1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

tieu luan tac tong cua ngoai thuong tu 1986 den nay pptx

29 277 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 229,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng trong lĩnh vực ngoại thương, các hoạtđộng xuất nhập khẩu đã có những tiến bộ vượt bậc, đóng góp tích cực vào sựtăng trưởng và phát triển của đất nước.. Thực tiễn ở Việt Nam đã chứn

Trang 1

KINH TẾ VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY

==============================================

MỞ ĐẦU

Xu hướng toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại đã và đang phát triển mạnh

mẽ hơn bao giờ hết Đó là một quá trình lâu dài và bao quát tổng thể các lĩnhvực trên phạm vi toàn cầu, với sự tham gia của hầu hết các quốc gia từ cácnước công nghiệp phát triển nhất đến các nước đang và kém phát triển Trênthế giới, các nước lớn, nhỏ đều ưu tiên cho phát triển kinh tế, theo đuổi chínhsách kinh tế mở Thực tiễn phát triển kinh tế trên thế giới đã cho thấy, sựthành công trong phát triển kinh tế của các quốc gia dù ở trình độ nào cũngđều phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó ngoạithương giữ vị trí trọng tâm Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật này.Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đã đề ra đường lối đổimới cho Việt Nam Tiếp tục, Đại hội VII xác định đường lối đối ngoại “độclập tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá”, “Việt Nam muốn làm bạn với tất cảcác nước” Đại hội IX khẳng định chủ trương “phát huy cao độ nội lực, đồngthời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đểphát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” Sau hơn 25 năm đổi mới, chúng

ta đã đạt được nhiều kết quả và thành tựu phát triển khả quan trong nhiều lĩnhvực của nền kinh tế quốc dân Riêng trong lĩnh vực ngoại thương, các hoạtđộng xuất nhập khẩu đã có những tiến bộ vượt bậc, đóng góp tích cực vào sựtăng trưởng và phát triển của đất nước Thực tiễn ở Việt Nam đã chứng minhrằng, ngoại thương trong hơn hai thập kỷ vừa qua đã thực sự trở thành mộtđộng lực không thể thiếu để phát triển kinh tế đất nước, trong bối cảnh quốc

tế và trong nước có nhiều biến động mà những biến động đó không phải lúcnào cũng có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế nước ta Vậy ngoại thương đã

Trang 2

tác động như thế nào đến sự phát triển kinh tế ở Việt Nam từ khi đổi mới đếnnay? và tác động đó được thể hiện thông qua những khía cạnh kinh tế nào?

Với những lý do trên, em xin chọn chủ tài: “Tìm hiểu tác động của ngoại

thương đến phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến nay”

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

TRƯỚC VÀ SAU ĐỔI MỚI

1 Ngoại thương Việt Nam trước khi đổi mới

Nói một cách công bằng thì trước thời kỳ đổi mới, trong tư duy kinh tế

- chính trị chúng ta đã phần nào nhận thức được tầm quan trọng của việc pháttriển kinh tế đối ngoại, trong đó có ngoại thương Tuy nhiên, do nhiều nguyênnhân chủ quan và khách quan, chúng ta đã có những hạn chế, sai lầm trongquá trình thực thi đường lối xây dựng, phát triển kinh tế nói chung và kinh tếđối ngoại, ngoại thương nói riêng Sự nóng vội, đốt cháy giai đoạn để đinhanh lên CNXH theo một quan điểm duy ý chí, tự lực cánh sinh theo kiểubiệt lập, khép kín cùng với một cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quanliêu, bao cấp kéo dài nhiều năm đã trở thành vật cản, sức ỳ làm triệt tiêu các độnglực, kìm hãm tăng trưởng và phát triển kinh tế Riêng trong lĩnh vực kinh tế đốingoại, mặc dù ngay từ những năm 60 chúng ta đã có quan hệ với hơn 40 nướcnhưng trên thực tế, các hoạt động thương mại của Việt Nam với các nước bên ngoàichỉ giới hạn chủ yếu trong phạm vi các nước XHCN Xuất khẩu sang các nước nàythường xuyên chiếm hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu từ các nướcnày cũng thường xuyên chiếm trên 80% tổng kim ngạch nhập khẩu

Từ năm 1976, trong bối cảnh đất nước thống nhất, hoạt động ngoại thương

có những thuận lợi mới Chúng ta có điều kiện và khả năng khai thác có hiệuquả tiềm năng của đất nước (đất đai, rừng, biển, khí hậu, tài nguyên thiên

Trang 3

nhiên, ) để đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển du lịch, các dịch vụ thu ngoại tệ, pháttriển ngoại thương, mở rộng hợp tác Kinh tế - Khoa học - Kỹ thuật với nướcngoài, thu hút vốn và kỹ thuật của nước ngoài Về quan hệ hợp tác thương mại vớicác nước, ngoài các nước XHCN, Việt Nam đã tăng cường quan hệ kinh tế -thương mại với một số nước TBCN và các nước đang phát triển như Nhật Bản,Pháp, Đức, Thuỵ Điển, ấn Độ, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Thái Lan,Xingapo, Nhờ đó, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang các nước này trong tổngkim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng đến 46,8% (1986), trong đó Nhật Bản

là một trong năm bạn hàng lớn nhất của Việt Nam Mặc dù kim ngạch xuất khẩusang các nước XHCN vẫn tiếp tục tăng về mặt giá trị song về mặt tỷ trọng thì lạigiảm đi so với kim ngạch xuất khẩu sang các nước ngoài XHCN

Xu t - nh p kh u theo hai khu v c th i k 1976 - 1986ất - nhập khẩu theo hai khu vực thời kỳ 1976 - 1986 ập khẩu theo hai khu vực thời kỳ 1976 - 1986 ẩu theo hai khu vực thời kỳ 1976 - 1986 ực thời kỳ 1976 - 1986 ời kỳ 1976 - 1986 ỳ 1976 - 1986

Cán cân ngoại thương

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Cán cân ngoại thương

Nguồn: Số liệu thống kê 1976 - 1990 NXB thống kê, Hà Nội, 1991

Nhưng bên cạnh những thuận lợi mới, chúng ta lại đứng trước những khókhăn gay gắt cả từ bên ngoài lẫn bên trong Bên ngoài đó là hai cuộc chiếntranh biên giới Tây Nam và phía bắc; các nước XHCN đang bộc lộ dần nhữngdấu hiệu của sự khủng hoảng kinh tế và chính trị nên việc giúp đỡ Việt Nam

Trang 4

cũng bị hạn chế Ở trong nước, do trình độ phát triển kinh tế của cả nước cònthấp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, kinh tế hàng hoá chưa phát triển,chưa có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Kết quả là sản xuất tăng chậm, lưu thônghàng hoá bị đình đốn do chính phủ có một số sai lầm về đường lối và chính sáchkinh tế, giá cả tăng nhanh, lạm phát có nguy cơ ngày càng trầm trọng, đời sốngnhân dân lại càng thêm khó khăn do Mỹ vẫn tiếp tục thực hiện chính sách cấmvận Việt Nam Trong bối cảnh đó, kinh tế đối ngoại trong đó có ngoại thươngvẫn chưa thể vươn mạnh, phát huy đúng vị trí và vai trò của nó trong nền kinh tếcũng là điều dễ hiểu Mặt khác, chiến tranh kéo dài để lại những hậu quả kinh tếnặng nề làm cho đất nước phát triển chậm lại nhiều năm và gây ra những vếtthương xã hội mà phải qua nhiều năm mới hàn gắn được.

Trước tình hình đó, ta phải phát triển và mở rộng các hoạt động kinh tế đốingoại, trong đó có ngoại thương để đưa đất nước tiến lên Báo cáo chính trị tạiĐại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV (năm 1976) nhấn mạnh tính tất yếukhách quan và tầm quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là ngoạithương đối với nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN Với đường hướng đó, năm 1977, nước ta tham gia Ngân hàng Đầu tưQuốc tế và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế(HĐTTKT) Tháng 7 - 1978, tại khoá họp lần thứ 32 của HĐTTKT, nước ta

đã gia nhập HĐTTKT với tư cách là thành viên chính thức

Sau khi gia nhập HĐTTKT, Chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp ước hữu nghị

và Hiệp ước hợp tác kinh tế dài hạn với Liên Xô (11 - 1978) và nhiều nướcXHCN khác

Ngày 18 - 04 - 1977, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Điều lệ về đầu tưcủa nước ngoài vào Việt Nam, nhằm thu hút đầu tư của nước ngoài, khôngphân biệt chế độ chính trị, trên nguyên tắc đảm bảo độc lập chủ quyền củaViệt Nam và các bên cùng có lợi Nhưng từ cuối năm 1978, đầu năm 1979

Trang 5

đến cuối 1980, tình hình trở nên phức tạp Trong những năm này, trong khiLiên Xô và các nước XHCN, ấn Độ và một số nước bạn bè khác tận tình hợptác hỗ trợ Việt Nam để khắc phục khó khăn thì một số nước phương Tây thựchiện chính sách cấm vận và phân biệt đối xử với Việt Nam, ngừng viện trợ vàđầu tư, kể cả ngưng thực hiện các khoản tín dụng đã cam kết với chính phủ ta.

Họ còn tác động tới các tổ chức kinh tế tài chính, tín dụng quốc tế để ngừngcác quan hệ với Việt Nam như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới.Hoàn cảnh quốc tế không thuận lợi đó đã gây ra cho nước ta không ít khókhăn nhưng kinh tế đối ngoại nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng vẫnđược tiếp tục phát triển Dưới đây là kết quả hoạt động xuất nhập khẩu giaiđoạn 1976 - 1985

Xu t nh p kh u c a Vi t Nam giai o n 1976-1985ất - nhập khẩu theo hai khu vực thời kỳ 1976 - 1986 ập khẩu theo hai khu vực thời kỳ 1976 - 1986 ẩu theo hai khu vực thời kỳ 1976 - 1986 ủa Việt Nam giai đoạn 1976-1985 ệt Nam giai đoạn 1976-1985 đoạn 1976-1985 ạn 1976-1985

Năm Tổng kim ngạch

xuất nhập khẩu Xuất khẩu Nhập khẩu

Cán cân thương mại Trị giá Tỷ lệ%

Nguồn: Số liệu thống kê 1976-1990 NXB thống kê, Hà Nội, 1991

Qua thống kê trên chúng ta thấy:

- Kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm Tỷ lệ tăng trưởng bìnhquân trong 10 năm (1976 - 1985) của xuất khẩu tăng cao hơn tỷ lệ tăng củatổng kim ngạch buôn bán hai chiều và của nhập khẩu Trong khi tỷ lệ tăngtrưởng bình quân trong 10 năm của xuất khẩu là 13,5%, thì của xuất nhậpkhẩu cộng lại là 8,4%/năm và của nhập khẩu chỉ có 7%/năm

Trang 6

- Nhập siêu vẫn là đặc trưng cơ bản, dễ nhận thấy của cán cân ngoạithương suốt cả thời kỳ này Trị giá xuất khẩu tuy có tăng nhưng trong 10 năm

1976 - 1986, xuất khẩu cũng chỉ đảm bảo được 30,8% tổng số tiền nhập khẩu.Cán cân thương mại quốc tế luôn nhập siêu và nhập siêu có xu hướng tăng

Sự yếu kém của ngoại thương Việt Nam thời kỳ này còn thể hiện rất rõ

ở chỗ các sản phẩm xuất khẩu vừa nhỏ bé về số lượng, vừa đơn điệu về cơcấu chủng loại, chất lượng và bao bì Chiếm trên 80% tổng giá trị kim ngạchxuất khẩu vẫn là các hàng Nông - Lâm sản, tiểu thủ công, mỹ nghệ và khoángsản nghĩa là chủ yếu vẫn là các sản phẩm thô hoặc sơ chế, các sản phẩm củacông nghiệp chế tạo, chế biến còn chiếm tỷ lệ rất thấp

Hầu hết các loại hàng hoá thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống đềuphải nhập khẩu Ngoài sắt thép, xăng dầu, máy móc, thiết bị còn nhập khẩu cảhàng tiêu dùng Kể cả những loại hàng hoá lẽ ra sản xuất trong nước có thểđáp ứng được như lúa gạo, vải mặc Trong những năm 1976 - 1985 đã nhậpkhẩu 60 triệu mét vải các loại, và gần 1,5 triệu tấn lương thực quy gạo

Chính những yếu kém này cùng những ràng buộc phiền hà của cơ chếquản lý cũ chưa được tháo gỡ đã khiến Việt Nam bị hạn chế nhiều trong việc

mở rộng thị trường, tìm kiếm bạn hàng mới, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạtđộng ngoại thương, đặc biệt là xuất khẩu và phát triển hàng xuất khẩu Năm

1985 là năm đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất so với những năm trước đónhưng cũng chỉ đạt đến con số gần 700 trriệu rúp - đô la (R- USD) Nếu sovới các nước khác, giá trị kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu người của ViệtNam năm 1985 mới chỉ ở mức 12 R - USD, vào loại thấp nhất thế giới

Nhằm khắc phục tình trạng trì trệ của nền kinh tế, Hội nghị ban chấphành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá IV) đã đề ra một số biện pháp cải tiến

cơ chế quản lý hoạt động ngoại thương, đặc biệt là quản lý xuất khẩu Tuy

Trang 7

nhiên, độc quyền ngoại thương vẫn là nguyên tắc chỉ đạo mọi hoạt động ngoạithương trong giai đoạn này.

2 Ngoại thương Việt Nam từ 1986 đến nay

Để dễ dàng trong việc phân tích và đánh giá kết quả hoạt động ngoạithương thời kỳ này, chúng ta sẽ chia ngoại thương Việt Nam từ 1986 đến naylàm hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là từ khi bắt đầu đổi mới (1986) đến khichúng ta gia nhập WTO; và giai đoạn thứ hai là từ khi gia nhập WTO đếnnay, trong đó chúng ta đi sâu phân tích ngoại thương Việt Nam trong 10 nămcuối cùng của thế kỷ XX (1991 - 2000)

2.1 Giai đoạn 1986 đến khi gia nhập WTO

Công cuộc đổi mới, mở cửa của nền kinh tế được Đảng Cộng sản ViệtNam khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12 - 1986 Từ

đó đến nay, chúng ta đã thực sự có những biến đổi sâu sắc, hoạt động ngoạithương có những bước tiến vượt bậc, kinh tế đối ngoại được coi là “mũinhọn” của sự đổi mới Quan niệm cứng nhắc coi “độc quuyền ngoại thương”

là bản chất kinh tế của nhà nước XHCN đã từng bước được xem xét lại vàphần nào cũng được bỏ qua trong thực tiễn Ngoại thương đặc biệt là hoạtđộng sản xuất, kinh doanh xuất khẩu được đề cao, coi đó là một trong bachương trình kinh tế trọng điểm của đất nước Luật Đầu tư nước ngoài đượcQuốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua tháng 12 - 1987 Nghịđịnh 64 / HĐBT ngày 16/06/1989 của Hội đồng bộ trưởng về chế độ tổ chức,quản lý kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu là cơ sở của chính sách thươngmại trong thời kỳ này, về cơ bản đã thể hiện được bước ngoặt quan trọng đầutiên của sự nới lỏng cơ chế quản lý ngoại thương theo tinh thần đổi mới.Ngoài ra, các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như du lịch, kiều hối, dịch vụtầu biển, hàng không, hợp tác lao động quốc tế, đều được chính phủ ViệtNam coi trọng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển Với những chính

Trang 8

sách thông thoáng như vậy, có thể nói rằng quan điểm phát triển một nền kinh

tế khép kín theo kiểu tự lực cánh sinh trước đây đã bị phủ định hoàn toàn, do

đó đã góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế Riêng tronghoạt động xuất khẩu, nếu như những năm 1976 - 1980 xuất khẩu có tốc độtăng bình quân hàng năm là 11%, những năm tiếp theo 1981 - 1985 là 15,6%,thì trong hai năm 1986, 1987 đã đạt tới mức 27% Riêng năm 1989 so vớinăm 1988 tăng 75,3% (gần bằng mức tăng của cả 15 năm 1960 - 1975) Năm

1990, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu đã vượt được mức 2 tỷ USD, tăng21,6% so với năm 1989 và gấp 2 lần so với năm 1988 Khoảng cách chênhlệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu đã rút ngắn, từ tỷ lệ 1/7 giai đoạn 60 - 75xuống tỷ lệ 1/2,6 năm 1986 và đến năm 1990 chỉ còn chênh lệch ở tỷ lệkhông đáng kể 1/1,3 Trong những năm này (1986-1990), ngoài việc tiếp tụcduy trì quan hệ thương mại với các nước XHCN, quan hệ thương mại giữaViệt Nam với các nước TBCN ngày càng được mở rộng Xuất khẩu sang cácnước này trong 5 năm (1986 - 1990) đã đạt 3,5 tỷ USD, gấp 3,1 lần so với 5năm trước đó (1981 - 1985) Số liệu tương ứng các thời gian trên về nhậpkhẩu cũng diễn biến theo xu hướng ngày càng tăng hơn: giai đoạn 1986 -

1990 là 3,8 tỷ USD, gấp 1,6 lần so với 2,1 tỷ USD của giai đoạn 1981 - 1985.Công cuộc đổi mới nền kinh tế đang gặt hái được một số kết quả bước đầuthì Việt Nam đã đương đầu với những khó khăn, thử thách mới:

- Sự tan rã của Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (cũ)trong những năm 1989 - 1991 không những làm cho Việt Nam mất hẳn chỗdựa về nguồn viện trợ vốn, nguồn cung cấp các vật tư chiến lược mà còngây ra những hụt hẫng do việc đột ngột bị mất đi một thị trường lớn tiêu thụnhiều loại hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam như đồ tiểu - thủ công,

mỹ nghệ, nông - lâm - hải sản, khoáng sản và một số hàng tiêu dùng: đồ da,may mặc sẵn Chỉ riêng việc chấm dứt viện trợ của Liên Xô (cũ) là hàng

Trang 9

năm Việt Nam đã mất đi gần 1 tỷ USD Ngoài ra, thị trường Liên Xô tan rã đãgây ra đảo lộn lớn cho Việt Nam, vì hàng năm Việt Nam vẫn nhập của Liên

Xô một khối lượng lớn các loại vật tư chiến lược: xăng dầu (từ 2,7 - 2,9 triệutấn), phân bón (từ 2 - 2,4 triệu tấn), thép (từ 30- 40 vạn tấn), và 6 vạn tấn tônthiếc, phương tiện vận tải, phụ tùng ô tô, thiết bị máy móc, các loại hoá chất ngược lại, Phía Việt Nam xuất sang Liên Xô các mặt hàng truyền thống vớimột khối lượng lớn chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm

Tóm lại, mất thị trường Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông

Âu, Việt Nam mất đi một thị trường lớn, chiếm 70 80% tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng năm

-Nhờ kiên trì sự nghiệp đổi mới theo nhiều giải pháp tích cực khác nhau,Chính phủ đã lái con thuyền kinh tế Việt Nam vượt qua cơn sóng gió, đi dầnvào thế ổn định Sản xuất và lưu thông trong nước đã trở lại chiều hướng pháttriển tốt hơn, khiến cho thị trường hàng hoá ngày càng phong phú, sôi độnghơn Giá cả thị trường tương đối ổn định, nguy cơ lạm phát bị đẩy lùi

Xét riêng về hoạt động ngoại thương, đường lối mở cửa của Đảng vàNhà nước ta đã đem laị những kết quả kỳ diệu cho nền kinh tế nói chung vàcho hoạt động xuất nhập khẩu trong thời kỳ 1991 - 2001 nói riêng Tổngmức lưu chuyển ngoại thương năm 2000 ước tính đạt 29,5 tỷ USD, gấp 6,5lần năm 1989 Tổng mức lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bình quân mỗinăm những năm 1990 - 2001 đạt 14,3 tỷ USD, gấp 2,5 lần mức bình quân thời

kỳ 1981 - 1990

Sồ lượng đơn vị tham gia xuất nhập khẩu đã tăng lên nhanh chóng quacác thời kỳ Năm 1985 chỉ có 40 đơn vị do nhà nước quản lý trực tiếp xuấtnhập khẩu; năm 1990 có 270 đơn vị, nhưng đến nay đã có trên 10.000 đơn vịthuộc mọi thành phần kinh tế tham gia, trong đó có cả các doanh nghiệp tưnhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Quan hệ quốc tế

Trang 10

những năm vừa qua đã có những thay đổi lớn thông qua việc tham gia các tổchức quốc tế và khu vực như Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN -1995), Diễn đàn kinh tế các nước Châu Á - Thái Bình Dương (APEC - 1998),nối lại ngoại giao với Hoa Kỳ và trở thành quan sát viên của WTO (1995), kýhiệp định thương mại với 61 nước, trong đó có Mỹ (tháng 7 - 2000) Năm

1990 nước ta có mối quan hệ buôn bán với trên 50 nước và vùng lãnh thổ,năm 1995 con số này là 100 và đến nay đã là trên 170 Quan hệ thương mạingày nay mở rộng tới các châu lục, các khối kinh tế khu vực và quốc tế Hoạtđộng xuất nhập khẩu đã dần tạo được chỗ đứng vững chẵc, mở ra những tiềmnăng mới trong tương lai.Thực hiện đường lối chính sách đó, Việt Nam đã tậptrung cải cách hành chính và tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, mởrộng hợp tác quốc tế, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệuquả, nhờ đó kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì được sức phát triển tương đốinhanh và ổn định Tốc độ tăng trưởng GDP vẫn duy trì được xu hướng tăngdần, năm 2001 đạt 6,89% và 2002 đạt 7,05%, năm 2003 đạt trên 7% Côngnghiệp là ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng giá trị cao nhất, đạt trên 10%mỗi năm Kim ngạch xuất nhập khẩu cũng không ngừng tăng lên, năm 2001đạt trên 15 tỷ USD xuất khẩu và trên 16 tỷ USD nhập khẩu, năm 2002 lầnlượt là trên 16,5 tỷ và 19,3 tỷ USD Đã hình thành những mặt hàng xuất khẩuchủ lực gồm hàng công nghiệp nhẹ, hàng nông, lâm, hải sản và hàng điện tử.Tuy tỷ lệ nhập siêu vẫn còn cao và biến động nhưng ngoại thương Việt Nam

đã đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế của đất nước Hoạt động du lịchcũng có bước phát triển vượt bậc với khoảng 2 triệu lượt khách quốc tế mỗinăm Các ngành dịch vụ liên quan như khách sạn, hàng không cũng có bướcphát triển mới Hệ thống tài chính tiền tệ cũng đang từng bước được cải thiện

và nâng cấp nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Các ngân hàng

Trang 11

hoạt động thông thoáng và ngày càng có nhiều dịch vụ hơn, đặc biệt là pháttriển hệ thống dịch vụ ngân hàng điện tử Tỷ lệ nợ xấu giảm đáng kể.

2.2 Giai đoạn từ khi gia nhập WTO đến nay

Khi tham gia vào WTO, chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng lớn trên

cả cấp vĩ mô và vi mô Lợi ích lớn nhất mà Việt Nam thu được từ hội nhập làthị trường xuất khẩu thuận lợi cho Việt Nam mở rộng Do Việt Nam đượchưởng qui chế MFN vô điều kiện, theo đó hàng hóa Việt Nam sẽ được cạnhtranh bình đẳng với các đối thủ khác, không còn vướng nhiều rào cản về thuế

và hạn ngạch như trước nữa (Hiện nay, thương mại giữa các nước thành viênWTO chiếm tới 90% khối lượng thương mại thế giới) Từ đó sẽ tăng cườngtiềm lực kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, thu hút đầu tưnước ngoài Cụ thể:

Hiệp định đa sợi MFA qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng sốlượng đối với hàng dệt may

WTO qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng thay thếbằng thuế đối với sản phẩm gạo

WTO qui định mức thuế thấp đối với sản phẩm sử dụng nhiều lao động.Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong kinh doanh giữa các thànhphần kinh tế Khi gia nhập vào WTO và cam kết thực hiện các nguyên tắc tự

do hóa thương mại giữa các thành phần kinh tế, giữa trong nước và nướcngoài, Việt Nam sẽ phải cải cách mạnh hơn các luật lệ sao cho phù hợp vớithông lệ chung của quốc tế Qua đó, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng vàthông thoáng cho mọi thành phần kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam sẽ ít bị tổn thương hoặc bị tấn công bởi những hành vibảo hộ mậu dịch hoặc trừng phạt kinh tế của các quốc gia khác trong trườnghợp có tranh chấp kinh tế, thương mại hay những lý do chính trị nào đó, thị

Trang 12

trường cho hàng hóa của Việt Nam sẽ được mở rộng và ổn định hơn Và dovậy, lợi ích từ thương mại quốc tế của chúng ta sẽ tăng.

Tự do hóa giá cả nông sản sẽ có lợi cho các quốc gia sản xuất nôngnghiệp Bảo hộ giá nông sản của các quốc gia phát triển giảm xuống sẽ mởrộng hơn nữa thị trường nông sản của Việt Nam

Chi phí kinh doanh sẽ giảm vì hiện tại lĩnh vực dịch vụ là khu vực đượcNhà nước bảo hộ nhiều nhất Hậu quả là năng lực cạnh tranh và chất lượngdịch vụ kém và giá cao Khi gia nhập vào WTO, độc quyền của nhữngngành này sẽ phải bãi bỏ, buộc các doanh nghiệp này phải cải cách, cắtgiảm chi phí, nâng cao chất lượng và hạ giá dịch vụ, hiệu quả cho toàn nềnkinh tế sẽ lớn hơn

Với hiệp định những biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại đãtạo thêm sự đảm bảo quốc tế, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.Đời sống nhân dân được cải thiện

Như vậy, lợi ích của Việt Nam khi gia nhập WTO khá rõ: “Việt Namkhông thể tự bảo vệ mình trước sự bảo hộ của các nước khác khi nằm ngoàiWTO” Tuy nhiên gia nhập WTO không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho mình

mà doanh nghiệp phải đối mặt với những thách thức:

Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải trao qui chế tối huệ quốc, qui chế đối xửquốc gia cho các quốc gia thành viên khác của WTO, nghĩa là tiến hành giảmthuế quan và ràng buộc tất cả các dòng thuế, đồng thời phải dỡ bỏ các hàngrào phi thuế trong một thời gian nhất định Mức độ cam kết giảm thuế phụthuộc nhiều vào kết quả đàm phán đa phương và song phương đối với các mặthàng cụ thể Vì vậy cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn ở thị trường nội địa

Toàn bộ thể chế kinh tế phải chuyển đổi nhằm thích ứng với sự pháttriển nhanh chóng của quan hệ thương mại đầu tư, chuyển giao công nghệ, nếu

Trang 13

không sẽ gặp khó khăn trước những đối thủ cạnh tranh hùng mạnh, các doanhnghiệp Việt Nam sẽ không được bảo vệ khi xảy ra tranh chấp thương mại.

Thách thức thứ hai là những vấn đề nảy sinh từ việc thúc đẩy nhanhchóng tiến trình cải cách khu vực kinh tế nhà nước, chủ yếu trong lĩnh vựccông nghiệp và dịch vụ Trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO, vai tròcủa khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục suy giảm, trong khi việc thực hiện vàcác biện pháp thực hiện mục tiêu đó lại mang tính xã hội và ảnh hưởng tớinhiều tầng lớp xã hội có liên quan Mặt khác, cải cách sẽ khiến cho tốc độtăng trưởng trong công nghiệp quốc doanh chậm lại trong một thời gian, mộtphần do đầu tư vào khu vực này giảm, phần nữa là các xí nghiệp yếu kém sẽthu hẹp sản xuất, đóng cửa hoặc chuyển sang lĩnh vực kinh doanh mới Nguy

cơ phá sản đối với các loại hình doanh nghiệp tăng lên Công nghệ và trình

độ dân trí có chuyển biến lớn, nhưng khoảng cách tụt hậu còn xa so với phầnlớn các nước trên thế giới

Những thách thức trong lĩnh vực nông nghiệp thậm chí còn lớn hơn, dotrên 75% dân số vẫn sống dựa vào nông nghiệp, trong khi đó diện tích canhtác bình quân trên một lao động thấp, phương thức canh tác lạc hậu nên giáthành nông sản nhìn chung sẽ cao hơn mặt bằng giá thế giới Khi những ràocản thương mại được bãi bỏ hoặc giảm thiểu, nông sản nhập khẩu từ các nướcphát triển với giá thấp sẽ gây sức ép lớn cho kinh tế nông thôn, nhiều đơn vịkinh doanh nông nghiệp có thể sẽ bị phá sản Số người này sẽ di chuyển vềthành phố, làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp

Hiện tại, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng giacông, chúng ta sẽ không được hưởng lợi khi gia nhập WTO, khi quy định quitắc xuất xứ để hưởng ưu đãi là trị giá nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hànghóa tại nước được hưởng phải thấp hơn 65%

Có thể nói khi gia nhập vào WTO, Việt Nam nhận được nhiều lợi íchnhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức Về tổng thể những lợi ích dài hạn

Trang 14

cho quốc gia chiếm ưu thế.Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), thì 3 năm chịu tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu (từ năm2008- nay), chỉ có duy nhất một năm (2007) là thuận lợi, tuy nhiên, nhữngmặt “được” và “chưa được” từ WTO cũng đã bắt đầu bộc lộ.

Về thương mại, từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức củaWTO, thương mại Việt Nam phát triển mạnh mẽ trên cả 2 hướng xuất nhậpkhẩu và thương mại nội địa Số liệu từ Viện Quản lý Kinh tế Trung ương đưa

ra đầu tháng 4/2011 cho thấy, năm 2007 xuất khẩu của Việt Nam đạt 48,6 tỷUSD, tăng 21,9% so với năm 2006; tiếp đó năm 2008 xuất khẩu đạt 62,7 tỷUSD, tăng 29,1% so với năm 2007 Năm 2009, chịu tác động từ khủng hoảngtài chính thế giới, xuất khẩu của Việt Nam đạt 57,1 tỷ USD, giảm 8,9% so vớinăm 2008 nhưng vẫn cao hơn năm 2006 khi Việt Nam chưa vào WTO là45,8% và năm 2010 nhờ giá nhiều nhóm mặt hàng và nhu cầu thế giới tăngtrở lại nên xuất khẩu của Việt Nam lại tiếp tục tăng trưởng 26,4% Tuy nhiên,kết quả này chưa được như những mong muốn và kỳ vọng trước đó, vì nhậpsiêu vẫn là vấn đề “nóng” cần được quan tâm Cụ thể, cũng theo số liệu từViện Quản lý Kinh tế Trung ương đưa cho thấy, nếu như năm 2006 Việt Namchỉ nhập siêu 5,5 tỷ USD thì đến năm 2007 (sau hơn 1 năm gia nhập WTO)nhập siêu của Việt Nam là 14,2 tỷ USD và năm 2008 con số này đã là 18 tỷUSD, năm 2009 và 2010 mặc dù đã có nhiều biện pháp kiềm chế nhập siêunhưng kết quả nhập siêu vẫn lần lượt là 12,8 và 12,6 tỷ USD

Mặc dù bản chất thâm hụt thương mại là không xấu, nó phụ thuộc vàotác động của xuất hay nhập đóng vai trò như thế nào đối với tăng trưởng vàphát triển kinh tế Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, nếu thâm hụt thươngmại tiếp tục diễn ra trong nhiều năm liền sẽ kéo theo việc dịch chuyển ngoại

tệ ra nước ngoài và gây ra những khó khăn cho việc thanh toán và tiêu dùng

Tích cực hơn so với xuất nhập khẩu là sự phát triển nhanh của thịtrường nội địa Theo Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương:

Ngày đăng: 28/06/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w