1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Đảng bộ tỉnh sơn la lãnh đạo công tác di dân, tái định cư trong giai đoạn hiện nay doc

131 668 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ trước thời điểm công trình chính thức đi vào xây dựng đã có nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, dự án nghiên cứu cấp Nhà nước, các bài viết tuyên truyền rộng rãi trên báo Đảng,

Trang 1

LUẬN VĂN:

Đảng bộ tỉnh sơn la lãnh đạo công tác di dân,

tái định cư trong giai đoạn hiện nay

Trang 2

Mở ĐầU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đã và đang đặt ra những yêu cầu tìm kiếm các nguồn năng lượng phục vụ phát triển đất nước Cũng như nhiều nước trên thế giới, nước

ta đã và đang tìm kiếm các nguồn năng lượng điện theo nhiều cách khác nhau như: từ gió, từ sóng biển, từ việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, từ việc chế biến sản phẩm

tự nhiên, nhất là việc xây dựng các nhà máy thủy điện Bởi điện năng là một lĩnh vực quan trọng quyết định sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của quốc gia Năng lượng điện

là một loại năng lượng sạch đóng góp ngày càng to lớn và sự phát triển kinh tế của loài người Trong những năm qua cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhu cầu về điện năng liên tục tăng và tiếp tục được duy trì với mức độ cao trong nhiều năm và nhiều thế kỷ tới Theo dự báo của Bộ Công thương, nhu cầu điện sản xuất ở Việt Nam là 294 tỷ kWh vào năm 2020 và 562 tỷ kWh vào năm 2030 Trong khi đó, khả năng cung cấp nhiên liệu từ các nguồn năng lượng sơ cấp của Việt Nam cho sản xuất điện năng chỉ đáp ứng được khoảng 230 tỷ kWh vào năm 2020 và 293 tỷ kWh vào năm 2030 Trước tình hình này, việc tìm kiếm các nguồn năng lượng phát điện đang là sự lựa chọn tối ưu của Việt Nam, trong đó có việc đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình thủy điện được coi

là một chiến lược quốc gia

Sau nhiều năm nghiên cứu, chủ trương xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn La đã được Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ thống nhất xây dựng với phương án ba bậc trên sông Đà Nhà máy Thủy điện Sơn La là công trình trọng điểm quốc gia đã và đang được đầu tư xây dựng tại tuyến Pá Vinh, xã ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La Đây là bậc thứ hai của chủ trương xây dựng thủy điện trên sông Đà (Sau bậc thủy điện Hòa Bình, trước bậc thủy điện Lai Châu) Ngày 2 tháng 12 năm 2005, Đảng và Nhà nước ta chính thức phát lệnh khởi công xây dựng và ngăn Sông Đà để xây dựng Thuỷ điện Sơn La

Xây dựng công trình Thủy điện Sơn La có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng đặc biệt, đóng góp nguồn điện lớn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X

của Đảng đề ra “Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến

Trang 3

năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[17, tr.3]

Xây dựng công trình Thuỷ điện này là vận hội to lớn có tính lịch sử đối với các tỉnh Tây Bắc nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng; là thời cơ lớn để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sắp xếp lại lao động dân cư, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, sớm đưa Sơn La ra khỏi tình trạng tỉnh đặc biệt khó khăn, tạo lập các yếu tố cơ bản để phát triển nhanh hơn và bền vững trong những năm tiếp theo

Theo thiết kế, Thủy điện Sơn La là công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam, đồng thời là công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam á, xây dựng công trình này phải tiến hành công cuộc di dân, tái định cư có tổ chức lớn nhất ở nước ta cho tới thời điểm hiện nay Xây dựng công trình Thủy điện Sơn La đặt ra cho tỉnh Sơn La yêu cầu, nhiệm vụ mới, to lớn và có tính lịch sử, vừa là thời cơ lớn nhưng cũng có rất nhiều khó khăn, thách thức

đã, đang và sẽ tác động mạnh đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đang trong tình trạng một tỉnh đặc biệt khó khăn Cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo cho 88.279 hộ nghèo (chiếm 46,03% theo tiêu chí mới), tỉnh Sơn La phải tổ chức công tác di dân, tái định cư đến năm 2010 cho 12.479 hộ dân, đảm bảo di dân đến nơi ở mới an toàn, đúng tiến độ thi công xây dựng công trình; từng bước ổn định sản xuất, đời sống để người dân đến nơi ở mới có điều kiện sản xuất và đời sống tốt hơn nơi

ở cũ

Di dân, tái định cư là nhiệm vụ mới, quan trọng, toàn diện và nhạy cảm, liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh, như: đất đai, phong tục, tập quán, tư tưởng, nhận thức, tâm lý dân tộc, môi sinh, môi trường, chế

độ chính sách, đời sống, sản xuất, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Vì thế, công tác vận động di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La có vị trí đặc biệt quan trọng Nhiệm vụ này phải bảo đảm thực hiện thống nhất, đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác di dân, tái định cư Nội dung và phương pháp tổ chức thực hiện phải phù hợp với tâm lý và nhận thức của đồng bào, để mỗi người dân hiểu sâu sắc về tầm quan trọng và sự hỗ trợ to lớn của Đảng và Nhà nước, lợi ích của đất nước, của tỉnh Sơn La và của đông đảo nhân dân

Trang 4

khi xây dựng nhà máy thủy điện, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao để tổ chức di dân, tái định cư theo quy hoạch, kế hoạch, đúng quy trình, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng thành công Nhà máy Thủy điện Sơn La

Từ những nhận thức trên đây, để nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm thực hiện tốt công tác di dân, tái định cư đáp ứng yêu cầu

kế hoạch xây dựng thủy điện Sơn La, tác giả lựa chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Sơn La lónh

đạo công tác di dân, tái định cư trong giai đoạn hiện nay” để làm luận văn Thạc sĩ

Chính trị học, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Công trình xây dựng Thủy điện Sơn La được các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các

cơ quan ngôn luận báo chí, xuất bản đặc biệt quan tâm Từ trước thời điểm công trình chính thức đi vào xây dựng đã có nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, dự án nghiên cứu cấp Nhà nước, các bài viết tuyên truyền rộng rãi trên báo Đảng, tạp chí của Trung ương và nhiều địa phương trên cả nước đề cập đến công tác di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La, ví dụ như:

2.1 Các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Sơn La

- Nghị quyết số 44/2001-QH10, ngày 29/6/2001 Quốc hội (khóa X) quyết định chủ trương đầu tư xây dựng Dự án nhà máy thủy điện Sơn La

- Thông báo số 84-TB/TW ngày 22/10/2002 của Bộ Chính trị Kết luận về Dự án thủy điện Sơn La Thông báo đã nêu chủ trương, chính sách của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ về Dự án di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La

- Quyết định số 196/2004/QĐ-TTg ngày 29/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La

Triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ về xây dựng Thuỷ điện Sơn La, Đảng bộ tỉnh Sơn La đã có những văn bản, nghị quyết về vấn đề này, cụ thể:

- Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 28/6/2003 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về

lãnh đạo công tác di dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La

Trang 5

- Nghị quyết số 27-NQ/TU ngày 17/9/2004 của Ban Thường vụ tỉnh ủy về lãnh

đạo công tác bồi thường di dân tái định cư Thủy điện Sơn La

- Quyết định số 57/2005/QĐ-UB ngày 9/5/2005 của ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La

về việc ban hành Cơ chế quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện dự án tái định cư Thủy điện Sơn La

2.2 Sách

- “Tỉnh Sơn La 110 năm 1895 – 2005”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, do

Ban Thường vụ tỉnh ủy Sơn La chỉ đạo biên soạn Các tác giả đã tập trung giới thiệu những đặc điểm về địa lý, tự nhiên và các dân tộc anh em trên mảnh đất Sơn La và một

số hoạt động kinh tế - xã hội khởi sắc trong những năm thực hiện đường lối đổi mới

- “Sơn La thế và lực mới trong thế kỷ XXI” của Thào Xuân Sùng (chủ biên), Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Các tác giả đã giới thiệu những đặc điểm, tiềm năng, thế mạnh của Sơn La và các định hướng lớn trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như các ngành, lĩnh vực quan trọng của tỉnh Sơn La

- “Sau 4 năm thực hiện tái định cư Thuỷ điện Sơn La”, chuyên đề của Đài Tiếng nói

Việt Nam ra ngày 19/11/2007 Chuyên đề đánh giá kết quả công tác đầu tư xây dựng dự án thành phần tại các khu, điểm tái định cư dự án Thuỷ điện Sơn La giai đoạn I (2003-2007) Tỉnh Sơn La đã phê duyệt quy hoạch chi tiết các khu, điểm tái định cư đáp ứng việc bố trí dân cư di chuyển theo kế hoạch

-“Nhà máy thủy điện Sơn La và công cuộc di dân, tái định cư” của Ban chỉ đạo

Dự án bồi thường di dân, tái định cư tỉnh Sơn La Nhà xuất bản Thương mại, Hà Nội, 12/2006 Cuốn sách đã nêu vị trí, tầm quan trọng và những lợi ích của việc xây dựng công trình Thủy điện Sơn La Đặc biệt, cuốn sách còn tổng hợp các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của Đảng bộ tỉnh Sơn La từ năm 2002 - 2006 Trong đó, chỉ rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ cũng như trách nhiệm của các ban, ngành, đoàn thể ở cơ sở về phối hợp thực hiện công tác di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La

2.3 Các bài báo, báo cáo và tạp chí

- “Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải kiểm tra tiến độ xây dựng công trình thủy điện Sơn La và công tác di dân, tái định cư”, của tác giả Hà Bắc, đăng trên báo Sơn La số

Trang 6

4263, ra ngày 5/1/2008 Theo tác giả bài báo, qua công tác kiểm tra của đoàn công tác Chính phủ cho thấy công tác di dân, tái định cư là nhân tố quyết định đến tiến độ thi công Nhà máy thủy điện Sơn La, vì vậy cần có những biện pháp hiệu quả đẩy mạnh công tác

di dân, tái định cư

- “Đẩy mạnh di dân tái định cư thủy điện Sơn La”, xã luận đăng trên Báo Sơn La,

số 4222, ra ngày 11/9/2008 Bài xã luận đã khẳng định công tác di dân, tái định cư là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn đảng bộ tỉnh Sơn La hiện nay, vì vậy toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La phải

nỗ lực hết mình để từ cuộc sống còn nhiều khó khăn đổi mới toàn diện thành cuộc sống tốt đẹp hơn

- “Nỗ lực cao trong công tác di dân, tái định cư Thuỷ điện Sơn La” của Quốc

Tuấn, đăng trên báo Sơn La, số ra ngày 5/3/2008 Tác giả đã phản ánh các hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân chuẩn bị và tiến hành công tác di dân, tái định cư cũng như không khí khẩn trương của nhân dân các dân tộc Sơn La theo lời kêu gọi, vận động của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước di chuyển đến quê hương mới

- “Di dân tái định cư Thuỷ điện Sơn La còn nhiều việc phải làm” của Mai Hương,

đăng trên Báo Lao động, số ra ngày 10/12/2008 Bài viết đã đánh giá tổng quan một số kết quả đạt được trong công tác di dân trong 2 năm 2007 - 2008 của các chính quyền cơ

sở thuộc tỉnh Sơn La, trong đó đề cập những khó khăn và nhược điểm trong công tác chỉ đạo Tác giả bài viết chỉ ra rằng, chính quyền các địa phương cần tăng cường phối hợp, tìm các giải pháp đẩy nhanh tiến độ giao đất, hướng dẫn người dân phát triển sản xuất, ổn định thu nhập để gắn bó với nơi ở mới

- “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm, kiểm tra tiến độ xây dựng công trình thủy điện Sơn La và công tác di dân tái định cư”, của tác giả Hà Bắc, đăng trên Báo điện tử

Sơn La ngày 12/9/2009 Tác giả đã cho chúng ta biết sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ đối với Sơn La về công tác di dân, tái định cư, để công trình hoàn thành đúng tiến độ cần

có sự đầu tư động viên kịp thời không chỉ cho công trình mà đồng thời cả công tác di

dân, tái định cư

Trang 7

- “Ngày xuân 2009 trên đại công trường” của hai tác giả Ngọc Lan và Thu Cúc,

đăng trên báo Lao động ra ngày 23/1/2009 Hai tác giả đã phản ánh không khí lao động khẩn trương của công nhân Công trường nhà máy Thủy điện Sơn La, bằng tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân các hạng mục công trình sẽ đáp ứng yêu cầu tiến độ phát điện tổ máy số 1 vào năm 2010

- “Di dân tái định cư giải pháp nào?” của nhóm phóng viên Quốc phòng - An

ninh, đăng trên Báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 30/9/2007 Bài viết chỉ ra những

nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc giải ngân chậm trễ dự án tái định cư thủy điện Sơn

La là do trách nhiệm và năng lực của cán bộ yếu, công tác thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết dự án tái định cư chậm Tác giả kiến nghị phải mở rộng dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia giám sát các khâu, các bước trong quy trình đầu

tư xây dựng các dự án

- “Công các vận động di dân, tái định cư dự án Thuỷ điện Sơn La tại huyện Yên

Châu kết quả bước đầu và bài học, kinh nghiệm”, Báo cáo điển hình về kết quả công tác

vận động di dân, tái định cư tại huyện Yên Châu, 1 trong 10 điểm tái định cư của Đảng

bộ tỉnh Sơn La Báo cáo đã phản ánh các bước triển khai thích hợp, sự tham gia của các đoàn thể - chính trị xã hội trong công tác vận động di dân, tái định cư từ năm 2008 đến năm 2009 tại một đảng bộ huyện điển hình

Nhìn chung, các công trình, bài viết nêu trên đã phản ánh bức tranh sinh động về tiến độ thi công công trình Thủy điện Sơn La, tiến độ di dân, tái định cư tại các vùng, các điểm tái định cư, cuộc sống trên quê mới của đồng bào các dân tộc và sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với Sơn La Các công trình, bài viết trên đã đề cập đến nhiều nội dung phong phú, ở nhiều góc độ phục vụ cho mục đích của mình Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình, bài viết nào đề cập một cách có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài, luận văn

đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La

Trang 8

đối với công tác di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La, góp phần thực hiện thành công Dự

án xây dựng Thuỷ điện Sơn La và thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc trên địa bản tỉnh Sơn La

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Một là, khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh Sơn La

và chủ trương, kế hoạch xây dựng Thuỷ điện Sơn La của Đảng và Nhà nước

- Hai là, nghiên cứu, chỉ ra những nội dung cơ bản của công tác di dân, tái định cư

của Đảng bộ tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay

- Ba là, nghiên cứu, chỉ ra những nội dung phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng

bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư

- Bốn là, đánh giá thực trạng quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với

công tác di dân, tái định cư; chỉ ra nguyên nhân của thực trạng, rút ra những kinh nghiệm

từ thực tiễn

- Năm là, đưa ra dự báo những thuận lợi, khó khăn và những vấn đề đặt ra đối với

công tác di dân, tái định cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư hiện nay

- Sáu là, đề xuất mục tiêu, phương hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối

với công tác di dân, tái định cư (bao gồm nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác di dân, tái định cư)

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là quá trình lãnh đạo công tác di dân, tái định

cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La, trong đó luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Tỉnh

uỷ và các huyện uỷ ở các huyện nằm trong chương trình, kế hoạch di dân tái định cư Thủy điện Sơn La, bao gồm cả nhân dân ở điểm đi và nhân dân ở điểm đến từ năm 2005 đến nay

Trang 9

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận và thực tiễn:

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý của Chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Đảng và xây dựng Đảng, trong đó có những tư tưởng, quan điểm về công tác vận động quần chúng Vận dụng các quan điểm, tư tưởng đó vào thực tiễn lãnh đạo công tác di dân, tái định cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay

Mác-* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp phương pháp lôgic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; tổng kết thực tiễn, khảo sát, thống kê, so sánh, đối chiếu

6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần xây dựng cơ sở lý luận về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn

La đối với công tác di dân, tái định cư trong giai đoạn hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng nhằm phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo, chỉ đạo, công tác tuyên truyền, vận động di dân, tái định cư của các cấp uỷ đảng thuộc Đảng bộ tỉnh Sơn La; đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cấp uỷ đảng ở các địa phương khác trong quá trình lãnh đạo công tác di dân, tái định cư

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, học tập ở các ban xây dựng Đảng của tỉnh ủy, trường chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, các đoàn thể chính trị - xã hội ở các vùng tái định cư Thủy điện Sơn La

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương, 6 tiết

Trang 10

Chương 1 ĐảNG Bộ TỉNH SƠN LA LãNH ĐạO CÔNG TáC DI DÂN, TáI ĐịNH CƯ - NHữNG VấN Đề CƠ BảN

Về Lý LUậN Và THựC TIễN

1.1 KHáI QUáT Về TỉNH, ĐảNG Bộ TỉNH SƠN LA Và CHủ TRƯƠNG, Kế HOạCH XÂY DựNG THUỷ ĐIệN SƠN LA

1.1.1 Khái quát về tỉnh và Đảng bộ tỉnh Sơn La

1.1.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh Sơn La tác động tới công tác di dân, tái định cư

Vị trí địa lý: Sơn La là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, có diện tích tự

nhiên 14.174 km2, chiếm 4,27% tổng diện tích cả nước, đứng thứ 3 trong số 64 tỉnh thành phố trong cả nước Phía Bắc giáp các tỉnh Yên Bái, Lai Châu (252 km); phía Đông giáp các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình (135 km); phía Tây giáp với tỉnh Điện Biên (85 km); phía Nam giáp với tỉnh Thanh Hoá và nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, có chung đường biên giới Việt - Lào (250 km)

Đặc điểm địa hình: Sơn La có độ cao trung bình 600 - 700 m so với mặt biển, địa

hình chia cắt sâu và mạnh, 97% diện tích tự nhiên thuộc lưu vực Sông Đà, Sông Mã, có hai cao nguyên là Mộc Châu và Sơn La - Nà Sản, địa hình tương đối bằng phẳng Tỉnh Sơn La nằm trên trục Quốc lộ số 6 Hà Nội - Sơn La - Điện Biên cách Hà Nội 320 km Cùng với các tỉnh Hoà Bình, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La là mái nhà xanh của Đồng bằng Bắc Bộ, với diện tích gần một triệu ha đất rừng đã và đang có vai trò to lớn về môi sinh, phòng hộ đầu nguồn Sông Đà, điều tiết nguồn nước cho công trình Thuỷ điện Hoà Bình và công trình Thuỷ điện Sơn La

Đặc điểm khí hậu: Với vị trí địa lý cùng độ cao địa hình tạo nên những nét chung

và riêng của khí hậu Sơn La, bên cạnh đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa chí tuyến của miền khí hậu Bắc Bộ, khí hậu Sơn La còn có những nét đặc thù Đặc trưng khí hậu mùa

hè ở Sơn La là cán cân bức xạ lớn, nắng nhiều, nhiệt độ cao, mưa nhiều và phần lớn là mưa dông ảnh hưởng của bão dẫn đến mưa lớn nên độ ẩm khá cao Gió Tây khô nóng

Trang 11

thịnh hành suốt mùa hè, gây nhiều tác hại nhưng lại góp phần hạn chế sự tàn phá của gió bão Mùa hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, nóng nhất là tháng 6 và tháng 7 Như vậy, thuộc tính khí hậu Sơn La là sự trùng hợp giữa mùa nóng và mùa mưa, sự phong phú về điều kiện nhiệt ẩm của mùa hè, đôi khi dẫn đến tình trạng nắng hạn gay gắt hoặc lũ lụt

Sự trùng hợp giữa mùa lạnh với mùa khô - đặc trưng bằng sự nghèo về điều kiện nhiệt, điều kiện ẩm, nhiều khi dẫn đến tình trạng rét hại và khô kéo dài

Đặc điểm tài nguyên: Sơn La có tiềm năng rất lớn về tài nguyên nước với 35

suối lớn; 2 sông lớn là sông Đà dài 280 km với 32 phụ lưu và sông Mã dài 90 km với

17 phụ lưu; 7.900 ha mặt nước hồ Hoà Bình và 1.400 ha mặt nước ao hồ Mật độ sông suối 1,8km/km2 nhưng phân bố không đều, sông suối có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh

do địa hình núi cao, chia cắt sâu Dòng chảy biến đổi theo mùa, biên độ dao động giữa mùa mưa và mùa khô khá lớn Mùa lũ thường diễn ra từ tháng 6 đến tháng 10 trong năm nhưng diễn ra sớm hơn ở các nhánh thượng lưu và muộn hơn ở hạ lưu Có đến 65

- 80% tổng lượng dòng chảy trong năm tập trung trong mùa lũ này Việc khai thác thế mạnh tài nguyên nước phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội là cần thiết và cấp bách Chính vì vậy, Sơn La có lợi thế rất lớn về tiềm năng Thuỷ điện

Đặc điểm hành chính lãnh thổ: Tỉnh Sơn La có 1 thành phố, 10 huyện, 206 xã,

phường, thị trấn với 3.174 bản, tiểu khu, tổ dân phố, trong đó có 90 xã với 1.119 bản đặc biệt khó khăn được hưởng chương trình 135 giai đoạn 2 của Chính phủ

Thành phố Sơn La là một thành phố trẻ trực thuộc tỉnh mới được Chính Phủ ra

quyết định thành lập trên cơ sở thị xã Sơn La vào tháng 10 năm 2008, thành phố có 6 phường với tổng diện tích: 330 km2, dân số: 74.132 người, mật độ dân số 225 người/km2

Huyện Bắc Yên nằm ở phía Đông của tỉnh, có 1 thị trấn và 13 xã Huyện Bắc

Yên có tổng diện tích tự nhiên 1.091 km2 Dân số: 49.518 người với mật độ dân số 45 người/km2

Huyện Sông Mã nằm ở phía Tây của tỉnh, có 1 thị trấn và 18 xã Huyện Sông Mã

có tổng diện tích tự nhiên 1.659 km2 Dân số: 111.214 người với mật độ dân số 67 người/km2

Trang 12

Huyện Sốp Cộp nằm ở phía Tây của tỉnh, có 1 thị trấn và 8 xã Huyện Sốp Cộp

có tổng diện tích tự nhiên 1.477 km2 Dân số: 34.798 người với mật độ dân số 24 người/km2

Huyện Mai Sơn nằm ở phía Tây Nam của tỉnh, có 1 thị trấn Hát Lót và 20 xã

Huyện Mai Sơn có tổng diện tích tự nhiên 1.410 km2 Dân số: 123.442 người với mật độ dân số 88 người/km2

Huyện Mường La nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, có 1 thị trấn và 16 xã Huyện

Mường La có tổng diện tích tự nhiên 1.408 km2 Dân số: 78.023 người với mật độ dân số

55 người/km2

Huyện Yên Châu nằm ở phía Nam của tỉnh, có 1 thị trấn và 14 xã Huyện Yên

Châu có tổng diện tích tự nhiên 844 km2 Dân số: 63.049 người với mật độ dân số 75 người/km2

Huyện Thuận Châu nằm ở phía Bắc của tỉnh, có 1 thị trấn, 28 xã Huyện Thuận

Châu có tổng diện tích tự nhiên 1.535 km2 Dân số: 133.656 người với mật độ dân số 87 người/km2

Huyện Quỳnh Nhai nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, có 1 thị trấn và 13 xã Huyện

Quỳnh Nhai có tổng diện tích tự nhiên 1.049 km2 Dân số: 63.803 người với mật độ dân

số 61 người/km2

Huyện Mộc Châu nằm ở phía Nam của tỉnh, có 2 thị trấn: thị trấn Mộc Châu, thị

trấn Nông trường Mộc Châu và 25 xã Huyện Mộc Châu có tổng diện tích tự nhiên 2.025

km2 Dân số: 139.805 người với mật độ dân số 69 người/km2

Huyện Phù Yên nằm ở phía Bắc của tỉnh, có 1 thị trấn và 26 xã Huyện Phù Yên

có tổng diện tích tự nhiên 1.227 km2 Dân số: 103.547 người với mật độ dân số 84 người/km2

Đặc điểm kinh tế:

Điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã tạo cho Sơn La tiềm năng để phát triển các sản phẩm nông - lâm sản, hàng hoá có lợi thế với quy mô lớn mà ít nơi có được như chè đặc sản chất lượng cao trên cao nguyên Mộc Châu, Nà Sản Là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, đặc biệt Sơn La đã được các nhà khoa học đánh giá là

Trang 13

một trong những địa bàn lý tưởng để phát triển bò sữa, bò thịt chất lượng cao Bên cạnh

đó, tiềm năng khí hậu, đất đai còn cho phép tỉnh phát triển các loại giống cây ăn quả ôn đới, nhiệt đới, á nhiệt đới với quy mô trên 30.000 ha

Một trong những đặc điểm nổi bật về kinh tế của tỉnh Sơn La đó là tài nguyên

đất dồi dào, đặc điểm này rất thuận lợi cho công tác di dân, tái định cư nội tỉnh Diện tích

tự nhiên toàn tỉnh 1.412.500 ha, trong đó đất đang được sử dụng là 753.520 ha (chiếm 53,3% đất tự nhiên), so với cả nước tỷ lệ này là 97%, vùng Trung du miền núi phía Bắc

là 56,14% Diện tích đất đang sử dụng sẽ có thay đổi khi Thuỷ điện Sơn La hoàn thành vào năm 2015 Theo tính toán, Sơn La có 3 huyện bị ngập, tổng diện tích bị ngập khoảng 13.730 ha, trong đó có 6.321 ha đất nông nghiệp, đất rừng 2.451 ha, đất chưa sử dụng 7.214 ha Như vậy, đến nay đất chưa sử dụng và sông suối trong toàn tỉnh còn rất lớn: 651.980 ha, chiếm 46,1% diện tích tự nhiên

Sơn La còn có tiềm năng để phát triển du lịch do có nhiều danh lam thắng cảnh, hang động kỳ thú, các mỏ suối nước khoáng nóng, vùng hồ sông Đà, các di tích lịch sử cách mạng như bảo tàng nhà tù Sơn La, văn bia Lê Thánh Tông, hang Chi Đảy có thể kết hợp với các tỉnh bạn để phát triển du lịch tổng hợp, nhất là vùng cao nguyên Mộc Châu

có khí hậu mát mẻ giống như Đà Lạt

Sơn La là tỉnh có diện tích rừng và đất có khả năng phát triển lâm nghiệp khá lớn (chiếm 73% diện tích tự nhiên), đất đai phù hợp với nhiều loại cây, có điều kiện xây dựng

hệ thống rừng phòng hộ và tạo các vùng rừng kinh tế hàng hoá có giá trị cao Rừng Sơn

La có nhiều thực vật quý hiếm, có các khu đặc dụng có giá trị đối với nghiên cứu khoa học và phục vụ du lịch sinh thái trong tương lai Hiện nay, diện tích rừng của Sơn La là 480.057 ha, trong đó rừng tự nhiên là 439.592 ha, rừng trồng 41.047 ha Độ che phủ rừng đạt khoảng 40%, tỷ lệ này còn thấp so với yêu cầu - nhất là đối với một tỉnh có độ dốc lớn, mưa tập trung theo mùa, lại có vị trí là mái nhà phòng hộ cho đồng bằng Bắc Bộ, điều chỉnh nguồn nước cho Thuỷ điện Hoà Bình

Với đặc điểm kinh tế đó, Sơn La có nhiều tiềm năng để phát triển song lại thiếu nhiều nhân lực qua đào tạo để khai thác những tiềm năng, thế mạnh một cách có kế hoạch như việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp lớn để công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 14

nông nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ Đặc điểm này đòi hỏi cùng với việc tiến hành công tác di dân, tái định cư, phải tiến hành công tác đào tạo nhân lực, chuyển đổi cơ cấu kinh

tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và dịch vụ kinh tế phát triển

Đặc điểm văn hóa - xã hội:

Sơn La là một trong những cái nôi của văn hóa dân tộc bởi nơi đây là quê hương bản quán của các dân tộc cùng sinh sống gồm Kinh, Thái, Mông, Khơ Mú, Sinh Mun, Dao, Tày, Hoa, La Ha, Mường, Lào, Kháng 12 dân tộc anh em trên quê hương Sơn La đều có những di sản văn hóa truyền thống độc đáo của riêng mình Trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân các dân tộc Sơn La đã sớm có truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng, tinh thần chống áp bức bóc lột, bảo vệ cuộc sống thanh bình Từ thời vua Hùng, các dân tộc ở Sơn La đã chung lưng đấu cật xây dựng và bảo vệ đất nước Các dân tộc Sơn La luôn gắn bó, đoàn kết với nhau và với nhân dân cả nước cùng làm chủ đất nước Việt Nam, 12 dân tộc cố kết một cách bền chặt để kiên quyết đẩy lùi và dập tắt mọi biểu hiện của khuynh hướng chia rẽ, tăng cường sức mạnh của cả cộng đồng và sức mạnh của mỗi dân tộc trong quá trình phát triển Sức mạnh đó đã đẩy lùi mọi nguy cơ xâm lược qua các giai đoạn lịch sử và tô thắm truyền thống xây dựng và bảo vệ quê hương

Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng

bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đã kế thừa truyền thống vẻ vang của các thế hệ cha anh, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, góp phần thực hiện thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Hiện nay, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đang hăng hái thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đưa kinh tế Sơn La từng bước phát triển, hòa nhập với sự phát triển chung của cả nước Các dân tộc Sơn La đang ngày đêm lao động, sản xuất, nghiên cứu, học tập quyết tâm giữ vững độc lập chủ quyền đất nước và xây dựng Sơn La nhanh chóng thoát khỏi danh sách 7 tỉnh đặc biệt khó khăn của cả nước

Tuy nhiên, về chất lượng giáo dục và an sinh xã hội, Sơn La là một trong những tỉnh kém phát triển so với hầu hết các tỉnh trong cả nước, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp bậc Trung học phổ thông năm học 2008 - 2009 xếp thứ 63/64 tỉnh thành (mới đạt 38,76% chỉ tiêu kế hoạch) Chính sách thu hút cán bộ giỏi chưa đạt hiệu quả cao

Trang 15

Đời sống của nhân dân các dân tộc còn nhiều khó khăn, công tác chăm sóc sức khỏe chưa thực sự tốt, ở nhiều xã chưa có bác sĩ, bệnh viện cấp huyện thiếu phương tiện khám chữa bệnh hiện đại, vẫn còn nhiều tập tục hủ tục lạc hậu trong nề nếp lối sống của một bộ phận dân cư như di canh di cư tự do, tái trồng cây thuốc phiện, mê tín dị đoan, học và truyền đạo trái pháp luật, bảo thủ chưa hòa nhập với đời sống văn hóa mới tiến bộ

Chính vì vậy, khi chủ trương của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước về di dân, tái định cư đến với các cộng đồng đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tư tưởng, tình cảm và tâm lý của đồng bào, không ít người đã không muốn chấp nhận rời bỏ quê hương, bản quán đã cư trú từ lâu đời đến nơi ở mới, nhất là việc di dân ngoại huyện Hầu hết bà con chỉ muốn di vén tại huyện hoặc xã nơi đã và đang cư trú Phong tục tập tập quán cũng như các mối quan hệ giữa các cộng đồng giữa các bản, giữa các xã trong một huyện rất bền chặt từ lâu đời, nó được ràng buộc bởi các quan hệ dòng họ, hôn nhân, huyết thống, dòng tộc, gia đình, quan hệ kinh tế Song song đó là các nề nếp, tập quán quan hệ sản xuất gắn bó với thiên nhiên tại nơi ở cũ, đời sống của đồng bào các dân tộc hầu hết đều đã định cư lâu đời, làm ăn sinh sống trên vùng đất ven sông, ven suối có tập quán sản xuất, sinh hoạt văn hoá hàng trăm năm không dễ chấp nhận một cuộc sống tại nơi ở mới

Đặc điểm quốc phòng, an ninh:

Sơn La là tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc có chung 250 km đường biên giới với hai tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng của nước bạn Lào, trong đó

có 24 cột mốc quốc giới, hai cửa khẩu quốc gia và 7 trạm kiểm soát tiểu ngạch thuộc địa bàn 19 xã của 5 huyện Nhìn trên bản đồ, Sơn La là vùng đất phên dậu của Tổ quốc, giữ

vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh Những năm qua, tình hình khu vực biên giới của tỉnh diễn biến khá phức tạp Các hoạt động di dịch cư tự do, xuất nhập cảnh trái phép, truyền và học đạo trái pháp luật, tranh chấp đất đai, mâu thuẫn dòng họ, tái trồng cây thuốc phiện và buôn bán, vận chuyển trái phép chất ma túy qua biên giới ngày càng gia tăng Do tác động của những luận điệu tuyên truyền, lôi kéo từ phía ngoại biên, một số đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã nội địa và các xã biên giới bị kẻ xấu lợi dụng móc nối, lôi kéo đã vượt biên trái phép sang Lào tham gia vào các hoạt động gây rối,

Trang 16

chống phá nước bạn Đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất

là ở vùng cao, vùng sâu, các xã, bản đặc biệt khó khăn Tình hình tội phạm do người nghiện ma túy gây ra trong thời gian qua có chiều hướng gia tăng

Khái quát những đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, đơn vị hành chính lãnh thổ, đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội và đặc điểm về quốc phòng an ninh, thấy rằng, Sơn La là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển toàn diện về kinh tế nông lâm nghiệp và dịch vụ Sơn La giàu tài nguyên đất, tài nguyên rừng, với diện tích đất đai rộng rãi rất thuận lợi cho công tác di dân, tái định cư Người dân Sơn La có truyền thống văn hóa tốt đẹp, đoàn kết, yêu nước, đây là yếu tố quan trọng để xây dựng nền quốc phòng an ninh biên giới miền Tây Bắc vững chắc Sơn La được Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân Việt Nam tin tưởng giao nhiệm vụ di dân, tái định cư để xây dựng công trình trọng đại Nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam á, đồng thời để ổn định cuộc sống mới tốt đẹp hơn, từng bước khắc phục những khó khăn, thách thức và những điểm yếu của một tỉnh miền núi để vững bước đi lên trở thành một tỉnh phát triển mạnh

1.1.1.2 Khái quát về Đảng bộ tỉnh Sơn La

- Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của Đảng bộ tỉnh

Năm 1892, Toàn quyền Đông dương ra Nghị định thành lập một Tiểu quân khu trực thuộc Đạo binh quan 4 Thủ phủ của Tiểu quân khu này đặt tại Vạn Bú, nên gọi Tiểu quân khu Vạn Bú Địa bàn của Tiểu quân khu Vạn Bú gồm: Phủ Vạn Yên với các châu: châu Mộc, Phù Yên và Phủ Sơn La với các châu Sơn La, châu Yên, Mai Sơn, Tuần Giáo, Điện Biên tất cả đều được tách ra từ tỉnh Hưng Hóa

Ngày 10/10/1895, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định bãi bỏ Tiểu quân khu Vạn Bú để chuyển thành tỉnh Vạn Bú, đồng thời nhập toàn bộ Tiểu quân khu phụ Lai Châu vào địa bàn tỉnh Vạn Bú, tỉnh lỵ đặt tại Vạn Bú Năm 1904 toàn quyền Đông Dương ra Nghị định chuyển tỉnh lỵ Vạn Bú từ Vạn Bú về Sơn La và đổi tên tỉnh Vạn Bú thành tỉnh Sơn La

Ngay từ khi thực dân Pháp đặt ách cai trị lên vùng Tây Bắc, nhân dân các dân tộc Sơn La đã vùng lên chống lại áp bức, bóc lột Cuộc đấu tranh diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các thành phần dân tộc, diễn ra dưới mọi hình thức đấu

Trang 17

tranh chính trị và đấu tranh vũ trang Tiêu biểu là cuộc nổi dậy hưởng ứng nghĩa quân Lường Xám (1914), nghĩa quân Pa Chay (1918) đánh Tây… Tuy các phong trào cuối cùng đều bị đàn áp, thất bại, song đã thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân, thể hiện tình đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, tạo thành sức mạnh to lớn, cùng đứng lên chống kẻ thù xâm lược

Để tăng cường đàn áp cách mạng, uy hiếp nhân dân, thực dân Pháp đã mở rộng hàng loạt nhà tù, bắt giữ và giết hại hàng vạn chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước Nhà tù Sơn La được chúng đổi tiên thành Ngục Sơn La Trong những năm 1930 -

1935, thực dân Pháp liên tiếp đày lên đây 6 đoàn tù với tổng số 436 người; từ cuối năm

1939 đến cuối năm 1942, thực dân Pháp tiếp tục đày 7 đoàn tù chính trị lên, trong đó đa

số là tù chính trị, nhiều đồng chí là ủy viên Trung ương, xứ ủy viên, tỉnh ủy viên như: Trịnh Đình Cửu, Trường Chinh, Lê Duẩn, Trần Văn Lan, Khuất Duy Tiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Việt Châu, Phạm Quang Lịch

Xuất phát từ yêu cầu phải thống nhất chỉ đạo hoạt động, đấu tranh trong nhà tù, cuối tháng 12/1939, một số đảng viên trong nhà ngục đã bí mật triệu tập hội nghị để thảo luận việc thành lập chi bộ đảng Chi bộ lâm thời được thành lập gồm 10 đồng chí, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được cử làm Bí thư Tháng 2/1940, chi bộ lâm thời được chuyển thành chi bộ chính thức, đồng chí Trần Huy Liệu được cử làm Bí thư, đồng chí

Tô Hiệu được cử làm chi uỷ viên Tháng 5/1940, Chi uỷ đã triệu tập Đại hội chi bộ để thảo luận, quyết định các chủ trương công tác Đồng chí Tô Hiệu được bầu làm Bí thư chi

bộ Ban chi ủy có các đồng chí: Tô Hiệu, Trần Huy Liệu, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Trần Quốc Hoàn, Lê Thanh Nghị Sự ra đời của chi bộ nhà ngục Sơn La đánh dấu một bước ngoặt mới trong cuộc đấu tranh của tù chính trị ở Sơn La; đồng thời, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng ở Sơn La Đây là chi bộ cộng sản đầu tiên

ở Sơn La, vì thời kỳ này toàn tỉnh chưa có đảng viên và tổ chức cơ sở đảng Chi bộ nhà ngục Sơn La ra đời đã thực sự trở thành cơ quan tổ chức, xây dựng cơ sở, lãnh chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương, tạo tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Đảng bộ Sơn La sau này

Trang 18

Chi bộ nhà ngục Sơn La ra đời trong hoàn cảnh ở một tỉnh miền núi, giao thông

đi lại khó khăn, cộng với sự kiểm soát gắt gao của kẻ thù nên hoạt động của chi bộ lúc này là bí mật và hoàn toàn tự động, bởi chi bộ vẫn chưa liên lạc được với Trung ương Đến đầu năm 1942, một đoàn tù mới bị đày lên Sơn La trong đó có đồng chí Trần Đăng Ninh, đồng chí đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Trung ương Tám (5/1941) cho các đảng viên trong nhà tù về tình hình nhiệm vụ mới, nhờ đó đảng viên trong chi bộ nắm được sự chuyển hướng chiến lược của Đảng ta là tập trung đánh Pháp, đuổi Nhật, chuẩn

bị khởi nghĩa giành chính quyền tiến tới xây dựng nền độc lập, tự do cho Tổ quốc Bên cạnh đó, một số đồng chí mãn hạn tù về xuôi đã thu thập và bí mật gửi tài liệu quan trọng của Đảng cho chi bộ như Nghị quyết trung ương Tám, Điều lệ Việt Minh, tài liệu huấn luyện quân sự Từ đây, chi bộ nhà ngục đã được Trung ương Đảng công nhận và được sự chỉ đạo trực tiếp của Xứ uỷ Bắc kỳ, tạo ra một bước chuyển mới trong việc xây dựng cơ

sở cách mạng, tổ chức lực lượng ở địa phương, sẵn sàng chờ thời cơ đứng lên giành chính quyền Dưới sự lãnh đạo của chi bộ nhà ngục Sơn La, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc Sơn La mở rộng và phát triển, Sơn La đã cùng cả nước giành chính quyền thành công vào ngày 26/8/1945

Tháng 10 năm 1946, dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Quyết Hội nghị thành lập chi bộ được tiến hành ở bản Hát Lót, xã Hát Lót, Châu Mai Sơn Dự Hội nghị có 8 đảng viên Đồng chí Trần Quyết được bầu làm Bí thư chi bộ Cả tỉnh lúc này mới có một chi

bộ nhưng phải gánh vác nhiệm vụ của một Đảng bộ địa phương, đồng chí Bí thư chi bộ đồng thời là Bí thư Tỉnh ủy, chỉ đạo mọi nhiệm vụ ở địa phương và liên lạc với cấp trên

Sự kiện thành lập chi bộ địa phương đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Sơn La (10/1946)

là bước ngoặt căn bản trong lịch sử cách mạng ở Sơn La Từ đây, nhân dân các dân tộc Sơn La có sự lãnh đạo, dìu dắt trực tiếp của Đảng bộ tỉnh Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh, nhân dân các dân tộc Sơn La cùng với nhân dân cả nước tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước, bất khuất chống giặc ngoại xâm, xây dựng bản mường, tiến hành cuộc kháng chiến toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Sơn La đã củng cố xây dựng cơ sở, xây dựng thành công các lực lượng vũ trang và cơ sở chính trị,

Trang 19

đẩy mạnh chiến tranh du kích, kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, tạo ra sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, ngăn chặn có hiệu quả các cuộc tiến công lấn chiếm của địch, bảo vệ và phát triển khu căn cứ kháng chiến Trong chiến dịch Tây Bắc và chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân Sơn

La đã đóng góp một phần không nhỏ xương máu và vật chất cho chiến dịch toàn thắng ở khắp nơi, bộ đội địa phương và dân quân du kích đều đi phục vụ chiến đấu và sát cánh tác chiến cùng bộ đội chủ lực, trực tiếp tham gia thu dọn chiến trường, phục vụ cáng thương, tiếp lương, tải đạn cho bộ đội chủ lực truy kích địch

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, Sơn La vững vàng vừa sản xuất, vừa chiến đấu góp phần đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc

Mỹ, bảo vệ vững chắc quê hương, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong nội địa và biên giới; đồng thời dốc sức người, sức của chi viện cho cách mạng miền Nam và Lào giành thắng lợi hoàn toàn

Sau khi đất nước thống nhất, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ, Sơn La luôn coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao tinh thần giác ngộ cách mạng và ý thức đoàn kết giữa các dân tộc, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số Từng bước làm cho đồng bào các dân tộc miền núi thay đổi nếp sống du canh,

du cư, tập tục lạc hậu, thực hiện định canh, định cư, có cuộc sống ổn định, hăng hái lao động sản xuất, hướng tới đời sống ấm no, nếp sống văn hóa mới, miền núi tiến kịp miền xuôi, dân tộc thiểu số bình đẳng với dân tộc đa số, kề vai sát cánh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đã phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, được sự quan tâm giúp đỡ có hiệu quả của Trung ương Đảng, Chính phủ, các Bộ, Ngành, đoàn thể ở Trung ương và các tỉnh bạn, tỉnh Sơn La đã vươn lên giành được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng Đảng và củng cố hệ thống chính trị, mở rộng quan hệ đối ngoại,

Trang 20

hợp tác và giao lưu quốc tế, đặc biệt quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Sơn La với tỉnh Hủa Phăn, tỉnh Luông Phrabăng và các tỉnh phía Bắc của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ngày càng phát triển tốt đẹp bền vững, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển trong những năm tiếp theo

- Đặc điểm về tổ chức, đội ngũ cán bộ, đảng viên:

Đảng bộ tỉnh Sơn La có 17 đảng bộ trực thuộc, trong đó có 10 đảng bộ huyện, 1 đảng bộ thành phố; 6 đảng ủy khối doanh nghiệp, trường học và chính dân đảng; 803 tổ chức

cơ sở đảng; 4.265 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở với tổng số 53.441 đảng viên Trong 803

tổ chức cơ sở đảng, có 206 đảng bộ xã với trên 30.000 đảng viên; 12 đảng phường, thị trấn với 261 chi bộ trực thuộc, 5.012 đảng viên; 125 tổ chức cơ sở đảng khối doanh nghiệp với

131 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, 2.825 đảng viên; 340 tổ chức cơ sở đảng khối cơ quan với 6.484 đảng viên; 64 tổ chức cơ sở đảng đơn vị sự nghiệp với 1.744 đảng viên

Trong tổng số 53.441 đảng viên, đảng viên là người dân tộc Thái chiếm 47,1%; dân tộc Kinh 34,55%; dân tộc Mường 8,23%; dân tộc Mông 4%; dân tộc Dao 1,4% và các dân tộc khác Đầu nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XII (2005 - 2010), toàn Đảng bộ đã kết nạp được 13.121 đảng viên, phát triển được đảng viên ở 318 cơ sở trước đó chưa có đảng viên (175 bản, 117 trường học, 26 trạm y tế) Năm 2006, Sơn La vẫn còn 89 bản chưa có đảng viên, 841 bản chưa có chi bộ

Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh đã có bước trưởng thành về số lượng và chất lượng Tỉnh đã có quy hoạch cán bộ từ tỉnh đến huyện, thị và

cơ sở Trên cơ sở tiêu chuẩn đã đề ra, đội ngũ cán bộ từng bước được trẻ hoá ở tất cả các cấp, các ngành Các cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh và huyện, thành uỷ đều qua đào tạo về và chuyên môn, trong đó 100% có trình độ lý luận Mác - Lênin trung, cao cấp, trên 60% có trình độ đại học, cao đẳng và trên đại học Đa số cán bộ cơ sở đã học xong chương trình

lý luận sơ cấp và trung cấp Các giám đốc doanh nghiệp Nhà nước và nhiều cán bộ công chức có trình độ đại học và cao đẳng Trong thực tiễn công tác, cán bộ công chức đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đảm bảo chất lượng công việc

Đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh đang từng bước được xây dựng và củng cố theo hướng chuẩn hoá Những năm qua, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Ban Chấp

Trang 21

hành Trung ương, nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XI và XII về công tác xây dựng Đảng, Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 12/7/2002 của Ban Thường vụ tỉnh uỷ về quy hoạch, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ theo tiêu chuẩn từng chức danh cán bộ xã, phường, thị trấn, đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã từng bước củng cố và tăng cường theo hướng chuẩn hoá, trẻ hoá, chất lượng đội ngũ cán bộ có bước chuyển biến tích cực, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn

Tuy nhiên, chất lượng cán bộ lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp xã còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Trình độ chuyên môn của cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn còn thấp Trong tổng số 1.120 cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn: có 34 đồng chí trình độ đại học; 7 đồng chí trình độ cao đẳng; 152 đồng chí trình độ trung cấp; 85 đồng chí trình độ sơ cấp;

842 đồng chí chưa qua đào tạo về chuyên môn (chiếm 75,17%) Trong tổng số 478 cán

bộ chủ chốt thuộc 90 xã đặc biệt khó khăn có: 5 đồng chí trình độ đại học; 3 đồng chí trình độ cao đẳng; 29 đồng chí trình độ trung cấp; 13 đồng chí trình độ sơ cấp; 428 đồng chí (chiếm 89,54%), chưa qua đào tạo về chuyên môn

Thực tiễn trên đòi hỏi Đảng bộ tỉnh phải tiếp tục thực hiện tốt công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, chính trị và năng lực công tác của đội ngũ cán bộ cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.2 Khái quát về chủ trương, kế hoạch xây dựng Thủy điện Sơn La và những vấn đề đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh Sơn La trong lãnh đạo công tác di dân, tái định cư

1.1.2.1 Khái quát về chủ trương, kế hoạch xây dựng Thuỷ điện Sơn La

Dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La được Nhà nước ta đặt ra từ những năm 60 và được đẩy mạnh nghiên cứu vào những năm 80 của thế kỷ XX, ngay khi xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình vào năm 1978 Sau nhiều năm nghiên cứu, chủ trương xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn La đã đạt được sự thống nhất cao trong Bộ Chính trị, Quốc hội

và Chính Phủ về việc xây dựng Thủy điện Sơn La theo phương án ba bậc trên Sông Đà

Trang 22

Tháng 6 năm 2001, Chính phủ đã trình Quốc hội quyết định chủ trương xây dựng công trình thủy điện Sơn La

Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội Khóa X diễn ra từ ngày 22 tháng 5 đến ngày 29 tháng 6 năm 2001, Quốc hội đã bàn, thảo luận về tiêu chuẩn các công trình quan trọng quốc gia Trên cơ sở xem xét Báo cáo số 520/BC-CP ngày 13 tháng 6 năm 2001 của Chính Phủ; Báo cáo thẩm tra số 651 ngày 16 tháng 6 năm 2001 của ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội và ý kiến của các đại biểu, Quốc hội khóa X đã ra Nghị quyết số 44/2001/NQ-QH10 về chủ trương đầu tư dự án Nhà máy thủy điện Sơn

La Nghị quyết nêu rõ mục đích của việc xây dựng Thuỷ điện Sơn La:

Một là, cung cấp điện năng để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

Hai là, góp phần chống lũ về mùa mưa và cung cấp nước về mùa kiệt cho đồng

bằng Bắc Bộ;

Ba là, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc

Ngay sau kỳ họp này, Chính phủ đã khẩn trương chuẩn bị các phương án với quy

mô khác nhau trình Quốc hội xem xét, quyết định phương án xây dựng nhà máy Thủy điện Sơn La với các yêu cầu: Đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình, cho hạ du và thủ

đô Hà Nội; Đạt hiệu quả kinh tế tổng hợp; Bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Bắc; Giảm nhiều tác động xấu đối với môi trường - sinh thái, đa dạng sinh học; Có biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc

Ngay sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 44 và tờ trình của Ban Cán sự

đảng Chính phủ, Bộ Chính trị đã ra Thông báo số 84-TB/TW ngày 22/10/2002 về Kết

luận của Bộ Chính trị về Dự án thủy điện Sơn La Bộ Chính trị đồng ý với ý kiến của Ban

Cán sự đảng Chính phủ xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn La theo phương án quy hoạch thủy điện trên sông Đà gồm ba bậc: Hòa Bình - Sơn La và Lai Châu (tại điểm Nậm Nhùn); quy mô công trình ở mức nước dâng bình thường trong khoảng 210 m - 215 m và phải bảo đảm được các yêu cầu Quốc hội đã nêu Bộ Chính trị yêu cầu Chính phủ tiếp tục hoàn chỉnh phương án tái định cư, nhằm mục tiêu tạo điều kiện để đồng bào tái định cư sớm ổn định được chỗ ở, cuộc sống, sản xuất, tiến lên thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển

Trang 23

sản xuất, nâng cao thu nhập, có cuộc sống vật chất và văn hóa tốt hơn và ổn định lâu dài Xây dựng công trình Thủy điện Sơn La phải tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế -

xã hội cả vùng Tây Bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng an ninh, môi trường sinh thái

Thực hiện Nghị quyết số 44/2001/NQ-QH10 và sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngày 16/12/2002, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XI đã ra Nghị quyết số 13/2002/NQ-

QH11 về phương án xây dựng công trình Thủy điện Sơn La Nghị quyết đã nêu rõ những

thông số cơ bản của công trình là: Quy mô công trình ứng với mức nước dâng bình thường của hồ chứa từ 205 m đến 215 m, không vượt quá 215 m; Công suất lắp máy: từ 1.970 MW đến 2.400 MW; Sản lượng điện trung bình hàng năm: từ 7.555 triệu KWh đến 9.209 triệu KWh; Vốn đầu tư (chưa tính lãi vay): từ 31.000 tỷ đồng đến 37.000 tỷ đồng, trong đó vốn trong nước khoảng 70%, vốn nước ngoài khoảng 30% Dự kiến công trình

sẽ được khởi công vào năm 2005, phát điện tổ máy số 1 vào năm 2012, hoàn thành công trình vào năm 2015

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 15/1/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ra

Quyết định số 92/QĐ-TTG Về việc phê duyệt đầu tư Dự án thủy điện Sơn La Quyết định

nêu rõ: Công trình Thủy điện Sơn La được xây dựng tại tuyến Pá Vinh II, xã ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, trên sông Đà, đây là phụ lưu lớn nhất trong hệ thống sông Hồng, bắt nguồn từ vùng núi Ngụy Sơn - Vân Nam, Trung Quốc Dự án xây dựng công trình thủy điện Sơn la do Tổng công ty Điện lực Việt Nam là chủ đầu tư gồm: Dự án tái định cư theo địa bàn quản lý do ủy ban nhân dân các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên là chủ đầu tư Dự án các công trình giao thông tránh ngập do Bộ giao thông vận tải là chủ đầu tư

- Quan điểm, mục tiêu và yêu cầu của Đảng, Nhà nước về công tác di dân, tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La

Tại Thông báo số 84-TB/TW ngày 22/10/2002 kết luận về Dự án Thủy điện Sơn

La, Bộ Chính trị đã nêu những quan điểm cơ bản sau:

Một là, hoàn chỉnh phương án tái định cư, nhằm mục tiêu tạo điều kiện để đồng

bào tái định cư sớm ổn định chỗ ở, cuộc sống, sản xuất, tiến lên thay đổi cơ cấu kinh tế,

Trang 24

phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, có cuộc sống vật chất và văn hóa tốt hơn và ổn định lâu dài

Hai là, xây dựng công trình thủy điện Sơn La phải tạo điều kiện thuận lợi để phát

triển kinh tế - xã hội cả vùng Tây Bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng an ninh, môi trường sinh thái

Ba là, cần có phương án chủ động bố trí di dân tái định cư cho một số đồng bào

sang tỉnh khác, vào các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên khi có yêu cầu Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, cùng với chủ dự án, các bộ, ngành có liên quan, cấp ủy tỉnh các cấp ở hai tỉnh Sơn La, Lai Châu phải chủ động, tích cực tham gia vào công trình quan trọng này Đồng thời, nghiên cứu xây dựng nhiều mô hình tái định cư khác nhau phù hợp với phong tục tập quán đồng bào các dân tộc và điều kiện từng nơi để nhân dân lựa chọn, không áp đặt; coi trọng việc lấy ý kiến góp ý của cán bộ và nhân dân ở các vùng phải di dời đối với các phương án tái định cư; khuyến khích đồng bào chủ động xây dựng nhà ở trong các khu tái định cư theo quy hoạch Đặc biệt, công tác tái định cư cần coi trọng việc bảo tồn

và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, tạo điều kiện cho sản xuất ổn định lâu dài

Quyết định số 196/2004/QĐ-TTg ngày 29/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La đã xác định mục tiêu và yêu cầu sau:

+ Về mục tiêu:

Di dân, tái định cư thủy điện Sơn La phải tạo được các điều kiện để đồng bào tái định cư sớm ổn định chỗ ở và đời sống, trên cơ sở khai thác tiềm năng về tài nguyên và sức lao động, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn nơi ở cũ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững ổn định chính trị -

xã hội, quốc phòng - an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái

+ Về yêu cầu:

1- Công tác di dân, tái định cư phải được các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng phối hợp chặt chẽ để tổ chức và thực hiện theo phương châm: Trung ương quy

Trang 25

định và hướng dẫn cơ chế, chính sách chung, các tỉnh cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện

2- Tái định cư trong vùng, trong tỉnh là chính, thực hiện các hình thức tái định cư khác nhau: tập trung nông thôn và đô thị, xen ghép, tự nguyện di chuyển, phù hợp với các điều kiện cho sản xuất, phong tục, tập quán và nguyện vọng của đồng bào các dân tộc ở nơi đi cũng như nơi đến Khuyến khích đồng bào tự di chuyển nhà cũ, tự xây dựng nhà ở tại nơi tái định cư theo quy hoạch và khuyến khích hình thức tái định cư xen ghép Di dân, tái định cư cần coi trọng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, sự đoàn kết giữa dân tái định cư và dân sở tại

3- Ưu tiên nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án đầu tư khác trên địa bàn (giao thông, thủy lợi, điện, xây dựng đô thị mới ) với dự án di dân, tái định cư để xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng tại các vùng tái định cư

1.1.2.2 Những vấn đề đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh Sơn La trong lãnh đạo công tác di dân, tái định cư

- Về công tác tư tưởng:

Thực hiện chủ trương, kế hoạch của Đảng, Nhà nước về xây dựng Thuỷ điện Sơn

La, Sơn La là tỉnh bị tác động ảnh hưởng, thiệt hại và di dân tái định cư lớn nhất so với hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu, cụ thể: vùng ngập lòng hồ thủy điện của tỉnh Sơn La bao gồm 3 huyện Thuận Châu, Mường La và Quỳnh Nhai, với 17 xã, 145 bản, trong đó một trung tâm huyện lỵ Quỳnh Nhai bị ngập hoàn toàn phải di dời và xây dựng mới Diện tích đất bị ngập khoảng 16.000 ha, trong đó đất nông nghiệp chủ yếu là đất nương rẫy (ruộng nước khoảng 700 ha) Nhìn chung, nhân dân vùng ngập đời sống còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp, sản xuất chủ yếu tự cấp, tự túc, sản xuất hàng hóa chưa phát triển Kết cấu hạ tầng tại các khu, điểm tái định cư chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ, yêu cầu mức đầu tư rất cao

để phục vụ sản xuất và đời sống

Xây dựng Thuỷ điện Sơn La đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Sơn La thêm một nhiệm vụ mới, đó là lãnh đạo công tác di dân, tái định cư Đây là công tác quan trọng và nhạy cảm, liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội, như: đất đai, phong tục, tập quán, tư tưởng, nhận thức, tâm lý dân tộc, môi sinh, môi trường, chế

Trang 26

độ chính sách, đời sống, sản xuất, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Yêu cầu đặt ra đối với công tác di dân, tái định cư của tỉnh phải đảm bảo theo kịp tiến độ xây dựng công trình Thủy điện Sơn La

Nhiệm vụ trước mắt của các cấp uỷ, tổ chức đảng trong Đảng bộ tỉnh, nhất là những nơi phải tiến hành di dân và tái định cư là phải tiến hành công tác tuyên truyền về chủ trương, kế hoạch xây dựng Thuỷ điện Sơn La của Đảng và Nhà nước; làm cho cán

bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc trong tỉnh nắm được mục đích, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng Thuỷ điện Sơn La, những yêu cầu đặt ra đối với tỉnh trong quá trình xây dựng công trình trọng điểm quốc gia này; đồng thời các cấp uỷ, tổ chức đảng cần tuyên truyền, vận động, thuyết phục đồng bào các dân tộc tích cực thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và những quyết định của tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu, kế hoạch xây dựng Thuỷ điện Sơn La Cụ thể:

Tại nơi đi: các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể phải tiến hành công tác tuyên

truyền, vận động, giải thích làm cho nhân dân hiểu, thấu tỏ vì sao phải chuyển đến nơi ở mới, vì sao phải thực hiện chủ trương di dân, tái định cư; cuộc sống nơi ở mới có phù hợp với phong tục, tập quán sinh hoạt, sản xuất truyền thống không và những lợi ích khi nhân dân chuyển đến nơi ở mới như thế nào Các cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các tổ chức đoàn thể cơ sở phải vận động các hộ ký cam kết với Nhà nước về thời gian, thời điểm di chuyển, phương thức di chuyển đến nơi ở mới

Tại nơi đến: trước hết là chuẩn bị các điều kiện cần và đủ cho cuộc sống mới của

đồng bào các dân tộc như giải phóng mặt bằng đất thổ cư, đất sản xuất, xây dựng kết cấu công trình hạ tầng cơ sở, vận động nhân dân sở tại nhường đất cho các hộ mới đến, chính quyền huyện và Ban quản lý dự án cấp tỉnh, huyện trên cơ sở nguồn vốn của Nhà nước tiến hành kiểm tra, thẩm định thực tế để bồi thường đất cho nhân dân sở tại Các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể từ huyện đến các xã, bản vận động nhân dân sở tại cùng vào cuộc giúp nhân dân tái định cư dựng nhà cửa, vận chuyển hành lý, đồng thời động viên về tinh thần để nhân dân tái định cư yên tâm trọn đời với cuộc sống nơi ở mới

- Vấn đề khảo sát, quy hoạch vùng di dân, vùng tái định cư:

Trang 27

Theo Quyết định số 196/2004/QĐ-TTg ngày 29/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án Thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Sơn La thì số dân phải di chuyển tính đến năm 2010 là 12.479 hộ với 62.394 nhân khẩu Phương án bố trí tái định cư trên địa bàn tỉnh Sơn La có 10 vùng (thuộc 10 huyện), 83 khu (thuộc 83 xã), 218 điểm tái định cư sắp xếp cho 100% số dân tái định cư của tỉnh Dự kiến giao cho mỗi hộ tái định cư từ 1,5 - 1,5 ha đất nông nghiệp; từ 3,0 - 5,0 ha đất lâm nghiệp và đất trồng cỏ chăn nuôi Đối với hộ phi nông nghiệp, hướng sản xuất chủ yếu là sản xuất công nghiệp và dịch vụ Dự kiến bố trí tại 10 vùng như sau:

1- Vùng tái định cư huyện Quỳnh Nhai: Gồm 9 khu, 30 điểm, bố trí 2.070 hộ

(trong đó có 560 hộ phi nông nghiệp tại thị trấn Phiêng Lanh, 1.510 hộ nông nghiệp) Hướng sản xuất: trồng các loại cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, trồng rừng nguyên liệu, chăn nuôi đại gia súc

2- Vùng tái định cư huyện Mường La: Gồm 7 khu, 17 điểm, bố trí 1.439 hộ

Hướng sản xuất trồng lúa, ngô và cây lương thực khác, cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rừng nguyên liệu, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm

3- Vùng tái định cư huyện Thuận Châu: Gồm 16 khu, 39 điểm, bố trí 1.677 hộ

Hướng sản xuất trồng lương thực, cây công nghiệp như chè các loại, cây cà phê, cây ăn quả, trồng rừng nguyên liệu, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm

4- Vùng tái định cư huyện Mộc Châu: Gồm 13 khu, 28 điểm, bố trí 1.651 hộ

Hướng sản xuất trồng lương thực, trồng chè, rau các loại, cây cà phê, cây ăn quả; chăn nuôi bò sữa, bò thịt

5- Vùng tái định cư huyện Mai Sơn: Gồm 13 khu, 36 điểm, bố trí 1.665 hộ

Hướng sản xuất trồng lương thực, lúa, ngô cao sản, trồng chè, rau các loại, cây ăn quả, trồng rừng nguyên liệu; chăn nuôi đại gia súc

6- Vùng tái định cư huyện Yên Châu: Gồm 7 khu, 16 điểm, bố trí 750 hộ Hướng

sản xuất trồng lương thực, cây nguyên liệu, trồng và cây ăn quả, trồng rừng nguyên liệu; chăn nuôi đại gia súc; sản xuất thức ăn gia súc

Trang 28

7- Vùng tái định cư huyện Sông Mã: Gồm 5 khu, 17 điểm, bố trí 830 hộ Hướng

sản xuất trồng lương thực, cây công nghiệp, trồng rau, trồng cây ăn quả, trồng rừng nguyên liệu; chăn nuôi đại gia súc

8- Vùng tái định cư huyện Sốp Cộp: Gồm 5 khu, 19 điểm, bố trí 885 hộ Hướng

sản xuất trồng lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, trồng rau, trồng cây ăn quả, trồng rừng nguyên liệu; chăn nuôi đại gia súc

9- Vùng tái định cư huyện Bắc Yên: Gồm 4 khu, 7 điểm, bố trí 350 hộ Hướng

sản xuất trồng lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây lâu năm chủ yếu là chè, trồng cây ăn quả, trồng rừng nguyên liệu; chăn nuôi bò thịt

10- Vùng tái định cư thành phố Sơn La: Gồm 4 khu, 9 điểm, bố trí 470 hộ Hướng sản

xuất trồng lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, rau, cây lâu gồm cà phê, chè, trồng cây ăn quả, trồng rừng nguyên liệu; chăn nuôi đại gia súc, gia cầm

- Vấn đề thành lập tổ chức, bộ máy chuyên trách chỉ đạo, quản lý công tác di dân, tái định cư

Đối với Đảng bộ tỉnh Sơn La, lãnh đạo công tác di dân, tái định cư Thuỷ điện Sơn La là một nhiệm vụ chính trị to lớn, khó khăn và phức tạp, không thể thực hiện trong thời gian ngắn, đòi hỏi phải có những tổ chức, cơ quan chuyên trách trực tiếp thực hiện Bởi vậy, một trong những yêu cầu trước tiên đối với Đảng bộ là phải thành lập bộ máy tổ chức chuyên trách thực hiện nhiệm vụ di dân, tái định cư thủy điện Sơn La ở tỉnh và các huyện, thị; bổ sung số lượng và bảo đảm chất lượng lực lượng cán bộ cho các ban quản lý; xây dựng cơ chế điều hành, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cơ quan, mỗi cấp quản lý và bảo đảm sự phối hợp kịp thời, đồng bộ giữa các cấp, các ngành trong thực hiện các dự án di dân, tái định cư

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 28/6/2003 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về lãnh đạo công tác di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La, ngày 17/9/2004, Thường vụ tỉnh ủy ra Nghị quyết số 27-NQ/TU về lãnh đạo công tác bồi thường, di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La và quyết định thành lập ban chỉ đạo công tác di dân, tái định cư do đồng chí Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh trực tiếp làm trưởng Ban chỉ đạo; đồng chí Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh làm Phó ban thường trực; đồng

Trang 29

chí Phó Bí thư thường trực tỉnh ủy và Chủ tịch ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh làm phó ban; thành viên là các đồng chí Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, các ủy viên ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra tỉnh ủy và các Bí thư các huyện, thành ủy thành phố Sơn La có liên quan đến công tác di dân, tái định cư Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo đặt tại Văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh Ngoài ra, Ban Thường vụ tỉnh uỷ còn quyết định thành lập Hội đồng thẩm định các dự án tái định cư Thủy điện Sơn La do đồng chí Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp làm Chủ tịch Hội đồng; Hội đồng có nhiệm vụ thẩm định phương án bồi thường và các dự án di dân, tái định cư

Hội nghị cũng ra các quyết định thành lập và kiện toàn các Ban quản lý chuyên ngành, gồm: sở Giao thông - vận tải; sở Công thương; sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn; Ban quản lý dự án bồi thường di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La; sở Tài nguyên Môi trường Ban quản lý chuyên ngành là chủ đầu tư các dự án có yêu cầu kỹ thuật chuyên ngành hoặc các dự án lớn

Theo Quyết định số 77/2005/QĐ-UB ngày 2/8/2005 về ban hanh Quy chế làm việc của Ban quản lý dự án tái định cư thủy điện Sơn La Ban quản lý dự án tái định cư thủy điện Sơn La là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, giúp việc UBND tỉnh trong công tác quản lý, điều hành thực hiện dự án tái định cư thủy điện Sơn La, giúp việc Ban chỉ đạo tỉnh, UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ do Ban chỉ đạo Nhà nước dự án thủy điện Sơn La giao

1.2 ĐảNG Bộ TỉNH SƠN LA LãNH ĐạO CÔNG TáC DI DÂN, TáI ĐịNH

CƯ - QUAN NIệM, NộI DUNG Và PHƯƠNG THứC LãNH ĐạO

1.2.1 Quan niệm về công tác di dân, tái định cư

1.2.1.1 Quan niệm về công tác di dân

Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển ngôn ngữ của Viện Khoa học xã hội xuất bản năm 1997, do Hoàng Phê chủ biên:

"Công tác" là công việc của Nhà nước hoặc của đoàn thể, trong đó mỗi viên chức

hoặc thành viên phải thực hiện [31, tr.458]

Trang 30

"Di dân" là đưa nhân dân từ nơi ở cũ dời đến các vùng, miền, địa phương khác để

sinh sống [31, tr.533]

Như vậy, theo nghĩa đen có thể hiểu: công tác di dân là một công việc của nhà

nước, đoàn thể đưa dân di chuyển từ nơi ở cũ đến nơi ở mới

Tuy nhiên, công tác di dân là một loại công tác đặc biệt, do các chủ thể là các cấp

uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội tác động tới những người dân đang sinh sống tại nơi ở cũ, sự tác động đó ảnh hưởng toàn diện tới những giá trị văn hoá vật chất

và tinh thần ổn định như: nhà ở, tài sản vật chất, thói quen, tập quán sinh sống, canh tác, tâm lý, tình cảm… Di dân là đưa nhân dân từ nơi ở cũ dời đến sinh sống ở nơi ở mới theo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vì mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước Do vậy, công tác di dân không đơn giản chỉ là

di chuyển người dân ở nơi ở cũ đến nơi ở mới, mà thực chất đó là một dạng của công tác vận động quần chúng theo nghĩa rộng, với đầy đủ nội dung, ý nghĩa của công tác này

Ngay từ khi bắt đầu xây dựng công trình Thủy điện Sơn La tháng 12 năm 2005, theo kế hoạch di dân đến năm 2010 sẽ có khoảng 12.479 hộ tương đương với gần 7 vạn dân phải di chuyển bắt buộc đến nơi ở mới Dân cư bị ảnh hưởng bởi công trình thủy điện này gồm 7 dân tộc: dân tộc Thái chiếm 88,14%; dân tộc La Ha chiếm 5,36%; dân tộc kinh chiếm 2,34%; dân tộc Khơ Mú chiếm 3,42% và dân tộc Kháng chiếm 0,7% Chủ yếu là dân tộc thiểu số tập trung ở 3 huyện Thuận Châu, Quỳnh Nhai và Mường La Trong

đó, toàn bộ thị trấn huyện Quỳnh Nhai sẽ phải di chuyển đến nơi định cư mới Phiêng Lanh, cách địa điểm cũ 32 km Các cơ quan lãnh đạo Đảng bộ huyện đều ở thị trấn huyện Quỳnh Nhai gồm huyện ủy, HĐND - UBND huyện, MTTQ cùng các tổ chức đoàn thể chính trị theo đó cũng phải di chuyển đến địa điểm mới này

Thực hiện việc di dân để giải phóng mặt bằng thi công và tích nước cho công trình Thủy điện Sơn La theo thiết kế là một nhiệm vụ hết sức to lớn, khó khăn, phức tạp đối với toàn Đảng bộ tỉnh, các tổ chức trong hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La Thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi phải triển khai nhiều hoạt động của các tổ chức và sự phối kết hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp với nhau và giữa các tổ chức chính trị ở địa phương với từng hộ dân, giữa các tổ chức trong hệ thống

Trang 31

chính trị, người dân với các ban quản lý dự án, ban di dân, tái định cư… Bằng nhiều phương thức, cách thức tác động khác nhau của các tổ chức đối với người dân nhằm mục đích đưa những hộ dân thuộc diện phải di chuyển chấp thuận, tự nguyện tự giác di chuyển đến nơi ở mới, giải phóng mặt bằng, vùng ngập nước để thi công công trình

Như vậy, có thể quan niệm: công tác di dân là một loại hình đặc thù của công tác

vận động quần chúng, bao gồm các biện pháp tác động của các tổ chức có trách nhiệm đối với người dân và tổ chức di chuyển dân cư từ nơi ở cũ đến nơi ở mới theo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước

Từ quan niệm trên cho thấy, công tác di dân Thuỷ điện Sơn La là một loại hình đặc thù của công tác vận động quần chúng của Đảng bộ tỉnh Sơn La, gồm toàn bộ các hoạt động của Đảng bộ tỉnh và các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế,

xã hội và các tổ chức khác có liên quan dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh nhằm tổ chức các đợt di chuyển dân từ nơi ở cũ đến nơi ở mới phục vụ cho việc thi công công trình Thuỷ điện Sơn La theo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Chủ thể công tác di dân chính là toàn thể Đảng bộ và chính quyền, đoàn thể các

cấp tỉnh Sơn La, gồm: Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các huyện uỷ, HĐND, UBND huyện; cấp ủy và chính quyền nhân dân các xã, thị trấn, bản, tiểu khu; Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp từ tỉnh xuống cơ sở; Ban quản lý di dân tái định

cư tỉnh, huyện và nhân dân nằm trong chương trình dự án di dân, tái định cư thủy điện Sơn La

Đối tượng di dân là những cộng đồng dân cư sinh sống ven dòng sông Đà bị ảnh

hưởng sâu sắc bởi công trình, đó là những hộ dân nằm trong vùng ngập lòng hồ, tổng mặt bằng công trường Trong đó, đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức bị thiệt hại về đất đai, nhà ở, hoa màu và tài sản khác, cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, công trình và vật kiến trúc Cùng với các đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp còn các đối tượng cá nhân, hộ gia đình, tổ chức bị ảnh hưởng gián tiếp về cơ sở hạ tầng, công trình công cộng khi thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác di dân

Trang 32

Nội dung của công tác di dân bao gồm nhiều khâu, nhiều việc, trong đó có các khâu

chủ yếu là: tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục những người dân thuộc diện di chuyển tự nguyện, tự giác tiến hành di chuyển từ nơi ở cũ đến nơi ở mới theo kế hoạch; đồng thời là việc lập kế hoạch, phương án bồi thường thiệt hại về tài sản hiện có, cụ thể là các tài sản gắn liền với đất, các loại cây trồng, vật nuôi; đưa ra các phương án di dân, tổ chức di chuyển dân và các chi phí cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, di dân giải phóng mặt bằng

1.2.1.2 Quan niệm về công tác tái định cư

Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (Nhà xuất bản văn hóa thông tin xuất bản năm 1999), do Nguyễn Như ý chủ biên:

"Tái" là hai lần hoặc lần thứ hai hay một lần nữa [76, tr.1484]

"Định cư" là ở lại một nơi nhất định để sinh sống và làm ăn, hay là sinh sống làm

ăn cố định một nơi [76, tr.641] “Định cư” đối lập với “du canh du cư” tức là khác với tập quán sinh hoạt và canh tác của các dân tộc ít người không ổn định ở một nơi mà thường thay đổi sau khi hết chu kỳ khai thác một đám nương rẫy, một vùng núi đồi [76, tr.551]

Như vậy, theo nghĩa đen, tái định cư là hoạt động ổn định cuộc sống của một cá

thể hay một cộng đồng dân cư ở nơi ở mới sau khi di chuyển khỏi nơi ở cũ vì một lý do, mục đích nào đó

Công tác tái định cư là công việc, hoạt động của nhà nước, các đoàn thể, các tổ chức có trách nhiệm nhằm ổn định cuộc sống của một hay nhiều cộng đồng dân cư tại nơi ở mới sau khi họ di chuyển khỏi nơi ở cũ theo chủ trương, kế hoạch đã định

Liên hệ thực tiễn cho thấy, trước khi tiến hành công tác di dân, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân tỉnh Sơn La đã có sự chuẩn bị cần thiết để tiến hành công tác này đạt hiệu quả cao, đó là tiến hành khảo sát chi tiết đầu đến gồm các vùng có chứa các khu tái định cư để xác định rõ các điểm đến, chuẩn bị mặt bằng, các diện tích đất thổ

cư cho dân làm nhà ở, giao đất rừng, đất ruộng, đất làm nương cho dân quản lý và sản xuất, bố trí việc làm cho các đối tượng lao động, sắp xếp công tác mới cho đội ngũ cán

bộ, đảng viên sẽ chuyển đến Đồng thời, thực hiện các chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở

hạ tầng về đường giao thông, trường học, trạm xá, nước sạch, các công trình công cộng

Trang 33

khác và tiếp tục hoàn chỉnh các thủ tục đền bù thiệt hại về đất đai, tài sản, công trình và vật kiến trúc cho nhân dân ở cả hai đầu đi và đến

Như vậy, ngay sau khi việc di chuyển hoàn tất, nhiệm vụ của các chủ thể công tác di dân chưa dừng lại, mà phải tiếp tục thực hiện những nội dung, phương thức tổ chức cuộc sống trên quê hương mới của đồng bào tái định cư và của nhân dân sở tại Đó cũng chính là những nội dung của công tác tái định cư Công tác này phải có sự chuẩn bị trước

để công tác di dân bắt đầu tiến hành Sau khi công tác di dân đã hoàn thành, công tác xây dựng các điểm tái định cư tiếp tục được thực hiện với mục tiêu nhằm giúp nhân dân tái định cư yên tâm và gắn bó lâu dài trên quê hương mới

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các hộ dân thuộc diện di chuyển tuyệt đại đa số là đồng bào các dân tộc thiểu số, với những đặc điểm văn hoá riêng trong nhận thức, tư duy cũng như tập quán sinh hoạt, sản xuất, đòi hỏi công tác tái định cư phải có nội dung, phương thức tiến hành phù hợp, thận trọng đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của các hộ dân, có vậy họ mới ổn định về tư tưởng, yên tâm, tin và làm theo đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Bởi vậy, việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục đồng bào tự nguyện, tự giác tái định cư tại các khu, điểm tái định cư tiếp tục là một trong những nội dung quan trọng của công tác tái định cư

Từ thực tiễn trên cho thấy, công tác tái định cư thực chất cũng là một loại hình

đặc thù của công tác vận động quần chúng theo nghĩa rộng, bao gồm các nội dung, phương thức vận động người dân định cư ở nơi ở mới theo chủ trương, kế hoạch đã định

và tổ chức, xây dựng cuộc sống của nhân dân tại nơi ở mới theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của đất nước

Công tác tái định cư được tiến hành bởi các cấp lãnh đạo tỉnh ủy, UBND tỉnh, các cơ quan Nhà nước được giao trách nhiệm như các Ban chỉ đạo Nhà nước về di dân, tái định cư Ban quản lý dự án di dân, tái định cư tỉnh, huyện các sở, ban, ngành liên quan phối hợp với các cấp ủy đảng, chính quyền các huyện, xã, thị trấn, MTTQ và các tổ chức đoàn thể chính trị tại các vùng, các khu tái định cư Tại các vùng tái định cư (các huyện), chức năng, nhiệm vụ chính thức về tham mưu xây dựng cơ sở hạ tầng, về quản lý các dự

Trang 34

và cơ sở, bởi có sự tham gia của cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể của hai địa phương đầu đi và đầu đến Đối tượng công tác tái định cư rộng hơn đối tượng công tác di dân, bởi đối tượng công tác tái định cư không chỉ là các đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp phải di chuyển khi thực hiện Dự án thủy điện Sơn La mà còn có cả những đối tượng bị ảnh hưởng gián tiếp là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức bị ảnh hưởng về cơ sở hạ tầng, công trình công cộng tại các khu, các điểm đến - tức các khu, các điểm tái định cư

Để khởi công công trình Thuỷ điện tầm vóc thế kỷ đúng tiến độ, nhiều làng bản của tỉnh Sơn La đã phải di dời nhà cửa, ruộng vườn nhường mặt bằng cho xây dựng công trình Việc ổn định cuộc sống cho nhân dân tại nơi ở mới trăm bề gian khó, đòi hỏi tập trung sức người, sức của rất to lớn Bởi vậy, lực lượng tham gia tổ chức thực hiện công tác tái định cư không chỉ là nhân dân Sơn La mà gồm nhân dân cả nước chung tay cùng với Đảng, Nhà nước góp phần giảm bớt khó khăn cho đồng bào các tỉnh vùng Tây Bắc Công tác tái định cư, chính vì vậy là một trong những loại hình công tác vận động quần chúng rộng lớn, có sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; là công tác được bắt đầu ngay từ lúc chuẩn bị di dân và tập trung sau di dân, cho đến khi các hộ dân thực sự

ổn định cuộc sống

1.2.1.3 Mối quan hệ giữa công tác di dân và công tác tái định cư

Công tác di dân và công tác tái định cư là hai mặt công tác có nội dung, yêu cầu, mục tiêu cụ thể khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ, chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau và là tiền đề của nhau Công tác di dân chỉ được tiến hành khi có sự chuẩn

bị chu đáo các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất tại nơi ở mới và bước đầu đã xây dựng được một số cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu cuộc sống của nhân dân tái định cư Sự

Trang 35

chuẩn bị đó bắt đầu từ việc khảo sát về địa chất, về quỹ đất đai, thổ nhưỡng, về khí hậu,

về mật độ phân bố dân cư tại nơi khảo sát và các điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh Nhiệm vụ này được thực hiện bởi sự phối hợp giữa Ban Chỉ đạo di dân, tái định cư với chính quyền huyện, xã, các cơ quan Nhà nước sở, ban, ngành tỉnh với các đơn vị, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp trong tỉnh Tức là việc chuẩn bị tổ chức cuộc sống nơi ở mới đã sẵn sàng cho nhân dân mới chuyển đến Các cơ quan, đơn vị Nhà nước, các tổ chức kinh tế, đoàn thể chính trị - xã hội cấp cơ sở cũng có thể công tác lâu dài tại trụ sở mới Tư tưởng nhân dân tại điểm đi và điểm đến đã đồng thuận, nhất trí với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Ngay sau khi việc di chuyển từ nơi ở cũ đến nơi ở mới hoàn thành, việc tổ chức cuộc sống nơi ở mới tiếp tục tiến hành Thực tiễn này cho thấy, nếu công tác tái định cư không có sự chuẩn bị trước khi tiến hành di chuyển thì công tác di dân không thể tiến hành được Vì vậy, công tác tái định cư là tiền

đề, điều kiện cần và đủ của công tác di dân Công tác di dân và công tác tái định cư là hai mặt, hai quá trình được tiến hành đồng thời của công tác di dân, tái định cư Công tác di dân và công tác tái định cư là hai mặt công tác khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất thì các chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác di dân, tái định cư thủy điện Sơn La mới đạt được và hoàn thành các mục tiêu đề ra

Từ việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác di dân, tái

định cư, giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về loại hình công tác đặc thù này, đó chính là

một loại hình công tác vận động quần chúng theo nghĩa rộng, rất quan trọng và có nội dung tổng hợp, bao gồm các hoạt động tuyên truyền, vận động, tổ chức các cuộc di chuyển dân cư từ nơi ở cũ đến nơi ở mới, đồng thời là các hoạt động tổ chức xây dựng các vùng, các khu, các điểm tái định cư để ổn định đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tại nơi ở mới theo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh của đất nước

1.2.2 Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo công tác di dân, tái định cư - quan niệm, nội dung và phương thức lãnh đạo

Trang 36

1.2.2.1 Quan niệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư

Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, xuất bản năm

1997): “Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức động viên thực hiện đường

lối” [31, tr.524]

Đại Từ điển Tiếng Việt (do Nguyễn Như ý chủ biên) định nghĩa: “Lãnh đạo là

dẫn dắt, tổ chức phong trào theo đường lối cụ thể” [76, tr.886] Với cách trình bày diễn

đạt của các tác giả, chúng ta nhận ra nội hàm của khái niệm lãnh đạo có những điểm chung:

Thứ nhất, lãnh đạo là việc các chủ thể lãnh đạo hoạch định chủ trương, đường lối

(có nghĩa là xác định các nội dung, nhiệm vụ cần phải làm)

Thứ hai, các chủ thể lãnh đạo nêu các quan điểm, nguyên tắc, phương thức tiến

hành để đạt được mục tiêu, định hướng hành động cho các đối tượng lãnh đạo trong quá trình thực hiện moục đích cách mạng

Thứ ba, lãnh đạo là quá trình các chủ thể tổ chức thực hiện các chủ trương,

đường lối đã xác định, đề ra những yêu cầu mục đích cần đạt trong một giai đoạn nhất định

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Người đã dành nhiều tâm sức giáo dục, rèn luyện cho Đảng ta để sửa chữa và xây dựng phong cách

lãnh đạo mới, khoa học, thiết thực hơn cho Đảng Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (tháng 10/1947) Người chỉ dạy: “Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng ; phải

tổ chức thực hiện cho đúng và phải tổ chức sự kiểm soát”[30, tr.285]

Theo Người muốn lãnh đạo đúng thì bất kỳ công việc gì cũng phải dùng hai cách:

“Một là, liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng Hai là, liên hợp người lãnh đạo

với quần chúng”[30, tr.288] Ngày nay, việc học tập và làm theo lời chỉ dạy của Bác, giúp

chúng ta hiểu sâu sắc hơn khái niệm về lãnh đạo, thế nào là lãnh đạo đúng và muốn lãnh đạo đúng thì phải làm thế nào

Trên những cơ sở trên, về thực chất, (có thể hiểu), lãnh đạo là quá trình chủ thể lãnh đạo xác định chủ trương, đường lối và tổ chức, hướng dẫn, động viên, huy động mọi

Trang 37

nỗ lực, tiềm năng sáng tạo của khách thể - đối tượng lãnh đạo, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu chung đã xác định

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác định, lãnh đạo là khoa học, nghệ thuật

về những nguyên tắc và phương pháp mà Đảng sử dụng để tác động tới Nhà nước và các

tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, tư tưởng, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, an ninh, quốc phòng và đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng

Hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã và đang thực hiện các mục tiêu, chương trình, dự án kinh tế lớn như xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn La và trong tương lai là Nhà máy thủy điện Lai Châu nhằm góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa toàn diện đất nước thì Đảng bộ tỉnh Sơn La, với tư cách là chủ thể lãnh đạo công tác di dân, tái định cư, một loại hình công tác vận động quần chúng có nhiều nét đặc thù riêng của miền núi Tây Bắc của Tổ quốc, tất yếu phải thực hiện các nội dung, phương thức lãnh đạo theo quan điểm công tác vận động quần chúng của Đảng

Vậy hiểu thế nào về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư ?

Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, xuất bản năm 1999) và Đại Từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như ý chủ biên, xuất bản năm 2010) đều định nghĩa “Sự” (dt),

là việc, chuyện (nói khái quát) Như vậy, sự lãnh đạo chính là việc lãnh đạo Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “Nhiệm vụ là công việc phải làm, phải gánh vác”[76, tr.1171] Do đó,

cũng có thể hiểu sự lãnh đạo là công việc lãnh đạo, nhiệm vụ lãnh đạo hay hoạt động lãnh đạo

Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với

công tác di dân, tái định cư là toàn bộ các hoạt động mà Đảng bộ tỉnh tiến hành tác động đến quá trình triển khai công tác di dân, tái định cư nhằm thực hiện thắng lợi dự án xây dựng Thủy điện Sơn La và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của tỉnh và của đất nước

1.2.2.2 Nội dung lãnh đạo công tác di dân, tái định cư

* Nội dung lãnh đạo công tác di dân:

Trang 38

Thực tế cho thấy, Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo công tác di dân, tái định cư trong giai đoạn hiện nay là phải tìm ra những cách làm cụ thể, tối ưu, phù hợp với đặc điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh Trong tính đa dạng, phong phú của những việc cụ thể ấy, có thể khái quát những nhóm công việc cụ thể chủ yếu sau đây:

- Một là, lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động các hộ dân tự nguyện, tự giác

di chuyển từ nơi ở cũ đến nơi ở mới

Yêu cầu của công tác tuyên truyền, vận động là:

+ Làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là nhân dân các dân tộc sinh sống ở các khu vực phải di dân, tái định cư thực sự nhận thức đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chính sách của tỉnh về xây dựng Thủy điện Sơn

La, thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh mà công trình Thủy điện Sơn La đem lại cho đất nước

+ Lãnh đạo tạo sự thống nhất về nội dung và phương thức tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh về xây dựng Thủy điện Sơn La; tuyên truyền, vận động để nhân dân hiểu rõ chính sách bồi thường, di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La; phạm vi áp dụng, đối tượng áp dụng và thời điểm áp dụng; giải thích rõ các từ ngữ, khái niệm, phạm vi bồi thường thiệt hại và hỗ trợ di dân, tái định cư, nguyên tắc bồi thường thiệt hại di dân, tái định cư

+ Tuyên truyền để nhân dân các dân tộc vùng tiếp nhận dân tái định cư thấy được nhiệm vụ và quyền lợi của mình, phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, chủ động, tích cực giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để mỗi hộ gia đình đồng bào tái định cư

và mọi thành viên hộ gia đình sớm hòa nhập với cuộc sống cộng đồng Nhân dân di chuyển đến nơi ở mới xác định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ công dân trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và nghiêm túc thực hiện; giữ gìn và tăng cường khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, hòa đồng, tôn trọng, học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn

+ Lãnh đạo việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở theo phương châm “dân biết,

dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong công tác di dân Phổ biến công khai các chủ

trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh đến tận người dân, kịp thời giải đáp

Trang 39

những thắc mắc của người dân Công khai nguồn vốn đầu tư và các dự án Thông báo quy hoạch, kế hoạch di chuyển và phương án điều chuyển giữa nơi đi và nơi đến tái định

+ Tuyên truyền về kinh nghiệm, những mô hình trong di dân, tái định cư, ổn định đời sống và phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện đại đoàn kết các dân tộc Tuyên truyền, phát động phong trào thi đua yêu nước, nêu gương những tập thể, cá nhân, người tốt, việc tốt trong công tác di dân, tái định cư

- Hai là, lãnh đạo công tác bồi thường và hỗ trợ tái định cư cho nhân dân

+ Lãnh đạo việc thành lập và kiện toàn Ban quản lý Dự án tái định cư tỉnh, huyện; Hội đồng thẩm định, Hội đồng nghiệm thu tái định cư tỉnh; Ban quản lý dự án chuyên ngành; Hội đồng bồi thường, đền bù tái định cư các huyện, thành phố; Ban hành quy chế làm việc của các cơ quan nêu trên Lãnh đạo công tác thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân nằm trong vùng quy hoạch tái định cư, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thẩm quyền quy định của pháp luật đất đai

+ Lãnh đạo việc giao kế hoạch vốn bồi thường, di dân, tái định cư hàng năm cho các huyện, thành phố Chỉ đạo Ban quản lý tái định cư tỉnh; UBND các huyện, thành phố; các chủ đầu tư cụ thể hóa kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện các dự án thành phần,

cụ thể hóa các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về bồi thường, di dân, tái định cư thủy điện Sơn La Lãnh đạo phê duyệt dự án đầu tư; hồ sơ thiết kế, dự toán; kết quả đấu thầu, chỉ định thầu theo phân cấp Ban hành đơn giá, định mức đền bù phục vụ công tác bồi thường, di dân tái định cư trên địa bản tỉnh Chỉ đạo Ban quản lý tái định cư tỉnh lập

kế hoạch tái định cư, quyết toán vốn đầu tư hàng năm và tổng thể dự án, trình HĐND tỉnh phê chuẩn

+ Lãnh đạo việc giao vốn tái định cư hàng năm cho các dự án thành phần (theo phân cấp); chỉ đạo xây dựng quy hoạch chi tiết các khu tái định cư; xây dựng kế hoạch và các biện pháp, giải pháp để tổ chức thực hiện công tác bồi thường, di dân, tái định cư trên địa bàn huyện, thị xã trình HĐND huyện, thành phố phê chuẩn để tổ chức thực hiện Chỉ đạo các cơ quan chức năng lập và thông qua kế hoạch vốn bồi thường, di dân, tái định cư hàng năm trong kế hoạch vốn đầu tư của huyện, thành phố để gửi các cơ quan chức năng

Trang 40

theo đúng thời hạn quy định Tổ chức tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm, thực hiện chế

độ báo cáo, thống kê về thực hiện dự án tái định cư thủy điện Sơn la trên địa bàn tỉnh theo quy định

- Ba là, lãnh đạo công tác di chuyển dân và tài sản của họ từ nơi ở cũ đến nơi ở mới

+ Lãnh đạo việc chấp hành các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về di dân và thực hiện quy hoạch, bố trí dân cư đến năm

2010 Chỉ đạo các Ban quản lý dự án tỉnh, huyện có nhiệm vụ rà soát các đối tượng, xác định nhu cầu quy hoạch, bố trí dân cư và xây dựng kế hoạch di dân địa phương Liên hệ xác định cụ thể địa bàn nhận dân, phối hợp với chính quyền địa phương nơi đi, nơi đến

và đại diện các hộ dân để tổ chức khảo sát, thẩm tra địa bàn nhận dân, đảm bảo cơ bản về các điều kiện tối thiểu cho đời sống nhân dân; lập biên bản thẩm tra địa bàn dự án di dân thực hiện quy hoạch, bố trí dân cư Cung cấp đầy đủ cho các hộ dân các thông tin cần thiết về vùng dự án quy hoạch, bố trí dân cư, địa bàn nhận dân (kể cả khó khăn và thuận lợi) Tổ chức hợp đồng giữa 3 bên gồm đại diện chính quyền địa phương nơi đi, nơi đến

và chủ dự án về số lượng hộ di dân, thời gian giao nhận và trách nhiệm của mỗi bên để hoàn thành nhiệm vụ quy hoạch, bố trí dân cư, đảm bảo đúng đối tượng di dân Hướng dẫn chủ hộ di dân làm thủ tục hồ sơ Công khai tài chính và giải quyết chính sách hỗ trợ đầu đi cho các hộ dân được hưởng chính sách trước khi di chuyển

+ Lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương (nơi đi) tổng hợp đơn tự nguyện di dân, thành lập hội đồng xét duyệt, lập danh sách các hộ dân, báo các UBND huyện để phê duyệt theo đúng đối tượng, chỉ tiêu kế hoạch được giao hàng năm UBND huyện ra quyết định di dân và chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn, UBND xã hướng dẫn các hộ dân làm các công việc chuyển nhượng tài sản, đất ở, đất sản xuất, thanh toán công nợ và những tồn tại ở quê cũ, chuẩn bị vốn, giống cây, con, công cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt cần thiết phù hợp với điều kiện canh tác và cuộc sống trên vùng đất mới; làm thủ tục chuyển khẩu cho các hộ di dân

+ Lãnh đạo công tác chuẩn bị của địa phương nơi có kế hoạch nhận dân (nơi đến) Trước hết, Ban quản lý dự án di dân, tái định cư các huyện phối hợp với các cấp

Ngày đăng: 27/06/2014, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyên Anh (2007), “Tái định cư cho các công trình thủy điện ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định cư cho các công trình thủy điện ở Việt Nam"”, Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2007
4. Bộ Tài chính (2005), Thông tư số 104/2005/TT-BTC ngày 15-11, Hướng dẫn việc quản lý và thanh toán vốn đầu tư dự án bồi thường di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2005)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2005
7. Chính phủ (2004), Quyết định số 09/2004/QĐ-TTg ngày 15-1 về việc thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án thủy điện Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2004)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
12. Mạnh Cường, Hải Nam (2008), "Năm 2008 toàn tỉnh di chuyển và tiếp nhận an toàn 2.343 hộ TĐC", Báo điện tử Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2008 toàn tỉnh di chuyển và tiếp nhận an toàn 2.343 hộ TĐC
Tác giả: Mạnh Cường, Hải Nam
Năm: 2008
13. Di dân, tái định cư Thuỷ điện Sơn La, Báo Lao động, số ra ngày 3/4/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di dân, tái định cư Thuỷ điện Sơn La
14. Di dân tái định cư giải pháp nào? Báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 30/9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di dân tái định cư giải pháp nào
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ x, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ x
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
18. Vũ Đào (2009), "Di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La: Vẫn còn ngổn ngang", Báo Người đại biểu HĐND, ngày 19-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La: Vẫn còn ngổn ngang
Tác giả: Vũ Đào
Năm: 2009
19. Đài tiếng nói Việt Nam (2007), Sau 4 năm thực hiện tái định cư Thuỷ điện Sơn La, ngày 19-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sau 4 năm thực hiện tái định cư Thuỷ điện Sơn La, ngày
Tác giả: Đài tiếng nói Việt Nam
Năm: 2007
20. Đẩy mạnh di dân tái định cư thủy điện Sơn La, Báo Sơn La, số 4222 ra ngày 11/9/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh di dân tái định cư thủy điện Sơn La
21. Bích Hằng (2009), Bảo tồn bản sắc văn hóa vùng di dân, tái định cư, Báo Sơn La ngày 23-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn bản sắc văn hóa vùng di dân, tái định cư
Tác giả: Bích Hằng
Năm: 2009
22. Đinh Thị Hoa (2007), Sơn La luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 25-1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơn La luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý
Tác giả: Đinh Thị Hoa
Năm: 2007
23. Thanh Hòa (2009), Xuân Mới về bản tái định cư Quỳnh Phiêng, Báo điện tử Sơn La tháng 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Mới về bản tái định cư Quỳnh Phiêng
Tác giả: Thanh Hòa
Năm: 2009
24. Thanh Hòa (2009), Khẩn trương đón dân đúng kế hoạch, Báo điện tử Sơn La tháng 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hòa (2009), "Khẩn trương đón dân đúng kế hoạch
Tác giả: Thanh Hòa
Năm: 2009
25. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Xây dựng Đảng (2007), Công tác quần chúng của Đảng trong thời mới, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quần chúng của Đảng trong thời mới
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Xây dựng Đảng
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2007
26. Mai Hương (2008), Di dân tái định cư Thuỷ điện Sơn La còn nhiều việc phải làm, Báo Lao động, ngày 10-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di dân tái định cư Thuỷ điện Sơn La còn nhiều việc phải làm
Tác giả: Mai Hương
Năm: 2008
27. Làm tốt công tác di dân, tái định cư, đẩy mạnh tiến độ xây dựng Nhà máy Thuỷ điện Sơn La, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, số ra ngày 15/4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm tốt công tác di dân, tái định cư, đẩy mạnh tiến độ xây dựng Nhà máy Thuỷ điện Sơn La
28. Chí Linh (2009), Di dân tái định cư thủy điện Sơn La vẫn chậm; Báo Công an nhân dân, ngày 3-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di dân tái định cư thủy điện Sơn La vẫn chậm
Tác giả: Chí Linh
Năm: 2009
31. Hoàng Phê (1997), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w