3Trên khía cạnh pháp luật hình sự thì, chế tài hình sự là bộ phân hợp thành của quypham pháp luật hình sự, xác định loại và giới hạn mức độ hình phạt có thể áp dụng đốivới người thực hiệ
NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE BO PHAN CHE TÀI CUA QUYPHAM PHAP LUAT HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Hình sự 1.11 Khái niệm bộ phận chế tài
Theo “Black's Law Dictionary”, thuật ngữ “chế tài” được viết là sanction, và được hiểu “một hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế là kết quả của việc không tuân thủ luật, nguyên tắc hoặc pháp lệnh”.
Theo từ điển luật học, chế tài được hiểu là “Biện pháp áp đụng đối với chủ thé nào không xử sự đúng pháp luật, cụ thé là không đúng như quy định của quy phạm pháp luật dé bảo đảm việc tôn trọng, tuân theo pháp luật Có nhiều loại chế tai với các mức nang nhẹ khác nhau dé áp dung tuy tinh chất, mức độ của các xử sự trái pháp luật: chế tài hình su; chế tài kỉ luật; chế tài hành chính; chế tài dân sự”?
Như vậy, chế tài là bộ phận xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm với những quy tắc xử sự chung được ghi trong phần quy định và giả định của quy phạm pháp luật Chế tài còn là một bộ phận của QPPL, và việc áp dụng chế tài cũng cần phải được xem xét dựa trên mức độ, tính chất của hành vi VPPL, mức độ thiệt hại đã gây ra bởi chủ thể, những vấn dé liên quan khác tới hành vi VPPL, Ngoai ra, chế tai cho thấy những biện pháp tác động mà Nhà nước sẽ áp dụng đối với các cá nhân, tập thế khi vi phạm PL.
Trong hé théng phap luat Viét Nam hién hanh, “chế tài” được hiểu là “một trong ba bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật” và “chế tài dân sự” là “hậu quả pháp lý bất lợi ngoài mong muốn được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm trong quan hệ dân sự khi họ không thực hiện, thực hiện không đúng các nghĩa vụ dân sự.
Chế tài dân sự thường liên quan đến tài sản (buộc sửa chữa, BTTH, khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận) hoặc có thê là những biện pháp
1 Black's Law- Dictionary, Seventh Edition, West group, 1999, p 1341 chế tài khác (buộc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc xin lỗi, cải chính công khai 3
Trên khía cạnh pháp luật hình sự thì, chế tài hình sự là bộ phân hợp thành của quy pham pháp luật hình sự, xác định loại và giới hạn mức độ hình phạt có thể áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự đó.
Ngoài ra, chế tài hành chính là bộ phận của quy phạm pháp luật hành chính (giả định, quy định, chế tài) xác định biện pháp xử lý của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ những ý trên, và theo pháp luật hiện hành thì chế tài có các hình thức sau:
(i) Chế tài trừng tri (ii) chế tài bảo vệ và chế tai bảo đảm (iii) Chế tài khôi phục trạng thai pháp lý ban đầu (iv) Chế tài vô hiệu hoá
Với 04 hình thức này của chế tài thì theo pháp luật hiện hành sẽ có những chế tài theo được áp dụng trong việc xem xét xử lý dựa trên mức độ, tính chất của hành vi VPPL, mức độ thiệt hai đã gây ra bởi chủ thé, những van dé liên quan khác tới hành vi VPPL, trong PL về hành chính, dân sự, hình sự, thương mai
Chế tài hình sự hay còn được gọi là hình phạt trong luật Hình sự Việt Nam Theo đó, hình phạt được định nghĩa trong BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Đối với cơ quan ban hành PL và những nhà nghiên cứu PL thì việc đưa ra hình phạt không chỉ có mục đích để trừng trị người VPPL, mà còn với mục đích giáo dục những đối tượng này trở thành người có ích cho xã hội, giúp họ có ý thức chấp hành, thượng tôn PL, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Từ những lý luận trên, trong nghiên cứu này, bộ phận chế tài của quy định pháp luật hình sự được tác giả đưa ra nhằm phục vụ cho nghiên cứu này của mình như sau:
3 Từ điển Luật học, Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý, tr 130
“Bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật hình sự là một bộ phận xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm với những quy tắc xử sự chung được quy định trong pháp luật Hình sự ”
Ngoài ra, có thể hiểu bộ phân chế tài của QPPL hinh sự là bộ phận quy định các biện pháp cưỡng chế mang tinh chất trừng phạt mà quy phạm pháp luật hình sự đã du liệu để áp dụng đối với chủ thể có hành vi phạm tội Bộ phận nay trong lĩnh vực hình sự còn gọi là hình phạt.
Cụ thể, BLHS 2015 (áp dụng 2017) quy định đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 175, theo quy định thì các trường hợp sẽ bị phải chịu hình phạt tù từ
2 - 20 năm tuỳ theo mức độ vi phạm tại khoản 2, 3 và khoản 4 của BLHS Tuy nhiên, tại khoản 5 của luật còn quy định đối với trường hợp cụ thể thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng -100.000.000 đồng.
Trong quy định tại khoản 5 Điều 175 BLHS thì, bộ phận chế tài hình sự chính là
“phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 dong hoặc phat tù từ 02 tháng đến 20 nam”.
THỰC TIEN QUY ĐỊNH VA AP DUNG BO PHAN CHE TÀI QUYPHAM PHÁP LUAT HÌNH SỰ Ở VIET NAM HIEN NAY
2.1 Lich sử của bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ
Trước đây, chế tài hình sự gồm các biện pháp cưỡng chế (trừng phạt) được những người cầm quyền đưa ra với nhiều hình thức rất đã man nhằm mục đích làm nhục, gây đau đớn về thể xác, tỉnh thần đối với người phạm tội như chặt đầu, chém băm xác, cho ngựa xé xác, ném vào vac dau Những hình thức này được cho là làm cho người phạm tội và những người chưa phạm tội phải sợ mà không dám phạm tội.
Kể từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 các biện pháp chế tài hình sự dã man đã bị bãi bỏ, chế tài được quy định mang tính chất nhân văn, nhân đạo hơn, việc thi hành chúng cũng văn hóa hơn Lịch sử hình thành chế tài quy phạm pháp luật Hình sự ở Việt Nam có những đặc điểm và giai đoạn phát triển riêng biệt, phản ánh sự ảnh hưởng của các yếu tổ lịch sử, văn hóa và chính trị, ngoai ra, VỚI sự mở rộng với quốc tế thì cũng có những sự tìm hiểu, nghiên cứu và cả những sự trao đổi về chế tài và việc áp dụng thực hiện các chế tài tại các quốc gia khác nhau trên thế giới.
Trong lich sử cô đại, Việt Nam đã có các hình thức quy phạm pháp luật để quan lý xã hội, như hệ thống luật phong tục và quy định của các triều đại cổ xưa như Văn Lang, Âu Lạc, và Đại Việt Trong thời kỳ cổ đại, Việt Nam có hệ thống luật phong tục được hình thành dựa trên truyền thống và tập tục của các dan tộc Những quy định và quy phạm trong luật phong tục thường được truyền bá qua lời nói, truyền miệng từ thế hệ này sang thé hệ khác.
Các triéu đại cổ xưa như Văn Lang, Âu Lạc và Đại Việt đã có những quy định và quy phạm để quản lý xã hội và xử lý các vấn đề pháp luật Các vua và lãnh đạo của các triều đại này ban hành các lệnh và quyết định dé giải quyết tranh chấp và xử lý các tội phạm Chế tài hình sự trong thời kỳ cổ đại thường có tính linh hoạt và được điều chỉnh theo nhu cau cu thể của từng thời điểm và vùng miễn Sự phát triển và thay đổi của xã hội thường đi kèm với việc điều chỉnh và áp dụng lại các quy phạm pháp luật phong tục.
Vào thời kỳ nhà Trần, Lê, trong giai đoạn này, chế tài quy phạm pháp luật Hình sự ở Việt Nam được thể hiện qua các bộ luật và quy phạm của triéu đại phong kiến như Luật Hồng Đức, Luật Gia Long, Cụ thé, chế tài trong Luật Hồng Đức được quy định bao gồm hình phạt chính là “ngũ hình” và các hình phạt khác gồm: “biếm tư”, hình thức phạt tiền, hình thức phat thu tai sản 2 bậc (bậc 1: thu toàn bộ tài sản; bậc 2: thu một phần tài sản); “Thích chữ” vào cổ; Xung vợ con làm nô tì Những biện pháp của chế tài này áp dụng đối với các tội đanh khác nhau và áp dụng với cả quan lại, tướng sĩ và người dân, trong đó một số biện pháp xử phạt nặng nhất là “ngũ hình” trong đó “tử” có ba bậc là:
“tram” là chém cả nhà, “giao” là hình thức thắt cổ; Lăng trì (ting xẻo) cắt từng miếng thịt rồi mổ bụng, moi nội tang
Cho tới nay, khi nghiên cứu về PL của nước nhà, nhiều nhà nghiên cứu PL đã cho rằng bộ luật “Quốc triểu hình luật” ra đời trong giai đoạn 1428 — 1788, triéu đại nhà Hậu Lê (sơ kỳ) được xem như là bộ luật rất quan trọng của thời kỳ phong kiến, với nhiều quy định vừa có tính răn đe, vừa có ý nghĩa nhân văn, được xem là một BLHS, BLHS này đã xuất hiện cùng với thời kỳ đất nước ta tại thời kỳ phong kiến tập quyền, mà đặc trưng của nó chính là việc quyền lực được tập trung vào nhà vua (vua Lê) Cho đù như vậy, BLHS này vẫn được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là có giá trị cao hơn hắn so với các BLHS đã có trước thời gian trước đó, BLHS này cũng có giá trị cho việc kế thừa xây dựng những BLHS tiếp theo sau này của nhà nước ta về sau này Cũng trong thời kỳ phong kiến, có sự tiếp thu và ảnh hưởng của chế tài pháp luật của Trung Quốc mà chế tài của “Quốc triều hình luật” cũng áp dụng giống như Luật Hồng Đức với chế tài trong luật đã được quy định bao gồm hình phạt chính là “ngũ hình” và các hình phạt khác gồm: “biếm tư”, hình thức phạt tiền, hình thức phạt thu tài sản; “Thích chữ” vào cổ; trảm kiêu (chém bêu đầu).
Những biện pháp của chế tài này áp dung đối với các tội danh khác nhau và áp dung với cả quan lại, tướng sĩ và người dân, trong đó một số biện pháp xử phạt nặng nhất là “ngũ hình” trong đó “tử” có ba bậc là: “tram” là chém, “giao” là hình thức thắt cổ; Lăng tri (tùng xẻo) cắt từng miếng thịt rồi mỗ bụng, moi nội tạng
Thời vua Lê Thánh Tông, ngoài tên gọi “Quốc triều hình luật” thì cũng còn tên gọi luật này hiện nay không còn, bản được sử dụng được các vua thời Lê mạt bé sung it nhiều, ban hành năm 1777 (Cảnh Hung thứ 38), trong đó có gồm 6 quyền, 722 điều (bản dịch quốc ngữ bởi TS Nguyễn Ngọc Nhuận, TS Nguyễn Tá Nhí, 1991)
Trong thời kỳ thuộc địa, hệ thống pháp luật Hình sự ở Việt Nam bị chi phối bởi luật Pháp thuộc và luật thuộc địa, nhưng cũng có sự hòa nhập và tạo ra các biểu hiện pháp luật đặc trưng cho Việt Nam Như vậy, phan nào đó thì hệ thống PL hình sự của nước ta cũng có phần chịu ảnh hưởng của PL của Pháp.
Trong thời kỳ thuộc địa của Pháp, hệ thống pháp luật Hình sự ở Việt Nam gặp phải nhiều thách thức và điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước Một số điều luật được diéu chỉnh được thực hiện để đảm bảo tính cụ thé và hiệu quả của luật pháp đối với cộng đồng và xã hội Việt Nam Thời kỳ thuộc địa và thời Pháp thuộc cũng là giai đoạn mở đầu cho sự phát triển của cơ sở pháp luật Hình sự ở Việt Nam, tạo ra nên móng cho các giai đoạn phát triển sau này.
Trong thời kỳ này (1858 — 1945), nhà Nguyễn áp dụng Luật Gia Long, chính vì vậy, chế tài trong bộ luật này cũng đã có sự tiến bộ bởi ảnh hưởng từ pháp luật Pháp và mang tính nửa phong kiến Trong đó, các chế tài hình phạt cũng như thời kỳ phong kiến trước đó, chế tài hình phạt đại hình (trọng tội) thì vẫn là “tử”, chế tài khổ sai suốt đời, khổ sai có kỳ han, các chế tài phạt bổ sung như tịch thu tài sản, quản thúc, bồi thường vật chất, vẫn được áp dụng trong luật này Đặc biệt, do thực dân Pháp đô hộ, chính vì vậy những tội phải thi hành “tử” thì không được thực hiện vào ngày Quốc khánh Pháp (14/7) và những ngày “Đại Pháp” đã công nhận '!
Trong thời kỳ thuộc địa và thời Pháp thuộc, hệ thống pháp luật Hình sự ở Việt Nam phản ánh sự hòa nhập giữa luật Pháp thuộc và các đặc trưng pháp luật của Việt Nam, đồng thời là giai đoạn mở đầu cho sự phát triển của cơ sở pháp luật đất nước.
1 https://thanhnien.vn/hoang-viet-hinh-luat-phat-toi-thong-gian-ngoai-tinh-ra-sao-1851073556.htm
Thời kỳ thành lập nước Việt Nam DCCH
Trong giai đoạn này, hệ thống pháp luật Hình sự ở Việt Nam được xây dựng đựa trên lý luận và quy phạm của chủ nghĩa xã hội, với sự áp dụng của các bộ luật như Bộ luật
Hình sự và các văn bản pháp luật Hình sự điều chỉnh chi tiết.
Vào thời gian này, nước Việt Nam DCCH và CHXHCN Việt Nam với tâm thế của một quốc gia có chủ quyền có Chính phủ, có cơ quan cao nhất là Quốc hội cùng hệ thống các cơ quan, tổ chức đào tạo, nghiên cứu PL đã xây đựng và phát triển các quy tắc, bộ luật mới, trong đó có BLHS, để thích ứng với lý luận và quy phạm của CNXH Hệ thống PL hình sự của nước trong giai đoạn này được xây dựng dựa trên lý luận và quy phạm của
CNXH, với mục tiêu rõ ràng và cu thể là việc bảo vệ quyền lợi của nhân dân và xã hội.
Khoảng thời gian này, những quy định PL hình sự được xem là một trong những bộ luật quan trọng nhất đối với hệ thống PL của nước Việt Nam DCCH được áp dụng nhằm điều chỉnh các hành vi VPPL của các chủ thể, ngoài ra pháp luật hình sự cũng quy định về hình phạt đối dành cho các chủ thể là tội phạm, trong đó bao gồm các chế tài Tuy nhiên, thời gian nay, co quan thực thi PL hình sự sử dụng hệ thống các Sắc lệnh của Chủ tịch nước trong việc thực hiện và các các văn bản pháp luật Hình sự khác cũng được ban hành dé điều chỉnh chỉ tiết và thực thi các quy định của pháp luật Hình sự trong giai đoạn này.
QUAN DIEM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIEN BO PHAN CHE TAI CUA QUY PHAM PHAP LUAT HÌNH SỰ Ở VIET NAM THỜI GIAN TỚI3.1 Quan điểm hoàn thiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Hình sự ở Việt
3.1.1 Hoàn thiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Hình sự ở Việt Nam phải phù hợp với quan điểm đường lôi, chính sách của Đảng và Nhà nước
Thit nhất, tuân thủ đường lỗi và chính sách của Đảng và Nhà nước Quan điểm chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước sẽ đóng vai trò quyết định trong việc hoàn thiện bộ phận chế tài của pháp luật Hình sự Cần phải dam bảo rằng các quy định, biện pháp chế tài được thiết kế và triển khai phản ánh rõ ràng chính sách, mục tiêu và nguyên tắc của Đảng và Nhà nước.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả và công bằng của hệ thống chế tài Cần tăng cường sự minh bạch, công bằng và hiệu quả của bộ phận chế tài trong hệ thống pháp luật Hình sự. Điều này có thể đạt được thông qua việc tăng cường đào tạo cho cán bộ chế tài, đảm bảo quy trình xét xử công bằng và tuân thủ đúng quy trình pháp lý.
Thứ ba, tăng cường sự minh bạch và tiếp cận công ly Cần tăng cường sự minh bạch trong chế tài và tạo điều kiện cho công dân tiếp cận công lý một cách dễ dàng hơn Điều này có thé đạt được thông qua việc cải thiện thông tin về quy trình chế tai, tạo điều kiện cho công đân tham gia vào quá trình tư vấn pháp lý và tạo ra các cơ chế phản ánh ý kiến của công dan vẻ công tác chế tài.
3.1.2 Hoàn thiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Hình sự ở Việt Nam phải phù hợp với xu thé chung của thé giới.
Việc tích hợp các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế vào hệ thống pháp luật Hình sự của Việt Nam sẽ giúp dam bảo tính công bang, minh bach và hiệu quả của bộ phận chế tài Điều nay bao gồm việc áp dung các nguyên tắc như nguyên tắc phân biệt và sự cân nhắc trong áp dụng biện pháp chế tài Việc hợp tác với các tô chức và quốc gia khác để chia sẻ kinh nghiệm, tạo ra các chuẩn mực chung và hỗ trợ trong việc hoàn thiện pháp luật về bộ phận chế tài sẽ giúp Việt Nam học hỏi và áp dụng những phương pháp tốt nhất từ cộng đồng quốc tế.
Hiện nay, việc áp dụng công nghệ thông tin trong bộ phận chế tài có thể giúp tăng cường tính minh bạch, giảm thiểu thủ tục phức tạp và tạo điều kiện cho sự tham gia của công dân Việc hoàn thiện pháp luật phải tôn trọng và bảo vệ quyển của cá nhân và tự đo công dân Điều này bao gồm việc dam bảo rằng quy trình chế tài được tiến hành một cách công bằng và xét xử theo nguyên tắc pháp luật, đồng thời đảm bảo rằng người bị cáo buộc được dam bảo quyên tự do bào chữa và quyền được xét xử công bằng.
Trên cơ sở đó, cần thiết lập các cơ chế giám sát và đánh giá hiệu qua dé dam bảo rằng bộ phận chế tài hoạt động theo đúng quy định pháp luật và đáp ứng được nhu cầu của xã hội Điều này có thể bao gồm việc thành lập các cơ quan độc lập dé giám sát hoạt động của bộ phận chế tài và tiến hành các cuộc đánh giá định kỳ về hiệu quả của hệ thống chế tài.
3.1.3 Hoàn thiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Hình sự hướng tới mục tiêu cải tạo, giáo duc, răn de, đảm bảo an nĩnh trật tự và xã hội
Pháp luật cần có các quy định rõ ràng, minh bạch và cụ thể về các hành vi vi phạm pháp luật Hình sự Các biện pháp chế tài cũng cần được định rõ và minh bạch để răn đe và ngăn chặn các hành vi phạm tội Bên cạnh đó, cần xem xét và áp dụng các biện pháp phạt và răn đe có tính cách giáo dục cao, như án treo, công tác xã hội, hoặc các chương trình tái hòa nhập cộng đồng Đồng thời, cần tăng cường sự nghiêm minh trong việc áp dụng hình phạt đối với các tội phạm nghiêm trong nhằm đảm bảo an ninh trật tự và xã hội. Đồng thời với việc áp dụng biện pháp chế tài, cần tăng cường các biện pháp phòng chống tội phạm, bao gồm việc tăng cường công tác phòng chống ma túy, tội phạm mạng,tội phạm kinh tế và tội phạm tổ chức Pháp luật cần có sự linh hoạt trong việc áp dụng các biện pháp chế tài để đảm bảo rằng chúng phân ánh được tính chất và mức độ của từng loại tội phạm Đồng thời, cần dam bảo tính hiệu qua của các biện pháp này dé ngăn chặn và ngăn chặn hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật Hình sự.
Ngoài ra, cần phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và cộng đồng để đảm bảo rằng các biện pháp chế tài được triển khai một cách hiệu quả và phan ánh được nhu cầu và quan điểm của cộng đồng.
3.2 Giải pháp hoàn thiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Hình sự ở Việt
3.2.1 Tiếp tục nghiên cứu, nhận thức day đủ, chính xác về bộ phận chế tai của quy phạm pháp luật Hình sự
Tiếp tục nghiên cứu, nhận thức đầy đủ PL của nước ta nói chung, về bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật hình sự của BLHS hiện hành nói riêng là việc hết sức quan trong trong việc điều chỉnh bé sung những quy định nhằm phù hợp với thực tiễn và tiếp cận với PL quốc tế.
Khẳng định lại quy định, vhế tài là bộ phận của QPPL dự kiến những biện pháp cưỡng chế dé áp dụng đối với các chủ thé không thực hiện đúng những yêu cầu của quy phạm pháp luật, chủ thé vi phạm pháp luật Hiểu theo một cách khác thì chế tài là biện pháp cưỡng chế có liên quan tới trách nhiệm pháp lý được dự kiến dé các chủ thé có thâm quyền có thể áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật.
Chế tài PL hình sự cũng giải thích cho trường hợp trong những tình huống đã nêu ở bộ phận giả định của QPPL thì các chủ thể có thâm quyền có thé áp dụng những biện pháp cưỡng chế gì, bao nhiêu, đối với các chủ thể đã được nêu ở bộ phận giả định của QPPL Từ những thông tin trên các tổ chức, cá nhân sẽ biết được cái không làm, không nên làm, nên tránh, đồng thời có thể giám sát các chủ thê có thẩm quyền xem họ áp dụng pháp luật (trừng phạt) có đúng không ””.
Do đó, tục nghiên cứu, nhận thức đầy đủ, chính xác về bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật hình sự cần được xem như là các biện pháp vừa đề trừng phạt đối với chủ
2 Nguyễn Minh Doan (2012), Tạp chí TAND 2012 thé vi phạm pháp luật, buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bat lợi, những biện pháp cưỡng chế nhất định để bảo đảm công bằng xã hội, vừa có giá trị như là những biện pháp có tính chất răn đe, phòng ngừa và cải tạo và giáo đục các chủ thể vi phạm pháp luật (ngăn ngừa sự tiếp tục vi phạm pháp luật của chủ thé va cải tạo, giáo duc chủ thể ý thức tôn trọng, thực hiện nghiêm minh pháp luật và các quy tắc của cuộc sống cộng đồng) và còn có tác dụng răn đe tất cả những chủ thể khác khiến họ phải kiềm chế, giữ mình không vi phạm pháp luật, giáo dục các tổ chức và các cá nhân ý thức tôn trong và thực hiện nghiêm minh pháp luật và các quy tắc của cuộc sống cộng đồng, làm cho mọi người tin tưởng vào công lí, tích cực đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật, từng bước hạn chế và tiến tới loại trừ hiện tượng vi phạm pháp luật ra khỏi đời sống xã hội Những biện pháp này thể hiện thái độ của nhà nước đối với chủ thé vi phạm pháp luật, có liên quan chặt chẽ với trách nhiệm pháp lý Các biện pháp chế tài chỉ được phép áp dụng khi truy cứu trách nhiệm pháp lý.
làm rõ lại khái niệm, cơ sở lý luận về bộ phận chế tài nói chung và bộ phận chế tài của quy phạm hình sự nói riêng, chỉnh sửa những phần- Chương II: Bé sung chỉnh sửa thực trạng quy định và áp dụng bộ phận chế tài, chỉnh sửa bô sung nguyên nhân của thực trạng, đính chính lại các khẳng định chưa chính xác, không gây mâu thuẫn.
7©tM0ho III: Dua ra các phương hướng, giải pháp hoản thiện bộ phận chế i làm rõ lại các quan điểm hoàn thiện, va sửa các phần chưa logic Một số đề xuất chỉnh sửa cho đúng với tình hình thực trạng.
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2024
NGƯỜI GIẢI TRINHMuuu>- His tý XÁC NHAN CUA NGƯỜI HƯỚNG DAN XÁC NHAN CUA CHÚ TỊCH HỘI ĐÔNG
Nae ol Roan peas thi Lee “.T
CUA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUAN VĂN THẠC SĨ LUA F HỌCTinh Hiếp tệ của sđều tài, ý por khoa học và thực " của luận văn (bẻ tài có phù hợp vớinội dụng, mã số chuyên ngành không” có trùng lặp với tên dé tài và nội dung của các luận văn đã bảo vệ hav không” ¥ nghĩa khoa học nà thực tiễn của để tai
_ wr ane’ (0608: bet meee —-dgf
2- Phương pháp nghiên cứu (Nhận xét về độ tin cậy, tính hợp lý và hiện đại của phương pháp nghiên cứu đã sử dụng trong luận văn)
3- Kết quả va Bhtay đóng g6p mới của luận văn: tin tle Lie pH: ain 2e am mong lat aint if ee a
4- Những "mm wit " né dung vật hình (hức của Lm VÂN! _ Mater _ đau, 004.) nhac cứn Á, c Án, sil AMA.
~ deg prof at, Mai che Ve Muet, Soh fa ee - VY Asad dn ALND mi pan
~ Getty ức pm aden, hide, bagi, (24 (50, clon cr 47 ẹằn: “eae ain fry beste, dd ‹ (4/02: ¿
7 ig nat te Ae LA Teta se
5 Nags, yêu cầu bỗ sung, sửa chữa đối với ne văn:
CONG HOA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMVề hình thức của luận văn, sự phù hợp về hình thức và nội dung củaLuận văn có Bố cục gồm 3 chương, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tai z Iệu tham khảo là hợp lý Nội dung luận văn phù hợp với mã số chuyên nganh đảo tạo
—