1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh hà tây - thành phố Hà Nội docx

106 164 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh hà tây - thành phố hà nội
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 737,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phát triển đa dạng dịch vụ ngân hàng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã thành lập các Công ty kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, như: Công ty cho thuê tài chín

Trang 1

LUẬN VĂN:

Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi

nhánh hà tây - thành phố Hà Nội

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã có những bước đi quan trọng trong đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc

tế nói chung, lĩnh vực tài chính – tiền tệ nói riêng Do đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang phải đương đầu với sự cạnh tranh trực tiếp của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có công nghệ hiện đại hơn, tiềm lực vốn mạnh hơn, cơ chế hoạt động linh họat và năng lực của đại đội ngũ nhân viên cao hơn

Theo cam kết gia nhập WTO, đến năm 2010, Việt Nam sẽ thực hiện mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ ngân hàng, loại bỏ căn bản các hạn chế tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng trong nước cũng như các giới hạn hoạt động ngân hàng đối với các tổ chức tín dụng nước ngoài Các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không kịp thời đẩy mạnh cải cách và nâng cao trình độ về mọi mặt của toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh đó, việc phát triển đa dạng dịch vụ ngân hàng là một giải pháp cần thiết mang tính chiến lược trong sự phát triển của ngân hàng thương mại Việt Nam Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam thời gian qua đã tập trung đầu tư, nghiên cứu phát triển đa dạng các dịch vụ ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế và của khách hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là một trong những Ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước có quy mô lớn nhất về thị phần huy động vốn

và cho vay toàn ngành ngân hàng, có mạng lưới rộng lớn nhất Để phát triển đa dạng dịch

vụ ngân hàng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã thành lập các Công ty kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, như: Công ty cho thuê tài chính, Công ty thương mại và dịch vụ, Công ty kinh doanh vàng bạc, Công ty chứng khoán, Theo định hướng chung đó, tại các chi nhánh của hệ thống ở từng địa bàn khác nhau cũng mở rộng

và phát triển nhiều dịch vụ, như thanh toán quốc tế, chuyển tiền kiều hối, dịch vụ thẻ, Song, nhìn chung chủng loại dịch vụ chủ yếu vẫn còn là các sản phẩm dịch vụ truyền thống, chất lượng dịch vụ còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của nền kinh

Trang 3

tế và khách hàng Do đó, đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn nữa cho việc phát triển đa dạng các dịch vụ tại các chi nhánh NHNo&PTNT

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Hà Tây – Thành phố

Hà Nội là một chi nhánh thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Trong những năm gần đây thực hiện định hướng chiến lược phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Hà Tây – Thành phố Hà Nội cũng mở rộng và phát triển nhiều loại dịch vụ ngân hàng, đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế trên địa bàn Mặc dù vậy, các dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây vẫn còn hạn chế về nhiều mặt và đang đứng trước những yêu cầu mới, đòi hỏi phải phát triển mạnh mẽ hơn nữa hoạt động này

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: " Phát triển đa dạng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Hà Tây – Thành phố Hà Nội "

để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ kinh tế nhằm góp phần nhỏ vào việc đáp ứng những yêu cầu cấp bách đang đặt ra trong thực tiễn hoạt động của đơn vị – nơi tác giả đang công tác

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có những công trình khoa học, các bài nghiên cứu về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại nói chung, NHNo&PTNT Việt Nam nói riêng được công bố, như:

- Chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 của

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Nxb Phương Đông, Hà Nội

- Báo cáo phân tích, đánh giá thực trạng các sản phẩm dịch vụ hiện đang áp dụng

trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam (2008)

- Đề án phát triển sản phẩm dịch vụ NHNo&PTNT Việt Nam trong môi trường tin học hoá giai đoạn 2009 – 2010 của NHNo&PTNT Việt Nam (3/2009)

- “Đổi mới quản lý hoạt động tín dụng ngân hàng cấp cơ sở, nhằm thúc đẩy phát

triển kinh tế nông thôn” của Phạm Hồng Cờ - Luận án PTS Khoa học kinh tế; Học viện

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1996)

Trang 4

- “Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường” của Võ Văn Lâm-

Luận án Tiến sĩ kinh tế; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2003)

- “Phát triển Dịch vụ ngân hàng tại Ngân hàng Công thương Việt Nam- Thực

trạng và giải pháp” của Trần Xuân Hiệu - Luận văn Thạc sĩ Kinh tế; Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh (2004)

- “Phát triển dịch vụ ngân hàng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông

thôn Quảng Nam” của Phạm Thị Thanh Dung – Luận văn Thạc sĩ Kinh tế; Học viện

chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2006)

- “Phát triển dịch vụ ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2010” của

Nguyễn Huỳnh Bảo Chân – Luận văn Thạc sĩ Kinh tế; Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh (2006)

- “Phát triển các dịch vụ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHNo&PTNT Việt

Nam” của Phan Thị Kim Nga – Luận văn Thạc sĩ Kinh tế; Đại Học Kinh Tế Thành Phố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Hệ thống hoá trên cơ sở kế thừa, bổ sung, phát triển góp phần làm rõ cơ sở lý luận

và thực tiễn về phát triển đa dạng các dịch vụ của ngân hàng thương mại nói chung, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn chi nhánh Hà Tây nói riêng Trên cơ sở đó đề xuất có căn cứ khoa học hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm phát triển đa dạng dịch vụ tại NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây- TP Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ

Trang 5

- Đi sâu nghiên cứu, kế thừa, hệ thống hoá, bổ sung, phát triển những căn cứ lý luận và thực tiễn về phát triển đa dạng các dịch vụ của ngân hàng thương mại nói chung, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn nói riêng

- Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những mặt được và những hạn chế, yếu kém trong hoạt động dịch vụ tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây – Thành phố Hà Nội

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm phát triển đa dạng dịch vụ tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây– Thành phố Hà Nội trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Các loại hình dịch vụ truyền thống và phi truyền

thống của NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây

4.1 Phạm vi nghiên cứu: Các loại hình dịch vụ ngân hàng tại Ngân hàng

NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây từ năm 2004 - 2008

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam và những thành tựu của khoa học kinh tế hiện đại

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng tổng hợp phương pháp luận của

chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế như: phương pháp trừu tượng hoá, phương pháp thống

kê, phân tích, so sánh và phương pháp toán kinh tế với sự trợ giúp của kỹ thuật vi tính để làm nổi bật kết quả của chủ đề nghiên cứu

6 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn kế thừa có chọn lọc, hệ thống hoá và bổ sung, phát triển những căn cứ khoa học về phát triển đa dạng dịch vụ của hệ thống ngân hàng thương mại nói chung, NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây nói riêng

- Phân tích, đánh giá thực trạng về sự phát triển các dịch vụ của NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây trong những năm gần đây, chỉ ra những hạn chế, yếu kém cần khắc phục

- Đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm phát triển đa dạng dịch vụ tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hà Tây trong những năm tới

Trang 6

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các biểu đồ, bảng số liệu, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết

Trang 7

Chương 1 Những căn cứ lý luận và thực tiễn về phát triển

đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp

và phát triển nông thôn

1.1 các hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại và vai trò của chúng trong thúc đẩy phát triển kinh tế

1.1.1 Các hoạt động dịch vụ của Ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng

Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa duy nhất về dịch vụ được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu Tính vô hình và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên khó khăn Hơn nữa, các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau có cách hiểu về dịch vụ không giống nhau Ngay cả Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng chỉ đưa ra khái niệm dịch vụ bằng cách liệt kê và phân loại hoạt động dịch

vụ thành 12 ngành lớn và 155 phân ngành nhỏ

ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “Dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt” Một công trình nghiên cứu khác lại nêu khái niệm dịch vụ như sau: “Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể nắm bắt được”

Cũng có thể hiểu dịch vụ bằng cách tìm ra các đặc điểm nổi bật và khác biệt giữa dịch vụ trong so sánh với hàng hoá Cụ thể là:

- Dịch vụ mang tính vô hình: Khác với hàng hoá, dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật thể cụ thể, không định hình và cố định dưới dạng vật thể nào đó, nên khó xác định chất lượng dịch vụ theo cách xác định chất lượng theo các chỉ tiêu chất lượng của hàng hoá

- Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời Người tạo ra dịch vụ và người thụ hưởng dịch vụ cùng tham gia một quá trình, do đó không thể lưu trữ dịch vụ

Trang 8

Luật các TCTD của Việt Nam không đưa ra một khái niệm cụ thể hoặc giải

thích từ ngữ với khái niệm dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt

động ngân hàng” trong khoản 7, điều 20: “là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch

vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán” Luật các TCTD cũng dành các mục

1,2,3,4 của chương 3 nêu các điều khoản về hoạt động của TCTD Theo đó, có thể hiểu hoạt động ngân hàng được chia theo 4 mảng lớn: huy động vốn; tín dụng; thanh toán và ngân quỹ; và các hoạt động khác Tuy nhiên, trong nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn ở Việt Nam, đã có những quan điểm khác nhau về dịch

vụ ngân hàng, nhưng chung nhất dịch vụ ngân hàng được quan niệm là những công việc do ngân hàng thực hiện để tìm kiếm lợi nhuận

Các hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại nói chung rất phong phú nên khó có thể bao quát và đề cập một cách đầy đủ Tuy vậy, theo quan niệm phổ biến hiện nay, các hoạt động dịch vụ của Ngân hàng thương mại có thể gom thành bốn nhóm chính như sau:

1.1.1.2 Các dịch vụ tạo nguồn cung về vốn cho ngân hàng (hoạt động huy động vốn)

Ngân hàng thực hiện huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư thông qua nhiều hình thức khác nhau như mở tài khoản tiền gửi, tài khoản tiết kiệm, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu

Hoạt động huy động vốn phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nó bao gồm một loạt các biện pháp nhằm thu hút tối đa vốn của nền kinh tế như mở chi nhánh và quầy giao dịch bằng chính sách lãi suất hợp lý và đa dạng các hình thức huy động Căn cứ vào tính chất của nguồn vốn, hoạt động huy động vốn bao gồm nhận tiền gửi, đi vay, nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn đầu tư, liên doanh

Trang 9

với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Hoạt động huy động vốn có vai trò cung cấp đầy đủ và kịp thời nguồn vốn phục

vụ cho các hoạt động khác của ngân hàng Ngoài ra hoạt động này còn có vai trò quan trọng trong việc khuếch trương tên tuổi, thương hiệu và uy tín của ngân hàng, thu hút khách hàng đến với ngân hàng ngày càng tăng và ổn định

Huy động vốn từ việc nhận tiền gửi tạo ra nguồn vốn có tỷ trọng lớn nhất, ổn định nhất Việc cung cấp các nguồn tiết kiệm cho người có khả năng sử dụng chúng hiệu quả hơn sẽ tăng thu nhập cho cả người có vốn tạm thời nhàn rỗi và người cần vốn

Tuỳ theo mục đích khác nhau của người gửi tiền và của việc sử dụng vốn trong ngân hàng mà có các loại tiền gửi khác nhau như:

- Theo thời gian có các kỳ hạn gửi từ 1 tuần, 1 tháng tới vài năm

- Theo mục đích gửi tiền có tiết kiệm tích luỹ, tiết kiệm mua nhà, tiết kiệm hưu trí, tiết kiệm giáo dục

- Giấy tờ có giá ngắn hạn: gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn và tín phiếu

- Giấy tờ có giá dài hạn: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn

- Vay vốn của NHNN và các TCTD khác

Theo đối tượng gửi tiền, các ngân hàng đã nghiên cứu và chia khách hàng làm nhiều loại, mỗi loại lại có hình thức gửi tiền phù hợp với những dịch vụ gia tăng, chế độ marketing tương ứng

1.1.1.3 Các dịch vụ liên quan đến sử dụng vốn và sinh lời

- Dịch vụ cho vay

Ngân hàng đầu tư vốn tín dụng bằng nội tệ và ngoại tệ với các hình thức: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn, cho vay tài trợ theo chương trình, dự án, hợp vốn đồng tài trợ các dự án lớn, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay khép kín chu trình sản xuất - lưu thông, cho vay các chương trình chỉ định của Chính phủ, cho vay thấu chi,

Dịch vụ cho vay tài trợ sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống thông qua phương thức cho vay theo từng lần và cho vay theo hạn mức tín dụng

Cho vay đầu tư phát triển thực chất là cho vay trung, dài hạn để tài trợ cho các

Trang 10

doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư như các công trình xây dựng cơ bản mới, cải tạo

và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, khôi phục và thay thế tài sản cố định, cải tiến và hợp lý hoá sản xuất kinh doanh

Cho vay hợp vốn là phương thức cho vay mà theo đó một nhóm NHTM cùng cung cấp tín dụng đối với một dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng

Cho vay thấu chi là một kỹ thuật cấp tín dụng cho khách hàng mà ngân hàng cho phép khách hàng chi vượt số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán nhưng không vượt quá hạn mức tín dụng để thực hiện các giao dịch ứng tiền mặt hoặc thanh toán các nhu cầu khác

- Dịch vụ chiết khấu giấy tờ có giá

Thực chất, đây là việc các khách hàng bán các khoản phải thu trong tương lai của mình cho ngân hàng để lấy tiền Các khoản phải thu đó thường ở dưới dạng các

giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu, công trái Những tài sản

trên mang lại một thu nhập tương lai dưới dạng lãi suất cho người giữ chúng nhưng chúng có kỳ hạn nhất định mà khách hàng lại không dự đoán được những biến động tài chính xảy ra với mình Như thế dẫn đến trường hợp khách hàng tạm thời cần tiền trong lúc các giấy tờ trên chưa đến hạn Nhờ có dịch vụ chiết khấu của ngân hàng mà vấn đề này được giải quyết

- Bảo lãnh

Bảo lãnh là cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay

Bảo lãnh được thực hiện theo một văn bản cam kết với bên có quyền (bên thụ hưởng bảo lãnh) Nếu khi đến hạn, bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết đã nêu trong hợp đồng dân sự thì ngân hàng sẽ đứng ra thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh Theo luật tổ chức tín dụng thì “tổ chức tín dụng được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh” Như vậy, bảo lãnh ngân hàng là bảo lãnh bằng năng lực chi trả

- Bao thanh toán

Để tài trợ cho các nhà xuất khẩu, người bán nói chung khi đã giao hàng nhưng phải

Trang 11

chờ một thời gian sau mới được thanh toán và trong thời gian chờ đợi nếu khách hàng có nhu cầu thì ngân hàng sẽ trả tiền trước cho khách hàng nhưng ngược lại khách hàng phải chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng

- Cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa một bên là tổ chức tín dụng với một bên là khách hàng thuê Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng

1.1.1.4 Nhóm các dịch vụ trung gian thanh toán và kinh doanh ngoại hối

- Thanh toán bằng đồng bản tệ và ngoại tệ

Hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng phát triển đòi hỏi các hoạt động thanh toán cũng phải phát triển tương ứng, bao gồm: thanh toán chuyển tiền điện tử; thanh toán tiền gửi và các giấy tờ có giá; thanh toán L/C; thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT, TELEX; thanh toán biên giới; thanh toán chuyển tiền nhanh Western Union;

- Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ: Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay bao gồm

Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ giao ngay (Spot): là hoạt động mua bán ngoại tệ mà theo đó việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay, thông thường từ ngày giao dịch đến ngày thanh toán là 2 ngày làm việc;

Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ có kỳ hạn (Forward): là nghiệp vụ mà việc mua bán ngoại tệ tại một thời điểm theo tỷ giá xác định do hai bên thoả thuận nhưng việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện trong tương lai;

Nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ (Option): là một sự thoả thuận giữa hai đối tượng

mà trong đó người mua thanh toán cho người bán một số tiền để được quyền chọn mua hoặc chọn bán ngoại tệ đó theo một tỷ giá đã được thoả thuận, nhưng không mang tính bắt buộc để mua hoặc bán số lượng ngoại tệ vào một ngày đã thoả thuận trong tương lai

1.1.1.5 Nhóm các dịch vụ gia tăng

- Phát hành và thanh toán thẻ

Xu hướng sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ

Trang 12

biến trên toàn thế giới Có nhiều phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, nhưng có thể nói thẻ thanh toán là một trong những phương tiện được biết đến nhiều nhất và ngày càng được mọi người quan tâm sử dụng

Thẻ là một phương tiện do ngân hàng, các định chế tài chính, các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt Nó là sự kết hợp

các hình thức thanh toán chuyển khoản, thanh toán điện tử, nhận tiền gửi, cho vay,

Về cơ bản, thẻ được chia làm hai nhóm chính, thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ:

Thẻ tín dụng: là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cho phép người sử

dụng chi tiêu trước trả tiền sau Khi chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán hàng hoá và dịch

vụ tại đơn vị chấp nhận thẻ, thực chất đây là cam kết của ngân hàng sẽ thanh toán cho đơn vị chấp nhận thẻ Khi chủ thẻ thực hiện giao dịch ứng tiền mặt, có nghĩa là chủ thẻ

đã nhận một khoản vay từ ngân hàng Mỗi thẻ tín dụng được cấp một hạn mức tín dụng nhất định mang tính chất tuần hoàn mà hàng tháng chủ thẻ phải thanh toán số tiền cho ngân hàng sau khi nhận được sao kê Các loại thẻ tín dụng quốc tế phổ biến nhất hiện nay

là VISA, MASTER CARD, AMEX,

Thẻ ghi nợ: là phương tiện thanh toán do NH phát hành, cho phép chủ thẻ sử dụng

trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và (hoặc) hạn mức thấu chi để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ; rút tiền mặt tại đơn vị chấp nhận thẻ Tuỳ thuộc tổ chức phát hành và loại sản phẩm mà thẻ ghi nợ có thể sử dụng một hay nhiều trong số các chức năng: Rút tiền mặt tại máy ATM, thực hiện một số dịch vụ thanh toán, chuyển khoản tại máy ATM, thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại đơn vị chấp nhận thẻ

Khi cung cấp dịch vụ thẻ, ngân hàng thu được phí phát hành, phí thường niên, phí thanh toán, phí rút tiền mặt và lãi vay đối với thẻ tín dụng

- Dịch vụ bảo quản vật có giá

Trong nền kinh tế thị trường, các giấy chứng nhận mà các ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về tài sản được lưu giữ) là khá phổ biến và có thể được phát hành gần như phát hành tiền Đó chính là cơ sở đầu tiên để Séc và Thẻ tín dụng ra đời sau này Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá cho khách hàng thường do phòng "Bảo quản"

của ngân hàng thực hiện

- Tư vấn và cung cấp thông tin

Trang 13

Với chức năng, nhiệm vụ là người trung gian thu hút tiền gửi và cấp tín dụng cho khách hàng, là người quản lý tài khoản và thanh toán hộ cho khách hàng, các NHTM có thể tham gia tư vấn cho khách hàng của mình trên khía cạnh là tư vấn đầu tư và tư vấn thông tin Mục tiêu của hoạt động này là tìm cách giúp đỡ khách hàng kinh doanh tạo ra nhiều lợi nhuận mà trong đó sẽ bao hàm lợi ích của cả ngân hàng

Đối với hoạt động tư vấn đầu tư, ngân hàng có thể hướng dẫn khách hàng xây dựng dự án, lựa chọn việc sản xuất sản phẩm, cung cấp các thông tin về thị trường sản phẩm đó, các phương án kỹ thuật ra sao, nhập các thiết bị công nghệ, tính toán nguồn tài trợ cho dự án với lãi suất tiền vay có lợi nhất và tính toán hiệu quả kinh tế, tính khả thi của dự án; tư vấn cả về quản lý kinh doanh cho khách hàng; trong việc tham gia thị trường vốn, ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng với số lượng vốn nhất định và thời gian cần thiết để tham gia thị trường vốn ngắn ngày được hưởng lãi suất cao

Trong giao dịch thương mại quốc tế, các doanh nghiệp thường gặp phải không ít những khó khăn do thiếu kinh nghiệm, đặc biệt trong các thoả thuận về thanh toán Với

sự am hiểu về nghiệp vụ NH quốc tế, với kinh nghiệm tích luỹ được các NH có thể thực hiện tư vấn rất hiệu quả cho các doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào các giao dịch với nước ngoài

Đối với hoạt động cung cấp thông tin, các NH cung cấp thông tin cho khách hàng của mình về thị trường tài chính tiền tệ, thị trường sản phẩm đầu vào, đầu ra thông tin kịp thời, chính xác sẽ luôn đảm bảo sự thành công trong kinh doanh Những thông tin mà NH thu thập, chọn lọc được khi cung cấp sẽ tạo điều kiện mở rộng các cơ hội về kinh doanh cho khách hàng NH đã trở thành địa chỉ tin cậy để khách hàng gửi gắm tài chính, liên hệ khai thác, sử dụng thông tin và ra quyết định trong kinh doanh Thông qua các hoạt động này, sợi dây ràng buộc giữa khách hàng với NH ngày càng chắc chắn và bền vững

- Cung ứng các dịch vụ khác

Ngoài những dịch vụ cơ bản, trọng yếu đã trình bày, ngân hàng còn cung ứng cho khách hàng các dịch vụ khác như: Bảo hiểm, quản lý nợ và khai thác tài sản; cho thuê két sắt; môi giới và lưu ký chứng khoán; bảo quản giấy tờ có giá bằng tiền và các tài sản quý; chi trả tiền lương của các tổ chức, doanh nghiệp; chi trả kiều hối, in các ấn phẩm, quảng cáo; kinh doanh khách sạn; dịch vụ lữ hành; dịch vụ thương mại; Cùng với đà phát triển ngày

Trang 14

càng cao của nền kinh tế thị trường, các dịch vụ này cũng đòi hỏi phải được phát triển tương xứng Do đó, các NHTM có thêm … để phát triển sâu, rộng các hoạt động dịch vụ nhằm khai thác, phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế vốn có của mình

1.1.2 Vai trò của các hoạt động dịch vụ đối với sự phát triển của các Ngân hàng thương mại và đối với nền kinh tế

1.1.2.1 Vai trò của hoạt động dịch vụ đối với sự phát triển của các Ngân hàng thương mại

Ngân hàng là ngành cung ứng dịch vụ đặc biệt đối với dân cư và nền kinh tế, sự tồn tại của ngân hàng thương mại gắn với sự tồn tại của các dịch vụ do các ngân hàng này cung ứng Vì vậy, phát triển các dịch vụ ngân hàng là hết sức cần thiết đối với sự tồn tại, phát triển và củng cố ngân hàng, làm cho hệ thống NHTM ngày càng lớn mạnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế

Sự phát triển dịch vụ cần được phân tích trên cả hai khía cạnh: phát triển về chiều rộng và phát triển về chiều sâu

- Phát triển về chiều rộng đồng nghĩa với đa dạng hoá và tăng quy mô, phạm vi hoạt động của các loại hình dịch vụ ngân hàng Không chỉ duy trì các hoạt động truyền thống mà phải tiếp cận và áp dụng các dịch vụ hiện đại Bên cạnh các dịch vụ phải sử dụng vốn như tín dụng, bảo lãnh, đầu tư,… cần kết hợp mở rộng đa dạng cả các dịch vụ không cần vốn, nhưng có thể thực hiện được là nhờ vai trò của NHTM là trung gian tài chính, như hoạt động thanh toán, chuyển tiền, tư vấn,… hoặc các dịch vụ do sự phát triển của ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ như công nghệ thẻ, internetbanking,… Xét từ góc độ vi mô, phát triển đa dạng các dịch vụ giúp cho các ngân hàng thương mại tăng thêm nguồn thu và đa dạng hóa cơ cấu nguồn thu, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, củng cố thương hiệu và uy tín của ngân hàng trên thị trường Xét từ góc độ vĩ mô, phát triển đa dạng các dịch vụ ngân hàng sẽ cung ứng cho nền kinh tế và dân cư đa dạng sản phẩm, dịch vụ, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân, phát triển kinh tế đất nước

- Phát triển về chiều sâu các hoạt động dịch vụ ngân hàng đồng nghĩa với nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động dịch vụ ngân hàng Khi giữa các ngân hàng không còn sự phân biệt về sự đa dạng loại hình dịch vụ thì chất lượng dịch vụ là yếu tố

Trang 15

quyết định sự thành bại trong cạnh tranh và sự sống còn của mỗi ngân hàng thương mại

Vì vậy, các ngân hàng thương mại phải có chiến lược và quy hoạch, kế hoạch nhằm không ngừng củng cố, phát triển, hoàn thiện, nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ ngân hàng trên cơ sở cung ứng cho khách hàng đồng bộ, kịp thời các sản phẩm, dịch vụ tiện ích với chất lượng cao, chi phí hợp lý đảm bảo an toàn cho khách hàng và hoạt động của ngân hàng trên cơ sở tuân thủ đầy đủ những quy định của pháp luật

Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận chủ yếu của dịch vụ tài chính, là một trong những loại hình dịch vụ phức tạp và ở trình độ cao, có vai trò rất quan trọng trong phát triển nền kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đẩy mạnh hội nhập quốc tế Vai trò của dịch vụ ngân hàng thể hiện ở một số mặt chính sau đây:

- Dịch vụ ngân hàng thúc đẩy sản xuất phát triển, đóng góp quan trọng vào việc tăng trưởng GDP Là những định chế trung gian tài chính, hệ thống TCTD huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để thực hiện đầu tư, cho vay đối với các chủ thể kinh tế đang cần vốn để phát triển sản xuất kinh doanh và đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống Trong điều kiện nền kinh tế nước ta, khi các kênh huy động vốn khác còn chưa phát triển, hệ thống NHTM đã trở thành kênh cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế Thông qua dịch vụ cho vay, hệ thống NHTM giúp cho các doanh nghiệp chuyển đổi cơ cấu sản xuất, dịch chuyển vốn đầu tư, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, tăng năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

- Dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành dịch vụ khác phát triển

Do đặc điểm của dịch vụ ngân hàng liên quan sâu rộng đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống, nên sự phát triển của dịch vụ ngân hàng như đầu tư, thanh toán, chuyển tiền gắn với các dịch vụ bưu chính viễn thông, tư pháp, kế toán, kiểm toán, giao thông vận tải,…sẽ tạo nên những điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ có liên quan phát triển Các dịch vụ khác trong nền kinh tế sẽ không phát triển mạnh được, nếu dịch vụ thanh toán nói riêng không thông suốt và các dịch vụ khác của NHTM nói chung không phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, tạo nên những điều kiện thuận lợi, đồng bộ cho các loại hình dịch vụ khác phát triển

1.1.2.2 Vai trò của các hoạt động dịch vụ đối với nền kinh tế

Trang 16

Hoạt động dịch vụ của các NHTM đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản

xuất kinh doanh được tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng, thúc đẩy quá trình chu chuyển vốn trong nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất, luân chuyển hàng hoá Dịch vụ của NHTM góp phần tích cực trong việc mang lại lợi ích cho nền kinh tế, cho khách hàng và cho ngân hàng thông qua việc giảm chi phí nhờ sự tiện ích và sự chuyên môn hóa của từng dịch vụ, giảm chi phí kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền, tiết kiệm nhân lực để thực hiện Ngoài ra, chi phí dịch vụ ngân hàng mà khách hàng phải trả thường thấp so với giá trị tài sản hoặc thấp hơn so với việc khách hàng phải đầu tư phương tiện để bảo quản tại nhà, khi thực hiện quản lý hộ, giữ hộ … Hơn nữa, khách hàng có cơ hội lựa chọn sản phẩm dịch vụ có lợi nhất, hiệu quả nhất

Dịch vụ ngân hàng phát triển ngày càng cao và có chất lượng tốt, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức Vì dịch vụ ngân hàng ở trình độ cao và chất lượng tốt ngày càng sử dụng nhiều thành tựu của cách mạng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin

và nguồn nhân lực chát lượng cao, như trang bị máy vi tính thế hệ mới, kết nối hệ thống thanh toán qua mạng viễn thông Song song với những phương tiện hiện đại đó phải là đội ngũ cán bộ ngân hàng có trình độ cao về chuyên môn, thành thạo công nghệ thông tin, có trình độ ngoại ngữ tốt Nhờ đó hoạt động dịch vụ ngân hàng góp phần tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo xu thế hiện đại của nền kinh tế thế giới để hội nhập và phát triển Hiện nay, các dịch vụ ngân hàng hiện đại đang phát triển và được sử dụng ngày càng nhiều như thẻ, home banking, phone banking, internet banking… được thực hiện trên nền công nghệ cao Do vậy đòi hỏi người cung cấp dịch vụ là các NHTM và khách hàng phải có am hiểu nhất định mới có thể sử dụng và vận hành được, nhiều trong số dịch vụ này tạo ra giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế, đây là một trong những tín hiệu nói lên sự đóng góp của hoạt động dịch vụ ngân hàng thúc đẩy phát triển nền kinh tế tri thức

1.2 Sự cần thiết khách quan phải phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây

1.2.1 Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh

Hà Tây

1.2.1.1 Vị trí, chức năng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 17

chi nhánh Hà Tây

NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây – Thành phố Hà Nội là một đơn vị trực thuộc NHNo&PTNT Việt Nam được nhà nước xếp hạng doanh nghiệp hạng 1, có các chi nhánh hoạt động hạn chế phụ thuộc và các phòng giao dịch trực thuộc

NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây – Thành phố Hà Nội thực hiện chức năng của một ngân hàng thương mại trên địa bàn Bao gồm:

- Trực tiếp kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo phân cấp của NHNo&PTNT Việt Nam

- Tổ chức điều hành kinh doanh, kiểm tra, kiểm soát nội bộ theo ủy quyền của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc giao

Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây như sau:

- Chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của NHNo&PTNT Việt Nam

- Tuân thủ pháp luật, các chính sách của Nhà nước và các quy định của ngành có liên quan đến hoạt động kinh doanh ngân hàng; đảm bảo nguyên tắc tập trung, thống nhất trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn; đồng thời kết hợp việc phân cấp, ủy quyền, khuyến khích tính năng động, sáng tạo và chủ động của chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam

- Cùng với các đơn vị trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam tạo thành một hệ thống đồng bộ, thống nhất trong tổ chức và hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch

+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của

Trang 18

NHNo&PTNT Việt Nam

+ Tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn ủy thác của Chính Phủ, chính quyền địa phương và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam

+ Vay vốn các tổ chức tài chính, tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và tổ chức tín dụng nước ngòai khi được Tổng giám đốc cho phép bằng văn bản

+ Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam

+ Việc huy động vốn có thể bằng vàng và các công cụ khác theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam

- Cho vay:

+ Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn và các loại cho vay khác theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam

- Kinh doanh ngoại hối:

+ Huy động vốn và cho vay, mua, bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, tái bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu bộ chứng từ và các dịch vụ khác về ngoại hối theo chính sách quản lý ngoại hối của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước và của NHNo&PTNT Việt Nam

- Cung ứng các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ gồm:

+ Cung ứng các phương tiện thanh toán

+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng

+ Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ

+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng

+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và của NHNo&PTNT Việt Nam

- Kinh doanh các dịch vụ Ngân hàng khác:

+ Kinh doanh các dịch vụ ngân hàng bao gồm: thu, phát tiền mặt; mua bán vàng bạc, tiền tệ; máy rút tiền tự động, dịch vụ thẻ; két sắt, nhận bảo quản, cất giữ, chiết khấu thương phiếu và các loại giấy tờ có giá khác, thẻ thanh toán; nhận ủy thác cho vay của các tổ chức tài chính, tín dụng, tổ chức cá nhân trong và ngoài nước; đại lý cho thuê tài chính, chứng khoán, bảo hiểm… và các dịch vụ ngân hàng khác được Nhà nước và

Trang 19

NHNo&PTNT Việt Nam cho phép

- Cầm cố, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam

- Thực hiện dịch vụ cầm đồ theo quy định của pháp luật và của NHNo&PTNT Việt Nam

- Thực hiện đồng tài trợ, đầu mối đồng tài trợ cấp tín dụng theo quy định và thực hiện các nghiệp vụ tài trợ thương mại khác theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam

- Bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hoàn thanh toán, bảo lãnh đối ứng và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác cho các tổ chức, cá nhân trong nước theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam

- Kinh doanh vàng bạc theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam

- Tư vấn tài chính, tín dụng cho khách hàng

- Tư vấn khách hàng xây dựng dự án

- Cân đối, điều hòa vốn kinh doanh đối với các chi nhánh loại 3 phụ thuộc

- Thực hiện hạch toán kinh doanh và phân phối thu nhập theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam

- Thực hiện kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ việc chấp hành thể lệ, chế độ nghiệp vụ trong phạm vi quản lý theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam

- Tổ chức phổ biến, hướng dẫn và triển khai thực hiện các cơ chế, quy chế nghiệp vụ

và văn bản pháp luật của Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và NHNo&PTNT Việt Nam liên quan đến hoạt động của các chi nhánh

- Nghiên cứu, phân tích kinh tế liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng và đề ra kế hoạch kinh doanh phù hợp với kế hoạch kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương

- Thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị lưu trữ các hình ảnh làm tư liệu phục vụ cho việc trực tiếp kinh doanh của chi nhánh cũng như việc quảng bá thương hiệu của NHNo&PTNT Việt Nam

- Quản lý nhà khách, nhà nghỉ và cơ sở đào tạo trên địa bàn do NHNo&PTNT Việt Nam giao

Trang 20

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc giao

1.2.2 Phát triển đa dạng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây và vai trò của nó

1.2.2.1 Nội dung của phát triển đa dạng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây

Trong lý luận cũng như thực tiễn, có nhiều cách để tiếp cận khái niệm, trong trường hợp khái niệm và nội dung của phát triển đa dạng dịch vụ tại NHNo&PTNT chi nhánh

Hà Tây – thành phố Hà Nội, tác giả chọn cách tiếp cận thông qua các chỉ tiêu đánh giá về

sự phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng:

Thứ nhất, là số lượng khách hàng và thị phần: Đây là tiêu chí chung để đánh giá bất

kỳ hoạt động kinh doanh nào Trong kinh tế thị trường phải rất quan tâm đến nhu cầu của

khách hàng và coi "khách hàng là thượng đế" vì chính khách hàng mang lại lợi nhuận và

sự thành công cho doanh nghiệp Một ngân hàng càng hoạt động tốt bao nhiêu thì càng thu hút được nhiều khách hàng bấy nhiêu Đối tượng khách hàng của dịch vụ ngân hàng

là số đông quảng đại quần chúng, với mỗi giao dịch dù có giá trị nhỏ hay lớn thì việc thu

hút thật nhiều khách hàng là rất quan trọng

Khách hàng của ngân hàng có đặc điểm nổi bật là tính trung thành bị hạn chế, họ sẵn sàng chuyển sang giao dịch với ngân hàng nào mà họ cho rằng sẽ nhận được lãi suất cao hơn và chất lượng phục vụ tốt hơn Trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay mỗi ngân hàng đều không ngừng nâng cao vị thế của mình, tạo ra một hình ảnh tốt để mở rộng thị phần Hoạt động kinh doanh ngân hàng chỉ được coi là phát triển khi có chất lượng phục vụ tốt với một danh mục sản phẩm đa dạng để thu hút ngày càng nhiều đối tượng khách hàng

Thứ hai, cần phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng là do nhu cầu của

khách hàng ngày càng đa dạng và khắt khe hơn Để tồn tại và phát triển, đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng cải tiến, phát triển sản phẩm dịch vụ của mình cũng như không ngừng tăng cường khả năng cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất, đặc biệt là

Trang 21

xu hướng liên kết những sản phẩm thành những "gói hàng" đa dạng và tiện lợi

Các sản phẩm dịch vụ của NHTM ngày nay không thể chỉ gói gọn ở việc cho vay

và nhận tiền gửi mà phải phát triển ngày càng phong phú, tận dụng tối đa hiệu suất của các kênh phân phối Các ngân hàng đa năng còn chủ động cạnh tranh bằng cách lấn sân sang cả các hoạt động phi ngân hàng như cung cấp dịch vụ bảo hiểm, môi giới, tư vấn

đầu tư,

Từ những năm 1990, hệ thống ngân hàng hiện đại của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đã hoạt động với các dịch vụ ngân hàng đa năng, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Có những ngân hàng lớn với hàng trăm sản phẩm bán lẻ khác nhau Vậy xu thế tất yếu về đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ của NHTM là phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế, xã hội từng quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu Mặt khác, bản thân các NHTM với mục tiêu kinh doanh xuyên suốt là thu được nhiều lợi nhuận thì lẽ đương nhiên là phải phát triển dịch vụ, tiện ích để vừa có thu nhập, vừa tránh bớt rủi ro trong kinh doanh

Thứ ba, hệ thống chi nhánh và kênh phân phối: Mạng lưới của một ngân hàng đa

năng bao gồm các chi nhánh trong và ngoài nước, các công ty con trực thuộc, các văn phòng đại diện ở các trung tâm tài chính quốc tế, các đại lý cho một số sản phẩm tài chính Trước xu thế cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, mạng lưới chi nhánh đóng vai trò hết sức quan trọng Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang dịch vụ đến với từng cá nhân, từng tổ chức ở mọi địa phương, không phân biệt nông thôn hay thành thị Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, người dân ngày càng có nhu cầu đi lại, trao đổi và sử dụng dịch vụ tài chính ở khắp mọi nơi, không chỉ trong nước mà còn ra ngoài phạm vi một nước Vì thế, một mạng lưới rộng khắp sẽ thu hút được mọi đối tượng khách hàng, đánh giá sự phát triển về quy mô và khả năng phục vụ của ngân hàng đó

Kênh phân phối truyền thống của ngân hàng là hệ thống trụ sở, văn phòng giao dịch Nhưng văn phòng giao dịch bị hạn chế về địa điểm và thời gian phục vụ Với tốc độ phát triển công nghệ thông tin như vũ bão hiện nay thì chỉ phát triển và mở rộng hệ thống văn phòng giao dịch cũng chưa đủ Để đánh giá sự phát triển của hoạt động ngân hàng, người ta còn nhìn vào các kênh phân phối của ngân hàng đó Không riêng trong lĩnh vực ngân hàng, khách hàng ngày càng không muốn bỏ ra thời gian, công sức đến tận một

Trang 22

điểm giao dịch để yêu cầu phục vụ mà muốn có thể thực hiện những yêu cầu này ngay tại

nhà, cơ quan, trường học, với những thiết bị đầu cuối sẵn có như máy tính cá nhân, điện

thoại cố định, điện thoại di động Các kênh phân phối dựa trên nền tảng công nghệ mới sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng mọi nơi và mọi lúc

Ngoài hệ thống văn phòng giao dịch, một ngân hàng hiện đại cần phải có các kênh giao dịch như sau:

+ Giao dịch qua hệ thống ngân hàng tự động (Auto-banking): đó là hệ thống máy

ATM của ngân hàng mà muốn sử dụng được khách hàng phải sử dụng sản phẩm thẻ của ngân hàng để rút tiền, nộp tiền hay chuyển khoản

+ Giao dịch qua mạng điện thoại (Phone-banking, Call center): là kênh giao dịch

có xu hướng phát triển mạnh trong thời gian gần đây vì nó giúp ngân hàng tiết kiệm chi phi nhân sự, quản lý, điện nước, văn phòng Kênh giao dịch này có thể áp dụng hai chế độ: tự động trả lời hoặc tương tác qua điện thoại viên và thường phổ biến nhất là để đáp ứng các dịch vụ vấn tin

+ Giao dịch qua mạng máy tính (PC Banking, Home Banking): Máy tính ngày nay

không còn là một sản phẩm xa lạ nên việc thiết lập các kênh này là một quyết định quan trọng cung cấp cho các khách hàng thân thiết một giải pháp để không phải đến trụ sở ngân hàng mà vẫn thực hiện được các dịch vụ như truy xuất số dư, chuyển khoản thanh toán hóa đơn, đặt mua hàng hóa, dịch vụ,

+ Internet-banking là dịch vụ mà ngân hàng thông qua môi trường internet cung

cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng Cách thức này đạt độ linh hoạt cao, xóa bỏ các

ý niệm về biên giới, thể hiện rõ hơn ý nghĩa của ngân hàng mang tính chất đa quốc gia

Hệ thống ngân hàng cùng với việc thiết lập những kênh giao dịch đa dạng sẽ mang đến những kết quả không chỉ tạo uy tín trên thương trường, tạo thêm những tiện ích cho

khách hàng mà còn tạo thêm những khả năng gắn bó khách hàng cũ, thu hút thêm khách hàng mới giúp cho ngân hàng không ngừng giữ vững vị thế trên thị trường Đối với

khách hàng, việc ngân hàng đa dạng hóa những kênh giao dịch đã giúp được việc tiết kiệm nhiều thời gian và công sức khi cần giao dịch Khách hàng có nhiều lựa chọn hơn

so với trước đây khi ngân hàng chỉ có một kênh giao dịch duy nhất là các chi nhánh Khi ngân hàng có nhiều kênh giao dịch thì việc gia tăng lượng khách, tăng nhanh doanh số

Trang 23

hoạt động và cuối cùng là mang đến nhiều lợi nhuận hơn là một kết quả tất yếu

Thứ tư, tăng tính tiện ích cho sản phẩm: Việc ứng dụng các thành tựu của khoa

học công nghệ cho phép hoạt động kinh doanh không chỉ phát triển theo chiều rộng mà còn phát triển theo chiều sâu, đó là nâng cao hàm lượng công nghệ trong một sản phẩm

để tăng tính tiện ích cho sản phẩm đó Các sản phẩm ngân hàng đa tiện ích dựa trên nền tảng công nghệ cao có thể kể đến như: ngân hàng trực tuyến cho phép giao dịch trên toàn quốc với cùng một tài khoản, giao dịch một cửa tiết kiệm thời gian cho khách hàng, sản phẩm thẻ mang nhiều tính năng, kết hợp giữa sản phẩm ngân hàng với sản phẩm bảo

hiểm, chuyển tiền trong và ngoài nước nhanh và hiệu quả

Cạnh tranh bằng lãi suất ngày nay đã không còn phù hợp mà phải cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ Như vậy, ngân hàng nào nâng cao được chất lượng dịch vụ tăng tiện ích cho sản phẩm thì càng khẳng định được uy tín của mình trên thị trường tài chính

Thứ năm, tính an toàn: Hoạt động kinh doanh tiền tệ là hoạt động hàm chứa rất nhiều

rủi ro nên để đánh giá sự phát triển của mảng hoạt động nào đó, người ta luôn quan tâm tới tính an toàn Ngày nay, với các kênh phân phối hiện đại, chữ ký điện tử và các chứng từ điện

tử được chấp nhận rộng rãi Chúng được mã hóa để đảm bảo tính tin cậy, xác thực và bí mật

cá nhân Môi trường mạng luôn có tiềm ẩn những nguy cơ không thể lường trước, các hacker chuyên nghiệp là mối đe dọa lớn đối với hệ thống ngân hàng điện tử nếu không kiểm soát được thì có thể bị xâm nhập, phá hỏng dữ liệu thậm chí tấn công cả tài khoản của khách hàng

Các ngân hàng luôn tìm cách không ngừng củng cố vị thế, uy tín của mình với khách hàng, quan trọng hơn là cho họ biết về các hình thức tăng cường bảo mật.Các ngân hàng phải tăng cường các biện pháp bảo mật đối với các hệ thống xử lý giao dịch qua mạng và liên qua đến các ứng dụng công nghệ hiện đại khác để đảm bảo rằng hệ thống

xử lý của ngân hàng không dễ dàng bị lợi dụng

Thứ sáu, tăng thu nhập cho ngân hàng: Lợi ích lớn nhất mà các dịch vụ ngân hàng

mang lại cho Ngân hàng thương mại là lợi nhuận Khó có thể xây dựng một chỉ tiêu định lượng để đo được toàn bộ lợi nhuận mà dịch vụ ngân hàng góp phần vào cho thu nhập của ngân hàng vì có những dịch vụ chỉ để hỗ trợ chéo cho các hoạt động bán buôn, tạo ra nguồn vốn cho các hoạt động bán buôn, tăng cường uy tín, vị thế cho ngân hàng

Trang 24

Những thu nhập cụ thể mà ta có thể đánh giá được từ các dịch vụ ngân hàng là: phí phát hành và thanh toán thẻ, lãi suất từ hoạt động cho vay, thanh toán, bảo lãnh, tư

vấn, chênh lệch mua bán ngoại tệ, phí chuyển tiền và các loại phí khác,

Lợi nhuận là mục tiêu sống còn của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào nên một ngân hàng có dịch vụ phát triển thì không chỉ đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng mạng lưới

mà còn phải tối đa hoá các khoản thu từ dịch vụ Nói cách khác, dịch vụ không thể được coi là phát triển nếu nó không mang lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng

1.2.2.2 Vai trò của phát triển đa dạng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây

Phát triển đa dạng dịch vụ tại NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây có vai trò rất to lớn

và toàn diện đối với sự phát triển của ngân hàng và đời sống kinh tế – xã hội Khái quát lại vai trò biểu hiện trên các mặt sau:

Đảm bảo sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây Nhờ phát triển đa dạng dịch vụ mà NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây tạo thêm được những dịch vụ tiện ích, thu hút được nhiều khách hàng giao dịch và đặt quan hệ, nhờ đó chiếm lĩnh được thị trường, thị phần trên địa bàn Phát triển đa dạng dịch vụ tại NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây với chất lượng cao sẽ tạo nên công cụ cạnh tranh hiệu quả để thu hút, lôi kéo khách hàng trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng trên địa bàn trong việc chiếm lĩnh thị trường và thị phần như hiện nay

NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây là chi nhánh có mạng lưới rộng nhất và thị phần hoạt động lớn nhất so với các ngân hàng thương mại trên địa bàn Do đó, việc mở rộng và phát triển dịch vụ như nói ở phần trên đã bước đầu đáp ứng được nhu cầu về dịch vụ

ngân hàng của các thành phần kinh tế trên địa bàn Thông qua đó, hoạt động dịch vụ của

NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh phát triển hoạt động du lịch và các hoạt động dịch vụ khác Các dịch vụ đa dạng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán và chuyển tiền trong nước, chuyển tiền kiều hối, góp phần hạn chế việc thanh toán bằng tiền mặt, đáp ứng nhu cầu vốn và thanh toán của các doanh nghiệp, hộ gia đình Đồng thời góp phần thúc đẩy môi trường dịch vụ ngân hàng trên địa bàn phát triển Các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân làm quen với các dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiện ích

Trang 25

1.2.2.3 Những nhân tố khách quan tác động đến phát triển đa dạng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây

- Môi trường kinh tế

Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm nhiều hoạt động kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau, ràng buộc lẫn nhau Bất kỳ sự biến động của một yếu tố nào trong nền kinh tế cũng đều dẫn tới những tác động có ảnh hưởng theo mức độ khác nhau đến các lĩnh vực khác của nền kinh tế Đặc biệt là hoạt động của Ngân hàng thương mại với vai trò là cầu nối cho các hoạt động khác, nên hoạt động ngân hàng thương mại rất nhạy cảm và chịu

sự tác động rất lớn của những biến động kinh tế

Môi trường kinh tế tác động đến các hoạt động ngân hàng theo hai hướng: tác động vào khách hàng và tác động vào thị trường tài chính ở một nền kinh tế phát triển, cấu trúc và hoạt động của thị trường tài chính cũng thay đổi với sự tham gia của các tổ

chức tài chính phi ngân hàng như công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng, các công ty tài chính,

Như vậy, bản thân thị trường tài chính tạo ra một áp lực cạnh tranh buộc các ngân hàng thương mại phải phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình

Nền kinh tế càng phát triển thì sự vận động của nó càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi hoạt động của ngân hàng cũng phải phát triển theo với một danh mục sản phẩm dịch vụ được

đa dạng hóa và đạt chất lượng ngày càng cao

Khách hàng thụ hưởng các dịch vụ ngân hàng là những cá nhân, tổ chức, nên môi trường kinh tế còn ảnh hưởng đến sự phát triển đa dạng dịch vụ ngân hàng thông qua việc ảnh hưởng đến thu nhập, sức mua, khối lượng và phương thức thanh toán của mỗi đối tượng khách hàng Ví dụ, khi nền kinh tế mở rộng, người dân lạc quan hơn về thu nhập trong tương lai của mình và họ có thể phát sinh nhu cầu vay tiêu dùng Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân không tin tưởng vào tương lai, thất nghiệp tăng nên họ phải tiết kiệm và hạn chế vay tiền cho tiêu dùng Như vậy, nhu cầu dùng dịch vụ ngân hàng của người dân cũng thay đổi theo biến động kinh tế

- Môi trường xã hội và văn hoá

Sự phát triển của xu hướng xã hội hiện tại ảnh hưởng nhiều đến hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chẳng hạn cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đang diễn ra như ở nước ta hiện nay nói chung, trên địa bàn Hà Tây nói

Trang 26

riêng, sự thay đổi trong phân bố dân cư sống ở thành thị tăng và có thu nhập tăng, nhiều

người sẽ tách ra sống độc lập với gia đình hơn và nhiều người sẽ sống sau tuổi về hưu cũng gia tăng Những thay đổi này sẽ làm tăng nhu cầu về tín dụng để xây nhà cửa và một vài loại hình dịch vụ tài chính khác

Môi trường văn hóa cũng có ảnh hưởng đến phát triển đa dạng dịch vụ, vì nó là yếu tố quyết định đến tập quán sinh hoạt và thói quen sử dụng tiền của người dân Người dân sẽ quyết định lựa chọn việc giữ tiền ở nhà, gửi ngân hàng hay đầu cơ bất động sản, mua bảo hiểm cho con cái, làm phát sinh các nhu cầu về dịch vụ ngân hàng

Trình độ dân trí thể hiện nhận thức của công chúng với sự phát triển kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng Trình độ dân trí cao đồng nghĩa với khả năng tiếp cận tốt hơn của người dân đối với những thành tựu khoa học mới phục vụ cho cuộc sống của bản thân mình, tạo điều kiện cho những sản phẩm mang tính công nghệ

cao (E-banking, thẻ, ngân hàng trực tuyến, ) phát triển

- Môi trường pháp lý

Đây là nhân tố thuộc môi trường bên ngoài có tác động lớn nhất và thường xuyên nhất tới hoạt động ngân hàng thương mại nói chung, NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây nói riêng Do ảnh hưởng to lớn của hoạt động tài chính đối với nền kinh tế, nên mỗi ngân hàng thương mại đều phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật ngay từ khi thành lập Luật pháp tạo ra khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động của ngân hàng Đó là những quy định mà các ngân hàng thương mại phải tuân theo để bảo vệ lợi ích của ngân hàng và khách hàng trong các hoạt động tiền tệ – tín dụng Đồng thời đó cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng Nếu các quy định của luật pháp không đầy đủ, không rõ ràng và thiếu tính nhất quán, đồng bộ sẽ gây khó khăn cho các hoạt động ngân hàng Ngược lại, một hệ thống pháp luật đầy đủ và hoàn thiện sẽ là một hành lang pháp lý vững chắc bảo đảm cho các hoạt động của ngân hàng đi đúng quỹ đạo, giảm thiểu rủi ro và đạt hiệu quả

- Môi trường công nghệ

Những tiến bộ của khoa học – công nghệ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động ngân hàng Nó tạo điều kiện cho ngân hàng có thể áp dụng công nghệ cùng những phương tiện, công cụ và phương pháp mới vào hoạt động của mình, từ đó tăng năng suất lao động và

Trang 27

hiệu quả kinh tế, giảm chi phí bỏ ra cả về thời gian và tiền bạc, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng Hiện nay, công nghệ hiện đại, nhất là công nghệ thông tin đang được sử dụng rộng rãi làm thay đổi nhanh chóng danh mục sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng Đặc biệt là công nghệ hiện đại đã giúp ngân hàng có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển và cung ứng đa dạng các dịch vụ mới như ngân hàng điện tử, ngân hàng qua

mạng, thanh toán trực tuyến, tư vấn trực tuyến,

- Nhận thức của khách hàng

Cùng với đà phát triển kinh tế - xã hội, khả năng nhận thức và tư duy kinh tế của khách hàng ngày càng được nâng cao Từ đó đòi hỏi của khách hàng về các dịch vụ NH cũng tăng lên Trước kia khách hàng đến với NH như đến một “ trung gian” tiền tệ với các hoạt động chủ yếu gồm huy động, cho vay, thanh toán thì ngày nay, khách hàng đòi hỏi ở NH sự đa dạng về các dịch vụ tài chính cả ngân hàng và phi ngân hàng với chất lượng cao Để nâng cao nhận thức của khách hàng về các sản phẩm dịch vụ mới của NH, nhằm tạo môi trường thúc đẩy phất triển đa dạng dịch vụ, các NH cần phải tăng cường công tác thông tin, quảng cáo, giới thiệu về những tiềm năng, lợi thế của mình cho khách hàng

- Yếu tố thị trường và mức độ cạnh tranh

Trước yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra như hiện nay Việc phát triển đa dạng các dịch vụ của NHTM, nhất thiết phải quan tâm đến yếu tố thị trường Bởi vì thị trường chính là điểm ban đầu và kết thúc của một “ quá trình sản xuất ra một sản phẩm ngân hàng” Các ngân hàng không thể chỉ nhìn thị trường hạn hẹp ở một quốc gia mà cần phải nhìn thị trường với phạm vi quốc tế Trong quá trình cạnh tranh các ngân hàng trong nước, các ngân hàng trong khu vực đang có những chuẩn bị để đưa ra các sản phẩm mới Điều đó kích thích sự phát triển của ngân hàng Vì vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển dịch vụ của các NHTM theo hướng đa năng hoá, hiện đại hoá Trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam, các NHTM đang rất quan tâm tới yếu tố cạnh tranh quốc tế, vì Việt Nam đã gia nhập WTO, đang tham gia ngày càng sâu rộng vào các hiệp định song phương, đa phương theo luật pháp và thông lệ quốc tế trên “sân chơi toàn cầu hoá”

1.2.2.4 Những nhân tố chủ quan đòi hỏi phải phát triển đa dạng dịch vụ tại

Trang 28

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây

- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Mỗi ngân hàng khi triển khai bất kỳ một mảng dịch vụ nào cũng đều phải xây dựng cho mình một tầm nhìn và một kế hoạch kinh doanh dài hạn phù hợp Đó chính là

chiến lược kinh doanh, được xây dựng trên nền tảng điều tra, khảo sát các đối tượng

khách hàng mục tiêu, môi trường công nghệ, môi trường cạnh tranh, nguồn lực của bản

thân ngân hàng, Ngân hàng cần xác định vị trí hiện tại và tương lai của mình trong hệ

thống tài chính để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đang và

sẽ chờ đợi mình NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây là ngân hàng đang có được chiến lược như vậy và đã xác định được tầm quan trọng của việc phát triển đa dạng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của mình Do đó, trong thời gian tới đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng, có hiệu quả các nguồn lực cho việc phát triển đa dạng dịch vụ

- Quy mô và uy tín của ngân hàng

Quy mô ngân hàng là nhân tố quan trọng quyết định cơ cấu danh mục dịch vụ của ngân hàng Cơ cấu vốn của ngân hàng quyết định khả năng chi trả và cung ứng dịch vụ tài chính cho khách hàng Nếu như các ngân hàng truyền thống chỉ chú trọng vào hoạt động tín dụng thì đa số các ngân hàng hiện nay đều phát triển theo hướng là ngân hàng đa năng, đáp ứng cho khách hàng tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính, đa dạng hóa hoạt động để thu hút ngày càng nhiều khách hàng

Uy tín của mỗi ngân hàng trong hệ thống tài chính là một loại "tài sản vô hình"

của ngân hàng đó Uy tín này phải được tạo dựng qua nhiều năm hoạt động có hiệu quả, qua công tác quảng cáo khuếch trương để tạo ra hình ảnh của ngân hàng trên thị trường

Tùy theo quy mô và uy tín của mình mà mỗi ngân hàng sẽ tập trung vào những loại hình dịch vụ mà mình có ưu thế nhất, chẳng hạn các ngân hàng lớn có ưu thế trong việc cung cấp dịch vụ thanh toán qua mạng Internet; các ngân hàng có quy mô vừa phải

và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, trên một địa bàn xác định như NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây thì tập trung chủ yếu vào những dịch vụ mà khách

hàng mục tiêu của ngân hàng đang và sẽ có nhu cầu ngày càng tăng

- Cơ cấu tổ chức của ngân hàng

Cơ cấu của ngân hàng bao gồm hệ thống tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của

Trang 29

từng phòng ban, mạng lưới hoạt động của ngân hàng Trong mỗi doanh nghiệp nói chung, vai trò, chức năng, quyền hạn của ban lãnh đạo từng cấp được xác định theo từng mức độ khác nhau Hệ thống tổ chức bộ máy nếu được xây dựng, hoàn thiện theo cơ cấu phù hợp, gắn kết chặt chẽ mối liên hệ dọc, ngang giữa các bộ phận hợp thành thì việc định hướng, triển khai thực hiện mục tiêu nhiệm vụ phát triển đa dạng dịch vụ và đánh giá thực trạng hoạt động của ngân hàng trở nên hiệu quả hơn

Đặc biệt, đối với việc phát triển đa dạng dịch vụ tại NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây, việc xây dựng, hoàn thiện một cơ cấu tổ chức bộ máy cho phù hợp với tình hình mới sau khi tỉnh Hà Tây hợp nhấp vào Hà Nội xác định rõ các kênh hoạt động, phân định rõ vai trò của bộ máy quản lý và bộ phận giao dịch trực tiếp với khách hàng có ảnh hưởng lớn tới việc phát triển đa dạng các dịch vụ, đảm bảo phục vụ khách hàng trên địa bàn đạt hiệu quả cao hơn

- Chất lượng nguồn nhân lực

Vì các sản phẩm của NHTM là những sản phẩm mang tính dịch vụ, phải qua sự phục vụ của các nhân viên ngân hàng mới đến được với người sử dụng, nên chất lượng nguồn nhân lực – chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng Họ là những người quyết định chất lượng của dịch vụ được cung cấp và vì vậy họ cũng là người quyết định sự thành bại đối với một sản phẩm dịch vụ mới nào đó

Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở tình trạng sức khoẻ, tác phong làm việc, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng giao tiếp, trình độ ngoại ngữ, vi tính, kinh nghiệm công tác, kỹ năng tiếp thu và làm chủ những công nghệ mới, ý thức trách nhiệm

và kỷ luật lao động Đội ngũ cán bộ, nhân viên của ngân hàng vừa tạo nên hình ảnh của

ngân hàng, vừa là cầu nối những công nghệ mới với hoạt động dịch vụ của ngân hàng tới

khách hàng Vì vậy, để thực hiện tốt chiến lược, mục tiêu, kế hoạch của mình, ngân hàng cần coi trọng việc phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ khâu tuyển dụng, đào tạo và chế độ đãi ngộ hợp lý Tại NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây đã và đang quan tâm đến vấn đề này, nhờ đó, tạo thuận lợi cho việc phát triển đa dạng các hoạt động dịch

vụ

- Trình độ kỹ thuật- công nghệ của ngân hàng

Dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ và kinh tế tri thức cùng

Trang 30

những yêu cầu mới của phát triển kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc

tế, các dịch vụ ngân hàng ngày càng gắn với những thiết bị công nghệ cao, bao gồm: hệ thống mạng máy tính nội bộ được bảo mật cao và được nối mạng Internet, điện thoại,

máy ATM,

Công nghệ hiện đại tạo ra những điều kiện thuận lợi, nâng cao chất lượng hoạt động của ngân hàng, giảm bớt thời gian và chi phí giao dịch, tăng khả năng kiểm soát đối với các dịch vụ ngân hàng, cập nhật, thu thập, xử lý và phân tích thông tin nhanh hơn, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đa tiện ích, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh

và tăng thêm lòng trung thành của khách hàng đối với ngân hàng Đây là cơ hội để các NHTM thực hiện “đi tắt”, “đón đầu” trong phát triển đa dạng dịch vụ nhằm nâng cao sức cạnh tranh, vươn lên chiếm lĩnh thị trường NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây đã và đang

ý thức được điều này

Tuy vậy, đây cũng là một thách thức không nhỏ, có ảnh hưởng lớn tới việc phát triển đa dạng dịch vụ Bởi vì, công nghệ hiện đại đòi hỏi phải có chi phí đầu tư lớn, phải

có đội ngũ nhân viên có trình độ cao, phù hợp với yêu cầu để làm chủ được công nghệ hiện đại ấy Đồng thời cũng yêu cầu khách hàng phải có đủ những hiểu biết cần thiết để

sử dụng một cách tiện ích những phương thức giao dịch hiện đại Thế nhưng, hiện trạng của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây trên cả ba phương diện ấy đều còn sự bất cập: Thiếu vốn đầu tư lớn để tiếp thu kỹ thuật, công nghệ hiện đại, đội ngũ cán bộ, nhân viên trình độ còn hạn chế; khách hàng chủ yếu là khách hàng thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Do đó, việc phát triển đa dạng dịch vụ dựa trên kỹ thuật – công nghệ hiện đang gặp những khó khăn nhất định Vì thế, NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây trước hết phải căn cứ vào khả năng tài chính, trình độ đội ngũ cán bộ, nhân viên và trình độ của khách hàng để lựa chọn, áp dụng những công nghệ phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong khả năng có thể Đồng thời, phải tích cực thực thi các biện pháp hữu hiệu nâng cao năng lực về vốn, trình độ đội ngũ cán bộ, nhân viên, tư vấn và hướng dẫn nhằm nâng cao trình độ khách hàng để phát triển đa dạng dịch vụ với trình độ kỹ thuật – công nghệ cao

Trang 32

Chương 2 Thực trạng phát triển các hoạt động dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây

2.1.1.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng tới phát triển đa dạng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thô chi nhánh Hà Tây

Hà Tây (cũ) là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng có trung tâm tỉnh là Thành phố Hà Đông cách trung tâm thủ đô Hà Nội 11km, phía Đông giáp Hà Nội, phía Tây giáp Hoà Bình, phía Nam giáp Hà Nam, phía Bắc giáp Vĩnh Phúc, nằm cạnh khu tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh, vùng kinh tế động lực của miền Bắc

Hà Tây có diện tích tự nhiên 2.193 km2 Qua Hà Tây có 3 cửa ngõ vào Thủ đô Hà Nội là quốc lộ 1, quốc lộ 6 và quốc lộ 32

Hà Tây ngoài tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp cũng có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp và dịch vụ Vì, trên địa bàn này có một số khoáng sản đạt trữ lượng và chất lượng khai thác, chế biến công nghiệp như đá vôi, đá Granit, đất sét, cao

Trang 33

lanh, vàng sa khoáng, đồng, than bùn, nước khoáng

Về tiềm năng phát triển du lịch Hà Tây được xếp thứ 3 cả nước có số lượng các di tích lịch sử (trên 300 di tích) và có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong và ngoài nước được hình thành theo 3 cụm: Chùa Hương; Ba Vì - Suối Hai - Ao Vua - Đồng Mô Ngải Sơn và Thạch Thất - Quốc Oai Nhờ thế, trên địa bàn này có điều kiện quy hoạch phát triển thành những trung tâm du lịch lớn tạo nhu cầu và điều kiện thuận lợi cho NHN&PTNT chi nhánh Hà Tây phát triển đa dạng các hoạt động dịch vụ

Điều kiện tự nhiên chia thành 3 vùng rõ rệt khác nhau: vùng đồng bằng phía Đông, vùng núi (Ba vì) và vùng gò đồi phía Tây (Sơn Tây, Thạch Thất, Quốc Oai,

Chương Mỹ, Mỹ Đức) Nhiệt độ trung bình 23,3oC, chênh lệch khá cao giữa các vùng Mùa hè ở đồng bằng lên tới 36-37oC, cá biệt lên tới 41oC, mùa đông ở vùng cao có thể xuống tới 3oC Lượng mưa trung bình hàng năm 1.900mm

Hà Tây có 2 con sông lớn chảy qua là sông Đà ở phía Tây, sông Hồng ở phía Bắc Trong nội tỉnh có 3 con sông: sông Tích Giang dài 110 km bắt nguồn từ núi Ba Vì gặp sông Đáy ở Ba Thá - ứng Hoà; sông Đáy dài 103 km là một hạ lưu của sông Hồng bắt nguồn từ huyện Phúc Thọ; sông Nhuệ dài 47 km là một hạ lưu của sông Hồng chảy qua ngoại thành Hà Nội qua thành phố Hà Đông, gặp sông Hồng ở Phủ Lý (tỉnh Hà Nam)

Với những điều kiện và đặc điểm tự nhiên như vậy, Hà Tây có vị trí địa lý rất thuận lợi, gần các trung tâm khoa học kỹ thuật của Trung ương Do đó có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc khai thác và mở rộng giao lưu thị trường, phát triển đa dạng các dịch

vụ, đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng trong hợp tác phát triển với thủ đô Hà Nội và khu tam giác kinh tế phía Bắc là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

2.1.1.2 Tổng quan về điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tới phát triển đa dạng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây

Hà Tây có trên 90% dân số sống ở nông thôn, đất đai nông nghiệp bình quân 530m2/người Nhìn chung nhân dân trong tỉnh cần cù lao động, có ý thức tự vươn lên, có nhận thức mới về sản xuất hàng hoá, năng động trong sản xuất kinh doanh

Địa bàn hành chính của tỉnh bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã, 12 huyện, 325 xã, phường, thị trấn Toàn tỉnh có 56 vạn hộ dân cư, có trên 200 làng nghề với những sản phẩm đặc sắc và được nhiều người ưa chuộng như lụa Vạn Phúc, sơn mài - Duyên Thái, tiện gỗ –

Trang 34

Nhị Khê, thêu – Quất Động, nón Chuông, quạt Vác, mây tre – Phú Vinh, đồ mộc Chàng Sơn, may Trạch Xá,

Với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội như trên, Hà Tây đã đề ra phương hướng phát triển toàn diện sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và du lịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hiện trạng, tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ của Hà Tây, trình độ kỹ thuật còn lạc hậu, vốn đầu tư cho những lĩnh vực này chưa được đáp ứng kịp thời và đủ mức cần thiết theo yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương Chính những hạn chế này đang là “dư địa” đòi hỏi phải phát triển đang dạng dịch vụ tại NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây

Ngành nông nghiệp Hà Tây thời gian qua có tốc độ tăng trưởng bình quân từ 6%; sản lượng lương thực đạt 100 vạn tấn, trong đó sản lượng lúa hàng năm đạt trên 80 vạn tấn, năng suất lúa bình quân toàn tỉnh đạt 4,6 tấn/ha Sự phát triển của nông nghiệp

4%-Hà Tây như vậy là thực sự chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế Trong đó có nguyên nhân do sự bất cập của lĩnh vực dịch vụ, nên chưa hỗ trợ tích cực cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhất là thực hiện sự liên kết giữa ngân hàng, doanh nghiệp, nhà khoa học với nhà nông

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của Hà Tây được duy trì mức tăng trưởng hàng năm là 14% Công nghiệp quốc doanh được sắp xếp lại một bước, một số

cơ sở được đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường, nên sản xuất tăng và có hiệu quả hơn Thủ công nghiệp được phát triển nhanh ở các làng nghề và được mở rộng ở một số địa phương trên địa bàn Hà Tây, ngoài những ngành nghề truyền thống còn có thêm nghề mới, sản phẩm mới vừa tiêu thụ nội địa vừa xuất khẩu Tuy vậy, phát triển sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của

Hà Tây còn chậm và nhiều bất cập, có nguyên nhân do sự yếu kém của lĩnh vực dịch

vụ ngân hàng, vì thế cần phải phát triển đa dạng các dịch vụ hoạt động dịch vụ

Tuy kinh tế của Hà Tây trong những năm qua đã đạt được một số kết quả như trên, làm cho tình hình kinh tế - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực Song còn bộc lộ nhiều khó khăn hạn chế:

- Các hoạt động dịch vụ và du lịch chậm phát triển và còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Hà Tây

Trang 35

- Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp còn phát triển dưới mức tiềm năng, kim ngạch xuất khẩu đạt thấp, thu ngân sách còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu chi tại địa phương

Những nhân tố và bối cảnh nêu trên tất yếu có tác động ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển đa dạng các dịch vụ tại NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây trong những năm tới

2.1.2 Tổng quan về các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây

2.1.2.1 Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Hà Tây

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Hà Tây được thành lập từ tháng 10 năm 1991 trên cơ sở sát nhập 8 ngân hàng huyện, thị xã thuộc tỉnh Hà Sơn Bình cũ

và 6 ngân hàng huyện, thị xã của Hà Nội chuyển giao

Đến nay, về màng lưới có 77 chi nhánh, phòng giao dịch gồm: 1 chi nhánh loại 1,

15 chi nhánh loại 3, 61 phòng giao dịch Trụ sở các chi nhánh đều được đặt tại thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ gần các khu, cụm công nghiệp Trung bình cứ 3 đến 5 xã, phường trên địa bàn có một trụ sở giao dịch của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây

Về lực lượng lao động, với 916 cán bộ (405 cán bộ nam, 511 cán bộ nữ)

Về trình độ cán bộ, 6 cán bộ có trình độ thạc sỹ, 604 cán bộ có trình độ đại học, chiếm tỷ lệ 66,6% Còn lại là những cán bộ có trình độ trung cấp chuyên môn, nghiệp vụ, chiếm tỷ lệ 33,4%

Qua gần 20 năm thực hiện đổi mới theo pháp lệnh ngân hàng và TCTD, sau đó là Luật ngân hàng và các TCTD, hoạt động NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây đã thu được những kết quả đáng khích lệ, tính hết năm 2008:

- Tổng nguồn vốn huy động đạt 8.336 tỷ đồng, tăng hơn 107 lần so với buổi ban đầu mới thành lập

- Dư nợ cho vay đạt 7.212 tỷ đồng, tăng hơn 155 lần so với buổi ban đầu mới thành lập

2.1.2.2 Những đặc điểm nổi bật trong hoạt động dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây

Trang 36

Một là, NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây là một chi nhánh có quy mô hoạt động

vào loại lớn nhất của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Với đặc điểm này, hoạt động của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây chịu sự chi phối bởi qui định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, sự đầu

tư cơ sở vật chất và công nghệ để phát triển các sản phẩm dịch vụ, phụ thuộc vào NHNo&PTNT Việt Nam về phân phối thu nhập và tất cả các cơ chế quản lý, chuyên môn nghiệp vụ Tính đến cuối năm 2008, dựa trên các chỉ tiêu: số lượng cán bộ và nhân viên, nguồn vốn huy động tại chỗ, dư nợ cho vay, thì NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây đứng vào hàng chi nhánh có quy mô lớn nhất toàn hệ thống

Hai là, Chi nhánh NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây hoạt động kinh doanh dịch vụ

trên địa bàn rộng, nhưng sự phát triển kinh tế trên địa bàn này còn nhiều khó khăn, Đặc điểm này chi phối rất lớn đến hoạt động quản lý kinh doanh dịch vụ của chi nhánh

Ba là, thị trường chủ yếu để hoạt động kinh doanh dịch vụ còn chưa phát triển Thị

trường chính mà NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây phục vụ là nông nghiệp và nông thôn

với nhiều vùng còn đang lạc hậu Đặc điểm này vừa là cửa mở cho NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây khai thác phục vụ, mở rộng thị trường vừa phải chống đỡ với nhiều rủi ro

Bốn là, thị trường chính của NHNo&PTNTchi nhánh Hà Tây hoạt động kinh

doanh dịch vụ có rủi ro cao Ngân hàng hoạt động chủ yếu trong khu vực kinh tế nông

nghiệp, nông thôn Thị trường này chịu ảnh hưởng bởi sự tác động của các yếu tố thiên nhiên và môi trường Với đặc điểm địa hình của Hà Tây như đã trình bày ở phần trên, nên thiên tai luôn túc trực gây tác động xấu đến mùa màng, ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường, từ đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây

2.2 phát triển dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây từ 2004 đến nay

2.2.1 Khái quát về tình hình phát triển nền tảng công nghệ cho hoạt động dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây

Để đẩy mạnh phát triển dịch vụ, từ cuối năm 2003, NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây triển khai dự án hiện đại hoá công tác thanh toán và kế toán khách hàng tại Hội sở

Trang 37

chi nhánh theo sự chỉ đạo của NHNo&PTNT Việt Nam Từ khi triển khai phần mềm giao dịch mới cho thấy chương trình đã góp phần thay đổi cơ bản về phương pháp quản lý, điều hành Hệ thống mới cung cấp nhiều dịch vụ, sản phẩm mới đáp ứng đầy đủ hơn các nhu cầu giao dịch ngày càng cao của khách hàng

Hiện nay, toàn chi nhánh có 77 điểm giao dịch trực tiếp khách hàng, trong đó gồm

1 hội sở, 15 chi nhánh NHNo&PTNT huyện (Ngân hàng loại III), 61 phòng giao dịch Toàn chi nhánh có 19 máy ATM và 54 điểm chấp nhận thẻ POS

Tính đến 31/12/2008, NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây được trang bị 16 máy chủ đặt tại Hội sở chi nhánh và các trung tâm huyện, 509 máy trạm cùng đầy đủ các thiết bị ngoại vi Toàn bộ máy chủ và máy trạm đều có cấu hình lớn đủ điều kiện ứng dụng các chương trình phần mềm của ngành

NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây đã được trang bị hệ thống mạng truyền thống gồm: 01 đường Leased-line từ Hội sở NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây đi trụ sở chính phục vụ cho việc ứng dụng chương trình giao dịch một cửa và công tác đào tạo; 15 đường Leased-Line cho các chi nhánh ngân hàng loại 3 kết nối về Hội sở NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây; 14 đường truyền dự phòng nếu đường Leased-Line có sự cố; Mỗi chi nhánh trang bị 01 máy phát điện dự phòng; đường điện thoại, điện lưới của chi nhánh đã được cải tạo đủ khả năng đáp ứng cho việc mở rộng quy mô hoạt động

Về cơ bản, với nền tảng công nghệ và trang thiết bị hiện tại có thể đáp ứng cho việc ứng dụng, triển khai phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại chi nhánh Tuy nhiên, để phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng này cả về chất lượng và số lượng thì nền tảng công nghệ cần phải không ngừng đổi mới

2.2.2 Các dịch vụ liên quan đến tạo nguồn cung về vốn cho ngân hàng (hoạt động huy động vốn)

Hiện nay, NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây đã và đang thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu trong công tác huy động vốn tạo nguồn cung về vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với nhiều hình thức như:

- Nhận tiền gửi của khách hàng (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác)

Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán) là sản phẩm dịch vụ linh

Trang 38

hoạt, rất tiện lợi cho các tổ chức và cá nhân

- Tiền gửi tiết kiệm các loại: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn; tiền gửi tiết kiệm có

kỳ hạn; tiền gửi tiết kiệm bậc thang; tiền gửi tiết kiệm gửi góp; Tiền gửi tiết kiệm có thưởng; tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ bảo đảm giá trị theo vàng; tiền gửi tiết kiệm bằng vàng; tiền gửi tiết kiệm có tặng quà bằng vàng 3 chữ A (4 số 9) và có dự thưởng

- Giấy tờ có giá ngắn hạn: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và tín phiếu;

- Giấy tờ có giá dài hạn: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn

- Vay vốn của NHNN, Tổ chức kinh tế và các TCTD khác;

Kết quả huy động vốn thông qua các dịch vụ trên trong những năm qua đạt kết quả khả quan Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2008 là 8.336 tỷ, tăng 1.515 tỷ so với đầu năm, tốc độ tăng trưởng 22,2% (cùng kỳ năm 2007 đạt 20,11%) Trong đó cơ cấu theo thời hạn như sau:

Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn theo thời hạn

Nguồn: Báo cáo tổng kết của NHNo&PTNT CN Hà Tây các năm 2004-2008

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng nguồn vốn qua các năm

Trang 39

Nguồn: Báo cáo tổng kết của NHNo&PTNT CN Hà Tây các năm 2004-2008

Có thể nói, vể các sản phẩm dịch vụ huy động vốn của NHNo&PTNT chi nhánh

Hà Tây khá phong phú và phần nào đã đáp ứng được các nhu cầu gửi tiền của khách hàng Khách hàng căn cứ vào nhu cầu của mình có thể lựa chọn các loại sản phẩm dịch

vụ tiền gửi khác nhau

Về cơ cấu nguồn vốn có sự chuyển dịch tích cực theo hướng ổn định và có lợi cho kinh doanh, nguồn vốn có lãi suất thấp năm 2008 đạt 1.727 tỷ đồng, tăng 759 tỷ so với

2007 và tăng 1.189 tỷ đồng so với năm 2004, nguồn vốn trung hạn năm 2008 đạt 5.532 tỷ

Trang 40

đồng, tăng 652 tỷ so với năm 2007 và tăng 2.960 tỷ đồng so với năm 2004 Nguồn vốn huy động trong dân cư chiếm tỷ lệ cao, đảm bảo ổn định về nguồn vốn cho họat động tín dụng Về tốc độ tăng trưởng nhìn chung năm sau cao hơn năm trước về số tuyệt đối, tỷ lệ tăng trưởng nguồn vốn trong 5 năm khá ổn định ở mức trên dưới 20%/năm

Trong những năm qua, NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây luôn kiên trì thực hiện chủ trương tăng tỷ trọng nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư, giảm dần nguồn vốn nhận và vay của các TCTD khác, tạo cân đối lành mạnh giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, đảm bảo tính thanh khoản ổn định qua các năm

Trong năm 2008, theo chỉ đạo của NHNo&PTNT Việt Nam, chi nhánh đã triển khai thêm một số sản phẩm mới như: Sản phẩm tiết kiệm bằng VNĐ bảo đảm giá trị theo vàng; tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn lãi suất tự điều chỉnh tăng theo lãi suất cơ bản của NHNN; tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn rút gốc linh hoạt Với việc đa dạng các sản phẩm dịch vụ huy động vốn nêu trên, đã đáp ứng được nhu cầu vốn khá ổn định cho hoạt động kinh doanh cũng như đáp ứng được nhu cầu gửi tiền của khách hàng

NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây cần phải đa dạng hoá hơn nữa các sản phẩm dịch

vụ về huy động vốn, đặc biệt là phát triển các sản phẩm dịch vụ mới có hàm lượng công nghệ và có tính tiện ích cao, hấp dẫn với khách hàng Có như vậy mới đảm bảo sự phát triển bền vững của ngân hàng, góp phần phục vụ cho phát triển của nền kinh tế

2.2.3 Các dịch vụ liên quan đến sử dụng vốn và sinh lời

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Hà Tây đã mở rộng đầu tư vốn tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với các hình thức: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn, cho vay chiết khấu các loại giấy tờ có giá; cho vay tài trợ theo chương trình, dự án, hợp vốn, đồng tài trợ các dự án lớn, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay dài hạn các dự án lớn, cho vay khép kín chu trình sản xuất - lưu thông, cho vay các chương trình chỉ định của Chính phủ; Cho vay tiêu dùng, phát triển đời sống,… Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT chi nhánh Hà Tây còn triển khai nhiều hoạt động đầu tư khác có hiệu quả

Những năm qua, ngân hàng đã có nhiều cải tiến trong công tác tín dụng như đơn giản hoá thủ tục vay vốn, điều kiện vay vốn được nới rộng, đối tượng vay vốn được mở rộng đã tạo thuận lợi cho nhiều hộ nông dân được vay vốn ngân hàng, hạn

Ngày đăng: 27/06/2014, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Hồng Cờ (1996), Đổi mới quản lý hoạt động tín dụng ngân hàng cấp cơ sở nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn (lấy Nam Hà làm ví dụ), Luận án phó tiến sĩ khoa học kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý hoạt động tín dụng ngân hàng cấp cơ sở nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn (lấy Nam Hà làm ví dụ)
Tác giả: Phạm Hồng Cờ
Năm: 1996
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
4. N.Gregory Mankiw (2000), Kinh tế vĩ mô, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô
Tác giả: N.Gregory Mankiw
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000
5. Trần Xuân Hiệu (2004), Phát triển dịch vụ ngân hàng tại Ngân hàng Công thương Việt Nam thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ ngân hàng tại Ngân hàng Công thương Việt Nam thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Xuân Hiệu
Năm: 2004
6. Học viện Ngân hàng (2001), Tín dụng Ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng Ngân hàng
Tác giả: Học viện Ngân hàng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
8. Võ Văn Lâm (1999), Đổi mới hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Võ Văn Lâm
Năm: 1999
9. Võ Văn Lâm (2003), Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Tác giả: Võ Văn Lâm
Năm: 2003
10. Nguyễn Thị Hồng Liên (2008), Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong điều kiện hội nhập, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Liên
Năm: 2008
13. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2004), Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng, (Sửa đổi), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
19. Philip Koler (1997), Marketing căn bản, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing căn bản
Tác giả: Philip Koler
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1997
20. Prederics Mishkin (1994), Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính
Tác giả: Prederics Mishkin
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1994
7. TS. Phạm Huy Hùng (2006), Giải phát phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, "Chiến lược phát triển dịch vụ Ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020&#34 Khác
11. PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai (2006), Phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trongđiều kiện hội nhập kinh tế của Việt Nam, "Chiến lược phát triển dịch vụ Ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020&#34 Khác
12. PGS, TS. Nguyễn Thị Mùi (2006), Giải pháp phát triển các dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam hiện nay, "Chiến lược phát triển dịch vụ Ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020&#34 Khác
14. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (2006), Đề án tái cơ cấu Khác
15. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tây (2005), Đề án kinh doanh ngoại tệ đến năm 2010 Khác
16. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tây (2005), Định hướng chiến lược phát triển đến năm 2010 Khác
17. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tây (2008), Báo cáo hoạt động qua các năm 2004 - 2008 Khác
18. TS. Lê Xuân Nghĩa (2006), Một số định hướng chiến lược phát triển hệ thống dịch vụ ngân hàng đến năm 2010, "Chiến lược phát triển dịch vụ Ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn theo thời hạn - LUẬN VĂN: Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh hà tây - thành phố Hà Nội docx
Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn theo thời hạn (Trang 38)
Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn theo thành phần kinh tế - LUẬN VĂN: Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh hà tây - thành phố Hà Nội docx
Bảng 2.2 Cơ cấu nguồn vốn theo thành phần kinh tế (Trang 39)
Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng đầu tư tín dụng - LUẬN VĂN: Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh hà tây - thành phố Hà Nội docx
Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng đầu tư tín dụng (Trang 41)
Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế - LUẬN VĂN: Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh hà tây - thành phố Hà Nội docx
Bảng 2.4 Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế (Trang 42)
Bảng 2.5:  Tình hình cho vay ủy thác đầu tư, các chương trình dự án - LUẬN VĂN: Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh hà tây - thành phố Hà Nội docx
Bảng 2.5 Tình hình cho vay ủy thác đầu tư, các chương trình dự án (Trang 44)
Bảng 2.7: Dịch vụ chuyển tiền các năm 2004 – 2008 - LUẬN VĂN: Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh hà tây - thành phố Hà Nội docx
Bảng 2.7 Dịch vụ chuyển tiền các năm 2004 – 2008 (Trang 46)
Bảng 2.8: Hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ - LUẬN VĂN: Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh hà tây - thành phố Hà Nội docx
Bảng 2.8 Hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ (Trang 47)
Bảng 2.9: Tình hình hoạt động dịch vụ thẻ - LUẬN VĂN: Phát triển đa dạng dịch vụ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh hà tây - thành phố Hà Nội docx
Bảng 2.9 Tình hình hoạt động dịch vụ thẻ (Trang 48)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w