1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay doc

126 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu: Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã trình bày ở trên, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là các hành vi trái pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình tr

Trang 1

LUẬN VĂN:

Vi phạm phỏp luật phũng, chống bạo lực gia đỡnh đối với phụ nữ ở Việt

Nam hiện nay

Trang 2

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong khoa học pháp lý, vấn đề vi phạm pháp luật có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng phong phú Việc nghiên cứu thấu đáo vấn đề vi phạm pháp luật sẽ giúp nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật, góp phần kiểm soát xã hội tốt, phát hiện nhanh, nhận diện đúng bản chất và xử lý chính xác các vi phạm pháp luật, tìm ra phương cách hữu hiệu điều chỉnh xã hội và định hướng việc thực thi pháp luật đạt hiệu quả

Sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng tạo, trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với sự đoàn kết một lòng của cả dân tộc, Việt Nam đã thu được nhiều thắng lợi tốt đẹp, vị thế được nâng cao và đời sống của nhân dân thay đổi Chúng ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, thực hiện nền kinh tế thị trường XHCN, mở rộng dân chủ xã hội, tăng cường xã hội hoá và đặc biệt, đang hội nhập đầy đủ trên các lĩnh vực với khu vực, thế giới và toàn cầu Trên con đường đổi mới ấy, bên cạnh những thuận lợi, chúng ta còn gặp không ít những khó khăn Một trong những khó khăn làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội là tình trạng vi phạm pháp luật hiện nay đặc biệt trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ

nữ đang ngày một gia tăng, làm ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của xã hội và ngay chính bản thân người phụ nữ đó cũng như sự phát triển bình thường của con cái họ

Ngày nay, bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, gây nhức nhối cho nhân loại, để lai nhiều hậu quả cho con người, nhất là đối với phụ nữ Mặc dù LHQ và các nước trên thế giới đã có nhiều cố gắng trong việc phòng chống bạo lực gia đình và ban hành nhiều văn kiện pháp lý liên quan đến phòng chống bạo lực gia đình và hiện đã có 89 nước trên thế giới có các quy định pháp luật riêng về phòng chống bạo lực gia đình, trong đó có

60 nước có luật riêng về phòng chống bạo lực gia đình; 7 nước có luật riêng về bạo lực chống lại phụ nữ nhưng ở khắp nơi trên thế giới, phụ nữ vẫn là nạn nhân của bạo lực gia đình Bước sang thế kỷ XXI, bạo lực gia đình không giảm mà vẫn tiếp tục lan rộng, trở thành vấn đề nghiêm trọng và phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Theo ước tính, mỗi năm trên thế giới có khoảng trên 3 triệu phụ nữ chết vì bạo lực gia đình; từ 15 đến 71% phụ nữ phải chịu một hình thức bạo lực nào đó về thể xác và tình dục ngay trong gia đình Cứ 3 phụ nữ trên thế giới thì có ít nhất một người bị đánh đập, ép buộc về tình dục hoặc bị lạm

Trang 3

dụng trong suốt cuộc đời mà những kẻ lạm dụng thường là chồng và bạn tình Bạo lực gia đình đang trở thành vấn đề phổ biến có quy mô của một đại dịch và là một biểu hiện của các mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ trên toàn thế giới, là nguyên nhân dẫn đến

tử vong và làm mất khả năng của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản Bạo lực gia đình đã và đang là một trở ngại lớn đối với sự bình đẳng, là sự vi phạm thô bạo các quyền con người Chính tính nguy hiểm và tác hại của bạo lực gia đình mà vấn đề bạo lực gia đình tại Việt Nam đã được Luật hoá, được đặt dưới sự kiểm soát của pháp luật Bạo lực gia đình

là vi phạm pháp luật ở Việt Nam, vấn đề phòng chống bạo lực gia đình được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Điều này được thể hiện trong các chính sách của Đảng và các quy định của pháp luật Điều 63, Hiến pháp 1992 quy định : "Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình, nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ"

Thể chế hoá quy định của Hiến pháp năm 1992, việc bảo vệ phụ nữ khỏi các hình thức bạo lực gia đình được quy định cụ thể, chi tiết trong nhiều văn bản pháp luật khác như Luật Hôn nhân gia đình; Bộ Luật Hình sự; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng chống bạo lực gia đình Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc phòng chống bạo lực gia đình, để các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình được thực thi trong đời sống xã hội nhưng trên thực tế, tình trạng vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình vẫn diễn ra thường xuyên ở nhiều nơi Thống kê của Bộ Văn hoá - Thể thao và

Du lịch, Tổng cục thống kê và Quỹ nhi đồng LHQ công bố ngày 26/6/2008 với điều tra của

93 ngàn hộ gia đình trên khắp mọi miền đất nước thì có tới 21,2% cặp vợ chồng đã trải qua một hình thức bạo lực gia đình như đánh, mắng, nhục mạ, ép quan hệ tình dục và như vậy

cứ 5 cặp vợ chồng thì đã có một cặp đã có hình thức bạo lực gia đình

Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đã để lại nhiều hậu quả xấu cho

xã hội, trước hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Theo báo cáo của Bộ Công an, trên toàn quốc cứ

2 đến 3 ngày có một người bị giết liên quan đến bạo lực gia đình Trong năm 2005, có 14%

số vụ giết người liên quan đến bạo lực gia đình Ba tháng đầu năm 2006, tỷ lệ này đã lên tới 30,5% Theo thống kê của ngành Toà án, trong 5 năm từ 2000 đến 2005 cả nước có 352.000 vụ ly hôn thì có tới 39.730 vụ ly hôn do bạo lực gia đình (chiếm 53,1%) Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình còn làm xói mòn đạo đức, mất tính dân chủ xã hội

Trang 4

và ảnh hưởng xấu đến thế hệ tương lai Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhiều gia đình, thế

hệ con đã lặp lại hành vi bạo lực gia đình mà khi còn nhỏ chúng đã được chứng kiến Bạo lực gia đình đang là nguy cơ gây tan vỡ và suy giảm sự bền vững của gia đình Việt nam Ngoài hậu quả về xã hội, đạo đức và sự bền vững gia đình, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình còn gây ra những hậu quả về kinh tế như chi phí chăm sóc và phục hồi sức khoẻ nạn nhân, chi phí điều tra, truy tố, xét xử cùng nhiều chi phí gián tiếp khác liên quan đến tình trạng bệnh tật, mất khả năng tham gia lao động sản xuất của nạn nhân Nhiều vụ án thương tâm liên quan đến bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã xảy ra và

số lượng tăng lên từng ngày, gây hậu qủa nhức nhối cho xã hội Điển hình như vụ bạo lực kéo dài suốt 32 năm xảy ra ở Quảng Bình mà nạn nhân là bà Xuê Đã không biết bao lần bà chết đi sống lại với những trận đòn tàn bạo của chồng Mới đây, chỉ vì không đào đâu ra tiền cho chồng uống rượu, bà đã bị chính người chồng trói lại, đánh đập tàn nhẫn, gây thương tích nghiêm trọng Nhiều hành vi dã man khác như khống chế, đổ thuốc diệt cỏ vào miệng vợ; đổ xăng đốt vợ; hành xử vợ bằng búa Những hành vi đã mất hết nhân tính đó

đã gây bức xúc cho xã hội Tiếng kêu cứu thảm thương của rất nhiều người phụ nữ đã vang lên đặt ra cho xã hội một lời giải đáp cần phải làm gì trước thực trạng vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình đối với phụ nữ Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, pháp luật

và các nhà thực thi pháp luật cùng các cơ quan có thẩm quyền cần có một cơ chế và biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho phụ nữ, giúp họ thoát khỏi bạo lực đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với các chủ thể vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình nói chung đặc biệt đối với phụ nữ nói riêng, tạo ổn định và phát triển cho xã hội Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp giúp phụ nữ thoát khỏi bạo lực gia đình,

loại bỏ vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong xã hội, đề tài " Vi phạm

phỏp luật phũng, chống bạo lực gia đỡnh đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay " có ý

nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách ở nước ta hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

ở nước ta, phòng chống bạo lực gia đình không còn là vấn đề mới và được quy định

cụ thể ở Hiến pháp và pháp luật Điều 63, Hiến pháp 92 quy định: "nghiêm cấm mọi hành

vi phân biệt đối xử, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ" Điều 107, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: "Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh

Trang 5

Các công trình nêu trên chủ yếu là các tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài nhằm giới thiệu về Luật phòng chống bạo lực gia đình của một số nước trên thế giới; nghiên cứu giới thiệu một số khía cạnh như thực trạng bạo lực gia đình, một số vấn đề đặt ra về phòng chống bạo lực gia đình trên thế giới cũng như ở Việt Nam

Tuy nhiên nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình dưới góc độ pháp lý - vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở nước ta đến nay hầu như chưa có Trong khi đó, tình trạng vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ diễn ra ngày càng nhiều với tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càng tăng, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Hơn nữa, nhu cầu của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ khỏi bị bạo lực gia đình đang đòi hỏi một hệ thống pháp luật đồng bộ với một bộ máy và con người cụ thể trên cơ sở so sánh và tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới là vấn đề cấp thiết ở nước ta

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích:

Trang 6

Đề tài có mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phòng chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở nước ta

3.2 Nhiệm vụ

Để đảm bảo mục đích nêu trên trên, luận văn xác định các nhiệm vụ chính sau:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật và vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Trên cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật, các yêu cầu của hành vi hợp pháp trong việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, luận văn có nhiệm vụ chỉ ra được các đặc điểm của vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ; nội dung vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên cơ sở phân tích và đánh giá tình hình vi phạm pháp luật, làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật cơ bản trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong những năm qua để có một bức tranh về thực trạng vi phạm pháp luật một cách cơ bản nhất trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Từ đó, phân tích các nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng trên làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp khắc phục vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này

- Nghiên cứu đưa ra các giải pháp hợp lý, toàn diện, khả thi trong phòng, chống vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ góp phần hạn chế tiến tới đẩy lùi hiện tượng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong

xã hội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã trình bày ở trên, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là các hành vi trái pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vụ bạo lực gia đình mà nạn nhân của vụ bạo lực gia đình chỉ là phụ nữ trên cơ sở lý luận chung về Nhà nước- pháp luật và pháp luật thực định

Trang 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong phạm vi cả nước từ năm 2000 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước, pháp luật về bình đẳng giới, pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp biện chứng, lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp và điều tra xã hội học

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Xây dựng lý luận về vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả của luận văn có thể được vận dụng làm tài liệu nghiên cứu về vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và góp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn

trong việc hoàn thiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam

Trang 8

Chương 2: Thực trạng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ

nữ ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay

Chương 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản phòng, chống vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam

Trang 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại vi phạm pháp luật

1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật

Trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta, pháp luật với những thế mạnh của mình đã điều chỉnh nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, được nhà nước đảm bảo thực hiện

và được nhân dân đồng tình ủng hộ, thực hiện khá nghiêm chỉnh Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn còn một số tổ chức, cá nhân không tuân thủ, chấp hành pháp luật, làm trái các quy định của pháp luật như tình trạng vi phạm an toàn giao thông còn xảy ra nhiều, nhiều vụ án giết người, tham nhũng, buôn bán ma tuý với tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càng tăng Đó là những vi phạm pháp luật

Nếu như hành vi hợp pháp là hành vi phù hợp với pháp luật, có ích cho xã hội, có mục đích, động cơ tuân thủ pháp luật thì vi phạm pháp luật là những hành vi của các chủ thể trái với pháp luật, làm ngược lại những gì pháp luật đặt ra, yêu cầu Vi phạm pháp luật xâm hại đến lợi ích vật chất và tinh thần của Nhà nước, của xã hội và của nhân dân

Vi phạm pháp luật là cơ sở duy nhất phát sinh trách nhiệm pháp lý Không có vi phạm pháp luật thì không có trách nhiệm pháp lý

Từ những phân tích trên đây, ta có khái niệm: Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, bởi lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

1.1.2 Đặc điểm vi phạm pháp luật

Đặc điểm của vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định về bản chất của vi phạm pháp luật, từ đó góp phần đề ra những biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật trong xã hội ta hiện nay

Thứ nhất: vi phạm pháp luật luôn là hành vi (hành động hoặc không hành động)

có tính xác định của con người

Trang 10

Như ta đã biết các quy định của pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh các hành vi của con người C.Mác đã viết: Ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó Cho nên vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi của con người hoặc là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức

xã hội (các chủ thể pháp luật) Vi phạm pháp luật phải biểu hiện bằng hành vi cụ thể của con người (hành động có ý thức và ý chí của con người) Vì vậy mà một người dù có ý nghĩ xấu như thế nào đi chăng nữa nếu không biểu hiện bằng hành động cụ thể thì không phải là vi phạm pháp luật

Như vậy, vi phạm pháp luật trước hết phải được thể hiện bằng hành vi cụ thể của con người mà không phải là những tư tưởng, ý nghĩ, ý niệm Bởi lẽ, trên thực tế, chúng ta không thể dùng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh, kiểm tra, đánh giá những ý nghĩ của con người

Hành vi vi phạm pháp luật được biểu hiện dưới hai hình thức:

+ Hành vi hành động: chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm

+ Hành vi không hành động: chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm

Thứ hai, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật

Tính trái pháp luật thể hiện: sự chống đối những quy định chung của pháp luật Pháp luật quy định như thế này thì chủ thể lại hành động ngược lại và trong một trường hợp cụ thể nào đó, quy phạm pháp luật bắt buộc con người phải hành động nhưng chủ thể lại không hành động Hành vi trái pháp luật bao giờ cũng xâm hại tới các quan hệ xã hội

mà pháp luật bảo vệ và là những hành vi gây thiệt hại cho xã hội

Như vậy, vi phạm pháp luật phải là những hành vi trái pháp luật, làm ngược lại những gì pháp luật đặt ra, yêu cầu Nhưng trong thực tế, có những hành vi rõ ràng đã xâm hại tới các quy định của pháp luật nhưng không bị coi là vi phạm pháp luật vì chủ thể không có lỗi như trường hợp vì phải chở bệnh nhân đi cấp cứu mà người lái xe đã đi vào đường một chiều, vượt đèn đỏ.Vì vậy để bị coi là vi phạm pháp luật, hành vi trái pháp luật phải chứa đựng lỗi của chủ thể hành vi đó

Thứ ba, vi phạm pháp luật phải là hành vi có lỗi

Trang 11

Điều này thể hiện người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải thực sự có lỗi Khi xem xét vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật thì mới chỉ dừng lại ở việc xem xét biểu hiện bề ngoài của hành vi, nghĩa là mới chỉ xem xét tới mặt khách quan của hành vi Nhưng khi nói tới hành vi vi phạm pháp luật phải thấy rằng, đó là hành vi có ý chí, có nghĩa phải xem xét tới mặt chủ quan của hành vi Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật chỉ

ra ai là người vi phạm, khuynh hướng ý chí của người đó và trạng thái tâm lý của người vi phạm tại thời điểm thực hiện hành vi trái pháp luật, cũng như thái độ của người ấy đối với hậu quả của hành vi Vì vậy, hành vi trái pháp luật bị coi là hành vi vi phạm pháp luật chỉ khi có sự biểu hiện ý chí của người thực hiện hành vi đó và chúng ta cần xác định trạng thái tâm lý của chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật đó - xác định lỗi của họ

Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu qủa hoặc tác hại của hành vi đó đối với xã hội

Một người bị coi là có lỗi khi hành vi mà họ thực hiện là kết quả của sự tự lựa chọn

và quyết định của chủ thể trong khi chủ thể có đủ điều kiện để lựa chọn và quyết định một

xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội tức là chủ thể hoàn toàn có đủ điều kiện để lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với yêu cầu của pháp luật nhưng chủ thể đã không chọn

Xét về mặt tâm lý có hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý Trong đó, lỗi cố ý được thể hiện dưới hai dạng phổ biến: lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp

Lỗi cố ý trực tiếp: là trường hợp người thực hiện hành vi trái pháp luật đã nhìn thấy trước tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và thấy được hậu quả của hành vi nhưng mong muốn thực hiện và mong muốn đạt được hậu quả của hành vi

Lỗi cố ý gián tiếp: là trường hợp người thực hiện hành vi trái pháp luật nhìn thấy trước tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước hậu quả của hành vi, tuy không mong muốn cho hậu quả xảy ra nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra

Lỗi vô ý chia thành hai dạng: lỗi vô ý do quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả

Lỗi vô ý do quá tự tin là trường hợp người thực hiện hành vi trái pháp luật thấy được sự tác hại cho xã hội của hành vi và hậu quả của nó, nhưng tin rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể khắc phục được

Trang 12

Lỗi vô ý do cẩu thả: là trường hợp người thực hiện hành vi trái pháp luật không nhìn thấy sự tác hại cho xã hội của hành vi và hậu quả của nó, mặc dù người đó có thể nhìn thấy được hoặc cần phải nhìn thấy được

Như vậy, chủ thể vi phạm pháp luật phải thực sự có lỗi vì có những người không có

đủ điều kiện để lựa chọn và quyết định hành vi (do điều kiện khách quan) tức không có lỗi thì không phải là vi phạm pháp luật

Thứ tư, vi phạm pháp luật phải do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện

Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý là khả năng tự mình chịu trách nhiệm về hành vi

vi phạm pháp luật của mình trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vì vậy, chủ thể của vi phạm pháp luật chỉ có thể là những người đã đạt tới một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, có khả năng lý trí và có tự do ý chí (có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình) Họ phải đạt một độ tuổi nhất định và không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình

Tóm lại: Trên đây là bốn yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật Khi xem xét hành vi

vi phạm pháp luật phải căn cứ vào cả bốn dấu hiệu Nếu thiếu một trong bốn dấu hiệu đó thì không thể đánh giá đó là hành vi vi phạm pháp luật Vì vậy cần phân biệt hành vi trái pháp luật với hành vi vi phạm pháp luật bởi có những hành vi trái pháp luật nhưng không phải là vi phạm pháp luật

1.1.3 Phân loại vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật đều là những hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho xã hội Tuy nhiên các loại hành vi này lại có mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội, vi phạm pháp luật được chia thành: vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm); vi phạm pháp luật hành chính; vi phạm pháp luật dân sự và vi phạm kỷ luật nhà nước

Vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm): được định nghĩa tại điều 8, Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 : "tội phạm là hành vi nguy hiểm cho

xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an

Trang 13

ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa"

Như vậy, tội phạm là những hành vi xâm hại tới những quan hệ xã hội quan trọng nhất và do những quy phạm luật hình sự quy định Chủ thể của vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm) chỉ là những cá nhân cụ thể

Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô

ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước nhưng không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật, phải bị xử phạt hành chính

Chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân và cũng có thể là tổ chức

Vi phạm pháp luật dân sự là những hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm hại tới những quan hệ tài sản và những quan hệ nhân thân có liên quan tới tài sản và nhân thân trong lĩnh vực hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng

Chủ thể vi phạm dân sự có thể là cá nhân và cũng có thể là tổ chức

Vi phạm kỷ luật nhà nước là những hành vi có lỗi xâm hại tới chế độ kỷ luật lao động, kỷ luật công vụ, kỷ luật học tập, kỷ luật quân đội v.v gây thiệt hại cho hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, trường học và những tổ chức công khác

Chủ thể vi phạm kỷ luật có thể là cá nhân và cũng có thể là tập thể, họ chỉ là cán bộ, công nhân, công chức, viên chức, học sinh có quan hệ ràng buộc (phụ thuộc) với cơ quan, xí nghiệp, trường học nào đó

1.2 Khái niệm, nội dung pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

1.2.1 Khái niệm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

1.2.1.1 Khái niệm bạo lực

Bạo lực là một hiện tượng xã hội Đã có rất nhiều định nghĩa về "Bạo lực".Theo Đại

từ điển Tiếng việt năm 1998: "Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn áp, chống lại lực lượng đối lập hay lật đổ chính quyền"; hoặc theo từ điển Tiếng việt 2003 thì "Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn áp hoặc lật đổ"[15], [53]

Trang 14

sẽ trở thành tiêu cực, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội nếu bạo lực được sử dụng sai mục đích, đặc biệt là trong những trường hợp cấm được sử dụng bạo lực Như vậy, bạo lực chính là một phương thức hành xử trong các mối quan hệ xã hội và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người

1.2.1.2 Bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình hay còn được gọi là bạo hành gia đình là một trong những hình thức bạo lực trong xã hội và nó đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của gia đình cũng như sự phát triển của xã hội Nhận thức rõ và thống nhất về khái niệm bạo lực gia đình sẽ là điều kiện để ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực gia đình trong xã hội

Có nhiều định nghĩa, nhiều quan điểm khác nhau về "bạo lực gia đình" Theo quan niệm của Hiệp hội Luật sư Hoa kỳ: bạo lực gia đình là thuật ngữ chỉ những hình thức ngược đãi mà một thành viên trong gia đình, một người sống chung trong hộ gia đình, hoặc một bạn tình gây ra cho một thành viên khác trong gia đình, một người chung sống khác, hoặc bạn tình kia

Theo Luật mẫu về bạo lực gia đình của Uỷ ban nhân quyền của Liên Hợp Quốc ngày 02/ 02/ 1996 :

"Bạo lực gia đình là tất cả các hành vi lạm dụng thể chất, tinh thần, tình dục dựa trên cơ sở giới đối với một thành viên, một người phụ nữ trong gia đình, từ hành vi đánh đập giản đơn đến gây thương tích nặng, bắt cóc, đe doạ, doạ dẫm, cưỡng bức, quấy rối, lăng nhục bằng lời nói, dùng vũ lực để vào nhà trái pháp luật, phóng hoả, huỷ hoại tài sản, bạo lực tình dục, hiếp dâm trong hôn nhân, bạo lực liên quan đến thách cưới hoặc của hồi môn, cắt bộ phận sinh dục nữ, bạo lực liên quan đến bóc lột mại dâm, bạo lực đối với người giúp việc trong gia đình "[56]

Trang 15

Luật Phòng ngừa và điều chỉnh bạo lực gia đình B.E của Thái Lan quy định: "Bạo

lực gia đình là bất kỳ hành vi nào được thực hiện một cách cố ý nhằm gây ra những thương tích về thân thể, sức khoẻ hoặc tinh thần hoặc các hành vi có khả năng gây nguy hiểm cho thân thể, sức khoẻ hoặc tinh thần của các thành viên hộ gia đình hoặc cưỡng ép lạm dụng quyền lực để các thành viên hộ gia đình phải thực hiện, không thực hiện hoặc phải chấp nhận thực hiện những hành vi sai trái, bỏ mặc"[44] Theo Luật bảo vệ chống

bạo lực gia đình của Bun-ga-ri ngày 29-3-2005: "Bạo lực gia đình là bất kỳ hành vi bạo

lực về thể chất, tinh thần hay tình dục nào, kể cả những hành vi trên trong giai đoạn chưa đạt, cũng như việc áp đặt hạn chế tự do và sự riêng tư cá nhân, nhằm vào các cá nhân đang hay đã có quan hệ gia đình hoặc họ hàng sống chung như vợ chồng hoặc sống chung trong một nhà" [10]

Theo khoản 2, Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21

tháng 11 năm 2007 quy định: "Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây

tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình"

Như vậy, dù được định nghĩa với nhiều cách khác nhau nhưng khi xem xét bạo lực gia đình, ta có thể thấy các đặc điểm:

+ Thứ nhất, bạo lực gia đình là hành vi bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia

đình tức là chủ thể có hành vi bạo lực gia đình (người gây ra bạo lực gia đình) phải là thành viên trong gia đình và nạn nhân của bạo lực gia đình là một trong những thành viên còn lại của gia đình đó

+ Thứ hai, bạo lực gia đình được thực hiện bởi lỗi cố ý chứ không thể là lỗi vô ý + Thứ ba, bạo lực gia đình là hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về

thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình

Bạo lực gia đình đang là vấn đề được dư luận xã hội quan tâm sâu sắc Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mang tính địa phương, vùng miền mà là một vấn đề toàn cầu, ở đâu cũng có, từ các nước nghèo, nước đang phát triển cho đến nước giàu có, phát triển mạnh về kinh tế và xã hội Mọi gia đình thuộc mọi tầng lớp của xã hội đều có thể gặp phải

tệ nạn này Đối tượng của các hành vi bạo hành gia đình có thể là bất kỳ ai trong đó có cả

Trang 16

1.2.1.3 Bạo lực chống lại phụ nữ và bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình

- Bạo lực chống lại phụ nữ : Theo Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc

về việc loại bỏ bạo lực đối với phụ nữ ngày 20/12/1993 : "Bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ

hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những khổ đau của phụ nữ, bao gồm cả sự đe doạ

có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do dù nó

có xảy ra trong cuộc sống riêng tư hay ở nơi công cộng " [25] Với cách định nghĩa như

trên, bạo lực chống lại phụ nữ là các hành vi bạo lực chống lại người phụ nữ trong cuộc sống riêng tư (bạo lực gia đình) và các hành vi bạo lực chống lại phụ nữ ở nơi công cộng (bạo lực ngoài gia đình)

Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc, bạo lực chống lại phụ nữ có thể phân thành 6 lĩnh vực như sau: 1) Bạo lực trong gia đình; 2) Bạo lực về giới; 3) Những tập tục hủ lậu đối với phụ nữ; 4) Tệ buôn bán phụ nữ và trẻ em gái; 5) HIV/ AIDS và bạo lực; 6) Những tội

ác chống lại phụ nữ trong chiến tranh lạnh và trong các cuộc xung đột vũ trang

- Bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình: Quan hệ giới trong gia đình là một

trong những quan hệ cơ bản tạo nên sự tồn tại của một gia đình Về thực chất nó là mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới trong gia đình mà trung tâm là mối quan hệ vợ chồng Trong mối quan hệ về giới, mặc dù thủ phạm của hành vi bạo lực gia đình có thể bao gồm

cả phụ nữ và nạn nhân của nó có thể bao gồm cả đàn ông Tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề này cho phép kết luận rằng, bạo lực gia đình về cơ bản là bạo lực chống lại phụ nữ,

và thủ phạm cơ bản là đàn ông Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực gần như luôn luôn là nam giới, thường là chồng/ người tình, hoặc chồng cũ/ người tình cũ, hay những người đàn ông quen biết của phụ nữ

Trang 17

"Bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực giữa nam giới và phụ nữ, trong đó phụ nữ thường là nạn nhân và điều này bắt nguồn từ các mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ Bạo lực thường nhằm vào phụ nữ vì họ là phụ nữ, hoặc ảnh hưởng lớn đến phụ nữ Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm, những tổn hại về thân thể, tình dục và tâm lý (bao gồm cả sự đe doạ, gây đau khổ , cưỡng bức, và/ hoặc tước đoạt sự tự do xảy ra trong gia đình hoặc trong cộg đồng, nhưng nó không hạn chế chỉ ở những dạng này Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm cả bạo lực do Nhà nước gây ra hoặc bỏ qua "[40]

Như vậy, bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình gồm tất cả những hành động bạo lực như đe doạ, khống chế, điều khiển, tước đoạt của nam giới với phụ nữ trong gia đình gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tâm lý, tình dục hay kinh tế, kể cả những lời đe doạ hay độc đoán, tước quyền tự

do

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ngoài những đặc điểm của bạo lực gia đình nói chung còn mang một đặc điểm rất quan trọng để chúng ta nhận biết và phân biệt với bạo

lực gia đình nói chung, đó là, nạn nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ chỉ là nữ

giới (nạn nhân của bạo lực gia đình có thể là tất cả đối tượng: nữ giới, nam giới, trẻ em,

người già, người tàn tật ) Chủ thể thực hiện hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ thường là nam giới và thường là người chồng trong hôn nhân, chồng cũ hay bạn tình

Với những đặc điểm đó, chúng ta cũng phân biệt được bạo lực chống lại phụ nữ nói chung và bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình Phạm vi, đối tượng bạo lực chống lại phụ nữ rộng hơn rất nhiều so với bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình và điều này xuất phát từ yếu tố rất quan trọng là yếu tố gia đình

Bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình được biểu hiện dưới nhiều hình thức ở góc

độ khái quát, chúng ta có thể nhận biết bạo lực gia đình đối với phụ nữ dưới các hình thức chính như sau:

Bạo lực thân thể: thể hiện ở việc đánh đập, hành hạ, gây thương tích cho người phụ

nữ Một số nghiên cứu cho rằng hình thức này còn bao gồm việc hạn chế các nhu cầu thiết yếu (ăn, uống, ngủ ) của nạn nhân

Trang 18

Bạo lực tình dục: Thể hiện ở việc cưỡng hiếp hay ép buộc nạn nhân làm tình hay

xem phim, ảnh khiêu dâm dù họ không muốn, không có nhu cầu, hoặc khi đang bị đau ốm, thậm chí, một số phụ nữ còn bị ép quan hệ tình dục sau khi đã bị đánh đập, cố tình gây đau đớn hoặc tổn hại cho họ trong qúa trình quan hệ sinh lý, người phụ nữ không có quyền từ chối

Bạo lực về tâm lý: Thể hiện ở việc bắt nạn nhân sống trong bầu không khí sợ hãi,

khủng bố nạn nhân đến hoảng loạn tâm thần, nhục mạ nạn nhân trước người thân hoặc công chúng điều này đôi khi làm cho người phụ nữ ngộ nhận về bản thân họ, vì vậy, nhiều phụ nữ đã tìm đến cái chết

Bạo lực về xã hội: Thể hiện ở việc cắt đứt mối quan hệ của nạn nhân và mối quan

hệ của nạn nhân với người thân trong gia đình, bạn bè, cô lập nạn nhân bằng cách nhốt trong nhà, cắt điện thoại, không cho đi đâu hay không cho giao tiếp với bất cứ ai

Bạo lực về kinh tế: Thể hiện ở việc bao vây kinh tế, kiểm soát tiền bạc, bắt nạn

nhân phụ thuộc về tiền bạc, không cho giữ tiền và đi làm, bắt phải hỏi xin tiền và chứng minh mọi mua mua sắm, chi tiêu dù lớn hay nhỏ

Cách phân chia các hình thức bạo lực như trên chỉ nhằm mục đích phân loại trên các

cơ sở Còn trên thực tế, khó có sự phân biệt một cách rạch ròi các kiểu bạo lực như vậy Các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ thường có sự kết hợp của nhiều hành vi bạo lực Có những hành động bạo lực thuộc về một loại hình bạo lực, nhưng cũng có hành động bạo lực thường kết hợp từ hai hay nhiều hình thức bạo lực Thực tế các trường hợp bạo lực trong xã hội cho chúng ta thấy hành động đánh đập (bạo lực thể chất) thường đi kèm với hành động chửi mắng, nhiếc móc, nhục mạ (bạo lực tinh thần) hoặc trường hợp bạo lực tình dục thường kết hợp cả hai hình thức bạo lực thể chất (dùng vũ lực cưỡng bức - trường hợp cưỡng dâm, hiếp dâm) và bạo lực tinh thần, tình cảm (làm nạn nhân xấu hổ, nhục nhã, đau khổ) Các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ đều để lại vết sẹo tâm lý đối với người phụ nữ và tạo ra bầu không khí ảm đạm, buồn đau trong gia đình, làm mất điều kiện phát triển tốt của trẻ em trong gia đình

1.2.1.4 Khái niệm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

Lịch sử đã chứng minh vai trò vô cùng quan trọng của người phụ nữ trong xã hội Hiện nay ở Việt Nam, với sự cố gắng mọi mặt, nhiều người phụ nữ đã đạt được những

Trang 19

thành công lớn, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước, được Nhà nước và

xã hội tôn vinh, có một gia đình êm ấm, hạnh phúc Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, cũng như ở nhiều quốc gia khác, người phụ nữ Việt Nam còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như: bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử liên quan đến giới và đặc biệt là vấn đề bạo hành về giới Rất nhiều người phụ nữ còn phải chịu bạo lực trong thời gian dài thậm chí trong suốt cuộc đời của mình với những hành vi đánh đập, hành hạ dã man, tàn bạo, tạo nên vết thương khó lành trong trái tim người phụ nữ Bạo lực gia đình đối với phụ

nữ là vi phạm quyền con người; vi phạm quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử của con người; vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ Chính vì vậy, người phụ nữ cần được bảo vệ khỏi bạo hành để họ được sống, làm việc, cống hiến và phát triển trong xã hội Việc phòng và chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, là trách nhiệm của mỗi gia đình và toàn xã hội

Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình, giúp cho người phụ nữ tránh được bạo lực gia đình, bảo đảm các quyền con người và có cuộc sống hạnh phúc

Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một công việc khó khăn và lâu dài

Để bảo vệ người phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của người phụ nữ trong xã hội, việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật Việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ chỉ đạt được hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật và phù hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc Người phụ nữ cần phải được bảo vệ mọi mặt trong hành lang pháp lý hoàn thiện bởi vì pháp luật chính là đại lượng công bằng và phương tiện hữu hiệu nhất trong việc che chắn, bảo vệ người phụ nữ trước nạn bạo hành gia đình Chính vì vậy, vấn

đề phòng, chống bạo lực gia đình nói chung trong đó có phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã được Luật hoá, là một trong những vấn đề quan trọng được đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật Cho đến nay, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đặc biệt, lần đâqù tiên, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình

đã ra đời Đây chính là cơ sở pháp lý để bảo vệ con người trong đó có người phụ nữ trước bạo hành gia đình

Trang 20

Nghị quyết của Quốc hội về chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2006-2010)

đề ra nhiệm vụ " Đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình" Thủ tướng Chính phủ đã

ban hành Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005-2010, trong đó có mục tiêu tăng cường phòng, chống bạo lực gia đình và giảm tỷ lệ bạo lực gia đình, bình quân hàng năm từ 10-15%

Chính phủ Việt Nam đã tham gia rất mạnh mẽ phong trào quốc tế trong việc bảo vệ người phụ nữ và đẩy lùi bạo lực gia đình Việt Nam đã phê chuẩn Công ước về Xoá bỏ mọi Hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) năm 1981 và cam kết với kế hoạch hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cai-rô năm 1994 và Cương lĩnh hành động của Hội nghị quốc tế về phụ nữ tại Bắc Kinh năm 1995 Với tư cách là quốc gia thành viên của công ước CEDAW, Việt Nam đã có những tiếp cận theo đúng cách tiếp cận của công ước đối với bình đẳng và bình đẳng giới Điều này được thể hiện trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, từ đạo luật gốc là Hiến pháp đến các đạo luật và các văn bản pháp luật khác đều khẳng định một nguyên tắc bình đẳng nam nữ và không có bất kỳ sự phân biệt nào trên cơ sở giới trên mọi lĩnh vực

Phòng, chống bạo lực gia đình trong đó có phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã được đề cập trong một số văn bản pháp luật của nước ta như: Hiến pháp 1992, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Tố tụng Dân sự,

Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh người cao tuổi

Những văn bản pháp luật trên đã có rất nhiều quy định về phòng, chống bạo lực gia đình, góp phần quan trọng trong bảo vệ người phụ nữ khỏi bạo lực gia đình Để công tác phòng, chống bạo lực gia đình có hiệu quả hơn nữa, ngày 21 tháng 11 năm 2007, Quốc hội khoá XII của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Luật phòng, chống bạo lực gia đình ra đời là một bước tiến tích cực, có ý nghĩa rất lớn để chúng ta tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, bảo vệ quyền con người, bảo vệ người phụ nữ, tiếp tục sự nghiệp giải phóng người phụ nữ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân Luật Phòng, chống bạo lực gia đình lần đầu tiên ra đời như tiếng chuông lớn cảnh tỉnh những ai đang có hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ, gửi đến tất cả các chủ thể trong xã hội một thông điệp rõ ràng rằng bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia

Trang 21

đình đối với phụ nữ là trái với đạo đức, đi ngược lại truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, trái với ý chí chung của xã hội, là vi phạm pháp luật, vi phạm những chuẩn mực chung của xã hội và phải chịu sự trừng phạt của xã hội, của pháp luật

Toàn bộ các quy định liên quan đến bạo lực gia đình trong các văn bản pháp luật kể trên hợp thành một hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trong đó người phụ nữ là một trong những đối tượng được bảo vệ khỏi sự tấn công của bạo hành gia đình Như vậy, chúng ta không có một hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ riêng mà Luật Phòng, chống bạo lực gia đình cũng như các văn bản pháp luật khác trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình quy định và áp dụng, bảo vệ đối với tất cả các chủ thể trong gia đình : nam giới, phụ nữ, trẻ em, người già khi họ là nạn nhân của bạo lực gia đình Vì vậy, phụ nữ là một trong các đối tượng được bảo vệ trong hành lang pháp

lý phòng, chống bạo lực gia đình chung

Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình không chỉ ghi nhận quyền con người nói chung trong đó có người phụ nữ mà còn quy định rõ các hành vi nào là bạo lực gia đình, hành vi nào bị cấm trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân,

cơ quan, tổ chức trong việc phòng, chống bạo lực gia đình; quy định những thiết chế bảo đảm việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ đạt được hiệu quả

Từ những phân tích trên, có thể khái niệm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình như sau:

Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là hệ thống các quy định pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về phòng, chống bạo lực gia đình và các lĩnh vực khác có liên quan

1.2.2 Nội dung của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình

Nhìn vào hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, ta thấy, không có

nhiều quy phạm pháp luật quy định riêng, trực tiếp về việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ mà những quy định chung đó áp dụng với tất cả các đối tượng

Trong hệ thống pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình, Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất Điều 63, Hiến pháp 1992 quy định: "nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ "; "vợ chồng phải thương yêu nhau, bình đẳng và không phân biệt đối xử"

Trang 22

Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp 1992, nội dung phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác Tiêu biểu là những

quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 là một trong những văn bản đó Bộ luật Hình sự

là căn cứ để xác định hành vi bạo lực gia đình nào là hành vi phạm tội Điều 130, Bộ

luật Hình sự năm 1999 quy định tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ: "người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm" Ngoài ra, Bộ luật hình sự Việt Nam đã hình

sự hoá nhiều hành vi bạo lực gia đình, quy định thành nhiều tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình Tuy nhiên, những điều luật đó mới chỉ quy định gián tiếp về hành vi bạo lực gia đình, chưa có nhiều quy định trực tiếp về phòng, chống bạo lực gia đình trong đó có bạo

lực gia đình đối với phụ nữ

Cùng với Bộ luật Hình sự, Luật Tổ chức Chính phủ cũng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ: "thực hiện chính sách và biện pháp bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ

về mọi mặt chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội và gia đình; bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và thực hiện quyền trẻ em; giúp đỡ người già, người khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt; có biện pháp ngăn ngừa và chống mọi hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ và trẻ em" (Khoản 4, điều 12, Luật Tổ chức Chính phủ)

Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 là một trong những văn bản pháp luật quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến

bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam còn là phương tiện hữu hiệu trong việc phòng, chống bạo lực gia đình Luật đã có nhiều điều khoản quy định trực tiếp và gián tiếp đến việc phòng, chống bạo lực gia đình Tại khoản 2, điều 4, Luật Hôn nhân và gia đình quy định: "Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn,

ly hôn giả tạo Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ Cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ,

vợ, chồng, con, cháu, anh em và các thành viên khác trong gia đình" Ngoài ra, tại khoản 3,

Trang 23

điều 4, Luật Hôn nhân và gia đình còn quy định chế tài đối với những hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình Khoản 2, điều 21, Luật Hôn nhân và gia đình đã trực tiếp quy định về phòng, chống bạo lực gia đình trong đó có bạo lực gia đình đối với phụ nữ: "Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến nhân phẩm, uy tín của nhau" hay điều 35 quy định: "Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ"

Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 cũng như các văn bản pháp luật kể trên đã có nhiều quy phạm pháp luật nhằm phòng, chống bạo lực gia đình Tuy nhiên, xét một cách tổng quát, những quy định đó vẫn còn sơ sài, tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau, thiếu tính cụ thể và chưa có những quy định pháp lý đặc thù

Để khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình nói chung trong đó có bạo lực gia đình đối với phụ nữ đồng thời nhằm đạt được hiệu quả cao hơn nữa trong việc phòng, chống bạo lực gia đình, hạn chế tiến tới đẩy lùi bạo lực gia đình, tạo nên một cuộc cách mạng thực sự trong phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã được Quốc hội khoá XII nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008 Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách trực tiếp, cụ thể về hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 đã điều chỉnh một cách có hệ thống các hành vi bạo lực gia đình để trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình Luật phòng, chống bạo lực gia đình gồm 6 chương và 46 điều với những nội dung cơ bản sau:

Chương I: "Những quy định chung" gồm 8 điều (từ điều 1 đến điều 8) quy định về phạm vi điều chỉnh; định nghĩa về bạo lực gia đình, xác định cụ thể các hành vi bạo lực gia đình; nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình; nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình; quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình; chính sách của Nhà nước, hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình và những hành vi bị nghiêm cấm

Về phạm vi điều chỉnh: Được quy định tại điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình: "Luật này quy định về phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình" Như vậy phạm vi điều chỉnh của Luật khá rộng Luật điều chỉnh nhiều vấn đề, quy định về tất cả hành vi bạo

Trang 24

lực của các thành viên trong gia đình kể cả đối với gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng, các phương thức phòng, chống bạo lực gia đình, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình đồng thời xác định trách nhiệm của toàn xã hội đối với vấn đề này và quy định về xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

Khoản 2, điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định: "Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình"

Lần đầu tiên, bạo lực gia đình được quy định trong văn bản pháp luật Việt Nam Theo đó, hành vi bạo lực gia đình trước hết phải là hành vi cố ý chứ không thể là hành vi

vô ý Thứ hai, người thực hiện hành vi bạo lực chính một trong những thành viên trong gia đình (các chủ thể ngoài gia đình bị loại trừ) Đối với bạo lực gia đình đối với phụ nữ thì chủ thể thực hiện bạo lực gia đình chính là người chồng hiện tại, người chồng cũ hoặc bạn tình; nạn nhân của bạo lực gia đình là một trong các thành viên của gia đình Thứ ba, hành

vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ngoài việc định nghĩa về bạo lực gia đình còn quy định cụ thể các hành vi bạo lực gia đình gồm:

- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc có hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

- Cưỡng ép quan hệ tình dục;

- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

Trang 25

- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên trong gia đình;

- Cưỡng ép thành viên trong gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc

về tài chính;

- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở

Các hành vi bạo lực trên cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng

Khi chủ thể là thành viên trong gia đình mà có những hành vi trên đối với một trong những thành viên trong gia đình thì bị coi là hành vi bạo lực gia đình đồng thời là hành vi

vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các

cơ quan thực thi pháp luật, các cá nhân cũng như toàn xã hội nhận thức và xác định và hiểu

rõ hơn về các hành vi bạo lực gia đình, khắc phục được tình trạng chưa có và chưa hiểu rõ quy định về hành vi bạo lực gia đình, tránh được quan niệm của một số người, bạo lực gia đình là chồng đánh vợ hoặc vợ đánh chồng, có nghĩa là phải có "đánh đập", còn "chửi mắng, lăng mạ, cô lập, xua đuổi, hay cưỡng ép " thì không phải là hành vi bạo lực gia đình hay một số người thì cho rằng hành vi đánh vợ hay chồng là chuyện bình thường xảy

ra trong cuộc sống, vì vậy, không phải là hành vi bạo lực gia đình và như vậy, không phải

là vi phạm pháp luật

Cũng như các đạo luật khác, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Việt Nam cũng

quy định "nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình" Điều 3, Luật Phòng, chống bạo lực

gia đình quy định:

"1 Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

2 Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật

Trang 26

3 Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ

4 Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình

Như vậy, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã đưa ra các nguyên tắc rất cơ bản trong phòng, chống bạo lực gia đình Bạo lực gia đình đang là một căn bệnh nguy hiểm trong xã hội, là vấn đề toàn cầu, gây ảnh hưởng đến tính mạng, danh dự, sức khỏe, nhân phẩm của người phụ nữ trong gia đình Do vậy, để ngăn chặn đẩy lùi bạo lực gia đình thì nguyên tắc phòng ngừa là chính được đặt lên hàng đầu; hành vi bạo lực gia đình phải nhanh chóng được phát hiện để bảo vệ, giúp đỡ nạn nhân đồng thời xử lý nghiêm minh đối với người có hành vi bạo hành; mỗi cá nhân và cả xã hội phải có trách nhiệm trong việc phòng, chống bạo lực gia đình Nội dung của các nguyên tắc này được thể hiện xuyên suốt toàn bộ 46 điều luật, thể hiện tính nhân đạo của nhà nước ta đồng thời xác định trách nhiệm của mỗi cá nhân và toàn xã hội trong chiến dịch đẩy lùi và xoá bỏ nạn bạo hành gia đình, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật Việt Nam

Về những hành vi bị nghiêm cấm, điều 8, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định:

- Các hành vi bạo lực gia đình quy định tại điều 2 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình;

- Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình

- Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình

- Trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình

- Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình

- Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật

Trang 27

Về các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình quy định các biện pháp như: quy định về thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình; hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình (từ điều 9 đến điều 17)

Có thể thấy rằng, phòng ngừa là một biện pháp rất quan trọng và có tác dụng lớn trong việc ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực gia đình Nếu như thực hiện phòng ngừa tốt, bạo lực gia đình sẽ xảy ra ít hơn rất nhiều Để ngăn ngừa và xử lý có hiệu quả về bạo lực gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chú trọng tới các giải pháp giáo dục tại cộng đồng bởi vì khi ý thức và kiến thức của các cá nhân trong xã hội về pháp luật hôn nhân và gia đình; về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình được nâng cao sẽ là điều kiện quan trọng nhất để tránh được bạo lực gia đình xảy ra Luật còn chú trọng tới việc phát huy hết khả năng và vai trò của gia đình, dòng họ; bạo lực gia đình cần được phát hiện và xử lý sớm từ mâu thuẫn xích mích nhỏ, không để phát sinh thành mâu thuẫn lớn gây bạo lực gia đình Việc xử lý xích mích mâu thuẫn nhỏ thông qua các biện pháp hoà giải cơ sở Tuỳ theo từng sự việc mà việc hoà giải do gia đình, dòng họ tiến hành hay cơ quan, tổ chức tiến hành hoặc do tổ chức hoà giải cơ sở tiến hành Quy định này rất quan trọng nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của cộng đồng đối với mỗi thành viên trong xã hội, phát huy được tính dân chủ trong nhân dân, từ đó góp phần thay đổi nhận thức và nâng cao ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật đặc biệt là pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

Trang 28

Về bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình: Chương III: "Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình" gồm 2 mục và 13 điều (từ điều 18 đến điều 30) quy định về các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ ở mức cao nhất thông qua các biện pháp như: phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình (điều 18); biện pháp ngăn chặn, bảo vệ (điềug19); cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp xã (điều20), quyết định của toà án (điều 21); biện pháp chăm sóc tại cơ sở khám chữa bệnh (điều 23); biện pháp tư vấn (điều 24); hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân Những quy định trên thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta, thể hiện sự quan tâm, bảo vệ quyền con người, kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Một trong những biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân rất quan trọng là biện pháp cấm tiếp xúc và biện pháp này được thực hiện theo điều 20 và điều 21 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Khoản 1, điều 20, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định: "Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 3 ngày khi có đủ các điều kiện sau đây: a có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình; b hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khoẻ hoặc đe doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình; c người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc" Hay điều 21, Luật Phòng, chống bạo lực quy định: "toà án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người có hành

vi bạo lực gia đình quyết định biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 4 tháng khi

có đủ các điều kiện sau đây: a có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám

hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình; b hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khoẻ hoặc

đe doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình; c Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc"

Có thể nói các quy định về biện pháp cấm tiếp xúc rất chặt chẽ, không phải vụ bạo lực gia đình nào cũng áp dụng được biện pháp này mà cần có sự đồng ý của nạn nhân bạo

Trang 29

lực gia đình Biện pháp cấm tiếp xúc là một trong những giải pháp đặc biệt và hữu ích để bảo vệ nạn nhân, giảm thiểu hậu quả bạo lực gia đình, hạn chế tội phạm Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp này, các chủ thể có thẩm quyền phải đảm bảo các điều kiện mà Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định

Về trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực

gia đình, tại chương IV: "Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong

phòng, chống bạo lực gia đình" gồm 11 điều (từ điều 31 đến điều 41) quy định về trách

nhiệm cụ thể của cá nhân; trách nhiệm của gia đình; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; trách nhiệm của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; trách nhiệm của

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; trách nhiệm của Bộ Y tế; trách nhiệm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường và các cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan thông tin đại chúng và trách nhiệm của cơ quan Công an, Toà án, Viện kiểm sát

Mỗi cá nhân trong xã hội phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác đồng thời kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền Mỗi gia đình phải giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình Các cơ quan theo vị trí, vai trò và chức năng của mình, chủ động phòng ngừa, nâng cao ý thức và trình độ pháp luật của nhân dân về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và tạo điều kiện cho các cơ quan khác thực hiện việc phòng, chống bạo lực gia đình đạt được hiệu quả cao

Chương V: "Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đìnhvà khiếu nại,

tố cáo" gồm 3 điều (từ điều 42 đến điều 44) quy định về xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; quy định về việc áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng; khiếu nại, tố cáo

và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trang 30

Theo quy định của điều 42, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình: khi chủ thể có bất

kỳ hành vi vi phạm pháp luật bạo lực gia đình nào, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà

bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Như vậy, cũng như các loại vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực khác, khi chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm Quy định này sẽ giúp việc phòng, chống bạo lực gia đình đạt kết quả cao hơn bởi trước đây, rất nhiều chủ thể còn chưa nhận thức được hậu quả mình phải gánh chịu khi thực hiện hành vi bạo lực gia đình đồng thời là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai có ý định, hành động bạo lực đối với những người thân của mình

Đối với các chủ thể vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng

vũ trang nhân dân, nếu bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định trên thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Hiện nay Nghị định về vấn đề này đang trong quá trình lấy ý kiến

Điều 43, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn quy định: "1 người thường xuyên

có hành vi bạo lực gia đình đã được góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư mà trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày áp dụng biện pháp này vẫn còn hành vi bạo lực gia đình nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị áp dụng biện pháp giáo dục tại

xã, phường, thị trấn; 2 Người có hành vi bạo lực gia đình đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà tiếp tục thực hiện hành vi bạo lực gia đình nhưng chưa đến mức

bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; đối với người dưới 18 tuổi thì có thể bị ấp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng" Việc

áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng nhằm ngăn chặn, hạn chế bạo lực gia đình, mặt khác giúp đỡ, tạo cơ hội cho người

vi phạm có thể sửa chữa tại cộng đồng Điều này làm tăng hiệu quả công tác phòng, chống

vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

Chương VI: "Điều khoản thi hành" gồm 2 điều- điều 45 và điều 46 quy định về hiệu

lực thi hành và hướng dẫn thi hành

Trang 31

Như vậy, với những quy định trực tiếp, cụ thể, rõ ràng, sâu sát về bạo lực gia đình, các hành vi bạo lực gia đình cũng như cách thức xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình là chuẩn mực pháp lý cơ bản và quan trọng trong việc đấu tranh, hạn chế và đẩy lùi bạo lực gia đình Luật ra đời là một dấu ấn pháp lý quan trọng trên con đường hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới, hôn nhân và gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình Để Luật được đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng của nó, ngày 04 tháng 02 năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2009/ NĐ -

CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Cùng với các văn bản pháp luật khác, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã tạo nên một hệ thống pháp luật khá đầy đủ trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình Với tính chính xác, kịp thời, cụ thể, rõ ràng, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để hạn chế, chặn đứng, đẩy lùi được nạn bạo hành gia đình đang gia tăng nhất là đối với phụ

nữ hiện nay

1.3 Khái niệm, đặc điểm, nội dung vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng,

chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ (vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ)

1.3.1 Khái niệm vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Bạo hành gia đình có thể tấn công vào bất kỳ gia đình nào và nạn nhân có thể là tất

cả các đối tượng như: nam giới, phụ nữ, người già, trẻ em nhưng theo những nghiên cứu gần đây nhất thì nạn nhân của bạo hành gia đình chủ yếu là phụ nữ và trẻ em trong đó có từ

95-98% nạn nhân bạo hành gia đình là phụ nữ

Trong gia đình, người phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng nhưng một nghịch lý xảy ra là rất nhiều người phụ nữ lại bị đầy đoạ, hành hạ, đánh đập, xỉ nhục trong chính gia đình của mình mà người gây ra những nỗi đau ấy lại là người chồng, người bạn tình- người

mà họ đã đem lòng yêu thương, hy sinh, phấn đấu để xây dựng một mái ấm Thực tế đã cho thấy, rất nhiều người phụ nữ đang và có nguy cơ phải gánh chịu những nỗi đau như vậy Nhưng trước tình trạng nạn bạo hành đang tấn công ồ ạt vào mỗi quốc gia, mỗi địa phương và từng gia đình thì nhiều người còn mơ hồ về khái niệm "bạo hành gia đình", vì thế không nhận thức được hành vi bạo hành gia đình là hành vi vi phạm pháp luật Nhiều người đã cho rằng, trong gia đình, mâu thuẫn giữa vợ và chồng là chuyện bình thường

Trang 32

không thể tránh khỏi trong cuộc sống và là chuyện riêng của mỗi gia đình, vì vậy, chồng có đánh vợ cũng là chuyện bình thường nhất là khi người vợ thấy mình có lỗi Thậm chí, nhiều người phụ nữ bị đánh đập thường xuyên nhưng vẫn không nghĩ rằng mình đã bị xâm hại đến quyền con người và mình là đối tượng được pháp luật bảo vệ, vì thế vẫn cắn răng chịu đựng rồi dần dần thành quen Hơn nữa, do ảnh hưởng trong một thời gian dài tư tưởng

"trọng nam khinh nữ" nên trong xã hội nhiều ông chồng ngang nhiên đánh vợ, coi vợ như vật sở hữu của mình, cho vợ làm gì thì vợ mới được làm và họ coi đó là việc hiển nhiên, là quyền "được dạy vợ" của mình Có những ông chồng "phàm phu tục tử" dạy vợ bằng cách

ép vợ "học" những trận đòn vô cớ, để lại những vết thương trên da thịt; còn có những ông chồng "học rộng tài cao" thì lại có cách dạy vợ "văn minh" hơn, kín tiếng nhưng lại vô cùng thâm thuý như: chửi bới, lăng mạ, xỉ nhục gây ức chế cho người phụ nữ Những hành động này tuy không để lại những vết thương trên cơ thể nhưng lại làm cho người phụ

nữ tê liệt về tinh thần, bị trầm cảm kéo dài, tổn hại nghiêm trọng đến tinh thần và thể xác Cho đến nay, chúng ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh về bạo lực gia đình Lần đầu tiên, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008 Tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình vẫn không giảm bởi vì người trong cuộc thì cam chịu và không nhận thức được thế nào là hành vi vi phạm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Nạn nhân bị bạo hành thì không ý thức được quyền lợi của mình nên cứ tiếp tục cam chịu; người gây ra bạo hành thì không nhận thức được hành vi bạo hành của mình là

vi phạm pháp luật nên cứ "hồn nhiên" vi phạm pháp luật hoặc có hiểu pháp luật nhưng lại

có ý thức coi thường pháp luật; còn những người ngoài cuộc thường không can thiệp vì thường có suy nghĩ đó là chuyện riêng của mỗi gia đình, vợ chồng tự giải quyết các mâu thuẫn và tự chịu trách nhiệm đối với tổ ấm của họ Chính vì vậy, chỉ khi nào các vụ việc xảy ra quá nghiêm trọng như gây thương tích nặng hay chết người thì các cơ quan có thẩm quyền mới phát hiện ra để có các biện pháp can thiệp cần thiết Những quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đặc biệt những quy định cụ thể, chi tiết trong Luật phòng, chống bạo lực gia đình chính là phương tiện quan trọng nhất để các ông chồng không lấy được "gia đình" ra làm rào chắn, để che đậy hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình của mình

Trang 33

Phòng, chống bạo lực gia đình đã được Luật hoá Vì vậy, bạo lực gia đình là vi phạm pháp luật Những hành vi xâm hại đến các quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là những hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình Trong những trường hợp nhất định, khi nạn nhân của các vụ bạo lực gia đình

là phụ nữ, thì những hành vi đó là hành vi vi phạm pháp luật pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Từ những phân tích trên, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với

phụ nữ được hiểu là những hành vi trái pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình mà nạn nhân của bạo hành gia đình là người phụ nữ

Như vậy, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là các hành vi bạo hành gia đình đối với phụ nữ mà trong đó nạn nhân là người phụ nữ, người gây

ra bạo hành chủ yếu là nam giới Đồng thời, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ còn là các hành vi liên quan đến việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ như những hành vi trái pháp luật trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý các trường hợp bạo hành gia đình đối với phụ nữ

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, trong xu thế gia đình ở Việt Nam là gia đình

mở, người phụ nữ không chỉ bị bạo hành từ phía người chồng mà còn bị bạo hành từ phía gia đình nhà chồng, bố, mẹ chồng, anh em của chồng Mặt khác, trong thực tế có nhiều ông chồng cũng phải chịu bạo lực gia đình nhưng trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu, đề cập đến các vụ bạo hành gia đình đối với phụ nữ, việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vụ bạo lực gia đình đối với phụ nữ trái với pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình Đó chính là nội dung cơ bản của vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.3.2 Đặc điểm của vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ

nữ

Để hiểu chính xác và đầy đủ về vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

đối với phụ nữ, chúng ta cần phân biệt Bạo lực gia đình đối với phụ nữ với vi phạm pháp

luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Trang 34

Trước hết, chúng ta cần khẳng định bạo lực gia đình với phụ nữ là hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình với phụ nữ nhưng bạo lực gia đình đối với phụ nữ chỉ là một nội dung cơ bản, một phần trong vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Bởi vì, ngoài hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ còn nhiều nội dung, cũng như nhiều hành vi khác liên quan tới việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Đặc điểm của bạo lực gia đình đối với phụ nữ là:

- Về chủ thể: chủ thể thực hiện hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ gần như

hoàn toàn, chủ yếu là nam giới, là thành viên trong gia đình, bất kỳ tầng lớp, nghề nghiệp, trình độ và địa vị nào Người gây ra bạo lực gia đình đối với phụ nữ có thể là chồng (chồng trong hôn nhân, chồng đã ly hôn; bạn tình (nam nữ chưa kết hôn có quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng)

- Về đối tượng bị bạo hành: người phụ nữ trong gia đình (còn được gọi là nạn nhân

của nạn bạo hành trong gia đình)

- Về yếu tố lỗi: lỗi mà chủ thể thực hiện phải là lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý

gián tiếp)

- Về hành vi: hành vi bạo lực gia đình là một trong những hành vi được quy định

tại điều 2, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình cùng với các quy định trong các văn bản pháp luật khác có liên quan đến hành vi mà chủ thể thực hiện trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình Cụ thể là các hành vi sau:

+ Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc có hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

+ Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

+ Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

+ Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

+ Cưỡng ép quan hệ tình dục;

Trang 35

+ Cưỡng ép thành viên trong gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc

về tài chính;

+ Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở

- Về khách thể: những tổn hại hoặc có khả năng bị tổn hại về thể chất, tinh thần,

kinh tế đối với người phụ nữ (tính mạng, danh dự, nhân phẩm)

Đây là những đặc điểm cơ bản để chúng ta nhận biết hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Trong khi đó, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, có

sự khác biệt so với hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ như sau:

- Về hành vi: ngoài những hành vi được quy định tại điều 2, Luật Phòng, chống

bạo lực gia đình, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ còn bao gồm cả những hành vi được quy định tại điều 8, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình như:

- Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình

- Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình

- Trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình

- Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình

- Lợi dụng hoạt động phòng, chống baọ lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật

- Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình

Trang 36

- Về chủ thể: chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia

đình đối với phụ nữ rất đa dạng: là nam giới, là thành viên trong gia đình, bất kỳ tầng lớp, nghề nghiệp, trình độ và địa vị nào (trong trường hợp bạo lực gia đình đối với phụ nữ) Ngoài ra, còn có các chủ thể khác, có thể là nam giới hoặc nữ giới, có thể là thành viên trong gia đình hoặc ngoài gia đình; hoặc là người có thẩm quyền xử lý về vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ; cơ quan, người có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình nhưng đã không làm đúng chức năng của mình Hay cá nhân khi thấy hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã không kịp thời ngăn chặn, thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền, thấy hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã cấu thành tội phạm mà không tố giác

- Về đối tượng bị bạo hành: người phụ nữ trong gia đình (còn được gọi là nạn nhân

của nạn bạo hành trong gia đình)

- Về yếu tố lỗi: lỗi mà chủ thể thực hiện có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý

- Về khách thể: những tổn hại hoặc có khả năng bị tổn hại về thể chất, tinh thần,

kinh tế đối với người phụ nữ (tính mạng, danh dự, nhân phẩm)

Từ sự so sánh và phân tích trên, có thể rút ra các dấu hiệu (đặc điểm) của vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ như sau:

- Thứ nhất, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ luôn là

hành vi được xác định của con người

Cũng như các hành vi vi phạm pháp luật khác, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trước hết phải là hành vi cụ thể của con người Suy nghĩ của con người dù xấu như thế nào chăng nữa, nếu không được biểu hiện ra ngoài thành hành động cụ thể thì không bị coi là vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Chỉ những hành vi được thể hiện bằng hành động cụ thể mới có thể bị quy kết là đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật Trường hợp người chồng nghĩ rằng để dạy cho vợ một bài học thì phải đánh vợ một trận Nếu mới chỉ trong suy nghĩ thì không có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, song nếu suy nghĩ đó được thể hiện bằng hành vi đánh vợ gây thương tích đó chính là hành vi vi phạm pháp luật phòng chống bạo lực trong gia đình Hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình được biểu hiện dưới hai

hình thức là hành động như người chồng đã có hành vi đánh vợ gây thương tích hoặc

Trang 37

không hành động như người chồng đã hành hạ người vợ bằng cách trong một thời gian dài

thờ ơ, không nói chuyện, không về nhà làm người vợ bị tổn thất nặng về tinh thần

Như vậy, dấu hiệu đầu tiên để nhận biết vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là nó phải biểu hiện ra ngoài bằng hành vi bởi pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ không điều chỉnh những suy nghĩ của con người

- Thứ hai, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là

hành vi trái pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

Tính trái pháp luật thể hiện sự chống đối, làm ngược lại những quy định của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Cụ thể, chủ thể có những hành vi trái với quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình hay các quy định trong các văn bản pháp luật khác có quy định về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ như Hiến pháp 1992, Bộ luật Hình sự 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Bộ luật Dân sự 2005 Chẳng hạn, chủ thể có một trong những hành vi quy định tại điều 2 hay điều 8, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình như người chồng có hành vi cưỡng ép vợ quan hệ tình dục Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ cấm những hành vi trên, người phụ

nữ có quyền được bảo vệ về tính mạng, danh dự, nhân phẩm nhưng người chồng đã xâm hại đến quyền đó của người phụ nữ, làm trái lại những gì mà pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình yêu cầu, đặt ra thì đó chính là hành vi trái pháp luật

Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật nhưng là hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Chỉ các hành vi liên quan đến lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, trái với các quy định trong hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình mà nạn nhân của bạo lực gia đình phải là phụ nữ mới là

vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Đặc điểm này giúp ta phân biệt vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ với các loại vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực khác

Thứ ba, vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ phải

là hành vi có lỗi

Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ phải là hành vi có lỗi Đây là dấu hiệu không thể thiếu được của bất kỳ loại vi phạm pháp luật nào bởi vì dấu hiệu này xác định thái độ tâm lý của chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật Lỗi chính

Trang 38

Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Nhưng nếu là hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ thì lỗi phải là cố ý Còn các trường hợp khác thì không nhất thiết phải là lỗi cố ý

Thứ tư, chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ phải có năng lực pháp luật và năng lực trách nhiệm pháp lý đầy đủ

Điều này đòi hỏi, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải đạt một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, có khả năng nhận thức được sự việc và điều khiển được hành vi và tự do ý chí Hay nói khác đi, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm phải đạt một độ tuổi nhất định, không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Trong thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp, người chồng thường uống rượu say rồi về hành hạ, đánh đập vợ thì vẫn bị coi là vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và phải chịu trách nhiệm pháp lý vì mặc dù lúc đó họ không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng họ đã có lỗi trong việc tự đặt mình vào trong tình trạng say đó

Trong mỗi trường hợp vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ

nữ khác nhau, thì chủ thể gây ra vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là khác nhau: có trường hợp chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, ngoài các điều kiện trên còn bắt buộc phải là nam giới (trường hợp bạo lực gia đình đối với phụ nữ) Có trường hợp, chủ thể phải là người có nhiệm vụ, quyền hạn (không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ) như : người có thẩm quyền đã không xử lý người có hành vi bạo lực gia đình- điều tra viên không khởi tố

Trang 39

vụ án, không khởi tố bị can khi biết chính xác và có đầy đủ căn cứ pháp lý rằng bị can đó

đã có hành vi phạm tội trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ;

Từ những phân tích trên ta thấy, khi xem xét hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, phải căn cứ vào cả bốn dấu hiệu kể trên Các dấu hiệu trên là tiêu chí để ta phân biệt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ với các dạng vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

1.3.3 Nội dung của vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ

nữ

Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là những hành vi xâm hại đến thể chất, tinh thần, kinh tế của người phụ nữ, xâm hại đến các nguyên tắc, các quy định của pháp luật trong việc bảo vệ người phụ nữ thoát khỏi bạo lực gia đình, xử lý những người đã gây ra bạo lực gia đình cho người phụ nữ Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Người gây ra bạo lực gia đình đối với phụ nữ (nam giới: người chồng, người bạn tình) đã thực hiện một trong các hành vi được quy định tại điều 2, Luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ là vợ hoặc nữ giới Cụ thể: hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông bà và cháu, giữa cha, mẹ và con, giữa vợ và chồng, giữa anh, chị, em với nhau; cưỡng ép quan hệ tình dục; cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi cố ý khác làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; cưỡng ép lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ, kiểm soát thu nhập nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; có hành vi trái pháp luật buộc ra khỏi chỗ ở

Ngoài những hành vi trên, người gây ra bạo lực gia đình đối với phụ nữ còn thực hiện một số hành vi khác như: hành vi trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện , báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình mà họ thực hiện; hành vi cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình được quy định tại điều 8, Luật phòng, chống bạo lực gia đình Hay chủ thể đã thực hiện những hành vi

Trang 40

quy định trong Bộ luật Hình sự như hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ được quy định tại điều 130, Bộ luật Hình sự Tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ hay các hành vi khác của người gây ra bạo lực gia đình đối với phụ nữ bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo những tội danh tương ứng được quy định tại Bộ luật Hình sự, bồi thường thiệt hại nếu gây ra thiệt hại hoặc

bị kỷ luật Chẳng hạn hành vi gây thương tích của người chồng đối với vợ mà tỷ lệ thương tích từ 11% trở lên thì chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội cố ý gây thương tích

- Những chủ thể khác, mặc dù không thực hiện hành vi bạo lực gia đình đối với phụ

nữ nhưng lại có những hành vi liên quan, trái với pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi bạo lực gia đình đối với phụ

nữ Cụ thể chủ thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức đã không làm đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình được quy định tại Luật Phòng, chống bạo lực gia đình cũng như các văn bản pháp luật khác có liên quan đến bạo lực gia đình Các chủ thể đã thực hiện những hành vi

bị cấm tại điều 8, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình như: cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ; sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình; trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình; cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình; lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật; dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình Như vậy, các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời, đúng pháp luật các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ nhưng các chủ thể đã làm ngược lại yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật Tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm của hành vi mà các chủ thể phải chịu từng loại trách nhiệm pháp lý khác nhau

Trong thực tế xã hội, ở nhiều địa phương, khi nạn nhân cần sự giúp đỡ của chính quyền thì nhiều cơ quan chức năng vẫn chỉ muốn "bình thường hoá" những xung đột trong gia đình, không quan tâm giải quyết đơn thư, lơ là công tác giám sát, giải quyết các vụ bạo lực gia đình Như vậy, do chưa nhận thức đúng về vấn đề bạo lực gia đình mà ở nhiều địa phương, chính những người cán bộ làm công tác pháp luật, các cơ quan có trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước, giải quyết các vụ bạo lực gia đình đã không làm đúng nhiệm

Ngày đăng: 27/06/2014, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Bộ Chính trị (1993), Nghị quyết số 04-NQ/TW, 12/7/1993 về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (1993)
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1993
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
19. Greaves, Lorraine (1995), "Seleted Estimates of the Costs of Violence against Women". London, Ontario: Centre for Research on Violence Against Ưomen and Children Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seleted Estimates of the Costs of Violence against Women
Tác giả: Greaves, Lorraine
Năm: 1995
20. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
23. Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Đà Nẵng (2006), Báo cáo 5 năm (2001-2005) về tình hình bạo lực gia đình và các hoạt động pgòn, chống bạo lực gia đình của các cấp Hội phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Đà Nẵng (2006)
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Đà Nẵng
Năm: 2006
26. Lê Phương Mai (1997). Bạo lực đối với phụ nữ: Những hậu quả đối với sức khoé sinh sản... Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Bạo lực đối với phụ nữ: Những hậu quả đối với sức khoé sinh sản
Tác giả: Lê Phương Mai
Năm: 1997
27. Lê Thi. Viện khoa học xã hội Việt Nam. Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hoá và sự phát triển bền vững. Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hoá và sự phát triển bền vững
Nhà XB: Nxb KHXH
30. Quốc hội nước CHXHCHVN (1946), Hiến pháp 1946 31. Quốc hội nước CHXHCHVN (1959), Hiến pháp 1959 32. Quốc hội nước CHXHCHVN (1980), Hiến pháp 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp 1946 "31. Quốc hội nước CHXHCHVN (1959), "Hiến pháp 1959 "32. Quốc hội nước CHXHCHVN (1980)
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCHVN (1946), Hiến pháp 1946 31. Quốc hội nước CHXHCHVN (1959), Hiến pháp 1959 32. Quốc hội nước CHXHCHVN
Năm: 1980
36. Quốc hội nước CHXHCHVN (2005), Bộ luật dân sự 2005 37. Quốc hội nước CHXHCHVN (2007), Luật bình đẳng giới 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự 2005 "37. Quốc hội nước CHXHCHVN (2007)
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCHVN (2005), Bộ luật dân sự 2005 37. Quốc hội nước CHXHCHVN
Năm: 2007
42. Tổ chức y tế thế giới 2002, Báo cáo về bạo lực và sức khoẻ, Geneva, tr12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về bạo lực và sức khoẻ
44. Thái Lan, Luật phòng ngừa và điều chỉnh bạo lực gia đình 45. The Beijing Platform for Action:http://www1.umn.edu/humanrts Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phòng ngừa và điều chỉnh bạo lực gia đình
48. Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2005), Báo cáo về tình hình xét xử năm 2005 49. Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên (2001-2005), Báo cáo về bạo lực gia đình thông qua hoạt động xét xử (2001-2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình xét xử năm 2005 "49. Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên (2001-2005)
Tác giả: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Năm: 2005
55. UNFPA/SDC (2006), Bạo lực gia đình: Sự thay đổi ở việt Nam - Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực gia đình: Sự thay đổi ở việt Nam
Tác giả: UNFPA/SDC
Năm: 2006
60. Vũ Mạnh Lợi 1999. Bạo lực trên cơ sở giới tại Việt Nam.HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực trên cơ sở giới tại Việt Nam
62. WHO (1997) Bạo lực đối với phụ nữ: một vấn đề ưu tiên về sức khoẻ. WHO, Phòng Phát triển và Sức khoẻ của phụ nữ, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Bạo lực đối với phụ nữ: một vấn đề ưu tiên về sức khoẻ
64. Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết số 11/NQ-TW, ngày 27/7/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.NC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11/NQ-TW, ngày 27/7/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. N
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2007
46. The Vienna Declảation and Programme of Action (A/CONF.157/23), 12 July 1993. Nguồn: http://www.unhchr.ch Link
1. Bạo lực đối với phụ nữ: Gánh nặng sức khoẻ tiềm ẩn, Các tài liệu thảo luận của Ngân hàng thế giới Khác
2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1984), Chỉ thị số 44/CT-TW, 07/6/1984 về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w