Năm là, sự liên kết giữa các DNNVV c ̣n hạn chế Tuy bước đầu đă có một số hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp ra đời tập hợp các DNNVV nhưng mới chỉ ở mức độ trao đổi kinh nghiệm, thông tin,
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập ngày 26/4/1957,
là một trong những ngân hàng lớn nhất ở Việt Nam hiện nay Trước năm 2000, ngân hàng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn, các Tổng công ty lớn của Nhà nước, nên thường được biết đến như là một ngân hàng của Chính phủ Đến nay, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường, ngân hàng đă có những định hướng mới trong chiến lược hoạt động, trong đó có hoạt động tín dụng Giai đoạn 2001-2005, cơ cấu tín dụng được chuyển đổi một cách căn bản từ hoạt động chính sách (cho vay theo kế hoạch Nhà nước) là chủ yếu sang cho vay thương mại Một trong những mục tiêu BIDV đặt ra
là đạt được sự thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu khách hàng
Từ năm 2005, BIDV đă xác định mục tiêu ưu tiên phát triển tín dụng doanh nghiệp nhỏ
và vừa (DNNVV) Đây là một bước chuyển biến phù hợp với điều kiện trong lĩnh vực tín dụng xuất hiện ngày càng nhiều ngân hàng cùng tham gia cạnh tranh và DNNVV đang trở thành đối tượng khách hàng nhiều tiềm năng
Ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, DNNVV đang ngày càng khẳng định vai tṛ đối với nền kinh tế Theo thống kê, DNNVV chiếm tới 95% trong tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp trên 40% GDP, thu hút hơn 50% tổng số lao động, chiếm 17,26% tổng nộp ngân sách nhà nước Điều quan trọng là DNNVV có vai tṛ to lớn trong mối quan hệ gắn kết với các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng đất nước
Những năm gần đây, chúng ta đã bắt đầu nhận thức và quan tâm đến tầm quan trọng của DNNVV, thể hiện trong các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước
ta như: Hiến pháp 1992, Luật doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2000) đă chính thức thức thừa nhận và tạo điều kiện b́nh đẳng về pháp lý cho hoạt động của DNNVV; Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ; Chỉ thị 40/2005/CT-TTg ngày 16/12/2005 của Thủ tướng
Trang 3Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Quyết định 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch phát triển DNNVV 2005-2010 Chính phủ cũng không ngừng có những bước tiến tích cực trong việc tiếp thu những kinh nghiệm quý bỏu từ cỏc nước có DNNVV hoạt động hiêu quả, thông qua các cuộc hội thảo trong và ngoài nước, và khuyến khích các dự án phát triển DNNVV ở nước ta Ngày 29/11/2000, tại Hà nội,
Ngân hàng thế giới (WB) đă công bố bản báo cáo: “Việt Nam tiến vào thế kỷ 21” với đề
xuất đưa ra 6 trụ cột của chiến lược phát triển nền kinh tế Việt nam và trụ cột đầu tiên là:
“Tạo dựng môi trường giúp đỡ các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV”.
Mặc dù vậy, với đặc thù và nhiều bất lợi, DNNVV chịu nhiều tác động tiêu cực khi nền kinh tế có những biến động lớn Trong những năm gần đây, khi Việt Nam đă tham gia hội nhập quốc tế, các DNNVV Việt Nam vẫn đang gặp phải rất nhiều thách thức, trong đó khó khăn lớn nhất là thiếu vốn Kênh huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp là các ngân hàng thương mại, tuy nhiên, phần lớn tín dụng tập trung vào các doanh nghiệp lớn, v́ vậy các DNNVV phải huy động vốn từ các nguồn không chính thức như: vốn tiết kiệm của chủ doanh nghiệp, vốn vay cá nhân thông qua các mối quan hệ thân tín, vay vốn của nhau với lăi suất cao hơn 3 - 6 lần so với lăi suất ngân hàng Ngoài ra, tuy lăi suất vay ngân hàng thấp nhưng các thủ tục vay rất phức tạp với những quy định khắt khe về tài sản thế chấp và xem xét tín khả thi của dự án khiến cho DNNVV càng khó tiếp cận nguồn vốn vay và dễ lâm vào t́nh trạng thiếu vốn trầm trọng
Sự chuyển dịch cơ cấu khách hàng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, trong đó có việc tập trung nhiều hơn vào các DNNVV xuất phát từ sự nhận thức rơ vai tṛ, tiềm năng và điều kiện khó khăn về vốn của các doanh nghiệp này Đồng thời, trong điều kiện phát triển của DNNVV Việt Nam hiện nay, BIDV cũng nhận thấy nhiều lợi ích thiết thực từ việc phát triển tín dụng đối với DNNVV Tuy Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam mở rộng quan hệ tín dụng với đối tượng khách hàng này chậm hơn nhiều ngân hàng thương mại khác nhưng với tiềm năng và uy tín của ḿnh, BIDV có nhiều cơ hội thành công nếu có những phương hướng, giải pháp đúng đắn
Trang 4V́ vậy, tác giả luận văn lựa chọn vấn đề “Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ” làm đề tài nghiên cứu với mong
muốn từ việc tổng kết lý luận và phân tích thực trạng chuyển biến hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam để t́m ra những giải pháp mang lại lợi ích thiết thực cho cả ngân hàng và DNNVV
2 T́nh h́nh nghiên cứu
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu và t́m ra giải pháp phát triển DNNVV ở nước ta, đặc biệt là giải pháp tăng cường hỗ trợ TDNH, đến nay đă có nhiều công tŕnh nghiên cứu dưới những góc độ và quy mô khác nhau như: công tŕnh của GS
TS Nguyễn Đ́nh Hương - “Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002; công tŕnh nghiên cứu “Chính sách hỗ trợ phát
triển DNNVV ở Việt Nam” và “Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV ở Việt Nam đến năm 2005”do PGS, PTS Nguyễn Cúc chủ tŕ; công tŕnh của hai tác giả Vũ
Quốc Tuấn và Hoàng Thu Hoà - “Phát triển DNNVV, kinh nghiệm nước ngoài và phát
triển DNNVV ở Việt Nam”, Nxb thống kê, 2001; Luận án Tiến sĩ kinh tế “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá tŕnh hội nhập quốc tế”, do tiến sĩ Phạm
Văn Hồng thực hiện năm 2007 Ngoài ra, đă có nhiều dự án liên quan như: dự án của Uỷ
ban tài trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ về “Dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh đối
sự phát triển của các DNNVV”, 1997; Dự án USNIE/95/004 về “Hoàn thiện chính sách
vĩ mô phát triển DNNVV”; Bản “Nghiên cứu xúc tiến DN công nghiệp vừa và nhỏ” của
Viện nghiên cứu Nomura, tháng 10/1999
Đối với hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, đă có luận án
Tiến sĩ kinh tế của TS Trần Văn Hiệu - “Xây dựng nền khách hàng bền vững tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” (2008) và một số luận văn thạc sỹ khác nghiên cứu
ở góc độ nghiệp vụ ngân hàng Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công tŕnh nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị về hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại BIDV v́ hoạt động này chỉ được triển khai mạnh mẽ tại ngân hàng từ năm 2005 đến nay V́ vậy việc tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm nhằm phát triển tín dụng đối với DNNVV cho tương xứng với tiềm năng của BIDV là cần thiết
Trang 53 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Góp phần làm rơ cơ sở lý luận và thực tiễn về phỏt triển tớn dụng ngõn hàng núi chung và của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển nói riêng đối với các DNNVV Từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đối với nhóm doanh nghiệp này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rơ sự cần thiết phát triển TDNH đối với DNNVV ở nước ta phù hợp với những đặc thù của doanh nghiệp Luận văn cũng nghiên cứu thực trạng t́nh h́nh tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV nước ta từ khi có Luật doanh nghiệp năm 2000 đến nay, t́m hiểu cụ thể hoạt động tín dụng của BIDV đối với DNNVV Trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số giải pháp phát triển tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu khái quát t́nh h́nh phát triển và tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV có đăng ký kinh doanh ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay, từ đó tập trung t́m hiểu hoạt động tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đối với DNNVV giai đoạn
2005 - 2009
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, khoá luận đă sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp trừu tượng hoá khoa học; phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Về lý luận, luận văn hệ thống hoá những nội dung cơ bản về tín dụng ngân hàng đối với DNNVV, gắn liền với những đặc thù của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay, đồng thời làm rơ sự cần thiết phát triển tín dụng ngân hàng đối với DNNVV nước ta
Về thực tiễn, luận văn khái quát t́nh h́nh phát triển và tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV Việt Nam, từ đó đi sâu nghiên cứu sự phát triển tín dụng đối với DNNVV tại Ngân
Trang 6hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - một trong những trường hợp điển h́nh của ngân hàng thương mại quốc doanh đang trong quá tŕnh hướng tới nhóm khách hàng DNNVV, t́m ra những bất cập và đề xuất giải pháp khắc phục
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 7Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm, h́nh thức của tín dụng ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu [7]
Theo quan điểm này, phạm trù tín dụng có 3 nội dung chủ yếu là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả
Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới h́nh thức tiền tệ hoặc hàng hóa Quá tŕnh đó được thể hiện qua 3 giai đoạn sau:
Thứ nhất, phân phối tín dụng dưới h́nh thức cho vay Ở giai đoạn này, giá trị vốn
tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị
Thứ hai, sử dụng vốn trong quá tŕnh tái sản xuất Người đi vay sau khi nhận được
giá trị vốn tín dụng, họ được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa măn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của ḿnh Tuy nhiên, người đi vay chỉ được quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền sở hữu về giá trị đó
Thứ ba, đây là giai đoạn kết thúc một ṿng tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn tín
dụng đă hoàn thành một chu ḱ sản xuất để trở về h́nh thái tiền tệ th́ vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay
Có nhiều h́nh thức tín dụng như: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế…Trong đó, tín dụng ngân hàng là h́nh thức phổ biến và có vai tṛ quan trọng trong nền kinh tế Đồng thời, nó cũng giữ vị trí
Trang 8chủ chốt trong hoạt động của mỗi ngân hàng “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”[15]
Như vậy, tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng một bên là khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển tiền hay tài sản cho khách hàng với những thoả thuận hoàn trả cả gốc và lăi trong một thời gian nhất định Tín dụng ngân hàng bao gồm các hoạt động chính là: cho vay, bảo lănh, cho thuê tài chính
Tín dụng ngân hàng khác với các loại h́nh tín dụng khác là ngân hàng cho khách hàng vay từ nguồn vốn nhận gửi từ dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức khác…và hưởng lợi từ chênh lệch lăi suất cho vay và lăi suất tiền gửi Tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất V́ vậy tín dụng ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cơ bản
1.1.1.2 H́nh thức tín dụng ngân hàng
Căn cứ thời hạn tín dụng có thể phân chia thành các loại tín dụng sau:
Một là, cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới một năm Mục đích của
loại cho vay này thường là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động
Hai là, cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm Mục đích của
loại cho vay này là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định
Ba là, cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, loại cho vay này
thường nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án lớn
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, có các loại tín dụng sau:
Thứ nhất, cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lănh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay
Thứ hai, cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay
như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lănh của một bên thứ ba khác
Dựa vào phương thức vay, tín dụng có thể chia thành hai loại là: cho vay theo món vay và cho vay theo hạn mức tín dụng
Căn cứ vào phương thức hoàn trả vốn vay, có các loại tín dụng sau:
Trang 9Một là, cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay c ̣n gọi là cho vay trả nợ một lần khi
đáo hạn
Hai là, cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay c ̣n gọi là cho vay trả góp
Ba là, Cho vay trả nợ nhiều lần phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi
vay
Việc lựa chọn h́nh thức vay phụ thuộc vào điều kiện sản xuất kinh doanh của khách hàng và mức độ đáp ứng yêu cầu quy định của ngân hàng đặt ra
1.1.2 Vai tṛ và đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
1.1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Các quốc gia sử dụng tiêu chí khác nhau để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay có hai nhóm tiêu chí phổ biến là: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng
Tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của các DNNVV như: tŕnh độ chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ớt…Tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế, do đó ít được sử dụng
Tiêu chí định lượng gồm các tiêu thức như: số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Ở các nước, những tiêu chí này rất đa dạng, trong 12 nước và khu vực thuộc APEC, tiêu chí số lao động được sử dụng phổ biến nhất (11/12 nước sử dụng, chiếm 91,67%) Các tiêu chí khác tuỳ theo điều kiện từng nước: vốn đầu tư (3/12 nước sử dụng, chiếm 25%), tổng giá trị tài sản (4/12 nước sử dụng, chiếm 33,33%, doanh thu (4/12 nước sử dụng, chiếm 33,33%), tỷ lệ vốn góp (1/12 nước sử dụng, chiếm 8,33%) Số lượng tiêu chí chỉ có từ một đến hai và cao nhất là ba tiêu chí phân loại
Việt Nam phân loại DNNVV theo tiêu chí phổ biến nhất là số lao động thường xuyên và vốn sản xuất Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 quy định: “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đă đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung b́nh hàng năm không quá 300 người” Theo tiêu chí này th́ hầu hết doanh nghiệp của nước ta đều là DNNVV, đối tượng DNNVV được đề cập tới bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xă, doanh nghiệp nhà nước, hoặc hộ kinh doanh cá thể thoả măn các tiêu chí của Nghị định 90
Trang 10Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có tiêu chí xác định DNNVV để đáp ứng nhu cầu quản lý, điều hành như sau:
Đối với doanh nghiệp đủ điều kiện xếp hạng trên Hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ của BIDV ở mức quy mô vừa (điểm quy mô từ 12 đến 21 điểm) và quy mô nhỏ (điểm quy mô dưới 12 điểm)
Đối với doanh nghiệp không đủ điều kiện xếp hạng trên Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của BIDV: DNNVV được xác định theo các tiêu chí pháp luật quy định (hiện nay theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ)
1.1.2.2 Vai tṛ của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đại công nghiệp phát triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn - vốn khởi đầu từ những xí nghiệp, công trường thủ công sản xuất nhỏ Trong quá tŕnh phát triển, sự tích tụ và tập trung vốn cùng với quá tŕnh cạnh tranh gay gắt giữa những xí nghiệp trong nước và ngoài nước đă tạo ra những tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay Tuy vậy, ngay cả ở các nước tư bản phát triển, các DNNVV vẫn giữ một vị trí quan trọng Sau mỗi thời kỳ suy thoái kinh
tế, khu vực DNNVV luôn trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh,
ổn định kinh tế, pḥng ngừa nguy cơ khủng hoảng Đặc biệt, khi cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển đă tạo điều kiện cho các DNNVV nhiều cơ hội tập trung kỹ thuật, có khả năng sản xuất các sản phẩm không thua kém các doanh nghiệp lớn Mặc khác, xét trên phạm vi toàn cầu hiện nay, các doanh nghiệp đang chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về chất lượng và công nghệ Trong điều kiện này, lợi thế của các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ bị giảm sút Sự phát triển của chuyên môn hoá và hợp tác hoá đă làm phát triển mô h́nh sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNNVV là vệ tinh của doanh nghiệp lớn
Ở Việt Nam, vai tṛ của các DNNVV đối với sự phát triển kinh tế - xă hội thể hiện như sau:
Thứ nhất, DNNVV đóng góp đáng kể vào tổng sản lượng và tạo việc làm, tăng thu
nhập cho người lao động
Trang 11Hiện nước ta có trên 350.000 doanh nghiệp, trong đó DNNVV chiếm 95% với tổng số vốn khoảng 85 tỷ USD, hàng năm đóng góp hơn 40% GDP, sử dụng trên 90% lao động có việc làm thường xuyên, tạo thêm 50% việc làm mới - số liệu thực tế này đă cho thấy sự đóng góp của DNNVV đối với nền kinh tế Với yêu cầu về vốn đăng ký thành lập khụng lớn nờn DNNVV thành lập dễ dàng, chiếm tỷ lệ ỏp đảo trong tổng số doanh nghiệp, tuy mỗi DNNVV không sử dụng số lượng lớn lao động nhưng với một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nên bộ phận doanh nghiệp này mỗi năm đă giải quyết việc làm cho khoảng 2/3 lực lượng lao động xă hội Trong thời kỳ suy thoái kinh tế, vai tṛ của DNNVV xét trên góc độ giải quyết việc làm càng thể hiện rơ nét do các doanh nghiệp lớn phải cắt giảm lao động nhằm giảm chi phí sản xuất ứng phó với điều kiện thị trường bị thu hẹp Ngược lại, các DNNVV với đặc tính linh hoạt, dễ thích ứng với thay đổi của thị trường nên vẫn có thể duy tŕ hoạt động, v́ vậy, Hội đồng doanh nghiệp thế giới khẳng định:
“DNNVV là liều thuốc cuối cùng chữa trị bệnh thất nghiệp khi nền kinh tế suy thoái” Hiện nay, mặc dù kinh tế thế giới đang trên đà suy thoái, các DNNVV Việt Nam vẫn khá lạc quan về tăng trưởng kinh tế, kế hoạch đầu tư vốn, kế hoạch tuyển dụng và phát triển thương mại quốc tế Khảo sát gần đây cho thấy phần lớn các DNNVV sẽ duy tŕ nhân sự hiện tại, trong đó 55% sẽ giữ nguyên nhân sự và 45% sẽ tăng thêm nhân sự
Thứ hai, DNNVV là trụ cột kinh tế của địa bàn tại chỗ
Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế lớn th́ DNNVV có mặt ở khắp các địa phương, tận dụng được cơ hội khai thác tiềm năng và thế mạnh vốn có của từng địa bàn nơi đóng trụ sở sản xuất kinh doanh Sự tồn tại và hoạt động của DNNVV đă góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi, cân đối ở các vùng, miền, giải quyết được vấn đề an sinh xă hội của địa phương nói riêng
và cả nước nói chung Đặc biệt là đối với các làng nghề truyền thống, các DNNVV hoạt động sẽ mở rộng quy mô sản xuất, duy tŕ và nâng cao chất lượng sản phẩm truyền thống, tập hợp và đào tạo lực lượng lao động tay nghề giỏi, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá tŕnh khôi phục và phát triển làng nghề theo chủ trương của Đảng và Nhà nước
Thứ ba, DNNVV có khả năng thu hút, tận dụng các nguồn lực xă hội một cách có
hiệu quả
Trang 12Đối với nguồn lực vốn:
Vốn là yếu tố có vai tṛ tiên quyết trong hoạt động của các DNNVV Để khởi sự và duy tŕ, phát triển sản xuất kinh doanh, các DNNVV không chỉ vay vốn từ ngân hàng mà
c ̣n huy động vốn trong dân cư thông qua các mối quan hệ cá nhân của doanh nghiệp Vốn cho một DNNVV tuy không nhiều nhưng thường xuyên và số lượng DNNVV rất lớn, v́ vậy, thông qua hoạt động của DNNVV, một lượng lớn tiền nhàn rỗi đă được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo nên ṿng chu chuyển vốn sinh lời có ích cho bản thân doanh nghiệp và nền kinh tế
Đối với nguồn lực lao động:
Phần lớn các DNNVV hoạt động trong các ngành nghề thu hút được nhiều lao động như: thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông sản, thủ công mỹ nghệ, xây dựng…Yêu cầu về tŕnh độ lao động không cao, do đó tận dụng được nguồn lao động thủ công với chi phí thấp Mặt khác, trong quá tŕnh sử dụng, DNNVV đồng thời đào tạo, nâng cao tŕnh độ tay nghề cho người lao động
Về kỹ thuật và nguồn nguyên vật liệu:
Phần lớn DNNVV có kỹ thuật sản xuất bán thủ công, thiết bị chủ yếu được sản xuất trong nước phù hợp với điều kiện tŕnh độ lao động phổ thông đang chiếm số lượng lớn ở nước ta DNNVV phân bố ở hầu hết các địa phương nên có khả năng khai thác được nguồn nguyên liệu sẵn có, giảm bớt chi phí và thời gian vận chuyển
Thứ tư, DNNVV tạo sự linh hoạt, năng động và có khả năng ổn định nền kinh tế
Về lý thuyết, DNNVV dễ điều chỉnh hoạt động của ḿnh để đáp ứng đa dạng nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ Mặt khác, ở phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ, gia công, vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ, gia công tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định cần thiết, v́ vậy, DNNVV được ví là thanh giảm sóc cho nền kinh tế Sự cạnh tranh không ngừng của các DNNVV là tất yếu, từ đó thanh lọc được các doanh nghiệp yếu kém, vừa nâng cao chất lượng sản phẩm cung ứng cho thị trường, hạn chế khả năng lũng đoạn thị trường của các doạnh nghiệp lớn
Trang 13Thứ năm, DNNVV có vai tṛ quan trọng trong lĩnh vực phân phối lưu thông, góp
phần đáng kể vào việc tăng nguồn hàng xuất khẩu
Trong quá tŕnh tái sản xuất xă hội, hàng hoá từ khâu sản xuất đến tiêu dùng phải qua khâu trung gian đó là khâu lưu thông Các doanh nghiệp lớn không thể tổ chức riêng một mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hoá của ḿnh mà phải thông qua các DNNVV do lợi thế của nhóm doanh nghiệp này rất thích hợp với lĩnh vực kinh doanh thương mại và thực hiện các dịch vụ bán lẻ Ở Việt Nam, hiện DNNVV chiếm khoảng 31% tổng sản lượng công nghiệp hàng năm, 78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá
Trong điều kiện mở cửa hội nhập, hợp tác phát triển kinh tế giữa các quốc gia là một tất yếu th́ việc khai thác lợi thế so sánh, xuất khẩu các sản phẩm truyền thống, mang đậm bản sắc dân tộc trở nên quan trọng và mang tính mục tiêu Với đặc điểm phân bố rộng khắp các địa phương, DNNVV có thế mạnh trong việc sản xuất những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, khai thác và chế biến thuỷ hải sản, nông sản, may mặc…nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước
Công cuộc đổi mới từ năm 1990 trở lại đây làm cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, ổn định, đẩy lùi lạm phát, tăng xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài Quá tŕnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày càng mở rộng và phát triển Với những lợi ích
to lớn đó, việc khuyến khích, hỗ trợ, phát triển các DNNVV là một giải pháp quan trọng
để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xă hội đến năm 2010, đặc biệt là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
1.1.2.3 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Những đặc điểm thuộc về thế mạnh của DNNVV
Một là, DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh và hiệu quả
Số vốn đăng ký ban đầu của DNNVV không quá 10 tỷ đồng và chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngắn nên khả năng thu hồi vốn nhanh, tăng tốc độ quay ṿng vốn để đầu tư vào công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả
Trang 14Hai là, DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh
tế, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nước
Các DNNVV hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch
vụ, công nghiệp, xây dựng, nông - lâm - ngư nghiệp…và hoạt động dưới nhiều h́nh thức: DNNN, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể
Ba là, DNNVV có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay đổi của thị
trường; có khả năng chuyển hướng sản xuất, kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh v́ vốn đầu tư ít; quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh Mặt khác, do DNNVV tồn tại
ở mọi thành phần kinh tế nên khi không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại h́nh sản xuất - kinh doanh này th́ doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển hướng sang loại h́nh khác cho phù hợp với thị trường
Bốn là, DNNVV có khả năng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm: xuất phát từ quy mô
nhỏ, vốn đầu tư không lớn nên doanh nghiệp có thể mạnh dạn tham gia vào những ngành mới, lợi nhuận ban đầu thấp hoặc những ngành sản xuất ra những sản phẩm chỉ đáp ứng những nhu cầu cá biệt
Năm là, DNNVV cú bộ mỏy tổ chức sản xuất, quản lý gọn nhẹ: với quy mô nhỏ,
số lượng lao động ít, công tác quản lý điều hành mang tính trực tiếp, quan hệ giữa người quản lý với người lao động khá chặt chẽ Các quyết định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc và trách nhiệm phiền hà nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý doanh nghiệp
Những đặc điểm hạn chế của DNNVV
Một là, quy mô vốn và năng lực tài chính c ̣n hạn chế nên DNNVV khó tiếp cận các
kênh huy động vốn Với đặc trưng quy mô kinh doanh là vừa và nhỏ, vốn điều lệ ban đầu thấp (dưới 10 tỷ đồng) nên các DNNVV thường không đáp ứng được nhu cầu vốn cho đầu
tư Nguồn tài chính hạn hẹp, quy mô lợi nhuận nhỏ dẫn đến tỷ lệ vốn từ lợi nhuận đạt được không cao, tích tụ tập trung để tái sản xuất diễn ra chậm, giá trị tài sản thuần thấp (tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi nợ phải trả), uy tín trên thương trường không
Trang 15cao…nên các nhà đầu tư coi đây là khu vực nhiều rủi ro Chính v́ vậy DNNVV gặp nhiều trở ngại khi tiếp cận các kênh huy động vốn trong nền kinh tế
Hai là, năng lực ứng dụng công nghệ trong sản xuất kinh doanh c ̣n yếu:
Nguồn tài chính hạn chế đă khiến cho các DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào việc nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại, càng không thể tập trung nhiều vào công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật
Ba là, thị trường nhỏ hẹp và năng lực cạnh tranh hạn chế
Do hạn chế về vốn, công nghệ, lao động, nên các DNNVV chỉ hoạt động trong phạm vi nhỏ, đáp ứng yêu cầu cho một đoạn thị trường nhất định Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc t́m kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing c ̣n kém hiệu quả
Bốn là, năng lực quản lý c ̣n thấp
Phần lớn DNNVV mới chỉ hoạt động trong thời gian ngắn nên tŕnh độ, kỹ năng của chủ doanh nghiệp cũng như của người lao động c ̣n hạn chế Số lượng DNNVV có chủ DN, giám đốc giỏi, tŕnh độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều Một
bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản
về kinh doanh và quản lý, cũn thiếu kiến thức kinh tế - xó hội và kỹ năng quản trị kinh doanh Mặt khác, DNNVV ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động có tŕnh độ, tay nghề cao do không thể trả lương cao kèm theo các chính sách đăi ngộ hấp dẫn để thu hút và giữ chân những nhà quản lý và những người lao động giỏi
Năm là, sự liên kết giữa các DNNVV c ̣n hạn chế
Tuy bước đầu đă có một số hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp ra đời tập hợp các DNNVV nhưng mới chỉ ở mức độ trao đổi kinh nghiệm, thông tin, cùng đưa ra kiến nghị
về chính sách, pháp luật…Phần lớn các DNNVV chưa có sự liên kết chặt chẽ trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng tổ chức phân công lao động sản xuất sâu, rộng; hỗ trợ nhau về vốn, công nghệ, kỹ thuật; cùng nhau giải quyết những vấn đề phát sinh trong các khâu của quá tŕnh sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh
Trang 16Mặt khác, sự liên hợp tác, liên kết giữa các DNNVV và các doanh nghiệp lớn c ̣n hạn chế, v́ vậy chưa khai thác được lợi thế nhờ quy mô của hai khu vực này
1.1.3 Tác dụng của sự phát triển tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
1.1.3.1 Tác dụng của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tín dụng ngân hàng góp phần h́nh thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp
Hiện nay để thực hiện các quyết định đầu tư, doanh nghiệp có thể sử dụng hai nhóm nguồn vốn là: vốn tự có và vốn đi vay Tuy nhiên, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp không được đáp ứng và quy mô của khoản vay c ̣n tùy thuộc vào các điều kiện của doanh nghiệp, các quy định vay vốn của ngân hàng, pháp luật của Nhà nước… Mặt khác, nếu quy mô vốn vay quá lớn sẽ làm tăng chi phí trả lăi dẫn đến tăng giá sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Do vậy buộc doanh nghiệp phải xây dựng cơ cấu vốn tối ưu Đây là sự kết hợp tốt nhất các nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp tại mức giá vốn b́nh quân rẻ nhất
Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho sự ra đời và phát triển của các DNNVV
Ngân hàng hỗ trợ cho DNNVV từ lúc bắt đầu khởi sự và trong suốt quá tŕnh hoạt động, phát triển của doanh nghiệp Nếu không có sự hỗ trợ này, các DNNVV sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí không thành lập được Nhiều doanh nghiệp ra đời, song do hạn chế về vốn nên không có khả năng sử dụng công nghệ, thiết bị hiện đại dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao, thiếu sức cạnh tranh và khó đứng vững trên thương trường Để có thể hoạt động thường xuyên, liên tục, các DNNVV phải có đủ vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, trong khi nguồn vốn tự có và vốn vay không chính thức của doanh nghiệp rất hạn chế V́ vậy vốn tín dụng ngân hàng là một giải pháp hữu hiệu Tín dụng ngân hàng c ̣n giúp các DNNVV tái sản xuất mở rộng, phát triển các ngành nghề mũi nhọn
Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNVV trên thị trường
Trang 17Đặc trưng của tín dụng ngân hàng không chỉ là tài trợ vốn mà c ̣n phải đảm bảo hoàn trả gốc và lăi đúng hạn Do vậy, khi sử dụng vốn vay, các doanh nghiệp không phải chỉ thu hồi đủ vốn mà c ̣n phải t́m mọi biện pháp sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất Mặt khác, các ngân hàng chỉ cho vay khi đă thẩm định đầy đủ, kỹ càng mọi yếu tố liên quan đến doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là tính hiệu quả và khả thi của phương án, dự án kinh doanh cần tài trợ vốn V́ vậy, ngay từ khi thiết lập phương án sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đă phải nghiên cứu và phân tích kỹ nhằm tăng tính khả thi của phương án, tăng cường sự tin tưởng của ngân hàng khi quyết định tài trợ Ngoài ra trong quá tŕnh cấp tín dụng, ngân hàng c ̣n tư vấn giúp cho các doanh nghiệp đưa ra các quyết định đầu tư tốt nhất, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp Đồng thời công tác kiểm tra định kỳ của các ngân hàng đă buộc các doanh nghiệp phải làm ăn đứng đắn, minh bạch, tuân thủ pháp luật Trên cơ sở đó năng lực cạnh tranh lành mạnh của DNNVV sẽ ngày càng được nâng cao trên thị trường
Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá tŕnh cổ phần hoá các DNNVV thuộc loại h́nh doanh nghiệp nhà nước
Trong thời gian qua Nhà nước ta đă và đang tập trung tiến hành cổ phần hóa các DNNN Cụ thể, các doanh nghiệp sau khi có quyết định cổ phần hóa sẽ tự phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay các h́nh thức huy động vốn khác để có vốn hoạt động Trước t́nh h́nh
đó, các ngân hàng cũng tập trung phát triển các dịch vụ trên thị trường chứng khoán nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp huy động vốn như dịch vụ lưu ký chứng khoỏn, mua bỏn cổ phiếu, trỏi phiếu, bảo lănh phát hành, tư vấn tài chính… Hơn nữa các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các cổ phiếu, trái phiếu làm tài sản đảm bảo vay vốn tại ngân hàng Với h́nh thức cấp tín dụng này các doanh nghiệp có thể yên tâm hơn khi tham gia vào quá tŕnh cổ phần hóa và đó chính là động lực thúc đẩy quá tŕnh cổ phần hóa hiện nay
Tín dụng ngân hàng, đặc biệt là NHTM quốc doanh, là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần chống lạm phát, ổn định tiền tệ và giá cả, từ đó tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV
Thông qua tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh, có thể góp phần vào việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng trong lưu
Trang 18thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ Với việc cung ứng tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng đă góp phần làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông, thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền; tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả; thực thi vai tṛ điều tiết gián tiếp vĩ mô, góp phần tạo
ra một môi trường kinh doanh ổn định, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng
Như vậy, để DNNVV có thể ra đời, tồn tại và phát triển cần sự hỗ trợ từ phía ngân hàng thông qua nhiều loại h́nh dịch vụ, trong đó dịch vụ tín dụng là chủ yếu V́ vậy, việc
mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV là thực sự quan trọng, cần thiết và đúng đắn, phù hợp với chủ trương, định hướng chính sách tăng cường hỗ trợ phát triển DNNVV của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới
1.1.3.2 Phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Các ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, thu lợi nhuận chủ yếu từ việc cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại h́nh doanh nghiệp chiếm số lượng đông đảo nhất trong tổng số các doanh nghiệp ở nước ta, v́ vậy nếu ngân hàng khai thác hiệu quả nguồn thu từ việc tạo vốn cho các DNNVV sẽ có điều kiện tăng lợi nhuận
DNNVV góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt đặc biệt là với các đối thủ ngân hàng nước ngoài Yêu cầu cấp bách đặt ra cho các NHTM Việt Nam là phải tiến hành ngay công cuộc đổi mới một cách toàn diện, một trong những nội dung quan trọng là hoạt động tín dụng - một hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn (70% - 80%) trên tổng tài sản có sinh lời và là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng Việt Nam
Hiện nay, chất lượng tín dụng của các NHTM Việt Nam c ̣n kém, tỷ trọng nợ quá hạn,
nợ xấu khá cao Đặc biệt là các NHTM nhà nước trong cơ cấu các khoản mục cho vay, tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp nhà nước là chủ yếu - một thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu tiếp tục gia tăng từ khu vực này là điều khó tránh khỏi T́nh trạng này đ ̣i hỏi các NHTM cần
Trang 19phải chuyển đổi cơ cấu danh mục đầu tư cho vay, mở rộng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (mà chủ yếu là các DNNVV và kinh tế tư nhân) nhằm phân tán rủi ro giúp các ngân hàng vừa mở rộng vừa nâng cao chất lượng tín dụng
DNNVV làm phong phú thêm thị trường của các ngân hàng
Tuy hoạt động với quy mô vừa và nhỏ, giao dịch vay vốn ngân hàng của mỗi DNNVV không quá lớn nhưng với số lượng đông đảo, các DNNVV sẽ trở thành những khách hàng mang lại lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng
Mặt khác, thị trường tài chính Việt Nam đang phát triển tương đối thuận lợi, riêng thị trường chứng khoán tuy đang trong quá tŕnh xây dựng phát triển với nhiều biến động nhưng vẫn được đánh giá là có tiềm năng phát triển tốt, điều đó dự báo trong tương lai gần các doanh nghiệp lớn, có tiềm lực tốt khi cần huy động vốn sẽ không lựa chọn kênh tín dụng ngân hàng mà sẽ thông qua thị trường chứng khoán với chi phí thấp hơn, nguồn vốn ổn định hơn, thủ tục đơn giản hơn…Thực tế cũng cho thấy, các doanh nghiệp lớn đang có xu hướng thành lập công ty tài chính, ngân hàng riêng để phục vụ cho nhu cầu vốn của ḿnh Do đó ngân hàng không chỉ phải đối mặt với việc nguồn vốn huy động bị “chảy” sang thị trường chứng khoán mà nguy cơ hoạt động tín dụng bị thu hẹp cũng đang đến gần Điều đó thúc đẩy các NHTM phải t́m kiếm thị trường ngách, trong đó thị trường đầy tiềm năng là DNNVV và khu vực kinh tế tư nhân
Phát triển tín dụng đối với DNNVV là cần thiết đối với sự ổn định trong hoạt động của ngân hàng
Trong điều kiện nền kinh tế có nhiều biến động, khả năng thay đổi linh hoạt trong tổ chức và lĩnh vực kinh doanh cho phép DNNVV giữ được ổn định cả về số lượng và hiệu quả kinh tế, từ đó bảo đảm an toàn cho các giao dịch với ngân hàng Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn khi gặp khủng hoảng thường phải thu hẹp sản xuất, sáp nhập, thậm chí phá sản gây ảnh hưởng bất lợi cho ngân hàng
Hơn nữa, theo xu hướng phát triển, các DNNVV đang ngày càng có vai tṛ quan trọng và trở thành động lực tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế Đặc biệt là Việt Nam bước vào hội nhập từ một nền kinh tế chưa phát triển, DNNVV đóng vai tṛ quan trọng trong việc huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển, giải quyết công ăn việc
Trang 20làm tạo thu nhập cho dân cư, tăng GDP Ước tính đến năm 2010, các doanh nghiệp nhỏ
và vừa sẽ tạo việc làm cho khoảng 20 triệu người
Như vậy, việc ngân hàng mở rộng cho vay đối với các DNNVV là giải pháp phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế và chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước giúp cho các ngân hàng xây dựng được cơ cấu khách hàng hợp lý, tăng trưởng tín dụng,
đa dạng hóa các danh mục đầu tư cho vay, phân tán rủi ro, tăng thu nhập nâng cao vị thế cạnh tranh cho các ngân hàng
1.1.3.3 Phát triển tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa mang lại lợi ích thiết thực cho nền kinh tế
Một mặt, tín dụng ngân hàng đối với DNNVV thúc đẩy sự phát triển của chính các doanh nghiệp, mặt khác là cách thức để tăng thu cho Ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế và các nghĩa vụ khác của DNNVV đối với Nhà nước Ngoài ra, việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV buộc các ngân hàng phải phát huy tối đa năng lực của ḿnh và t́m các biện pháp để có thể huy động vốn, tăng cường tập trung, tích tụ những nguồn vốn nhàn rỗi trong xă hội, từ đó mọi nguồn lực về vốn đă được khai thác một cách tối ưu để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xă hội
Tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ quan trọng để nhà nước chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thông qua việc áp dụng những ưu đăi tín dụng, nhà nước khuyến khích DNNVV thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển, đặc biệt là các DNNVV trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ , góp phần tham gia chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong thu nhập quốc dân
Tín dụng ngân hàng cũng góp phần làm tăng nhanh ṿng quay của vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông v́ các ngân hàng thương mại thường xuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, đưa vào sản xuất kinh doanh thông qua việc cho các doanh nghiệp vay, trong đó DNNVV chiếm số lượng lớn Các DNNVV cũng phân bố trên địa bàn rộng, sản xuất kinh doanh ở nhiều lĩnh vực, v́ vậy phát triển tín dụng đối với DNNVV góp phần thực hiện điều hoà vốn trong nền kinh tế
Trang 21Trong điều kiện DNNVV nước ta tồn tại tự phát, tính liên kết kém, quy mô nhỏ, tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ quan trọng góp phần vào quá tŕnh phát triển DNNVV theo kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa, mở rộng quy mô sản xuất, tiến lên sản xuất lớn hiện đại
1.2 H̀NH THỨC VÀ ĐẶC ĐIỂM TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
1.2.1 Hỡnh thức tớn dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
1.2.1.1 Tín dụng ngắn hạn
DNNVV có thể vay ngắn hạn tại BIDV để đáp ứng các nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh Cũng như các khoản vay trung và dài hạn, các doanh nghiệp không được vay để đáp ứng các nhu cầu như: mua sắm các tài sản và chi phí hỡnh thành nờn cỏc tài sản mà phỏp luật cấm mua bỏn, chuyển nhượng, chuyển đổi; thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm Căn cứ vào điều kiện cụ thể, DNNVV cú thể lựa chọn trong số cỏc hỡnh thức vay ngắn hạn sau tại BIDV:
Chiết khấu chứng từ có giá:
Đây là hỡnh thức mà qua đó ngân hàng mua các giấy tờ có giá ngắn hạn của người thụ hưởng trước khi các giấy tờ này đến hạn thanh toán Đối tượng chiết khấu là các giấy
tờ có giá ngắn hạn, bao gồm tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, thương phiếu, bộ chứng từ hàng xuất, các trái phiếu có thời hạn lưu hành cũn lại từ trờn 12 thỏng, cỏc giấy tờ khỏc trị giỏ bằng tiền
Cho vay từng lần:
Hỡnh thức tớn dụng này thường xuyên được áp dụng đối với doanh nghiệp không
có nhu cầu vay vốn thường xuyên, cần vay vốn cho hoạt động kinh doanh cụ thể Theo hỡnh thức này, mỗi lần vay doanh nghiệp và ngõn hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
Cho vay theo hạn mức tín dụng:
Theo hỡnh thức này, doanh nghiệp và ngõn hàng căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, tỷ lệ vay vốn tối đa so với tài
Trang 22sản bảo đảm, để xác định và thoả thuận một hạn mức tớn dụng duy trỡ trong một khoảng thời gian nhất định Nội dung thoả thuận này phải được thể hiện và ký kết bằng hợp đồng tín dụng
Hỡnh thức này thường được áp dụng đối với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn - trả nợ thường xuyên, có đặc điểm sản xuất kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần, có uy tín với ngân hàng So với hỡnh thức cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tớn dụng tạo điều kiện cho DNNVV linh hoạt và chủ động hơn trong việc sử dụng vốn vay Nhưng nếu doanh nghiệp không có nhu cầu vay thường xuyên thỡ khụng cần vay theo hỡnh thức này vỡ khi vũng quay vốn qỳa thấp trong hạn mức tớn dụng cú thể làm cho phớa ngõn hàng khắt khe hơn trong các hợp đồng tín dụng mới
Cho vay theo hạn mức thấu chi:
Đõy là hỡnh thức cho vay mà ngõn hàng thoả thuận bằn văn bản chấp thuận cho doanh nghiệp chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp trên cơ sở các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
So với cỏc hỡnh thức vay trờn, vay theo hạn mức thấu chi tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động và linh hoạt hơn trong việc sử dụng vốn Tuy tại BIDV đó cú hỡnh thức này nhưng chưa phát triển, nhất là đối với DNNVV
Bao thanh toán:
Bao thanh toỏn là hỡnh thức cho vay mà ngõn hàng đứng ra thanh toán ngay cho doanh nghiệp xuất khẩu một phần tiền về hàng hoá đó bỏn cho doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài và sau đó sẽ thu hồi lại vốn cho vay từ doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Theo hỡnh thức này, ngõn hàng chấp nhận cho doanh nghiệp được sử dụng số vón vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của BIDV Khi vay để phát hành
và sử dụng thẻ tín dụng, ngân hàng và doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Trang 23Những doanh nghiệp lớn đó cú uy tín trên thị trường thường có nhu cầu tiếp cận các khoản vay trung và dài hạn Tuy nhiên đối với các DNNVV, với đặc thù về quy mô, vốn và hoạt động nên có nhu cầu tiếp cận các khoản vay ngắn hạn để giải quyết các nhu cầu và giao dịch thường xuyên và trước mắt Việc nắm bắt và sử dụng thành thạo các loại hỡnh dịch vụ nờu trờn đóng vai trũ quan trọng trong việc duy trỡ hoạt động đều đặn của doanh nghiệp
Đối với các DNNVV, sau khi đó tiếp cận được các khoản vay ngắn hạn thỡ việc
sử dụng cỏc khoản vay trờn đúng mục đích đóng vai trũ quan trọng Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngắn hạn cho các kế hoạch kinh doanh và đầu tư dài hạn sẽ thực sự là một thách thức và tiềm ẩn rủi ro cho chính họ và ngân hàng
1.2.1.2 Tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung - dài hạn cho DNNVV chủ yếu phục vụ cho việc thực hiện các dự
án đổi mới, mở rộng sản xuất, kinh doanh và đầu tư cho xây dựng cơ bản Cỏc hỡnh thức tớn dụng trung - dài hạn của BIDV thực hiện đối với DNNVV bao gồm:
Cho vay theo dự án đầu tư:
Đây là hỡnh thức tín dụng qua đó ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục
vụ đời sống
Về bản chất, dự án đầu tư là một tập hợp các đề xuất về nhu cầu vốn, cách thức sử dụng vốn, kết quả tương ứng thu được trong một khoảng thời gian xác định đối với hoạt động cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định
Về phương pháp cho vay, vay theo dự án đầu tư tương tự như vay từng lần Ngân hàng và doanh nghiệp thoả thuận mức vốn đầu tư duy trỡ cho cả thời gian đầu
tư của sự án Việc trả nợ được tiến hành theo định kỳ một cách đều đặn, lói tiền vay thường được tính theo dư nợ đầu kỳ và trả cùng với nợ gốc
Cho vay hợp vốn:
Đây là hỡnh thức tớn dụng mà qua đó một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của doanh nghiệp do một nhóm tổ chức tín dụng cho vay, trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Vay hợp vốn được thực hiện theo quy định của Quy chế cho vay và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín
Trang 24dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành [1], [2]
Cho vay theo hạn mức tớn dụng dự phũng:
Theo hỡnh thức này, BIDV cam kết đảm bảo sẵn sàng cho doanh nghiệp vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dự án Ngân hàng và doanh nghiệp thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tớn dụng sự phũng, mức phớ trả cho hạn mức tớn dụng dự phũng
Hạn mức tớn dụng dự phũng được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp cần chủ động về vốn cho việc thực hiện các dự án đầu tư trong tương lai Để được BIDV cam kết cung cấp cho một lượng vốn trong thời gian thực hiện các dự án đó, doanh nghiệp phải trả phí cam kết tính cho hạn mức tín dụng dự phũng (kể cả trường hợp không rút vốn theo hạn mức này)
Tiếp cận vốn trung - dài hạn đóng vai trũ quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung và càng trở nên quan trọng hơn với DNNVV Điều kiện cạnh tranh gay gắt đũi hỏi cỏc DNNVV phải cú nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư và thực hiện các kế hoạch kinh doanh lâu dài
1.2.1.3 Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính được coi là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết
bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đó thoả thuận Kết thỳc thời hạn thuờ, bờn thuờ được quyền chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đó thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
Đối với DNNVV, cho thuê tài chính là một công cụ tín dụng hữu hiệu Thông thường, khi có nhu cầu trang bị máy móc, doanh nghiệp tỡm đến ngân hàng để vay vốn mua các tài sản này Do thiếu nguồn lực tài chính và không có tài sản bảo đảm nên doanh
Trang 25nghiệp không tiếp cận được các nguồn vốn cần thiết Việc sử dụng thành thạo công cụ cho thuê tài chính sẽ giải quyết được những khó khăn này của DNNVV, đặc biệt là những doanh nghiệp chưa tạo dựng được uy tín trên thương trường
Hoạt động cho thuê tài chính của BIDV được thực hiện qua Công ty cho thuê tài chính (chính thức được thành lập từ tháng 4/1998 và đi vào hoạt động từ tháng 1/1999) với khách hàng chủ yếu là các DNNVV Đến nay, Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đó có được một vị thế đáng kể trên thị trường tín dụng cho thuê ở Việt Nam
1.2.1.4 Cho vay có bảo đảm
Cho vay trả góp:
Là hỡnh thức tớn dụng mà theo đó ngân hàng cho phép doanh nghiệp trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đó thỏa thuận Số tiền trả nợ mỗi kỳ được tính toán phù hợp với khả năng của doanh nghiệp Đối với DNNVV, đây là hỡnh thức được sử dụng thường xuyên vỡ ngay cả trong trường hợp có đủ vốn thỡ cỏc doanh nghiệp này vẫn tớnh đến việc vay trả góp để có thể sử dụng nguồn vốn có sẵn vào các nhu cầu cấp thiết hơn
Để vay vốn thuận lợi , doanh nghiệp thường thế chấp hàng mua trả góp, nhưng với các tài sản có khả năng mất giá trong một thời gian ngắn thỡ BIDV buộc phải đưa ra mức phí cao, vỡ vậy doanh nghiệp phải tính toán khi lựa chọn hỡnh thức tín dụng này
Cầm cố:
Đây là hỡnh thức tớn dụng mà qua đó, DNNVV phải chuyển quyền kiểm soát tài sản sang cho BIDV trong thời gian cam kết Điểm cơ bản là cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát, bảo quản tương đối chắc chắn, việc kiểm soát tài sản cầm cố không ảnh hưởng đến quá trỡnh hoạt động của doanh nghiệp Cầm cố cũng có thể được áp dụng với hàng hoá trong điều kiện đó là những hàng hoá ít chịu tác động của môi trường
Trang 26đảm cho các khoản tài trợ của ngân hàng song vẫn phải tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, khi đó ngân hàng không thể cầm cố Mặt khác, các tài sản này thường cồng kềnh, phân tán và việc chuyển nhượng thường phức tạp, giá trị của tài sản lớn nên doanh nghiệp thường thế chấp để vay ngân hàng với quy mô lớn
Đối với DNNVV, cầm cố và thế chấp là những hỡnh thức tương đối dễ áp dụng và trên thực tế được các doanh nghiệp sử dụng thường xuyên Tuy nhiên, một trong những khó khăn đối với DNNVV là phải chứng minh được quyền sở hữu đối với những tài sản đem cầm cố, thế chấp
Ngoài ra, tại BIDV cũn áp dụng những hỡnh thức tín dụng khác là:
Cho vay gián tiếp
Đây là hỡnh thức cho vay thụng qua cỏc tổ chức trung gian, ngõn hàng cú thể chuyển một số khõu của hoạt động cho vay như thu nợ, phát tiền vay, thu phí sang các
tổ chức trung gian (các tổ, hội, nhóm sản xuất, hội nông dân, hội phụ nữ ) Tổ chức này cũng có thể đứng ra tín chấp cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lónh cho thành viờn khỏc vay trong trường hợp không có hoặc không đủ tài sản thế chấp Tại một số quốc gia trên thế giới như Đức, Thái Lan, Đài Loan, Nhật , đây là một
mô hỡnh thành cụng trong việc cung cấp tớn dụng cho DNNVV BIDV cũng đó bước đầu triển khai mô hỡnh này vỡ nhận rừ: khi ngõn hàng khụng cú đủ thông tin về doanh nghiệp thỡ phải cần đến bên thứ ba là các tổ chức, hiệp hội ngành nghề Đây là nơi các DNNVV hoặc bản thân chủ doanh nghiệp là thành viên nên thường nắm bắt đầy đủ hơn các thông tin và là đầu mối liên kết các doanh nghiệp, vỡ vậy ở một mức độ nhất định có thể đứng ra tín chấp cho các thành viên vay vốn
Dịch vụ bảo lónh:
Bảo lónh ngõn hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bờn bảo lónh) với bên có quyền (bờn nhận bảo lónh) về việc tổ chức tín dụng (bờn bảo lónh) thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho doanh nghiệp (bên được bảo lónh) khi doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lónh Doanh nghiệp phải nhận nợ và hoàn trả nợ cho tổ chức tớn dụng số tiền đó được trả thay
BIDV thực hiện cỏc loại bảo lónh cho DNNVV, gồm: bảo lónh vay vốn, bảo lónh
Trang 27thanh toỏn, bảo lónh dự thầu, bảo lónh thực hiện hợp đồng, bảo lónh hoàn thanh toỏn và cỏc loại bảo lónh khỏc (bảo lónh đối ứng, xác nhận bảo lónh, đồng bảo lónh)
Trên thực tế, dịch vụ bảo lónh đang trở nên quen thuộc với DNNVV Bản thõn nhu cầu sử dụng dịch vụ bảo lónh xuất phỏt từ nhu cầu kinh doanh và hoạt động thường xuyên của DNNVV Quá trỡnh hội nhập kinh tế đó tăng cường hợp tác giữa DNNVV Việt Nam với các doanh nghiệp trên thế giới Do vậy, bên cạnh nhu cầu nội tại, việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ này một phần là do các đối tác nước ngoài yêu cầu và đề xuất Đến nay, các DNNVV Việt Nam đó biết đến các loại hỡnh dịch vụ bảo lónh tại cỏc ngõn hàng lớn, trong đó có BIDV Trong thời gian tới, dịch vụ này sẽ tiếp tục khẳng định vị trí
và vai trũ đối với các DNNVV vỡ để phát triển tín dụng với đối tượng khách hàng này trong điều kiện các tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng nói riêng khó thu thập đầy
đủ thông tin cần thiết về tỡnh hỡnh tài chớnh của DNNVV thỡ bảo lónh của bờn thứ ba là rất cần thiết
1.2.2 Đặc điểm tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Cỏc DNNVV cú nhu cầu vốn lớn trong nền kinh tế, tuy nhiờn xột về quy mụ từng doanh nghiệp thỡ khoản vay đó thực sự không lớn đối với các ngân hàng Về khả năng, các ngân hàng luôn đáp ứng được các nhu cầu này tại bất kỳ thời điểm nào mà không gặp một khó khăn gỡ về vấn đề thanh khoản Tuy nhiên, trên thế giới và ở Việt Nam, việc cấp tín dụng cho những DNNVV luôn gặp những khó khăn mang tính quy luật là: rủi ro mất vốn cao, các doanh nghiệp không đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu tối thiểu của ngân hàng Với vai trũ ngày càng tăng của mỡnh, cỏc DNNVV đó tạo được sự chú ý của ngõn hàng và chớnh bản thõn ngõn hàng cũng nhận thấy rằng cần phải xem xét lại tính hiệu quả đối với việc cho vay các đối tượng này nhằm có một chiến lược phát triển ổn định và bền vững Hoạt động tín dụng đối với DNNVV của BIDV cũng mang những đặc điểm chung giống như các ngân hàng khác, bao gồm:
Về quy mô và tốc độ tăng trưởng dư nợ:
Do quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV không lớn nên hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp này cũng có quy mô nhỏ và vừa, các khoản vay
Trang 28thường có giá trị thấp, nhỏ lẻ, thuộc thị trường bán lẻ của các ngân hàng Tuy dư nợ của từng doanh nghiệp có thể nhỏ so với số vốn của ngân hàng nhưng số lượng các doanh nghiệp đông đảo, xét trong toàn bộ nhóm thỡ dư nợ của đối tượng khách hàng này cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ của ngân hàng
Về mức độ rủi ro:
Các điều kiện vay vốn của DNNVV so với quy định hiện nay thường không đầy đủ
và mức độ tin cậy không cao Xuất phát từ đặc điểm về quy mô nhỏ nên bộ máy tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của DNNVV thường rất giản đơn, thiếu chặt chẽ, việc chấp hành các quy định của nhà nước về chế độ kế toán tài chính cũn nhiều bất cập Những rủi ro ngõn hàng thường gặp khi cho DNNVV vay vốn là:
Thứ nhất, cho vay không thu hồi được nợ, mất vốn, giảm uy tín của ngân hàng
Thứ hai, doanh nghiệp không trả nợ đúng hạn, chậm trả gốc và lói tiền vay Hoạt
động theo nguyên tắc “đi vay để cho vay”, nên phần lớn nguồn vốn ngân hàng dùng để cho doanh nghiệp vay được huy động từ nền kinh tế với thời hạn, mức lói suất đó được xác định, việc không thu hồi được nợ từ người vay sẽ khiến ngân hàng không có nguồn tiền để trả nợ cho người gửi tiền gây mất lũng tin, giảm uy tín của ngân hàng và phát sinh nhiều chi phí cho ngân hàng
Tuy việc cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa có rủi ro nhiều hơn so với các doanh nghiệp lớn nhưng thường là những rủi ro có thể phân tán được và không mang tính hệ thống Hơn nữa quy mô một món vay nhỏ khi phát sinh nợ quá hạn thỡ chủ yếu tỏc động tới thu nhập của ngân hàng, thường là không tạo thành các rủi ro khác như rủi ro thanh khoản, rủi ro phá sản Mặt khác, ngân hàng luôn yêu cầu có tài sản thế chấp đối với các khoản vay này nên phần nào giảm bớt tổn thất nếu rủi ro xảy ra Kinh nghiệm cho thấy hầu hết các ngân hàng gặp khó khăn về thanh toán cũng như dẫn đến phá sản đều do sự
đổ bể trong hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp lớn tạo nên Trên một khía cạnh nhất định, cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm giảm bớt rủi ro phá sản cho các ngân hàng
Khả năng sinh lời
Trang 29Ngân hàng có nhiều cơ hội thu lợi nhuận từ việc hoạt động tín dụng đối với DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp làm ăn hiệu quả Với nhóm DNNVV, ngân hàng thường áp dụng mức lói suất cao hơn so với các doanh nghiệp lớn Giá trị của một món vay tuy không lớn nhưng các ngân hàng có khả năng lấy số lượng bù quy mô Bên cạnh cỏc khoản lói thu được từ hoạt động tín dụng, nếu ngân hàng khai thác tốt thỡ cú thể thu thờm nhiều nguồn lợi khỏc Đó là nguồn tiền gửi, nguồn ngoại tệ của các tổ chức tín dụng, các khoản phí dịch vụ thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, bảo lónh,… Đối với các nguồn lợi này, nhất là các khoản phí, ngân hàng thu được nhiều hơn từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngân hàng cũng không phải chịu áp lực từ phía khách hàng như việc đáp ứng các dịch vụ này cho doanh nghiệp lớn
Chi phí thẩm định
Đối với một món vay của doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí thẩm định bỡnh quõn thường cao do dư nợ thấp trong khi vẫn phải đảm bảo các bước của quy trỡnh tớn dụng Tuy nhiên, về mặt lưu trữ, cập nhật và xử lý cỏc thụng tin liờn quan, thời gian dành cho một doanh nghiệp nhỏ và vừa ít hơn rất nhiều do các doanh nghiệp này có số lượng các giao dịch ít, đơn giản, dễ kiểm tra và đánh giá Tài liệu lưu cho một doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng ít hơn rất nhiều so với doanh nghiệp lớn thể hiện ở các hoá đơn thanh toán, giấy nhận nợ hợp đồng tín dụng, các báo cáo thẩm định của cán bộ tín dụng Mặt khác, trong cỏc ngõn hàng, một cỏn bộ tớn dụng cú thể quản lý nhiều khoản vay, giao dịch của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi thường chỉ phụ trách, theo dừi được một công ty lớn
do có quá nhiều giao dịch phát sinh của công ty đó trong một ngày, một tháng hay một quý
BIDV vốn được biết đến như là một ngân hàng của Chính phủ bởi vỡ trước thời điểm năm 2000 ngân hàng thường chỉ chú trọng đến những dự án lớn và đối tượng khách hàng là các tổng công ty Tuy có bề dày hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhưng hoạt động tín dụng đối với DNNVV mới được BIDV chú trọng từ năm 2000, đặc biệt là từ năm 2005 trở lại đây Hoạt động tín dụng đối với DNNVV mang một số nét đặc thù cơ bản:
Trang 30Thứ nhất, các dịch vụ tín dụng đối với DNNVV tại BIDV rất đa dạng, nhiều dịch vụ
mới hiện đại (như cho vay gián tiếp, bảo lónh, cho thuờ tài chớnh…) nhưng DNNVV thường có ít hiểu biết về các sản phẩm này, cũng không thường xuyên nhận sự hỗ trợ tư vấn từ tài chính, pháp luật từ các tổ chức chuyên nghiệp, nên trong quan hệ tín dụng với BIDV thường gặp rất nhiều khó khăn Chính vỡ vậy, đến nay hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại BIDV chủ yếu phát triển dịch vụ cho vay và cho thuê tài chính
Thứ hai, là một ngân hàng thương mại quốc doanh lớn đang trong quá trỡnh chuyển
đổi cơ cấu hoạt động, BIDV phát triển tín dụng đối với DNNVV chậm hơn nhiều ngân hàng thương mại khác nờn một mặt phớa DNNVV cũn tõm lý e ngại khi tiếp cận BIDV, mặt khỏc, phớa ngõn hàng chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc tiếp cận khỏch hàng là cỏc DNNVV Vỡ vậy, quan hệ tớn dụng giữa ngõn hàng và DNNVV cũn chủ yếu dựa trờn cơ sở tài sản đảm bảo trong khi đây là một trong những hạn chế lớn nhất của DNNVV khi tiếp cận vay vốn ngân hàng
Thứ ba, hoạt động tín dụng của BIDV đối với DNNVV vừa mang tính chất thương
mại vừa mang tính xó hội nhằm thực hiện chớnh sỏch hỗ trợ phỏt triển cho DNNVV Một mặt, ngõn hàng vừa phải cạnh tranh với cỏc ngõn hàng khỏc để tồn tại và phát triển, hoàn thành mục tiêu lợi nhuận, đồng thời thực hiện nhiệm vụ của một ngân hàng nhà nước là góp phần khơi dậy và phát huy tiềm năng trong dân cư, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển DNNVV theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, hướng đến sản xuất lớn Vỡ vậy, trong quỏ trỡnh phỏt triển hoạt động tín dụng với DNNVV, BIDV vừa phải thực hiện nghiêm túc những quy định về tín dụng nhằm ngăn ngừa rủi ro vừa phải tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng để phát triển sản xuất kinh doanh
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
1.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng:
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành định
Trang 31hướng cho cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro
và nâng cao khả năng sinh lời Vỡ vậy, chính sách tín dụng có tác động mạnh tới chất lượng tín dụng của ngân hàng Trong hoạt động tín dụng đối với DNNVV, sự tác động của chính sách tín dụng thể hiện qua các yếu tố sau:
Thứ nhất, quy trỡnh thủ tục cấp tớn dụng:
Do những đặc điểm của DNNVV khác với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, nên việc cho vay phải có những quy định riêng phù hợp với tỡnh hỡnh thực tế doanh nghiệp Thời gian qua, cỏc ngõn hàng thành cụng trong việc cho vay DNNVV là những ngõn hàng cú thay đổi về quy trỡnh, thủ tục cấp tớn dụng như: Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Quốc tế, Ngân hàng TMCP Á Châu
Thứ hai, lói suất cho vay: với DNNVV, lói suất cho vay chớnh là giỏ cả của việc sử dụng
vốn, là phần lợi nhuận thu được của DNNVV dùng để trả cho ngân hàng Vỡ vậy, khi lói suất ngõn hàng cạnh tranh và thấp hơn so với nguồn vốn huy động khác của doanh nghiệp (phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay cá nhân, vay tín dụng thương mại, vay doanh nghiệp khác) thỡ doanh nghiệp mới quyết định vay vốn ngân hàng
Thứ ba, hỡnh thức cấp tớn dụng:
Cấp tín dụng không chỉ đơn thuần là cho vay như các ngân hàng truyền thống, mà phải hướng tới dịch vụ ngân hàng đa năng đáp ứng nhu cầu khách hàng trong mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh Đồng thời đa dạng hóa hỡnh thức cấp tớn dụng sẽ tạo cơ hội có điều kiện tiếp cận nguồn vốn ngân hàng
Công tác tổ chức của ngân hàng:
Ngân hàng phải có một bộ máy được tổ chức thống nhất, linh hoạt, gọn nhẹ, không chồng chéo và có tính chuyên môn hóa cao để hoạt động có hiệu quả hơn Riêng đối với hoạt động tín dụng, nếu công tác tổ chức của ngõn hàng phức tạp, thiếu khoa học, cỏc bộ phận chồng chộo nhau thỡ sẽ làm chậm quỏ trỡnh ra quyết định tín dụng Tổ chức hoạt động không khoa học cũng gây ra sự thiếu chặt chẽ giữa các khâu, tính ỷ lại, thiếu trách nhiệm của cán bộ tín dụng Nếu công tác tổ chức trong hoạt động tín dụng hợp lý thỡ sẽ làm giảm thời gian thẩm định tín dụng, kiểm tra thông tin khách hàng cung cấp chính xác
Trang 32hơn, hạn chế sự gian lận của khách hàng nhờ đó mà độ an toàn của món vay tăng lên
Là một ngân hàng thương mại quốc doanh đang trong quá trỡnh chuyển đổi cơ cấu hoạt động và tham gia cạnh tranh trên thị trường ngân hàng nên khả năng linh hoạt, nhanh nhạy của BIDV hạn chế hơn so với nhiều ngân hàng ngoài quốc doanh Riêng trong hoạt động tín dụng với DNNVV, ngân hàng mới tập trung triển khai mạnh từ năm 2005 đến nay nên chưa xây dựng được một cơ chế hoạt động thực sự hiệu quả nhằm khai thỏc lợi thế về nguồn vốn, uy tớn và hỡnh thức dịch vụ phong phỳ của BIDV
Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng là yếu tố khụng thể thiếu trong cụng tỏc quản lý núi chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng Trên cơ sở thông tin đó thu thập được, nhà quản lý có thể đưa ra được quyết định đúng đắn về đầu tư tín dụng và các biện pháp cần thiết để theo dừi và quản lý thu hồi nợ Các thông tin đến từ nhiều nguồn khác nhau, các ngân hàng muốn có được thông tin nhanh, chính xác phải có bộ phận phân tích và xử lý thụng tin, loại trừ những thụng tin nhiễu Chất lượng thông tin càng cao thỡ khả năng phũng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng lớn
Chất lượng của công tác thẩm định:
Thẩm định tín dụng là quá trỡnh cỏn bộ tớn dụng xem xột, đánh giá một cách khách quan, toàn diện các vấn đề ảnh hưởng đến tính khả thi và khả năng hoàn trả vốn của một
dự án mà khách hàng mang đến trỡnh duyệt, trờn cơ sở đó phục vụ cho việc ra quyết định cho vay của ngân hàng Để đảm bảo chất lượng thẩm định, cần phải có sự nhanh nhạy, tính toán một cách chính xác, thu thập được những thông tin tốt, phải được tiến hành đầy
đủ các trỡnh tự…Tuy nhiờn nếu quy trỡnh thẩm định phức tạp sẽ làm chậm việc ra quyết định tín dụng, ảnh hưởng đến mục tiêu sinh lời của cả ngân hàng và doanh nghiệp Thẩm định tín dụng phải có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các phũng ban để giảm thời gian thẩm định, hạn chế rủi ro
Cơ chế kiểm tra, kiểm soát:
Trong hoạt động tín dụng, BIDV luôn chú trọng đến khâu kiểm tra kiểm soát Ngân hàng có một bộ phận chuyên trách độc lập thực hiện kiểm tra kiểm soát ngân hàng và
Trang 33khách hàng với mục đích nâng cao chất lượng tín dụng Công tác kiểm tra kiểm soát sẽ giúp ngõn hàng nhận ra những sai sút trong quy trỡnh thực hiện cho vay, nắm bắt những mún vay cú vấn đề từ đó có biện pháp xử lý kịp thời Công tác kiểm tra kiểm soát nếu được tiến hành một cách thường xuyên sẽ giúp nâng cao tính an toàn và lành mạnh của món vay
Đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng:
Sự thành công trong hoạt động tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, trỡnh độ,
kỹ thuật và tâm huyết, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng vỡ họ là người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, có được những thông tin chính xác về doanh nghiệp thỡ mới cú thể ra cỏc quyết định đúng đắn Đồng thời, cán bộ tín dụng cũn là người có kỹ năng tư vấn giúp khách hàng lựa chọn hỡnh thức dịch vụ ngõn hàng phự hợp
và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, hỗ trợ khách hàng hoàn thiện thủ tục, hồ sơ vay vốn nhanh và đảm bảo đúng quy định
1.3.2 Nhóm nhân tố thuộc về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Năng lực tài chính của một doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu: vốn tự có, khả năng sinh lói, vũng quay vốn lưu động…Năng lực tài chính của doanh nghiệp càng tốt thỡ khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng càng cao, doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn vay ngân hàng dễ dàng hơn
Ngân hàng khi xem xét cấp tín dụng thường chú trọng đến năng lực tài chính, khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động của thị trường, khả năng hoàn trả vốn và lói của doanh nghiệp
Ngân hàng sẵn sàng cho vay với doanh nghiệp đó hoạt động lâu năm, sản phẩm có thương hiệu, có thị trường ổn định Vỡ vậy để dễ dàng tiếp cận vốn ngân hàng, bản thân mỗi doanh nghiệp phải tự nâng cao uy tín của mỡnh bằng hiệu quả hoạt động, chiến lược phát triển lâu dài bền vững và thực hiện nghiêm túc các hợp đồng tín dụng với ngân hàng
Năng lực quản lý của doanh nghiệp:
Để doanh nghiệp phát triển tốt, người quản lý phải là người có hiểu biết sâu sắc về
Trang 34nghề nghiệp, có khả năng tổ chức điều hành doanh nghiệp, có tầm nhỡn xa trụng rộng, đưa ra những bước đi thích hợp cho doanh nghiệp mỡnh Khi vay vốn, nhà quản lý phải biết xỏc định số lượng vốn vay phù hợp với công suất, năng lực của doanh nghiệp, sử dụng đồng vốn đúng mục đích với hiệu quả cao Năng lực quản lý của DNNVV là một nhõn tố tạo sự tin tưởng của ngân hàng trong quá trỡnh ra quyết định cho doanh nghiệp vay vốn
Đạo đức kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp:
Đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp chính là sự thành thật trong các báo cáo tài chính hàng năm, trong quá trỡnh khai bỏo với ngân hàng về mục đích sử dụng tiền vay và
sự thiện chí của doanh nghiệp đối với nghĩa vụ hoàn trả nợ cho ngõn hàng Nhiều doanh nghiệp vỡ muốn vay vốn nờn đó tỡm mọi cỏch để đánh bóng hỡnh ảnh của mỡnh trong cỏc bỏo cỏo tài chớnh, phương án sử dụng vốn vay…Khi được vay vốn thỡ xảy ra tỡnh trạng làm ăn thua lỗ, không trả được nợ cho ngân hàng Nếu doanh nghiệp mất uy tín đối với ngân hàng thỡ việc tiếp tục cỏc hợp đồng vay vốn rất khó khăn
Tài sản đảm bảo
Theo các quy định hiện hành của Nhà nước về tài sản bảo đảm cho khoản cấp tín dụng, doanh nghiệp vay vốn có thể dùng nhiều tài sản khác nhau để đảm bảo cho các khoản vay như: đất đai, nhà xưởng, dây truyền, máy móc thiết bị, các giấy tờ có giá, nguyên vật liệu tồn kho luân chuyển, quyền đũi nợ, quyền phỏt sinh từ quyền tỏc giả, sở hữu trớ tuệ Ngoài ra ngân hàng Nhà nước cũng cho phép các tổ chức tín dụng được cho doanh nghiệp vay không có tài sản bảo đảm hoặc cho vay có tài sản bảo đảm là biện pháp
bổ sung Tuy nhiên, xuất phát từ nhận định về mức độ rủi ro cao của hoạt động tín dụng đối với DNNVV nên các doanh nghiệp có tài sản là bất động sản thường dễ dàng vay vốn hơn so với doanh nghiệp không có tài sản hoặc tài sản là hàng tồn kho luân chuyển, máy móc, các khoản phải thu Phần nhiều doanh nghiệp Nhà nước được vay vốn không cần tới tài sản thế chấp, cầm cố, nhưng với doanh nghiệp tư nhân thỡ khụng nhận được ưu đói đó
1.3.3 Các nhân tố từ môi trường khách quan
Chính sách pháp luật của Nhà nước:
Trang 35Đây là nhân tố tác động rất lớn đến hoạt động tín dụng ngân hàng đối với DNNVV Với vai trũ quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà nước tác động khuyến khích hoặc điều chỉnh hoạt động tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp thông qua:
Công cụ thuế: thông qua thuế, Nhà nước có thể tạo cơ hội cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thông qua việc giảm thuế thu nhập, thực hiện hoàn thuế với doanh nghiệp đầu tư tài sản cố định nhưng chưa tạo ra doanh thu Thời gian qua, Nhà nước đó xõy dựng chớnh sỏch giảm, miễn thuế đối với doanh nghiệp, tuy nhiên mức thuế đưa ra chưa tạo thuận lợi cho phát triển DNNVV trong nước phát triển
Tín dụng nhà nước: là một trong những biện pháp hỗ trợ vốn trực tiếp của Nhà nước cho doanh nghiệp, nguồn vốn này có ưu điểm là lói suất thấp, thời gian cho vay dài tới 15 năm đó tạo điều kiện giảm bớt khó khăn tài chính cho doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để ngân hàng đầu tư cho vay các đối tượng này
Chính sách tiền tệ: như lói suất tỏi chiết khấu, tỷ giỏ, hoạt động trên thị trường mở Thông qua các công cụ này, Ngân hàng Nhà nước có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm tín dụng của ngân hàng với nền kinh tế nói chung và với DNNVV nói riêng
Chính sách thương mại tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia thị trường lành mạnh, giá cả ổn định, loại bỏ rào cản thương mại để doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả đem lại lợi nhuận bằng con đường kinh doanh đúng pháp luật
Hệ thống văn bản pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV phát triển bỡnh đẳng với các doanh nghiệp khác và các ngân hàng tăng cường cho DNNVV vay
Tuy nhiên, sự can thiệp trong các chính sách của Nhà nước cần đảm bảo vừa tạo điều kiện cho DNNVV vừa khuyến khích các ngân hàng phát triển tín dụng đối với DNNVV Kinh nghiệm từ sự thất bại trong chương trỡnh tớn dụng Sahara đối với DNNVV tại Châu Phi do các tổ chức phát triển đưa ra vào đầu những năm 1980 là một bài học trong vấn đề này Mục tiêu ban đầu của chương trỡnh là cung cấp cỏc khoản tớn dụng dài hạn và cỏc dịch vụ tài chớnh cho DNNVV thuộc cỏc lĩnh vực ưu tiên ở nông thôn Trong các chương trỡnh này, cỏc chớnh sỏch được áp dụng bao gồm can thiệp của chính phủ đối với các dũng tớn dụng thụng qua một hệ thống cỏc khoản tài trợ, ỏp dụng lói suất trần, phõn bổ tớn dụng … Cỏc ngõn hàng do vậy khụng cú
Trang 36động lực trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như năng lực đánh giá rủi ro và giám sát các khoản vay Tất cả các yếu tố trên tạo thành kết quả xấu nói chung trong toàn bộ kết quả kinh doanh của các ngân hàng này Tại một số quốc gia tham gia chương trỡnh này, tỷ lệ cỏc khoản vay khụng hoạt động (non-perforrning loan) đó đạt tới 90% tổng số các khoản vay của ngân hàng
Môi trường chính trị xó hội:
Môi trường chính trị xó hội ổn định là một nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động đầu tư và ngân hàng có thể mạnh dạn mở rộng hoạt động tín dụng của mỡnh
Nhưng những biến động lớn về chính trị có sự tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Một sự thay đổi trong hệ thống chính trị có thể làm cho ngân hàng gặp rủi ro mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản
Hoạt động tín dụng của ngân hàng chịu sự tác động điều chỉnh của Luật Tín dụng, quy định các quy chế cho vay, bảo đảm tiền vay…mà ngân hàng phải thực hiện Một hệ thống pháp luật được xây dựng đồng bộ, chặt chẽ, không chồng chéo…sẽ là cơ sở để cả ngân hàng và doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
Nhỡn chung, sự thay đổi của môi trường kinh tế hay chính sách vĩ mô đều có liên quan tới chất lượng tín dụng Vỡ vậy, các ngân hàng cần làm tốt công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh khi có những biến động xảy ra
Ngoài ra cũn cú một số nhõn tố bất khả khỏng tỏc động trực tiếp đến chất lượng tín dụng như thiên tai, dịch bệnh, địch họa,… làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng, tăng rủi ro đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trang 37
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
2.1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1.1 Quỏ trỡnh hỡnh thành và phát triển của BIDV
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (tiền thân là Ngân hàng kiến thiết Việt Nam) được thành lập ngày 26/4/1957 trực thuộc Bộ Tài chính Từ khi thành lập đến nay, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đó nhiều lần thay đổi tên gọi: Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (giai đoạn 1957 - 1981), Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (giai đoạn năm 1981 - 1990), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (từ năm 1990 đến nay)
Trong thời gian dài sau khi được thành lập, cùng với cơ chế ngân hàng một cấp,
mô hỡnh cỏc ngõn hàng chuyờn doanh, BIDV chủ yếu thực hiện chức năng cấp phát vốn cho các dự án đầu tư phát triển theo chỉ định của Chính phủ Thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, đặc biệt bắt đầu từ năm 1995, BIDV chuyển sang mô hỡnh ngõn hàng thương mại, giữ vai trũ chủ lực trong lĩnh vực đầu tư phát triển Tín từ thời điểm này, BIDV mới thực sự hoạt động đa dạng trên nhiều lĩnh vực dịch vụ ngân hàng phục vụ khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế
Tính đến năm 2009, sau 52 năm hỡnh thành và phỏt triển, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đó trở thành một trong 5 ngõn hàng thương mại lớn nhất Việt Nam với quy mô không ngừng mở rộng và tăng trưởng bền vững với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trên 18% Tính đến 31/12/2008, tổng tài sản của BIDV đạt 243.316 tỷ VND (tương đương 14,3 tỷ USD), vốn chủ sở hữu đạt 9.969 tỷ VND, phát hành thành công 3.250 tỷ VND trái phiếu tăng vốn và thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh, tỷ lệ nợ xấu theo chuẩn mực quốc tế là 2,75% Hiện nay, BIDV có một mạng lưới rộng khắp các tỉnh thành trong cả nước với 105 chi nhánh cấp 1, 03 Sở giao
Trang 38dịch cùng hàng ngàn Phũng, điểm giao dịch truyền thống và phi truyền thống cùng với hơn 10.000 cán bộ nhân viên (trỡnh độ trên đại học chiếm 3,47%, trỡnh độ đại học chiếm 75,16%, cũn lại là nhõn viờn kỹ thuật, sơ cấp, trung cấp và cao đẳng) BIDV cũng là doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên thuê tổ chức định hạng tín nhiệm uy tín quốc tế Moody’s thực hiện xếp hạng tín nhiệm với kết quả đạt trần quốc gia
Mục tiêu phấn đấu của BIDV là nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh, ngày càng đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ, tăng trưởng ổn định đảm bảo chủ động giữ vững thị phần trước biến động của thị trường, hướng tới một mô hỡnh ngõn hàng hiện đại, từng bước hội nhập quốc tế theo các chuẩn mực tài chính quốc tế
Về mụ hỡnh tổ chức, hiện nay BIDV được tổ chức theo 4 khối: Khối ngân hàng với
105 chi nhánh cấp 1 và 3 Sở giao dịch tại tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước; Khối công
ty gồm 5 công ty độc lập (Cụng ty chứng khoỏn, Cụng ty cho thuờ tài chớnh 1, Cụng ty cho thuờ tài chớnh 2, Cụng ty quản lý nợ và khai thỏc tài sản và Công ty bảo hiểm); Khối liên doanh (gồm ngõn hàng liờn doanh VID-Public, Ngõn hàng liờn doanh Lào - Việt, cụng ty liờn doanh thỏp BIDV, cụng ty liờn doanh quản lý đầu tư và ngân hàng liên doanh Việt - Nga); khối đơn vị sự nghiệp (gồm Trung tâm Công nghệ thông tin và Trung tâm đào tạo)
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV trong thời gian qua
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế, lợi nhuận sau thuế của BIDV gia tăng qua các năm Trong tổng thu nhập thuần thỡ thu nhập lói từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng cao nhất, luôn ở mức > 50% (năm 2006 là 63%, năm 2007 là 52% và năm 2008 là 60%) Như vậy, có thể nói, hoạt động tín dụng vẫn đem lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV giai đoạn 2005-2008
Trang 39Chi phí DPRR tín dụng 2.032 1.993 3.398 3.087
Nguồn: Báo cáo thường niênBIDV từ 2005 - 2008
Năm 2001, tổng tài sản của BIDV là 59.949 tỷ VND, sau 5 năm đạt 117.976 tỷ VND, tính đến 31/12/2008, tổng tài sản của BIDV là 242.316 tỷ VND (tương đương 14,3
tỷ USD), tăng 20,3% so với năm 2007
Trang 40
Hoạt động huy động vốn của BIDV
Hoạt động huy động vốn luôn được BIDV quan tâm Nguồn vốn huy động liên tục tăng qua các năm, đảm bảo nguồn vốn bổ sung cho nhu cầu thanh khoản Có được kết quả đó là do ngân hàng đó đa dạng hoá nguồn vốn bằng việc thực hiện các hỡnh thức, biện phỏp, kờnh huy động vốn có hiệu quả bên cạnh các sản phẩm huy động vốn truyền thống như: tiết kiệm dự thưởng, phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn dưới hỡnh thức kỳ phiếu, phỏt hành giấy tờ cú giỏ dài hạn dưới hỡnh thức chứng chỉ tiền gửi dài hạn và trỏi phiếu 03 đến 05 năm…Mặt khác, kể từ năm 2005 đến nay ngân hàng đó mở rộng mạng lưới huy động vốn, nâng cao chất lượng thanh toán, mở rộng dịch vụ ATM, tổ chức nhận tiền gửi, chi trả và phục vụ thanh toán qua ngân hàng thuận tiện cho khách hàng với nhiều sản phẩm đa dạng chất lượng cao
Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận trước thuế của BIDV 2004 - 2008
Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV từ 2004 - 2008