ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIBAO CÁO TONG KET KET QUA THUC HIEN DE TAI KH&CN CAP DAI HOC QUOC GIA Tên đề tài: Nghiên cứu đánh giá tac động xã hội của hiện tượng người chuyền giới thực hành trì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BAO CÁO TONG KET
KET QUA THUC HIEN DE TAI KH&CN
CAP DAI HOC QUOC GIA
Tên đề tài: Nghiên cứu đánh giá tac động xã hội của hiện tượng người
chuyền giới thực hành trình diễn trong tang lễ tại thành phố Hồ Chí Minh
Mã số đề tài: QG.17.05
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Thu Hương
Hà Nội, 2018
Trang 2PHAN I THONG TIN CHUNG
1.1 Tén đề tài: Nghiên cứu đánh giá tác động xã hội của hiện tượng người
chuyên giới thực hành trình diễn trong tang lễ tại thành phô Hồ Chí Minh
1.2 Mã số: QG.17.051.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
Đại học Quốc gia Hà
Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà
Đại học Quốc gia Hà
Nội
Thành viên
ThS Lương Minh NgọcKhoa Nhân học,
Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà
Trang 31.5 Thời gian thực hiện: 24 tháng, từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2018
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 2 năm 2017 đến tháng 2 năm 2019
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng năm
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 2 năm 2017 đến tháng 2 năm 2019
1.6 Những thay déi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện;
Nguyên nhân, Y kiên cua Cơ quan quản lý)
1.7 Tông kinh phí được phê duyệt của dé tai: 200 triệu đồng
PHAN II TONG QUAN KET QUÁ NGHIÊN CỨU1 Đặt vấn đề:
Đề tài này sẽ triển khai trên cơ sở nghiên cứu liên ngành và kết hợp cả tiếpcận định tính và định lượng Đề tài sẽ vận dụng các kiến thức lịch sử, văn hóa học,
ngôn ngữ, nghệ thuật học, luật học và xã hội học trong quá trình phân tích các
phong tục, tập quán và các hành vi ứng xử văn hóa liên quan đến van đề chuyên
giới ở khu vực phía Nam, để tập trung làm rõ năm điểm sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu bản chất của hoạt động này như một hiện tượng văn
hoá thể hiện tinh thần hỗn dung và tiếp biến của các yếu tố Đông Nam Á/Việt
Nam, tinh thần khoan dung về đa dạng giới với những yếu tố văn hoá ngoại sinh
trong một phạm vi địa lý xác định.
- Thứ hai, làm rõ sự kết nối giữa tâm thức dân gian về linh hồn, cái chết với
gu nghệ thuật truyền thống của người Việt Nam Bộ với xu hướng về một không
gian thể hiện cho các thực hành chuyên giới
- Thứ ba, tìm hiểu và đánh giá những hệ lụy từ các diễn ngôn xã hội về thựchành chuyên giới cũng như những bắt cập trong các văn bản pháp quy hiện thời vềquyền lợi và nghĩa vụ của người chuyên giới và tác động của chúng đến thực trangtiếp cận cơ hội việc làm, nghề nghiệp và sức khỏe của người chuyên giới
- Thứ tư, làm rõ các khía cạnh vật thê và phi vật thể của hoạt động trình diễntrong tang lễ, không chỉ đơn thuần là một cơ hội sinh kế mà còn như một không
gian 'ngưỡng" (luminal) để người chuyên giới được bộc lộ và sống trọn dù có théchỉ là thoáng chốc với cái bản dạng giới “thực” của họ Qua đó đề tìm hiểu cách họthể hiện tính chủ động xuyên suốt các lựa chọn sinh kế và khẳng định bản dạng
Trang 4giới của mình trong một xã hội đề cao các giá trị hôn nhân dị tính (khác giới) như
ở Việt Nam.
- Thứ năm, đánh giá mức độ và phạm vi ảnh hưởng văn hoá, tác động xã hội
tích cực và tiêu cực của hoạt động trình diễn này đối với cộng đồng xã hội nói
chung Liệu sự tham gia thé hiện của người chuyển giới trong tang lễ (ngày mộtnhiều ) có tác động ngược trở lại thế nào đến thái độ, suy nghĩ của cộng đồng xãhội về các đối tượng chuyền giới nói riêng, hay các van đề đồng tính nói chung.
2 Mục tiêu:
Đề tài Nghiên cứu đánh giá tác động xã hội của hiện tượng người chuyên
giới thực hành trình diễn trong tang lễ tại thành phố Hồ Chí Minh làm rõ bản chất(tâm sinh lý, văn hoá, xã hội, lịch sử ) của hoạt động trình diễn của nhóm ngườichuyền giới trong tang lễ tại thành phố Hồ Chí Minh Đề tài đánh giá được mức độvà phạm vi ảnh hưởng, tác động xã hội của hoạt động trình diễn này đối với cộng
đồng người đồng tính nói riêng và với cộng đồng xã hội nói chung Bên cạnh đó,đề tài tập trung vào các dạng thức và thực hành đa dạng giới được ghi nhận là đãva đang tồn tại trong các cộng đồng văn hóa ở khu vực châu A, Đông Nam A vàViệt Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Các dạng thức đa dạng giới gồm cả
những thực hành vẫn thường gan với các nghi thức tôn giáo, niềm tin tâm linh, tậpquán dân gian cũng như những thể hiện bên ngoài các không gian siêu nhiên này
Những cơ tầng ngôn ngữ và các diễn ngôn văn hóa về giới, cơ thể và tính nam, tínhnữ cũng sẽ được nêu trong đề tài này.
3 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài này tập trung chính vào nghiên cứu thực dia, có sự kết hợp bé trợ từ
phân tích tài liệu báo chí và các nguồn tài liệu thứ cấp khác có liên quan Cụ thénhư sau:
Nghiên cứu thực địa
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi kết hợp sử dụng các phương phápnghiên cứu định tính và định lượng Nhằm mục đích so sánh, chúng tôi cân nhắc
và chọn:
- Một phường thuộc một quận nội thành và là khu vực có đông dân lao động
nhập cư từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Trang 5- Một phường thuộc một quận nội thành và là khu vực có đông dân nhập cư
cận chính quyền địa phương và tao dựng cộng đồng nghiên cứu thuận lợi hơn.
Chúng tôi tiến hành các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu dưới đây:
- Quan sát tham dự vào các hoạt động trình diễn đám tang tại các địa bàn lựa
chọn nêu trên trong khoảng một tháng liên tục vào năm 2017.
- Thông qua mạng lưới cộng đồng chuyền giới tại thành phố mà chúng tôi đãkết nối từ trước, tìm gặp và hẹn phỏng vấn các cá nhân chuyên giới Thực hiện
phỏng vấn sâu cá nhân với 25 người chuyền giới.
- Tiến hành hai thảo luận nhóm với đối tượng chuyên giới (một nhóm với
đối tượng tham gia trình diễn đám tang và một nhóm với đối tượng chuyền giới
chưa từng tham gia trình diễn) Mỗi nhóm từ tám đến mười thành viên chuyên
gIỚI.
- Tiến hành phỏng vấn sâu cá nhân người dân và cán bộ chính quyền địa
phương Số lượng 10 người tại mỗi phường (trong đó có 5 đại diện nam giới và 5
đại diện cho nữ giới).
- Tiến hành phỏng van sâu ba cán bộ quản lý cấp quận thuộc ngành văn hóa,
lao động xã hội và quản lý an ninh trật tự tại mỗi quận đã chọn.
- Tiến hành điều tra xã hội học tại hai phường thuộc hai quận được chọn làmđịa bàn nghiên cứu Chúng tôi tham vấn chính quyền, nhất là cán bộ dân số cấpquận và phường tại các địa bàn này để đảm bảo những người dân được chọn tham
gia trả lời bảng hỏi sẽ có tính đại diện cho các vùng văn hóa, ví dụ như, di cư từ
miền Bắc trong những thời điểm lịch sử khác nhau, di cư từ các tỉnh thuộc châu
: - en dé nam duge
thô sông Cửu Long Môi phường thực hiện 50 mau điêu tra bang hỏi |
các thông số khái quát về đặc điểm nhân khẩu (tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo,tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn), kinh tế (vị thế kinh tế; nghề nghiệp), tình
trang di cư Các thông tin mang tính định lượng nay rất hữu ích trong việc xác địnhcác yếu tố ảnh hưởng quyết định đến hiểu biết, thái độ của người dân về hiệntượng người chuyên giới trình diễn
Trang 6Nguồn tài liệu thứ cấp gồm tài liệu xuất bản (các văn bản pháp luật, sách
chuyên khảo, bai tạp chí, thông báo khoa học, công trình nghiên cứu, báo cáo
chương trình, dự án phát triển, số liệu thống kê) dé cập các van dé trải nghiệm sứckhỏe, sinh kế của cộng đồng chuyền giới; tài liệu chưa xuất bản như văn bản thu
thập được dưới dạng thức quy ước địa phương.
Tĩnh mới, tính độc đáo, tính sáng tạo:
Như đã nêu trên, cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu,phân tích và lý giải các quan niệm về đa dang giới trong các thực hành tôn giáo, tínngưỡng ở Việt Nam một cách hệ thống
Xét trên khía cạnh lý luận, đề tài là một hướng nghiên cứu mang tính khaiphá, góp phần khỏa lấp khoảng trống phân tích hiện đang tồn tại giữa hai lĩnh vực
nghiên cứu: giới và đa dạng giới; thực hành tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam nói
riêng và rộng ra là châu Á Đề tài kết hợp vận dụng các lý thuyết giao thoa(intersectionality), agency và khái niệm ngưỡng (liminal) để mang lại một cách
hiéu sâu hơn về trải nghiệm tương tác của cộng đông chuyên giới với xã hội.
Xét về khía cạnh phương pháp, đề tài tiếp cận theo hướng liên ngành kết hợpcả nghiên cứu định tính và định lượng dé làm sáng rõ bản chất hiện tượng trìnhdiễn đám tang của người chuyền giới và các tác động về mặt xã hội kèm theo đó.Thay vì chỉ đơn thuần tìm hiểu riêng biệt van đề của nhóm chuyền giới, hướng tiếpcận nảy của đề tài mang lại một cái nhìn đa chiều vừa sâu sắc lại vừa bao quát về
thực hành văn hóa này trong bối cảnh biến chuyên nhanh chóng của xã hội Việt
Nam hiện tại.
Xét dưới góc độ thực tiễn, các kết quả nghiên cứu của đề tài không chỉ đem
lại các ngụ ý chính sách trực tiếp cho việc hoạch định các văn bản pháp quy về
người chuyên giới mà còn là điểm tham chiếu cho việc quản lý nếp sống văn hóa ởcơ sở cũng như mục tiêu đảm bảo việc làm bền vững cho các nhóm yếu thế trong
xã hội của Nhà nước Việt Nam.
4 Tổng kết kết quả nghiên cứu:
Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn thuộc lĩnh
vực của dé tai.
Ngoài nước:
Nghiên cứu tang ma:
Trang 7Lễ thức tang ma lâu nay vẫn luôn là một chủ đề được nhiều học giả khối
ngành khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu ở các cộng đồng và nền văn hóa khác
nhau trên thé giới và khu vực châu A nói riêng (Hertz 2013, Klima 2009; Kaufman
& Morgan 2005, Humphrey 2002; Watson 1982) Bởi lẽ các nghi thức tang ma
cùng với ý nghĩa biểu trưng xoay quanh cái chết, linh hồn và sự tái sinh được xem
như là một sản phẩm kiến tạo mang tính xã hội từ cảm xúc và niềm tin của conngười (Bloch & Parry 1982) Trong một nghiên cứu nhân học về tang lễ ở miềnTrung Thái Lan, Deborah Wong (1998) quan sát thấy các đám tang đang trở thành
một hoạt động kinh doanh và các tập tục xoay quanh việc tang thường có xu hướng
thương mại hóa mạnh mẽ Điều này được lý giải trên cơ sở quan niệm của ngườiThái, von mang đậm triết lý Phat giáo, coi cái chết như một sự giải thoát khỏi đau
khổ và bước vào một cuộc sống khác Theo nghĩa đó, một số thực hành mang tính
giải trí thường đi kèm trong đám tang, như thể đánh dấu một sự kiện trọng đại.Chăng hạn ở một số cộng đồng nông thôn Trung Quốc, âm nhạc và nhảy múa nhằmphục vụ cho cả người sống và thành viên vừa quá cô (Watson 1982) Tại Đài Loan,người dân tâm niệm rằng cần tạo được một không khí thật hào hứng trong các sự
kiện mang tính nghi lễ vòng đời như đám tang, đám cưới và các lễ hội đền chùa
(Lin 2007) Ở các cảnh huống này, đường phân định giữa sự sống, cái chết, thầnthánh và phàm tục dường như bị xóa nhòa một cách bí an qua âm thanh vui nhộn
và màn trình diễn mãn nhãn của các vũ công Thế nhưng, ngoài một nghiên cứu sâuduy nhất cho tới giờ về trải nghiệm của các vũ công và ca sĩ kinh kịch chuyên giớiở Đài Loan (Wu 2012)—vốn gắn với hoạt động nghệ thuật giải trí nhiều hơn là ấn
chứa ý nghĩa tâm linh—con hiếm thấy các công trình khoa học đi vào tìm hiểu các
khía cạnh đa dạng giới trong các thực hành tín ngưỡng và lễ nghi tôn giáo tại châu
A.Nghiên cứu về da dang giới va đồng tinh
Trong khi đó các nghiên cứu về cộng đồng chuyên giới và đồng tính ở khu
vực thường được tiếp cận từ phương diện y tế cộng đồng, các chương trình phòng
chống HIV và hành vi tính duc (Jackson 1998, Johnson 1997) Sự quên lãng “kép”
về các chủ đề đa dạng giới nhất là trong nghiên cứu tôn giáo ở châu Á, cũng nhưcác thực hành tôn giáo và tâm linh trong nghiên cứu về đa dạng giới và tính dục Áchâu đã làm giới han tầm hiểu biết của chúng ta về mối quan hệ giữa van đề chuyển
giới, đồng tính đang nỗi lên trong đời sống xã hội trên khắp khu vực và sự trỗi dậy
cùng lúc của luận thuyết siêu tự nhiên tại châu Á (Jackson 2015) Sự thiếu vắng
Trang 8trao đối giữa các nghiên cứu tôn giáo và mang chủ dé đa dạng giới ở châu A đã dé
lại những khoảng trông phân tích lý luận ở cả hai lĩnh vực nghiên cứu này
Trong nướcNghiên cứu về da dạng giới va dong tinh
Trong suốt ba mươi năm qua kế từ khi thực thi các chính sách Đồi mới, Việt
Nam đã trải qua những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, xã hội và văn hóa Nhữngthay đổi này đã giúp đất nước dần hội nhập vào nền kinh tế thế giới, với dấu ấnquan trọng là sự gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và gần
đây nhất là việc chính thức ký kết Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương
(TPP) Trong khi những vấn đề đồng tính trở nên rõ rệt hơn ở Việt Nam, chủ đềngười chuyền giới hiện van chìm lẫn với các định kiến xã hội Thực tế mới có mộtsố ít nghiên cứu đánh giá về người chuyên giới và thường nằm trong khuôn khô cácdự án, chương trình can thiệp sức khỏe cộng đồng, nhất là với chiến dịch nâng cao
nhận thức và phòng ngừa HIV/AIDS (Hoàng Tú Anh và cộng sự 2012, Lê Quang
Nguyên 2010, Colby 2003, UNAIDS 2001) Viện nghiên cứu kinh tế, xã hội vàmôi trường (2013) mới đây đã bước đầu tiến hành tổng quan các van đề mà người
chuyển giới tại Việt Nam đang gặp phải và đưa ra một số khuyến nghị về xã hội và
pháp lý.
Nghiên cứu tang ma
Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu của cả học giả trong và ngoàinước về các tập tục tang ma ở người Việt và nhiều cộng đồng thiểu số khác (xemMarouda 2014 cập nhật tình hình nghiên cứu gần đây nhất), mảng chủ đề đa dạng
giới trong các thực hành tôn giáo và sinh hoạt tâm linh tại Việt Nam vẫn còn bỏ
ngỏ Gan đây nhất Kirsten Endres (2015) đề cập van tắt van đề chuyên giới trongvăn hóa đạo Mẫu và cho rang trình diễn hầu đồng có vẻ đã mang đến một không
gian “thay thế” mà trong đó các bản dạng giới trái với các chuân mực bao quát vềnam, về nữ có thể được kiến tạo, thương thỏa và thể hiện Dựa trên một số ghi chépđiền dã dân tộc học ở miền Trung và miền Nam Việt Nam, Oscar Salemink (2014)
đi đến nhận định là tat cả các đồng thầy khu vực phía Nam khi thé hiện nhập hồn
các thánh thần (khác giới tính thật của người đồng thay) thường có vẻ lộ liễu hơnvề tình dục Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu nội dung đa
dang giới trong tương quan với các thực hành tôn giáo tín ngưỡng bên ngoài văn
hóa đạo Mẫu
Trang 9Đề tai đã bước đầu thực hiện phân tích dưới góc độ ngôn ngữ lich sử và đã
chỉ ra răng hiện tượng chuyền giới tồn tại rất lâu ở Việt Nam, với trường hợp đầu
tiên được ghi chép trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư từ năm 1351 (Nguyễn Thu
Hương 2012) Kết quả tầm nguyên của tôi cũng cho thay từ ‘déng’ theo nghĩa chữ
Nôm có ý chỉ một ban dang giới đi chệch khỏi các chuẩn giới tinh sinh học cũngnhư các chuan hành vi có tính giới Trong khi đó từ 'đồng' theo nghĩa Hán Việt lạiđược dùng dé nói đến một xu hướng tình dục (chịu sự hap dẫn từ người cùng giới
tính) Tiếc rằng trên báo giới cũng như trong các ngôn ngữ học thuật hiện nay vẫntiếp tục có sự nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ đồng âm khác nghĩa này, khiến càngtăng thêm thành kiến trước hiện tượng chuyền giới Từ đó có thé giả định rằng
cách hiểu về chuyên giới theo nghĩa Nôm— vốn bắt nguồn từ sự thé hiện các hànhvi bất tuân (về) giới trong trình dién văn hóa truyền thống lên đồng Ở một cấp độnhất định, các cá nhân có những hành vi/biéu hiện ngược lại giới tính sinh học củahọ dù bị chê trách, nhưng vẫn có thể nhận được thái độ khoan dung trong xã hội
truyền thống Quan trọng hơn là trong cách nhìn nhận địa phương về các cá nhânchuyên giới ngụ ý rang các cá nhân này không nhất thiết phải có các quan hệ tinhdục đồng tính Điều này thé hiện những kiêng ky nhất định quanh việc bàn luận về
chủ đề tính dục trong xã hội Việt truyền thống vốn ảnh hưởng sâu đậm tư tưởngNho giáo Vấn dé là sự ‘lang tránh" (dù trong ngôn từ địa phương) này nỗi lên ra
sao khi có sự du nhập lớp ngôn từ mới trong thời kỳ thuộc địa và toàn cầu hóa saunày Lớp từ mới “pê-đê [tiếng Pháp: pederasse],'ô-mô”, 'ô-môi' [tiếng Pháp:
homosexuel/même sexe] xuất hiện và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi trongngôn ngữ đời thường một mặt giúp lật lên lớp ý nghĩa về tính dục—vốn bị chimkhuất trong cách gọi dân gian địa phương tôn tại trước đó để chỉ các thực hànhchuyền giới Mặt khác, chính những từ ngữ “du nhập' này vô hình trung dẫn đếnmột xu hướng đánh đồng chuyên giới với đồng tính (và cách nhìn nhận này tiếp tụcđược duy trì đến ngày nay) Và dưới nhãn quan đó thì các cá nhân chuyên giới có
thể trở thành đối tượng bị chỉ trích và kỳ thị do xã hội không chấp nhận vấn đềđồng tính
Ngoài ra, đề tài cũng đã có cơ hội thực hiện một nghiên cứu tư vấn đánh giávề nhóm thanh niên đường phố là đồng tinh nam, đồng tinh nữ và chuyền giới trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 (Nguyễn Thu Hương và cộng sự 2012).Các kết quả thu nhận từ nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa hoàn cảnh bỏ nhà “đi
bui’ với bản dạng giới va xu hướng tinh dục của các nhóm thanh niên này Theo
8
Trang 10đó, quyết định “đi bụi thường xuất hiện tại thời điểm các em nhận ra bản dạng giới
của mình, nhất là khi việc hé lộ gặp phải thái độ phản ứng mạnh mẽ từ gia đình vàcộng đồng xung quanh Sự phản đối của cha mẹ về đồng tính cộng thêm mối bấthòa trong gia đình thường dẫn tới phân biệt đối xử và bạo hành cả về thé chất lẫntinh thần ngay trong nhà Ở cap độ cộng đồng, định kiến từ hàng xóm, giáo viên và
bạn bè cùng với đó là sự kỳ thị càng làm tăng sức ép lên các em, gây nên áp lực
tâm lý Cần nói thêm rằng vẻ ngoài khác biệt như các cá nhân chuyền giới thườngdễ gây mất thiện cảm với những người chung quanh—vốn chịu ảnh hưởng từ cácgiá trị văn hóa đạo đức truyền thống Đáng chú ý là sự cộng hưởng của thái độ vàphản ứng từ cộng đồng không chỉ khơi sâu các định kiến vốn ăn sâu bám rễ trongxã hội mà còn gây ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường việc làm và được
đảm bảo các dịch vụ chăm sóc y tế, xã hội cơ bản của các cá nhân chuyển giới.
Đây là một trong những căn nguyên khiến một số lượng không nhỏ các cá nhânchuyên giới lựa chọn tham gia hoạt động trình diễn tại đám tang
Ngoài các kết quả nghiên cứu ban đầu của chủ nhiệm đề tài (TS Nguyễn
Thị Thu Hương), các thành viên khác trong nhóm đều quan tâm và đã hướng danthực hiện một số luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Nhân họcvà Xã hội học về các van đề đồng tinh và cộng đồng chuyển giới ở Việt Nam
Qua phần tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước trên đây, chúng ta có
thê thấy rằng hiện vẫn thiếu văng những nghiên cứu khoa học xã hội tìm hiểu cáctrải nghiệm bản dạng giới, bị kỳ thị và định kiến của người chuyển giới trongtương quan với các thực hành tâm linh cũng như vấn đề cơ hội việc làm của họ.
5 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận:
Bên cạnh những đóng góp vô cùng quan trọng từ phong trao vận động xã hội
của các tổ chức trong nước, các nhà nghiên cứu cũng đặt ra một số van dé đáng
chú ý Không khí xã hội bàn luận cởi mở hơn và sự ra đời của các đạo luật hướngđến quyền đa dạng giới và tính dục cần phải hiểu trong mối liên hệ với một tâm thế
chính trị thông thoáng của Nhà nước san sàng tiễn hành sửa đổi các bộ luật— dướitac động từ cộng đồng quốc tế— và nguồn viện trợ tới tap cho các phong trao vậnđộng xã hội này (Faludi 2016: 93) Vai trò định hướng của nhà tài trợ phát triển(chủ yếu là quốc tế) vì thế hiện diện khá đậm nét trong hầu hết các báo cáo, khảo
sát điều tra về thực trạng cộng đồng LGBT do các tô chức xã hội trong nước trên