành tựu như ở Anh, Pháp, Mỹ Dù vậy các quốc gia này cũng manh nha hình thành những mô hình sản xuất công nghiệp theo phương thức tư bản, làm biến đổi những mối quan hệ sản xuất và đời sống dù có phần trễ hơn và chậm chạp hơn Nhìn chung, chủ nghĩa tư bản tại châu Âu đã tạo nên được nguồn của cải vật chất to lớn và đa dạng, sản sinh những mối quan hệ mới, nhu cầu mới, cũng như những mâu thuẫn mới (Vũ Dương Ninh & Nguyễn Văn Hồng, 2005)

Sự bùng nổ của chủ nghĩa tư bản lại dẫn tới những bất ổn Năng suất tăng vượt trội, khối lượng hàng hóa sản xuất vượt tổng sản lượng các thời kỳ trước, các nước tư bản nhanh chóng rơi vào khủng hoảng do cung vượt cầu và thiếu hụt nguyên liệu Năm 1825, cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên xảy ra tại Anh, tiếp theo là hàng loạt khủng hoảng theo chu kỳ mười năm Những cuộc khủng hoảng này không chỉ gây tác động lớn đến nền kinh tế Anh mà còn lan rộng khắp châu Âu.

Từ giữa thế kỷ thứ XIX, do hình thái tư bản đã lan rộng và phát triển lớn mạnh tạo nên mâu thuẫn không thể điều hòa giữa giai cấp tư sản và giới quý tộc cầm quyền, hầu hết chế độ phong kiến tại các nước phương Tây đã bị lật đổ và nền chính trị tư bản chủ nghĩa được xác lập Đồng thời, do sức ép ngày càng cao của nhu cầu sản xuất tư bản, các nước phương Tây lần lượt tiến hành những cuộc chiến tranh thực dân nhằm xâm lược và khai thác thuộc địa

Tại Pháp, chính quyền Napoleon III thi hành chính sách thuộc địa với mục đích thu về nguyên liệu và của cải cho giới đại tư sản đang nắm thế lực trong nước Vì muốn tranh giành ảnh hưởng tại khu vực Biển Đen, Pháp đã liên minh với Anh để chống lại Nga, nhờ đó Pháp củng cố thêm sức mạnh đối nội và tăng cường ảnh hưởng đối với nước ngoài Tiếp đó, Pháp còn can thiệp vũ trang vào tình hình chính trị ở các nước lân cận như Ý, Đức, thực hiện chiến tranh xâm lược Algeria, tấn công và buộc Trung Quốc phải ký những hiệp ước bất bình đẳng, sau đó mở rộng cuộc thực dân xuống các nước Đông Nam Á

Nước Anh vốn là quốc gia đi đầu trong làn sóng phát triển công nghiệp tư bản chủ nghĩa nên cũng không thể tránh khỏi sức ép gay gắt từ nhu cầu nguyên liệu và thị trường Nước Anh tìm thấy một thị trường rộng lớn giàu tiềm năng tại Trung Quốc, vì thế đã nỗ lực buộc quốc gia châu Á này mở cửa và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động buôn bán của mình Mâu thuẫn không thể giải quyết, chiến tranh nha phiến nổ ra, Anh và Trung Quốc từ mối quan hệ giao thương đã rơi vào trạng thái chiến tranh xâm lược

Sự thất bại của Trung Quốc trước làn sóng thực dân phương Tây là một tiếng chuông lay động toàn châu Á Giai đoạn tiếp xúc với thế lực và văn minh phương Tây, đại vương triều Trung Quốc đang trong tình trạng suy thoái từ bên trong: giới vua chúa cầm quyền không chăm lo việc chính trị mà sa đà vào hưởng thụ, giới quan lại thì hèn kém bất tài Quân đội tổ chức lỏng lẻo, quan hệ kinh tế lạc hậu, đời sống người dân suy kém, do vậy Trung Quốc khi đứng trước sự đe dọa của phương Tây đã nhanh chóng biến thành miếng bánh cho các cường quốc xâu xé (Đỗ Đức Minh & Võ Thị Hoa, 2019) Nền văn minh vĩ đại của phương Đông nay trở thành một con “hổ giấy”, bị tàn phá nặng nề bởi tệ nạn thuốc phiện mà người phương Tây mang đến, để rồi sau đó phải chịu tình trạng bất bình đẳng trước sức mạnh quân sự phương Tây

Chiến tranh nha phiến đánh dấu sự sụp đổ nền sản xuất phong kiến nhỏ từng một thời tạo nên nền văn minh phương Đông rực rỡ Triều đình phong kiến phải thừa nhận sự thật cay đắng khi "thiên binh thiên tướng" của họ không thể chống đỡ trước súng dài pháo lớn của phương Tây.

Với vị thế cường quốc thống trị, là trung tâm của cả một vùng văn minh, Trung Quốc sụp đổ kéo theo sự sụp đổ niềm tin vào các giá trị cố hữu vốn định hình phương Đông, chẳng hạn như Nho giáo Từ bao đời nay, các lời dạy Nho giáo của Khổng Tử đã ăn sâu vào đời sống văn hóa, đạo đức, hình thành nếp nghĩ cho mọi tầng lớp nhân dân Trung Quốc, cũng như lan rộng ảnh hưởng đến các quốc gia lân cận Nho giáo vốn duy trì trật tự xã hội bằng chủ trương đề cao tính huyết thống, mối quan hệ thân tộc, bạn bè, đề cao thứ bậc trên dưới, gán chức phận và giá trị cho mỗi tầng lớp, đồng thời dùng “mệnh trời” để giải thích các sự kiện, các mối quan hệ trong xã hội: “Chẳng có việc gì xảy ra mà chẳng do mệnh trời Mình nên tùy thuận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy” (Đoàn Trung Còn, 1996, tr.217) Sự bất lực của Nho giáo Trung Quốc dẫn đến thái độ hoài nghi về tính hiển nhiên của hệ thống thứ bậc xã hội này Trong làn sóng hoài nghi đó, Fukuzawa Yukichi đã bác bỏ tính bị động mà thuyết “thiên mệnh” Nho giáo áp vào con người Ông tuyên bố rằng

“nỗ lực có thể thay đổi được mệnh trời”, cho rằng con người không hề bị động và không nên phó thác cuộc đời mình cho một niềm tin vô hình, bởi

“tình trạng giàu, nghèo, mạnh, yếu dứt khoát không phải là do mệnh Trời hoặc là do ý Trời mà ta đành phải cam chịu Mà đó là do con người có nỗ lực hay không chịu nỗ lực mà thôi” (Fukuzawa Yukichi, 2015, tr.51) Do đó, quyền lực và thứ bậc trong xã hội cũng không hề bất biến mà luôn luôn thay đổi tùy theo nỗ lực của chính con người: “nhờ nỗ lực như thế, không biết chừng mới hôm qua còn là kẻ ngu dốt, nhưng ngày mai đã trở thành người tài giỏi; mới hôm qua còn tự vỗ ngực giàu mạnh, nhưng ngày mai trở nên hèn kém” (Fukuzawa Yukichi, 2015, tr.51) Có thể nói, cuộc chiến tranh nha phiến tại Trung Quốc đã giúp Nhật Bản sớm thức tỉnh và ráo riết chuẩn bị cho mình tâm thế và lập trường thái độ trước làn sóng phương Tây

Tóm lại, biến chuyển của thế giới thế kỷ XIX có sự tác động mạnh mẽ đến nhận thức của người dân châu Á nói chung và Nhật Bản nói riêng Sự biến chuyển đã đặt ra câu hỏi về vấn đề công dân – vấn đề mang tính căn bản để cấu thành nên một quốc gia dân tộc

1.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội của Nhật Bản thế kỷ XIX hình thành tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân Điều kiện lịch sử:

Trên tuyến đường biển Thái Bình Dương nối liền giao thương giữa phương Đông và phương Tây, khu vực Đông Bắc Á – trong đó có Nhật Bản – chiếm một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng Đây đóng vai trò là cầu nối cho sự giao thương giữa phương Đông và phương Tây, là cửa ngõ cho các nước phương Tây tiếp cận được với các quốc gia Đông Bắc Á, Đông Nam Á và châu Đại Dương Đồng thời, Đông Bắc Á còn nằm trên tuyến đường giao thương Bắc Nam nối Nga với các quốc gia vùng biển phía Nam Nằm trong khu vực địa chính trị trọng yếu như thế, Nhật Bản hẳn nhiên trở thành mục tiêu trong chính sách đối ngoại của nhiều nước phương Tây

Một số nước tư bản như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp đã đặt chân đến Nhật Bản thông qua các chuyến viễn du tìm tài nguyên và thị trường từ thế kỷ XVI Sự xuất hiện của giới thương nhân và giáo sĩ đã khiến người Nhật mở rộng tầm mắt, thay đổi mọi mặt đời sống xã hội, biến chuyển các hình thức quan hệ kinh tế, văn hóa trước đây của một quốc gia phong kiến Fukuzawa Yukichi mô tả bối cảnh ấy rằng: “Việc giao thương với phương Tây ngày một mở rộng Mọi mối bang giao quốc tế đều ảnh hưởng trực tiếp tới tất cả các lĩnh vực trong nước” (Fukuzawa Yukichi,

2015, tr.82) Sự xuất hiện của người phương Tây tại Nhật Bản ban đầu cho chính quyền Edo nhìn thấy cơ hội phát triển ngoại thương, hiện đại hóa quân bị, xây dựng nước Nhật trở thành một cường quốc kinh tế Thế nhưng đến cuối thế kỷ XVI, người phương Tây tại Nhật bắt đầu đe dọa tính cân bằng thương mại trong nước cũng như dần bộc lộ âm mưu bành trướng chủ nghĩa thực dân Mạc phủ Tokugawa đương trị là chính quyền có công thống nhất quốc gia sau hơn một thế kỷ nội chiến liên miên Ổn định trật tự xã hội là mục tiêu hàng đầu, do vậy Mạc phủ vô cùng lo ngại trước những nguy cơ tiềm ẩn từ người phương Tây và do đó đã thi hành chính sách tỏa quốc nghiêm ngặt

TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA FUKUZAWA

1.2.1 Tư tưởng Nho giáo hình thành tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân

Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân không chỉ xuất hiện từ điều kiện lịch sử-xã hội thế giới và Nhật Bản thế kỷ XIX mà còn được hình thành từ những tiền đề lý luận, trong đó trước hết phải kể đến Nho giáo Nho giáo phát huy rất tốt vai trò ổn định xã hội suốt hàng nghìn năm trong chế độ phong kiến phương Đông và “Nho học thực sự đã là một động lực ổn định và phát triển xã hội” (Nguyễn Tài Thư, 2005, tr.15) Cũng như nhiều quốc gia Á Đông khác, Nho giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị và văn hóa của người dân Nhật Bản Fukuzawa Yukichi nhận định rằng “nếu không có Nho giáo thì nước Nhật đã không đạt đến trình độ văn minh như ngày hôm nay” (Fukuzawa Yukichi, 2019, tr.333) Thế nhưng tính duy tâm về vấn đề con người và chính trị của Nho giáo đã “cản trở sự năng động, sáng tạo trong hoạt động của con người Không khơi dậy sự phát triển của con người để cải tạo và phát triển của xã hội” (Cao Xuân Long & Đinh Thị Kim Lan, 2019, tr.218) Fukuzawa Yukichi nhận thấy rõ mặt hạn chế này, do vậy ông gay gắt chống lại sự áp đặt của Nho giáo lên tinh thần tự do của con người Trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi, Nho giáo vừa cung cấp những khái niệm cho các lập luận, vừa là đối tượng phản biện để từ đó rút ra bản chất của các vấn đề công dân

Phật giáo du nhập vào Nhật Bản một cách chính thức và có hệ thống vào khoảng thế kỷ thứ VI, do công lao của Thái tử Shotoku, người đã ban hành Hiến pháp Thập thất điều để xác lập trật tự xã hội và cách cai trị cho triều đại của mình Trật tự xã hội và đức tính trung hiếu được Thái tử Shotoku đặt làm trọng tâm, coi sự bất kính, bất hòa trong xã hội là do thiếu hiểu biết về đạo lý Thuyết tôn ty trật tự trong việc điều hòa xã hội này tiếp tục được vận dụng xuyên suốt các thời đại phong kiến Nhật Bản, ngay cả trong thời kỳ Chiến quốc hỗn loạn Đến thời Mạc phủ Tokugawa, Nho giáo trở thành học thuyết chính thức, là công cụ đảm bảo cho sự tập quyền của gia tộc Tokugawa.

Thiên Ân, 2018) Với truyền thống Nho giáo lâu đời và sâu đậm như thế, các khái niệm Nho giáo chi phối khá nhiều trong lối suy nghĩ của giới học giả Nhật Bản bất kể họ có phải là người đề cao trường phái tư tưởng này hay không

Thuyết thiên mệnh mà Khổng Tử khởi xướng là một trong những tư tưởng ảnh hưởng xuyên suốt lên xã hội Nhật Bản Lịch sử Nhật Bản từ thời cổ đại đã khẳng định quyền lực tuyệt đối và hiển nhiên của dòng dõi Thiên hoàng – người đứng đầu trên danh nghĩa của quốc gia Nhật Bản Thuyết thiên mệnh giúp củng cố và hợp lý hóa vai trò thống trị của Thiên hoàng Theo đó, trong truyền thống của dân tộc Nhật Bản, Thiên hoàng là người nắm quyền thống trị hiển nhiên, tách biệt với dân chúng do có nguồn gốc thần thánh Thiên hoàng có quyền thay đổi luật pháp, phân chia quyền lực trong nước Tuy nhiên cũng có những thời kỳ quyền lực Thiên hoàng gần như chỉ còn là danh nghĩa, còn trên thực tế, quyền lực nằm ở thế lực nhiếp chính gọi là Mạc phủ với chức vị đứng đầu là Chinh di Đại tướng quân (Shogun) Thế nhưng dù quyền lực có chuyển đổi thế nào thì các gia tộc Mạc phủ vẫn giữ lòng tôn kính đối với hoàng tộc, danh nghĩa đứng đầu dân tộc của Thiên hoàng là xuyên suốt không thay đổi kể từ thời lập quốc Lòng tôn kính và niềm tin vào nguồn gốc thần thánh này khiến giới quý tộc và giới bình dân trở thành hai bộ phận tách biệt trong suy nghĩ của người Nhật Bản Do vậy, khi bàn đến thành phần dân chúng hay bản chất của trật tự xã hội, các học giả phong kiến Nhật Bản hầu như chỉ nói về giới bình dân, tức những người lao động tạo ra của cải Sự cai trị của giới quý tộc, mối quan hệ giữa tầng lớp cai trị với quần chúng nhân dân không khiến giới học giả bận tâm nhiều

Thuyết chính danh, tu thân, tam cương ngũ thường là nền tảng tư tưởng của chế độ phong kiến Nhật Bản, kêu gọi người dân sống an phận, kìm nén ham muốn cá nhân Những luận thuyết này được giai cấp thống trị sử dụng triệt để, dẫn đến hậu quả người dân bị áp bức, kìm hãm sự phát triển của xã hội.

“Luận thuyết về lịch sử xã hội của Chu Hy đã trở thành căn cứ lý luận để giai cấp thống trị lợi dụng nô dịch quần chúng nhân dân lao động, trói chặt họ vào những giáo điều đạo đức luân lý phong kiến hết sức khắt khe, nhằm bóp nghẹt những yêu cầu về đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của họ, hòng duy trì vĩnh viễn chế độ phong kiến đương thời.” (Doãn Chính, 2012, tr.543)

Thời kỳ Tokugawa, dân chúng được chia thành các đẳng cấp riêng biệt và có những quy định rõ ràng về phong cách sinh hoạt, giáo dục ở từng đẳng cấp Thuyết chính danh cho rằng mỗi cá nhân đều có một vai trò nhất định trong xã hội và cần phải tuân theo đúng những quy tắc, đặc tính, bổn phận của vai trò đó Trong mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị, các học thuyết Nho giáo này phân định rạch ròi ranh giới và đặt ra những nguyên tắc khiến toàn thể dân chúng đều phải tuân theo Fukuzawa Yukichi chỉ ra rằng:

““Xuất thân”, “gia phong” và “chủ nhân” chính là những chuẩn mực lớn mà võ sĩ phải dựa vào, như những sợi dây thừng giúp họ duy trì phẩm hạnh suốt cuộc đời Nói theo ngôn ngữ phương Tây thì đó chính là các “moral tie” (ràng buộc đạo đức) Đạo lý này không chỉ diễn ra trong quan hệ giữa võ sĩ và các lãnh chúa của họ, mà còn thấm đẫm vào xã hội của dân chúng trên cả nước Nó hiện diện trong mọi mặt của cuộc sống, trong giới thị dân hay bách tính, hay cả tầng lớp hạ lưu Ví dụ ở thị dân hay nông dân thì có phân biệt Bản gia và Biệt gia, ở tầng lớp hạ lưu thì cũng có quan hệ oyabun-kobun (nghĩa đen là mối quan hệ cha-con, nghĩa rộng hơn là sư phụ-đệ tử, chủ-tớ), và cái đạo nghĩa ấy cũng vững chắc không khác gì mối quan hệ vua-tôi Tập tục này được gọi là “nghĩa quân-thần”, hay “truyền thống tổ tiên”, hay “danh phận trên-dưới”, hoặc “phân biệt gốc-ngọn”, và dù là tên gì đi nữa, thì từ khi nước Nhật hình thành cho đến ngày nay, thì nó đã kiểm soát mọi mặt xã hội Những thành tựu mà nền văn minh Nhật Bản đạt được như bây giờ chính là nhờ dựa và sức mạnh của những tập quán đạo lý này.” (Fukuzawa Yukichi, 2019, tr.374)

Nho giáo khi được tiếp thu tại Nhật Bản cũng có sự biến đổi nhất định khiến Nhật Bản tồn tại những đặc trưng riêng Nếu như thuyết tam cương ngũ thường khiến người Trung Hoa đề cao chữ hiếu, xem mối quan hệ cha con là quan trọng nhất, thì tại Nhật Bản, chữ hiếu được biến đổi thành chữ trung

Người Nhật đã kết hợp lý thuyết trung hiếu của Khổng Tử với huyền thoại lập quốc của dân tộc mình, xem nước Nhật như một gia đình với Thiên hoàng là người cha và dân chúng là những người con Kéo theo đó, lòng trung thành của người dân Nhật Bản với Thiên hoàng mang tính chất thuần phác, hiển nhiên bởi đó như tình cảm của người con đối với cha mình Do vậy, mối quan hệ giữa người dân – trong đó có cả các gia tộc Mạc phủ – đối với Thiên hoàng thường không phải là sự đối địch gay gắt Đồng thời, sự trung thành một lòng hướng về Thiên hoàng này đến thời cận đại còn có tác dụng tạo nên một ý thức dân tộc đoàn kết và mạnh mẽ Lòng trung thành mang màu sắc Nhật Bản là yếu tố quan trọng hình thành nếp tư duy của người Nhật thời kỳ phong kiến “Sự trung thành, với tư cách là giá trị đạo đức trung tâm đã quy định nên lối sống, hành vi của mỗi cá nhân (nhóm) hướng vào cộng đồng theo thang bậc của một phả hệ mở kiểu chủ nghĩa gia trưởng (Paternalism) rất điển hình trong xã hội Nhật Bản” (Nguyễn Văn Kim, 2003, tr.278)

Ngoài ra, dù được chọn là hệ tư tưởng chính thống nhưng vai trò chính trị của Nho giáo tại Nhật Bản có phần mờ nhạt hơn so với tại Trung Quốc:

“Ở Nhật Bản không có hệ thống thi tuyển công chức dựa trên sách vở Nho giáo tương tự như Trung Quốc vào đầu thời nhà Tống – chế độ tạo ra giới tinh hoa chính trị và xã hội Trung Quốc Ở Nhật Bản, trở thành Nho sĩ không đảm bảo sẽ có được địa vị cao Ngược lại, hầu hết các nhà tư tưởng Nhật Bản nổi bật đều đến từ tầng lớp samurai cấp thấp hoặc tầng lớp bình dân và kiếm sống bằng nghề dạy học hoặc chữa bệnh.”

Vì thế, cách tiếp cận Nho giáo của các học giả Nhật Bản cũng có đôi chút khác biệt so với Trung Quốc Nho giáo tại Nhật Bản đã có những điều chỉnh sao cho phù hợp với tình trạng của đất nước Nho giáo thời Edo cũng tồn tại nhiều trường phái khác nhau, mỗi trường phái nhấn mạnh và phát triển một số nội dung nhằm phục vụ cho những nhu cầu và hoàn cảnh nhất định Nổi bật nhất trong số đó là Tân Nho giáo của Chu Hy, trường phái Jinsai và trường phái Sorai Fukuzawa Yukichi là người phê phán Nho giáo và lên tiếng chống lại sự kìm hãm của hệ tư tưởng truyền thống này, thế nhưng với xuất thân từ một gia đình võ sĩ Nho giáo, các trường phái trên đã có ảnh hưởng đáng kể lên phong cách suy nghĩ của ông

Tân Nho giáo của Chu Hy đề cao việc tự điều chỉnh đức hạnh ở mỗi cá nhân Quan điểm này cũng thấy được trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi:

Về đạo đức, con người được xem là linh vật tối cao, do đó cần được coi trọng tuyệt đối, tránh khinh miệt Tuyệt đối không được làm trái với nghĩa cử nhân đạo, chẳng hạn như bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu Mỗi người cần hướng đến những hành động cao thượng, rèn luyện sự tự lập Cốt lõi là giữ tâm tĩnh lặng, chuyên chú vào mục tiêu đã định (Fukuzawa Yukichi, 2005, tr.343)

Ngoài ra, Fukuzawa cũng chủ trương xem đức hạnh làm nền tảng, tương tự như cách nghĩ của Chu Hy Trong tác phẩm Đại học, Chu Hy chủ trương lấy đức hạnh của bậc quân vương làm gốc, kế đó có được đức hạnh của địa phương, sau cùng có được đức hạnh của toàn thể quốc gia Đến lượt Fukuzawa Yukichi, đức hạnh mà ông lấy làm nền tảng chính là đức hạnh của mỗi cá nhân Ông cho rằng mỗi cá nhân độc lập chính là nền tảng cho gia đình độc lập Mỗi gia đình độc lập sẽ làm nên những địa phương độc lập Từ những địa phương độc lập mới có thể tạo thành một quốc gia độc lập Cũng giống như truyền thống Nho giáo, Fukuzawa xem giáo dục là con đường dẫn đến sự ổn định và phồn vinh cho xã hội Tuy nhiên ở Tân Nho giáo của Chu

NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG CỦA FUKUZAWA YUKICHI VỀ VẤN ĐỀ CÔNG DÂN 67 2.1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA FUKUZAWA YUKICHI VỀ VẤN ĐỀ CÔNG DÂN

Khái niệm “công dân”

Thứ nhất, quan niệm “công dân” trong lịch sử triết học:

“Công dân” là vấn đề được bàn luận khá xuyên suốt và được tiếp cận dưới nhiều góc độ Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, các triết gia lỗi lạc như Socrates, Platon, Aristoteles… đã đi tìm bản chất và phẩm hạnh cần có của một công dân Công dân ở thời kỳ này được hiểu là thành viên trong một thành bang – tức tổ chức quốc gia – nào đó, là một cá nhân tự do và sở hữu các phẩm chất mà chế độ chính trị của thành bang đó yêu cầu Trong thể chế chính trị lý tưởng của Aristoteles, các công dân “đều có các phẩm hạnh và phương tiện để thực hiện chúng trong thực tiễn và nhờ đó đạt đến một cuộc sống hạnh phúc hoàn toàn Chính thể của nhà nước lý tưởng là một chính thể trong đó mọi công dân đều đạt được hạnh phúc và thịnh vượng” (Nguyễn Tiến Hùng, 2012, tr.141) Công dân có thể tham gia vào các hoạt động chính trị hoặc không, nhưng nhìn chung công dân cần đạt những phẩm chất về đạo đức, tư duy và nghệ thuật để có thể tham gia trơn tru vào công việc thành bang hoặc trực tiếp đóng góp cho hoạt động chính trị thông qua bầu cử, lập pháp…

Tuy một số triết gia tách biệt công dân ra khỏi bộ phận cai trị bởi cho rằng hoạt động chính trị là lĩnh vực của riêng giới triết gia, thế nhưng có thể nói công dân của thời kỳ Hy Lạp-La Mã mang tính cách chính trị khá cao Họ không phải lao động chân tay, không tham gia vào công việc sản xuất của cải vật chất, có khả năng hiểu được nghệ thuật và chính trị, đồng thời có quyền – hoặc nghĩa vụ – tham gia vào các quyết định chính trị của nhà nước Khái niệm “công dân” ở thời kỳ Hy Lạp-La Mã không bao hàm toàn bộ tầng lớp bị trị Giới thống trị và công dân là những cá nhân tự do chiếm thiểu số trong cộng đồng thời bấy giờ, trong khi số đông còn lại chính là tầng lớp nô lệ Nô lệ là lực lượng sản xuất phục vụ cho nhu cầu của các tầng lớp trên, phải phụ thuộc vào tầng lớp trên và hoàn toàn không có quyền quyết định cho cuộc sống của chính bản thân mình

Bước đến xã hội Trung cổ, thành thị phát triển lớn mạnh dẫn đến việc khái niệm “công dân” bao hàm thêm giới thương gia và thợ thủ công Bộ phận này vốn chỉ được xem như một lực lượng sản xuất nhưng đến giai đoạn Trung cổ đã trở nên lớn mạnh và tạo ra ảnh hưởng xã hội nhất định Thành phần trong tập hợp công dân mở rộng, thế nên hoạt động tinh thần ở thời kỳ này của công dân cũng phong phú hơn, không còn gói gọn trong các công việc chính trị nhà nước mà đã rộng sang các lĩnh vực có tính “cá nhân” hơn như vấn đề con người, khoa học, thế giới lý tính…

Thế kỷ XVII bắt đầu nhấn mạnh vào vai trò của con người cá nhân, xem nhà nước và chính trị chỉ là một sản phẩm của hoạt động con người, khác với các quan niệm trước đó cho rằng con người phải hoàn toàn tuân theo thể chế nhà nước John Locke đã chỉ ra những “quyền tự nhiên” bất khả xâm phạm của con người, đó là quyền sống, quyền tự do và quyền tư hữu Đến thời kỳ này, công dân trở thành “chủ thể sáng tạo” của nhà nước, sở hữu quyền phản kháng trước nhà nước như một “quyền lực tự nhiên” Theo Thomas Hobbes, việc công dân phải đáp ứng một số phẩm chất nhất định mà nhà nước đòi hỏi chính là một “phương tiện” để đảm bảo hòa bình cho nhà nước ấy Quan điểm này khác với truyền thống triết học Hy Lạp khi Aristoteles cho rằng các phẩm chất đạo đức chính là mục đích rèn luyện của các công dân

Những nhà Khai sáng như John Locke hay Jean-Jacques Rousseau mở ra quan niệm về tính bình đẳng giữa công dân với nhà nước Vấn đề bình đẳng này nảy sinh trong bối cảnh “nhà nước trở thành công cụ đàn áp nhân dân

Khế ước xã hội trở thành phương tiện hợp pháp hóa sở hữu tư nhân cũng như mọi bất công trong xã hội” (Nguyễn Tiến Dũng, 2006, tr.354) Trước mâu thuẫn sâu sắc như thế, các triết gia khai sáng cho rằng mối quan hệ thống trị- bị trị giữa công dân và nhà nước chẳng qua là một thỏa thuận mà ở đó mỗi bên tự nguyện từ bỏ một số quyền lợi vốn có để đổi lấy những quyền lợi khác to lớn hơn mà người ta không thể có được khi đứng đơn độc Về bản tính tự nhiên, mỗi công dân trong nhà nước đều tự do và bình đẳng Đồng thời, tính tự do bình đẳng này cũng như quyền dân chủ của công dân cần phải được bảo vệ thông qua xây dựng khuôn khổ pháp lý Đây cũng là công cụ để người dân kiểm soát được mức độ thực thi pháp luật – thực thi tính công bằng – của nhà nước

Qua các bàn luận trên, có thể hiểu rằng “công dân” là bộ phận chịu sự quản lý của nhà nước, thỏa mãn một số yêu cầu về năng lực, phẩm chất, có quyền và nghĩa vụ nhất định đối với công việc chung của cộng đồng nhà nước đó Có những giai đoạn công dân không bao gồm tất cả các thành phần bị cai trị, gạt bỏ tầng lớp sản xuất như nô lệ, nông dân, thợ thủ công, thương nhân… Đặc điểm nổi bật của khái niệm “công dân” chính là tính cách chính trị, tức khả năng hiểu và tham gia vào các hoạt động chung của cộng đồng nhà nước Theo sự phát triển của xã hội, thành phần công dân ngày càng được mở rộng ra các lĩnh vực nghề nghiệp, xuất thân đa dạng Tính bình đẳng giữa công dân và bộ phận cai trị ngày càng được nhấn mạnh và phát triển, đồng thời công dân cũng được khuyến khích tham gia nhiều hơn vào các công việc chung của đất nước thông qua các hoạt động như tìm hiểu, giám sát, thảo luận… Ở chế độ phong kiến nói chung và phong kiến phương Đông nói riêng, tầng lớp dân chúng trong một đất nước thường thường được hiểu với khái niệm “thần dân” Điểm khác biệt nổi bật của “thần dân” so với “công dân” chính là sự thần phục dưới một cá nhân thống trị là vua chúa Khổng Tử cho rằng đất đai dưới gầm trời tất cả đều là sở hữu của nhà vua, vì vậy các cá nhân sống trong lãnh thổ của nhà nước cũng là “con” vua và phải tuân theo mọi ý chí của vua Dân là tầng lớp bị trị, tham gia hoạt động sản xuất và bị xem là có năng lực, đạo đức, địa vị thấp hơn tầng lớp thống trị Cách xác định phạm vi của thành phần dân chúng trong quan điểm Nho giáo có đôi chút không thống nhất Có khi dân là toàn bộ những cá nhân trong một đất nước trừ vua chúa, khi đó dân bao gồm cả quan lại cai trị và các thành phần quý tộc Có khi dân chỉ gồm lực lượng lao động sản xuất như nông dân, thợ thủ công, thương nhân… mà không bao gồm giới vua chúa và quan lại, quý tộc cai trị Có khi dân nói đến tất cả những ai không tham gia vào công việc cai trị, khi đó dân chỉ loại trừ vua và quan chức đương nhiệm – ở cách hiểu này, vương thân và những trí thức không ra làm quan hoặc đã từ quan cũng thuộc vào tầng lớp dân Tuy cách giới hạn thành phần dân chúng có những khác nhau như thế nhưng chung quy lại, dân là bộ phận chịu sự cai trị của chế độ vua chúa và phải thần phục tuyệt đối mệnh lệnh dựa trên ý chí cá nhân của vua chúa

Nho giáo xem dân là bộ phận hiển nhiên chịu sự điều khiển, sai khiến của tầng lớp thống trị bởi họ mang những đặc tính thấp kém và không thể hiểu được các công việc trí tuệ Mạnh Tử cho rằng:

Trong xã hội, sự phân chia giữa lao động trí óc và lao động chân tay luôn tồn tại, dẫn đến sự phân cấp giữa người cai trị và người bị cai trị Người lao động trí óc nắm giữ quyền lãnh đạo, trong khi người lao động chân tay phải tuân theo mệnh lệnh và phụng dưỡng tầng lớp cai trị Đây là quy luật chung từ xưa đến nay trong xã hội loài người.

Về cách cai trị dân chúng, Khổng Tử nhận định “đối với dân thì không nên giảng giải những điều cao siêu mà nên dạy những điều để dễ sai khiến họ” (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 2002, tr.360) Vai trò của người dân chỉ là lực lượng lao động chân tay sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, bao gồm cả nuôi sống tầng lớp thống trị Lao động để phục vụ và nuôi dưỡng giới cai trị là nghĩa vụ của người dân bởi giới cai trị là những người phải “lao tâm” để quản lý được số đông còn lại Khi nói về tính “ngu muội” của dân chúng, các học giả Nho giáo thường muốn ám chỉ bộ phận lao động chân tay chứ không bao gồm giới trí thức và quan lại Xem thường tầng lớp lao động chân tay là điểm nổi bật trong hệ tư tưởng phong kiến Nho giáo Do vậy, dù vẫn chịu sự cai trị và thực hiện nghĩa vụ phục tùng bộ phận thống trị nhưng giới “thường dân” thường bị gạt ra khỏi các công việc chung, đồng thời nhà nước cũng không cố gắng giáo dục người dân để họ đạt được năng lực hiểu và tham gia vào các công việc chung ấy

Nhìn chung, đối với Nho giáo, người dân đóng vai trò là lực lượng lao động sản xuất cho xã hội Đồng thời, người dân là đối tượng cai trị, là bộ phận không thể thiếu trong mối quan hệ cai trị-bị trị để hình thành nên một quốc gia Tư tưởng Nho giáo cũng xem “dân là gốc”, nhấn mạnh tầm quan trọng của dân đối với sự tồn vong của đất nước, thế nhưng dân không phải là mục tiêu cho sự phát triển xã hội Nguyễn Thanh Bình nhận xét:

“Về thực chất, dân là gốc, là quý, nhưng trong quan niệm của các nhà Nho chỉ là phương tiện để giai cấp thống trị đạt tới những mục đích chính trị, chứ không thể là mục đích của nền chính trị Cũng do vậy mà, ở Nho giáo tuy có yếu tố dân chủ (dù hết sức hạn hẹp) nhưng không thể có tư tưởng dân quyền, không thể phát triển thành chủ nghĩa nhân đạo, thành tư tưởng dân chủ được.” (Nguyễn Thanh Bình, 2007, tr.75)

“Công dân” và “thần dân” đều là bộ phận chịu sự quản lý và cai trị của bộ máy chính quyền, thường chiếm số lượng đa số trong nhà nước nhưng điểm khác nhau cơ bản của hai hình thức dân chúng này chính là mức độ tham gia vào các hoạt động chính trị và mức độ phục tùng tầng lớp thống trị Đối với thần dân của chế độ phong kiến, họ bị xem là không đủ năng lực và phẩm chất để tiếp thu các vấn đề trong công việc quản lý đất nước, bị gán cho địa vị thấp kém và xem như một bộ phận sản xuất của cải vật chất phục vụ cho các tầng lớp trong xã hội Mối quan hệ giữa thần dân và giai cấp thống trị là mối quan hệ trên-dưới một chiều, thần dân có nghĩa vụ phục tùng mọi mệnh lệnh của vua chúa Mệnh lệnh đó thể hiện ý chí cá nhân của người cầm quyền chứ không nhất thiết phải bao hàm lợi ích của dân chúng Còn ở công dân, khái niệm này hướng đến sự bình đẳng giữa giới thống trị và tầng lớp chịu sự cai trị

Họ cần phải thỏa mãn những phẩm chất và năng lực nhất định để có thể hiểu và tham gia vào các hoạt động chính trị Tuy rằng cũng có một số triết gia phương Tây đề xuất không để công dân trực tiếp điều hành công việc chính trị, nhưng khác với ở chế độ Nho giáo cho rằng bản chất dân chúng là ngu muội không thể cải biến, lý do của các triết gia phương Tây này chính là vì công việc chính trị đòi hỏi rất cao về trí tuệ và đạo đức nên chỉ có giới triết gia mới đủ khả năng đảm nhiệm chức năng này Do vậy, ở phương Tây công dân vẫn luôn được khuyến khích phát triển ý thức về chính trị Năng lực, nghề nghiệp, xuất thân của công dân có thể khác nhau nhưng vẫn có những cách thức đa dạng để đóng góp vào công việc chung của cộng đồng, của đất nước

Thứ hai, quan điểm của Fukuzawa Yukichi về khái niệm “công dân”:

Giữa tình trạng phong kiến hà khắc và khủng hoảng tư tưởng của Nhật Bản cuối thời Tokugawa, ý niệm về công dân hiện đại của Fukuzawa Yukichi bắt đầu khi ông được tiếp xúc với sách vở phương Tây, đặc biệt khi ông nghiên cứu và tìm dịch về lịch sử, chính trị, kinh tế, pháp luật… của các nước phương Tây Học giả Iida Kanae chỉ ra rằng:

Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về mối quan hệ giữa công dân với nhà nước

Tình trạng“thần dân” trong chế độ phong kiến Mạc phủ là tiền đề để Fukuzawa Yukichi phân tích vấn đề công dân Ông khẳng định trạng thái

“thần dân” này mang tính độc hại và cần phải xóa bỏ để có thể xây dựng tinh thần “công dân” hiện đại Bằng sự tiếp thu các giá trị phương Tây kết hợp với quan sát tình trạng thực tế tại Nhật Bản, Fukuzawa đã rút ra những nhận định của riêng mình về bản chất của mối quan hệ giữa công dân với nhà nước

Thứ nhất, mối quan hệ giữa công dân và nhà nước mang tính khế ước và bình đẳng

Các học thuyết tại phương Đông nói chung và Nhật Bản nói riêng cho rằng tầng lớp cai trị sở dĩ có thể ở địa vị thống trị là bởi vì họ ưu việt hơn số đông dân chúng bị trị kia Tầng lớp thống trị chính là giới tinh hoa, lao động trí óc vất vả hơn rất nhiều so với lao động chân tay và do đó, người lao động – tức giới bình dân – phải biết ơn và có nghĩa vụ phục tùng cho những người cai trị mình

Fukuzawa Yukichi hoàn toàn phản đổi quan niệm truyền thống đó Ông cho rằng người dân và người thuộc bộ máy chính quyền dù đứng ở những vị trí khác nhau nhưng chung quy lại cũng đều là người Nhật – là những cá nhân mang đặc tính giống nhau và cùng tập hợp tạo thành một tập thể thống nhất Để một cộng đồng có thể vận hành trơn tru, những người trong cộng đồng đó cần phân chia vai trò và lập ra hội đồng đại diện quản lý các công việc chung “Nhân dân và chính phủ thỏa thuận với nhau để chính phủ soạn thảo, ban hành các đạo luật, nhân dân dựa trên các đạo luật đó để làm ăn sinh sống” (Fukuzawa Yukichi,

2015, tr.44) Vì thế, việc các cá nhân cùng sống trong một đất nước có sự phân tách thành hai bộ phận là dân chúng và chính phủ chẳng qua chỉ là một thỏa thuận ngầm thuận theo quy luật phát triển xã hội mà thôi Trong mối quan hệ được thỏa thuận ấy, mỗi bên đều thu về những quyền lợi cho mình và đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia Nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân và chính phủ là kết quả của sự bàn bạc, thỏa thuận từ cả hai bên Khi chính phủ soạn thảo luật pháp để áp dụng lên đời sống dân chúng, vì chính phủ là đại diện cho ý nguyện của người dân nên luật pháp cũng chính là tập hợp các quy định mà quần chúng nhân dân đặt ra Luật pháp chính là sự cụ thể hóa những thỏa ước giữa người dân với nhau và giữa người dân với chính quyền

Bản chất việc phân chia hai bộ phận dân chúng và chính quyền chính là nhằm phân chia công việc trong xã hội: người dân lao động làm ra thóc gạo, hàng hóa; chính phủ trấn áp bảo đảm an ninh bằng việc thiết lập và thi hành luật pháp Nghĩa vụ của chính phủ chính là đảm bảo đời sống người dân Ngược lại, người dân cần phải nộp thuế, thóc gạo cho ngân sách chính phủ Việc thu ngân sách này là cần thiết bởi vì công việc của chính phủ không tạo ra sản phẩm, không tự tạo ra được nguồn lực vật chất để thực hiện công việc quản lý của mình nên phải dựa vào nguồn lực từ dân chúng Có thể thấy, mối quan hệ giữa chính phủ và người dân là bình đẳng, đôi bên cùng có lợi, không ai đứng trên ai, “chính phủ hay dân chúng thì cũng chỉ là danh nghĩa khác nhau, và chức phận khác nhau, chứ về mặt địa vị thì không phân biệt đâu là người trên, kẻ dưới” (Fukuzawa Yukichi, 2019, tr.253) Sự đóng góp tài lực của người dân vào chính phủ sau cùng cũng chỉ nhằm phục vụ nhu cầu của chính người dân: nhu cầu được bảo vệ và đảm bảo đời sống an sinh Fukuzawa Yukichi khẳng định: “Quan hệ giữa chính phủ và nhân dân [ ] chỉ khác nhau ở tình trạng giàu nghèo mạnh yếu Còn quyền lợi thì hoàn toàn ngang nhau” (Fukuzawa Yukichi, 2015, tr.44)

Fukuzawa Yukichi vô cùng phê phán tâm lý tôn chính quyền thành

“Đấng bề trên” tồn tại trong thời phong kiến Mạc phủ Vị thế “bề trên” này khiến cho giới quan chức chính quyền có thể tùy ý tiêu xài của cải của dân chúng vì cho rằng người dân chịu ơn sự cai trị của chính quyền, do đó người dân phải “đền ơn, báo đáp đất nước” Fukuzawa lập luận phủ nhận thái độ này như sau:

“Lập ra luật pháp, bảo vệ dân chúng giữ gìn an ninh… là công việc, là nghĩa vụ đương nhiên của chính quyền; không thể coi đó là sự ban ơn, không thể coi đó là lòng tốt để rồi bắt dân phải hàm ơn hay báo đáp lại chính quyền Nếu như chính quyền nghĩ như vậy thì ngược lại người dân sẽ nói rằng: chính quyền phải hàm ơn dân và báo đáp cho dân mới phải, vì chính quyền sống bằng tiền thuế, tiền thóc lúa do dân đóng, cớ sao lại có chuyện ngược đời như thế được?” (Fukuzawa Yukichi, 2015, tr.45)

Fukuzawa Yukichi cho rằng tâm lý "ban ơn" vẫn tồn tại do xã hội chưa hiểu đúng bản chất bình đẳng Bình đẳng nghĩa là mọi người đều sở hữu quyền lợi và tư cách bẩm sinh như nhau, bất kể là công dân hay chính quyền Tính bình đẳng trong mối quan hệ công dân - nhà nước tăng lên khi dân trí phát triển Trong giai đoạn dân trí thấp, người dân tuân phục nhà nước do sức mạnh thần quyền và vũ lực khiến họ sợ hãi Fukuzawa dự đoán rằng chế độ cai trị như vậy sẽ không duy trì được lâu vì trí lực phát triển trong quần chúng sẽ khiến họ không còn chấp nhận ý kiến và hành động của chính quyền một cách rập khuôn nữa.

“Cho dù một kẻ cai trị có tự mình tích đức, dùng “lễ nhạc – chinh phạt” mà thực thi ân huệ, quyền uy đi nữa, thì nhân dân cũng sẽ trước hết tìm hiểu quân chủ là người như thế nào, truy cho cặn kẽ cái ân cái uy ấy, rồi dựa vào đó mà cân nhắc ơn mưa móc nào đáng để nhận, cũng như bất khuất trước cái uy nào không đáng để sợ.” (Fukuzawa Yukichi, 2019, tr.254)

Ngoài ra, khi trí lực của người dân phát triển, họ sẽ tự đánh giá được đúng sai, thưởng phạt mà không cần dựa trên những nguyên tắc, đạo lý do chính phủ đặt ra Mọi người sẽ làm việc tốt, tránh việc xấu vì chính những cảm giác hạnh phúc hay xấu hổ sinh ra trong bản thân mình thay vì chạy theo lời đánh giá của người khác hoặc lời của cổ nhân như lúc còn ngu muội Kéo theo đó, mệnh lệnh của chính phủ sẽ không còn được xem như chân lý để mọi người điều chỉnh bản thân Đến lúc này người dân đã có thể tự chủ cho cuộc sống riêng mình, do vậy chính phủ không còn nhiều vai trò trong việc kiểm soát tôn giáo, giáo dục, uốn nắn đời sống thường nhật của dân chúng Khi đạt được mức độ tiến bộ như thế, chiến tranh và hình phạt không còn xuất hiện nhiều trong đời sống nhân dân Theo Fukuzawa Yukichi, “chính phủ khi ấy không còn là một công cụ để trấn áp cái xấu, mà đơn giản chỉ tồn tại để sắp xếp sự việc trong trật tự, tiết kiệm thời gian và giảm thiểu lao động lãng phí” (Fukuzawa Yukichi, 2019, tr.258)

Thứ hai, mối quan hệ công dân-nhà nước vận hành thông qua luật pháp

Dù ở thời kỳ nào, nhà nước cũng gắn liền với các quy định, luật lệ Theo chiều hướng phát triển của văn minh, các điều luật ngày càng chặt chẽ hơn và dần trở thành luật pháp Luật lệ hay luật pháp luôn đóng vai trò là công cụ quản lý xã hội của chính quyền Người dân cần phải điều chỉnh hoạt động đời sống của mình dựa trên các điều luật quy định ấy Đồng thời, mức độ nghiêm ngặt và chặt chẽ của luật cũng phản ánh tình trạng của xã hội tương ứng

Fukuzawa Yukichi nhận thấy rằng ở thời kỳ nhà nước chưa đạt đến trình độ “văn minh”, luật lệ do chính quyền ban hành khá lỏng lẻo và đơn giản Chính quyền không xem các điều luật là căn cứ cho việc điều hành, phán xử mà chủ yếu dựa trên những nguyên tắc đạo đức và tình cảm Luật lệ trong thời buổi ấy cũng chỉ là những nguyên tắc cơ bản và người thực thi pháp luật dễ dàng diễn giải lại luật lệ theo từng trường hợp của bản thân sao cho chúng thỏa mãn các nguyên tắc đạo đức:

Trong xã hội nguyên thủy, quân chủ và thần dân là một khối thống nhất, pháp luật còn sơ khai Quân chủ nhân đức chăm lo đời sống dân chúng, thần tử trung nghĩa sẵn sàng hy sinh vì chủ Dân được dạy dỗ hướng thiện, xã hội phân chia trật tự Tuy không có luật lệ chính thức nhưng nền tảng đạo đức đã tạo nên sự thái bình.

Fukuzawa không phê phán hay chê bai tình trạng pháp luật lỏng lẻo này Theo ông, không phải người xưa không coi trọng nguyên tắc, mà sự lỏng lẻo này do trình độ phát triển của xã hội quy định Ở thời kỳ dã man và bán khai, dân trí còn thấp, hoạt động lao động và đời sống của nhân dân khá đơn giản Ngành nghề ít, các mối quan hệ xã hội ít, do vậy những việc phát sinh cần đến sự giải quyết của chính quyền cũng chỉ xoay quanh một số ít vấn đề Luật lệ bắt đầu trở nên chặt chẽ khi dân trí nâng cao và đời sống xã hội cũng theo đó phức tạp hơn

Tuy phản ánh trình độ xã hội, luật pháp lỏng lẻo gây hệ quả tiêu cực về đời sống và nhận thức người dân Các nguyên tắc tình cảm, đạo đức tùy hoàn cảnh và có nhiều cách áp dụng Mặt tiêu cực là người cầm quyền dễ dùng luật phục vụ ý chí, lợi ích cá nhân Fukuzawa Yukichi lấy ví dụ nhà nước phong kiến Mạc phủ Tokugawa dùng luật lệ làm công cụ khiến dân sợ hãi để dễ cai trị, đảm bảo quyền lực gia tộc Theo ông, thời Mạc phủ, dân chúng luôn phải khiếp sợ, né tránh, cúi rạp trước Tướng quân, gây mất ý chí tự do, bản sắc, lòng tự tôn Sử dụng luật tùy tiện, hà khắc phục vụ lợi ích giai cấp thống trị là chuyên quyền Fukuzawa Yukichi thẳng thắn vạch ra bản chất này của chính quyền Tokugawa.

Vai trò và phát huy vai trò của công dân đối với sự phát triển đất nước88 2.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CỦA FUKUZAWA

Thứ nhất, về vai trò của công dân đối với sự phát triển đất nước:

Trong bối cảnh độc lập đất nước bị sức mạnh ngoại bang đe dọa, định hướng phát triển đất nước trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi cũng tập trung chủ yếu vào vấn đề độc lập tự cường Mục tiêu cuối cùng mà ông hướng đến là địa vị chính trị bình đẳng cho Nhật Bản khi đứng trước sự va chạm với các quốc gia tiến bộ phương Tây Để đạt được điều này, ông cho rằng tinh thần dân tộc chính là yếu tố quyết định Trong quan điểm của Fukuzawa, tinh thần dân tộc có nghĩa là mỗi người dân đều phải mang ý thức về danh tính dân tộc mình, có tinh thần quyết tâm bảo vệ hình ảnh dân tộc, độc lập và kiêu hãnh khi đối diện trước sức mạnh ngoại bang

Phân tích của Fukuzawa Yukichi về sức mạnh quốc gia gắn liền với khái niệm “chính thể quốc gia” Đó là sự thống nhất thành một khối của cả dân tộc Theo ông, dân tộc Nhật Bản là một thể thống nhất bởi mọi người có cùng huyết thống, lịch sử, sinh sống trong cùng một phạm vi địa lý Cho dù trải qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, quyền lực quân sự bị chuyển đổi qua nhiều gia tộc nhưng nhìn chung cả dân tộc đều có cùng những mối liên hệ xuyên suốt, người Nhật cũng xây dựng được những đức tính đặc trưng cho riêng mình và ưu việt hơn hẳn các dân tộc khác Do vậy, người dân Nhật Bản phải cố gắng bảo vệ bản sắc của mình Thế nhưng Fukuzawa Yukichi cho rằng

Nhật Bản vẫn chưa hình thành tinh thần dân tộc rõ nét Theo Fukuzawa Yukichi, "Nhật Bản có chính phủ nhưng không có dân tộc" Sự thiếu vắng này xuất phát từ việc Nhật Bản chỉ là tập hợp những cá nhân cư trú cùng lãnh thổ, tuân theo chính quyền thống trị mà chưa đạt đến bản chất của một "quốc gia" - nơi công dân nhận thức về bản sắc đất nước Mỗi cá nhân Nhật Bản thiếu bản sắc và tinh thần độc lập Sự mất bản sắc này mang tính cá nhân nhưng khi xã hội chỉ toàn những cá nhân như vậy, nó trở thành vấn đề ở cấp độ quốc gia.

“Quốc dân không có tính cách độc lập thì lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn, vô trách nhiệm [ ] Nếu như toàn thể quốc dân, ai nấy đều chỉ tìm cách dựa dẫm hay ỷ lại vào người khác, không có tính độc lập thì khi ra xã hội cũng sẽ lại trở thành những kẻ chuyên ăn bám đục khoét tiền của đất nước, của các tổ chức xã hội Giữa cá nhân với cá nhân có lẽ cũng chẳng còn ai sẵn lòng giúp đỡ ai.” (Fukuzawa Yukichi, 2015, tr.52)

Phúkuzawa nhấn mạnh vào sự thiếu tinh thần dân tộc của người Nhật vì coi đây là vấn nạn nguy hại, "người dân thiếu tinh thần tự chủ, chí khí độc lập khó đấu tranh với thế giới để bình quyền với tư cách quốc gia độc lập" (Phúkuzawa, 2015, tr.52) Tính cách an phận từ thời phong kiến tạo nên sự ổn định hiếm có nhưng lại không tốt Trước hiểm họa ngoại xâm, mục tiêu tối cao của chính quyền chuyển từ duy trì sự cai trị trước các lực lượng địa phương sang mục tiêu toàn dân tộc: bảo vệ độc lập trước các cường quốc Muốn vậy phải tập trung sức mạnh cả chính quyền trung ương và quần chúng nhân dân Nguy cơ từ sự thiếu độc lập sẽ bộc lộ khi đó.

“Kẻ sống trong nhà mà lãnh đạm thì ra ngoài cũng lãnh đạm, người ở trong nhà mà ngu độn thì ra ngoài không thể nào hoạt bát, lanh lợi cho được Người dân ngu độn, lãnh đạm thì tiện cho nền chính trị chuyên chế của chính phủ, nhưng bang giao với nước ngoài sẽ hầu như là vô vọng nếu dựa vào những con người như vậy.” (Fukuzawa Yukichi, 2019, tr.177)

Mối đe dọa tồn vong dân tộc đã hiện rõ ngay trước mắt, thế nên việc thay đổi thực trạng này trở thành một yêu cầu cấp bách Ý thức được hiểm họa nhưng Fukuzawa Yukichi không quá bi quan về vấn đề này Ông cho rằng tính cách lãnh đạm nguy hiểm của người dân có thể thay đổi được nếu nhìn nhận và giải quyết đúng bản chất của vấn đề Theo ông, nếp nghĩ của người dân chỉ là kết quả của tập quán và chế độ cai trị, do đó đây cũng chính là mấu chốt để giải quyết vấn đề:

“Sự thiếu quan tâm, không có dũng khí này cũng không phải là khuyết điểm bẩm sinh, mà chỉ là những thái độ người ta bị mất đi do không có tập quán nuôi dưỡng, khuyến khích, cho nên, muốn kích hoạt lại những thái độ này cũng không có cách nào khác hơn là phải dựa vào sức mạnh của tập quán Thay đổi tập quán vì thế là một điều quan trọng vô cùng.”

Tập quán mà Fukuzawa Yukichi nói đến chính là tình trạng người dân thiếu chủ kiến, thiếu suy tư, thờ ơ trước công việc chung và vấn đề vận mệnh dân tộc Đây là kết quả của lối cai trị phong kiến trước đây Sự độc đoán của triều đình Mạc phủ Tokugawa dẫn đến người dân sống trong lo sợ, dần dà chỉ còn biết ngoan ngoãn phục tùng, không đủ can đảm và cũng không còn quan tâm đến công việc chung của đất nước Mặt khác, một số triều đại phong kiến cai trị đất nước theo kiểu “mục dân” cũng dẫn đến nhiều hậu quả xấu “Mục dân” nghĩa là chăm bẵm dân chúng như một đàn gia súc, cho rằng người dân hiền lành, yếu ớt, không thể tự bảo vệ mình và đặc biệt là không thể hiểu được những việc lớn lao như chính trị Đây cũng thường được xem là sự “yêu thương” mà giai cấp cai trị dành cho dân chúng, thậm chí còn thường xuyên được ca tụng Tuy nhiên cách cai trị này dẫn đến hiểm họa trước tiên chính là người dân thiếu năng lực chủ động, sáng tạo, chỉ biết tin tưởng và dựa dẫm vào chính quyền Kế đó, người dân dần sẽ không còn quan tâm đến công việc của đất nước bởi cho rằng chính quyền đã đảm nhận và thực hiện tốt phần công việc đó, không có vấn đề gì để người dân phải bận tâm Cứ như thế, tính cách và năng lực chính trị của quần chúng sẽ bị mất đi và trở thành một tử huyệt nếu phải đối diện với mối đe dọa từ ngoại bang:

“Cứ như thế, dần dần quan hệ giữa người cai trị và nhân dân sẽ trở thành quan hệ chủ nhân và khách ăn nhờ ở đậu Mà đã là phận khách ăn nhờ ở đậu thì nhân dân (khách) cứ chỉ biết dựa vào chính phủ (chủ nhân) Người dân đâu cần màng tới việc nước, càng không chút mảy may lo lắng tới vận mệnh quốc gia Việc quốc gia đại sự đã có chủ nhân lo rồi Và giả dụ, quốc gia này bị nước ngoài gây hấn, chiến tranh bùng nổ Và cứ giả thử là không có một người dân nào phản bội, bán mình cho nước ngoài Vậy thì sự thể sẽ ra sao?” (Fukuzawa Yukichi, 2015, tr.54)

Theo Fukuzawa, chính trị không chỉ là công việc của chính phủ mà còn là nghĩa vụ của từng cá nhân trong một quốc gia Sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ và công dân trong các công việc chính trị là điều kiện thiết yếu để xây dựng một đất nước vững mạnh và bền vững.

“Nói tới chính trị là nói tới hoạt động của quốc gia Để giữ vững nền độc lập, để vận hành quốc gia trơn tru, cần phải có đủ và cân bằng cả hai yếu tố “trong” và “ngoài” “Trong” ở đây là khả năng điều hành đất nước (làm chính trị) của chính phủ và “ngoài” ở đây tôi muốn nói tới sức dân Cứ tạm coi chính phủ là “sức sống vốn có” của quốc gia và sức dân là “môi trường kích thích từ bên ngoài” Không có sự kích thích tức không có sức dân mà chỉ trông cậy vào chính phủ thì độc lập không thể duy trì dù chỉ một ngày.” (Fukuzawa Yukichi, 2015, tr.65)

Công dân và chính phủ là hai yếu tố không thể tách rời tạo nên một quốc gia vững mạnh Chính phủ nắm giữ sức mạnh to lớn nhưng không thể nắm bắt hết thực tế cuộc sống nên cần sự hợp tác từ người dân Sự tham gia tích cực của người dân là kênh thông tin giá trị cho các quyết sách quốc gia Ngoài ra, cần biến việc tham gia chính trị thành nghĩa vụ công dân, tạo ý thức về vai trò và ý nghĩa của mình trong sự nghiệp đất nước Theo Fukuzawa, mọi tầng lớp nhân dân đều nên hăng hái với các vấn đề quốc gia để đạt được sự đồng thuận, đồng bộ, hướng tới mục tiêu độc lập, bền vững và giàu mạnh.

Tinh thần độc lập và ý thức chính trị của người dân cần được xây dựng thông qua con đường giáo dục Fukuzawa Yukichi đề cao vai trò của dân trí trong việc hình thành nên sức mạnh của đất nước Theo ông, “dân chúng ngu muội thì sức mạnh chính trị sẽ dần suy yếu Sức mạnh chính trị một khi suy yếu thì quốc gia ấy không còn là chính mình nữa Lúc đó thì đến chính thể quốc gia cũng không bảo vệ được” (Fukuzawa Yukichi, 2019, tr.84) Kết luận này được Fukuzawa rút ra từ sự quan sát đặc điểm của các quốc gia khác nhau Ông thấy rằng ở những dân tộc đã đánh mất độc lập vào tay ngoại bang, trình độ nhận thức của người dân thấp và đồng thời tầm nhìn của họ cũng khá hạn hẹp:

“Vì sao, nền văn hóa Ấn Độ, nền quân sự nước Thổ lại không thể đóng góp cho sự phát triển văn minh trên chính đất nước mình? Cũng bởi vì đầu óc người dân chỉ bó hẹp trong phạm vi địa phương, phạm vi một nước mà thỏa mãn với tình trạng đó, không so sánh và không nhìn vào những tiến bộ vượt bậc của nước khác Đồng thời, dân chúng lại quá quen với cảnh thanh bình, chỉ biết “mẹ hát con khen hay” Thế là thua thiệt trong cạnh tranh kinh tế với quốc tế, và cứ thế tiềm lực quốc gia biến mất lúc nào cũng không hay” (Fukuzawa Yukichi, 2015, tr.181)

Đặc điểm tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân

Thứ nhất, tư tưởng về công dân của Fukuzawa Yukichi hướng đến mục tiêu xây dựng một đất nước hiện đại, có tinh thần dân tộc mạnh mẽ

Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi ra đời trong bối cảnh Nhật Bản bị đe dọa bởi sức mạnh ngoại bang Trước bối cảnh đó, Fukuzawa Yukichi cho rằng mấu chốt đe dọa đến nền độc lập dân tộc nằm ở trình độ văn minh thua kém Do vậy, nếu muốn bắt kịp các nước phương Tây, điều cấp bách cần phải làm chính là xây dựng Nhật Bản thành một quốc gia hiện đại, có những công dân hiện đại với tinh thần dân tộc mạnh mẽ

Vì bối cảnh cấp bách đó, vấn đề về công dân mà Fukuzawa Yukichi bàn luận đều hướng đến mục tiêu xây dựng quốc gia hiện đại Xây dựng tính độc lập của mỗi cá nhân chính là con đường để đạt đến mục tiêu này Độc lập ở đây chính là sự ý thức rõ về giá trị của bản thân, về tính bình đẳng giữa bản thân với những người khác, kể cả khi họ có quyền thế hơn mình Một khi đất nước xây dựng được những cá nhân độc lập, tinh thần dân tộc sẽ được sản sinh, đó là nền tảng để quốc gia có thể sánh ngang hàng với các cường quốc trên thế giới Muốn thực hiện được mục tiêu lớn lao này, điều đầu tiên cần phải làm chính là giải phóng được ý thức từng cá nhân, phát huy được sức mạnh của mỗi công dân

Trước mối đe dọa ngoại bang, các học giả thuộc trường phái truyền thống chủ trương đề cao tính thượng đẳng dân tộc, theo tôn chỉ đánh đuổi ngoại bang bằng mọi giá để bảo vệ danh dự dân tộc mình Sự áp đảo sức mạnh về mọi mặt của nước ngoài khiến bộ phận học giả này lúng túng trong việc giải thích và bảo vệ tính thượng đẳng của dân tộc Họ tìm kiếm phương hướng trong những giá trị truyền thống nhưng không đạt kết quả bởi họ chưa nhận ra được vấn đề nội tại của đất nước, về tính lạc hậu trong những mối quan hệ xã hội hiện có Ngược lại, những người theo khuynh hướng cấp tiến thường quá đề cao chuẩn mực của phương Tây, dẫn đến việc chỉ làm theo biểu hiện bên ngoài mà không nắm được bản chất của văn minh Điều này khiến cho những giá trị được áp dụng đôi khi không thích hợp với bối cảnh thực tế của đất nước, gây nên tình trạng bất ổn, thiếu bền vững cho sự phát triển Do vậy, hướng tiếp cận của Fukuzawa Yukichi về vấn đề này khá độc đáo và khác biệt so với những người cùng thời đại Lý luận của ông tạo ra sự biến đổi về chất đối với đất nước Nhật Bản, tạo ra những người Nhật “mới” để làm nền tảng cấu thành nên một quốc gia “mới” theo hướng hiện đại

Thứ hai, tư tưởng về công dân của Fukuzawa Yukichi nhấn mạnh tính độc lập và tính cá nhân

Trong bàn luận của các học giả Nho giáo, “dân” thường được nhắc đến một cách chung chung, được hiểu đơn giản là bộ phận chịu sự cai trị của giới vua chúa Khi thảo luận về việc ổn định xã hội, phát triển đất nước, giới học giả cũng hầu hết tập trung vào vai trò của người thống trị, về đức tính cần có của quân vương và quan lại chứ không nhắc nhiều đến phương hướng giáo dục, rèn luyện, phát triển dành cho người dân Fukuzawa Yukichi bằng sự tiếp thu tư tưởng phương Tây đã phá vỡ truyền thống này Ông bàn luận kỹ lưỡng về người dân dưới góc độ những cá nhân riêng biệt, không gán họ vào một tầng lớp hay bộ phận riêng rẽ nào đó để quy định tiêu chuẩn đạo đức như cách mà các học giả Nho giáo trước đó thường làm Các tác phẩm truyền tải tư tưởng của ông cũng phần lớn hướng đến độc giả là các cá nhân, những người dân Nhật Bản đơn thuần chứ không có sự phân biệt về tầng lớp, công việc, tuổi tác, trình độ Có thể thấy, Fukuzawa Yukichi xem mọi người dân

Nhật Bản đều là bình đẳng, đều cần phải phát triển tinh thần độc lập, phát triển năng lực và cần thiết cho công việc chung của đất nước

Con đường xây dựng sức mạnh dân tộc trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi cũng tập trung vào phát triển mỗi cá nhân Ông cho rằng vấn đề cốt lõi cho vận mệnh đất nước chính là ý thức còn nông cạn của quần chúng nhân dân, do vậy việc cần làm chính là khai phóng ý thức của mỗi người dân Fukuzawa đặt mục tiêu làm cho mỗi cá nhân sản sinh ra được khí phách tự do

Sự tự do này nghĩa là mỗi người dân đủ khả năng hiểu được bản thân có thế mạnh gì, muốn làm điều gì và có đủ điều kiện để đi theo con đường phù hợp cho riêng mình Như vậy, Fukuzawa hướng mục tiêu vào sự độc lập cho từng cá nhân Phát huy sức mạnh dân tộc cần dựa vào sự tự rèn luyện, tự nhận thức của mỗi cá nhân trong đất nước

Quan điểm tư tưởng của Fukuzawa Yukichi chủ trương không ỷ lại quá nhiều vào chính phủ Theo ông, nếu chính phủ chưa tốt, người dân vẫn có thể phản biện và thúc đẩy chính phủ thay đổi Ngược lại, nếu chính phủ tốt mà người dân vẫn thụ động, đất nước khó có thể phát triển.

Do vậy, người dân không hoàn toàn bị động dưới sự cai trị của chính phủ mà vẫn có thể thay đổi chính phủ thông qua những kiến nghị để từ đó giúp đất nước tốt đẹp hơn Khi nghiên cứu lý luận về nhà nước của Fukuzawa, học giả Matsuzawa Hiroaki nhận xét rằng “Fukuzawa đã xác định rõ vấn đề và lập trường của mình trên tư cách một trí thức Về vấn đề hình thành quốc gia dân tộc, ông không tạo ra một cơ cấu thống trị quốc gia mà thay vào đó là đặt cho mình câu hỏi làm sao tạo nên được những công dân của đất nước” (Matsuzawa Hiroaki, 1990, tr.746) Nếu như truyền thống khoa bảng Nho giáo kêu gọi trí thức ra làm quan để cống hiến cho đất nước, thì tư tưởng của

Fukuzawa Yukichi lại là con đường dành cho những ai không tham gia vào bộ máy cai trị của chính phủ

Thứ ba, tư tưởng về công dân của Fukuzawa Yukichi xem trí lực là con đường hiệu quả nhất để phát triển sức mạnh công dân và đất nước

Fukuzawa Yukichi cho rằng phương Đông coi trọng đức hạnh và đạo đức quá mức Dân chúng thường tôn thờ trí tuệ của những vĩ nhân, coi đó là điều vượt xa tầm hiểu biết của người thường, nên ít chú trọng phát triển trí tuệ mà chỉ tập trung vào tấm gương đạo đức Truyền thống đề cao đạo đức mà bỏ qua trí tuệ khiến trí tuệ các dân tộc phương Đông không tiến bộ vượt bậc Ngược lại, phương Tây đề cao tinh thần truy tìm chân lý, luôn hoài nghi và phản biện, nhờ vậy tạo ra nhiều giá trị mới Theo Fukuzawa, phương Tây đã đạt trình độ văn minh cao hơn, bỏ xa các dân tộc phương Đông, trong đó có Nhật Bản.

Fukuzawa Yukichi mong muốn phá bỏ truyền thống này Ông đã nỗ lực chỉ ra vai trò khác nhau của đạo đức và trí tuệ, chỉ ra sức mạnh to lớn của trí tuệ đối với sự phát triển của xã hội Ông khẳng định nếu muốn đưa đất nước tiến bộ một cách nhanh chóng, muốn biến đổi đời sống người dân một cách rộng khắp, nhất định phải ưu tiên phát triển bằng tri thức

Sự đề cao trí lực của Fukuzawa Yukichi mở ra một chặng đường mới cho hành trình văn minh của Nhật Bản cũng như các nước phương Đông nói chung Trong truyền thống Nho giáo mà phương Đông chịu ảnh hưởng mạnh mẽ, giáo dục luôn tập trung vào vấn đề “tu thân”, tức rèn luyện đạo đức cá nhân Tiêu chuẩn để đánh giá một cá nhân tốt, đáng ca ngợi, có thể phục vụ cho đất nước thường chỉ xoay quanh phẩm hạnh của người đó Trí lực tại phương Đông do đó bị xem nhẹ và đơn giản hóa Điều này dẫn đến tốc độ phát triển văn minh chậm chạp ở các quốc gia phương Đông và đến thời đại va chạm Đông-Tây này thì tập quán trên rõ ràng đã trở nên lạc hậu Nỗ lực khuyến khích phát triển trí lực của Fukuzawa chính là hồi chuông lay động toàn bộ Nhật Bản, giúp người Nhật nhận ra khuyết điểm nội tại và đồng thời tìm thấy phương hướng để giải quyết vấn đề, phát triển đất nước, đảm bảo tính tự lực tự cường

Thứ tư, tư tưởng về công dân của Fukuzawa Yukichi đề cao sức mạnh ở khối tư nhân

Quan điểm đề cao phát triển nhân lực ở khu vực ngoài chính phủ là một điểm đặc biệt trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi Đây là lập trường xuyên suốt trong tư tưởng của ông Đối với Fukuzawa, quan chức hay dân thường cũng đều đáng quý trọng như nhau, đều đóng góp vào các công việc chung của xã hội như nhau Mối quan hệ giữa quan và dân không phải là sự ban ơn, thế nên mọi công dân cần hiểu rõ giá trị của chính mình, về khả năng đóng góp của mình cho đất nước Fukuzawa chú trọng khơi gợi ý thức chính trị trong khu vực ngoài nhà nước bởi ông cho rằng chính phủ cho dù là tập hợp những người tài năng, nhiệt huyết, có thể chăm lo tận tình đời sống nhân dân đi chăng nữa, nhưng nếu người dân không có tinh thần công dân hiện đại, không mang ý thức chính trị và tinh thần độc lập thì quốc gia cũng không thể nào vững mạnh được lâu dài Cách suy nghĩ này cho thấy tính hiện đại trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi, là sự kế thừa của ông đối với các tư tưởng triết học chính trị phương Tây Fukuzawa đã tiếp cận vấn đề công dân dưới góc độ chức năng, cho rằng mối quan hệ giữa công dân và chính phủ là một mối quan hệ khế ước và phân chia vai trò để tạo thành một xã hội thống nhất

Kế đó, Fukuzawa Yukichi còn kêu gọi nhân tài đóng góp sức mình trong khu vực ngoài chính phủ Đây là một quan điểm có thể nói là đi ngược với số đông hiện thời Cải cách Minh Trị năm 1868 đã mở ra một hướng đi mới và tích cực cho giới trí thức Nhật Bản, khiến họ mong muốn được tham gia vào chính trị, đóng góp sức lực cho đất nước Sự thu hút nhân tài vào chính phủ như thế này là một cơ hội to lớn để phát triển đất nước, thế nhưng Fukuzawa lại kêu gọi nhân tài không nên đổ xô vào làm quan chức mà thay vào đó khuyến khích họ cống hiến trong lĩnh vực tư nhân Lý do là vì ông cảm thấy khu vực tư nhân cũng hoàn toàn có thể đóng góp vào công việc chính trị, các hoạt động sản xuất kinh tế mà người dân thực hiện hàng ngày cũng đều tạo ra những giá trị lớn lao cho đất nước Do vậy, khu vực tư nhân cũng rất cần phải thu hút nhân tài, phát triển nhân lực để đất nước có thể phát triển đồng bộ và trơn tru Mặt khác, làm việc ở ngoài chính phủ cũng là một môi trường tốt để nhân tài rèn luyện và phát triển tài năng của mình, quan chức không phải là con đường tiến thân duy nhất

Quan điểm đối lập với truyền thống quan bảng của Fukuzawa đã mở ra một hướng đi rộng mở cho việc phát triển nguồn lực đất nước Với nguồn nhân lực chất lượng hoạt động trong khối tư nhân, quốc gia có thể xây dựng được một nền kinh tế đa dạng, năng động trên nhiều lĩnh vực Trong các triều đại Nho giáo, giới trí thức chỉ chuyên tâm vào sách vở kinh điển, văn chương, lịch sử để có thể tiến thân trong chính quyền Họ bị bó hẹp về tri thức cũng như nhận thức, do đó dễ trở nên lúng túng lẫn bất mãn một khi thời đại mới mở ra Với phương hướng mà Fukuzawa đề ra, vấn đề này được giải quyết Một mặt, giới trí thức không cảm thấy mình thừa thãi trong thời đại mới bởi khoa bảng không còn là mục đích tối thượng nhằm khẳng định bản thân Mặt khác, tiềm lực nhân lực của đất nước được phát huy một cách đa dạng và mạnh mẽ, các cá nhân được khai phóng và hồ hởi với công cuộc lao động xây dựng đất nước

Tóm lại, tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân là sự phản biện với tư tưởng cai trị trong truyền thống Nho giáo và là sự kế thừa những giá trị phương Tây để vạch ra con đường mới cho Nhật Bản Đó là chú trọng phát triển công dân với tư cách là những cá nhân độc lập, đề cao phát triển trí lực, kêu gọi đóng góp ở khu vực tư nhân, tất cả hướng đến mục tiêu đưa Nhật Bản trở thành một quốc gia độc lập, hiện đại và vững mạnh Những đặc điểm này đã mang lại tính cách mạng cho tư tưởng của Fukuzawa Yukichi, có sức lay động lay mạnh mẽ đến toàn thể người dân Nhật Bản trong mọi tầng lớp.

Ý nghĩa lịch sử tư tưởng của Fukuzawa Yukichi về vấn đề công dân 111 Kết luận chương 2

Thứ nhất, tư tưởng về công dân của Fukuzawa Yukichi vạch ra những giá trị cơ bản để xây dựng một quốc gia hiện đại

Xác định lại bản chất và vị trí của công dân trong mối quan hệ với nhà nước là công việc cần thiết tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của quốc gia hiện đại.

Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi đã có tác động rất lớn đối với việc khai phóng nhận thức của người dân lúc bấy giờ Ông đã chỉ rõ sự khác nhau giữa một quốc gia văn minh hiện đại với một quốc gia “bán khai” như Nhật Bản, cho rằng điều căn bản của những khác biệt ấy nằm ở trình độ nhận thức của người dân Tập quán sống, nếp nghĩ truyền thống mà chế độ xã hội hàng trăm, hàng nghìn năm hình thành cho người dân đã không còn phù hợp với thời đại, hơn nữa còn là yếu tố cản trở con đường văn minh hóa của quốc gia Cách thức nhìn nhận và phân tích vấn đề của Fukuzawa là sự đột phá cho xã hội lúc bấy giờ khi ông truy tìm con đường thay đổi vận mệnh đất nước ở nhận thức của từng cá nhân Ông nhận thấy rằng cho dù quốc gia có thay đổi chính phủ, thành lập bộ máy chính quyền theo hình thức tương tự với các quốc gia hiện đại phương Tây đi chăng nữa, nhưng nếu người dân chưa mang tinh thần của một công dân hiện đại thì quốc gia đó cũng không thể xem là hiện đại, không đạt đến được văn minh

Quốc gia hiện đại trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi xoay quanh các vấn đề như: công dân, chính phủ, mối quan hệ bình đẳng, ý thức chính trị, nghĩa vụ tham gia công việc chính trị, phát triển nhân lực trong các khu vực kinh tế, chính trị, học thuật Đây là những vấn đề khá mới mẻ đối với một quốc gia phong kiến lâu đời Học giả Matsuzawa Hiroaki nhận xét rằng lý luận về quốc dân mà Fukuzawa Yukichi trình bày trong tác phẩm của mình

“mang lại tác động to lớn đến những người cùng thời đại và được tiếp thu rộng rãi Hơn hết, lý luận ấy còn phát huy một nguồn sức mạnh khổng lồ phủi bay những quan niệm truyền thống về vị trí của cá nhân, chính phủ và xã hội chính trị” (Matsuzawa Hiroaki, 1990, tr.760-761) Sự tiếp thu và vận dụng giá trị tư tưởng phương Tây của Fukuzawa đã mở ra một bầu không khí mới, sôi động và phong phú Có thể nói, giá trị tư tưởng của ông là một nền tảng quan trọng cho công cuộc hiện đại hóa của đất nước Nhật Bản

Thứ hai, tư tưởng về công dân của Fukuzawa Yukichi chỉ ra vai trò quan trọng của nguồn lực công dân trong sự phát triển đất nước

Sức mạnh cá nhân thường bị xem nhẹ trong truyền thống tư tưởng Nho giáo Ở xã hội phong kiến, mỗi người phải cố gắng bỏ qua “cái tôi” cá nhân để hướng về “cái ta” chuẩn mực của toàn xã hội Điều này khiến hầu hết người dân bị mất đi tính độc lập, tinh thần tự do, không dám suy nghĩ và đưa ra quan điểm của riêng mình Fukuzawa Yukichi đả phá tập quán này và cố gắng khiến xã hội hiểu được ý nghĩa quan trọng của tính độc lập ở công dân Ông cho rằng tinh thần và trí lực của công dân chính là nền tảng cho sức mạnh của một quốc gia, do vậy nếu muốn quốc gia độc lập thì trước tiên mỗi công dân trong quốc gia đó phải là những công dân có tinh thần độc lập

Fukuzawa Yukichi đã nhấn mạnh vào một nguồn lực mà truyền thống phong kiến ít quan tâm đến Trong xã hội Nho giáo, chính trị là công việc của riêng của vua chúa và quan chức Người dân bị gạt hẳn ra ngoài công việc chính trị bởi giới cai trị cho rằng dân chúng không đủ năng lực hiểu và tham gia vào các vấn đề lớn lao này Mục tiêu mà tầng lớp thống trị đặt ra trong việc quản lý nhân dân chỉ là làm sao để người dân có cuộc sống yên ổn, từ đó đảm bảo được trật tự xã hội trong nước và tránh cho quần chúng tập hợp lật đổ chính quyền Thế nhưng bằng sự tiếp thu các tư tưởng hiện đại phương Tây, Fukuzawa cho rằng tính độc lập và khí phách tự do cho công dân là mục tiêu mà sự quản lý của chính phủ cần phải tạo ra được Chí khí của mỗi cá nhân chính là nền tảng để xây dựng một quốc gia “Fukuzawa Yukichi cho rằng kể cả khi xây dựng một chính thể lập hiến, trước nhất cũng phải tạo nên được tinh thần công dân tự do tự chủ, từ đó mới có thể đảm bảo sản sinh nên bản chất thực thụ của một chính thể lập hiến” (OU Jianying, 2016, tr.67) Điều tạo nên sức mạnh quốc gia không phải là sự ổn định làm nên từ luật lệ hà khắc hay quy định chi tiết đến từng hoạt động đời sống của người dân, mà là khí phách tự do và tinh thần hăng hái chính trị ở mỗi công dân Công dân là lực lượng không thể thiếu để làm nên vận mệnh đất nước Nếu thiếu đi sự hỗ trợ từ sức mạnh của quần chúng nhân dân, chính phủ dù có sức mạnh và tài ba đến thế nào cũng không thể duy trì được nền độc lập lâu dài

Nhận thức vai trò của công dân trong phát triển quốc gia là điều quan trọng Nhật Bản đã chứng minh con người là yếu tố chủ chốt trong sự phát triển thần kỳ của họ Từ quan chức chính phủ đến mọi thành phần xã hội đều tham gia vào quá trình này Tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi là nền tảng cho sự phát triển kinh tế đồng bộ và đa dạng của Nhật Bản.

Thứ ba, tư tưởng về công dân của Fukuzawa Yukichi mở ra cho các cá nhân, đặc biệt là giới trí thức thấy được cách thức đóng góp cho đất nước

Trong những thời điểm giao thời, thái độ bất mãn và lánh đời thường xuất hiện ở các trí thức Tuy nhiên, Fukuzawa Yukichi phản đối quan điểm này và đưa ra giải pháp khắc phục Ông chỉ trích tư tưởng đổ lỗi cho thời đại mà không phát huy năng lực Theo Fukuzawa, bản thân mỗi cá nhân phải điều chỉnh giá trị để phù hợp với thời cuộc, giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách Bằng cách đó, bất chấp chế độ chính trị, ai cũng có thể đóng góp cho lợi ích cộng đồng.

Fukuzawa Yukichi đã mở rộng quan niệm về cách thức tiến thân cho các cá nhân trong xã hội Theo đó, quan chức không phải là con đường duy nhất hay tốt nhất để cống hiến cho đất nước Một quốc gia giàu mạnh ngoài chính trị còn rất cần đến các lĩnh vực như sản xuất, thương mại, học thuật… Ở bất kỳ lĩnh vực nào, sự lao động của người dân cũng vô cùng có giá trị đối với vận mệnh quốc gia Do vậy, công dân nên tích cực trong chính công việc hàng ngày của mình, đồng thời ý thức được vai trò bản thân trong sự nghiệp của toàn dân tộc

Cách nhìn này của Fukuzawa Yukichi một mặt giải quyết những mâu thuẫn, bất mãn trong buổi chuyển giao thời đại, mặt khác phát huy được triệt để sức mạnh của các thành phần công dân Ý thức dân tộc theo đó cũng nảy sinh và tạo ra khí thế hăng hái ở quần chúng Tự hào về công việc của bản thân và tinh thần cống hiến cho quốc gia trong mọi lĩnh vực chính là một trong những yếu tố quan trọng làm nên tính “thần kỳ” cho công cuộc hiện đại hóa đất nước của quốc gia châu Á này

Thứ tư, một số gợi mở từ tư tưởng về công dân của Fukuzawa Yukichi đối với thực tiễn Việt Nam hiện nay

Ra đời tại Nhật Bản từ thế kỷ XIX, trải qua đã hơn 150 năm nhưng đến nay, tư tưởng về công dân của Fukuzawa Yukichi vẫn còn giá trị to lớn đối với thực tiễn Việt Nam Xây dựng tinh thần công dân và phát huy nguồn lực công dân là mục tiêu và nỗ lực xuyên suốt trong chính sách của Đảng ta, thế nhưng, Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn lại chỉ ra rằng:

“Có một thực tế rất dễ nhận ra là không phải nhân dân ta ai cũng đều hiểu, đều biết và đã có đầy đủ khả năng sử dụng các quyền dân chủ mà mình được hưởng Vì vậy, trước hết, như Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, phải

Để nhân dân thực sự thụ hưởng quyền dân chủ, họ cần phải hiểu rõ và biết cách sử dụng quyền đó Điều này đòi hỏi một trình độ hiểu biết và học vấn nhất định Nếu trình độ quá thấp hoặc thiếu sự hiểu biết, người dân có thể vô tình tự tước đi những quyền đáng được hưởng, dẫn đến tình trạng mất tự do.

Do vậy, phát triển năng lực tư duy và ý thức chính trị cho người dân là yêu cầu quan trọng đối với đất nước ta hiện nay Để làm được điều đó, theo như Fukuzawa Yukichi, trước hết cần khiến người dân hiểu được vai trò bình đẳng của mình trong mối quan hệ với chính phủ, tránh thái độ e sợ hoặc tôn sùng chính phủ Cần tạo cho người dân tập quán tranh luận, phản biện trước các vấn đề xã hội và các luật lệ được ban hành Mỗi người dân cần hiểu được ý nghĩa đằng sau luật pháp mà nhà nước đặt ra, tránh việc áp dụng luật pháp, lý thuyết, đạo lý một cách rập khuôn, sáo rỗng Năng lực tư duy độc lập, tính chủ động, tinh thần hướng đến lợi ích chung sẽ là những điều kiện để tạo nên những công dân tự do Mác và Ph Ăngghen từng tuyên bố rằng “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (C Mác & Ph Ăngghen, 1995, tr.628) Do vậy, việc xây dựng tinh thần tự do cho mỗi công dân là vô cùng quan trọng đối với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội mà đất nước ta đang theo đuổi Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị thực tiễn to lớn, tư tưởng của Fukuzawa Yukichi cũng có một số hạn chế nhất định Trong quan niệm của mình về văn minh, Fukuzawa cho rằng những nước văn minh cao thống trị các nước trình độ thấp kém hơn là lẽ hiển nhiên Tính độc lập dân tộc mà ông hướng đến không chỉ là bảo vệ đất nước khỏi sự thống trị của ngoại bang, mà còn là được đứng ngang hàng với cường quốc phương Tây, trở thành trung tâm của châu Á Học giả Kunihiko Uemura nhận xét rằng:

Ngày đăng: 13/09/2024, 09:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alvin Toffler. (2019). Cú sốc tương lai. (Thanh Hoa dịch). Hà Nội: Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú sốc tương lai
Tác giả: Alvin Toffler
Năm: 2019
2. Arnold Toynbee. (2002). Nghiên cứu về lịch sử – Một cách thức diễn giải. Hà Nội: Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về lịch sử "–" Một cách thức diễn giải
Tác giả: Arnold Toynbee
Năm: 2002
3. Chương Thâu. (2004). Nghiên cứu Phan Bội Châu. Hà Nội: Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Phan Bội Châu
Tác giả: Chương Thâu
Năm: 2004
4. C. Mác & Ph. Ăngghen. (1995). Toàn tập, Tập 4. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác & Ph. Ăngghen
Năm: 1995
5. Cao Xuân Long & Đinh Thị Kim Lan. (2019). Đạo trị nước trong tư tưởng Khổng-Mạnh. Thành phố Hồ Chí Minh: Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo trị nước trong tư tưởng Khổng-Mạnh
Tác giả: Cao Xuân Long & Đinh Thị Kim Lan
Năm: 2019
6. Conrad Schirokauer. (1982). Modern China and Japan – A brief history. New York: Hascourt Brace Jovanovich Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern China and Japan – A brief history
Tác giả: Conrad Schirokauer
Năm: 1982
7. Conrad Schirokauer. (1993). A brief history of Japanese civilization. Fort Worth: Harcourt brace Jovanovich Sách, tạp chí
Tiêu đề: A brief history of Japanese civilization
Tác giả: Conrad Schirokauer
Năm: 1993
8. Doãn Chính chủ biên. (2012). Lịch sử triết học phương Đông. Hà Nội: Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Đông
Tác giả: Doãn Chính chủ biên
Năm: 2012
9. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Hà Nội : Chính trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2021
10. Đỗ Đức Minh & Võ Thị Hoa. (2019). Minh Trị duy tân: Cuộc cách mạng tư tưởng của người Nhật và tư duy phương Đông. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, 35(2), 72-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, 35
Tác giả: Đỗ Đức Minh & Võ Thị Hoa
Năm: 2019
11. Đỗ Lộc Diệp. (2002). Chủ nghĩa tư bản ngày nay: Những nét mới từ thực tiễn Mỹ, Tây Âu, Nhật. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa tư bản ngày nay: Những nét mới từ thực tiễn Mỹ, Tây Âu, Nhật
Tác giả: Đỗ Lộc Diệp
Năm: 2002
12. Đỗ Minh Hợp. (2014). Lịch sử triết học phương Tây – Triết học phương Tây cận hiện đại. Hà Nội: Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây – Triết học phương Tây cận hiện đại
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 2014
13. Đoàn Trung Còn. (1996). Tứ thư, (Trọn bộ 4 tập). Huế: Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thư
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Năm: 1996
14. Edwin O. Reischayuer. (1994). Nhật Bản quá khứ và hiện tại. (Nguyễn Nghị dịch). Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản quá khứ và hiện tại
Tác giả: Edwin O. Reischayuer
Năm: 1994
15. Edwin O. Reichayuer. (1998). Nhật Bản – Câu chuyện về một quốc gia. Hà Nội: Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản "–" Câu chuyện về một quốc gia
Tác giả: Edwin O. Reichayuer
Năm: 1998
16. Fukuzawa Yukichi. (1885). Thoát Á luận. (Hải Âu & Kuriki Seiichi dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thoát Á luận
17. Fukuzawa Yukichi. (2005). Phúc ông tự truyện: Hồi ký của Fukuzawa Yukichi (1835-1901). (Phạm Thu Giang dịch). Hà Nội: Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc ông tự truyện: Hồi ký của Fukuzawa Yukichi (1835-1901)
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Năm: 2005
18. Fukuzawa Yukichi. (2015). Khuyến học: Cuốn sách tạo nên sự hùng mạnh cho nước Nhật. (Phan Hữu Lợi dịch). Hà Nội: Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến học: Cuốn sách tạo nên sự hùng mạnh cho nước Nhật
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Năm: 2015
19. Fukuzawa Yukichi. (2019). Bàn về văn minh. (Lê Huy Vũ Nam & Nguyễn Anh Phong dịch). Hà Nội: Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn minh
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Năm: 2019
20. George Sansom. (1994). Lịch sử Nhật Bản, Tập 3. (Lê Năng An dịch). Hà Nội: Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: George Sansom
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Fukuzawa Yukichi (1835-1901) – chân dung chụp trong chuyến - tư tưởng của fukuzawa yukichi về vấn đề công dân nội dung đặc điểm và ý nghĩa lịch sử
Hình 1 Fukuzawa Yukichi (1835-1901) – chân dung chụp trong chuyến (Trang 135)
Hình 2: Chân dung Fukuzawa Yukichi năm 1891 - tư tưởng của fukuzawa yukichi về vấn đề công dân nội dung đặc điểm và ý nghĩa lịch sử
Hình 2 Chân dung Fukuzawa Yukichi năm 1891 (Trang 135)
Hình 4: Chân dung Fukuzawa Yukichi trên tờ tiền 10.000 Yên – tờ tiền - tư tưởng của fukuzawa yukichi về vấn đề công dân nội dung đặc điểm và ý nghĩa lịch sử
Hình 4 Chân dung Fukuzawa Yukichi trên tờ tiền 10.000 Yên – tờ tiền (Trang 136)
Hình 3: Giao thương tại đảo Dejima thuộc Nagasaki vào thời kỳ Edo.  Nagasaki là một trong hai địa điểm duy nhất được giao thương với nước  ngoài dưới thời Mạc phủ Tokugawa - tư tưởng của fukuzawa yukichi về vấn đề công dân nội dung đặc điểm và ý nghĩa lịch sử
Hình 3 Giao thương tại đảo Dejima thuộc Nagasaki vào thời kỳ Edo. Nagasaki là một trong hai địa điểm duy nhất được giao thương với nước ngoài dưới thời Mạc phủ Tokugawa (Trang 136)
Hình 5: Đại học Keio (Khánh Ứng Nghĩa Thục) – ngôi trường do  Fukuzawa Yukichi thành lập năm 1858, nay là một trong những trường đại - tư tưởng của fukuzawa yukichi về vấn đề công dân nội dung đặc điểm và ý nghĩa lịch sử
Hình 5 Đại học Keio (Khánh Ứng Nghĩa Thục) – ngôi trường do Fukuzawa Yukichi thành lập năm 1858, nay là một trong những trường đại (Trang 137)
Hình 6: Dòng chữ “Trời không tạo ra người đứng trên người” được  khắc bằng chữ Latin tại Tòa nhà phía Đông của Đại học Keio - tư tưởng của fukuzawa yukichi về vấn đề công dân nội dung đặc điểm và ý nghĩa lịch sử
Hình 6 Dòng chữ “Trời không tạo ra người đứng trên người” được khắc bằng chữ Latin tại Tòa nhà phía Đông của Đại học Keio (Trang 137)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w