1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN:Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với tổ chức và hoạt động của docx

96 528 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND tỉnh Đồng Nai
Người hướng dẫn GS. TSKH. Trần Thị Hương
Trường học Đh Kỹ Thuật Công Nghệ Đồng Nai
Chuyên ngành Chính trị - Quản lý
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 727,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Về phương thức lãnh đạo của Đảng, có rất nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu như: “Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước” của Trần Đình Huỳnh, Nxb Hà Nội - 2001; “Đổi mới phương thức lãnh

Trang 1

LUẬN VĂN:

Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với tổ chức và

hoạt động của HĐND và UBND tỉnh Đồng Nai

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đảng cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng là vấn đề có tầm quan trọng to lớn,

có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng, với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân Đảng lãnh đạo nhà nước là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Trong gần 80 năm qua, Đảng luôn giữ vai trò lãnh đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng và xã hội Việt Nam Do

đó, nghiên cứu về bản chất của Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo nhà nước là một trong những vấn đề chủ yếu của nghiên cứu và tổng kết lý luận về đổi mới và xây dựng CNXH ở nước ta

Sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền nhà nước ở địa phương tập trung ở sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng đối với Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (HĐND và UBND) cùng cấp Đặc biệt ở cấp trung gian-cấp tỉnh, thành, Ban chấp hành đảng bộ tỉnh, thành (gọi tắt là tỉnh, thành ủy) đề ra chủ trương lãnh đạo cụ thể phù hợp tình hình địa phương, đảm bảo cho đường lối, chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống

Trong mối quan hệ với chính quyền cấp tỉnh, Đảng đã từng bước nhận thức đúng vị trí, vai trò của mình; đề ra những chủ trương, biện pháp cụ thể củng cố bộ máy tổ chức, cán bộ; thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật và thiết lập các quan hệ phối hợp công tác ngày càng chặt chẽ và hợp lý hơn

Tuy nhiên, sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền địa phương mà cụ thể là

sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với HĐND và UBND cấp tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, chưa bảo đảm tính khoa học và hiệu quả Sự chồng chéo, trùng lắp giữa lãnh đạo của Đảng và chính quyền địa phương trên các lĩnh vực làm cho bộ máy cồng kềnh, giảm hiệu lực, kém hiệu quả Những hạn chế đó sẽ gây trở ngại không nhỏ trong điều kiện nước ta hiện nay đang thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế quốc tế; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước cần phải có sự đổi mới căn bản, chuyển từ lãnh đạo theo phương thức mệnh lệnh, chỉ thị sang

Trang 3

phương thức dân chủ pháp quyền Vì đặc trưng cơ bản nhất của một nhà nước pháp quyền

là tính tối cao của pháp luật, quyền lực thống nhất, sự thứ bậc trong quan hệ giữa các cơ quan hành chính Và điều này đặt ra câu hỏi về vị trí, thẩm quyền của cấp ủy đảng trong tình hình mới

Nghị quyết Trung ương V (khóa X) của Đảng đã chỉ rõ những hạn chế, tồn tại trong phương thức lãnh đạo của Đảng Trong thực tế hoạt động của Đảng, vẫn đang còn hiện tượng có nơi cấp ủy bao biện làm thay, có nơi buông lỏng sự lãnh đạo đối với hoạt động của hệ thống chính trị Đổi mới phương thức lãnh đạo không quan tâm đến phong cách, lề lối lãnh đạo đã dẫn đến tình trạng họp hành nhiều, nói không đi đối với làm, nói nhiều làm ít; né tránh, đùn đẩy, quan liêu, xa rời này Từ những lý do trên mà bản thân mạnh dạn

chọn đề tài: Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND

tỉnh Đồng Nai cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nguyên tắc chủ đạo, chi phối toàn bộ quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, mà chủ yếu thể hiện ở nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Đảng (hoặc cấp uỷ từng cấp) lãnh đạo trên các lĩnh vực là những mảng đề tài lớn được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, đặc biệt trong điều kiện nước ta chỉ một đảng duy nhất cầm quyền:

- Về thể chế Đảng lãnh đạo Nhà nước: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Đảng

lãnh đạo nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt những vấn đề lý luận và thực tiễn của PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh (2007); “Thể chế Đảng Đảng cầm quyền - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do Đặng Đình Tân (chủ biên) (sách

Nam-tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2005 “Về xây dựng thể chế Đảng lãnh đạo

Nhà nước hiện nay” của Lê Minh Quân (Tạp chí Cộng sản số 13, tháng 7 năm 2004)

“Phương thức lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” của Nguyễn Sĩ

Nồng, NXB CTQG (2008);“Một số vấn đề về xây dựng đảng trong văn kiện Đại hội X” của Lê Minh Thông, (sách tham khảo), NXB CTQG, (2008)

Trang 4

- Về phương thức lãnh đạo của Đảng, có rất nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu như:

“Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước” của Trần Đình Huỳnh, Nxb Hà Nội - 2001; “Đổi

mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền cấp quận” của Vũ Hồng Khanh

(Tạp chí Cộng sản số 23, tháng 8 năm 2002); “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của

Đảng đối với Nhà nước” của Lê Đức Bình và Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Cộng sản số 19,

tháng 7 năm 2003); “Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ở Đảng bộ Sơn La” của Nguyễn Văn Thạo (Tạp chí Xây dựng Đảng số 6 - 2004); “Phương thức lãnh đạo của

Đảng với nhà nước và xã hội” của Nguyễn Khánh và Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Cộng

sản số 9 tháng 5-2004); “Châu Thành (Bến Tre) đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp

ủy” của Nguyễn Văn Huỳnh (Tạp chí Xây dựng Đảng số 10 - 2004); “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” của Thang Văn Phúc (Tạp chí Cộng sản số 9/5-2006); “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước” của Nguyễn Khánh (Báo Nhân dân số: 18620 –

03/8/2006); “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ với Uỷ ban nhân dân tỉnh từ thực

tiễn Tiền Giang” của Xuân Tế - Ngọc Chung (Tạp chí Xây dựng Đảng tháng 9-2006); “Đổi mới và tiếp tục hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu phát triển đất nước”

của Trương Tấn Sang (Tạp chí Cộng sản số 24 tháng 12 – 2006),…

Với các góc độ và phạm vi đề cập khác nhau, các tác giả đều có sự tương đồng về quan niệm Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo chính quyền trong điều kiện nền kinh tế mở

và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước cho phù hợp tình hình mới

Tuy nhiên, dưới góc độ của chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật,

sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền (HĐND và UBND) chưa được đề cập một cách riêng biệt Luận văn này dựa trên cơ sở lý luận chung về Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước để đi sâu nghiên cứu nội dung và phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với HĐND và UBND cấp tỉnh qua thực tiễn tỉnh Đồng Nai hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Trang 5

Trên cơ sở lý luận chung về nhà nước và pháp luật, luận văn đi sâu làm rõ một số vấn đề lý luận chung về sự lãnh đạo của Đảng đối với HĐND và UBND cấp tỉnh, trên cơ

sở đó, phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp đảm bảo sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với HĐND và UBND tỉnh Đồng Nai

3.2 Nhiệm vụ

- Luận văn trình bày một số vấn đề lý luận chung về Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, qua đó rút ra những vấn đề lý luận về Đảng (cụ thể là Tỉnh ủy) HĐND và UBND cấp tỉnh

- Phân tích thực trạng, những thành công, hạn chế trong thực tiễn lãnh đạo của Tỉnh

uỷ đối với HĐND và UBND tỉnh Đồng Nai; đề xuất giải pháp đảm bảo và tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với HĐND và UBND tỉnh Đồng Nai hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

- Luận văn dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí đảng cầm quyền, vai trò lãnh đạo nhà nước của Đảng, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để xác định vị trí, vai trò của Đảng lãnh đạo Nhà nước, mối quan

hệ cơ bản giữa Đảng và Nhà nước ở địa phương (sử dụng chủ yếu ở chương 1); các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử - logic; phương pháp phân tích - tổng hợp; gắn lý luận với thực tiễn (sử dụng chủ yếu ở chương 2) và một số phương pháp khác

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận chung về nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước và giới hạn hẹp của phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với HĐND và UBND cấp tỉnh, cụ thể là sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với HĐND và UBND tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sau

Trang 6

đổi mới (từ năm 2000 đến nay) qua thực tiễn lãnh đạo trong hai nhiệm kỳ VII và VIII gần đây của Đảng bộ tỉnh

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn đã khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về sự lãnh đạo của Đảng đối với HĐND và UBND cấp tỉnh Trên cơ sở đó, xác định những giải pháp đảm bảo sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với HĐND và UBND tỉnh Đồng Nai một cách có hiệu quả hơn, lãnh đạo toàn diện, xây dựng uy tín lãnh đạo, tăng tính chủ động của chính quyền nhưng không giảm sự lãnh đạo của Đảng ở địa phương

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về nội dung, phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với HĐND và UBND cấp tỉnh; giúp cho cấp ủy tỉnh Đồng Nai tiếp cận đầy đủ tính khoa học trong lãnh đạo, quản lý

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo ở địa phương và phục vụ cho việc nghiên cứu về những vấn đề liên quan

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH ỦY

ĐỐI VỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN

NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM

1.1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là một nguyên tắc cơ bản, thể hiện bản chất của nhà nước ta là nhà nước của dân do dân vì dân Đảng cầm quyền bao giờ cũng giữ vai trò lãnh đạo, chi phối toàn bộ hệ thống chính trị, đặc biệt và trực tiếp nhất là nhà nước; bằng nhà nước và thông qua nhà nước để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình Trong điều kiện nước ta đang phấn đấu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản là vô cùng quan trọng, là điều kiện đảm bảo cho nhà nước ta phát triển đúng định hướng và thực sự là nhà nước của dân

Đảng Cộng sản Việt Nam có vị trí, vai trò đặc biệt, là người tổ chức và lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, là hạt nhân chính trị của hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện thông qua quyền quyết định đường lối chính trị và quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và phát triển của đất nước Trong mối quan hệ với Nhà nước, quyền lực của Đảng luôn là quyền lực chính trị

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã giành được quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trở thành nhân tố chủ yếu đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Từ ngày thành lập nước (1945) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội Điều đó đã được khẳng định cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn cách mạng nước ta

Trang 8

Vai trò lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội của Đảng thể hiện trên thực tế suốt chiều dài của lịch sử của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở

nước ta

Vì Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, nên Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo xã hội Nhà nước là trung tâm, trụ cột của hệ thống chính trị, một thiết chế chủ yếu để quản lý xã hội và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Và

để phát huy vị trí, vai trò của Nhà nước, đồng thời loại bỏ các nguy cơ tha hóa của quyền lực nhà nước, đảm bảo cho Nhà nước thật sự là tổ chức trung tâm, trụ cột trong hệ thống chính trị, là hình thức dân chủ tập trung nhất của nhân dân thì Nhà nước phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhà nước trong mối quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam là mối quan hệ cơ bản, chi phối các mối quan hệ khác trong hệ thống trị nước ta Mối quan

hệ giữa Đảng và Nhà nước là mối quan hệ lãnh đạo, nhưng Nhà nước là Nhà nước của dân, vì thế Đảng không thể áp đặt cho Nhà nước, do vậy, sự lãnh đạo của Đảng là sự lãnh đạo chính trị

Đảng trực tiếp nắm bộ máy chính quyền nhà nước và trực tiếp lãnh đạo, xây dựng

và mọi hoạt động của bộ máy nhà nước Đảng lãnh đạo nhà nước thông qua Cương lĩnh, đường lối, chiến lược định hướng cho mọi hoạt động đối nội và đối ngoại của nhà nước; Đảng giới thiệu những cán bộ ưu tú của Đảng cho bộ máy nhà nước; Đảng kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của nhà nước theo quan điểm, đường lối của Đảng Đảng lãnh đạo thông qua các tổ chức đảng và đảng viên trong bộ máy nhà nước

Sự lãnh đạo của Đảng là toàn diện Đảng lãnh đạo toàn xã hội, lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, chịu trách nhiệm mọi mặt về đời sống của nhân dân và củng cố nền dân chủ XHCN Đó là sự lãnh đạo toàn diện đối với mọi hoạt động của đời sống xã hội Đảng

có quyền quyết định Cương lĩnh, đường lối phát triển của đất nước, của xã hội, quyết định

tổ chức bộ máy và hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị và phải chịu trách nhiệm về những quyết định đó Đảng cầm quyền nghĩa là thực hiện sự lãnh đạo thông qua hệ thống chính trị, nhất là thông qua nhà nước

Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay nhà nước Đảng phát huy vai trò và quyền chủ động của Nhà nước Là Đảng cầm quyền, Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện

Trang 9

quyền lãnh đạo với nhà nước và với xã hội Song điều cần nhấn mạnh là Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội là lãnh đạo về mặt chính trị, bảo đảm giữ vững định hướng chính trị của sự phát triển phù hợp với chế độ chính trị-xã hội mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn

và kiên định Là đảng cầm quyền, Đảng tôn trọng và tạo điều kiện, thực hiện sự lãnh đạo

để các cơ quan nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình, Đảng không bao biện, làm thay, “lấn sân” chức năng hoặc can thiệp trực tiếp vào hoạt động thường ngày của các cơ quan này

Suốt gần một thập kỷ qua, dù diễn đạt bằng cách nào thì Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn là một Đảng cầm quyền Đó là sự lựa chọn của lịch sử và của dân tộc ta Thực tiễn đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với các tiến trình cách mạng nước ta đã và đang là một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan Sự lãnh đạo ấy vừa có

cơ sở đạo lý vừa có cơ sở pháp lý

Tính tất yếu lịch sử của vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được xác

định trong tất cả các giai đoạn của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay Bất kỳ trong điều kiện lịch sử nào, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung tâm của phong trào cách mạng, trực tiếp lãnh đạo các tầng lớp nhân dân tiến hành đấu tranh cách mạng giành độc lập tự do, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vượt qua các thử thách đưa đất nước ngày càng phát triển

Sự nghiệp đổi mới đất nước từ Đại hội VI đến nay do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã và đang giành được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước ta vượt qua khủng hoảng kinh tế-xã hội, không ngừng phát triển và hội nhập vào nền kinh tế thế giới Những thành công to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong mấy chục năm qua là những chương trình lịch sử xác lập vai trò và tư cách lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không chỉ đối với hệ thống chính trị, mà còn đối với toàn xã hội Việt Nam

Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba (khóa VII), Đảng đã khẳng định

rõ trọng trách lịch sử của mình “là đảng cầm quyền, Đảng ta có trách nhiệm lãnh đạo tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội” Đến Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa VIII), Đảng tiếp tục chỉ rõ: “với vai trò và trách nhiệm của một Đảng cầm quyền, Đảng phải không

Trang 10

ngừng nâng cao trình độ và năng lực lãnh đạo, không ngừng cải tiến phương thức lãnh đạo

để phát huy được sức mạnh và trí tuệ của toàn dân, toàn đảng, sức mạnh tổng hợp của cả

hệ thống chính trị”

Tính tất yếu khách quan của sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam được xác

định bởi lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng, bởi sức mạnh tổ chức, sức mạnh

tư tưởng của Đảng, bởi năng lực lãnh đạo, tầm cao trí tuệ và văn hóa của Đảng, bởi sự gắn

bó máu thịt với nhân dân, niềm tin yêu và sự thừa nhận tự nguyện của đông đảo các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Trong mọi giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại và trong tương lai, Đảng cộng sản Việt Nam luôn là lực lượng chính trị duy nhất đủ tư cách và năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam phát triển theo định hướng XHCN với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Tuy nhiên, khi đã trở thành một Đảng duy nhất cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện trong mối quan hệ khá phức tạp và nhạy cảm với cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước trong các điều kiện xây dựng và phát huy nền dân chủ XHCH Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước mà biểu hiện tập trung nhất là bộ máy nhà nước đòi hỏi phải phân định sự lãnh đạo của Đảng với vai trò quản lý, điều hành của nhà nước Việc tổ chức hệ thống chính trị mà trong đó Đảng vừa là lực lượng lãnh đạo toàn bộ hệ thống vừa là thành viên trong hệ thống chính trị cũng đòi hỏi phải xác định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, tư cách thành viên của Đảng trong hệ thống chính trị nhằm đảm bảo vị trí lãnh đạo của Đảng

và khả năng độc lập của mỗi thành viên thuộc hệ thống chính trị trong các quan hệ chính trị và sinh hoạt dân chủ

Để cầm quyền lâu dài, không một đảng cầm quyền nào lại không quan tâm nâng cao năng lực cầm quyền Năng lực cầm quyền của một đảng cầm quyền thể hiện một cách tổng hợp, có hệ thống và đồng bộ lý luận cầm quyền, cương lĩnh, đường lối, chiến lược và chính sách cầm quyền cùng những phương thức, phương pháp cầm quyền và đội ngũ cán bộ cầm quyền mà đảng sử dụng để lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo xã hội, bảo đảm giữ vững và thực hiện định hướng chính trị đã xác định của sự phát triển đất nước, phát triển xã hội

Trang 11

Trách nhiệm cao cả và nặng nề trước hết của một Đảng cầm quyền là vạch ra cương lĩnh, đường lối đúng để lãnh đạo đất nước, dẫn dắt cả dân tộc đi lên, tránh được nguy cơ sai lầm về đường lối Đây là vấn đề cốt tử trong toàn công tác xây dựng đảng, đòi hỏi phải thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ và chất lượng công tác lý luận của Đảng Đường lối chính trị đúng là đường lối phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng đúng yêu cầu của thực tiễn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, chỉ ra được mục tiêu, phương hướng và giải pháp cơ bản của cách mạng, trên cơ sở đó tập hợp, tổ chức, động viên quần chúng thực hiện một cách có hiệu quả

Về mặt pháp lý, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam được khẳng định trên các phương diện:

Đảng cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền một cách hợp pháp khi Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Đảng cộng sản Việt Nam là người sáng lập ra Nhà nước và lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo Nhà nước do mình sáng lập là hoàn toàn hợp pháp

Tuy các bản Hiến pháp năm 1946, 1959 không trực tiếp thể chế hóa vai trò cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam như thông qua việc xác lập địa vị pháp lý của nguyên thủ quốc gia, nhưng đã gián tiếp xác lập vai trò cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam Trong Hiến pháp 1945, chủ tịch nước có vị trí pháp lý đặc biệt, vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu bộ máy hành pháp Đó là những chế định pháp lý đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước trong điều kiện đấu tranh giai cấp gay gắt và phức tạp, những quy định như vậy đã làm cho sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước được đảm bảo thực hiện trong thực tế Ở đây sự lãnh đạo của Đảng được đảm bảo bằng người đứng đầu Đảng, đồng thời là người đứng đầu bộ máy nhà nước Thông qua đó

mà đường lối, chính sách và quan điểm của Đảng được thực hiện và trở thành hiện thực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Thông qua việc xác lập địa vị pháp lý của nguyên thủ quốc gia đã gián tiếp xác lập vai trò cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam

Trang 12

Cho đến các Hiến pháp năm 1980, 1992, tình hình cách mạngViệt Nam đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực và thuận lợi, các bản hiến pháp đó đã trực tiếp thể chế hóa vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và

xã hội Điều 4 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”

Hiến pháp năm 1992 đã thể chế hóa đầy đủ và toàn diện đường lối của Đảng về xây dựng đất nước theo định hướng XHCN Với những quy định trong Hiến pháp về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, về văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, về an ninh, quốc phòng, về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã khẳng định những mục tiêu, đường lối, chính sách của Đảng đã được Nhà nước thể chế hóa kịp thời trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác nhằm xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Do vậy, có thể thấy rằng dù được quy định một cách gián tiếp hay trực tiếp, vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn có cơ sở pháp

Trong điều kiện nước ta xây dựng chế độ nhất nguyên, một Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị là một nguyên tắc không thể thay đổi Tuy nhiên, xét về thể chế lãnh đạo của Đảng với nhà nước nói riêng, với cả hệ thống chính trị và với toàn xã hội nói chung ở nước ta hiện nay mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc cơ bản của cả phía tổ chức đảng và phía nhà nước (được ghi ở Lời nói đầu của Hiến pháp 1959 và ở Điều 4 trong các Hiến pháp 1980 và 1992) Chế định Đảng lãnh đạo nhà nước cũng chưa được cụ thể hóa thành các đạo luật, các văn bản dưới luật của nhà nước Về phía tổ chức đảng, các nguyên

Trang 13

tắc, quy tắc, điều lệ, quy chế cụ thể, chưa thành hệ thống hoàn chỉnh để tổ chức thực hiện Nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, thì vấn đề quan trọng đặt ra đối với nhà nước là phải quản lý xã hội bằng pháp luật Tất cả các thành viên của hệ thống chính trị phải hoạt động trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, kể

cả Đảng - là lực lượng duy nhất lãnh đạo hệ thống chính trị

Sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng cầm quyền duy nhất, khi đất nước đã độc lập, tự do là lãnh đạo xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân không phải là những quan niệm, những việc làm mâu thuẫn nhau, bởi vì nhiệm vụ chủ yếu của Đảng cầm quyền là xây dựng ,bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cho tất cả quyền lực thuộc về nhân dân là bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN Đảng có quyền lực chính trị được toàn dân thừa nhận, nhưng không biến mình thành cơ quan quyền lực nhà nước, thành cơ quan quản lý, mà tôn trọng, đề cao, phát huy vai trò, thẩm quyền và hiệu lực quản lý của Nhà nước Đảng thừa nhận trách nhiệm trước toàn dân lãnh đạo hệ thống chính quyền giữ vững bản chất cách mạng, thật sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân, ngăn ngừa và khắc phục tệ quan liêu, nạn tham nhũng, tình trạng cán bộ có chức, có quyền giành đặc quyền, đặc lợi

Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng là nhân tố quyết định chất lượng và hiệu quả của bộ máy nhà nước Đảng là người đề xướng và lãnh đạo triển khai công cuộc đổi mới, mà một trong những nội dung chủ yếu là đổi mới, cải cách tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước, xây dựng các cơ quan nhà nước trong sạch, vững mạnh, quản lý có hiệu lực, hiệu quả Thực tế cho thấy bản thân cơ quan chính quyền không thể tự đổi mới, tự cải cách tổ chức và hoạt động của mình đạt kết quả nếu không có sự lãnh đạo chặt chẽ với tư duy mới và phương thức mới của Trung ương Đảng và các cấp ủy đảng

Sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước bao gồm nội dung lãnh đạo và phương thức lãnh đạo của Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước thời

Trang 14

kỳ quá độ lên CNXH được thông qua tại Đại hội lần thứ VII của Đảng, năm 1991, đã nêu rõ: Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị

Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy Đảng liên

hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Điều lệ Đảng bổ sung, sửa đổi được thông qua tại Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đã cụ thể hóa nội dung Cương lĩnh, dành một chương quy định về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước và các đoàn thể chính trị-xã hội Đây chính là sự tổng kết thực tiễn và định hướng cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước nói chung và đối với chính quyền địa phương nói riêng là một nguyên tắc hiến định trong điều kiện lịch sử cụ thể ở nước ta Trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng đối với các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương được xác định trong mối quan hệ đặc biệt giữa Đảng với Nhà nước theo nguyên lý Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ

Với vị trí Đảng cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa to lớn đến khả năng và hiệu quả vận hành của cơ chế quyền lực ở tất cả các cấp hành chính - lãnh thổ Thực hiện quyền lãnh đạo chính quyền các cấp, các tổ chức đảng ở mỗi cấp chính quyền thông qua các hình thức đặc thù của phương thức lãnh đạo, đảm bảo tổ chức và hoạt động của mọi cơ cấu chính quyền phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, thực hiện đúng đắn và có hiệu quả Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân ở mỗi cấp địa phương Sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với các cấp chính quyền địa phương đảm bảo thực hiện hai mục tiêu cơ bản: “Thực hiện nghiêm túc đường lối, chính sách, pháp luật của trung ương; và đảm bảo tính tự chủ của mỗi cấp chính quyền địa phương, tạo điều kiện để mỗi cộng đồng dân cư thực hiện quyền tự quản” [75, tr.307] Mấy chục năm qua, sự lãnh đạo của Đảng đối với các cấp chính quyền địa phương luôn là yếu tố có tính

Trang 15

quyết định đối với tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyền Những thành tựu trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, ổn định an ninh chính trị của mỗi địa phương gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng

Bài học kinh nghiệm rút ra từ thất bại đau xót của cải tổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu là, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong việc đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước Nhưng mặt khác, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng không có nghĩa là hạ thấp vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, không có nghĩa là Đảng làm thay công việc của Nhà nước Nhất là trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, dễ dẫn đến tình trạng bao biện, làm thay, biến nhà nước thành những công cụ thừa hành một cách thụ động, hình thức Do vậy, cần phải đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng để vừa bảo đảm củng cố vị trí, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, vừa phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, bảo đảm sự tôn trọng của Đảng đối với tính độc lập nhất định về chức năng, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trên cơ sở xử lý hài hòa các quan hệ lãnh đạo và quan hệ đối thoại dân chủ của Đảng đối với Nhà nước trong tư cách Đảng là hạt nhân lãnh đạo chính trị đồng thời là thành viên của hệ thống chính trị

1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRONG CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TA

Xét về bản chất, thẩm quyền của chính quyền địa phương là thẩm quyền chung, thể hiện vai trò và trách nhiệm của một cấp chính quyền trong việc quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong địa bàn Cơ sở để xác định thẩm quyền, trách nhiệm của chính quyền địa phương chính là vị trí, vai trò của mỗi cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước thống nhất, chức năng của chính quyền địa phương và đặc biệt là mối quan hệ xã hội về phương diện pháp lý thông qua chế độ phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương

Ở nước ta hiện nay, trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước 4 cấp: Trung ương

- tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương - quận, huyện, thị xã – xã, phường, thị trấn thì có hai cấp (tỉnh-thành và quận-huyện) thuộc khái niệm địa phương Nếu hình dung về mặt lãnh thổ, địa giới thì ngay cả cơ sở cũng nằm trong phạm vi của địa phương Do đó, trên

Trang 16

phương diện quản lý, địa phương bao chứa trong nó cả một tập hợp lớn các mối quan hệ, liên hệ chằng chịt, phức tạp, nhiều chiều, nhiều lĩnh vực để tổ chức đời sống của một cộng đồng dân cư, phát triển sản xuất, kinh tế, văn hóa, xây dựng và củng cố chế độ chính trị

Mỗi địa phương là một bộ phận của cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Chính quyền cấp tỉnh là hình ảnh thu nhỏ của nhà nước Trung ương, là chính bản thân nhà nước Trung ương ở địa phương

Địa phương quan hệ với Trung ương, với cơ sở trong khuôn khổ địa phương và với các địa phương khác Đó là hệ thống quản lý theo hệ thống dọc của quản lý và quan hệ ngang theo lãnh thổ

Chính quyền địa phương (bao gồm HĐND và UBND) tiếp tục được xây dựng theo nguyên tắc HĐND do nhân dân địa phương bầu ra và HĐND bầu các thành viên của UBND Luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương từng bước được sửa đổi cho phù hợp hơn với nhiệm vụ chính trị, tình hình thực tế của địa phương Vai trò, vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan dân cử ở địa phương được tăng cường; chất lượng đại biểu HĐND các cấp có sự đổi mới và được nâng lên một bước; vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của UBND các cấp đã được bổ sung và quy định rõ hơn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này Việc phân cấp giữa Trung ương và địa phương đang thực hiện theo hướng phân cấp mạnh hơn cho địa phương

Chính quyền cấp tỉnh với tư cách là cầu nối giữa trung ương đến địa phương, liên kết các đơn vị chính quyền để thực hiện những nhiệm vụ có tính chiến lược ở quy mô toàn tỉnh

Trong hệ thống chính quyền địa phương, chính quyền cấp tỉnh là cấp hành chính đầu tiên trong ba cấp hành chính Chính quyền cấp tỉnh có nhiệm vụ xây dựng, quyết định quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội địa phương làm cơ sở cho hoạt động của chính quyền cấp huyện và cấp xã

Quy hoạch, kế hoạch, chính sách mà chính quyền cấp tỉnh quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nói chung của tỉnh Trong khi đó, cấp trung ương chỉ có thể ban hành những chủ trương, chính sách, biện pháp ở tầm vĩ mô mà khó có thể điều tiết ở tầm

vi mô đối với từng tỉnh, thành phố Do đó, những quy hoạch, kế hoạch, chính sách này sẽ

Trang 17

góp phần phát huy, tận dụng được những thế mạnh, tiềm năng sẵn có, đồng thời hạn chế, khắc phục những yếu kém, tồn tại của địa phương

Hiện nay chính quyền cấp tỉnh ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình trong bộ máy chính quyền địa phương nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung Sự đi lên

về kinh tế, sự ổn định về chính trị-xã hội của một tỉnh là điều chứng tỏ rõ nhất về năng lực hoạt động của bộ máy chính quyền tỉnh đó

Trong bối cảnh đổi mới cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa quốc tế, cấp tỉnh ngày càng tỏ rõ là cấp giữ vị trí chiến lược, thể hiện tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa trên nhiều phương diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế…

Vai trò của chính quyền cấp tỉnh có những đặc trưng cơ bản, đó là tính toàn diện, trực tiếp và là trung tâm điều phối trên mọi lĩnh vực tại địa phương:

Thứ nhất, vai trò của chính quyền cấp tỉnh gắn liền với chức năng quản lý, tổ chức,

điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tại địa phương Điều đó thể hiện phạm vi hoạt động rộng khắp của chính quyền cấp tỉnh UBND cấp tỉnh có một hệ thống các cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý trên các lĩnh vực Hiệu quả hoạt động của các cơ quan này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động nói chung của chính quyền cấp tỉnh Vì vậy các cơ quan chuyên môn đó phải chịu trách nhiệm trước HĐND cấp tỉnh

và UBND cấp tỉnh Mặt khác hoạt động của chính quyền cấp tỉnh còn được thể hiện một cách toàn diện ở nhiều phương thức khác nhau, đó có thể là những hoạt động mang tính pháp lý (ban hành văn bản quy phạm pháp luật…), hoạt động mang tính tổ chức (chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát…), các hoạt động mang tính chính trị tư tưởng (tuyên truyền, phổ biến, giáo dục…)

Thứ hai, vai trò của chính quyền cấp tỉnh luôn gắn trực tiếp với quyền, lợi ích hợp

pháp của những công dân, tổ chức hay những nhóm đối tượng cụ thể Căn cứ theo pháp luật quy định, chính quyền cấp tỉnh có quyền áp dụng những biện pháp cần thiết nhằm bảo

vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, có quyền áp dụng các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới những quan hệ mà pháp luật bảo vệ

Trang 18

Thứ ba, chính quyền cấp tỉnh luôn giữ vai trò trung tâm và chi phối hoạt động trong

hệ thống chính quyền địa phương Như chúng ta đã từng khẳng định, tỉnh là cấp chiến lược, là cầu nối quan trọng để đưa những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước vào thực tiễn Nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, trách nhiệm đầu tiên thuộc về chính quyền cấp tỉnh và phải bắt đầu từ cấp chính quyền này Hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp tỉnh sẽ có tác động lớn đến hiệu quả hoạt động nói chung của chính quyền địa phương

Chính quyền cấp tỉnh là cấp thi hành, quán triệt và vận dụng một cách trung thành, linh hoạt các nghị quyết của Trung ương sao cho phù hợp đối từng địa phương bằng phương thức thích hợp

Về tổ chức bộ máy HĐND và UBND tỉnh

Điều 119 Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “HĐND

là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” HĐND các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước

ở địa phương, nhưng HĐND có vị trí, chức năng khác Quốc hội Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vừa là một bộ phận cấu thành, không thể tách rời với quyền lực nhà nước thống nhất trong cả nước, với quyền làm chủ chung của nhân dân, vừa là đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và quyền làm chủ mọi mặt của nhân dân địa

phương Trong điều kiện phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương và quản lý nhà nước

chủ yếu là hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện, thông qua chính sách, pháp luật thì vai trò đại diện cho nhân dân nổi trội hơn, và như vây HĐND trở thành cơ quan có vai trò tự quản theo pháp luật Nó không chỉ đơn thuần là nhắc lại nghị quyết của cấp trên trong các nghị quyết của mình, mà toàn quyền quyết định các vấn đề cụ thể của địa phương theo định hướng của cấp trên và quy định của pháp luật

Theo Luật Tổ chức, hoạt động của HĐND và UBND thì tổ chức bộ máy của HĐND tỉnh bao gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thường trực HĐND tỉnh; các ban của HĐND;

Trang 19

cơ quan chuyên môn giúp việc Thường trực HĐND tỉnh gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch HĐND, thành viên của HĐND không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp

Đại biểu HĐND là hạt nhân cấu thành HĐND; chất lượng đại biểu quyết định hiệu lực và hiệu quả hoạt động của HĐND Đại biểu HĐND được phân công sinh hoạt theo tổ đại biểu, tổ chức theo đơn vị bầu cử hoặc theo đơn vị hành chính để thuận lợi cho việc sinh hoạt của đại biểu Thường thì số tổ đại biểu ở mỗi tỉnh tương ứng với đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp ở tỉnh đó (đơn vị huyện) Các tổ đại biểu HĐND đều bầu Tổ trưởng và

Tổ phó để tổ chức các hoạt động của đại biểu HĐND

UBND tỉnh do HĐND tỉnh bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành hiến pháp, luật, các văn

bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND

Là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương, UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước theo lãnh thổ địa giới hành chính tỉnh đối với mọi ngành, mọi lĩnh vực thuộc địa phương mình, bảo đảm việc thi hành văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên và của hội đồng nhân dân tỉnh, giám sát việc thi hành pháp luật của các đơn vị cơ sở của các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương đóng tại địa phương trong phạm vi những vấn đề thuộc quyền quản lý lãnh thổ Là

cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung nên thẩm quyền của UBND tỉnh được xác lập trên cơ sở quyền hạn của tập thể UBND tỉnh và quyền hạn của Chủ tịch UBND tỉnh Thẩm quyền của UBND tỉnh được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001

và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 Theo đó, UBND tỉnh có các quyền và nghĩa vụ: Ban hành quyết định, chỉ thị để chấp hành Hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương và nghị quyết của HĐND tỉnh; tổ chức chỉ đạo thực hiện pháp luật; xứ lý các hành vi vi phạm pháp luật; sắp xếp, quản lý và tổ chức đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh; báo cáo công tác trước Chính phủ; tuân thủ triệt để các văn bản pháp luật của Chính phủ và của Thủ tướng Chính phủ; chịu sự kiểm tra giám sát của Chính phủ

Việc thiết lập, kiện toàn các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là một

Trang 20

trong những mối quan tâm hàng đầu của tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ: về cơ cấu tổ chức, nhân sự các thành viên UBND tỉnh (cơ cấu tổ chức thường theo hướng dẫn từ cơ quan có thẩm quyền Trung ương), lựa chọn các nhân sự chủ chốt của UBND Theo quy định trong Đảng, nhân sự ứng cử chủ tịch UBND tỉnh phải do tỉnh uỷ xem xét giới thiệu (tỉnh uỷ phải báo cáo và có sự đồng ý của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng thì mới chính thức giới thiệu đến HĐND) Tỉnh uỷ giao cho ban thường vụ tỉnh uỷ xem xét giới thiệu một số Uỷ viên ban thường vụ tỉnh uỷ và tỉnh uỷ viên ứng cử các chức danh phó chủ tịch

và uỷ viên UBND

Hệ thống tổ chức của Đảng cũng được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức

hành chính cuả nhà nước Trong hệ thống các cấp bộ đảng ở địa phương, đảng bộ tỉnh có

vị trí, vai trò rất lớn Xét cả về mặt khách quan lẫn chủ quan, đảng bộ tỉnh có những mặt vượt trội hơn đảng bộ các cấp hành chính khác Về mặt khách quan, một mặt, bản thân đơn vị hành chính cấp này có thế chiến lược khác hẳn các cấp hành chính khác ở địa phương; mặt khác, đây là một cấp được Trung ương phân quyền, giao quyền lớn về các mặt công tác Đảng, áp dụng pháp luật và quản lý hành chính Về những nhân tố bên trong, tỉnh uỷ có vị trí, vai trò lãnh đạo quan trọng nhất của hệ thống chính trị ở địa phương Tỉnh uỷ chịu trách nhiệm trước Trung ương Đảng lãnh đạo các tổ chức trong

hệ thống chính trị ở địa phương thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước Theo đó, tính nổi trội hơn các cấp uỷ huyện (huyện, thị, thành trực thuộc tỉnh) và xã (xã, phường, thị trấn) ở chỗ tỉnh uỷ có nhiệm vụ xây dựng chủ trương, biện pháp thi hành đường lối, nghị quyết, chỉ đạo của Trung ương Đảng Sự cụ thể hóa, vận dụng đường lối của Đảng là một trong những đặc điểm lớn của cấp uỷ tỉnh Đường lối của Đảng, nghị quyết của Trung ương mang tính quan điểm, tính định hướng và các nội dung phổ quát cả nước, các tỉnh uỷ muốn tổ chức thi hành có hiệu quả phải biết vận dụng nó sát với tình hình địa phương và trên cơ sở đó, lãnh đạo chính quyền ban hành các chính sách, biện pháp thích hợp Thực tiễn cũng cho thấy, nơi nào tỉnh uỷ có những chủ trương đúng, lãnh đạo thực hiện tập trung, sáng tạo và quyết liệt thì nơi đó, bộ máy chính quyền năng động, chỉ đạo thi hành luật pháp có hiệu lực và hiệu quả Do phụ trách địa bàn khá rộng với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội riêng

Trang 21

biệt, các tỉnh uỷ có điều kiện phát hiện sớm những điểm đúng sai các chủ trương của Trung ương và luật pháp của Nhà nước để đề xuất sửa đổi, bổ sung

Phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng ở tỉnh chủ yếu là xây dựng cơ chế làm việc bảo đảm cho sự phân công và phối hợp nhịp nhàng, năng động và có hiệu quả giữa cấp ủy đảng và chính quyền

Cấp ủy tỉnh đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương; UBND cấp tỉnh thì dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ Những chủ trương, chính sách và cả những biện pháp lớn của Chính phủ chính là sự thể hiện sự lãnh đạo toàn diện của Đảng mà các tổ chức cấp dưới phải tuyệt đối chấp hành

Trong phạm vi tỉnh, cấp ủy đảng thực hiện lãnh đạo toàn diện các vấn đề kinh

tế-xã hội, an ninh-quốc phòng và lãnh đạo cả hệ thống chính trị; đồng thời, phải chịu trách nhiệm trước Trung ương trong việc lãnh đạo trực tiếp các cấp ủy và tổ chức đảng trực thuộc tỉnh, trong đó có Đảng đoàn HĐND và Ban cán sự đảng UBND tỉnh, nhằm biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trở thành hiện thực ở địa phương Muốn thực hiện được điều đó, cấp ủy đảng không những phải có nội dung lãnh đạo đúng, mà còn phải có phương thức lãnh đạo phù hợp Phương thức lãnh đạo phù hợp thì hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả, phương thức lãnh đạo không tốt sẽ có tác dụng ngược lại

Từ những đặc điểm về địa giới hành chính, sự phân quyền của Trung ương Đảng và các chức năng nội tại, tỉnh uỷ có vai trò quan trọng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương, trước hết là đối với HĐND và UBND tỉnh Vị trí và tầm quan trọng của tỉnh uỷ được thể hiện ở sự phân công trách nhiệm và thẩm quyền được quy định cụ thể trong nội bộ của tỉnh uỷ, tập thể ban thường vụ tỉnh uỷ, thường trực tỉnh uỷ

và các cá nhân lãnh đạo

1.3 ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH

UỶ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

1.3.1 Đặc điểm sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ

Khác với sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương và các cơ cấu lãnh đạo cấp

Trang 22

trung ương của Đảng đối với bộ máy nhà nước, sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với chính quyền tỉnh là sự cụ thể hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với một cấp chính quyền ở địa phương Chính quyền tỉnh là cấp chính quyền cao nhất ở địa phương, cho nên sự lãnh đạo của Tỉnh ủy là sự lãnh đạo tổng hợp, bao trùm nhất đối với địa phương từ tỉnh đến cơ sở,

đó là sự lãnh đạo toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng-an ninh và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh

Rất giống như mô hình Trung ương Đảng lãnh đạo Nhà nước, tỉnh uỷ lãnh đạo chính quyền cấp tỉnh bằng toàn bộ các nội dung hoạt động của mình và thông qua tổ chức đảng (đảng đoàn, ban cán sự đảng) hoặc cán bộ do tỉnh uỷ quản lý và ngay cả đảng viên trong bộ máy nhà nước Điểm khác nhau chủ yếu là mức độ, phạm vi, tính chất của các quyết định và ở sự giới hạn quyền lực Đối với Trung ương, các quyết định của Trung ương Đảng được tổ chức đảng và cán bộ Đảng trong các cơ quan Nhà nước chịu trách nhiệm thể chế hóa thành luật, chính sách, quy định Đối với địa phương, tỉnh

uỷ lãnh đạo việc cụ thể hóa nghị quyết của Trung ương, tổ chức thi hành pháp luật và phối hợp với cơ quan quản lý ngành dọc chịu trách nhiệm trước Trung ương về sự lớn mạnh hay yếu kém của cơ quan nhà nước Điểm giới hạn ở chỗ, tỉnh uỷ không thể có những quyết định riêng và đặt yêu cầu tổ chức đảng hoặc cá nhân đảng viên trong cơ quan nhà nước thi hành những quyết sách đó nếu nó vượt quá thẩm quyền và trái với các quy định hiện hành của cơ quan nhà nước Trong trường hợp này, tỉnh uỷ chỉ có thể

tự mình hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước thuộc quyền kiến nghị với cấp có thẩm quyền Nói tóm lại, tỉnh uỷ vừa có quyền, vừa không toàn quyền đối với cơ quan nhà nước do mình phụ trách

Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với chính quyền địa phương rất đa dạng thông qua nhiều tầng nấc theo quy định của Đảng và Nhà nước ở Trung ương như Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy và cá nhân người đứng đầu là

Bí thư Tỉnh ủy

Nội dung lãnh đạo của Tỉnh ủy bao gồm lãnh đạo việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của chính quyền địa phương, lãnh đạo bằng công tác cán bộ và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy vừa mang tính chất lãnh đạo, chỉ đạo, vừa mang tính

Trang 23

chất hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trên thực tế

Về phương thức lãnh đạo, Tỉnh uỷ sử dụng các hình thức, phương pháp để thực

hiện các nội dung lãnh đạo như: xây dựng các chủ trương, công tác tổ chức và cán bộ, hoạt động kiểm tra, giám sát Đồng thời, tỉnh uỷ còn thực hiện các hình thức, biện pháp: sơ kết, tổng kết công tác; chế độ đi cơ sở; hội nghị, hội họp và tự phê bình, phê bình, chất vấn

Nếu so với huyện uỷ và đảng uỷ xã (gọi tắt của ban chấp hành đảng bộ xã), tỉnh uỷ lãnh đạo HĐND và UBND tỉnh vừa có thẩm quyền rộng, vừa có nội dung và phương thức tác động toàn diện hơn Đặc điểm chung của cấp huyện và xã là không có tổ chức đảng ở

cơ quan nhà nước (đảng đoàn, ban cán sự đảng) Cấp uỷ ở hai cấp này lãnh đạo HĐND và UBND theo phương thức chung về Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng trong phạm vi thẩm quyền hạn chế, do vậy, sự giám sát chính quyền, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong việc thi hành pháp luật, việc thực thi nghị quyết của cấp uỷ cấp trên, nghị quyết của cấp uỷ cấp mình là chủ yếu

Tỉnh uỷ lãnh đạo HĐND và UBND là định hướng và bảo đảm để HĐND quyết định các nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo điều kiện cho UBND, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước địa phương quản lý và tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ

đề ra Từ những vấn đề đã nêu cho thấy, trách nhiệm của tỉnh uỷ ở địa phương là rất quan trọng

Đảng lãnh đạo nhà nước trước hết là bằng đường lối, chính sách, chủ trương Ở cấp trung ương, Đảng trực tiếp quyết định đường lối, ban hành chính sách Còn ở địa phương,

từ cấp tỉnh, thành đến cơ sở, thì tổ chức đảng chỉ quyết định nhiệm vụ chính trị của địa phương và thảo luận, đóng góp ý kiến để Trung ương quyết định, ban hành đường lối, chính sách phù hợp với địa phương Xác định nhiệm vụ của địa phương không được trái với đường lối, chủ trương do Trung ương Đảng ban hành, không được trái với pháp luật, nghị định, quy định của nhà nước Đồng thời địa phương cụ thể hóa đường lối đó và lãnh đạo tổ chức thực hiện đường lối đó thông qua tổ chức đảng và đảng viên, thực hiện nhiệm

vụ kiểm tra, giám sát Ở Trung ương, BCH Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo xây dựng

bộ máy nhà nước ở cả cùng cấp, cả cấp dưới Chính vì vậy mà “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý” phải được hiểu và thực thi ở các cấp độ không giống nhau Lẫn lộn chức năng

Trang 24

lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước là sai, nhưng tách biệt hoàn toàn hai chức năng lãnh đạo và quản lý, nhất là ở cấp độ địa phương cũng là một sai lầm lớn Nếu không phân biệt được thì dễ dẫn đến bao biện, cấp ủy quyết định quá nhiều công việc thuộc chức năng thẩm quyền của chính quyền, thành cơ quan hành chính, đánh mất sứ mệnh lãnh đạo, vai trò “đầu não” của mình Đồng thời, chính quyền nhà nước sẽ thụ động,

ỷ lại, chờ đợi thực hiện các sứ mệnh của Đảng - không thực hiện được chức năng quản lý, không phát huy được quyền làm chủ, tính năng sáng tạo của nhân dân Nếu tách biệt chức năng lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ở cấp địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở, phường – xã, thực chất là bỏ rơi lãnh đạo hoặc buông lỏng lãnh đạo, hình thức, không hiệu quả Điều đó, vừa không đảm bảo được sự lãnh đạo, vị trí, vai trò của Đảng, vừa không phát huy thực sự vai trò của Nhà nước, của nhân dân Do vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền nhà nước ở các cấp, từ Trung ương đến cơ sở, có nguyên tắc, tính chất, nội hàm chung, nhưng hình thức thể hiện và nội dung công việc có sự khác nhau Đương nhiên càng xuống thấp cơ sở, việc lựa chọn, quy định rạch ròi việc gì thuộc lãnh đạo của Đảng, việc gì thuộc quyền quản lý của Nhà nước là hết sức khó khăn Ở đây, Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân gắn quyện với nhau thành một khối thống nhất, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội

Đảng bộ tỉnh quyết định các nhiệm vụ chính trị mang tầm chủ trương, chính sách

để xây dựng và phát triển địa phương thông qua các kỳ đại hội và các hội nghị của Tỉnh

ủy Đó là nội dung lãnh đạo đầu tiên và thông qua đó lãnh đạo chính quyền thực hiện Để quyết định nhiệm vụ chính trị đúng đắn, phản ánh được năng lực trí tuệ, trình độ lý luận, phù hợp với thực tiễn, Đảng bộ phải lãnh đạo các cơ quan tham mưu của Tỉnh ủy và các

sở, ngành thuộc UBND cùng nghiên cứu, phân tích để cung cấp các cứ liệu và luận cứ khoa học, thực tiễn

Một nội dung khác là lãnh đạo chính quyền đề ra kế hoạch, chương trình cụ thể để

tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ Đối với các

cơ quan thuộc khối chuyên môn như tư pháp, an ninh-quốc phòng, vừa lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị do đảng bộ địa phương đề ra, vừa thực hiện các chủ trương, chính sách được cụ thể hóa qua các kế hoạch, chương trình hành động của chính quyền cấp - tỉnh,

Trang 25

thành, vừa thực hiện các chủ trương, chỉ thị của ngành dọc Riêng đối với nhiệm vụ bảo vệ

Tổ quốc, cấp ủy địa phương quyết định những vấn đề chung, còn kế hoạch cụ thể, các phương án phòng thủ do ngành dọc quyết định Đối với lĩnh vực tư pháp, cấp ủy địa phương lãnh đạo, chỉ đạo về tư tưởng, ý chí đấu tranh chống tiêu cực, chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Về xét xử thì chỉ đạo phương hướng, quan điểm xử lý cho phù hợp với pháp luật, không can thiệp vào việc xét xử, tuyên án

Như vậy là, phương thức lãnh đạo chính quyền bằng chủ trương, chính sách được thực hiện ở cấp tỉnh, thành có những điểm khác với Trung ương Không phải thông qua một kênh trực tiếp như cấp trung ương mà thông qua nhiều kênh (cấp ủy đối với chính quyền cùng cấp, tổ chức đảng thông qua cơ quan nhà nước cấp trên) Do vậy, một vấn đề quan trọng để đảm bảo được sự lãnh đạo của Đảng đồng thời nâng cao được hiệu lực quản

lý và điều hành của chính quyền, phát huy được trách nhiệm và tính chủ động trong việc tổ chức, thực hiện các chủ trương, nghị định, pháp luật của từng bộ phận cấu thành cơ quan nhà nước cấp tỉnh, thành là phải có sự phối hợp đồng bộ giữa cấp ủy địa phương và tổ chức đảng trong các bộ phận cấu thành cơ quan nhà nước ở cấp trung ương Sự phối hợp

ấy phải được cụ thể hóa bằng quy chế, các chương trình làm việc và có kiểm tra, tổng kết

Nếu xét trong tổng thể chung về tính chất của mối quan hệ giữa cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, sự lãnh đạo của Tỉnh ủy là tính chất chủ đạo trong mối quan hệ giữa Tỉnh ủy và HĐND, UBND tỉnh Điều đó được xác định dựa vào vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của HĐND, UBND tỉnh, nó chi phối nội dung, phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với HĐND, UBND tỉnh và từ đó sẽ quyết định tính chất của mối quan hệ đó, thể hiện:

Một là, sự gần gũi, phối hợp chặt chẽ trong mối quan hệ giữa Tỉnh ủy với HĐND,

UBND tỉnh Cấp ủy đảng mà không hiểu dân, không gần dân, không lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân thì không thể có được những nghị quyết đúng đắn, dẫn đến vai trò lãnh đạo bị giảm sút Hoặc nếu cấp ủy đảng và HĐND, UBND không có sự đoàn kết, không tôn trọng nhau sẽ dẫn đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động kém

Hai là, mối quan hệ giữa Tỉnh ủy với HĐND, UBND tỉnh mang tính thực tiễn, tính

tác chiến cao Công việc đa dạng và phức tạp ở địa phương đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải

Trang 26

am hiểu thực tiễn, hiểu được nguyên nhân, nguồn gốc của vấn đề và còn đòi hỏi phải có kiến thức rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau Khác với các cơ quan nhà nước và các đoàn thể

chính trị xã hội khác, mối quan hệ giữa Tỉnh ủy với HĐND, UBND tỉnh đôi khi mang tính

sự vụ, cụ thể Tỉnh ủy không chỉ lãnh đạo về chủ trương, đường lối mà còn cùng với chính quyền địa phương giải quyết những vụ việc cụ thể đòi hỏi sự đối phó và xử lý tình huống nhanh nhạy, kịp thời, như: chỉ đạo giải quyết khiếu kiện phức tạp, kéo dài; điểm nóng hoặc những vấn đề về an ninh, trật tự hay đối phó với thiên tai, hỏa hoạn…

Ba là, quan hệ giữa Tỉnh ủy với HĐND, UBND tỉnh là quan hệ tác động hai chiều

Mặc dù sự lãnh đạo của Đảng là chủ yếu, quyết định bản chất của mối quan hệ nhưng điều

đó không có nghĩa là chính quyền địa phương không có sự tác động trở lại với cấp ủy đảng Với tư cách là tổ chức nhà nước, HĐND, UBND tỉnh có quyền báo cáo, đề xuất, xin

ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy đối với những vấn đề hệ trọng của địa phương mình; chuyển tải những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân tới cấp ủy đảng hoặc giới thiệu với cấp ủy đảng những cán bộ, đảng viên có năng lực, thành tích, có triển vọng… từ đó, tham mưu, góp ý với cấp ủy về phương hướng, cách thức chỉ đạo, lãnh đạo, về công tác cán bộ…

Điểm quan trọng cần lưu ý trong mối quan hệ giữa Tỉnh ủy và hai cơ quan chính quyền này là: Tỉnh ủy lãnh đạo HĐND để HĐND tỉnh thông qua những nghị quyết mang tính quyền lực (nghị quyết của đảng không mang tính quyền lực) Tỉnh ủy lãnh đạo UBND tỉnh trong quản lý, điều hành cụ thể là kiểm tra, giám sát xem UBND có thực hiện đúng nghị quyết không

Tỉnh ủy lãnh đạo HĐND và UBND tỉnh nhưng không làm thay chính quyền tỉnh, để HĐND và UBND tỉnh chủ động quyết định những vấn đề phát triển kinh tế xã hội địa phương trên cơ sở nghị quyết lãnh đạo của Tỉnh ủy và phù hợp với pháp luật của nhà nước tại địa phương và của cơ quan nhà nước cấp trên

Như vậy sự lãnh đạo của Tỉnh ủy vừa là sự cụ thể hóa nghị quyết của Trung ương, vừa dựa vào chủ trương đặc thù của địa phương để có những quyết sách đúng đắn phát triển địa phương Đồng thời sự lãnh đạo của Tỉnh ủy cũng vừa phải tuân thủ Điều lệ Đảng vừa phải tuân theo luật pháp của nhà nước Điều này là nguyên tắc trong điều kiện chính

Trang 27

quyền địa phương cùng với cả nước đẩy mạnh việc phấn đấu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN

1.3.2 Nội dung lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với HĐND và Uỷ ban nhân dân tỉnh

Để lãnh đạo toàn diện mọi hoạt động của cả nước, Trung ương Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn và chỉ đạo hệ thống tổ chức đảng trong các cơ quan nhà nước cụ thể hoá thành các văn bản pháp luật Đối với các Tỉnh ủy, tương tự như vậy, tỉnh

uỷ xác lập các chủ trương để lãnh đạo địa phương mình

+ Tỉnh ủy cụ thể hóa đường lối của Đảng đưa ra những chủ trương tại địa phương làm cơ sở cho HĐND và UBND hoạt động

Thông thường, chủ trương được thể hiện trong các văn bản của đảng bộ, tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ với mỗi thể loại nhất định, từ nghị quyết đại hội, nghị quyết hội nghị (còn có tên khác là chương trình hành động), chỉ thị, kế hoạch, thông tri, công văn chỉ đạo

Trong thực tế, những năm qua, các tỉnh uỷ đã rất quan tâm đến việc xác định các chủ trương lãnh đạo Trên cơ sở đường lối của Đảng, luật pháp của Nhà nước và tình hình thực tiễn của địa phương, tỉnh uỷ đã xây dựng những chủ trương thích hợp Trong đảng bộ tỉnh, có ba cấp độ quyền lực tương ứng với ba cơ quan ban hành văn bản: nghị quyết của đại hội đại biểu; nghị quyết, quyết định, kết luận, quy định, thông cáo… của tỉnh uỷ; nghị quyết, quyết định, chỉ thị, kết luận, quy định, thông tri, hướng dẫn, thông báo…của ban thường vụ tỉnh uỷ và ngoài ra, các cơ quan nói trên được quyền ban hành các thể loại văn bản như: kế hoạch, quy hoạch, chương trình, đề án, công văn…

Cũng như các đảng bộ khác trên cả nước, Tỉnh uỷ Đồng Nai đã đầu tư nhiều cho việc xây dựng nghị quyết nhiệm kỳ, các chương trình, dự án lớn giải quyết những vấn đề

có yêu cầu bức xúc của địa phương Khi xét thấy tính chất quan trọng của vấn đề, tỉnh uỷ thành lập một tiểu ban để chuẩn bị cho các quyết sách này Tỉnh uỷ cũng chú ý nhiều hơn trong việc cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về các lĩnh vực theo chương trình toàn khóa Đối với loại văn bản này, Tỉnh uỷ giao cho cơ quan chuyên ngành chủ trì hoặc trực tiếp dự thảo, văn phòng tỉnh uỷ tham gia quá trình chuẩn bị và thẩm định giúp cho tỉnh uỷ (ban thường vụ tỉnh uỷ) ban hành

Trang 28

Nhìn chung, các chủ trương của tỉnh uỷ đều phù hợp với đường lối của Đảng, luật pháp Nhà nước, quy định của Chính phủ Tỉnh uỷ đã cụ thể hóa đường lối, chính sách, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Trung ương mà nhất là việc lấy phát triển kinh tế là nhiệm

vụ trung tâm…thành các chủ trương cụ thể đáp ứng được đòi hỏi của địa phương và đó là tiền đề quan trọng để lãnh đạo chính quyền, xây dựng cơ quan nhà nước trong sạch, vững mạnh, giáo dục đội ngũ cán bộ, công chức tận tụy phục vụ nhân dân góp phần tạo nên bức tranh sáng của từng địa phương và cả nước

+ Tỉnh ủy lãnh đạo công tác cán bộ và trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ của HĐND

và UBND

Bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả hay không phần lớn dựa phần lớn vào hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ Ở nước ta, đảng cộng sản là người lãnh đạo nhà nước, thực hiện sự lãnh đạo trong điều kiện đảng cầm quyền thì việc nắm chắc công tác cán bộ của bộ máy nhà nước là một trong những nội dung quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng Nội dung Đảng lãnh đạo Nhà nước trong công tác cán bộ thể hiện ở các vấn đề chủ yếu sau:

Thứ nhất, Đảng đưa ra quan điểm, đường lối về xây dựng, sắp xếp, giáo dục, đào tạo, đãi ngộ cán bộ trong bộ máy nhà nước Đảng xác định tiêu chuẩn, yêu cầu về sử dụng, đánh giá, lựa chọn, đề bạt, kiểm tra cán bộ Đảng thống nhất lãnh đạo về quan điểm, đường lối trong công tác cán bộ, bảo đảm cho những tư tưởng chỉ đạo đó được nhận thức, quán triệt, chấp hành trong công tác cán bộ ở mọi cấp, ngành, địa phương cả nước

Thứ hai, Đảng thực hiện việc xây dựng quy hoạch, lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo

và quản lý chủ chốt trong bộ máy chính quyền theo đúng các nguyên tắc và thủ tục pháp luật Đảng chủ trì việc phân bổ, điều chỉnh cán bộ giữa các cơ quan trung ương, giữa trung ương và địa phương để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong mỗi giai đoạn cách mạng Trong công việc này, cấp ủy các cấp của Đảng chỉ quản lý chắc số cán bộ chủ chốt trong cơ quan nhà nước của cấp mình trên những quyết định quan trọng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ”

Trang 29

Thứ ba, Đảng giáo dục, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong bộ máy nhà nước

về mặt lý luận chính trị nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, tầm nhìn đáp ứng những nhiệm vụ được giao

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước phải gắn liền với việc đổi mới công tác tổ chức và cán bộ

Tỉnh uỷ luôn chú trọng lãnh đạo kiện toàn HĐND đồng bộ về tổ chức và nhân sự Tại các kỳ bầu cử đại biểu HĐND, Tỉnh uỷ có văn bản chỉ đạo khá cụ thể về yêu cầu, nội dung công việc Ví dụ như cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009 của tỉnh Đồng Nai, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã yêu cầu các cấp uỷ thông qua cuộc bầu cử mà tiếp tục củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của HĐND và chính quyền các cấp ở địa phương, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương

Về nhân sự: Thứ nhất, tỉnh uỷ luôn giữ quyền giới thiệu và xét duyệt các nhân sự ứng cử đại biểu HĐND Xem xét và cử cán bộ, đảng viên đại diện cho đảng bộ ứng cử đại biểu HĐND để giữ các chức vụ của Thường trực HĐND, các ban của HĐND, các thành viên Uỷ ban nhân dân Thứ hai, giới thiệu cán bộ chủ chốt của cấp uỷ ứng cử các chức danh chủ chốt của HĐND Trên cơ sở nghị quyết và hướng dẫn của Trung ương, cấp uỷ giới thiệu bí thư hoặc phó bí thư thường trực ứng cử chức vụ Chủ tịch HĐND; giới thiệu

Uỷ viên ban thường vụ hoặc cấp uỷ viên ứng cử chức vụ Phó Chủ tịch HĐND; giới thiệu

Uỷ viên ban thường vụ, cấp uỷ viên hoặc cán bộ trong diện ban thường vụ tỉnh uỷ quản lý ứng cử Uỷ viên Thường trực và các ban HĐND

Cùng với việc lựa chọn nhân sự, tỉnh uỷ tiến hành thành lập tổ chức đảng trong HĐND tỉnh Việc thành lập đảng đoàn HĐND là theo quy định thống nhất trong Đảng

Thành phần đảng đoàn HĐND gồm có: bí thư tỉnh uỷ (hoặc Phó Bí thư Tỉnh ủy), chủ tịch HĐND tỉnh, giữ chức bí thư; phó chủ tịch HĐND tỉnh, giữ chức phó bí thư; chủ tịch

Uỷ ban nhân dân tỉnh, uỷ viên Thường trực HĐND tỉnh, các trưởng ban HĐND tỉnh, thành viên Chức năng, nhiệm vụ của đảng đoàn cũng được xác định là: “lãnh đạo, thuyết phục các thành viên trong tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng; liên hệ mật thiết với nhân dân; đề xuất với cấp uỷ về phương hướng, nhiệm vụ, tổ chức, cán bộ và quyết định theo thẩm

Trang 30

quyền; kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng” [19, tr.64]

UBND tỉnh gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và ủy viên Chủ tịch UBND là đại biểu HĐND, các thành viên khác không nhất thiết phải là đại biểu HĐND Tỉnh ủy rất xem trọng cơ cấu tổ chức, nhân sự các thành viên UBND tỉnh, chú ý lựa chọn các nhân sự chủ chốt của UBND Theo quy định trong Đảng, nhân sự ứng cử Chủ tịch UBND phải do Tỉnh

ủy xem xét giới thiệu (Tỉnh ủy phải báo cáo và có sự đồng ý của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng thì mới chính thức giới thiệu đến HĐND) Tỉnh ủy giao Ban thường vụ Tỉnh ủy xem xét giới thiệu một số Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Tỉnh ủy viên ứng cử các chức danh phó chủ tịch và ủy viên UBND tỉnh

+ Tỉnh ủy tiến hành kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND theo đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

Trong tình hình mới hiện nay, công tác kiểm tra ngày càng được Đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và có nhiều đổi mới trong lãnh đạo công tác kiểm tra, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức trong hệ thống chính trị Đại hội X của Đảng đã giao thêm chức năng giám sát cho Ủy ban kiểm tra các cấp

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, tỉnh uỷ xây dựng chương trình (kế hoạch) kiểm tra, giám sát của nhiệm kỳ đối với chính quyền (ban cán sự đảng, đảng đoàn HĐND và UBND tỉnh) Tỉnh ủy tập trung vào việc xem xét về mặt quan điểm, phương hướng chính trị, bảo đảm thực hiện đúng đường lối của Đảng, pháp luật nhà nước Nội dung kiểm tra, giám sát hướng vào việc quán triệt, cụ thể hóa và lãnh đạo thực hiện các nghị quyết hội nghị Trung ương, các nghị quyết hội nghị của tỉnh uỷ; việc chấp hành chính sách pháp luật của nhà nước Thông qua kiểm tra, Tỉnh ủy kịp thời phát hiện những thiếu sót trong công tác quản

lý nhà nước của HĐND và UBND tỉnh, cũng như những sai lầm trong chủ trương, đường lối do mình đề ra và có biện pháp khắc phục

Việc kiểm tra của Đảng không trùng lắp với thanh tra, giám sát của nhà nước Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo HĐND và UBND tỉnh thực hiện đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, mới đây Trung ương Đảng cũng đang nghiên cứu xem xét việc sáp nhập bộ máy cơ quan kiểm tra của Đảng và thanh tra nhà nước làm một (Ủy ban kiểm tra Trung ương đã tiến hành khảo sát ở một số địa phương) Việc kiểm tra của Đảng

Trang 31

được tiến hành chủ yếu thông qua các đảng viên và tổ chức đảng Đảng đứng về phía quần chúng nhân dân, lãnh đạo nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát các hoạt động của chính quyền địa phương Qua đó, phát hiện những vấn đề và kiến nghị với nhà nước những giải pháp uốn nắn lệch lạc trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước của cán bộ, công chức HĐND, UBND tỉnh

Trong Quy chế làm việc của BCH Đảng bộ tỉnh hiện hành Đồng Nai có quy định rõ: hoạt động của HĐND và UBND tỉnh đảm bảo theo Hiến pháp, pháp luật của nhà nước

Có trách nhiệm cụ thể hóa nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và của cấp trên để tổ chức chỉ đạo thực hiện

1.3.3 Phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với tổ chức và hoạt động HĐND

và Uỷ ban nhân dân tỉnh

Các nhà nghiên cứu cho rằng:

Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội là hệ thống các

hình thức, biện pháp, lề lối làm việc mà Đảng sử dụng để tác động đến đối tượng lãnh đạo của mình là nhà nước và xã hội nhằm tập hợp, quy tụ, phát huy sức mạnh của mọi lực lượng trong hệ thống chính trị và đông đảo nhân dân để thực hiện thắng lợi đường lối chính trị, nhiệm vụ chính trị do Đảng đề ra [31, tr.181]

Phương thức lãnh đạo phụ thuộc vào đường lối chính trị của Đảng trong mỗi thời

kỳ và trong từng lĩnh vực Khi nội dung lãnh đạo và đối tượng lãnh đạo thay đổi thì phương thức lãnh đạo cũng thay đổi tương ứng Phương thức lãnh đạo còn tùy thuộc vào

sự phát triển của bản thân cơ quan lãnh đạo, những tiến bộ của người lãnh đạo về tri thức, nhận thức, năng lực tổ chức; trình độ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công việc lãnh đạo Vì thế, sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng không tách rời việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng Đảng mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, về đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định kết quả đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Phương thức lãnh đạo phụ thuộc vào vị thế hiện thực của Đảng trong xã hội Cùng với sự lãnh đạo thông qua các tổ chức đảng và tổ chức quần chúng, Đảng lãnh đạo xã hội bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, coi đó là điều kiện

và ưu thế quan trọng nhất của Đảng cầm quyền Sự vững mạnh và hoạt động có

Trang 32

hiệu quả của cơ quan nhà nước và các đoàn thể nhân dân là thước đo hiệu quả lãnh đạo, sự đúng đắn về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và

xã hội [31, tr.181]

Tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền tỉnh bằng các chủ trương, việc đề ra chủ trương là quan trọng vì đó là cơ sở chính trị, định hướng chính trị của Đảng đối với nhà nước Phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với HĐND và UBND tỉnh thể hiện ở những khía cạnh sau:

- Tỉnh ủy xác lập cơ chế lãnh đạo đối với HĐND và UBND tỉnh: Trên cơ sở Cương

lĩnh, Điều lệ và các nghị quyết có liên quan, tỉnh uỷ tiến hành xây dựng quy chế làm việc Ngoài nội dung xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ, của cá nhân bí thư tỉnh uỷ, phó bí thư thường trực tỉnh uỷ và phó bí thư tỉnh uỷ, chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, quy chế dành một điều khoản riêng nói về sự lãnh đạo của tỉnh uỷ đối với HĐND và UBND tỉnh Tỉnh ủy lãnh đạo HĐND và UBND thông qua các tổ chức đảng (đảng đoàn, ban cán sự đảng) và thông qua các cán bộ mà Tỉnh ủy cử giữ chức vụ lãnh đạo

Trong mối quan hệ với HĐND, kiểm điểm việc thực hiện quy chế của tỉnh uỷ hoặc hoạt động lãnh đạo của ban thường vụ tỉnh uỷ, các tỉnh uỷ đều nhận thấy mặt được từ việc tiến hành củng cố tổ chức đảng đoàn và các cơ quan chuyên môn của HĐND; thông qua đảng đoàn, hoạt động của HĐND đã đi vào nền nếp, thực hiện các nhiệm vụ theo Hiến pháp, pháp luật và chịu sự lãnh đạo của tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ Trong việc lãnh đạo đảng đoàn HĐND, thường trực tỉnh uỷ đã cho ý kiến về những định hướng, nội dung quan trọng trong chương trình hoạt động, chương trình kỳ họp, những quyết định của HĐND về kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh, tổ chức cán bộ, nhân sự thuộc ban thường

vụ tỉnh uỷ quản lý và những vấn đề quan trọng khác có liên quan đến đời sống ở địa phương

Trong mối quan hệ với UBND, sự lãnh đạo của tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ đối với UBND (qua ban cán sự đảng UBND) được thực hiện đúng quy chế Hoạt động phối hợp giữa thường trực tỉnh uỷ với thường trực UBND ngày càng chặt chẽ tạo cơ sở cho việc

tổ chức thực hiện nghị quyết của tỉnh uỷ và những nhiệm vụ trọng tâm đạt được hiệu quả,

Trang 33

chất lượng hơn Với trách nhiệm của mình, thường trực tỉnh uỷ chỉ đạo việc chuẩn bị các nội dung trình ban thường vụ tỉnh uỷ xem xét, cho ý kiến về các chương trình, kế hoạch,

đề án cụ thể hoá các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, những vấn đề về tổ chức cán bộ, nhân sự thuộc diện ban thường vụ tỉnh uỷ quản lý trước khi trình HĐND tỉnh xem xét, quyết định Việc thực hiện quy trình chuẩn bị những nội dung dự kiến trình ban thường vụ tỉnh uỷ khá chặt chẽ Đối với những nội dung chưa đạt yêu cầu, thường trực tỉnh uỷ chỉ đạo ban cán sự đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh tu chỉnh lại theo hướng bảo đảm chất lượng, khả thi hơn Thường trực tỉnh uỷ cũng chủ động đề xuất ban thường vụ tỉnh uỷ giao ban cán sự đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh tổ chức thực hiện những nội dung lĩnh vực thuộc thẩm quyền, nhất

là việc sơ kết, tổng kết các đề án thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng có liên quan đến kinh tế - xã hội để rút kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo tại địa phương…

- Tỉnh ủy lãnh đạo HĐND và UBND tỉnh bằng việc nêu gương của tổ chức đảng và đảng viên, sử dụng phương pháp giáo dục, thuyết phục bằng chính những suy nghĩ và hành động đúng đắn, gương mẫu của đảng viên Tỉnh ủy giới thiệu những đảng viên ưu tú để nhân dân bầu vào HĐND tỉnh, là đại biểu HĐND tỉnh để bầu vào các chức danh lãnh đạo của HĐND, UBND tỉnh

- Về lề lối làm việc: Các nội dung của lối làm việc như quan hệ công tác, hội họp,

chế độ báo cáo, kiểm tra…được quy định trong quy chế làm việc của Tỉnh ủy Hiện nay đã

đi dần vào nền nếp của quy chế Trước đây, thường trực cấp uỷ, bí thư cấp uỷ có thể dự và phát biểu chỉ đạo bất cứ hội nghị nào của cơ quan nhà nước; có thể gọi bất cứ thủ trưởng

cơ quan nhà nước nào để ra những mệnh lệnh chỉ đạo của cấp uỷ Trong những năm gần đây, chương trình làm việc, lịch làm việc đã được thiết kế hoá cụ thể và đảm bảo tính khoa học trong lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với HĐND và UBND tỉnh

1.4 NHỮNG YẾU TỐ CHI PHỐI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH ỦY ĐỐI VỚI HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

Nếu tách riêng để nghiên cứu thì chính những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, văn hóa, lịch sử, đặc điểm về chức năng nhiệm vụ của chính quyền địa phương, mối quan hệ giữa Tỉnh và Trung ương,…là những yếu tố chi phối khá quan trọng đến sự lãnh đạo của

Trang 34

Tỉnh ủy đối với chính quyền tỉnh

Địa phương trước hết là một khái niệm chỉ địa giới, vùng lãnh thổ Địa phương là một không gian kinh tế-chính trị và xã hội, gắn với hoạt động sản xuất - kinh tế, hoạt động quản lý và tổ chức đời sống xã hội của một cộng đồng dân cư

Địa phương còn là một không gian văn hóa, một địa văn hóa với những biểu hiện rất cụ thể của sắc thái, bản sắc và truyền thống văn hóa địa phương Đó là văn hóa vùng, miền mà ở nước ta cội rễ của nó chính là văn hóa làng Trong một nước, xét về cơ cấu địa phương, nhất là xét từ trình độ phát triển, có địa phương đô thị (thành phố) và địa phương nông thôn (tỉnh) Tuy nhiên, ngay trong một thành phố cũng có vùng đô thị trung tâm và vùng ngoại vi thường vẫn là nông thôn Hơn nữa, Việt Nam là một nước đa dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh khác nhau Như vậy, khái niệm địa phương trên thực tế còn là vùng cư trú đa dân tộc, vùng tôn giáo và hoạt động tôn giáo Như Đồng Nai, là một tỉnh cơ cấu ngành công nghiệp chiếm tỉ trọng lớn nhưng dân cư nông thôn vẫn chiếm trên 60%, dân cư hoạt động tôn giáo cũng chiếm trên 60%, điều này chi phối khá quan trọng đến sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với chính quyền tỉnh Đồng Nai

Sự khác biệt mang tính đặc thù của địa phương, so sánh địa phương này với địa phương khác tùy thuộc vào vị trí chiến lược của địa phương trong sự phát triển chung của

cả nước, vào những lợi thế so sánh của địa phương này so với địa phương khác, vào quy

mô diện tích và dân số Trình độ phát triển kinh tế và văn hóa giữa các tỉnh cũng rất khác nhau Cần phải tính đến những khác biệt này để có quan điểm đúng đắn, hợp lý trong đầu

tư phát triển, trong chiến lược phát triển chung của cả nước với phát triển vùng, miền, khu vực và phát triển của từng địa phương

Từ đó cho thấy các vấn đề đặt ra trong phát triển địa phương là rất đa dạng, khác biệt, có cả sự chênh lệch vượt trội Các địa phương ở nước ta còn có nhiều sự khác biệt nữa cần được nhận biết về đặc điểm tư nhiên kinh tế-xã hội, về truyền thống lịch sử, văn hóa, đặc diểm tâm lý, tính cách, phong tục tập quán, lối sống… tạo nên những nét đặc trưng và đặc thù độc đáo để phân biệt địa phương này với địa phương khác

Rõ nhất là nét tâm lý cộng đồng và tính cách con người của từng địa phương, trong

đó mặt tích cực thường xen lẫn cả yếu tố tiêu cực Do đó, xét một cách phổ biến, địa

Trang 35

phương nào cũng có những yếu tố tiềm năng để phát triển đồng thời cũng không có ít những vấn đề của riêng mình như những lực cản kìm hãm, níu kéo sự phát triển cần phải vượt qua Các nhà lãnh đạo và cấp quản lý của địa phương (tỉnh, thành), nhất là các cán bộ của chốt cần phải tự ý thức rõ điều đó để tập trung vào những vấn đề căn bản, sâu xa và lâu dài cho sự phát triển của địa phương mình cùng với sự phát triển của cả nước

Tỉnh Đồng Nai với vị trí địa lý quan trọng, có địa giới chung cùng nhiều địa phương khác trong khu vực, với hệ thống giao thông thuận lợi lại được thiên nhiên ưu đãi tặng cho khí hậu ôn hòa, đa hệ sinh thái, giàu sản vật, Đồng Nai từ lâu đã trở thành nhịp cầu giao lưu kinh tế-văn hóa giữa các vùng cư dân ở phía Nam Dân cư ở Đồng Nai được hình thành từ sự hợp

cư của nhiều nguồn cư dân, dung hợp nhiều dòng văn hóa, hay nói cách khác xã hội ở Đồng Nai là cộng đồng đa dân tộc, đa tôn giáo Có thể nói chính các yếu tố đó làm cho địa phương

có đội ngũ công nhân công nghiệp và lực lượng lao động có tay nghề đông đảo

Như vậy, do lịch sử hình thành các cộng đồng dân cư và điều kiện kinh tế-xã hội ở địa phương, xã hội Đồng Nai được tổ chức theo truyền thống người Việt nhưng không rập khuôn, không xa cội quên nguồn mà mang đậm phong cách rộng mở, có khả năng thích nghi cao, dễ tiếp thu nhân tố mới, nhạy bén với khoa học kỹ thuật, năng động trong cách nghĩ cách làm, không gò bó trong những khuôn khổ chật hẹp Đồng Nai là một trong những vùng đất có truyền thống lâu nhất của miền Đông khi cư dân Việt tới làm ăn sinh sống Ít nhất, người Việt, người Hoa đã sinh sống ở Đồng Nai từ thế kỷ XVII Người địa phương đã có nhiều chục năm sống ngoài vòng kiểm soát của chế độ phong kiến trước khi Nguyễn Hữu Cảnh đặt bộ máy hành chính ở đây Điều này cùng với đặc điểm tự nhiên thuận lợi đã hình thành ở người Đồng Nai cách sống phóng khoáng, rộng mở, tự chủ, và hệ quả là việc hình thành các làng ấp, thôn xóm ở Đồng Nai không theo một khuôn mẫu nhất định

Người dân Đồng Nai giàu truyền thống yêu nước; kiên cường bất khuất trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và cần cù, chịu khó, sáng tạo trong lao động và xây dựng phát triển đất nước

Đồng Nai là một tỉnh nằm ở trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam-khu vực kinh tế năng động nhất cả nước và ngay ở cửa ngõ phía Đông của Thành phố Hồ Chí

Trang 36

Minh, và cũng là tỉnh có vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng cho cả vùng Đông Nam

Bộ, Đồng Nai như một “bản lề chiến lược” về kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh-quốc phòng gắn kết Nam Trung Bộ, Tây Nguyên với toàn vùng Đông Nam Bộ và các tỉnh, thành phố khác ở phía Nam.Và chính ở vị trí quan trọng này nên Đồng Nai rất nhạy cảm với tình hình thế giới Đặc điểm đó vừa là thuận lợi vừa là khó khăn cho việc lãnh đạo và quản lý xã hội của chính quyền địa phương

Nhìn tổng thể quá trình phát triển sau những năm đổi mới đến nay, Đồng Nai là một tỉnh có nền kinh tế phát triển nhanh, đã đi từ sản xuất lương thực không đủ ăn đến tự đảm bảo nhu cầu lương thực trong tỉnh và có nông sản xuất khẩu, cơ cấu kinh tế đã chuyển đổi mạnh mẽ từ nông-công nghiệp sang cơ cấu công-nông nghiệp-dịch vụ rồi công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp với tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ ngày càng cao; luôn giữ mức tăng trưởng xứng đáng là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Hiện nay, Đồng Nai có một ngành công nghiệp với quy mô, năng lực sản xuất đứng thứ ba cả nước với ngành nghề đa dạng phong phú, tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu và phân bổ các cơ sở công nghiệp đồng bộ hơn, hợp lý hơn dưới hình thức các khu công nghiệp và cụm công nghiệp, có đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý dày dạn kinh nghiệm, đây sẽ là một lợi thế để Đồng Nai bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông nghiệp cũng có những bước đột phá với năng suất và giá trị sản xuất năm sau cao hơn năm trước và sự chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành tích cực theo hướng tăng tỉ trọng chăn nuôi Lĩnh vực thương mại-dịch vụ cũng đạt được kết quả đáng kể hướng vào đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt và nhu cầu phát triển của các ngành sản xuất Hầu hết các ngành kinh tế chủ yếu của tỉnh đều đạt và vượt so với các chỉ tiêu đề ra hàng năm Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực đã tạo cho Đồng Nai một sự phát triển mới về chất, thúc đẩy quá trình tích lũy đầu tư phát triển kinh tế, tăng mức tiêu dùng của xã hội, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Thu ngân sách hành năm đều đạt dự toán Trung ương giao và đạt chỉ tiêu đề ra, nhiều năm liên tụ có kết dư, qua đó tạo tiền đề tăng chi ngân sách cho đầu tư phát triển Trong những năm gần đây, Đồng Nai luôn là một trong những địa phương thường xuyên

có đóng góp nhiều nhất cho ngân sách Trung ương hàng năm

Trang 37

Những kết quả tích cực đạt được về mặt kinh tế đã tạo cho Đồng Nai những chuyển biến tích cực về mặt chính trị-xã hội: trật tự an ninh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, qua đó lòng tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được củng cố…

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SỰ LÃNH ĐẠO

CỦA TỈNH ỦY ĐỐI VỚI HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG

NAI HIỆN NAY

2.1 THỰC TRẠNG LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH ỦY ĐỐI VỚI HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

2.1.1 Một vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Đồng Nai

Tỉnh Đồng Nai gồm có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 1 thành phố, 1 thị

xã và 9 huyện

- Vị trí địa lý: là tỉnh cực Bắc của miền Đông Nam Bộ, Đồng Nai có diện tích

5.862,37km2 ; phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Đông Bắc giáp Lâm Đồng, phía Tây Bắc giáp Bình Dương, Bình Phước, phía Nam giáp Bà Rịa-Vũng Tàu, phía Tây giáp thành phố

Hồ Chí Minh

- Địa hình: Đồng Nai là địa hình trung du, chuyển tiếp từ vùng cao nguyên Nam

Trung Bộ đến đồng bằng Nam Bộ, tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình dưới 100m

so với mặt biển, giảm dần từ Đông Bắc sang Tây Nam Đất đai phần lớn có kết cấu bền vững, nằm gần các tuyến giao thông thủy- bộ và hàng không rất quan trọng, thuận lợi cho cấp điện, nước và xây dựng các khu công nghiệp tập trung có quy mô lớn

- Khí hậu: mang tính chất nhiệt đới cận xích đạo thuộc khu vực Châu Á nhiệt đới

gió mùa Chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam, ngoài ra còn chịu

sự chi phối của không khí chí tuyến Thái Bình Dương từ tháng 4 đến tháng 10 Đồng Nai

có hai mùa mưa nắng rõ rệt, mùa khô kéo dài 5 đến 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau); mùa mưa kéo dài 6 hoặc 7 tháng (từ tháng 4 hoặc tháng 5 đến tháng 11) Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23,9oC đến 29oC, thấp hơn so với mức trung bình của vùng nhiệt đới (26-30oC) Với khí hậu như vậy, Đồng Nai thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày với nhiều loại cây ăn trái nổi tiếng ngay giữa thành phố của tỉnh (Biên Hòa), nhiều chủng loại rau quả làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

Trang 39

- Dân số: 2.438.000 người (tính đến 4/2009), Đồng Nai là tỉnh có số dân đứng thứ 5

so với cả nước

Đồng Nai là tỉnh có vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tiềm năng kinh tế về lao động, đất đai, ngành nghề rất dồi dào Năng lực sản xuất sau những năm đổi mới được nâng lên đáng kể Kết cấu hạ tầng (giao thông, thủy lợi, điện,…) ngày càng phát triển Luật đầu tư nước ngoài ra đời năm 1987 đã mở ra cơ hội mới cho Đồng Nai Trải qua hơn 20 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Đồng Nai

đã trở thành một trong những địa phương dẫn đầu cả nước trong việc thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường, kỹ năng quản lý… đã góp phần làm cho Đồng Nai luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, phát triển liên tục và ổn định, có vai trò ngày càng lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội tại Đồng Nai Chính sự phát triển nhanh của công ngiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tăng cao, liên tục trong nhiều năm qua và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây là một lợi thế so sánh của Đồng Nai với các địa phương khác trong cả nước về xây dựng và phát triển khu công nghiệp và thu hút đầu tư (năm 2008 thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khoảng 3 tỷ USD) Trong hơn 20 năm qua, Đồng Nai vẫn liên tục giữ được tốc độ tăng trưởng cao (thời kỳ 1991-1995: 13,9%; 1996-2000: 12%, 2001-2005: 12,8%) Riêng năm 2006 đạt 14,30%, năm 2007 đạt 15,10%, năm 2008 đạt 15,5% Chuyên san “Hồ sơ và sự kiện” của Tạp chí Cộng sản có dẫn chứng: Trong năm 2007, trong 56 địa phương thu hút được dự án đầu tư nước ngoài (không kể đầu tư vào lĩnh vực dầu khí), trong đó, Đồng Nai đứng thứ ba cả nước (sau 2 thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội) với số vốn đăng ký 1,786 tỉ USD, chiếm 10% số vốn đầu tư của cả nước Nếu tính cả số vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm sẽ có 6 địa phương lọt vào hạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên 1 tỉ USD Đó là: Thành phố Hồ Chí Minh với tổng vốn đăng ký khoảng 2,8 tỉ USD, Đồng Nai: 2,7 tỉ USD, Hà Nội: 2,16 tỉ USD, Bình Dương: 2,15 tỉ USD, Phú Yên: 1,7 tỉ USD, Bà Rịa-Vũng Tàu: 1,1 tỉ USD

Hiện nay Đồng Nai đã có 29 khu công nghiệp được phép hoạt động với diện tích

9.076 ha (cả nước có 154 khu công nghiệp với tổng diện tích đất tự nhiên 32.808 ha) Về

Trang 40

cụm công nghiệp, đến nay tỉnh đã quy hoạch 43 cụm công nghiệp, với diện tích 2.123 ha, trong đó có 24 cụm công nghiệp được phê duyệt chi tiết và 19 cụm công nghiệp đang lập quy hoạch

2.1.2 Những kết quả đạt được trong sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với tổ chức

và hoạt động của HĐND và Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII và Nghị quyết của HĐND tỉnh xác định: Phát triển nhanh, toàn diện và bền vững các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường và bảo đảm vững chắc quốc phòng-an ninh; xây dựng Đồng Nai trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ lớn và hiện đại của khu vực phía Nam,…phấn đấu đến năm 2010 trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, năm 2015 trở thành tỉnh cơ bản CNH, HĐH, vào năm 2020 trở thành tỉnh CNH, HĐH

2.1.2.1 Nội dung lãnh đạo

+ Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị

Tỉnh uỷ xác định các chủ trương, chính sách (nghị quyết đại hội, nghị quyết, chỉ thị,

kế hoạch, công văn ) làm cơ sở cho cơ quan nhà nước xây dựng các văn bản pháp lý và tổ chức thi hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai khóa VIII nêu rõ: Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo hoạt động của HĐND, UBND thông qua Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh và các đồng chí Tỉnh ủy viên là lãnh đạo của HĐND tỉnh, là thành viên của UBND tỉnh Hoạt động của Thường trực HĐND và UBND tỉnh bảo đảm theo Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Có trách nhiệm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh, của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và của cấp trên

để tổ chức chỉ đạo thực hiện thực hiện

Ngày đăng: 27/06/2014, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo Tổng kết lý luận Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006)
Tác giả: Ban Chỉ đạo Tổng kết lý luận Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Ban Kinh tế Tỉnh ủy Đồng Nai (2006), 30 năm xây dựng và phát triển kinh tế tỉnh Đồng Nai (1975-2005), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 30 năm xây dựng và phát triển kinh tế tỉnh Đồng Nai (1975-2005)
Tác giả: Ban Kinh tế Tỉnh ủy Đồng Nai
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
4. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nề tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nề tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
5. Hoàng Chí Bảo (2006), "Đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội trong sự nghiệp đổi mới - Một số vấn đề đặt ra", Tạp chí Cộng sản, (17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội trong sự nghiệp đổi mới - Một số vấn đề đặt ra
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2006
6. Nguyễn Trọng Chuẩn (2007), “Đảng phải thường xuyên tự đổi mới để đưa đất nước phát triển nhanh hơn”, Tạp chí Lý luận chính trị, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng phải thường xuyên tự đổi mới để đưa đất nước phát triển nhanh hơn”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2007
7. Nguyễn Thị Doan (2007), “Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, (777) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2007
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
22. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng - lý luận và thực tiễn (2008), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng - lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng - lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2008
23. Phạm Văn Đức (2007), “Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước”, Tạp chí Triết học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Phạm Văn Đức
Năm: 2007
24. Nguyễn Thị Thu Hà (2009), Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2009
25. Lương Quang Hiền (2009), “Góp bàn về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp bàn về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong giai đoạn hiện nay”, "Tạp chí Lịch sử Đảng
Tác giả: Lương Quang Hiền
Năm: 2009
26. Trần Đình Hoan (2008), Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005-2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005-2020
Tác giả: Trần Đình Hoan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
27. Nguyễn Văn Hợp (2000), “Luận cứ đổi mới tổ chức chính quyền địa phương”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ đổi mới tổ chức chính quyền địa phương”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Hợp
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w