ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN QUỲNH TRANG TÍCH HỢP HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “ĐA DẠNG THẾ GIỚI SỐNG”, KHOA HỌC TỰ NHIÊN 6, TRUNG H
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN QUỲNH TRANG
TÍCH HỢP HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “ĐA DẠNG THẾ GIỚI SỐNG”,
KHOA HỌC TỰ NHIÊN 6, TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN QUỲNH TRANG
TÍCH HỢP HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “ĐA DẠNG THẾ GIỚI SỐNG”,
KHOA HỌC TỰ NHIÊN 6, TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 8140213.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS MAI VĂN HƯNG
HÀ NỘI - 2023
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý Thầy Cô lãnh đạo của Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, vì đã tạo môi trường thuận lợi và cung cấp điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả gửi lời tri ân chân thành đến toàn thể các Thầy giáo, Cô giáo và cán bộ Khoa Sư phạm của Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, vì đã đồng hành và đóng góp những ý kiến quý báu, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại trường
Đặc biệt, tác giả muốn bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cán bộ
hướng dẫn PGS.TS Mai Văn Hưng, người đã dành tâm huyết và tận tâm trong
việc định hướng, chỉ dẫn và hỗ trợ chuyên môn cho tác giả trong suốt quá trình làm luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy giáo, Cô giáo và các em học sinh của Trường Trung học Cơ sở Giao Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, vì đã nhiệt tình hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả thực hiện khảo sát và tổ chức quá trình dạy học, từ đó hoàn thành các nghiên cứu trong luận văn Cuối cùng, tác giả muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè, đồng nghiệp, vì đã động viên và hỗ trợ tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Hà Nội, tháng 2 năm 2023
Tác giả
Nguyễn Quỳnh Trang
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Biểu đồ biểu diễn tần suất giảng dạy GDHN của trường THCS 26
Hình 1.2 Biểu đồ biểu diễn tần suất tham gia giảng giạy GDHN của GV 26
Hình 1.3 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ hình thức tổ chức GDHN 26
Hình 1.4 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ phương pháp, kỹ thuật dạy học khi tổ chức dạy học tích hợp hoạt động GDHN môn KHTN 27
Hình 1.5 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ hình thức tích hợp hoạt động GDHN trong dạy học bộ môn KHTN 25
Hình 1.6 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ mức độ cần thiết tổ chức các hoạt động GDHN 29
Hình 1.7 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ tần suất tham gia vào các hoạt động GDHN 29
Hình 1.8 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ HS tham gia vào các hoạt động GDHN cụ thể 30
Hình 1.9 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ HS tham gia vào các hoạt động GDHN cụ thể 31
Hình 1.10 Tỉ lệ lí do lựa chọn ngành nghề của HS 32
Bảng 1.1 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong lựa chọn ngành nghề của HS 32
Hình 1.11 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ những khó khăn HS gặp phải khi định hưởng nghề 33
Hình 2.2 Quy tình tích hợp GDHN trong dạy học Địa lí 12 46
Hình 2.3 Quy trình thiết kế và tổ chức dạy học tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp 47
Hình 3.1 HS tìm hiểu kiến thức trong tiết 1 80
Hình 3.2 HS quan sát Nấm 81
Hình 3.3 HS giới thiệu về nghề trồng nấm 81
Hình 3.4 HS giới thiệu về ngànhDược phẩm 82
Hình 3.5 HS giới thiệu về ngành công nghệ thực phẩm 82
Hình 3.6 GV phỏng vấn sâu theo nhóm 83
Hình 3.7 GV phỏng vấn cá nhân HS 83
Trang 6Hình 3.9 Biểu đồ biểu diễn mức độ yêu thích của HS sau TN 84
Hình 3.10 Biểu đồ biểu diễn mức độ đạt được các tiêu chí NL nghề nghiệp 85
Hình 3.11 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ HS đạt M3 88
Hình 3.12 Biểu đồ biểu diễn đường tích lũy kết quả bài kiểm tra 15 phút 91
Hình 3.13 Biểu đồ biểu diễn mức độ yếu-kém, trung bình, khá, giỏi ở bài kiểm tra 15 phút 92
Hình 3.14 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ điểm bài kiểm tra 45 phút 93
Hình 3.15 Biểu đồ biểu diễn đường tích lũy kết quả bài kiểm tra 45 phút 94
Hình 3.16 Biểu đồ biểu diễn phân loại kết quả bài kiểm tra 45 phút 95
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 6 37
Bảng 2.2 Nội dung chủ đề Đa dạng thế giới sống 40
Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá NL KHTN 49
Bảng 2.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động định hướng nghề nghiệp ở HS 50
Bảng 2.5 Phân bố câu hỏi và tiêu chí đánh giá 51
Bảng 2.6 Nội dung hoạt động tích hợp định hướng nghề nghiệp tiểu chủ đề “Nấm”.54 Bảng 2.7 Nội dung tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệpchủ đề “Đa dạng thế giới sống” 61
Bảng 3.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động tích hợp định hướng nghề nghiệp qua tiêu chí năng lực định hướng nghề nghiệp 85
Bảng 3.2 Mức độ phát triển NL KHTN do HS tự đánh giá (%) 87
Bảng 3.3 Điểm trung bình các NL KHTN 89
Bảng 3.4 Bảng phân bố tần số, tần suất điểm kiểm tra 15 phút của lớp ĐC và TN. 90
Bảng 3.5 Số HS đạt điểm Xi trở xuống ở bài kiểm tra 15 phút 91
Bảng 3.6 Tỉ lệ HS đạt điểm Xi ở bài kiểm tra 15 phút 91
Bảng 3.7 Tỉ lệ HS đạt điểm yếu-kém, trung bình, khá, giỏi ở bài kiểm tra 15 phút 92
Bảng 3.8 Bảng phân bố tần số, tần suất điểm kiểm tra 45 phút của lớp ĐC và TN 93
Bảng 3.9 Tỉ lệ HS đạt điểm Xi trở xuống trong bài kiểm tra 45 phút 94
Bảng 3.10 Tỉ lệ HS đạt điểm yếu-kém, trung bình, khá, giỏi ở bài kiểm tra 45 phút 95
Bảng 3.15 Kết quả kiểm định t-test và mức độ ảnh hưởng 97
Trang 83 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Những đóng góp mới của luận văn 7
9 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.3.1 Mô tả quá trình điều tra thực trạng 25
1.3.2 Kết quả điều tra 25
Tiểu kết chương 1 35
Trang 9CHƯƠNG 2 TÍCH HỢP HOẠT ĐỘNG ĐINH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ "ĐA DẠNG THẾ GIỚI SỐNG", KHOA HỌC
TỰ NHIÊN 6, TRUNG HỌC CƠ SỞ 36
2.1 Phân tích chương trình Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 6 36
2.1.1 Mục tiêu chương trình Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 36
2.1.2 Nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 6 36
2.2 Phân tích chương trình Khoa học tự nhiên 6 39
2.2.1 Mục tiêu chương trình Khoa học tự nhiên 39
2.2.2 Nội dung chủ đề "Đa dạng thế giới sống", Khoa học tự nhiên 6 40
2.2.3 Sự phù hợp của nội dung chủ đề “Đa dạng thế giới sống”, Khoa học tự nhiên 6 với các hoạt động định hướng nghề nghiệp 44
2.3 Nguyên tắc và quy trình thiết kế và tổ chức tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp trong dạy học chủ đề "Đa dạng thế giới sống", Khoa học tự nhiên 6 44
2.3.1 Nguyên tắc tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp 44
2.3.2 Quy trình thiết kế và tổ chức tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp trong dạy học 46
2.4 Xây dựng bộ công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động định hướng nghề nghiệp 49
2.4.1 Xây dựng tiêu chí đánh giá 49
2.4.2 Xây dựng công cụ đánh giá 51
2.5 Thiết kế một số hoạt động dạy học tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp chủ đề "Đa dạng thế giới sống", Khoa học tự nhiên 6 52
2.5.1 Ví dụ cho quy trình thiết kế và tổ chức dạy học tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp chủ đề "Đa dạng thế giới sống", Khoa học tự nhiên 6 52
2.5.2 Đề xuất một số biện pháp tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp trong dạy học chủ đề “Đa dạng thế giới sống”, Khoa học tự nhiên 6 56
2.5.3 Đề xuất một số nội dung trong chủ đề "Đa dạng thế giới sống" có thể tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp 61 2.5.4 Thiết kế một số giáo án tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiêp trong dạy
Trang 10Tiểu kết chương 2 76
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 77
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 77
3.3 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 77
3.4 Bố trí thực nghiệm 78
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 79
3.5.1 Phương pháp xử lí và đánh giá kết quả thực nghiệm 79
3.5.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 79
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 106
Trang 11MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ định hướng mục tiêu, nội dung của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 về giáo dục hướng nghiệp
Mục tiêu của việc đổi mới giáo dục phổ thông được quy định trong Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội nhằm tạo ra sự thay đổi cơ bản và toàn diện về chất lượng và hiệu quả của hệ thống giáo dục phổ thông Điều này bao gồm việc thay đổi chương trình học và sách giáo khoa, nhằm kết hợp giảng dạy chữ, giảng dạy về nhân cách và định hướng nghề nghiệp Mục tiêu chính là đưa ra một hệ thống giáo dục phổ thông linh hoạt, mang tính thực tiễn và phù hợp với nhu cầu và khả năng của học sinh, từ đó đảm bảo rằng giáo dục phổ thông đem lại kết quả tốt và có ý nghĩa trong việc chuẩn bị cho học sinh trở thành công dân toàn diện trong xã hội
Chương trình giáo dục phổ thông được thiết kế và xây dựng theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh (HS), từ đó, HS có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với khả năng, sở thích của bản thân cũng như phù hợp với nhu cầu xã hội Tại cấp tiểu học, HS bước đầu tìm hiểu về một số nghề nghiệp quen thuộc, những phẩm chất và năng lực cần có trong những lĩnh vực nghề nghiệp đó Tại cấp trung học, HS cần hình thành và phát triển kĩ năng ra quyết định và lập kế hoạch học tập theo định hướng nghề nghiệp
Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 tích hợp nội dung giáo dục hướng nghiệp trong tất cả các môn học và hoạt động giáo dục Nội dung này tương quan chặt chẽ với môn Công nghệ, Khoa học và các môn năng khiếu Triển khai nội dung hướng nghiệp xảy ra ở nhiều cấp độ khác nhau và được đẩy mạnh qua sự phối hợp giữa trường học, gia đình và xã hội Mục tiêu là định hướng học sinh tìm hiểu về sự lựa chọn nghề nghiệp và phát triển kỹ năng cần thiết cho tương lai Ở cấp Trung học cơ sở (THCS), HS chủ yếu tìm hiểu về các
Trang 12quan tâm Hết cấp THCS, HS có thể tự ra quyết định lựa chọn con đường học tập và làm việc sau THCS Như vậy, với định hướng rõ ràng của chương trình giáo dục phổ thông, HS cần được trang bị đầy đủ kiến thức về các nghề nghiệp để có thể đạt được những mục tiêu đề ra cũng như đưa ra được lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai
1.2 Xuất phát từ thực trạng giáo dục định hướng nghề nghiệp thực cho học sinh ở các trường phổ thông
Việc chọn nghề thực sự quan trọng và vô cùng cần thiết Chọn cho mình một nghề cũng có nghĩa là chọn cho mình một tương lai Chọn nghề sai lầm nghĩa là đặt cho mình một tương lai không thực sự an toàn và vững chắc Chọn đúng nghề nghiệp sẽ giúp cho cuộc sống của bản thân vui vẻ và hạnh phúc hơn
Thực trạng hiện nay, việc giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh ở bậc phổ thông ở chương trình giáo dục hiện hành chưa được coi trọng đúng mức Việc giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh đã được quan tâm ở bậc trung học phổ thông, tuy nhiên hiệu quả chưa được như mong muốn Còn ở bậc trung học cơ sở thì rất hạn chế Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ dẫn tới các ngành nghề trong xã hội đều thay đổi, nhiều nghề mới xuất hiện và cũng nhiều nghề mất đi Việc không tìm hiểu kỹ những yêu cầu về năng lực, tính cách, trình độ học vấn… mà nghề đòi hỏi để đối chiếu khả năng đáp ứng của bản thân có phù hợp hay không; thêm vào đó việc không nắm bắt được nhu cầu xã hội trong tương lai, chọn nghề theo gia đình, theo bạn bè, theo số đông… dẫn đến việc chọn sai nghề khá phổ biến ở học sinh sau khi rời bậc các học phổ thông Đó là kết quả của việc giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh ở các trường phổ thông chưa hiệu đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội
Trước thực trạng khá phổ biến là nhiều bạn trẻ chuẩn bị đi vào cánh cửa đại học, vẫn lúng túng về việc chọn cho mình một ngành học Theo khảo sát
Trang 13của bộ phận tuyển sinh và định hướng nghề của các trường đại học năm 2017, có khoảng 15 – 20% sinh viên sau khi tốt nghiệp mới biết bản thân chọn sai ngành và rất nhiều bạn trẻ phải học lại, chọn lại những ngành nghề mới Điều đó đã gây lãng phí về chất xám, thời gian, tài chính cho người học, cho gia đình và xã hội
Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, bậc trung học phổ thông bao gồm các môn học bắt buộc, môn học tự chọn, chuyên đề học tập tự chọn, hoạt động giáo dục bắt buộc và nội dung giáo dục địa phương Có tổng cộng 7 môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc là: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng an ninh, Hoạt động trải nghiệm - hướng nghiệp và Nội dung giáo dục địa phương Học sinh được chọn 5 môn học khác từ 3 nhóm môn (ít nhất một môn trong mỗi nhóm): Khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật); Khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học); nhóm môn Công nghệ và Nghệ thuật (Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật - Âm nhạc và Mỹ thuật) Với việc phải lựa chọn tổ hợp môn học ngay từ khi bắt đầu bước vào trung học phổ thông thì sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho học sinh Vì lựa chọn tổ hợp môn học sẽ ảnh hưởng lớn tới lựa chọn nghề nghiệp sau này, mà năng lực tự định hướng nghề nghiệp ở học sinh bậc trung học cơ sở là rất hạn chế Chính vì vậy vai trò của giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh bậc bậc trung học cơ sở là cực kì quan trọng
1.3 Xuất phát từ ưu điểm của dạy học tích hợp và khả năng tích hợp hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp vào dạy học môn Khoa học tự nhiên 6
Việc dạy học tích hợp không chỉ giúp tinh giản, liên kết kiến thức mà còn giúp HS nhận ra, vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống Môn Khoa học tự nhiên (KHTN) theo chương trình giáo dục phổ thông được thiết kế dựa trên nền tảng của ba môn Vật lí, Hóa học, Sinh học Kiến thức Khoa học tự nhiên không
Trang 14lặp lại trong ba môn, mà được giới thiệu một cách logic và liền mạch Hơn nữa đây là môn học tìm hiểu về thực tiễn, rất phù hợp để dạy học tích hợp
KHTN là một môn học mới được giới thiệu ở cấp trung học cơ sở Môn học này bao gồm kiến thức và kỹ năng về vật lý, hoá học và sinh học Các kiến thức và kỹ năng này được tổ chức quanh các mạch nội dung chính như tính chất của chất và sự biến đổi hóa học, nghiên cứu về các hệ thống sống, năng lượng và các quá trình biến đổi của nó, cũng như về Trái Đất và vũ trụ Mục tiêu của môn học là khám phá các nguyên lý và quy luật cơ bản điều chỉnh thế giới tự nhiên, bao gồm cấu trúc và đa dạng của hiện tượng tự nhiên, tương tác giữa chúng, tính hệ thống và các quy luật vận động và biến đổi KHTN ở bậc bậc trung học cơ sở là môn học mới, có nội dung tích hợp các kiến thức, kĩ năng về các lĩnh vực khoa học vật lí, hoá học và sinh học Các kiến thức, kĩ năng này được tổ chức theo các mạch nội dung (chất và sự biến đổi chất, vật sống, năng lượng và sự biến đổi, Trái Đất và bầu trời), thể hiện các nguyên lí, quy luật chung của thế giới tự nhiên (tính cấu trúc, sự đa dạng, sự tương tác, tính hệ thống, quy luật vận động và biến đổi) KHTN là một môn khoa học thực nghiệm, nội dung môn học có sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực hành, gắn với thực tiễn cuộc sống, liên quan nhiều ngành nghề khác nhau Các hoạt động học tập của HS mang tính khám phá xuất phát từ những trải nghiệm và tình huống thực tiễn Do đó khả năng để tích hợp các nội dung hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp vào các hoạt động học tập là rất lớn và có thể đạt hiệu quả cao về giáo dục định hướng nghề nghiệp
Chương “Đa dạng thế giới sống” (Khoa học tự nhiên 6) có nội dung bao gồm những kiến thức về thế giới sống rất gần gũi và gắn bó với đời sống hàng ngày của học sinh, nhiều nội dung rất thuận lợi cho việc tích hợp giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh
Với những tất cả lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Tích hợp
hoạt động định hướng nghề nghiệp trong dạy học chủ đề đa dạng thế giới sống, khoa học tự nhiên 6, trung học cơ sở”
Trang 152 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng nội dung và phương pháp tích hợp các hoạt động hướng nghiệp thông qua việc dạy học chương “Đa dạng thế giới sống” - Khoa học tự nhiên 6 nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục định hướng nghề nghiệp trong quá trình dạy học các kiến thức về vật sống cho học sinh bậc trung học cơ sở
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Khoa học tự nhiên và hoạt động giáo dục hướng nghiệp
ở trường trung học cơ sở
3.2 Đối tượng
Nội dung và phương pháp tích hợp hoạt động giáo dục hướng nghiệp vào dạy
học chương “Đa dạng thế giới sống”, Khoa học tự nhiên lớp 6 4 Giả thuyết khoa học
Nếu tích hợp các nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong dạy học chủ đề “Đa dạng thế giới sống” trong môn Khoa học tự nhiên 6 thì sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh THCS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về tích hợp, dạy học tích hợp để vận dụng tích hợp giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học môn Khoa học tự nhiên ở trường THCS
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về hoạt động hướng nghiệp cho học sinh bậc THCS
- Phân tích cấu trúc nội dung các chủ đề hướng nghiệp - Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 6, chương trình giáo dục phổ thông 2018
- Phân tích cấu trúc nội dung chủ đề “Đa dạng thế giới sống”- Khoa học tự nhiên lớp 6
- Điều tra, phân tích và đánh giá thực trạng việc tích hợp các hoạt động hướng nghiệp vào dạy học môn Khoa học tự nhiên 6
- Thiết kế một số nội dung hoạt động hướng nghiệp - Hoạt động trải nghiệm,
Trang 16- Thực nghiệm sư phạm và phân tích kết quả thực nghiệm để chứng minh tính khả thi của đề tài
- Xây dựng được tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động hướng nghiệp tích hợp vào trong dạy học chủ đề “đa dạng thế giới sống” - Khoa học tự nhiên lớp 6
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng dạy học chủ đề “đa dạng thế giới sống”- Khoa học tự nhiên tích hợp một số nội dung hoạt động định hướng nghề nghiệp - Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 6
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích các tài liệu có liên quan làm cơ sở xây dựng lí luận về vấn đề giáo dục hướng nghiệp, cơ sở lí luận của chương trình và SGK môn KHTN6, các nghiên cứu về hoạt động hướng nghiệp của các tác giả khác Tìm hiểu mối liên quan giữa các nghiên cứu về hoạt động hướng nghiệp thông qua nội dung môn học với các vấn
đề đặt ra trong đề tài luận văn
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Dự các giờ dạy của giáo viên dạy môn Khoa học tự nhiên ở các trường trung học cơ sở
- Điều tra việc tổ chức các hoạt động hướng nghiệp tại các trường THCS thông qua việc tham khảo ý kiến giáo viên, giáo án của giáo viên, phiếu điều tra
- Thiết kế và sử dụng phiếu khảo sát để hiểu về kiến thức và thực trạng việc tích hợp hoạt động hướng nghiệp trong giảng dạy Khoa học tự nhiên tại một số trường THCS thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Xây dựng các kế hoạch bài dạy có tích hợp nội dung hướng thuộc phần vật sống và kế hoạch bài dạy truyền thống Từ đó dạy học thực nghiệm có đối chứng tại trường trung học cơ sở Giao Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định nhằm kiểm tra giả thuyết của đề tài
7.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
- Số liệu thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm Excel; phần mềm SPSS 20.0 với các tham số thông kê đặc trưng gồm: giá trị trung bình; độ lệch chuẩn; mode
Trang 178 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa được các cơ sở lí luận về dạy học tích hợp để định hướng cho việc tích hợp hoạt động hướng nghiệp qua dạy học chương "Đa dạng thế giới sống” – Khoa học tự nhiên 6, có thể vận dụng cho các nghiên cứu tương tự ở các môn học khác nhau
- Xây dựng được nguyên tắc và quy trình tích hợp giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học bài học chương "Đa dạng thế giới sống" – Khoa học tự nhiên 6 trường THCS theo hướng tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp để đưa vào thực nghiệm sư phạm
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2 Tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp trong dạy học chương “đa dạng thế giới sống” – khoa học tự nhiên 6
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
1.1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) đã bắt đầu phát triển từ những năm đầu của thế kỷ 19 và liên quan chặt chẽ đến sự phát triển giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, từ những năm 1776, các nhà nghiên cứu đã nhận ra sự quan trọng
của GDHN Trong cuốn sách The Wealth of Nations (tạm dich: Của cải của Quốc
gia), tác giả Adam Smith đã chỉ ra rằng việc đào tạo nghề bài bản là vô cùng cần thiết, đây là hình thức thay thế cho các phường hội phong kiến, giúp đất nước phát triển [28] Tại các quốc gia trên thế giới, nghiên cứu về GDHN chủ yếu xoay quanh việc nghiên cứu về các mô hình trường nghề, hình thức tổ chức và hiệu quả của trường nghề trong định hướng nghề nghiệp cho người học
Tại Úc, hệ thống GDHN bao gồm việc học nghề truyền thống và học nghề dịch vụ Thời gian học tại trường thường kéo dài từ ba đến bốn năm GDHN tại Úc đề cao tính linh hoạt và cá nhân hóa trong việc cung cấp dịch vụ hứng nghiệp Chính phủ và các cơ quan liên quan cam kết xây dựng một hệ thống GDHN hiệu quả để hỗ trợ cho HS và người đi làm [45] Giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường ở Úc là một quá trình phát triển kĩ năng, kiến thức và quan điểm cho học sinh thông qua chương trình học đã được hoạch định trước Các thành phần chính của giáo dục hướng nghiệp bao gồm:
Học về bản thân trong công việc: Học sinh được khuyến khích tìm hiểu về bản thân, khám phá sở thích, năng lực và giá trị cá nhân liên quan đến công việc Điều này giúp họ có cái nhìn rõ ràng về bản thân và định hướng nghề nghiệp phù hợp
Học về thế giới việc làm: Học sinh được cung cấp thông tin về các ngành nghề, xu hướng việc làm, và yêu cầu kỹ năng của các ngành nghề khác nhau Họ được khuyến khích nghiên cứu và hiểu về thị trường lao động để có sự lựa chọn nghề nghiệp thông minh
Trang 19Học lập kế hoạch và quyết định nghề nghiệp: Học sinh được hỗ trợ trong việc xây dựng kế hoạch nghề nghiệp và đưa ra các quyết định liên quan Các hoạt động như thảo luận, tư vấn và tổ chức sự kiện có thể được sử dụng để giúp học sinh nắm bắt mục tiêu và lộ trình nghề nghiệp của mình
Thực thi các quyết định nghề nghiệp và vượt qua các giai đoạn chuyển đổi việc làm: Học sinh được hỗ trợ trong quá trình chuẩn bị và thực thi các quyết định nghề nghiệp, cũng như vượt qua các giai đoạn chuyển đổi trong sự nghiệp Họ có thể được giúp đỡ trong việc tìm kiếm việc làm, phỏng vấn và phát triển các kỹ năng cần thiết để thành công trong sự nghiệp [46]
Tại Anh, HS trên 16 tuổi được lựa chọn học tập tại các trường nghề, hoặc học tập tại các trường đại học có ngành đào tạo liên quan tới nghề nghiệp hướng tới Giáo dục hướng nghiệp tại Anh nhằm hỗ trợ sự phát triển toàn diện của học sinh, bao gồm cả các khía cạnh học thuật, nghề nghiệp và kỹ năng sống Nó tập trung vào việc phát triển nhận thức bản thân, khả năng lựa chọn nghề nghiệp và kỹ năng cần thiết cho sự thành công trong cuộc sống và công việc [42] Nghiên cứu của Josie và cộng sự chỉ ra rằng, trong năm 2003, ba lĩnh vực học tập phổ biến nhất với sinh viên toàn thời gian là y tế, chăm sóc xã hội và dịch vụ công (15,3%); công nghệ thông tin (8%); nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật thị giác, truyền thông (8%) Năm 2002, chính phủ Anh đã đưa ra 05 nguyên tắc chính để hướng dẫn dịch vụ đào tạo định hướng nghề nghiệp cho thanh niên lứa tuổi 16-19 tuổi
Nghiên cứu của OECD tại Na Uy cho thấy, học sinh tốt nghiệp THCS tại quốc gia này tiếp tục học lên THPT Một nửa số đó lựa chọn một trong chín chương trình dạy nghề Chương trình dạy nghề gồm 02 năm học tại trường và 02 năm học việc tại một công ti Năm đầu tiên, HS được cung cấp giáo dục phổ thông với những kiến thức cơ bản và kiến thức chuyên môn về lĩnh vực nghề nghiệp Từ năm thứ 2, các khóa học cụ thể hơn về lĩnh vực lựa chọn [41]
GDHN tại Mỹ nhấn mạnh vào tính bền vững và liên tục của sự nghiệp, khuyến khích học sinh phát triển kỹ năng sẵn sàng cho việc thích ứng với thay đổi và phát
Trang 20chủ động của các nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên nghiệp Những nhà tư vấn này cung cấp hỗ trợ và tư vấn cá nhân cho học sinh, giúp họ khám phá bản thân, nghiên cứu về các lĩnh vực nghề nghiệp và lựa chọn phù hợp [43]
1.1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về tích hợp giáo dục hướng nghiệp
Tại Pháp các trường đều chú trọng đến GDHN qua dạy môn Công nghệ, Khoa học và Kinh tế Cụ thể, trong môn Công nghê, GDHN đặt trong tâm vào việc chuẩn bị học sinh để sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động HS cần thực hiện các hoạt động thực tế, nghiên cứu dự án, thực tập để học sinh áp dụng kiến thức vào thực tế nghề nghiệp Trong môn Khoa học, GV luôn tạo liên kết giữa kiến thức khoa học và ứng dụng thực tế trong các lĩnh vực nghề nghiệp, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm và dự án với mục tiêu ứng dụng khoa học vào thực tiễn nghề nghiệp [46]
Ở Đức, các công trình nghiên cứu đã phân tích tầm quan trọng của tích hợp GDHN trong các môn học như Kinh tế, Công nghệ Việc đưa ra các kiến thức chuyên ngành đồng thời tổ chức các dự án, thực tập để học sinh áp dục kiến thức vào thực tế nghề nghiệp là vô cùng quan trọng [47]
Ở Hoa Kỳ, hướng nghiệp được tiến hành khá sớm, từ bậc tiểu học Ở bậc THPT, HS lớp 12 phải xác định rõ nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, hiểu về cách thức gia nhập giáo dục bậc cao hơn và tiếp cận với thế giới nghề nghiệp, các em được khuyến khích thực tập, làm thêm, … ngay sau khi kết thúc lớp 12 để có cơ hội trải nghiệm nghề nghiệp Đây cũng là một trong những phương pháp giúp HS nhanh chóng thích nghi với bước chuyển đổi từ phổ thông lên các bậc học cao hơn hoặc ra thị trường lao động Hệ thống các thông tin nghề nghiệp được cung cấp trực tuyến cho HS, phụ huynh và các nhà giáo dục trên phạm vi rộng, trên website Kế hoạch nghề nghiệp bao gồm 1000 cơ hội, được miêu tả cụ thể về từng nghề, sở thích, kĩ năng, năng lực, yêu cầu giáo dục và đầu vào HS có thể lựa chọn thông tin về chương trình sau trung học, phạm vi và hình thức đào tạo HS cũng có thể học về việc chuẩn bị các chương trình và nghiên cứu tài chính Đội ngũ GV giảng dạy, tư vấn trong GDHN ở Hoa Kỳ phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định, được quy định bởi từng bang ở Hoa Kỳ (Bằng
Trang 21cấp, kinh nghiệm giảng dạy, lĩnh vực giảng dạy, …) Hiện nay, xu hướng chính trong hệ thống giáo dục trung học ở Hoa Kỳ là kết hợp giữa giáo dục văn hóa và giáo dục nghề Các mô hình giáo dục trung học ở đây rất đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng của từng học sinh, cũng như mang lại lợi ích cho cả cộng đồng Mục tiêu là tạo ra một quá trình giáo dục linh hoạt và đa chiều, cho phép học sinh phát triển cả kiến thức văn hóa và kỹ năng nghề nghiệp Qua đó, học sinh có thể tự tin và thành công trong sự nghiệp sau khi tốt nghiệp trung học
Hệ thống giáo dục Phần Lan đặt mục tiêu giáo dục hướng nghiệp là giúp học sinh phát triển những kỹ năng cần thiết để định hình và thực hiện sự lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai Trong chương trình giáo dục tiểu học, giáo dục hướng nghiệp được tích hợp thông qua các hoạt động như trò chơi, thảo luận nhóm và quan sát thực tế Tại cấp trung học, giáo dục hướng nghiệp được tích hợp trong chương trình học thông qua môn học riêng biệt hoặc qua các hoạt động ngoại khóa, hội thảo và hướng dẫn từ các chuyên gia nghề nghiệp [48]
Nhiều tác giả đã nghiên cứu về GDHN, nhiều tài liệu bổ ích phục vụ cho Giáo dục hướng nghiệp liên tục được xuất bản, gần đây là một số cuốn như: Career Counselling (2006) của các tác giả Robert Nathan & Linda Hill đã đề cập cụ thể, chi tiết về công tác tư vấn hướng nghiệp; 50 Best jobs for your Personality (2009) của các tác giả Michael Farr and Laurence Shatkin đã đề cập đến 50 công việc tốt nhất phù hợp với tính cách của các cá nhân; hay như cuốn International Handbook of Career Guidance (2008) của các tác giả James A Athanasou, Raoul Van Esbroeck như một kim chỉ nam giúp các em lựa chọn nghề,… ; Đồng thời, nhiều quốc gia đã đưa nội dung GDHN vào trong trường phổ thông qua tất cả các cấp học, và dạy dưới nhiều hình thức khác nhau, như coi nó là một môn học, tích hợp với các môn học khác, hoặc qua các hoạt động liên kết giữa nhà trường và các tổ chức xã hội khác nhau,…
Điểm qua các nghiên cứu về GDHN, tích hợp GDHN hay việc phát triển GDHN trên thế giới, tác giả thấy rằng, xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới khá coi
Trang 22hội Các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này; GDHN cũng đã được đưa vào trường học như một hoạt động, hoặc một môn học, hoặc tích hợp vào môn văn hóa - đặc biệt là môn Công nghệ, Kinh tế, …Tùy theo yêu cầu và mục tiêu giáo dục phổ thông của từng nước mà mức độ, nội dung, phương pháp tiến hành GDHN có sự khác nhau giữa các quốc gia Nhưng các nước đều khá quan tâm đến việc cung cấp các kiến thức về GDHN cho HS dưới mọi hình thức, đặc biệt là trong giáo dục ở trường phổ thông, trong việc tích hợp vào môn Công nghệ; nhiều công trình nghiên cứu, viết nhiều bài báo, nhiều trang wed đề cập đến vấn đề này ở nhiều quốc gia trên thế giới Tuy vậy, các nghiên cứu sâu về tích hợp GDHN trong một môn học cụ thể, tác giả chưa tìm thấy nhiều
1.1.2 Tại Việt Nam
1.1.2.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp
Ở Việt Nam, cùng chung xu hướng nghiên cứu và phát triển về GDHN của các nước trên TG, nhiều nhà khoa học đã quan tâm GDHN, nhiều nghiên cứu về GDHN Rất nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề GDHN từ những năm 60 của thế kỉ XX, và nhiều đề tài đã nghiên cứu sâu về vấn đề này Một số công trình nổi trội có thể kể tới như:
Quyển sách "Một số vấn đề giáo dục lao động" được xuất bản bởi NXB Giáo dục, Hà Nội vào năm 1965, đại diện cho một trong những nghiên cứu ban đầu về mối liên hệ giữa hướng nghiệp và giáo dục lao động Quyển sách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo học sinh về thái độ và sự chuẩn bị cho các hoạt động nghề nghiệp Nó đề cao việc trang bị học sinh những kiến thức và kỹ năng cần thiết để họ sẵn sàng tham gia vào các công việc nghề nghiệp [14] Kể từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tiến hành nghiên cứu về hướng nghiệp cho nữ học sinh và phụ nữ, một trong số đó là tác giả Phạm Tất Dong Tác giả đã hoàn thành luận án phó tiến sĩ mang tựa đề "Hướng nghiệp cho nữ sinh phổ thông trung học" vào năm 1973 Đáng chú ý, sau đó trong năm 1978, tác giả đã xuất bản cuốn sách "Phụ nữ và nghề nghiệp" do NXB Phụ nữ phát hành Tới đầu những năm 80, sự quan tâm đối với hướng nghiệp trở nên to lớn Thậm chí, năm 1980, với sáng
Trang 23kiến từ Bộ Giáo dục và sự hỗ trợ từ UNICEF, đã thành lập các trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp đầu tiên Ngày 19 tháng 3 năm 1981, Chính phủ ban hành quyết định 126/CP về “Công tác hướng nghiệp và sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở, phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường” đã khẳng định mục tiêu của GDHN là giúp học sinh định hướng, chọn nghề phù hợp với hứng thú, nguyện vọng, năng lực và hoàn cảnh của bản thân và đáp ứng được sự phát triển của các ngành nghề trong xã hội Đây là một mốc quan trọng đối với hoạt động GDHN trong trường phổ thông Đồng thời với các nghiên cứu của các nhà khoa học quan tâm, chú trọng vấn đề GDHN thì hàng loạt Thông tư, Văn bản, Văn kiện cũng đã đề cập đến GDHN, khẳng định vai trò, tầm quan trọng của GDHN đối với HS Cụ thể như: “Chương trình giáo dục phổ thông - Hoạt động giáo dục hướng nghiệp” Thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước, ngày 5 tháng 5 năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT, trong đó đề cập rất rõ mục tiêu học sinh cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ khi tham gia hoạt động GDHN cấp trung học phổ thông (THPT) [10] Quyết định số 4385/QĐ – BGDĐT ngày 30 tháng 6 năm 2009, của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2009 – 2010, đã chỉ đạo nhiệm vụ cụ thể cho hoạt động GDHN: “Các trường THCS, THPT phối hợp với các Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp (KTTH-HN) để bố trí, phân công hợp lý đội ngũ GV thực hiện hoạt động giáo dục nghề phổ thông theo hướng dẫn tại văn bản số 8608 /BGDĐT-GDTrH ngày 16/8/2008 của Bộ GDĐT và hoạt động Giáo dục hướng nghiệp; Tích hợp một số nội dung GDHN sang hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và môn Công nghệ, ”[12] Quyết định số 1955/QĐ-BGDĐT ngày 30/5/2014 về Khung kế hoạch thời gian năm học 2014-2015 của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2014-2015 đối với giáo dục trung học như sau: “ Tiếp tục đa dạng các phương thức tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh trung học, …” [14]
Trang 24Những nghiên cứu chính về GDHN ở nước ta trong giai đoạn vừa qua có thể khái quát như sau: Tác giả Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Văn Hộ là các tác giả có những nghiên cứu lí luận nền tảng về GDHN [1] [2] Trong các nghiên cứu của mình các tác giả đã phân tích cơ sở khoa học và thực tiễn và các điều kiện để thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất trong các nhà trường Việt Nam, từ đó khẳng định tính tất yếu phải thực hiện GDHN cho HS trong các trường phổ thông Từ mối quan hệ đó, tác giả khẳng định sự cần thiết phải tổ chức tốt công tác GDHN trong các trường trung học phổ thông
Đồng thời, các tác giả như Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự, Đỗ Thị Hòa, Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ, … đã nghiên cứu xây dựng tài liệu giảng dạy phục vụ hoạt động GDHN, các tài liệu đã cung cấp lí luận cơ bản, giới thiệu các hình thức và biện pháp để rèn luyện năng lực làm công tác hướng nghiệp, hướng dẫn nội dung thực hành hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, đã nghiên cứu, soạn thảo giáo trình và sách hướng dẫn giáo viên thực hiện hoạt động GDHN ở trường phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12 [16]
1.1.2.2 Lịch sử nghiên cứu về tích hợp giáo dục hướng nghiệp
Có một vài đề tài và bài báo có đề cập đến việc tích hợp GDHN trong môn học nói chung là: đề tài “Nghiên cứu đề xuất nội dung GDHN thông qua chương trình các môn văn hóa ở trường THPT” của Lê Thị Thủy năm 2007 Tác giả ngoài việc tìm hiểu một số vấn đề lí luận làm cơ sở cho đề tài, đã bước đầu đề cập đến việc GDHN thông qua môn ngữ Văn, môn Hóa học, môn Vật lí và môn Sinh học Tuy nhiên đây mới là những lí luận chung, chưa đi vào từng nội dung chương trình cụ thể trong SGK nên việc áp dụng vào thực tế gần như được thực hiện [25]
Bài viết đăng trên Kỉ yếu hội thảo khoa học của Viện nghiên cứu Sư phạm, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả: Ngô Thị Hải Yến và Hà Văn Thắng với tiêu đề: “Khả năng tích hợp nội dung hướng nghiệp trong dạy - học môn Địa lí lớp 12 - THPT” Bài viết tuy mới chỉ gói gọn trong 7 trang nhưng đã đề cập khá chi tiết đến việc khai thác một số bài, một số phần trong SGK Địa lí lớp 12 phục vụ cho việc GDHN, kết hợp phân tích một số vấn đề lí thuyết cho việc giải quyết vấn đề hướng
Trang 25nghiệp ở trường phổ thông, nhưng để đưa vấn đề này triển khai ở trường phổ thông cần một nghiên cứu chi tiết hơn [27]
Một số nghiên cứu tích hợp hoạt động hướng nghiệp trong các môn học: Trong tác phẩm "Tích hợp giáo dục hướng nghiệp vào dạy học vi sinh vật học (Sinh học 10)", tác giả Trần Thị Mai Lan đã trình bày một quy trình gồm 6 bước để chuẩn bị cho việc tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong bài học Những bước này bao gồm: (1) Nghiên cứu sách giáo khoa để xác định loại bài học và khả năng tích hợp nội dung giáo dục hướng nghiệp; (2) Xác định mục tiêu kiến thức, kỹ năng và thái độ mà bài học chính và nội dung giáo dục hướng nghiệp cần đạt được; (3) Phân tích logic nội dung bài học và xác định kiến thức giáo dục hướng nghiệp liên quan; (4) Chuẩn bị phương tiện và tài liệu giảng dạy; (5) Xác định phương pháp dạy học tích hợp cho từng nội dung cụ thể; (6) Thiết kế giáo án thể hiện phương pháp tích hợp Tác giả cũng đưa ra ví dụ cụ thể về hoạt động "dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật" để minh họa cho quy trình này
Hiện chưa có một đề tài nào nghiên cứu về tích hợp các hoạt động định hướng nghề nghiệp trong môn Khoa học tự nhiên được công bố Nguyên nhân của hiện tượng này là do môn KHTN là một môn học mới trong chương trình Giáo dục phổ thông, được bắt đầu đưa vào giảng dạy từ năm học 2021 – 2022 Bên cạnh đó, môn KHTN được đưa vào giảng dạy bắt đầu từ lớp 6, là lớp học đầu cấp THCS nên HS có nhận thức về nghề nghiệp còn hạn chế Chính vì hai lý do trên đã tạo ra một khoảng trống nghiên cứu về tích hợp các hoạt động định hướng nghề nghiệp trong môn Khoa học tự nhiên
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đều đã chỉ ra được những cách thức tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường Tuy nhiên, có rất ít các nghiên cứu về cách tích hợp các hoạt động định hướng nghề nghiệp trong môn KHTN Bởi lẽ môn KHTN là môn học mới được đưa vào chương trình GDPT, do đó, các công trình nghiên cứu trong môn học còn hạn chế Ngoài ra, môn học này thường được tập trung vào kiến thức lý thuyết và thực hành khoa học, trong khi yếu
Trang 26đến sự thiếu hụt thông tin và phương pháp trong việc tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp vào môn học Chính vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu hơn về cách tích hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp vào môn KHTN, đồng thời phát triển và đánh giá các phương pháp và tài liệu giảng dạy phù hợp Qua đó, giáo viên có thể áp dụng các hoạt động định hướng nghề nghiệp để giúp học sinh nhận thức rõ hơn về ý nghĩa và liên hệ thực tế của môn học, từ đó tạo động lực học tập và phát triển sự quan tâm và đam mê trong lĩnh vực KHTN
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm hướng nghiệp
Có nhiều quan điểm và góc nhìn khác nhau về hướng nghiệp: Theo UNESCO, hướng nghiệp được hiểu là "quá trình cung cấp thông tin về bản thân, thị trường lao động và định hướng quyết định đúng đắn cho người học trong việc lựa chọn nghề nghiệp" [40]
PGS TS Phạm Viết Vượng định nghĩa hướng nghiệp là "hoạt động định hướng nghề nghiệp của giáo viên dành cho học sinh, nhằm giúp họ chọn một nghề phù hợp với sở thích, khả năng cá nhân và yêu cầu về nguồn nhân lực của xã hội" Giáo dục hướng nghiệp không chỉ cung cấp kiến thức chuyên môn cho học sinh, mà còn giúp phát triển tính tích cực, xây dựng năng lực tổng quát và chuyên môn, cùng với việc bồi dưỡng phẩm chất cá nhân Nó giúp học sinh phát triển toàn diện và trở thành công dân toàn cầu trong bối cảnh xã hội đang thay đổi Đồng thời, trình độ chuyên môn của người lao động cũng góp phần nâng cao chất lượng lao động và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Tổng quan, dù có nhiều góc nhìn và phương diện khác nhau, hướng nghiệp vẫn
được hiểu chung là tập hợp các tác động của xã hội nhằm giúp con người định hướng
đến một nghề nghiệp hoặc một số nghề nghiệp cụ thể, đảm bảo sự phù hợp giữa sở thích, khả năng cá nhân và yêu cầu về nguồn nhân lực trong các lĩnh vực khác nhau
1.2.1.2 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp
Trang 27Theo tài liệu về Giáo dục Hướng nghiệp (GDHN) ở Australia, có quan điểm như sau: Trong hệ thống giáo dục phổ thông, GDHN là trách nhiệm của toàn bộ cộng đồng giáo viên nhằm hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề nghiệp một cách tốt nhất Điều này đồng nghĩa với việc đảm bảo sự phù hợp giữa mong muốn nghề nghiệp cá nhân và yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, cũng như sự phù hợp giữa năng lực cá nhân và yêu cầu của nghề
Tuy nhiên, ở Việt Nam, các chuyên gia GDHN có quan điểm khác: GDHN là một hoạt động do các tập thể giáo viên, cán bộ và các tổ chức khác tiến hành, nhằm giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp đúng đắn, phù hợp với năng lực, thể lực và tâm lý cá nhân, đồng thời đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội GDHN là một phần không thể thiếu trong quá trình giáo dục và học tập ở trường học Theo các nhà tâm lý học giáo dục Việt Nam, GDHN là hệ thống các biện pháp tâm lý-sư phạm và y học, nhằm giúp thế hệ trẻ lựa chọn nghề nghiệp dựa trên nhu cầu xã hội và năng lực cá nhân
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường (2005), GDHN là một hệ thống các biện pháp xây dựng trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học, xã hội học và các ngành khoa học khác Mục tiêu của GDHN là giúp học sinh và sinh viên định hướng nghề nghiệp một cách chính xác, lựa chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, và đồng thời đáp ứng tối đa mong muốn, khả năng, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân cũng như hoàn cảnh sống của từng người Điều này giúp họ phát triển thành công trong nghề nghiệp, đóng góp tích cực cho xã hội và tạo ra cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân Tương tự, tác giả Đặng Danh Ánh (2010), GDHN là hoạt động được thực hiện thông qua sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình Trong đó, nhóm giáo viên đóng vai trò quyết định để giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp dựa trên cơ sở khoa học [1] Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về GDHN của các nhà khoa học, dù ở khía cạnh nào thì các quan niệm trên cũng đã nhấn mạnh đến những vấn đề sau đây: - Thứ nhất: GDHN là quá trình tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần, đồng thời
Trang 28cầu của xã hội - Thứ hai: GDHN là một hệ thống các biện pháp tác động: các biện pháp TLH, sinh lí học, GDH, xã hội học và nhiều khoa học khác để GDHN cho HS - Thứ ba: Trong nhà trường phổ thông, GDHN vừa là hoạt động dạy của GV, là công việc của tập thể sư phạm vừa là hoạt động học của HS, HS lĩnh hội được những thông tin về nghề trong xã hội, đặc điểm yêu cầu của từng nghề … và kết quả cuối cùng của GDHN là HS chọn được nghề phù hợp Dựa trên những quan niệm trên, có thể định nghĩa như sau: GDHN là một sự kết hợp các hoạt động giữa trường học, gia đình và cộng đồng, với vai trò chủ đạo của trường học Mục tiêu của GDHN là cung cấp kiến thức và phát triển kỹ năng cho học sinh, giúp họ tự chọn nghề nghiệp phù hợp dựa trên năng lực, tính cách, sở thích và giá trị cá nhân, đồng thời phù hợp với hoàn cảnh gia đình và đáp ứng nhu cầu của xã hội
1.2.1.3 Vai trò của giáo dục hướng nghiệp
Trong lĩnh vực giáo dục, GDHN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh Một trong những mục tiêu quan trọng của GDHN là giáo dục học sinh để có hứng thú và động cơ nghề nghiệp đúng đắn, có lý tưởng và thái độ đúng đắn đối với lao động trong tương lai Vì vậy, hướng nghiệp được coi là một phần không thể thiếu trong nội dung giáo dục Qua việc cho học sinh tiếp xúc, làm quen và tham gia vào các nghề, kỹ thuật và công nghệ sản xuất ngay trên ghế nhà trường, GDHN đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và rèn luyện những năng lực và phẩm chất cần thiết cho học sinh
Về mặt kinh tế, GDHN có ý nghĩa quan trọng trong việc phân luồng học sinh ngay từ khi còn ở trường học Phân luồng học sinh đóng vai trò cơ bản trong việc phân chia nguồn nhân lực cho xã hội, đồng thời đóng góp vào việc tận dụng tiềm năng lao động một cách hiệu quả trong tương lai Đây là tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế và nâng cao năng suất lao động Mỗi năm, hàng triệu học sinh tốt nghiệp THCS và THPT trên toàn quốc Nếu có sự kết hợp chặt chẽ, đồng bộ và khoa học giữa nhà trường và gia đình trong việc triển khai GDHN và phân luồng học sinh, chúng ta sẽ có một nguồn nhân lực phong phú, với trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, đặc biệt là trong đa ngành đa nghề để phục vụ xã hội
Trang 29Về mặt chính trị, GDHN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chiến lược giáo dục và chiến lược con người, góp phần xây dựng và bảo vệ quốc gia Bằng cách thực hiện GDHN một cách nghiêm túc và đồng bộ ở mọi cấp học, chúng ta có thể phân loại và khám phá tiềm năng, năng khiếu của học sinh, từ đó đào tạo và phát triển nhân tài phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội và sự cần thiết của đất nước GDHN cũng giúp nâng cao nhận thức chính trị và tình yêu quê hương trong học sinh, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển chính trị của đất nước
Về mặt xã hội, GDHN có tác động tích cực đến sự phát triển và ổn định xã hội Bằng cách giúp học sinh tìm kiếm và lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với khả năng, sở thích và yêu cầu của xã hội, GDHN đảm bảo rằng nguồn nhân lực được phân chia và sử dụng hiệu quả, góp phần vào sự nâng cao năng suất lao động và phát triển kinh tế Ngoài ra, GDHN còn xây dựng sự ổn định xã hội bằng cách giảm thiểu tình trạng thất nghiệp và không phù hợp nghề nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phát triển bản thân và đóng góp xã hội một cách tích cực
1.2.1.4 Hình thức giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường
- GDHN thông qua dạy học các môn khoa học cơ bản nhằm khai thác mối liên hệ giữa kiến thức môn học với các ngành nghề, gắn nội dung của bài học với cuộc sống sản xuất bằng cách tích hợp, lồng ghép những kiến thức môn học với kiến thức nghề nghiệp giúp cho HS hiểu biết những vấn đề liên quan đến các ngành nghề trong xã hội, phát hiện và bồi dưỡng những năng khiếu của HS Trên cơ sở đó GV định hướng chọn nghề cho HS phù hợp với năng khiếu đó
- Qua việc tổ chức các hoạt động Giáo dục Hướng nghiệp (GDHN) trong chương trình chính khóa, mục tiêu của chúng là giới thiệu cho học sinh những ngành nghề chủ yếu và cơ bản của quốc gia, những ngành nghề mà Nhà nước đang theo đuổi một cách hệ thống Ngoài ra, thông qua GDHN, GV truyền đạt đến học sinh những đặc điểm và yêu cầu của từng nghề, thông tin về các chương trình đào tạo và hướng phát triển kinh tế của đất nước và địa phương, cũng như cung cấp tư vấn chọn nghề cho học sinh Dựa trên nhận thức đã hình thành, học sinh có thể phát triển hứng
Trang 30năng lực, sở thích và cá nhân của mình, đồng thời phù hợp với nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội Con đường này được coi là vô cùng quan trọng trong quá trình GDHN cho học sinh
- Thông qua hoạt động ngoại khóa nhằm hỗ trợ cho các hoạt động GDHN khác trong việc giới thiệu, tuyên truyền nghề cho HS
- Thông qua hoạt động dạy và học môn công nghệ nhằm cung cấp cho HS những nguyên lí cơ bản về kĩ thuật, công nghệ khoa học, quy trình sản xuất trong thực tế, làm cho HS hiểu được những ứng dụng của chúng trong hoạt động nghề nghiệp khác nhau, giúp HS có những kiến thức cơ bản về ngành nghề trong xã hội;
- Thông qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp HS chia sẻ những hiểu biết của mình với bạn bè về nghề nghiệp đồng thời biết thêm được những kiến thức khác Mỗi buổi sinh hoạt là một chủ đề, mỗi chủ đề đều đem lại cho các em những kiến thức mới, hình thành cho các em ý thức trong việc chọn nghề của bản thân
1.2.1.5 Năng lực định hướng nghề nghiệp
Một số quan điểm về khái niệm NL định hướng nghề nghiệp như sau: Năng lực định hướng nghề nghiệp là khả năng của cá nhân trong việc hiểu về bản thân, khám phá thị trường lao động và các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau, và đưa ra quyết định hợp lý về sự lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân (Brown & Lent, 2005) [32]
Năng lực định hướng nghề nghiệp là khả năng của cá nhân trong việc xác định mục tiêu nghề nghiệp, định hình kỹ năng và sở thích, nắm bắt thông tin về nghề nghiệp và thị trường lao động, và từ đó đưa ra quyết định đúng đắn về lựa chọn nghề nghiệp (Savickas, 2005) [32]
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Hiền, Phạm Thị Hương cho rằng “năng lực định
hướng nghề nghiệp là khả năng tự nhận thức về sở thích và thế mạnh của bản thân, khả năng nhận thức về nghề nghiệp và lập kế hoạch đáp ứng mục tiêu hướng nghiệp của cá nhân” [20] Đồng thời, nhóm tác giả cũng phân tích biểu
hiệu của NL này, bao gồm 03 thành tố: kĩ năng nhận thức về sở thích, hứng thú
Trang 31của bản thân; kĩ năng nhận thức về mối quan hệ giữa kiến thức môn học và nghề nghiệp liên quan; kĩ năng lập kế hoạch hướng nghiệp
Tài liệu chương trình Giáo dục Phổ thông môn Hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ ra năng lực định hướng nghề nghiệp bao gồm: Hiểu biết về nghề nghiệp; hiểu biết và rèn luyện phẩm chất, năng lực liên quan đến nghề nghiệp; kĩ năng ra quyết định và lập kế hoạch học tập theo định hướng nghề nghiệp [8]
1.2.2 Dạy học tích hợp
1.2.2.1 Khái niệm dạy học tích hợp
John H Clarke định nghĩa “dạy học tích hợp là một quá trình giảng dạy và học tập trong đó các lĩnh vực kiến thức và kỹ năng khác nhau được hội tụ lại trong một khung hợp nhất, tạo điều kiện cho sự tương tác và áp dụng kiến thức trong các bối cảnh thực tế" [35] Robert J Marzano cho rằng dạy học tích hợp là việc kết hợp các môn học truyền thống thành các khối kiến thức lớn hơn, tạo điều kiện cho sự liên kết và tương tác giữa các lĩnh vực kiến thức, nhằm phát triển kỹ năng toàn diện và khám phá những mối quan hệ giữa các lĩnh vực [39]
Trong bài báo “Dạy học tích hợp: Định nghĩa và thực trạng", tác giả Nguyễn Thị Hiền định nghĩa dạy học tích hợp là việc kết hợp các nội dung kiến thức từ nhiều môn học vào một bài giảng hoặc hoạt động giảng dạy, nhằm tạo ra một môi trường học tập toàn diện và khám phá mối liên hệ giữa các lĩnh vực kiến thức [18]
Nguyễn Thị Vân Anh và Đoàn Thị Thanh Thảo định nghĩa dạy học tích hợp là việc kết hợp nhiều môn học thành một bài giảng hoặc một dự án học tập, nhằm khuyến khích sự tương tác giữa các lĩnh vực kiến thức và phát triển kỹ năng toàn diện cho học sinh [23]
Như vậy, dạy học học tích hợp là khái niệm dùng để nói về một phương pháp
dạy học trong bối cảnh hiện đại, đổi mới Dạy học tích hợp là một phương pháp giảng dạy trong đó các lĩnh vực kiến thức khác nhau được kết hợp và liên kết với nhau để tạo ra một trải nghiệm học tập toàn diện
Trang 32- Đối với GV, DHTH giúp GV có liên quan chủ động tương tác, phối hợp, hỗ trợ nhau trong quá trình giảng dạy, mang lại hiệu quả giảng dạy Phương pháp này còn giúp GV tổng hợp kiến thức, tinh giản nội dung, tập trung được nội dung trọng yếu, tránh sự dàn trải và trùng lặp DHTH góp phần làm tăng tương tác giữa thầy và trò, giúp GV sáng tạo hơn, do phương pháp này luôn khuyến khích HS đặt câu hỏi, trình bày ý kiến, thắc mắc và các quan điểm cá nhân
- Đối với HS: + DHTH giúp phát triển NL toàn diện: HS có cơ hội vận dụng kiến thức vào đời sống thực tiễn, hoặc tìm hiểu cách nội dung kiến thức đang hiện diện trong cuộc sống như thế nào DHTH hướng HS tìm tòi, tự phát hiện ra vấn đề, học qua thực hành
+ Tạo động lực học tập cho HS: Nội dung bài học tích hợp liên quan mật thiết với thực tế, cùng với cách truyền tải sinh động, HS có hứng thú với bài học hơn, trở nên tự tin hơn
+ HS có cơ hội tiếp xúc với nguồn tài nguyên học tập dồi dào: Trong DHTH, HS luôn chủ động tìm tòi kiến thức, vì vậy, HS được tiếp xúc với nguồn tài nguyên học tập từ nhiều phía như sách báo, mạng internet, hỏi các chuyên gia, …
1.2.2.3 Các hình thức dạy học tích hợp
Để giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống, bao gồm lý giải và phân tích các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, con người cần sử dụng kiến thức và kỹ năng từ nhiều lĩnh vực khác nhau Do đó, việc áp dụng phương pháp dạy học tích hợp là cần thiết để trang bị học sinh với kiến thức và kỹ năng cần thiết để đối mặt với những thách thức trong cuộc sống Bên cạnh đó, việc tích hợp các kiến thức có liên quan và gần nhau trong quá trình dạy học cũng mang lại lợi ích bổ sung Nó giúp giảm tải cho học sinh và tránh sự trùng lặp không cần thiết về nội dung giữa các môn học Bằng cách liên kết và kết hợp các kiến thức, học sinh có thể thấy được sự tương quan và ứng dụng của chúng trong thực tế, từ đó phát triển khả năng tư duy toàn diện và kỹ năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo Tổng hợp các kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau thông qua phương pháp dạy học tích hợp giúp học sinh phát triển một
Trang 33cách toàn diện và trở thành người tự tin và linh hoạt trong việc đối phó với những tình huống đa dạng trong cuộc sống.Có rất nhiều hình thức dạy học tích như như: tích hợp truyền thống, tích hợp nội môn (đơn môn), tích hợp liên môn (đa môn), tích hợp xuyên môn… Hiện nay, đa số các nhà nghiên cứu giáo dục đều đồng tình rằng có bốn mức độ/hình thức tích hợp cơ bản trong dạy học:
Một là tích hợp nội môn - hình thức tổng hợp kiến thức trong một đơn vị học,
một tiết học hay trong một bài tập có nhiều kiến thức, kĩ năng liên quan đến nhau; nhằm tiết kiệm thời gian và tăng cường hiệu quả giáo dục cho người học theo hướng hướng đến người học làm trung tâm
Hai là tích hợp đa môn – hình thức tổ chức dạy học từ các môn học xoay quanh
một chủ đề, đề tài, dự án; tạo điều kiện để người học được tổng hợp, luyện tập và vận dụng những kiến thức của các môn học có liên quan để giải quyết các nhiệm vụ học tập và thực tiễn
Ba là tích hợp liên môn - hình thức tổ chức dạy học kết hợp nhiều môn học
có cùng nội dung, chủ đề học tập, xuyên suốt qua nhiều lớp
Bốn là tích hợp xuyên môn – hình thức dạy học tích hợp cao nhất, khi mà ranh
giới giữa các môn học bị xoá nhoà nhằm mục đích phát triển kĩ năng sống cho học sinh qua các hoạt động học tập cần vận dụng đa dạng, linh hoạt các kiến thức và kĩ năng môn học vào bối cảnh thực tế
1.2.2.4 Thuận lợi, khó khăn khi dạy học tích hợp
DHTH đạt được hiệu quả cao khi có sự tương đồng hoặc bổ sung giữa các môn học về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu Nội dung các môn học được xây dựng dựa trên cùng một cơ sở lý thuyết và quy luật chung Qua đó, học sinh có khả năng hiểu và ứng dụng kiến thức một cách sáng tạo và linh hoạt, đồng thời giảm tải và tránh sự trùng lặp không cần thiết giữa các môn học
Thuận lợi:
Mở rộng kiến thức: Dạy học tích hợp cho phép HS áp dụng kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau vào một vấn đề cụ thể, giúp mở rộng khả năng tư duy và hiểu biết
Trang 34Kết nối ngữ cảnh thực tế: Dạy học tích hợp giúp HS nhìn thấy mối liên hệ giữa những kiến thức và kỹ năng họ học và cuộc sống hàng ngày Việc áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế giúp HS nhận thức về ý nghĩa của việc học và phát triển kỹ năng sống
Phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo: Khi HS được yêu cầu tư duy đa chiều và kết hợp nhiều môn học, họ sẽ phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề
Tăng cường tương tác xã hội: Dạy học tích hợp thường khuyến khích HS làm việc nhóm và tương tác xã hội Việc làm việc cùng nhau trong các dự án tích hợp có thể tạo ra môi trường hợp tác và thúc đẩy sự phát triển xã hội của học sinh
Khó khăn:
Lập kế hoạch và chuẩn bị: Dạy học tích hợp đòi hỏi sự lập kế hoạch và chuẩn bị kỹ lưỡng để kết hợp các yếu tố khác nhau vào một bài học hoặc chương trình học Điều này đòi hỏi thời gian và nỗ lực để nắm vững kiến thức từ các môn học khác nhau và tạo ra kế hoạch hợp lý
Đồng bộ giảng dạy: Khi tích hợp nhiều môn học, giáo viên phải đảm bảo rằng các nội dung được đồng bộ và liên kết một cách mạch lạc, đồng thời đảm bảo rằng các mục tiêu học tập của từng môn vẫn được đạt được
Điều chỉnh cho nhiều mức độ học sinh: Trong một lớp học tích hợp, học sinh có thể có mức độ hiểu biết và kỹ năng khác nhau trong các môn học khác nhau Điều này đòi hỏi giáo viên phải điều chỉnh phương pháp giảng dạy và tài liệu để đáp ứng các nhu cầu riêng biệt của từng học sinh
Đánh giá kết quả học tập: Việc đánh giá kết quả học tập trong một môi trường học tích hợp có thể phức tạp Giáo viên cần phải xác định cách đánh giá khả năng của học sinh trong việc áp dụng kiến thức từ nhiều môn học vào một bài tập hoặc dự án
DHTH đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo và kiên nhẫn từ phía giáo viên Mặc dù có những khó khăn, phương pháp này có thể mang lại nhiều lợi ích cho sự phát triển toàn diện của học sinh
1.3 Cơ sở thực tiễn
Trang 351.3.1 Mô tả quá trình điều tra thực trạng
- Mục đích: Khảo sát thực trạng GV và HS ở một số trường THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định về GDHN tại trường THCS cũng như định hướng nghề nghiệp của HS
- Đối tượng điều tra: 124 GV trong đó có 37 GV môn KHTN; 654 HS lớp 6 - Địa bàn điều tra: 10 trường THCS trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, cụ thể: trường THCS Giao Thủy, trường THCS Giao Yến, trường THCS Bạch Long, trường THCS Giao Thịnh, trường THCS Giao Tân, trường THCS Giao Phong, trường THCS Giao Nhân, trường THCS Hoành Sơn, trường THCS Giao Tiến, trường THCS Quất Lâm
- PP điều tra: Điều tra bằng bảng hỏi (Phụ lục 1 - Phiếu điều tra GV; Phụ lục 2 - Phiếu điều tra HS)
- PP xử lí mẫu: Xử lí kết quả thu được bằng phần mềm excel
1.3.2 Kết quả điều tra
1.3.2.1 Kết quả điều tra giáo viên
Đề tài tiến hành đánh giá thực trạng GDHN trong nhà trường tại địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, sau đó đánh giá thực trạng việc tích hợp các hoạt động GDHN trong giảng dạy bộ môn KHTN
* Kết quả điều tra thực trạng giáo dục hướng nghiệp tại trường THCS
Khi được hỏi mức độ cần thiết của GDHN tại trường THCS, tất cả các thầy cô tham gia khảo sát đều đánh giá ở mức cần thiết và rất cần thiết Cụ thể, có tới 102/124 thầy cô chọn mức độ rất cần thiết – tương ứng 82,3%, có 22 thầy cô lựa chọn ở mức cần thiết Như vậy, tất cả các thầy cô đều ghi nhận tầm quan trọng của GDHN tại cấp THCS Tuy nhiên, kết quả khảo sát về tần suất dạy học GDHN tại trường nơi các thầy cô đang công tác cho thấy mặc dù nhận thức được tầm quan trọng của GDHN nhưng tần suất dạy học không thường xuyên Phần lớn các thầy cô đều lựa chọn ở mức thỉnh thoảng hoặc hiếm khi Kết quả tương tự cũng được ghi nhận khi khảo sát về tần suất dạy các hoạt động GDHN của GV Kết quả được
Trang 36Hình 1.1 Biểu đồ biểu diễn tần suất giảng dạy GDHN của trường THCS
Hình 1.2 Biểu đồ biểu diễn tần suất tham gia giảng giạy GDHN của GV
Qua biểu đồ có thể thấy, một tín hiệu tích cực là đã có tỉ lệ thấp các thầy cô thường xuyên tham gia giảng dạy các hoạt động GDHN (6,5%), hay một số trường đã thường xuyên tổ chức các hoạt động này (2,7%) Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có lượng lớn các thầy cô chưa từng giảng dạy những hoạt động GDHN Để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng cũng như cách triển khai hoạt động GDHN, đề tài tiến hành khảo sát hình thức tổ chức GDHN tại trường THCS
Hình 1.3 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ hình thức tổ chức GDHN
Có thể thấy, tại các trường THCS đã có môt số hình thức khác nhau để tổ chức hoạt động GDHN, tuy nhiên hầu hết tại các trường GDHN được tổ chức thông qua
2,7%24,3%
59,5%13,5%
Chưa bao giờHiếm khiThỉnh thoảngThường xuyên
6,5%
76,6%16,9%
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
5,4%13,5%0,0%
8,1%
100,0%24,3%
18,9%
0,0%20,0%40,0%60,0%80,0% 100,0% 120,0%
Thông qua dạy học các môn khoa học cơ bảnThông qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệpMời chuyên gia, nghệ nhân về chia sẻTổ chức tham quan tại các làng nghề và cơ sở sản
xuấtThông qua các giờ học môn Hoạt động trải nghiệm,
hướng nghiệp
Mở các lớp dạy nghềTổ chức các cuộc thi với chủ đề hướng nghiệp
Trang 37môn Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp Mặc dù thời lượng tiết của môn học này là 3 tiết/ tuần, nhưng hoạt động hướng nghiệp chỉ là cấu phần nhỏ trong nội dung chương trình Toàn bộ GV đều lựa chọn đây là hình thức chủ đạo tại trường Có một vài cách thức triển khai khác như thông qua các buổi sinh hoạt lớp (13,5% các thầy cô lựa chọn); thông qua các lớp dạy nghề (24,3%) Khi hỏi thêm về các lớp dạy nghề, các thầy cô chia sẻ, các lớp này chỉ áp dụng cho HS khối 9, để phục vụ cho kì thi nghề THCS Như vậy, hoạt động GDHN tại một số trường trên địa bàn huyện Giao Thủy chưa được chú trọng đầu tư Điều này hoàn toàn được giải thích bởi thời lượng tiết trong từng khối học là cố định, việc bổ sung thêm các hoạt động về GDHN là khó khăn Chính vì vậy, việc tích hợp các hoạt động GDHN vào trong các môn học là vô cùng cần thiết
Để đánh giá về thực trạng GV giảng dạy các hoạt động GDHN, đề tài tiến hành khảo sát về người dạy các hoạt động GDHN Kết quả cho thấy, hai đối tượng chủ yếu tham gia vào giảng dạy là GV chủ nhiệm (83,8% các thầy cô lựa chọn) và GV bộ môn Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp (100% các thầy cô lựa chọn) Tại một số ít nhà trường, đã có cán bộ Đoàn tại địa phương tới giới thiệu, tập huấn (15/124 thầy cô lựa chọn) Rất ít các thầy cô tham gia khảo sát lựa chọn các GV bộ môn là người giảng dạy các hoạt động GDHN
Như vậy, các hoạt động GDHN ở nhà trường đang chỉ tập trung trong môn Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp Để tìm hiểu cụ thể việc tích hợp các hoạt động GDHN trong môn Khoa học tự nhiên, đề tài khảo sát 37 GV bộ môn KHTN
* Kết quả điều tra thực trạng tích hợp hoạt động GDHN trong giảng dạy KHTN
Trong số 37 GV bộ môn KHTN, chỉ có 18 thầy cô đã từng tích hợp các hoạt động GDHN trong giảng dạy, việc giảng dạy tích hợp này diễn ra với tần suất thấp, ở mức thỉnh thoảng 100% các thầy cô đã từng tích hợp GDHN đều chọn phương pháp/kĩ thuật dạy học phổ biến mà các thầy cô sử dụng là thuyết trình vấn đáp Bên cạnh đó có một số phương pháp/kỹ thuật khác cũng đã được áp dụng Kết quả cụ thể được trình bày trong hình 1.4
Hình 1.4 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ các phương pháp, kỹ thuật dạy học khi tổ chức dạy
Trang 38Ngoài thuyết trình, vấn đáp, có một số phương pháp/kỹ thuật dạy học GV sử dụng trong dạy học tích hợp hoạt động GDHN là: dạy học trực quan (83,3%); dạy học dự án (66,7%) Bằng một số phương pháp/kĩ thuật dạy học như trên, các thầy cô đã triển khai dưới các hình thức khác nhau
Hình 1.5 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ hình thức tích hợp hoạt động GDHN trong dạy học bộ
môn KHTN
Kết quả số liệu cho thấy, dù đã nhận thức và đã áp dụng việc dạy học tích hợp GDHN trong môn KHTN, nhưng hình thức tổ chức các hoạt động của GV vẫn cũ, chủ yếu là lồng ghép giới thiệu những nghề nghiệp có liên quan với những phần kiến
0,0%10,0%20,0%30,0%40,0%50,0%60,0%70,0%80,0%90,0%100,0%
Dạy học dự án Dạy học trải nghiệm Dạy học theo trạmquyết vấn đềDạy học giải Thuyết trình vấn đáp Trực quan
100,0%16,7%
Thăm quan, dã ngoạiThực hiện các bài tìm hiểuMời chuyên gia giao lưu, chia sẻLồng ghép giới thiệu một nghề nghiệp có liên quan
tới kiến thức bài họcThực hành trải nghiệm một số nghề nghiệp
Trang 39thức có trong bài học hoặc yêu cầu HS thực hiện những bài tìm hiểu Các thầy cô giáo gặp nhiều khó khăn trong việc dạy học tích hợp Có thể điểm qua một vài khó khăn mà GV thường gặp phải như:
Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường chưa đáp ứng (26/37 GV lựa chọn) Thiếu kiến thức chuyên môn trong các ngành, nghề (37/37 GV lựa chọn) Không đủ thời lượng tiết (31/37 GV lựa chọn)
Không biết cách thiết kế các hoạt động GDHN (37/37 GV lựa chọn) HS không có nhu cầu (5/37 GV lựa chọn)
Nhà trường không có chính sách phù hợp (11/37 GV lựa chọn) Một trong số những khó khăn mà 100% các thầy cô gặp phải là do không biết cách thiết kế các hoạt động GDHN trong môn học Điều này đã khẳng định rõ ràng cho tính cấp thiết của đề tài
1.3.2.2 Kết quả điều tra học sinh
Khảo sát được thực hiện 654 HS lớp 6, tìm hiểu về 03 vấn đề chính: thực trạng giáo dục hướng nghiệp tại trường các em theo học; những hiểu biết về nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp của các em
* Kết quả điều tra thực trạng GDHN
Khi hỏi HS về mức độ cần thiết của việc tổ chức các hoạt động GDHN tại trường THCS, kết quả cho thấy xu hướng tương tự với kết quả khi điều tra GV Đa số HS chọn ở mức cần thiết và rất cần thiết Mặc dù ở độ tuổi nhỏ nhưng các em đều đã ý thức được tầm quan trọng của việc GDHN Tuy nhiên, chỉ có 122/654 HS trả lời đã từng tham gia vào các hoạt động GDHN Như vậy, số lượng lớn HS tham gia khảo sát chưa từng tham gia hoặc chưa có ấn tượng về các hoạt động này
Hình 1.6 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ mức độ cần thiết tổ chức các hoạt động GDHN
Hình 1.7 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ tần suất tham gia vào các hoạt động GDHN
Trang 40Mặc dù nội dung môn học Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp được tổ chức từ lớp 6, tuy nhiên có số lượng lớn HS lựa chọn chưa từng tham gia vào các hoạt động GDHN Điều này có thể giải thích do chủ đề học phần Hoạt động hướng nghiệp được tổ chức giảng dạy vào học kì 2, những khảo sát trên được tổ chức vào giữa học kì 1
Kết quả khảo sát về mức độ tham gia các hoạt động GDHN của HS (tại trường học và tại địa phương, gia đình) cho thấy, đã có tỉ lệ nhất định một số HS được tiếp xúc thường xuyên với các hoạt động GDHN như tham gia lớp dạy nghề, tham quan cơ sở sản xuất
Hình 1.8 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ HS tham gia vào các hoạt động GDHN cụ thể
Có tới 32% HS lựa chọn thường xuyên tham gia vào các lớp dạy nghề Khi phỏng vấn kĩ hơn, các em cho biết, đây là các lớp tại địa phương, do gia đình tự
12,4%
70,6%17,0%
Không cần thiếtCần thiếtRất cần thiết
81,3%17,3%
Tham quan cơ sở sản xuất, doanh nghiệp Tham gia các lớp dạy nghề Tham gia cuộc thi với chủ đề hướng nghiệp Thực hiện dự án tìm hiểu về một ngành nghề nhất định
Hoạt độngChưa bao giờThỉnh thoảngThường xuyên