LỜI CẢM ƠNDé hoàn thành được luận văn “Vận động các nguồn lực hỗ trợ tổ chức “Đêm hội trăng rằm” cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn phườngCẩm Bình, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quả
Tong quan các nghiên cứu liên quan đến van đề can thiệpVề lĩnh vực pháp luật Quốc tế và Quốc gia trong thực hiện công tác Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em, đây là lĩnh vực được luôn được công nhận và quan tâm sâu sắc Trên thế giới có Công ước Quốc tế về quyền trẻ em, Công ước của LHQ về quyền trẻ em, các chính sách công tác xã hội trong chăm sóc trẻ em của từng quốc gia khác nhau Tại Việt Nam, với tỉnh thần“Trẻ em như búp trên cành”, “Trẻ em là tương lai của đất nước”, Nhà nước ta luôn chú trọng công tác bảo vệ, chăm sóc va giáo dục trẻ em, với việc ky Công ước Quoc tê vê Quyên
Trẻ em, ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em 2004, và mới đây là ban hành Luật trẻ em 2016
Lê Thị Quỳnh Trang, với đề tài “Quản lý CTXH đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn làng Trẻ em SOS Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ công tác xã hội, 2018, Học viện Khoa học Xã hội Tác giả đã thực hiện nghiên cứu với mục đích tìm hiểu lý luận và thực trạng quản lý CTXH đối với TEHCĐB tại làng Trẻ em SOS Hà Nội, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTXH đối với trẻ em có HCĐB đạt hiệu quả cao Nhận thức được điểm nóng của van dé này, song song với việc thúc đây phát triển kinh tế - xã hội, trong những năm qua Việt Nam đã có rất nhiều mô hình, đề án, chương trình hành động nhằm giúp đỡ nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt với nhiều hình thức khác nhau Làng trẻ em SOS Quốc tế có nhiệm vụ, chức năng và nguyên tắc sư phạm riêng Vì vậy, các làng SOS ở Việt Nam đều hoạt động dựa trên nền tảng và những nguyên tắc sư phạm đó Chương trình cũng mang lại nhiều khả quan, có ý nghĩa xã hội, giúp trẻ em mồ côi cha và mẹ được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản như y té, giáo dục xoa dịu nỗi dau cũng như giảm bớt sự mặc cảm tự tỉ về số phận thiệt thòi của tất cả các em Chương trình hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Làng trẻ em SOS Hà
Nội đã đạt được những kết quả nhất định như: đã đáp ứng được một số các nhu cầu về vật chất, tinh thần, nhu cầu về an toàn tuy nhiên vẫn còn gặp rất nhiều những khó khăn Đặc biệt phải kế đến là công tác hỗ trợ, tham van tâm lý cho trẻ em SOS Hà Nội vẫn còn thiếu chuyên nghiệp; các kế hoạch và việc tổ chức các hoạt động cá nhân, nhóm nhằm giúp trẻ bớt tự ti về bản thân, hòa nhập, gắn kết với nhau còn nhiều những khó khăn và hạn chế do thiếu nguồn nhân lực về công tác xã hội và đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên 2 nghiệp Những thực tế này tại Làng trẻ em SOS là rào cản dé các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hòa nhập với cộng đồng tốt hơn (Lê THi Quynh Trang, 2018) Đỗ Thị Ngọc Phương (2012),Một số kinh nghiệm quốc tế về những vấn đê đặt ra đôi với việc phát triên các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo
8 vệ trẻ em Tác gia đã trình bay sự cần thiết của việc phát triển các dịch vụ CTXH đối với công tác bảo vệ trẻ em Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần có những biện pháp đặc biệt của nhà nước Những trẻ em này thường bị gạt ra bên ngoài lề xã hội và không có kha năng hưởng thụ nhiều quyên của mình, như các quyền trong lĩnh vực giáo dục, y tế, quyền được bảo vệ khỏi bị lạm dụng, bao lực và các hình thức bóc lột cũng như quyền tham gia Đề có thé tạo ra cho các em một môi trường mang tính bảo vệ cao hơn, cần có những biện pháp đặc biệt, bao gồm cả lập pháp, hành pháp, giáo dục, xã hội nhằm ngăn ngừa việc các em rơi vào những hoàn cảnh khiến các em bị bóc lột, bị xâm hại, lạm dụng hay trở thành nạn nhân của bạo lực Hiện nay, Việt Nam đang từng bước xây dựng một hệ thống bảo vệ trẻ em từ trung ương đến địa phương, đồng thời tiếp tục tăng cường khung pháp luật theo hướng thân thiện hơn với trẻ em, trong đó viéc xây dựng các mô hình thí điểm là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng nhằm giúp cho công tác chỉ đạo, tham mưu về công tác bảo vệ trẻ em và triển khai rộng rãi trong thực tiễn.
Về tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, như đã nêu trên đang có những xu hướng gia tăng và phức tạp về đối tượng Trong một phạm vi lớn hơn, những van đề trẻ em Việt Nam đang gặp phải là do những thay đổi về kinh tế — xã hội và áp lực mới trong nước do sự chuyền đổi sang nền kinh tế thị trường Sự thiếu vắng của một hệ thống bảo trợ xã hội hiệu quả và vững mạnh cũng như các dịch vụ bảo vệ và xã hội mang tính chuyên nghiệp, có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các nhóm dé bị ton thương càng khiến cho hoàn cảnh khó khăn của các em trở nên khó khăn hơn Thách thức chủ yếu hiện nay là thiết lập một “hệ thống bảo vệ” bao gồm các khuôn khổ quản lý nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em Bên cạnh đó, thực tiễn hiện nay cho thấy một sự thiếu hụt nghiệm trọng các
“dịch vụ mang tính liên tục về bảo vệ trẻ em” Các dịch vụ này tạo thành một mạng lưới an toàn, toàn diện cho trẻ em, bao gồm cả những em dễ bị tổn thương nhất và dễ bị gạt ra ngoài lề xã hội nhất Tuy nhiên các dịch vụ mang tính liên tục này hiện nay còn rât nhiêu hạn chê, manh mún, chưa rõ ràng, đặc biệt cơ chê
9 về bảo vệ, phát hiện sớm và xác định các trẻ em dễ bị ton thuong, cac gia dinh có nguy co cũng như việc can thiệp sớm va chuyền gửi đến các dịch vụ chuyên biệt chưa được phát triển Mặc dù chúng ta đã có những mô hình mang tính dịch vụ trong thực tế nhưng các dịch vụ chuyên biệt dành cho trẻ em có nguy cơ, trẻ em bị bóc lột tình dục, trẻ em lao động, trẻ em lang thang còn rất hạn chế, kê cả các chương trình hỗ trợ ở các trường học, cộng đồng nhằm dành cho trẻ em bị thiệt thoi.
Các dịch vụ CTXH thể hiện việc tác động, can thiệp tới một hoặc một số đối tượng trẻ em (đặc biệt với đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn) một cách khoa học, mang tính chuyên nghiệp; đồng thời thông qua dịch vụ CTXH cũng chỉ ra được một cách rõ ràng những điểm yếu, thiếu, kém hiệu quả giúp cho người quản lý thuận lợi trong việc rút kinh nghiệm về các hoạt động
Với một số vai trò của CTXH ()Thúc đây sự thay đổi xã hội; (ii)Giai quyết van dé; (iii)Con người va môi trường: (111) Nâng cao năng lực, DVCTXH sẽ đóng góp nhiều cho việc cải thiện chất lượng BVCSTE. Đề tài “Đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội và đề xuất kế hoạch phát triển mô hình và hệ thống cung cấp dịch vụ công tác xã hội từ trung ương đến địa phương” được thực hiện bởi Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Lao độngThương binh và Xã hội năm 2012 Đề tài đã đánh giá đúng nhu cầu của TEHCĐB, đề xuất phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ Tuy nhiên, dé tài mới dừng lại ở đánh giá nhu cầu thay vì đưa ra các giải pháp thúc day sự phát triển các dịch vụ cụ thé
Phạm Ngọc Luyến (2007), Báo cáo nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học về thực trạng, giải pháp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Đề tài đã trình bày vấn đề lý luận liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những văn bản chính sách, đồng thời đánh giá được thực trạng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
TEHCĐB trên địa bàn tỉnh qua đó đề xuất được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ, chăm sóc va giáo dục TEHCDB
Tác giả Vũ Nhi Công (2009) có bài viết “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong tiễn trình giúp trẻ em đặc biệt khó khăn hội nhập cuộc sống” Tác giả phân tích các vai trò của nhân viên công tác xã hội trong tiến trình giúp
TEHCĐB hòa nhập, trong học tập, lao động và cuộc song Tac gia cting trinh bày các khó khăn của nhân viên công tác xã hội trong thực hiện hỗ trợ và vai trò của nhân viên công tác xã hội với công tác xã hội gia đình.
Lê Thu Hà có nghiên cứu về “Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các dự báo đến năm 2020” Nghiên cứu dã trình bày về thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở nước ta đến năm 2010, và các dự báo đến năm 2020 Có thé thay nhóm trẻ em đó đang rat cần đến sự hỗ trợ dé hòa nhập cộng đồng Cộng đồng cần tránh sự kỳ thị, phân biệt đối xử và cần ý thức việc chăm sóc, gúp đờ và giáo dục trẻ em ở hoàn cảnh này để tạo cuộc sống tốt đẹp hơn cho họ
Tác giả Nguyễn Hồng Thái với chuyên đề về “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng — những cơ sở xã hội và thách thức”.
Tác giả đã chỉ rất rõ cách chăm sóc thay thế trẻ em đặc biệt khó khăn được cộng đồng chuyên đổi từ cách tiếp cận truyền thống sang cách tiếp cận dựa trên cơ sở quyền trẻ em.
Đối tượng, phạm vi can thiệp 1 Đối tượng can thiệpPhương pháp phỏng van sâu Các khách thể tham gia vào phỏng vấn, gồm02 Cán bộ lãnh đạo, quản lý 02 Nhân viên CTXH tại địa bàn Phường
02 đại diện các Gia đình TEHCDB e 02 Đại diện các doanh nghiệp, nhà hảo tâm, tô chức thiện nguyện, tại địa bàn Mục đích chính của các cuộc phỏng vấn sâu, đó là thu thập thông tin về nhu cầu, nguyện vọng của gia đình TEHCĐB, mức độ hài lòng về việc hưởng lợi trong cuộc vận động Ngoài ra, đôi với các doanh nghiệp là các nhà hảo tâm, hỗ trợ nhóm TEHCĐB, phỏng van sâu nhằm tìm hiểu sự hài long và ủng hộ đối với chương trình “Đêm Hội Trăng Răm”, đánh giá hiệu quả của cuộc vận động, và khả năng lan rộng của chương trình tới nhiều địa phương khác.
- Trong quá trình thực hiện huy động sự tham gia của gia đình TEHCDB tại địa ban, tác giả có sử dụng 01 phiếu test nhanh về đặc điểm nhân khẩu học của bố mẹ trẻ Mục đích chính là điều tra một số đặc điểm về TEHCĐB và gia đình của trẻ Tìm hiểu về nhu cầu, nguyện vọng của trẻ và gia đình Ngoài ra, cũng thử nghiệm đánh giá về tương quan nhân khẩu học (độ tuổi, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm ) với nguyên nhân khiến trẻ em gap HCDB Với 22 trẻ em tham gia, tác giả có thông tin đầy đủ với 22 phiếu hỏi nhanh.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN TRONG VAN DONG CÁC NGUON LỰC DE HỖ TRO TO CHỨC DEM HOI TRANG RAMDIA BAN PHUONG CAM BINH, THANH PHO CAM PHA, TINH
QUANG NINHTrẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Luật Trẻ em 2016) 1 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm các nhóm sau đây- Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ
- Trẻ em bị bỏ rơi
- Trẻ em không nơi nương tựa
- Trẻ em khuyết tật - Trẻ em nhiễm HIV/AIDS
- Trẻ em vi phạm pháp luật
- Trẻ em nghiên ma túy
- Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phố cập giáo dục trung học cơ co
- Tré em bi ton hai nghiém trong vé thé chat va tinh than do bi bao luc
- Trẻ em bi bóc lột - Trẻ em bị xâm hai tình dục
- Trẻ em bị mua bán
- Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải Điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo - Trẻ em di cư, trẻ em lánh nan, ti nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc
% Các nguyên nhân khiến Trẻ em có Hoàn cảnh đặc biệt khó khăn a) Nhóm nguyên nhân khách quan:
- Nguyên nhân về kinh tế:
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường khó tránh khỏi sự phân hoá giàu nghèo, phân hoá xã hội Gốc rễ của vấn đề này là qui luật cạnh tranh, một bộ phận dân cư giàu lên nhanh chóng và bộ phận dân cư khác không đủ sức cạnh tranh sẽ bị rơi vào tình trạng nghèo, nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng dẫn đến làm gia tăng trẻ em lang thang kiếm sống, lao động trẻ em và trẻ em bị xâm hại tình dục Mặt khác, lỗi sống thực dụng chạy theo đồng tiền làm một số giá trị đạo đức xã hội bi đảo lộn: li di, li thân, bỏ rơi con cái, mức độ quan tâm của cộng đồng, làng, xã đối với trẻ em ngày càng giảm sút Trẻ em thường rất nhạy cảm với sự thay đôi của môi trường, do vậy tình trạng bỏ nhà ra đi, trộm cắp, bụi đời, nghiện hút ngày càng gia tăng ở lứa tuổi các em.
Cũng do kinh tế phát triển, mức sống dân cu tăng, chi phí cho các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, nước sạch và các chi phí vui chơi giải trí cho trẻ ngày càng tăng Thêm vào đó, nghèo đói ngày càng gay gắt, bộ phận dân cư
22 nghèo không đủ điều kiện dé đáp ứng nhu cầu của trẻ, hién nhiên những đứa trẻ này có xu hướng bỏ học, đi làm, đi lang thang
- Nguyên nhân về điều kiên tự nhiên: Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai, bão lũ thường xuyên xảy ra, hàng năm gây thiệt hại lớn về người và tài sản của nhân dân dẫn đến cảnh đói nghèo, dịch bệnh, người chết, tàn tật, mat tich , trong số đó có không nhỏ trẻ em bị mồ côi, tàn tật, mắc bệnh, thiếu ăn, phải đi lang thang Dia hình phức tap, chia cắt các vùng, hạ tầng cơ sở cơ bản như y tẾ, giáo dục, nước sạch là những nguyên nhân chung dẫn đến tình trạng khó khăn của nhân dân và trẻ em, biểu hiện của sự thiếu thốn là những quyền cơ bản của trẻ em chưa được đảm bảo và trẻ rơi vào tinh trạng có HCDBKK.
Thiên tai và ảnh hưởng của thiên tai có xu hướng phức tạp hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu; tác động mạnh, phạm vi rộng va da dạng hơn Cac dạng rủi ro khác chưa được đề cập rõ ràng, thiếu hướng dẫn như tai nạn lao động, tai nan giao thông, đuối nước nên khó thực hiện ở cơ sở.
- Nguyên nhân về chiến tranh:
Chiến tranh dé lại hậu quả nặng nề, thương tật, bệnh tật, nhiều đứa trẻ mat cha, mat mẹ trở thành mô côi, không có người thân chăm sóc phải lao động sớm, lang thang kiếm sống và là những nguyên nhân chính gây lên trẻ em tàn tật bam sinh Hiện còn hàng vạn tấn bom đạn chưa nỗ nằm rải rác trên một số đồng ruộng, cánh rừng, sông ngòi, ao hồ và các khu dân cư trên đất nước ta là nguyên nhân dẫn đến hàng nghìn trẻ em bị thương tật vĩnh viễn Chất độc hoá học do
Mỹ đã sử dụng ở Việt Nam cũng là một nguyên nhân quan trọng gây lên tàn tật, không những ảnh hưởng đối với những người trực tiếp sống trong thời kỳ chiến tranh mà còn ảnh hưởng đến các thế hệ gián tiếp và qua nhiều thế hệ Hậu quả chất độc hoá học trong chiến tranh còn kéo dai cho nhiều thế hệ va dé lại gánh nặng cho xã hội mà đối tượng gánh chiu trực tiếp là số trẻ em tàn tật được sinh ra. b) Nhóm nguyên nhân chủ quan:
- Nhận thức về van đề trẻ em có HCĐB còn hạn chế:
Không chỉ riêng nhận thức của trẻ em, gia đình mà còn cả xã hội về van đề trẻ em có HCĐB còn nhiều hạn chế, chưa thấy được trách nhiệm tổ chức thực hiện và nguy hại đối với xã hội, đặc biệt là mối quan hệ gắn liền với vẫn đề trẻ em có
HCĐB với phát triển nguồn nhân lực cao trong tương lai Sự thiếu hụt về đầu tư của Nhà nước vào một số vùng, địa phương, sự thiếu quan tâm của các cấp, chính quyên, sự thiếu trách nhiệm của một số bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em, sự nhạy cảm của trẻ em với môi trường sông đang là những nguyên nhân làm cho tình trạng trẻ rơi vào HCĐB ngày cảng tăng.
- Những nguyên nhân thuộc về gia đình:
Những biến đổi nhanh chóng của sản xuất, đời sống, giao thông liên lạc, thông tin đại chúng dang làm thay đổi những mối quan hệ của con người trong gia đình và xã hội Hiện tượng li hôn, li thân, sinh con ngoài giá thú, bỏ rơi con không còn là cá biệt mà đã trở thành phổ biến tăng lên nhiều lần trong những năm qua Một số bậc cha mẹ khác do phải lo kinh tế thiếu sự chăm sóc, bỏ mặc con cái khi các em bỏ học hoặc đi lang thang, kiếm sống, bụi đời Một số khác có xu hướng khuyến khích con cái bỏ học đi làm nhằm tăng thêm thu nhập cho gia đình và bớt gánh nặng về kinh tế Số gia đình khác do quá nghèo hoặc bệnh tật, sức khoẻ yếu không đủ điều kiện để chăm sóc hoặc cho con đi học
Ngoài ra, một số gia đình bố mẹ quá khắt khe, cư xử thô bạo, hắt hủi con cái làm chúng sợ hãi, xa lánh Chính sự thiếu hiểu biết, nhận thức hạn chế, thiếu trách nhiệm hoặc thiếu biện pháp quản lý trong việc chăm sóc con cái của một số bậc cha mẹ và gia đình là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng trẻ em có HCDBKK.
- Những nguyên nhân thuộc về chính bản thân các em: Đây là những nguyên nhân chủ quan thuộc về chính bản thân các em, trong điều kiện môi trường sống khó khăn và nhiều cam bay, ý thức vượt khó của trẻ giữ một vi trí đặc biệt quan trọng Trên thực tế đã có không ít trẻ không chịu được sức ép, sự cám dỗ của môi trường sông, sức ép kinh tế, không chịu học tập, tu
24 dưỡng, rèn luyện, ăn choi, dan dim hoặc bỏ nhà đi lang thang chạy theo lối sông đua đòi, mắc vao tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật trở thành những trẻ em có
- Nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách và sự quản lý của Nhà nước:
Một trong những nguyên nhân quan trọng ở đây là do Nhà nước thiếu một hệ thống chính sách đồng bộ về đầu tư, giáo dục, y tế, chính sách xã hội Sự thiếu hụt chính sách xã hội đi cùng với việc đầu tư không đồng bộ dẫn đến sự chênh lệch mức sống giữa các vùng, các địa phương, làm gia tăng số trẻ em lang thang từ nông thôn ra thành thị Sự thiếu biện pháp mạnh trong công tác quản lý cộng đồng dân cư làm gia tăng tệ nạn xã hội, kéo theo trẻ em nghiện ma tuý, lao động trẻ em, trẻ em lang thang, trẻ em làm trái pháp luật ngày một tăng.
Chủ trương phân cấp quản lý Nhà nước chưa được làm triệt để, một số địa phương khó khăn, nghèo có tư tưởng trông chờ vào sự trợ cấp của Nhà nước dẫn đến nhiều chính sách và giải pháp chưa được tô chức thực hiện và cũng không phải chịu trách nhiệm Trong van đề chăm sóc và bảo vệ trẻ em cũng bị một tình trạng chung như vậy hay nói cách khác là hiệu lực pháp luật chưa cao Ngoài ra, ở một số địa phương, cơ sở thiếu sự quan tâm chỉ đạo hoặc quan tâm chưa đúng mức cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng trẻ em có HCĐB Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp thiếu ở hầu hết các địa phương, nhất là ở miền núi và nông thôn, vùng có khó khăn về kinh tế Ngoài ra, trẻ em rơi vao tình trạng
Độ tuổi của bố mẹ Độ tudi 20-25 26 - 34 35-<40 | Tổng cộngNguồn: kết quả điêu tra của tác giả, 2019 e Tình trạng hôn nhân
Theo lý thuyết hệ thống “Gia đình là cái nôi là môi trường hình thành nhân cách của mỗi con người Được sống trong môi trường gia đình tot thì cd nhân sẽ có cơ hội phát triên tốt nhất Gia đình là một hệ thống thu nhỏ Văn hóa gia đình rất quan trọng để định hình một cá nhân, chúng ta không thể hiểu hết văn hoá gia đình đã ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào Văn hóa tác động đến hành vi, suy nghĩ, lối sống của mỗi người chúng ta”
Giáo dục gia đình có tác động hình thành nhân cách cho trẻ Đó là kinh nghiệm sống của cha mẹ truyền dạy cho con cháu qua hành vi ứng xử trong gia đình Cha mẹ truyền dạy cho con cái qua hành vi ứng xử trong gia đình Yếu tố gia đình chịu trách nhiệm đối với quá trình xã hội hóa ban đầu của cá nhân, ảnh hưởng đến việc hình thành phẩm chất, nhân cách gốc của trẻ. Đối với trẻ em nói chung trẻ tự kỷ nói riêng khi trẻ được sinh ra lớn lên và nuôi dưỡng trong môi trường gia đình hạnh phúc thì ít nhiều trẻ sẽ có cơ hội được học tập được giáo dục những điều tốt đẹp Ví dụ nếu trẻ được lớn lên trong gia đình đầy đủ bố, mẹ được hưởng đây đủ tình yêu thương sự giáo dục của bố mẹ thì sẽ có tâm lý được an toàn, được yêu thương và học cách thể hiện tình yêu thương tốt hơn Hay đơn giản hơn khi trẻ có cả bố lẫn mẹ thì trẻ sẽ có nhiều nguồn lực hon dé được giáo dục day đủ Thực tế nếu trẻ sống trong gia đình bố mẹ ly hôn, con ngoài giá thú, một trong hai người chết dẫn đến việc trẻ dễ bị bỏ rơi, thiếu sự day dé và tình thương của cha mẹ Khi đó trẻ sẽ không được dạy dỗ và chăm sóc chu đáo trẻ dẫn đến tâm lý lệch lạc, kém tương tác xã hội do thiếu tình cảm yêu thương của bố mẹ.
Bảng 1.3 Tình trạng hôn nhân của bố mẹ trẻ Tình trạng hôn nhân | Kết hôn | Ly hôn | Ly thân | Góa Tổng cộng
Nguôn: kết quả điêu tra của tác giả, 2019
Nhìn vào bảng số liệu trên, tỷ lệ các TEHCĐB sống trong gia đình đủ cả bố và mẹ khá cao, chiếm 16/22 Còn lại là 1/22 ly hôn, 3/22 ly thân, 2/22 góc
Trong kết quả nghiên cứu này, tác giả có test nhanh về tình trạng hôn nhân của các bố mẹ trẻ tự kỷ Số lượng trẻ tự kỷ trong nghiên cứu này là 07/22 trẻ, trong đó số trẻ tự kỷ sống trong gia đình cả bố và mẹ là 07 trẻ Hầu hết các trẻ tự kỷ và các TEHCĐB trong địa bàn đều sống trong gia đình đủ cả cha và mẹ, trẻ sông trong gia đình bố me ly hôn, ly thân, trẻ m6 côi bố hoặc mẹ chiếm số lượng ít hơn Vì vậy nên tỷ lệ chung về tình trạng hôn nhân chung (cả trẻ tự
42 kỷ và TEHCĐB tại địa bàn) chiếm tỷ lệ cao tình trạng đang kết hôn (16/22) Đây là điều kiện thuận lợi cho việc khuyến khích trẻ và gia đình trẻ tham gia “Đêm Hội Trăng Ram” (Xem bang 1.3)
1.3.3 Nhu cầu của trẻ có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn
Trước hết là nhu cầu về mặt vật chất phục vụ cho việc ăn uống, vệ sinh, đảm bảo cho sự phát triển về mặt thể chất của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhu cầu này rất quan trọng, là cơ so để tồn tại của các em, vì vậy, cung cấp đầy đủ cơ sở vật chất, dinh dưỡng là rất cần thiết cho trẻ.
Thứ hai, nhu cầu về mái ấm gia đình, là chỗ dựa về mặt thé chat và tinh thần của trẻ em có HCĐB Gia đình là nhân tố rất quan trọng, đây là môi trường xã hội thu nhỏ và cũng là nơi bình yên nhất của trẻ Trong những trường hợp can thiệp, tách đưa trẻ ra khỏi bố mẹ (gia đình) chúng là trường hợp bất khả kháng, không còn một giải pháp nào thay thế nữa và cũng làm tác dụng ngược lại ví dụ: chống đối, phản kháng ;
Nhu cầu được giải trí vui chơi (nhu cầu phát triển), học tập, thông qua những hoạt động này đưa trẻ em có HCĐB được hòa mình vào xã hội tự khăng định mình;
Nhu cầu được tôn trọng, trẻ em có HCĐB luôn đòi hỏi nhu cầu này từ người lớn, ở bạn bè và ở cha mẹ.
Nhu cầu cao nhất của trẻ là tự khăng định mình, chứng minh rằng mình có năng lực, mình có thể làm được mọi việc.
Nhu cầu đối với từng nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:
- Đối với trẻ em lang thang, trẻ em đi cư: Trẻ em lang thang thường kiếm song trên đường phó, hầu hết các em đều xa nhà, không có chỗ ở ổn định đầu đường xó chợ, môi trường song thiéu an toan dé bi 16i kéo, lam dung Tré em lang thang cần được: tư van, giúp đỡ về cả tinh than lẫn vật chat và hỗ trợ trở về hòa nhập với gia đình biết cách tự chăm sóc và bảo vệ cho chính mình Gia đình của trẻ em lang thang cân có những hiêu biệt vê môi nguy hiém đôi với trẻ
43 em khi đi lang thang, kiến thức chăm sóc bảo vệ con cái, kiến thức dé phát triển kinh tế gia đình, được hỗ trợ vay vốn, tạo việc làm dé giảm bớt khó khăn.
- Trẻ em bị xâm phạm tình dục, trẻ em bị buôn bán, bắt cóc, bị ngược đãi, bạo lực: Các em cần được hỗ trợ khân cấp tách ngay khỏi môi trường thiếu an toàn; bố trí chỗ ăn, nghỉ tạm thời, điều trị phục hồi về tâm lý, sức khoẻ; đưa trẻ về gia đình hoặc đối với trẻ em không nơi nương tựa đưa vào nuôi dưỡng tại cơ Sở trợ gilp trẻ em, g1úp trẻ các điều kiện để tiếp tục đến trường hoặc được học nghề và giới thiệu việc làm Gia đình trẻ cần được hướng dẫn về cách chăm sóc cho chính bản thân và cần giúp đỡ thoát mình ra khỏi tâm lý bi quan, về việc cộng tác với cơ quan công an, chính quyền địa phương tố cáo, xử lý tội phạm xâm hại trẻ em, tư vấn về pháp luật và các chính sách liên quan đến xâm hại trẻ em Trường học, xã hội nơi trẻ em sống cần được phô biến và tư vấn về chống phân biệt kỳ thị và giúp trẻ hòa nhập cộng đồng một cách tự nguyên
- Trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hai, nguy hiểm:
Thông thường các em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm đều xuất phát từ những gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, hoặc gia đình và người sử dụng lao động thiếu hiểu biết các quy định của pháp luật về lao động trẻ em Hỗ trợ đảm bảo sức khoẻ và an toàn, trợ giúp trẻ ra khỏi môi trường lao động hiện tại, để tư vấn và điều trị sức khoẻ; được hỗ trợ vốn, kiến thức dé phát triển kinh tế thoát những khó khăn ban dau, hỗ trợ học nghề và tìm việc làm phù hợp với sức khỏe từng trẻ Đối với những trẻ còn khả năng học tập cần được hỗ trợ sách vở, quần áo và các điều kiện khác dé đến trường hòa nhập môi trường của chính độ tuổi của trẻ.
- Trẻ em không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi: Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi rất cần có một môi trường, người chăm sóc tốt, yêu thương gắn bó dé trẻ vượt qua được những khó khăn, mặc cảm của chính minh; hỗ trợ trẻ về kỹ năng, kiến thức dé tự chăm sóc, bảo vệ bản thân, cần có đủ dinh dưỡng dé phát triển bình thường như những trẻ em khác, được học hành, tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí và các hoạt động xã hội khác đê hoà nhập với
44 bạn bè và cộng đồng Người chăm sóc trẻ cần được hỗ trợ dé có kiến thức, kỹ năng nuôi dạy trẻ, giúp trẻ phát triển hài hoà về thé chất và tinh than.Tré em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi đến tuổi trưởng thành cần được các trung tâm dạy nghề định hướng nghề nghiệp và dạy nghề phù hợp, được hỗ trợ học nghề, tạo việc làm đề tự lập nuôi sống bản thân.
- Trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học, trẻ em bị tai nạn thương tích nặng, trẻ em nhiễm HIV/AIDS: Vẫn đề lớn nhất đối với nhóm trẻ em này là cần được trợ giup dé diéu tri phuc hồi, nâng cao thể trạng sức khoẻ Trẻ em khuyết tật, tàn tật cần được học hoà nhập; trẻ em khiếm thính, khiếm thị, trẻ câm điếc cần được học các lớp chuyên biệt; trẻ cần có các công cụ, phương tiện để giúp trẻ vận động, phục hồi chức năng Các trung tâm dich vụ xã hội ở nơi có trẻ cùng với gia đình và người chăm sóc phải có kiến thức đúng dé chăm sóc tích cực, được tư vấn về các dịch vu y tế có liên quan; muốn trẻ hòa nhập cộng đồng thì gia đình và cộng đồng nơi trẻ cư trú cần được truyền thông, tư vấn về chống phân biệt kỳ thị đề trẻ tự tin với bản thân không mặc cảm tự ti.
QUANG NINH 2.1 Xây dung kế hoạch vận động nguồn lực dé tổ chức chương trình đêmCÔNG TÁC CHUẢN BỊ1 01/08/2018 | Xây dung kê hoạch, nội dung chương | Đ/c P. trình -BT.ĐTN phường 2_ 104/08/2018 | Vận động phê duyệt chương trình Đ/c P,
3 105/08 - | Thực hiện công tác vận động tài chính từ | Đ/c P.-BT.ĐTN
01/09/2018 | các tô chức, doanh nghiệp trên phường 4 | 15/08- Vận động các tô khu phố, trường học | D/c P.
30/08/2018 | tham gia đóng góp tiết mục văn nghệ cho | -BT.DTN chương trình phường
5 | 30/08/2018 | Xây dựng kịch bản chi tiết Đ/c H.
6 |01/09/2018 | Lap bảng dự trù kinh phi, phân thưởng | D/c P. trong lễ hội -BT.ĐTN phường
7 |03/09/2019 | Chuan bị maket, in giây mời cho chương | D/c H. trình — PBT.ĐTN
8 |03/09/209 | Cập nhật thông tin, đôn đốc giám sát, hỗ | Đ/c H — trợ công tác tô chức của các thành viên |UV.BCH Đoàn ban tổ chức theo đúng tiến độ, kế hoạch | phường — BTCD
9 | 04/09/2019 | Phân công MC, chuân bị kịch ban MC Đ/c P-BT.ĐTN phường
10 |12/9- Tới nhà trẻ có hoàn cảnh đặc biệt dé gửi |Đ/c P BT.DTN
14/09/2018 | giấy mời và đèn trung thu cho trẻ đảm | phường
52 bảo vận động trẻ và gia đình tới dự Đ/c H.
UV.BCH Doan phuong — BTCD
11 | 21/09/2018 | Chuan bị bánh kẹo cho phan pha cỗ và | Chi đoàn cơ quan phan quà trao cho trẻ em có hoàn cảnh | UBND phường đặc biệt va gia đình trẻ
12 | 22/09/2019 | Chuan bị loa dai, treo maket, đèn trung | Đ/c H. thu cho trẻ —PBT.ĐTN
13 | 22/09/2018 | Tông duyệt chương trình Đ/c P.- BT.DTN phuong
IL Ngày tổ chức “Đêm hội trăng ram”
1 |24/09/2019 | Trực tiếp điêu hành chương trình và xử lý | Đ/c P.- BT.ĐTN các tình huống phát sinh phường 2 | 24/09/2018 | Hậu cân sân khâu Dic HH -
UV.BTV Đoàn phường. Đ/c H - PBT.CĐ khu Minh Hòa
4_ |24/09/2018 | Xử lý công tác y tế nêu có Đ/c V.A — BTCD y tế phường
5 124/09/2016 | Công tác truyền thông lễ hội : chụp anh | D/c T - PBT.CD và đăng bài tuyên truyền cơ quan UBND
I 124/09/2018 | Công tác thu dọn CD cơ quan, 2 đoàn vién/CD 8 khu phé
2 | 26/09/2018 | Hop tổng kết, rút kinh nghiệp chương trình | BCH Đoàn phường
Bảng 2.3 Nội dung chương trình tổ chức đêm hội trăng rằm
2 Tuyên bô lý do, giới thiệu đại biêu 3 Thông qua chương trình “Đêm hội trăng ram”
4 Đọc thư của Bác Hồ và chủ tịch nước chúc mừng các cháu thiếu nhi nhân dip tết trung thu 5 Lãnh đạo phường phát biêu ý kiến 6 Đại diện các tô chức nhà hảo tâm lên phát biéu ý kiến
7 Trao quả cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên đại bàn phường
8 Chương trình văn nghệ “Đêm hội trang ram”
9 Phá cỗ “Đêm hội trăng rằm”
10 Bề mạc và cảm ơn
2.1.3 Dự trù kinh phí tổ chức chương trình
Dựa trên bản kế hoạch sơ bộ, nội dung tổ chức chương trình, cùng mục đích tổ chức đêm hội trăng rằm không chỉ tạo ra sân chơi cho trẻ em có HCĐB mà còn là dip để hỗ trợ các em, trao yêu thương tới những hoàn cảnh khó khăn.
Muốn tô chức được chương trình thì chúng tôi cần nguồn kinh phí để mua quà tặng các em có hoàn cảnh trên địa bàn phường, cân nguôn kinh phí đê tô chức
54 đêm hội, cần nguồn kinh phi dé mua hoa quả bánh kẹo phục vụ cho phan phá cỗ của chương trình Tác giả đã xây dựng bản dự trù kinh phí và cũng là tài chính cân vận động đê có thê tô chức được chương trình cụ thê như sau:
1 Trang trí khánh tiết (Maket) = 2.000.000đ 2 Quà cho đối tượng trẻ em có HCĐB
3 Quà phục vụ chơi trò chơi:
6 Hỗ trợ trang phục biểu diễn = 1.500.000đ 7 Mua đèn ông sao nhỏ để trang trí và phát cho các em:
8 Hội trường, loa máy, bàn ghế (UBND phường hỗ trợ)
9 Đèn ông sao to do cơ khí Khánh Diệp tài trợ
Tổng = 29.950.000đ (Bằng chữ: Hai mươi chín triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng chẵn./.)
Trong bản dự trù kinh phí nêu trên, tác giả dự định vận động địa điểm dé giảm kinh phí, chỉ sử dụng chi phí thiết yếu dé tiết kiệm ngân sách và chủ yếu chi vào công tác hỗ trợ trẻ cả về vật chất tinh thần, tạo ra một sân chơi lành mạnh và đầy ý nghĩa.
2.1.4 Xác định các nguồn lực cần thiết dé tổ chức đêm hội trăng rằm và xây dựng kế hoạch vận động nguồn lực
- Xác định các nguôn lực can thiệt dé tô chức đêm hội trăng ram
Dé xây dựng thành công một chương trình thi cần có nhiều nguồn lực: trước hết là nguồn nhân lực quan lý, các chuyên gia, có vấn t6 chức chương trình và các thành viên có cùng đặc trưng tương đồng tham gia hỗ trợ Khi đã có được lực lượng nòng cốt là ban tổ chức chương trình thì đòi hỏi phải có cơ sở vật chất, tài chính dé tô chức chương trình Trong luận văn này khái niệm cơ sở vật chất mà chúng tôi đề cập ở đây là địa điểm tổ chức chương trình, công cụ, dụng cụ phục vụ cho chương trình (tài liệu, trang thiết bị máy móc ) và điều kiện không thể thiếu là tài chính dé tổ chức chương trình.
Căn cứ vào số liệu điều tra thống kê của UBND phường năm 2017 và qua kết quả khảo sát, thu thập thông tin trên địa bàn trong thời gian vừa qua, chúng tôi nhận thấy rằng các gia đình có trẻ có hoàn cảnh đặc biệt luôn mong muốn trẻ có cơ hội được tham gia một sân chơi riêng dành cho trẻ, nơi các em được giao lưu, thấu hiểu và được chia sẻ gánh nặng nề kinh tế, mong cộng đồng không kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ có hoàn cảnh đặc biệt trong gia đình họ.
Mặt khác địa phương có một đội ngũ chuyên gia về giáo dục, y tế có trình độ, tâm huyết với công tác hỗ trợ TEHCĐB và gia đình trẻ Nhân viên CTXH ở đóng vai trò lãnh đạo trong hệ thống chính quyền địa phương nên việc tô chức một chương trình, sân chơi cho trẻ vào Tết trung thu là hết sức thuận lợi, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của các bên tham gia.
Tuy nhiên để đảm bảo và duy trì hoạt động chương trình đêm hội trăng rằm hằng năm đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính 6n định và tự chủ Hàng năm, trong phân khai ngân sách địa phương vẫn dành một phan dé đảm bảo an sinh xã hội, nhưng con số này rất khiêm tốn trong khi đối tượng thì bao gồm nhiều thành phan trợ giúp: người nghèo, cận nghèo, người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo, người cao tuổi Và vì vậy không thé chi trông chờ vào ngân sách dé hỗ trợ đối với trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình trẻ tại địa phương, chúng tôi nhận thay can phải thực hiện vai trò biện hộ, kết nối các nguồn lực dé tổ chức chương trình đêm hội trăng răm Dưới tiếp cận của CTXH chúng tôi đóng vai trò kêt nôi đê có thê huy động các nguôn lực từ các nguôn khác nhau trong
56 đó có nguồn lực của ngân sách, từ xã hội hóa đối với các doanh nghiệp và người dân trên dia ban, kêu gọi ủng hộ từ các tô chức nhân đạo trên địa bàn.
Mục đích của việc xác định các nguồn lực cần thiết để tổ chức chương trình này nhằm giúp cho người nghiên cứu có thể đánh giá thực trạng các nguồn lực của địa phương từ đó xây dựng kế hoạch vận động mang tinh khả thi.
Trong kế hoạch nay, đối tượng hỗ trợ trực tiếp là các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã được cơ quan chuyên môn đánh giá và xác nhận Với trẻ, việc trợ giúp mà trẻ nhận được là sự giao lưu, chia sẻ về tinh thần và vật chất Với gia đình trẻ là sự đồng cảm, thấu hiếu và quan tâm của toàn xã hội.
Như vậy, dé tổ chức thành công chương trình đêm hội trăng rằm thì chúng tôi xác định nguồn lực cần thiết dé vận động ở đây đó là sự phê duyệt của Chính quyền địa phương đối với kế hoạch vận động các nguồn lực dé tô chức đêm hội trăng ram cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; các thành viên tham gia Ban tổ chức; nhóm chuyên gia về y tẾ, giáo dục, công tác xã hội; trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình trẻ; nhà hảo tâm, tô chức từ thiện tham gia.
lần gặp gỡ, trao đổi Nhân viên CTXH nhận được câu trả lời từ chính quyền giao cho bộ phận chuyên môn nghiên cứu tham mưu và sau 2 tuầntại cuộc họp trường trực 3 cơ quan phường mở rộng sẽ mời các ban nghành đoàn thé phường các khu phó, đại diện hộ gia đình dé nghe người chủ trì chương
58 trình trình bày và bảo vệ quan điểm về sự cần thiết tổ chức chương trình tổ chức
“Đêm hội trăng rằm” cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn phường.
Ngày 28/3/2018, theo đúng lịch làm việc với chính quyền địa phương, tại cuộc họp 3 cơ quan, nhân viên CTXH đã có buổi thuyết trình trước cấp ủy Dang, chính quyền địa phương và các bên có liên quan để bảo vệ quan điểm cần thiết phải tô chức chương trình này.
Tại buổi thuyết trình có những quan điểm chất vấn của các bên có liên quan về hiệu quả của chương trình, hình thức tô chức, nguồn lực tổ chức và nguồn tài chính vận động được sử dụng như thế nào?
Tra lời chất vấn, nhân viên CTXH lay dẫn chứng về chương trình tô chức trung thu cho các em thiếu nhi ở các xã nghèo như Cộng Hòa, Cam Hải, Dương Huy của thành đoàn tổ chức hàng năm đều nhận sự ủng hộ Chính quyền thành phố, chính quyền các xã, sự ủng hộ các tô chức doanh nghiệp trên địa ban thành phó, các tổ chức Đoàn cơ sở Đối chiếu với địa bàn phường, căn cứ vào số lượng trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, căn cứ vào sự quan tâm của chính quyền đại phương, cùng với đội ngũ tình nguyện viên là các bạn đoàn viên thanh niên đã được tập huấn kỹ năng qua thời gian hè, đội ngũ giáo viên đang giảng dạy tại các trường học trên địa bàn phường, các cộng tác viên công tác xã hội sẽ đảm bảo hiệu quả của chương trình Chúng tôi tin tưởng răng nếu cả cộng đồng và được chính quyền địa phương tao tạo điều kiện, chương trình sẽ được tô chức thường niên, đa dạng hóa hình thức tô chức, hướng đến được nhiều đối tượng trẻ em hơn nữa, sẽ tạo được hiệu ứng tích cực và lan tỏa.
Trả lời cho câu hỏi nguồn tài chính vận động được sẽ được sử dụng như thé nào? Nguồn vận động sẽ được công khai và trao tận tay đối tượng và gia đình ngay tại chương trình, còn lại chúng tôi sẽ bàn giao cho thường trực đoàn phường có trách nhiệm quản lý, theo dõi và sử dụng trong công tác hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa ban phường Đoàn thanh niên có trách nhiệm báo cáo với cấp ủy, chính quyền địa phương, MTTQ và các đoàn thể
59 chính trị phường, các khu phố được biết, kiểm tra, giám sát theo đúng quy định của Pháp lệnh 34/PL-UBTVQH về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
Kết thúc buổi thuyết trình, với câu trả lời giải đáp những thắc mac của các bên liên quan chúng tôi nhận được sự phản hồi tích cực hứa hẹn kết quả được phê duyệt kế hoạch Ngày 18/4/2018, tại thông báo kết luận số 24 — TB/DU của Đảng ủy phường Cam Bình về việc “Kết luận cuộc họp thường trực ba cơ quan tháng 3/2018”, trong kết luận Đảng ủy phường đã thông qua kế hoạch tô chức chương trình “Đêm hội trăng rằm” cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn phường, giao cho UBND phường phối hợp trong công tác vận động nguồn luc, công tác tô chức chương trình, chúng tôi đã nhân được Quyết định số 26/QD — DU ngày 10/5/2018 của Dang ủy phường Cam Bình về việc thành lập Ban tổ chức chương trình “Đêm hội trăng rằm” cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa ban phường”
Bằng tat cả tâm huyết, sự nỗ lực cỗ gắng của các bên, sự quan tâm tạo điều kiện của cấp ủy, chính quyền địa phương, chúng tôi đã thu được kết quả kỳ vọng và đảm bảo đúng tiến trình CTXH đã đề ra.
Trong hoạt động vận động này, nhân viên CTXH đóng vai trò là người tham van, tư vấn với chính quyền địa phương một mô hình mới, một cách thức mới trong công tác đảm bảo ASXH trên địa bàn Đồng thời đóng vai trò là người biện hộ chính sách, nhu cầu dé có một mô hình hiệu quả trong hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình trẻ giải quyết những khó khăn mà họ đang gặp phải, đáp ứng phần nào những nhu cầu, mong muốn của họ.
Từ quá trình triển khai hoạt động thực tế, nhân viên CTXH cũng gặp không ít khó khăn đó là: kế hoạch chưa đề cập đến việc khơi gợi, phát triển các năng khiếu đặc biệt của trẻ dé có thé sử dụng trong tương lai Các nhà hảo tâm, doanh nghiệp không mong muốn phải trợ giúp cho một cộng đồng mà khả năng thức tinh còn hạn chế Mặt khác nhân viên CTXH cần trau dồi hơn nữa kỹ năng thuyết trình để có thể truyền tải hiệu quả những kết quả kỳ vọng nếu kế hoạch được phê duyệt.
Vấn đề đặt ra là kế hoạch cần có hình thức đa dạng hơn nữa dé dap ứng được những nhu cầu về mặt tinh than cũng như phan nao đó về vat chất đối với trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình trẻ hiện nay dé có kế hoạch can thiệp hiệu quả hơn
2.3 Vận động nguồn lực con người 2.3.1 Vận động nhân lực tham gia ban tô chức
Kế hoạch đã được phê duyệt thông qua, muốn xây dựng thành công chương trình cần phải có con người vận hành Nguồn lực con người ở đây được xác định ban tổ chức chương trình, phân công thực hiện, trẻ và gia đình trẻ có hoàn cảnh đặc biệt Thiếu nguồn lực này thì kế hoạch chỉ nằm trên bàn giấy mà không thể đưa vào hoạt động thực tiễn.
Dé xây dựng và thực hiện một chương trình và có mang tính khả thi hay không thì trước hết là do cơ quan chỉ huy, ở đây nhân viên CTXH xác định là nhóm chuyên gia quản lý — người hoạch định và triển khai chương trình Đây là nhóm có vai trò quyết định đến việc thành công kế hoạch vận động tô chức chương trình “Ngày hội trăng rằm”.
Từ kết quả khảo sát thu thập thông tin mà nhân viên CTXH đã tiến hành năm 2017 phục vụ viết luận văn, chúng tôi đã tiếp cận với các chuyên gia đại diện cho các bên liên quan dé vận động tham gia Ban tổ chức chương trình Xác định đây là một trong những hoạt động đảm bảo ASXH trên địa bàn, hỗ trợ cho chính quyền địa phương trong đảm bảo xã hội, qua đó góp phần phát triển kinh tế, giữ vững ANCT — TTATXH trên địa bàn, chúng tôi đã tiếp cận với đồng chí phó chủ tịch UBND - phụ trách mảng văn xã, vận động tham gia Ban tổ chức với tư cách là Trưởng ban tô chức (nhiệm vụ trước đây phụ trách là công chức VHXH - TBXH) Với kiến thức chuyên môn được đào tạo trong ngành Lao động Thương binh và Xã hội, cùng với uy tín là lãnh đạo địa phương, nếu vận động được đồng chí phó chủ tịch này tham gia sẽ nâng cao uy tín, tính bảo đảm trong việc kêu gọi ủng hộ tài chính, vật chất cho chương trình trong năm nay cũng như các năm kê tiệp Trong 2 cuộc lam việc với đông chí phó chủ tịch
UBND phường về mục đích ý nghĩa thực hiện chương trình chúng tôi đã nhận được sự đồng ý tham gia làm thành viên Ban tổ chức của đồng chí Phó chủ tịch
KET LUẬN VA KHUYEN NGHỊ 1 Kết luậnKhuyến nghị - Đối với chính quyền địa phươngChính quyền địa phương cần da dạng hóa và tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến bảo vệ, chăm sóc trẻ em nhằm phổ biến sâu rộng đến các tang lớp nhân dân dé nhận thức đúng đắn về quyên trẻ em Thông qua sự tham gia của các phương tiện truyền thông, tài liệu, các buổi tập huấn, hội nghị, đảm bảo các quyên lợi và nhu cầu chính đáng của trẻ em, làm sao dé mội người được biết và được tìm hiéu, dần xóa bỏ các tư tưởng lạc hậu, phong kiến còn tôn tại đâu đó trong xã hội có tác động xấu đến trẻ em và đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Tổ chức các buổi toa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các gia đình, nhà trường và các thành viên của xã hội về công tác chăm sóc, giáo dục trẻ Tuyên dương những trẻ em chăm ngoan, vượt khó học giỏi, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, tăng cường công tác vận động phối hợp với các ban nghành đoàn thé các doanh nghiệp trên địa bàn, các tổ chức thiện nguyện tạo điều kiện về vật chất và tinh thần chăm lo cho trẻ, đặc biệt là đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Đề bảo vệ trẻ em một cách tốt nhất trước hết phải cho các em biết mình có những quyền gì? Cách thức bảo vệ như thế nào? Không có gì tốt nhất bằng cách các em tự biết bảo vệ chính bản thân mình Do đó để trẻ em biết mình có những quyền gì? Cách bảo vệ như thế nào? Thì ngay từ khi các em bắt đầu tư duy phải cho các em biết các em có những quyền cơ bản nào Nội dung này cũng đề nghị chính quyền địa phương có ý kiến chỉ đạo đối với Doan thanh niên phường phối hợp với các nhà trường cần xây dựng và tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên dé tìm hiểu về quyền trẻ em, nhằm mục đích tác động vào ý thức của các em một cách dễ hiểu nhất dé các em thực sự hiểu rõ mình có những quyền cơ bản nào?
Những người xung quanh có những hành động xâm phạm đến quyền của mình hay không? Có thể bảo vệ bản thân bằng cách nào? Đề tạo ra cơ chế bảo vệ trẻ em một cách kip thời, nhanh chống nhất thì cũng đề nghị chính quyền địa phương tiếp tục chỉ đạo bộ phận trẻ em phối hợp chặt chẽ với Đoàn thanh niên và các nhà trường trên địa bàn dé trao đổi thông tin và can thiệp kịp thời các van dé liên quan đến trẻ em trên địa bàn.
- Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình trẻ
Từ trước tới nay, gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là yếu tố quyết định đối với việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Trẻ em là thành phần quan trọng cấu thành gia đình Quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng chính là hai trong ba mối quan hệ cơ bản tạo nên gia đình Cha mẹ và các thành viên trong gia đình là những người gần gũi mật thiết thường xuyên ở bên cạnh trẻ, việc chăm sóc con trẻ không chỉ là trách nhiệm mà còn là bản năng của họ Trong gia đình, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cần được thực hiện một cách khoa học với những kiến thức, kỹ năng phù hợp Chăm sóc phải gắn liền với bảo vệ Phải xác định gia đình chính là nơi an toàn nhất cho trẻ.
Bảo vệ trẻ em trước hết là đảm bảo cho trẻ em được thực hiện các quyền của mình đồng thời phòng ngừa trẻ em không bị thiệt thòi, không bị xâm hại đên các quyền đã được pháp luật thừa nhận Bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn là ngăn ngừa dé trẻ em không bị rơi vào hòan cảnh đặc biệt Việc chăm sóc đối với một trẻ em bình thường đã vô cùng khó khăn vất vả thì đối với cha mẹ trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và những người thân xung quanh trẻ điều này lại khó khăn gấp nhiều lần Cho nên cha mẹ và những người thân khác trong gia đình cần có những hiểu biết tâm lý nhất định dé giúp trẻ được tốt nhất Khi thực hiện chức năng chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gia đình không thê tách rời khỏi những thiết chế khác là nhà trường và cộng đồng xã hội Không chỉ quan tâm tới các van dé của trẻ khi sinh hoạt ở gia đình mà còn phải biết được những hoạt động của các cháu tại trường học, những nơi sinh hoạt cộng đồng dé kip thời ngăn chặn những tiêu cực có thể xảy ra Chăm sóc trẻ đước tiến hành trên cả hai mặt vật chất và tinh thần Gia đình với khả năng cao nhất của mình cung cấp cho trẻ những điều kiện tốt nhất dé phát triển về thé chất Dé tạo môi trường chăm sóc thuận lợi, gia đình cần tạo ra bầu không khí yêu thương, đoàn kết gan bó giữa các thành viên trong gia đình, mỗi thành viên trong gia đình tùy thuộc vào vị trí của mình phải trở thành những tắm gương để cho trẻ học tập và noi theo Gia đình thông qua thái độ, tình cảm tâm lý, mối liên hệ
81 thường xuyên bên vững với trẻ, khéo léo truyền thụ cho trẻ những hành vi ứng xử trong nhà và ngoài xã hội Không thể có sự hình thành và phát triển nhân cách đầy đủ và hoàn thiện nếu như không có một mối trường giáo giục gia đình thuận lợi.
- Đối với các nguồn lực xã hội hóa Trẻ em có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội, sự phát triển của trẻ em có ý nghĩa quan trọng với tương lai của đất nước Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành và địa phương đã rất quan tâm đến công tác trẻ em Các quy định về quyền trẻ em đã được luật hóa trong Hiến pháp năm 2013 và Luật trẻ em năm 2016 và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao
Các nguồn lực xã hội hoá dành cho quyền trẻ em có thé được hiểu là sự vận động và kêu gọi sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân và chính quyền địa phương nhằm thực hiện quyền của trẻ em; mở rộng sự tham gia của các chủ thé xã hội với nhiều phương thức dé vừa phát huy tiềm năng trí tuệ, vật chất của các tô chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cho trẻ em, vừa tạo điều kiện mở rộng đối tượng thụ hưởng dịch vụ, đặc biệt là trẻ em nghẻo và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Thực hiện tinh thần đó của Nhà nước, Luật trẻ em năm 2016 đã có rất nhiều đổi mới và thé hiện thông suốt chủ trương xã hội hóa công tác thực hiện quyền trẻ em trong các điều của Luật Nhà nước đang dần tạo cơ chế và điều kiện để việc tham gia cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và các dịch vụ khác bằng cách nới rộng quy định của pháp luật nhăm khuyến khích tư nhân tham gia như một cách để mở rộng xã hội hóa việc cung cấp các dịch vụ về bảo vệ, chăm sóc trẻ em nhằm huy động tối đa nguồn lực từ nhân dân Trong Luật trẻ em, nhiều nội dung quy định khuyến khích xã hội hóa cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và các dịch vụ khác thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, vui chơi và giải trí.
Thực tế hiện nay không thé phủ nhận là mặc dù hệ thống bảo vệ trẻ em và các dịch vụ khác từng bước nâng cao chất lượng, tăng cường về số lượng và đa dạng về loại hình nhưng hệ thống dịch vụ còn chưa đầy đủ, cấu trúc hệ thống
82 dịch vụ còn thiếu tính đồng bộ, thiếu thống nhất, chưa có sự quản lý và giám sát chặt chẽ; việc củng cố hệ thống dịch vụ ở ở cấp xã, huyện chưa thực sự được quan tâm dẫn đến việc cung cấp các dịch vụ bảo vệ trẻ em chưa đến được gia đình, cộng đồng dân cư, trường học và chưa liên tục, đặc biệt là việc cung cấp các dịch vụ phòng ngừa (hoạt động truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ em, thầy cô giáo và trẻ em) để tạo dựng một môi trường sống an toàn, thân thiện cho trẻ em.
Vì vậy các nguồn lực xã hội hóa cho trẻ em đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần nhắn mạnh những nội dung sau:
Mot là, nang cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyên,
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thé quan chúng, nhà trường, gia đình, các doanh nghiệp đối với sự nghiệp trẻ em Vận động toàn dân bảo vệ, chăm sóc trẻ em, tạo ra môi trường xã hội an toàn, lành mạnh; phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội.
Hai là, phát huy vai trò, hoạt động của các tô chức chính trị xã hội như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, các tô chức của trẻ em như Đội thiếu niên tiền phong, câu lạc bộ quyền trẻ em dé vận động thành viên của tô chức và xã hội hỗ trợ, tham gia xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch, dịch vụ đáp ứng quyền của trẻ em, phòng ngừa hành vi vi phạm quyền của trẻ em theo quy định của Luật trẻ em.
Ba là, tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội; giữa các ban, ngành, đoàn thể trong hoạt động chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, trong đó gia đình có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ trẻ em, cùng với nhà trường giáo dục hình thành nhân cách và trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết cho trẻ em phát triển toàn diện.
Bon là, phát triển các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại cộng đồng, xây dựng nguồn lực, khả năng dựa trên tiềm năng sẵn có của gia đình/ họ hàng và cộng đồng để đảm bảo sự an toàn và an sinh cho trẻ em Tập trung xây dựng mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia thực hiện quyên trẻ em ở