Chủ trương của Đảng là phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh trên cơ sở ba chế độ sở hữu toàn dân, tập thể, tư nhân; hình thành nhiều hình thứ
Trang 2
mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, đất nước ta đang thực hiện đường lối đổi mới, mở rộng quan hệ hợp tác
và hội nhập kinh tế quốc tế Chủ trương của Đảng là phát triển mạnh các thành phần kinh
tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân); hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Tất cả các thành phần kinh tế trên đều hoạt động theo pháp luật và là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạch tranh lành mạnh Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế
tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế
ở các thành phần kinh tế nêu trên thì kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài là những loại hình kinh tế mới thực sự xuất hiện và phát triển như là những thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế Đây là những thực thể kinh tế sống động và luôn có sự nhạy cảm cao trong sự phát triển của mọi nền kinh tế, trong đó có các doanh nghiệp ngoài nhà nước Các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các nhóm công ty… Dù tên gọi có khác nhau, nhưng các doanh nghiệp ngoài nhà nước luôn giữ vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và còn tồn tại lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Do đó, các doanh nghiệp ngoài nhà nước luôn được Đảng ta cùng các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách quan tâm khảo sát, đánh giá, phân tích nguyên nhân và tính hiệu quả của nó đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế đất nước, để từ đó các nhà lãnh đạo và các chuyên gia nghiên cứu đề ra chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp trong từng giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Đặc biệt, trước xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng sâu, thì vấn đề kinh tế thị trường
Trang 3Tuy nhiên, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng là một mô hình mới chưa có trong tiền lệ lịch sử Do đó có nhiều thời
cơ, thuận lợi, nhưng cũng chứa đựng nhiều khó khăn, thách thức đan xen
Nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chủ động tìm cách phát huy những mặt tích cực, đồng thời hạn chế tiêu cực, kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, hướng mọi hoạt động của các thành phần kinh tế nói chung, trong đó có các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, trước hết cần phải đi sâu nghiên cứu một cách tỷ mỷ, thận trọng đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước
để hiểu biết thật đầy đủ và toàn diện về tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp ngoài nhà nước; phân tích rõ vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên, nhất là thực trạng công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước Từ đó đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm tăng cường công tác phát triển đảng viên, xây dựng và củng
cố các tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng cao cả của Đảng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhất quán chủ trương phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt Trong xây dựng Đảng, phải coi trọng trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực hiện tốt giữa xây dựng và thường xuyên chỉnh đốn Đảng
Trang 4
Kể từ khi Đảng được thành lập cho đến nay, trong cả lý luận và thực tiễn Đảng ta luôn coi trọng xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng gắn với nâng cao chất lượng đảng viên, coi đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng
Những năm gần đây, Trung ương Đảng luôn có sự quan tâm đặc biệt tới nâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, chú trọng đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên cả về số lượng và chất lượng ở tất cả các loại hình tổ chức
cơ sở đảng Việc phát triển đảng viên đã được tăng cường chỉ đạo chặt chẽ, nhất là những vùng trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, những nơi ít hoặc chưa có đảng viên, đặc biệt là trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước; chú trọng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước cho cán bộ, đảng viên, tạo sự chuyển biến cơ cấu đội ngũ đảng viên theo hướng tích cực
ở tỉnh Phú Thọ, công tác phát triển đảng viên nói chung, công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng trong những năm qua đã được các cấp uỷ đặc biệt quan tâm, chú trọng Công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã được Tỉnh uỷ Phú Thọ xác định có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay, thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có
sự quản lý của Nhà nước Các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có đến được với công nhân lao động hay không; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ , văn minh thực hiện có kết quả cao hay thấp, tổ chức cơ sở đảng có thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ là hạt nhân chính trị lãnh đạo trong doanh nghiệp hay không… đều phụ thuộc vào đội ngũ đảng viên, cũng như chất lượng, hiệu quả công tác phát triển đảng viên
Công tác phát triển đảng viên bao gồm những nội dung, quy trình rất chặt chẽ, là những thành tố rất quan trọng tạo nên chất lượng đội ngũ đảng viên, chất lượng đội ngũ cấp uỷ viên và cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm tăngcường sự lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức
cơ sở đảng, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị trong doanh nghiệp Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Phú Thọ đã ra nhiều nghị quyết chuyên đề về tăng cường công tác phát triển đảng viên ở nhiều loại hình tổ chức cơ sở đảng để tập trung chỉ đạo Do đó,
Trang 5
nhận thức của cán bộ, đảng viên và người lao động nói chung, trong doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng đã được nâng lên một bước; một số doanh nghiệp ngoài nhà nước đã kết nạp được đảng viên và thành lập được tổ chức cơ sở đảng, chi bộ; hoạt động của các
tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước từng bước được khẳng định tốt, góp phần quan trọng giúp hội đồng quản trị, giám đốc doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Bên cạch những kết quả đã đạt được, công tác phát triển đảng viên ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ thời gian qua vẫn còn bộc lộ nhiều khuyết điểm, hạn chế cần phải khắc phục; số lượng các doanh nghiệp ngoài nhà nước phát triển được đảng viên và thành lập được tổ chức đảng nhìn chung chưa tương xứng với tốc độ phát triển của doanh nghiệp; chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Do đó, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ hiện nay là vấn đề rất cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Doanh nghiệp ngoài nhà nước nói chung, công tác xây dựng tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp uỷ, cơ quan làm công tác tổ chức, các nhà nghiên cứu, các doanh nhân thường xuyên quan tâm, chú trọng bởi đây là loại hình doanh nghiệp được ra đời trong quá trình đổi mới đất nước theo chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường của Đảng, thời gian hoạt động thực tế chưa nhiều và cũng bởi tính nhạy cảm của chính vấn đề này trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, cũng như yêu cầu đòi hỏi cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khu vực kinh tế ngoài tư nhân, trong đó có các doanh nghiệp ngoài nhà nước, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống - xã hội
Để thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước cần phải tập trung đẩy mạnh việc xây dựng, củng cố và phát triển các tổ chức đảng, trong
đó vấn đề ưu tiên hàng đầu là phải tăng cường phát triển đảng viên ở tất cả các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước, để từ đó đưa chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hoạt động đúng hướng, hiệu quả
Trang 6
Những năm gần đây, trên các phương tiên thông tin đại chúng đã có khá nhiều bài viết xung quanh vấn đề này Nhiều văn bản chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh uỷ và ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ; các đề tài khoa học cấp nhà nước, đề tài khoa học cấp tỉnh nghiên cứu, viết về đề tài này như:
- Chỉ thị 07- CT/TW ngày 23/11/1996 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ”;
- Quy định 15- QĐ/TW ngày 26/11/1996 của Bộ Chính trị về “ Chức năng, nhiệm
vụ của đảng bộ, chi bộ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ”;
- Quy định 16- QĐ/TW của Bộ Chính trị về “ Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ trong các doanh nghiệp tư nhân ”;
- Quy định số 99- QĐ/TW ngày 4/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “ Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh nghiệp có vốn Nhà nước liên doanh với nước ngoài”;
- Quy định số 100- QĐ/TW ngày 4/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “ Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân”;
- Quy định số 140- QĐ/TW ngày 16/5/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “ Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong công ty cổ phần có vốn Nhà nước
”;
- Quy định số 141- QĐ/TW ngày 16/5/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “ Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ”;
- Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2008 của bộ chính trị về đảng viên làm kinh
tế tư nhân
Một số nhà xuất bản đã cho ra những cuốn sách đề cập về các doanh nghiệp ngoài nhà nước như:
- Tổ chức đảng ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh và phương thức hoạt động trong
cơ chế thị trường hiện nay của tác giả Trần Trung Quang (Nxb Lao động, Hà Nội, 1999);
Trang 7- Kết luận số 195-KL/TU, ngày 11/12/2001 về "Tăng cường công tác lành đạo, chỉ đạo của tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước"
- Nghị quyết số 22-NQ/TU ngày 1/11/2007, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về
“Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở tỉnh Phú Thọ trong tình hình mới”
- Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 21/08/2006 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về tiếp tục tăng cường công tác phát triển đảng viên giai đoạn 2006-2010”
- Nghị quyết số 24 -NQ/TU, ngày 20/10/2008, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh "
Về tiếp tục củng cố, phát triển tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước đến năm 2015"
- Quyết định số 3239/2004/QĐ- UB ngày 22/10/2004 của ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ quy định về phối hợp và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh
- Đề tài khoa học "Thực trạng và những giải pháp củng cố, phát triển tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở tỉnh Phú Thọ" của tác giả Nguyễn Thị Va (1997)
- Đề tài khoa học "Một số giải pháp cơ bản tạo nguồn kết nạp đảng viên ở vùng núi khu vực III tỉnh Phú Thọ" của tác giả Nguyễn Hữu Trí (2004)
- Đề tài khoa học "Thực trạng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên ở tỉnh Phú Thọ hiện nay" của tác giả Phạm Ngọc Quỳnh (2006)
Nhìn chung, các bài viết, các cuốn sách, các công trình khoa học nêu trên, nhất là các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh ủy Phú Thọ đã đề cập đến nhiều khía cạch
Trang 8
về công tác xây dựng Đảng nói chung, trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng với những nội dung rất phong phú Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống về công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, một loại hình doanh nghiệp rất mới mẻ, có nhiều tiềm năng và đang có xu hướng phát triển ngày càng mạnh trong nền kinh tế thị trường hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài, luận văn
đi sâu phân tích nhằm đánh giá thực trạng công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ, qua đó đề xuất các giải pháp có tính khả thi để thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ đặc điểm, vị trí, vai trò của các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ hiện nay
- Đưa ra quan niệm về công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
- Khảo sát, phân tích thực trạng công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ từ năm 2005 đến nay Chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm hạn chế, phân tích nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm
- Đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chỉ nghiên cứu về công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ năm 2005 đến nay Đề xuất các giải pháp định hướng đến năm 2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trang 9
5.1 Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, những quan điểm, nguyên tắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng Đảng, nhất là công
tác phát triển đảng viên là cơ sở lý luận và phương pháp luận để thực hiện đề tài luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp phương pháp lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, tổng kết thực tiễn
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Bước đầu đưa ra quan niệm về công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
- Chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
- Đánh giá đúng thực trạng công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ năm 2005 đến nay
- Đưa ra những dự báo về những nhân tố tác động ảnh hưởng và những giải pháp chủ yếu góp phần thực hiện có hiệu quả công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đổi mới đất nước giai đoạn hiện nay
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển một số vấn
đề lý luận về công tác phát triển đảng viên nói chung và công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ và các huyện, thành, thị uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ Phú Thọ trong công tác chỉ đạo thực tiễn nhằm tăng cường công tác phát triển đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên hoặc có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo giúp cho việc giảng dạy và học tập bộ môn xây dựng Đảng ở trường chính trị tỉnh, các lớp trung cấp lý luận chính trị
8 Kết cấu của luận văn
Trang 10
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương 7 tiết
Trang 11
Chương 1 công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh phú thọ hiện nay -những vấn đề lý luận và thực
tiễn
1.1 khái quát về các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh phú thọ
1.1.1 Doanh nghiệp ngoài nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
1.1.1.1 Quan niệm của C.Mác, Ăngghen, Lênin về doanh nghiệp ngoài nhà nước
Khái niệm doanh nghiệp ngoài nhà nước chưa được C Mác, Ăngghen đề cập một cách rõ ràng, cụ thể dưới dạng tường minh trong các tác phẩm kinh điển Tuy nhiên, C Mác, Ăngghen đã có nhiều tác phẩm phân tích sâu sắc về hình thức "đa chủ sở hữu" trong doanh nghiệp, tức là dạng doanh nghiệp cổ phần - một trong những loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trong
đó có các doanh nghiệp ngoài nhà nước
Theo C Mác, Ăngghen doanh nghiệp đa chủ sở hữu bao gồm nhiều loại, có loại
cổ đông là tư nhân, những nhà tư bản, nhưng đều thuộc thành phần kinh tế tư nhân Trong một số tác phẩm của mình, Ph Ăng ghen đã gọi các doanh nghiệp đa sở hữu đó là" công ty cổ phần của nhà tư bản tập thể" hoặc "công ty cổ phần trực tiếp mang hình thức
tư bản xã hội, đối lập với tư bản tư nhân" [47, tr.667]
Khi nghiên cứu về chế độ sở hữu, phương thức sản xuất của chế độ tư bản, Ăngghen đã khẳng định: ngay trong chế độ tư bản cũng đang có sự chuyển đổi về hình thức sở hữu, phương thức sản xuất; Ăngghen cho rằng các "xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa cũng như những nhà máy hợp tác, đều phải được coi là những hình thái quá độ từ
phương thức tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể" [33, tr.673]
Như vậy, các doanh nghiệp đa hình thức sở hữu nêu trên thực chất được coi là thành phần kinh tế nào? doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần hay doanh nghiệp
tư nhân? doanh nghiệp nào thuộc loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nào là doanh nghiệp ngoài nhà nước? Hợp tác xã có phải là một loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ (là người lao động), cổ đông là các xã viên hợp tác xã thì có phải thuộc loại hình kinh
Trang 12đã đề cập một cách tổng thể những giải pháp về cải cách kinh tế, chính trị, xã hội nhằm nhanh chóng phục hồi đất nước sau chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chính sách kinh tế mới có nhiều nội dung, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng biểu hiện tập trung nhất trên năm vấn đề cơ bản sau:
Một là, thực hiện chế độ thu thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán lúa mì, coi
thương nghiệp là mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa thành thị với nông thôn và sự liên minh giai cấp về kinh tế giữa công nhân với nông dân
Hai là, áp dụng những hình thức khác nhau của chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi đó
là mắt xích trung gian để xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ba là, Sử dụng các quan hệ hàng hóa - tiền tệ, thực hiện khuyến khích lợi ích vật
chất và tinh thần đối với người lao động, khai thác mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới
Bốn là, thực hiện điện khí hóa nước Nga, coi đó như một trong những điều kiện
tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội
Năm là, củng cố Chính quyền Xô viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợp
chặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế, thực hiện chế độ kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước chuyên chính vô sản đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống, kinh tế,
xã hội; trên cơ sở liên minh kinh tế để tăng cường củng cố liên minh công nông về chính trị
V.I Lênin phân tích sâu sắc năm thành phần kinh tế đang tồn tại ở nước Nga khi đó: Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng; sản xuất hàng hóa nhỏ; chủ nghĩa tư bản
tư nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước; chủ nghĩa xã hội Trong đó, chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là một thành phần kinh tế được V.I Lênin luận giải rất cặn kẽ, đồng thời khẳng định có thể sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước vào mục đích xây
Trang 13
dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy, không được tự hạn chế ở chỗ đem chủ nghĩa tư bản đối lập một cách trừu tượng với chủ nghĩa xã hội Lê-nin kêu gọi "phát triển sự trao đổi bằng đủ mọi phương tiện và làm cho bằng được, không sợ chủ nghĩa tư bản, vì cái phạm vi đã quy định cho nó ở trong nước ta (về mặt kinh tế, thì do tước quyền sở hữu của địa chủ và tư sản; về mặt chính trị, do có chính quyền công nông) cũng đủ nhỏ hẹp, đủ "vừa phải''[47, tr.278-279]
Chủ trương của Lênin là đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ Mở rộng việc "để cho nông dân được tự do trao đổi, cả việc phát triển tiểu công nghiệp,
để cho chủ nghĩa tư bản - là chủ nghĩa lớn lên trên cơ sở tiểu tư hữu và tiểu thương nghiệp - được đôi chút tự do; chúng ta không sợ nó, vì đối với chúng ta, chủ nghĩa tư bản đó hoàn toàn không đáng sợ gì cả"[47, tr.375]
1.1.1.2 Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí minh về doanh nghiệp ngoài nhà nước
Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc Tư tưởng của Người đã và đang soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, trở thành những giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam
và có sức lan toả ra thế giới
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, thực dân Pháp liền quay trở lại nhằm nô dịch nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc trong điều kiện mới Nhanh chóng triển khai thực hiện chính sách kinh tế mới theo hướng nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, cùng bình đẳng với nhau Tư tưởng về phát triển kinh tế nhiều thành phần của Người được thể hiện rất sớm, ngay trong bài viết "Toàn dân kháng chiến" năm 1946, Người kêu gọi các nhà giàu có mau mau góp vốn lại để mở các công ty kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, giao thông, tích cực tăng gia sản xuất, lưu thông buôn bán và chính phủ mới sẽ bảo đảm không tịch thu một cách vô điều kiện các cơ sở kinh tế tư nhân
Trong sách "Thường thức chính trị" gồm 50 bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
ký bút danh Đ.X đăng trên nhiều số báo Cứu quốc năm 1953, Người đã chỉ ra ở nước ta
Trang 14
thời điểm đó đang tồn tại sáu thành phần kinh tế: kinh tế địa chủ phong kiến; kinh tế quốc doanh; kinh tế hợp tác xã; kinh tế cá thể; kinh tế tư bản của tư nhân và kinh tế tư bản quốc gia Đồng thời, phân tích rõ những mặt tích cực, mặt hạn chế của từng thành phần kinh tế đối với sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; chỉ ra những thành phần kinh tế cần phải nhanh chóng loại bỏ vì không còn phù hợp với chế độ xã hội mới, những thành phần kinh tế cho phép tồn tại và phát triển nhưng phải được Nhà nước quản lý Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Kinh tế tư bản tư nhân Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần xây dựng kinh tế"còn" kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh, và do Nhà nước lãnh đạo Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội" [36, tr.221]
Người đánh giá cao những đóng góp của kinh tế tư nhân và chỉ ra chính sách của Đảng và Nhà nước cần phải ủng hộ, khuyến khích sự phát triển đối với thành phần kinh
tế này " Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân" [36, tr.222]
Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước còn tạm thời bị chia cắt, miền Nam còn nằm dưới sự thống trị của chính quyền tay sai của Mỹ Đất nước chuyển sang một thời kỳ mới đã mở ra những điều kiện thuận lợi cho miền Bắc đi vào khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1955-1957), đồng thời chuẩn bị tốt mọi điều kiện thuận lợi để bước vào kế hoạch triển kinh tế - xã hội
ba năm đầu tiên (1958-1960) Trong quá trình thực hiện kế hoạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng vấn đề cải tạo các thành phần kinh tế theo hướng đi lên chủ nghĩa xã hội Đối với thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và những người lao động riêng lẻ khác, Người chủ trương bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ
họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện
Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I, ngày 18/12/1959, trong "Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi" do Người trình bày đã xác định rõ, hiện nay trong nước ta có bốn hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất, đó là: Sở hữu của Nhà nước tức là của
Trang 15họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác Cụ thể là:
Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện" [38, tr.598]
Đối với những nhà tư sản công thương "Nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về
tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước Đồng thời, Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác"[38, tr.598]
1.1.1.3 Quan niệm của Đảng và Nhà nước ta về doanh nghiệp ngoài nhà nước
Việt Nam trong lịch sử là một quốc gia với sản xuất nông nghiệp lúa nước là chính Cuối thế kỷ thứ XIX, kinh tế tư nhân mới được bắt đầu hình thành và phát triển nhưng chủ yếu còn rất sơ khai, ngành nghề còn khá đơn điệu, chủ yếu là tiểu - thủ công nghiệp và được phân bố tập trung thành các làng nghề và ở một số đô thị lớn Đến đầu thế kỷ thứ XX, kinh tế tư nhân được quan tâm phát triển với quy mô lớn hơn, ngành nghề cũng đa dạng hơn trên một số lĩnh vực chính như: thương mại, công nghiệp, giao thông…
Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, Đảng ta chủ trương tập trung vào khôi phục hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, tiến hành cải cách ruộng đất, xây dựng cơ sở vật chất cho miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và chi viện cho miền Nam đánh Mỹ
Trang 16
Thời kỳ này, hầu như chưa có kinh tế quóc doanh, kinh tế tập thể chưa phát triển, nền kinh tế - xã hội ở nước ta giai đoạn này chủ yếu là kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ Do đó, tháng 5-1955, Đảng và Chính phủ đã ban hành tám chính sách nhằm khuyến khích đẩy mạnh phát triển sản xuất, cụ thể là: Bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất; bảo hộ tài sản của nông dân và các tầng lớp khác; khuyến khích khai hoang, phục hóa bằng miễn giảm thuế ba năm cho ruộng khai hoang Không phải đóng thuế phần tăng vụ, tăng năng xuất; tự do thuê mướn nhân công, thuê mướn trâu bò, vay và cho vay; khuyến khích phát triển tổ đổi công; khuyến khích phát triển những ngành nghề phụ và nghề thủ công trong nông dân và nông thôn; bảo hộ và khuyến khích, khen thưởng những hộ nông dân làm ăn giỏi; nghiêm cấm phá hoại sản xuất
Với những chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ, nhân dân rất phấn khởi tăng gia sản xuất, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, góp phần hoàn thành giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh, chuẩn bị mọi điều kiện cho miền Bắc bước vào kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, với nội dung chủ yếu là biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chỉ gồm hai hình thức sở hữu: quốc doanh và tập thể Xây dựng mô hình kinh tế tập trung cao độ nhằm huy động mọi nguồn lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giải phóng dân tộc, đấu tranh thống nhất nước nhà
Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất cùng bước vào thời kỳ phát triển kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế, đồng thời tiếp tục duy trì mô hình kinh tế tập trung, bao cấp trong cả nước ở thời bình Do đó, đã không huy động được sức mạnh của các thành phần kinh tế và tính tích cực, chủ động của mọi người dân hăng say lao động sản xuất, tạo ra của cải vật chất cho xã hội Vì vậy, đã diễn ra khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài trong cả nước, hàng triệu người không có việc làm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn
Trước tình hình đó, vấn đề đặt ra là làm sao mở đường tạo điều kiện cho phát triển
để mọi người có việc làm, thu nhập, đồng thời động viên mọi người dân, mọi tổ chức huy động vồn vào sản xuất kinh doanh, kích thích phát triển sản xuất là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng Vì vậy, Đảng ta đã ban hành một số chính sách mới nhằm tạo cho sản
Trang 17
xuất phát triển; Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Khóa IV (tháng 9-1979) ra đời với chủ trương cho sản xuất bung ra, nhất là sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế (Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 20 tháng 9 năm 1979 về tình hình và nhiệm vụ cấp bách và Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 20 tháng 9 năm 1979 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương) Các Nghị quyết trên có ý nghĩa đột phá trong tư duy, nhận thức mới của Đảng
ta, là bước chuyển có ý nghĩa to lớn trong việc mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, huy động mọi nguồn lực đầu tư cho sản xuất kinh doanh, góp phần đưa nền kinh tế
ở nước ta từng bước thoát khỏi cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, tạo điều kiện cho công cuộc cải cách kinh tế những năm sau này
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Khóa V đã tập trung phân tích, phê phán cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp không còn thích hợp, cần phải chuyển sang cơ chế mới cho phù hợp Đồng thời, tiếp tục khẳng định công cuộc đổi mới
là yêu cầu tất yếu và cấp thiết
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) đã đánh dấu bước ngoặt to lớn trong đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước; hoạch định chiến lược, sách lược quan trọng trong cải cách kinh tế nhằm nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử nước ta Đại hội chỉ rõ, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế, chính sách đó cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế liên kết với nhau Đó là những quan điểm đổi mới, dũng cảm của Đảng ta, dám nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thầt Những quan điểm có tính chiến lược, sáng tạo của Đảng là phương châm chỉ đạo hành động xuất phát từ quy luật khách quan và yêu cầu thực tiễn sự phát triển của lực lượng sản xuất Chủ trương của Đảng là "coi nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ"[3, tr.56-57] Coi phát triển kinh tế nhiều thành phần là phù hợp với quy luật khách quan; sử dụng đúng các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, nhất là kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Đảng ta chỉ rõ sử dụng có chọn lọc một bộ phận kinh tế tư bản tư nhân Việc cải tạo đối với thành phần kinh tế này được tiến hành theo phương châm " cải tạo để sử dụng, sử dụng để cải tạo tốt hơn Đối với một số ngành, nghề nhất định trong
Trang 18
khu vực sản xuất và dịch vụ, ở những nơi cần thiết, tư nhân được dùng vốn và kỹ thuật của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh và đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước Quy mô của cơ sở sản xuất và phạm vi hoạt động được quy định tuỳ theo ngành nghề và mặt hàng được phép kinh doanh"[16, tr.241]
Năm 1987 là năm mở đầu việc thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI đã có ba hội nghị quan trọng để giải quyết những vấn đề cấp bách về kinh tế Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông nhằm thực hiện “4 giảm” (giảm lạm phát, giảm bội chi ngân sách, giảm tốc độ tăng giá, giảm khó khăn về đời sống) và tạo thuận lợi cho sản xuất phát triển Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương quyết định “chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế” Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương quyết định phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch nhà nước ba năm 1988-1990 và năm 1988, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, nhằm tập trung cho ba chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu
Ngày 15/7/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 16- NQ/TW về "Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh", và tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu, khóa VI (tháng 3 năm 1989) "Kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng nhiệm vụ ba năm tới", Đảng ta tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới với chủ trương phát triển nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất khác nhau Trong đó xác định, kinh tế quốc doanh có vai trò chủ đạo, đủ sức chi phối thị trường, song không nhất thiết phải chiếm tỷ trọng lớn ở mọi ngành nghề; tư nhân được phép kinh doanh không hạn chế
về quy mô, địa bàn hoạt động và những ngành nghề mà luật pháp không cấm
Nghị quyết Đại hội VII của Đảng tiếp tục một lần nữa khẳng định những quan điểm đổi mới do Đại hội VI vạch ra, đồng thời nhấn mạnh"Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước; trong
đó, kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường
tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức"[17, tr.101]
Trang 19
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được Đại hội VII thông qua (tháng 6-1991) xác định rõ về quan điểm của Đảng ta đối với phát triển các thành phần kinh tế ngoài nhà nước "Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng Các tổ chức kinh tế tự chủ và liên kết, hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh" [17, tr.141]
Tại Đại hội VII đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, trong đó chỉ rõ quyền tự do, tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế
Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu
và thu nhập hợp pháp Nền kinh tế có nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển có hiệu quả nền sản xuất xã hội Mọi đơn vị kinh tế, không phân biệt quan hệ sở hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật [17, tr.159]
Từ ba loại hình sở hữu cơ bản (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân),
sẽ hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng như: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế gia đình Trong đó " Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm Nhà nước có thể liên doanh bằng nhiều hình thức với tư nhân trong và ngoài nước, hình thành loại doanh nghiệp thuộc thành phần tư bản nhà nước"[17, tr.163-164]
Ngày 06 tháng 11 năm 1995, Ban Bí thư có Thông báo số 130-TB/TW, đánh giá
về kinh tế tư nhân, khẳng định quan điểm của Đảng ta trong phát triển thành phần kinh tế
tư nhân giai đoạn hiện nay
Kinh tế tư bản tư nhân đang có đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất Bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh
Trang 20
Khuyến khích các chủ doanh nghiệp dành cổ phần ưu đãi để bán cho người lao động tại doanh nghiệp Xây dựng quan hệ hợp tác giữa chủ và thợ trên cơ sở bảo đảm lợi ích hợp pháp của cả hai bên Cần phát triển đa dạng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước áp dụng nhiều phương thức góp vốn liên doanh giữa Nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong nước nhằm tạo thế, tạo lực cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tăng sức hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài[18, tr.603]
Đại hội VIII của Đảng (1996) xác định rõ một số chủ trương, chính sách lớn đối với các thành phần kinh tế, tiếp tục cụ thể hóa chủ trương nhất quán xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển, hợp tác, liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế ở cả trong và ngoài nước
Đại hội IX của Đảng (2001) đề ra việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện khung pháp
lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính nhằm huy động tối
đa mọi nguồn lực cho sự phát triển của các thành phần kinh tế Nhà nước bảo đảm " Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước,
kể cả đầu tư nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau "[13, tr.98-99]
Đại hội khẳng định kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh
tế quốc dân; phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Do
đó, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và các hiệp hội doanh nghiệp đối với kinh tế tư nhân Nhà nước cho phép doanh nghiệp tư nhân cũng được dùng giá trị quyền sử dụng đất đai để thế chấp vay vốn ngân hàng hoặc góp cổ phần liên doanh với doanh nghiệp trong nước và nước ngoài; thực hiện bình đẳng trong các quan hệ kinh tế, nhất là chính sách về tài chính, tín dụng giữa các thành phần kinh tế Bảo đảm để kinh tế tư nhân tiếp cận và được hưởng các ưu đãi của
Trang 21
Nhà nước như đối với kinh tế hộ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho đầu tư theo các chương trình mục tiêu quốc gia Nhà nước hỗ trợ về xây dựng cơ sở hạ tầng chung (giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc ), tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định rõ hơn các thành phần kinh tế cấu thành nền kinh tế quốc dân hiện nay ở nước ta; vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế, trong đó có các doanh nghiệp ngoài nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa dất nước Đại hội chỉ rõ hiện nay đất nước ta có năm thành phần kinh tế cơ bản, đó là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế
tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong năm thành phần kinh tế trên thì các doanh nghiệp đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội, do đó các cấp ủy cần phải hết sức quan tâm chú trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, khả năng cạch tranh cao của các doanh nghiệp ở cả trong nước và ngoài nước Vì vậy, Đảng ta chủ trương
"Xây dựng và thực hiện Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp, xây dựng một
hệ thống doanh nghiệp Việt Nam có sức cạch tranh cao, chủ lực là một số tập đoàn kinh
tế và công ty lớn dựa trên hình thức cổ phần Cần tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hoá; đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể; phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân; thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài"[15, tr.28]
Quốc hội nước ta cũng đã thông qua một số luật như: Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (tháng12-1990); Luật sửa đổi một số điều của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (tháng 6-1994); Luật Doanh nghiệp nhà nước (tháng 4- 1995); Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (tháng 11 -1996); Luật Doanh nghiệp ( tháng 6- 1999), Luật này thay thế cho Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật sửa đổi một số điều của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm (tháng 6-2000); Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003; Luật Doanh nghiệp ( tháng 11 -2005) thay thế Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, trừ trường hợp quy định tại
Trang 22
Khoản 2 Điều 166 của Luật này; các quy định về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000
Các luật nêu trên của Quốc hội và Nhà nước ta là việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng Đồng thời, đây là những văn bản hết sức quan trọng nhằm tạo
cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động được thuận lợi trong quá trình sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, hiện nay chưa thấy một văn bản nào định nghĩa về doanh nghiệp ngoài nhà nước Do đó, để đi sâu nghiên cứu đề tài này, trước tiên chúng ta cần phải làm rõ thế nào là doanh nghiệp ngoài nhà nước, những doanh nghiệp nào được coi là doanh nghiệp ngoài nhà nước
Theo từ điển tiếng Việt 1997-2004 The Free Vietnamese Dictionary Project thì:
Doanh nghiệp (doanh là lo toan, làm việc; nghiệp là nghề) là làm nghề sản xuất để
kiếm lời Doanh nghiệp là cơ sở hoạt động sản xuất để kiếm lời
Nhà nước là tổ chức chính trị của xã hội, cơ quan chuyên chính của giai cấp nắm
quyền thống trị về kinh tế
Ngoài là những vị trí không thuộc phạm vi được xác định nào đó, trái với trong; là
tập hợp những vị trí tuy thuộc phạm vi được xác định nào đó, nhưng nằm ở ranh giới và hướng ra phía những vật xung quanh; là phía trước so với phía sau, hoặc phía những vị trí
ở xa trung tâm, trái với trong; là vùng địa lý ở vào phía bắc so với địa phương được xác định làm mốc, trong đất nước Việt Nam, trái với trong; là khoảng thời gian sau thời điểm xác định làm mốc không bao lâu; là phạm vi những gì không trong phạm vi được xác định; là phạm vi những gì khác, không kể những cái được xác định; là từ biểu thị điều sắp nêu ra nơi sự vật nói đến tồn tại hoặc sự việc, hiện tượng nói đến xảy ra, nơi đó được coi
là ở phía, vùng ngoài so với vị trí lấy làm mốc
Tư nhân là cá nhân đối với đoàn thể, nhà nước
Quốc doanh là do nhà nước kinh doanh
Theo quan niệm chung nhất về phân chia doanh nghiệp hiện nay dựa trên hình thức sở hữu tư liệu sản xuất thì có hai loại doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước và
Trang 23
doanh nghiệp ngoài nhà nước Quy mô, mức độ sở hữu về tư liệu sản xuất trong từng loại hình doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng có nhiều sự khác nhau
Theo Luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 11, ngày 29/11/2005 (Số 60/2005/QH 11) Trong đó, tại Điểm 22 - Điều 4 ghi rõ “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”[49, tr.4]
Như vậy: Doanh nghiệp ngoài nhà nước là doanh nghiệp không phải do Nhà
nước kinh doanh; là doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm quyền thống trị về kinh tế; là những doanh nghiệp có từ 0% đến 50% vốn điều lệ của Nhà nước
Các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước có thể có nhiều tên gọi khác nhau như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các nhóm công ty; quy mô sản xuất, vốn, lao động, công nghệ rất đa dạng; ngành nghề sản xuất kinh doanh ở nhiều lĩnh vực: xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Dù tên gọi, quy mô, ngành nghề sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài nhà nước có khác nhau, nhưng đều có cùng bản chất là Nhà nước không nắm quyền chi phối vốn điều lệ của doanh nghiệp, mà vốn điều lệ của doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cùng góp lại, cùng làm với lao động làm thuê hoặc thuê mướn lao động hoàn toàn
Do đó, mọi hoạt động của doanh nghiệp là do chính doanh nghiệp quyết định theo quy định của Luật Doanh nghiệp
Chủ trương tạo điều kiện giải phóng và khai thác mọi khả năng để đẩy mạnh sự phát triển của lực lượng sản xuất giúp chúng ta khai phát huy cao độ mọi tiềm năng vốn
có của con người và nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào sản xuất kinh doanh Thừa nhận sự tồn tại của kinh tế ngoài nhà nước là một quan điểm hoàn toàn đúng đắn dựa trên
cơ sở xuất phát từ lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân: Nhà nước tranh thủ được nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật, kinh nghiệm của các nhà doanh nghiệp trong quản lý kinh doanh trong và ngoài nước, người lao động có việc làm và thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện góp phần vào sự tăng
Trang 24
trưởng và phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước Trong quá trình sử dụng các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, Đảng ta luôn luôn chú trọng phát huy những mặt tích cực, đồng thời hạn chế những mặt trái và ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường bằng sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở xây dựng và từng bước hoàn chỉnh hệ thông luật pháp có liên quan Thực hiện quan điểm nhất quán về phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật của một quốc gia đi từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, một nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Xóa bỏ mọi định kiến, phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế ngoài nhà nước; thực hiện dân chủ hóa về kinh tế; bảo đảm cho mọi thành phần kinh tế hoạt động theo đúng pháp luật, tuân thủ pháp luật, tôn trọng và bình đẳng trước pháp luật
Trong quá trình tìm tòi đường lối đổi mới đất nước, nhất là việc lãnh đạo phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã từng bước trưởng thành mới về tư duy, trước hết là tư duy lý luận, kịp thời tổng kết thực tiễn, nhân rộng các điển hình tiên tiến, kiên quyết xóa bỏ cách nghĩ, cách làm cũ của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, bảo đảm đầy đủ quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở và của mọi người dân dưới sự quản lý
thống nhất của Nhà nước Đồng thời, đổi mới cơ chế quản lý chung, nhằm thực hiện đúng
đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy mạnh mẽ động lực làm chủ của nhân dân lao động, nâng cao quyền hạn và trách nhiệm của cơ sở và của cấp ủy, chính quyền các cấp
Những quan điểm, đường lối của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân trong cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay
là định hướng quan trọng trong phát triển kinh tế tư nhân nói chung và đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng, Các quan điểm này đã và đang được thể chế hóa trong hiến pháp, các bộ luật, nghị định của Chính phủ, tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước hoạt động thuận lợi, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thực tế những kết quả đạt được trong hơn hai mươi năm qua là một minh chứng khẳng định đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là hoàn toàn đúng đắn
và phù hợp xu hướng phát triển của toàn nhân loại Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở đất nước ta đã đạt được những thành tựu rất to lớn
Trang 25
và có ý nghĩa lịch sử: đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và có sự phát triển với tốc độ tăng trưởng khá nhanh chóng; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát trển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được đẩy mạnh; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện rõ rệt; chính trị -
xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được giữ vững; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường…
1.1.2 Đặc điểm và vai trò các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
1.1.2.1 Sự ra đời của các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, được tái lập ngày 01-01-1997 trên
cơ sở tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú Với diện tích tự nhiên là: 3.518,58 km2 (chiếm 1,067% diện tích cả nước), có tọa độ địa lý 20o55’ đến 21o43’ vĩ độ Bắc và từ 104o48’ đến
105o27’ kinh độ Đông Cách Thủ đô Hà Nội 85 km, là điểm tiếp giáp giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây bắc: phía Bắc giáp Tuyên Quang, Yên Bái; phía Nam giáp Hòa Bình; phía Đông giáp Vĩnh Phúc, Hà Nội và phía Tây giáp Sơn La Dân
số 1.216.599 người, trong đó lao động xã hội toàn tỉnh là 727.500 người, chiếm 59,8% dân số Trên địa bàn có 28 dân tộc anh em, đông nhất là dân tộc Kinh với số dân là 1.044.979 người, chiếm 85,89% dân số của tỉnh; dân số là người dân tộc thiểu số là 171.629 người, chiếm 14,11% số dân toàn tỉnh; mật độ dân số 376 người/km2
Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám 1945, dân cư Phú Thọ rất thưa thớt, nhất là
ở các huyện miền núi Kinh tế trong thời kỳ này vẫn chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước nhưng sản lượng thấp do thủy lợi không được chú ý Sự đô hộ của thực dân Pháp đã đẩy dân cày tới chỗ bần cùng Chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Phú Thọ là vơ vét, bóc lột, nhưng khách quan đã đưa Phú thọ trở thành một trong những tỉnh sớm hình thành kinh tế hàng hóa, một số sản phẩm (giấy, than, sắt) và nông, lâm sản không chỉ phục vụ địa phương mà còn cung ứng cho cả nước và xuất khẩu
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, kinh tế hàng hóa càng có điều kiện phát triển hơn Có thể nói trong kịch sử, Phú Thọ được nhắc đến như là một trong những cái nôi của ngành công nghiệp Việt Nam với sự ra đời của khu công nghiệp Việt Trì, công nghiệp Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao và Nhà máy Chè Phú Thọ từ những năm
1960 Đầu thập kỷ 80 ra đời khu liên hiệp sản xuất Giấy Bãi Bằng với hệ thống thiết bị
Trang 26
hiện đại và quy mô lớn nhất Đông Nam á Kinh tế Phú Thọ trong giai đoạn này có sự tăng trưởng vượt bậc, những sản phẩm như: phân bón, hóa chất, giấy, chè từ đây đã được phân phối tới mọi miền của Tổ quốc, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước Đồng thời, tạo cho Phú Thọ một diện mạo mới, là điều kiện giúp tỉnh phát triển nhanh về kinh tế - xã hội Với những lợi thế đó, tỉnh Phú Thọ luôn có chủ trương và cơ chế chính sách để thu hút các dự án đầu tư phát triển
Tuy nhiên, nền kinh tế ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn này chỉ tồn tại hai thành phần kinh tế chủ yếu là: kinh tế nhà nước và kinh tế tập thế với hình thức biểu hiện là các doanh nghiệp nhà nước và các hợp tác xã mà chưa xuất hiện loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước
Trong nhiều năm trở lại đây, nhất là từ khi có chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Tỉnh Phú Thọ đã đẩy mạnh việc cải cách hành chính, thực hiện chế độ một cửa nhằm phục vụ tốt hơn đối với mọi tổ chức, doanh nghiệp, công dân; đơn giản hóa thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức, tiền của cho doanh nghiệp và công dân; tăng cường đối thoại, xử lý tháo
gỡ vướng mắc khó khăn, kiên quyết chỉ đạo giải phóng mặt bằng nhanh chóng, thực hiện tốt việc quy hoạch và chuẩn bị quỹ đất sạch; ban hành nhiều chính sách ưu đãi thu hút đầu tư, đã tạo ra môi trường thông thoáng, cởi mở, thân thiện, hiệu quả trong xúc tiến đầu
tư Do đó, các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã có sự phát triển tương đối mạnh cả về số lượng, quy mô và hiệu quả sản xuất kinh doanh
Nếu như trước năm 1990, toàn tỉnh Phú Thọ chưa có một doanh nghiệp ngoài nhà nước nào, thì đến năm 1997 đã có 144 doanh nghiệp, năm 2000 có 363 doanh nghiệp, năm 2003 có 554 doanh nghiệp và đến năm 2008 đã có 2.079 doanh nghiệp ngoài nhà nước Các doanh nghiệp ngoài nhà nước được phân bố rộng khắp toàn tỉnh, nhưng phần lớn tập trung tại thành phố Việt Trì: 1137 doanh nghiệp, huyện Phù Ninh: 179 doanh nghiệp, huyện Thanh Sơn: 128 doanh nghiệp, huyện Lâm Thao: 128 doanh nghiệp huyện Đoan Hùng: 111 doanh nghiệp và thị xã Phú Thọ: 106 doanh nghiệp
Các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước luôn có sự gắn kết, cạnh tranh và học hỏi lẫn nhau để cùng phát triển Khai thác triệt để tiềm năng lợi thế của địa phương, phát huy nội lực và tranh thủ thu hút ngoại lực cho đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh
Trang 27Bên cạnh khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khối doanh nghiệp ngoài nhà nước thuộc các loại hình khác như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân cũng được phát triển mạnh, tạo ra một bước đột phá về đổi mới tư duy kinh tế theo cơ chế thị trường Số doanh nghiệp ngoài nhà nước được thành lập mới
từ năm 2005 đến năm 2008 như sau: năm 2005: 261 doanh nghiệp; năm 2006: 328 doanh nghiệp; năm 2007: 407 doanh nghiệp; năm 2008: 306 doanh nghiệp Bình quân mỗi năm tăng khoảng 300 doanh nghiệp
1.1.2.2 Số lượng, quy mô, ngành nghề sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
Theo số liệu thống kê của Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ tổng hợp về các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hàng năm, tính đến cuối năm 2008, toàn tỉnh có 2.079 doanh nghiệp ngoài nhà nước có giấy phép đăng ký kinh doanh (không tính 280 chi nhánh, văn phòng đại diện và số doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh) Trong đó có 312 doanh nghiệp tư nhân (tăng 91 doanh nghiệp so với năm 2005),
1023 công ty trách nhiệm hữu hạn (tăng 463 doanh nghiệp do với năm 2005), 668 công
ty cổ phần (tăng 319 công ty do với năm 2005), 76 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tăng 48 doanh nghiệp do với năm 2005); hiện đã có trên 1700 doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh Chỉ tính riêng ở hai khu công nghiệp Thụy Vân và Bạch Hạc (thuộc thành phố Việt Trì) đã có 60 doanh nghiệp đang hoạt động (tăng 47 doanh nghiệp
Trang 28
so với năm 2005), trong đó có 14 doanh nghiệp trong nước (tăng 4 doanh nghiệp so với năm 2005), 21 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tăng 9 doanh nghiệp so với năm 2005)
Tổng số vốn điều lệ của các doanh nghiệp ngoài nhà nước năm 2008 là16.287,193
tỷ đồng, tăng 2,35 lần so với năm 2005; bình quân số vốn điều lệ của mỗi doanh nghiệp
là 7,8 tỷ đồng Trong đó vốn điều lệ của các doanh nghiệp trong nước là 9.109,132 tỷ đồng, tăng 6.599,193 tỷ đồng so với năm 2005; số vốn điều lệ của các doanh nghiệp tư nhân là 286,134 tỷ đồng, bình quân 916 triệu đồng/1 doanh nghiệp; công ty trách nhiệm hữu hạn là 3.141,812 tỷ đồng, bình quân 3 tỷ đồng/1 công ty; công ty cổ phần là 5.681,183 tỷ đồng), bình quân 8,5 tỷ đồng/1 công ty Vốn điều lệ của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài là 7.178,061 tỷ đồng, tăng 2.768,203 tỷ đồng so với năm 2005, bình quân 36,4 tỷ đồng/1 công ty
Về quy mô: Số doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên chiếm 4,6%,
từ 05 tỷ đến dưới 10 tỷ đồng chiếm 7,8%, từ 01 tỷ đồng đến dưới 05 tỷ đồng chiếm 41,5 %, còn lại là các doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 01 tỷ đồng
Số doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên là 705 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 33,9% Trong đó, số doanh nghiệp có trên 500 lao động là 21 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 1,1% so với tổng số doanh nghiệp; số doanh nghiệp có từ 300 đến 500 lao động là 06 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 0,3%; số doanh nghiệp có từ 100 đến dưới 300 lao động là 84 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 4%; số doanh nghiệp có từ 10 đến dưới 100 lao động là 594 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 28,6%; còn lại là số doanh nghiệp có dưới 10 lao động, chủ yếu hoạt động dưới dạng hộ gia đình Cá biệt cũng có những doanh nghiệp số lượng lao động khá đông, trên 3500 lao động như: Công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chè Phú Bền, Công ty Chè Phú Đa, Công ty Seeshin Việt Nam
Nhìn chung ngành nghề đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp trong những năm qua đã có sự nhiều sự thay đổi, tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, xây dựng thuần tuý có xu hướng giảm và chuyển dịch theo hướng đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực, đặc biệt là những ngành nghề được bãi bỏ giấy phép hành nghề hoặc chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, tỷ trọng các đơn vị dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, cung cấp vật tư hàng hóa phục vụ đời sống và sản xuất cho nhân dân vùng sâu, vùng xa,
Trang 29
nông thôn miền núi tăng lên đáng kể đã phản ảnh thực trạng phát triển của các doanh nghiệp bắt nguồn từ nhu cầu thực tiễn của thị trường, theo hướng thiết thực, hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập Các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã có sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề kinh doanh theo hướng tích cực: Tỷ trọng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh năm đến hết năm 2008 đã có sự thay đổi đáng kể trong hầu hết các lĩnh vực kinh doanh: Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là 18% (tăng 2%); xây dựng 20% (giảm 4%); thương mại, du lịch, dịch vụ 45% (tăng 8%) và khai thác, chế biến 12% (tăng 4%) so năm 2005, các ngành khác 5%
1.1.2.3 Đặc điểm các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
Các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ chủ yếu được ra đời trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước, nhất là sau khi có một số văn bản luật quy định về tổ chức bộ máy, hướng dẫn hoạt động của các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước như: Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân (tháng12-1990); Luật sửa đổi một
số điều của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp
Trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm số lượng lớn nhất, tiếp đến là công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tuy các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ có một số điểm khác nhau
về tên gọi, quy mô, hình thức sở hữu, ngành nghề sản xuất kinh doanh Nhưng nhìn chung, các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ có một số đặc điểm chủ yếu như sau:
Thứ nhất, về nguồn gốc của các doanh nghiệp khá đa dạng, một số lượng lớn
doanh nghiệp ngoài nhà nước được phát triển đi lên từ kinh tế hộ, một số doanh nghiệp được chuyển đổi từ các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp trước đây hoặc sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và một số doanh nghiệp được thành lập mới
Thứ hai, đa số các doanh nghiệp ngoài nhà nước có quy mô nhỏ và vừa, có số vốn
điều lệ ít, sử dụng lao động rất hạn chế; trừ một số doanh nghịêp nhà nước lớn (hạng 1,
Trang 30
hạng 2) sau khi thực hiện cổ phần doanh nghiệp hoặc liên doanh với nước ngoài mà nhà nước không nắm cổ phần chi phối còn có số lượng lao động tương đối nhiều
Thứ ba, ngành nghề sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài nhà nước
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ tương đối đa dạng, song chủ yếu tập trung nhiều hơn vào các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, xây dựng và công nghiệp nhẹ Hầu hết các doanh nghiệp phát triển theo hướng sản xuất kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực mà chưa có sự tập trung đầu tư chuyên sâu vào một lĩnh vực ngành nghề nhất định
Thứ tư, chủ doanh nghiệp ngoài nhà nước có đủ các thành phần, nghề nghiệp, giới
tính, độ tuổi, dân tộc; có người là đảng viên, có người không phải là đảng viên; có người
là cán bộ công chức nhà nước, lực lượng vũ trang, công nhân đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động nhưng cũng có người chưa từng thoát ly công tác
Thứ năm, lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước có số lượng,
trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật không đồng đều Có doanh nghiệp sử dụng khá đông lực lượng lao động xã hội, nhưng nhiều doanh nghiệp hầu như không sử dụng lao động bên ngoài mà chủ yếu là lao động trong gia đình (giống mô hình kinh tế hộ) Một số doanh nghiệp lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật khá cao như các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, nhưng có doanh nghiệp sử dụng hầu hết là lao động phổ thông, vừa làm vừa đào tạo tại chỗ như các doanh nghiệp ngành dệt may, xây dựng, chế biến chè
Thứ sáu, các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã thu hút một số lượng khá lớn vốn và
lao động vào sản xuất - kinh doanh; giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người lao động và góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh
1.1.2.4 Vị trí, vai trò của các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
* Vị trí của các doanh nghiệp ngoài nhà nước đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-
xã hội ở tỉnh Phú Thọ
Quán triệt những quan điểm định hướng của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh Với chủ trương đẩy mạnh việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước,
đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong doanh nghiệp nhằm huy động các nguồn vốn đầu
tư của các tổ chức, cá nhân cho phát triển sản xuất kinh doanh Do đó, các doanh nghiệp
Trang 31
ngoài nhà nước, nhất là các công ty cổ phần ngày càng có xu hướng phát triển mạnh cả
về số lượng và chất lượng, trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xác định rõ vị trí của, tầm quan trọng của các doanh nghiệp ngoài nhà nước là một trong những động lực của nền kinh tế Đảng ta khẳng định "Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản
xuất kinh doanh và sở hữu"[15, tr 83]
Thực hiện chủ trương trên, ở tỉnh Phú Thọ trong những năm qua đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý theo đúng
lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Nghị quyết của Tỉnh ủy đề ra Theo báo cáo của ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ, từ sau khi có Luật Doanh nghiệp 2005 đến nay, tỉnh Phú Thọ đã hoàn thành sắp xếp, chuyển đổi 80 lượt doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp thành 54 công ty cổ phần, 03 công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
Hiện nay, toàn tỉnh có 2109 doanh nghiệp, trong đó có 2079 doanh nghiệp ngoài nhà nước, 30 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp cổ phần vốn nhà nước chi phối; tỷ lệ doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 98,5% so với tổng số doanh nghiệp
hiện có trên địa bàn Do đó, các doanh nghiệp ngoài nhà nước là lực lượng chủ yếu
trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, huy động các nguồn vốn đầu tư cho sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Phú Thọ
Xác định rõ vị trí đặc biệt quan trọng của các doanh nghiệp ngoài nhà nước đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVI - nhiệm kỳ 2005 -2010 chủ trương tiếp tục chỉ đạo củng cố quan hệ sản xuất, phát huy lợi thế của các thành phần kinh tế, mở rộng liên doanh liên kết, tạo môi trường bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Trong đó xác định phát triển
và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng là một nhiệm vụ trọng tâm trong những năm tới Tập trung đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực cạch tranh của doanh nghiệp; khuyến khích phát triển mạnh kinh tế tư nhân, tôn vinh những doanh nghiệp, doanh nhân tiêu
Trang 32
biểu trong sản xuất kinh doanh, chấp hành tốt pháp luật Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho kinh tế tư nhân đầu tư phát triển, không hạn chế quy mô đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm Chú trọng "Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh hỗn hợp với nhiều hình thức sở hữu, nhất là dưới hình thức công ty cổ phần nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư"[1, tr.68]
Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ có tăng nhanh về số lượng nhưng phát triển chưa vững chắc, bố trí ngành nghề chưa phù hợp, hướng đầu tư không mang tính lâu dài, quy mô đầu tư nhỏ, thiết bị lạc hậu, công nghệ chậm được đổi mới; khả năng cạnh tranh thấp, chủ yếu đáp ứng nhu cầu tại chỗ; chưa thực hiện coi trọng quyền sở hữu công nghiệp, chưa có nhiều sản phẩm mang thương hiệu và tạo nguồn thu lớn cho ngân sách
Một số doanh nghiệp chưa thực hiện tốt việc phát triển sản xuất đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, tình trạng vi phạm các quy định về lao động, chế độ chính sách vẫn còn diễn ra như: chưa thực hiện một cách đầy đủ việc đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm
y tế cho người lao động; nhiều lao động chưa có việc làm thường xuyên, thu nhập lao động đạt thấp
Các doanh nghiệp ngoài nhà nước là loại hình kinh tế mới đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, nên các mối quan hệ trong sản xuất kinh doanh, kể cả quan hệ ngay trong nội bộ của doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng cần phải đang tiếp tục hoàn chỉnh dần từng bước
Vấn đề bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, nhất là giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng là một rào cản do ảnh hưởng về tâm lý chưa an tâm khi quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp ngoài nhà nước, nhất là việc huy động vốn cho sản xuất kinh doanh, vay vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại, khả năng tiếp cận đối với nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước, thiếu mặt bằng trong sản xuất kinh doanh
là khó khăn mà các doanh nghiệp đang gặp phải hiện nay và không dễ vượt qua trong một thời gian ngắn
* Vai trò của các doanh nghiệp ngoài nhà nước đối với sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội ở tỉnh Phú Thọ
Trang 33
Các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã đóng góp vai trò hết sức quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh; đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm; huy động được nhiều nguồn vốn trong xã hội vào đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo ra các sản phẩm đa dạng phong phú đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng trong nước và mở rộng xuất khẩu
Việc phát triển nhanh về số lượng, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp ngoài nhà nước tạo ra cơ hội có những việc làm mới; thu hút được nhiều lao động trong xã hội, nhất là số người trẻ tuổi hàng năm đến tuổi lao động nhưng chưa có việc làm và số người dôi dư từ việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và việc thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, giải thể các doanh nghiệp nhà nước sản xuất kinh doanh thua lỗ kéo dài không còn khả năng hồi phục
Các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã góp phần quan trọng vào công cuộc thực hiện xóa đói, giảm nghèo cả ở khu vực thành thị và nông thôn; thu hẹp khoảng cách chênh lệch mức sống giữa các giai tầng xã hội, trong cộng đồng dân cư, nhất là giữa thành thị và nông thôn
Thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng tích cực: giá trị sản xuất công nghiệp, thương mại - dịch vụ ngày càng tăng, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp ngày càng giảm
Trong những năm qua, với sự nhạy bén, linh hoạt trong đầu tư sản xuất kinh doanh theo hướng "thị trường ngách" Các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ đã đạt hiệu qủa sản xuất kinh doanh khá cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp theo hướng tăng dần các doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tỷ trọng giá trị sản xuất của khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm, ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước không ngừng tăng lên Theo báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị của Tỉnh ủy qua các năm từ 2005 đến 2008, kết quả cụ thể như sau:
Năm 2005: Giá trị sản xuất công nghiệp chung của tỉnh (giá cố định 1994) đạt 6.389 tỷ đồng, tăng 14,5% so với năm 2004 Trong đó: khu vực kinh tế nhà nước tăng 3,8%, khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 44,1%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15% góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh đạt 10% Cơ cấu
Trang 34Năm 2007: Giá trị sản xuất công nghiệp chung của tỉnh (giá cố định 1994) đạt 8.157 tỷ đồng, tăng 15,6% Trong đó sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt mức tăng cao: doanh nghiệp trong nước đạt 2.583 tỷ đồng, tăng 42,6%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.266 tỷ đồng, tăng 16,6% Chỉ tính riêng các doanh nghiêp ngoài nhà nước đang hoạt động, đã nộp thuế vào ngân sách với tổng số 202,133 tỷ đồng, chiếm 21,56% so với tổng thu ngân sách của tỉnh, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh đạt 10,84% Cơ cấu kinh tế: công nghiệp - xây dựng 38%; dịch vụ 35%; nông, lâm nghiệp 27% [53, tr.1-2]
Năm 2008: Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi suy thoái chung của kinh tế thế giới, nhưng các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã có nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, duy trì
ổn định các hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm kiếm và phát triển thêm thị trường mới, đặc biệt là chú trọng tới thị trường nội địa Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu nửa nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2005 -2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt bình quân 10,9%/năm; GDP bình quân đầu người ước đạt 7,79 triệu đồng Trong đó, tốc
độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân đạt 14,7%/năm; tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ bình quân đạt 15%/năm; tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp bình quân đạt 3,4%/năm Cơ cấu kinh tế: công nghiệp - xây dựng 38,8%; dịch vụ 35,3%; nông, lâm nghiệp 25,9% [54, tr.1-2]
1.2 vai trò, ý nghĩa công tác phát triển đảng viên và đặc điểm về tổ chức đảng, đảng viên, quần chúng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
1.2.1 Vai trò và ý nghĩa của công tác phát triển đảng viên
C Mác và Ph Ăngghen đã khẳng định, giai cấp công nhân phải xây dựng một chính đảng có tổ chức thống nhất, độc lập và phải "biến các chi bộ thành trung tâm và hạt
Trang 35
nhân của các hiệp hội công nhân trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trên lĩnh vực tổ chức và xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân" [44, tr.348]
Để thực hiện được sứ mệnh của mình, các đảng cộng sản phải tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, mọi tổ chức và lực lượng xã hội xung quanh Đảng Phải không ngừng tăng cường phát triển đảng viên, xây dựng các chi bộ từ nông thôn đến thành phố, trong tất cả các làng mạc, địa phương, nhà máy, công xưởng C Mác và Ăngghen chỉ rõ, đảng viên của Đảng trước hết phải là những người ưu tú nhất của giai cấp, có ý thức giác ngộ chính trị cao, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, giàu ý trí nghị lực và khả năng sáng tạo, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, không ngại khó khăn gian khổ, sẵn sàng hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, mỗi đảng viên mạnh sẽ tạo nên sức mạnh của Đảng Do đó, muốn nâng cao sức mạnh, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nhất thiết phải quan tâm đến nâng cao chất lượng đảng viên, đặc biệt là công tác phát triển đảng viên nhằm bổ sung và tạo nguồn sinh lực mới cho Đảng
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của đảng cộng sản và đội ngũ đảng viên đối với sự tồn tại và phát triển của Đảng, nên Quốc tế I phân công C Mác và Ph Ăngghen thảo ra Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản với phương châm hành động "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại !" Chính C Mác và Ph Ăngghen là những người sáng lập nên tổ chức cộng sản đầu tiên trên thế giới mang tên "Đồng minh những người cộng sản" được thành lập năm 1847
Điều lệ của "Đồng minh những người cộng sản" đã nêu rõ những quan điểm tư tưởng, nguyên tắc hoạt động của Đảng Đó là, Đảng phải là một đội ngũ có tổ chức chặt chẽ; các cơ quan lãnh đạo của Đảng phải được bầu cử một cách dân chủ và họ có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào nếu hộ không hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức giao cho; Đảng phải là khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức Những tư tưởng cách mạng của
C Mác và Ph Ăngghen về chính đảng của giai cấp công nhân đã có ảnh hưởng to lớn và trực tiếp đến toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế không những ở trong giai đoạn lịch sử đó, mà còn là phương châm hoạt động cách mạng của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế cũng như các chính Đảng Cộng sản trên toàn thế giới sau này
Trang 36
V.I Lênin đã kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph Ăngghen, đồng thời phân tích một cách toàn diện những nguyên lý tư tưởng và tổ chức của một dảng kiểu mới của giai cấp vô sản, về tuyên truyền phát triển đảng viên, nhằm củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng Ngay trong tác phẩm của Lênin được viết trước Cách mạng Tháng Mười Nga, Người cho rằng các nhà máy, công xưởng nơi tập trung giai cấp công nhân là thành trì của cách mạng Do vậy Đảng phải thiết lập cơ sở của mình tại đây và xác định
"nhóm những nhà cách mạng - công nhân nhất định cũng phải là hạt nhân và người lãnh đạo"[24, tr.17]
Với thiên tài đặc biệt, Lênin đã đề ra luận điểm nổi tiếng: Hãy cho tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ lật bẩy cả nước Nga lên Lênin nhiều lần nhấn mạnh "Sức mạnh của giai cấp công nhân là ở tổ chức Không tổ chức quần chúng thì giai cấp vô sản không là cái gì hết được tổ chức, giai cấp vô sản sẽ là tất cả"[27, tr.163] Và trên thực tế đã khẳng định tính đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan của luận điểm trên Đồng thời Lênin chỉ rõ phải thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng, xác định rõ vai trò lãnh đạo của các tiểu tổ công nhân, sau này phát triển thành các chi bộ cơ sở nhà máy,
xí nghiệp, khu dân cư của Đảng Bôn sê vích Nga Khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Đảng đã trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Để làm rõ hơn vai trò của
tổ chức cơ sở đảng, Lênin đã chỉ rõ
Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn cho nhau, phải làm công tác cổ động, phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình, muôn vẻ đó mà rèn luyện bản thân mình, rèn luyện đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống [30, tr.232-233]
Vai trò của tổ chức cơ sở đảng càng quan trọng khi Đảng tập trung lãnh đạo đất nước Xô viết thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế, đặc biệt là giai đoạn triển khai thực hiện chính sách kinh tế mới Lênin cho rằng: để giành được thắng lợi trong bước chuyển biến chiến lược này, các tổ chức cơ sở đảng có vai trò hết sức to lớn Vì vậy, Lênin yêu cầu các chi bộ của Đảng phải là những pháo đài trên mặt trận này và phải có trách nhiệm
"đem hết sức lực, đem hết sự chú ý để tạo ra, để phát huy một tính chủ động lớn hơn ở cơ
Trang 37
sở" [32, tr.279] Đồng thời, Người khẳng định rằng, phải tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, giác ngộ quần chúng, tăng cường công tác phát triển đảng viên, thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao vai trò của tổ chức cơ sở đảng, không ngừng phát huy tính chủ động sáng tạo ở cơ sở thì những mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế mới của Nhà nước Xô viết mới giành được thắng lợi
Trong quá trình xây dựng và phát triển của mình, các đảng cộng sản trên thế giới luôn luôn quan tâm đến công tác phát triển đảng viên nhằm xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng, coi đó là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trên cả phương diện lý luận cũng như trong thực tiễn lãnh đạo của Đảng Như vậy, quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học như C Mác, Ph Ăngghen, V Lênin về công tác phát triển đảng viên, củng cố và nâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở đảng không những chỉ thể hiện trong các di sản về lý luận, mà còn được chứng minh qua hoạt động thực tiễn của các đảng cộng sản và của chính các ông Những chỉ dẫn của C Mác,
Ph Ăngghen, V Lênin và kết quả, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của phong trào cách mạng của giai cấp vô sản trên toàn thế giới đã trở thành định hướng cho các đảng cộng sản trong việc lãnh đạo công tác phát triển đảng viên, xây dựng và củng cố các tổ chức cơ
sở đảng, bảo đảm cho các tổ chức cơ sở đảng và mỗi đảng viên thực sự là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mỗi đảng viên và của từng tổ chức
cơ sở đảng, mỗi đảng viên mạnh sẽ làm cho tổ chức cơ sở đảng mạnh, các tổ chức cơ sở đảng mạnh sẽ làm cho Đảng thực sự lớn mạnh, bảo đảm thực hiện tốt sứ mệnh chính trị của mình là lãnh đạo giai cấp vô sản đấu tranh giành thắng lợi Đây là quan điểm có ý nghĩa cực kỳ to lớn, không chỉ trong giai đoạn Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền mà cả trong thời kỳ Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, chống thù trong, giặc ngoài Những nguyên lý và luận điểm đó của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin về công tác phát triển đảng viên, góp phần củng cố, nâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở đảng, xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh đã trở thành kim chỉ nam dẫn đường, chỉ lối cho các đảng cộng sản trên toàn thế giới
Kế thừa những tư tưởng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh
cụ thể của nước ta, xác định rõ về bối cảnh lịch sử của Đất nước, về phong trào cách
Trang 38
mạng của quần chúng nhân dân nên đã rất chú trọng quan tâm đến công tác phát triển đảng viên, xây dựng các chi bộ cộng sản ở các địa phương, trong các nhà máy, công xưởng Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ quần chúng đi theo Đảng, ủng hộ Đảng, tự nguyện phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ của Đảng Quan điểm của Người thật giản dị mà sâu sắc, dễ hiểu và dễ lay động đi vào lòng người, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, việc phát triển đảng viên, xây dựng các tổ chức cơ sở đảng cũng như việc làm nhà, muốn làm nhà cho tốt phải xây dựng nền móng cho tốt Do
đó, các chi bộ phải là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt; để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thành công thì Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do nhiều chi bộ mạnh,
chi bộ mạnh là do nhiều đảng viên tốt Người nói "Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt
nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng Mỗi cấp bộ của Đảng phải là một cơ quan lãnh đạo vững chắc ở địa phương, theo đúng đường lối, chính sách của Trung ương" [40, tr.23] Đồng thời, Người thường xuyên nhắc nhở các cấp bộ đảng phải đặc biệt chăm lo xây dựng các chi bộ của Đảng, bởi vì " Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng, chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng được thực thi tốt, mọi công việc được đều tiến bộ không ngừng Trái lại, nếu chi bộ kém thì công việc không trôi chảy" [40, tr.161] Người nhắc nhở mỗi đảng viên của Đảng cần thấy rõ vinh dự, đồng thời thấy được trách nhiệm của mình đối với Đảng và đối với nhân dân "Không có vinh
dự nào to bằng cái vinh hạnh được làm đảng viên của Đảng Cộng sản Vì vậy, bất kỳ ở hoàn cảnh nào, làm công việc gì, chúng ta cũng phải kiên quyết làm cho xứng đáng với vinh hạnh ấy" [35, tr.550]
Đối với công tác phát triển đảng viên, Người căn dặn
Đảng ta luôn luôn phát triển, phải có đảng viên cũ, cũng phải có đảng viên mới Có như vậy, Đảng mới càng ngày càng mạnh, mới làm tròn nhiệm
vụ to lớn và vẻ vang của mình Cho nên nhiệm vụ của đảng viên cũ là phải thương yêu, dìu dắt và giúp đỡ đảng viên mới cùng tiến bộ Đảng viên mới thì cần phải thương yêu đảng viên cũ, học tập kinh nghiệm công tác và tinh thần phấn đấu của đảng viên cũ, để ngày càng tiến bộ thành người đảng viên tốt Cũ
Trang 39vụ trong tất cả các giai đoạn cách mạng của dân tộc
Tổng kết bài học thành công và chưa thành công trong thực tiễn xây dựng Đảng, Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã rút ra bài học hết sức sâu sắc và bổ ích, đó là:
"Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức đảng Nhưng mặt khác, sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã hạn chế những thành tựu của cách mạng" [3, tr.141]
Với phương châm xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và
tổ chức, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng trên mọi lĩnh vực của đời sống - xã hội, hoàn thành thắng lợi công cuộc đổi mới Đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nhiệm vụ có tính sống còn của Đảng Trong đó việc củng
cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, tăng cường công tác phát triển đảng viên gắn với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng Do đó, các Đại hội Đảng toàn quốc khóa VII, VII, IX luôn luôn đặt vấn đề phải đổi mới và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ cấp bách và thường xuyên, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ phải đặc biệt coi trọng củng cố các tổ chức cơ sở đảng, nhất là các tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn, miền núi, trong các đơn vị sản xuất kinh doanh; Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng đã dành riêng một báo cáo để kiểm điểm, đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đánh giá khái quát về tình hình Đảng và công tác xây dựng Đảng qua
20 năm đổi mới; xác định mục tiêu, nhiệm vụ và giái pháp nhằm thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Trong đó, phần về công tác phát triên đảng viên, Đại hội khẳng định
"Công tác phát triển đảng viên được quan tâm chỉ đạo và đạt được một số kết quả, nhất là
ở những vùng trọng yếu, những nơi có ít hoặc chưa có đảng viên" [15, tr.266] Tuy nhiên Đại hội cũng khẳng định về những tồn tại, hạn chế trong công tác kết nạp đảng viên, xây
Trang 40đó thì nhất thiết phải làm cho cán bộ, đảng viên, công nhân, lao động, nhất là chủ doanh nghiệp hiểu rõ, hiểu đúng chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, để từ đó mọi người có ý thức tự giác và nghiêm túc thực hiện Chú trọng đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, xây dựng và củng cố các tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp, bảo đảm mỗi tổ chức cơ sở đảng thực sự là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo trong các hoạt động của doanh nghiệp
1.2.2 Đặc điểm về tổ chức đảng, đảng viên và quần chúng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
1.2.2.1 Số lượng, cơ cấu các tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà
nước ở tỉnh Phú Thọ
Đa số các doanh nghiệp ngoài nhà nước có tổ chức đảng ở tỉnh Phú Thọ đều chung nguồn gốc từ doanh nghiệp nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp, bán doanh nghiệp cho người nước ngoài hoặc Nhà nước góp vốn liên doanh với nước ngoài; chỉ có 25 doanh nghiệp ngoài nhà nước có tổ chức đảng là do tư nhân (số đông chủ doanh nghiệp là đảng viên) đứng ra thành lập doanh nghiệp Tính đến tháng 5/2009, toàn tỉnh có 93 doanh nghiệp ngoài nhà nước có tổ chức đảng, chiếm tỷ lệ 4,47% so với tống số doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn (tăng 29 tổ chức đảng so với năm 2005) với 3.033 đảng viên Trong đó, đảng bộ cơ sở là 27; chi bộ cơ sở là 66; chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở là 134 Doanh nghiệp trong nước có 88 tổ chức đảng, với 2236 đảng viên; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 05 tổ chức đảng, với 797 đảng viên Số
tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước trực thuộc Đảng bộ khối doanh nghiệp tỉnh là 41(chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hóa); số tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước trực thuộc các huyện, thành, thị ủy là