1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc

113 1,3K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay
Trường học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bình Dương là một tỉnh nằm trong khu vực kinh tế trong điểm phía nam, nơi có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế của miền Đông Nam Bộ cũng như của cả nước,

Trang 1

LUẬN VĂN:

Phát triển thị trường sức lao động ở

tỉnh Bình Dương hiện nay

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển thị trường sức lao động là một tất yếu khách quan vì lao động là hoạt động cơ bản nhất của con người, là nguồn lực to lớn nhất góp phần tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ:

Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, nhất là ở khu vực nông thôn Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là xuất khẩu lao động đã qua đào tạo nghề, lao động nông nghiệp Hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển chọn và sử dụng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước và bộ máy công quyền Đa dạng hoá các hình thức giao dịch việc làm; phát triển hệ thống thông tin về thị trường sức lao động trong nước và thế giới

Có chính sách nhập khẩu lao động có chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ

và quản lý ở những ngành, nghề cần ưu tiên phát triển [14, tr.81-82]

Hàng hóa sức lao động đã xuất hiện trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và đã được C.Mác nghiên cứu, xây dựng thành lý luận hàng hóa sức lao động Với lý luận này, C.Mác

đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, nguồn gốc của giá trị thặng dư do sức lao động tạo ra Lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác được ra đời trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh nhưng vẫn còn ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, sức lao động là nhân tố cơ bản góp phần tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế, là nguồn lực quan trọng

để góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế nguồn lực này càng trở nên quan trọng hơn

Ở nước ta một số thị trường đã phát triển và bước đầu hình thành song chưa phát triển đồng bộ, chưa tạo điều kiện cho các loại thị trường khác cùng phát triển đặc biệt là trong thị trường sức lao động, nếu thị trường này phát triển không đồng bộ sẽ cản trở trong phát triển kinh tế thị trường

Trang 3

Bình Dương là một tỉnh nằm trong khu vực kinh tế trong điểm phía nam, nơi có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế của miền Đông Nam Bộ cũng như của cả nước, nhưng hiện nay vấn đề đặt ra là lực lượng lao động chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đó, sự điều tiết thị trường sức lao động và các quan hệ trên thị trường lao động diễn

ra thiếu tính ổn định và phát triển bền vững Thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương không nằm ngoài những bất cập trong bước chuyển đổi của nền kinh tế thị trường, thêm vào

đó cần nắm vững cung cầu sức lao động sẽ làm cơ sở để quyết định chính sách, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, phân bổ, sử dụng lao động ở địa phương một cách hợp lý, có hiệu

quả Vì vậy, đề tài "Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay” được

chọn là luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu về thị trường sức lao động, như:

- Đỗ Thị Xuân Phương (2000): Phát triển thị trường sức lao động giải quyết việc làm (qua thực tế Hà Nội), Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh

- Bùi Thị Xuyến (2002): Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của Mác vào thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- Vương Thanh Tú (2004): Thị trường lao động trong thời ký quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- Phạm Đức Chính (2005): Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực tiễn, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Đình Hương (2006): Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội

- Nguyễn Văn Phúc (2008): Thị trường sức lao động trình độ cao ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

- Nguyễn Ngọc Bình (2008): Thị trường sức lao động ở thành phố Hồ Chí Minh dưới tác động của đầu tư trưc tiếp nước ngoài, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính

trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 4

- Lê Thu Hường (2008): Lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Nghệ An, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính

trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Ngoài ra còn có một số bài nghiên cứu đăng trên nhiều tạp chí viết về vấn đề này Các công trình nghiên cứu này đã tiếp cận vấn đề của thị trường sức lao động ở nhiều góc độ khác nhau, tập trung vào phân tích đánh giá thị trường sức lao động Tuy nhiên thị trường sức lao động ở nước ta còn nhiều tồn tại, khó khăn, còn nhiều diễn biến phức tạp chưa giải quyết được thì việc nghiên cứu, làm rõ về lý luận và thực tiễn thị trường sức lao động của Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng trong giai đoạn hiện nay phải cần được tiến hành thường xuyên, để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp thúc đẩy thị trường này hoạt động có hiệu quả và phát triển bền vững

Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu về thị trường sức lao động là điều cần thiết, có ý nghĩa

cả về lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường, phân tích, đánh giá đúng thực trạng thị trường sức lao động ở Bình Dương hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển thị trường sức lao động ở Bình Dương trong giai đoạn hiện nay, dựa trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thị trường sức lao động của một số tỉnh

và ở tỉnh Bình Dương trong thời gian qua

Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của luận văn là:

- Phân tích làm rõ bản chất, đặc điểm, các yếu tố tác động đến thị trường sức lao động vai trò của thị trường sức lao động

- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường sức lao động của một số tỉnh, thành như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng

- Phân tích, đánh giá thực trạng thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay

- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương

Trang 5

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về thị trường sức lao động, quan hệ kinh tế giữa người có sức lao động với người sử dụng sức lao động thông qua các quan hệ kinh tế trên thị trường sức lao động

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát thị trường sức lao động ở tỉnh Bình

Dương hiện nay Đồng thời có sự so sánh với thị trường sức lao động ở một số tỉnh, thành khác

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về thị trường sức lao động trong trong giai đoạn hiện nay Đồng thời có tham khảo, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố và chú ý khai thác kinh nghiệm một số tỉnh

- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời kết hợp với một số phương pháp như thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp…

6 Những đóng góp của luận văn

- Tổng hợp và hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến thị trường sức lao động

- Khẳng định phát triển thị trường sức lao động trong giai đoạn hiện nay là tất yếu khách quan, là chiến lược quan trọng, lâu dài trong phát triển kinh tế

- Làm tài liệu tham khảo cho UBND tỉnh Bình Dương trong việc quản lý và phát triển thị trường sức lao động của tỉnh trong thời gian tới

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƯỜNG

SỨC LAO ĐỘNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

1.1 HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG, THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG

1.1.1 Sức lao động và hàng hóa sức lao động

đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó" [20, tr.251]

Từ khái niệm của Mác về sức lao động có thể hiểu sức lao động bao gồm toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) tồn tại trong một con người và được người đó vận dụng vào quá trình sản xuất ra một sản phẩm nào đó Thể lực chính là phần xương thịt của mỗi con người được thể hiện ở ngoại hình: chiều cao, cân nặng và khả năng hoạt động của mỗi con người Trí lực là phần tinh thần, sự thoải mái của con người, sở thích và năng lực chuyên môn Các bộ phận này thống nhất với nhau trong một cơ thể sống, sức lao động là yếu tố tiềm năng của mỗi con người, nó được biểu hiện ra bên ngoài thông qua quá trình con người tiến hành lao động sản xuất Sức lao động của mỗi con người đang sống chỉ được người khác nhận biết khi nó tham gia sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó

Sức lao động khác với lao động: sức lao động là khả năng lao động của con người,

là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng của lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực Lao động là hoạt động có mục đích có ý thức của con người nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người đồng thời nó còn cải tạo cả bản thân con người, phát triển con người cả về mặt thể lực và trí lực C.Mác viết:

Trang 7

Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi giữa họ và tự nhiên Bản thân con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tự nhiên Để chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình thái có ích cho đời sống của bản thân mình, con người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về thân thể của họ: tay và chân, đầu và hai bàn tay Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó, và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó Con người phát triển những tiềm lực đang ngái ngủ ở trong bản tính đó và bắt đầu sự hoạt động của những tiềm lực ấy phải phục tùng quyền lực của mình [20, tr.226]

Lao động là phẩm chất đặc biệt của con người, khác với hoạt động bản năng của con vật C.Mác đã chỉ rõ:

Con nhện làm những động tác giống như những động tác của người thợ dệt, và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng trong đầu óc của mình rồi [20, tr.266-267]

Quá trình lao động chỉ con người mới có, con người không chỉ làm biến đổi hình thái những cái do tự nhiên cung cấp; trong những cái đó, con người cũng đồng thời thực hiện cái mục đích tự giác của mình, mục đích ấy quyết định phương thức hành động của

họ giống như một quy luật và bắt ý chí của họ phải phục tùng nó

1.1.1.2 Hàng hóa sức lao động

Sức lao động là khả năng lao động tiềm ẩn bên trong người lao động, còn lao động

là một quá trình họat động nhằm một mục đích nhất định, là sự kết hợp giữa sức lao động

và tư liệu sản xuất

Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của quá trình sản xuất Nhưng nó chỉ trở thành hàng hóa khi có đủ hai điều kiện sau đây:

Trang 8

Một là, người có sức lao động phải được tự do về thân thể được pháp luật bảo vệ

nghĩa là người có sức lao động có quyền sở hữu khả năng lao động của mình, có thể mang

ra thị trường bán như một hàng hoá đặc biệt C.Mác chỉ rõ:

Nhưng muốn cho người chủ tiền tìm được trên thị trường một sức lao động với tư cách là hàng hoá thì một số những điều kiện khác phải được thực hiện Tự bản thân nó, trao đổi hàng hóa không bao gồm những quan hệ lệ thuộc nào khác ngoài quan hệ lệ thuộc toát ra từ bản chất của chính nó Với tiền đề ấy thì sức lao động chỉ có thể xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hóa khi

nó được đưa ra thị trường và chỉ trong chừng mực nó được đưa ra thị trường, hay ngay được chính người chủ của nó, tức bản thân người có sức lao động đó, đem bán Muốn cho người chủ sức lao động thấy có thẻ bán được nó với tư cách là hàng hóa, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động ấy,

do đó, người ấy phải là kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể của mình Anh ta và người chủ tiền gặp nhau trên thị trường và quan hệ với nhau với

tư cách là những người chủ hàng hoá bình đẳng với nhau, chỉ khác nhau ở chỗ một người thì mua, còn người kia thì bán và vì thế cả hai đều là những người bình đẳng về mặt pháp lý [20, tr.251]

Hai là, người có sức lao động không còn tài sản nào để bán anh ta buộc phải đem

bán chính ngay cái sức lao động đang tồn tại ở trong cơ thể của anh ta… Theo C.Mác:

Để một người nào đó có khả năng bán những hàng hóa khác với sức lao động của mình, thì tất nhiên anh ta phải có những tư liệu sản xuất, ví dụ như nguyên liệu, công cụ lao động v.v Anh ta không thể làm giày ống mà không

có da thuộc Ngoài ra anh ta còn cần tư liệu sinh hoạt nữa Không một ai, ngay cả một nhạc sĩ của tương lai, cũng không thể sống bằng những sản phẩm của tương lai, không thể sống bằng những giá trị sử dụng còn chưa sản xuất xong, cũng giống như ngày đầu tiên xuất hiện trên trái đất, con người đã buộc phải tiêu dùng hàng ngày, phải tiêu dùng nó trước khi bắt đầu sản xuầt

và trong khi nó sản xuất Nếu các sản phẩm được sản xuất ra với tư cách là hàng hoá thì sau khi sản xuất xong, chúng phải được bán đi, và chỉ sau khi bán xong thì những nhu cầu của người sản xuất mới được thoả mãn Thêm

Trang 9

sẽ tự tiến hành sản xuất ra hàng hóa để bán chứ không bán sức lao động của mình

Từ hai điều kiện C.Mác nêu ra thì cần có những điều kiện khác như:

- Tính đa dạng của thị trường lao động

Thị trường lao động có thể phân loại thành nhiều dạng theo nhiều tiêu chí khác nhau Có hai tiêu chí cơ bản thường được sử dụng để phân loại đó là trình độ kỹ năng tay nghề của người lao động và phạm vi địa lý Xét trên góc độ trình độ kỹ năng và tay nghề của người lao động, thị trường lao động được phân ra thành thị trường lao động giản đơn

và thị trường lao động được đào tạo Xét về mặt phạm vi địa lý, thị trường lao động được phân chia thành thị trường lao động địa phương và thị trường lao động quốc gia hoặc thị trường lao động quốc tế

- Tính không đồng nhất của hàng hoá trên thị trường lao động

Hàng hoá trên thị trường lao động là một loại hàng hoá đặc biệt đó là "sức lao động" Trong khi các loại hàng hóa thông thường khácđược chuẩn hoá ở mức cao thì hàng hoá sức lao động hoàn toàn không giống nhau Mỗi người lao động là một tập hợp của các năng lực bẩm sinh cộng với các kỹ năng chuyên biệt tiếp thu được từ giáo dục và đào tạo Mỗi người lao động đều có những đặc điểm riêng về khả năng, trình độ, tuổi tác, nguồn gốc, giới tính, nhu cầu, thể lực, động cơ làm việc… chính vì thế, sức lao động được những người này đem ra trao đổi trên thị trường cũng hoàn toàn không đồng nhất với nhau

- Vị thế yếu hơn của người lao động trong các đàm phán trên thị trường lao động

Thực tiễn cho thấy, thông thường, trong các quan hệ giao dịch hay đàm phán trên thị trường lao động, cán cân thường nghiêng về phía người có nhu cầu sử dụng sức lao động Xuất phát điểm của thực tiễn này là ở chỗ cho đến nay, số lượng những người tìm việc vẫn nhiều hơn số lượng các cơ hội việc làm sẵn có Hơn nữa người lao động đi tìm việc bao giờ cũng là người có nguồn lực hạn chế, trong khi đó, người sử dụng lao động có khả năng chờ đợi và lựa chọn hơn Chính vì thế trong quá trình đàm phán hay giao dịch,

Trang 10

Khi trở thành hàng hóa, sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng

Giá trị của hàng hoá sức lao động được quyết định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống, muốn tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định

Vậy thời gian lao động cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói cách khác, “Giá trị của sức lao động là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của con người có sức lao động ấy” [20, tr.256]

Sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người Vì vậy, việc sản xuất ra sức lao động chỉ có thể xảy ra khi có sự tồn tại của con người đó Cho nên sức lao động phải được tiêu dùng trong quá trình lao động Trong quá trình lao động, phải hao phí một lượng nhất định về cơ bắp, thần kinh và trí não… của con người, sự hao phí đó phải được

bù đắp lại Hao phí càng nhiều thì việc bù đắp lại càng lớn Người sở hữu sức lao động, đã lao động ngày hôm nay, ngày mai lại có thể lắp lại những quy trình ấy với những sức khỏe

và thể lực như trước Do đó, tổng số các tư liệu sinh hoạt phải đủ để duy trì con người lao động với tư cách là như vậy ở trong một trạng thái sinh hoạt bình thường

Là hàng hoá đặc biệt, giá trị sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử điều đó có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân cón có nhu cầu về tinh thần, văn hóa… những nhu cầu đó còn phụ

Trang 11

thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, phụ thuộc vào điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó và mức độ thoả mãn các nhu cầu phần lớn phụ thuộc vào trình độ văn minh tập quán văn hóa của nước đó Đối với một nước nhất định và đối với một thời kỳ nhất định, thì tính trung bình, quy mô của những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định

Người sở hữu sức lao động có thể chết đi hay quá trình tiêu dùng sức lao động đã bị hao mòn, trong khi thế hệ các nhà tư bản đều cần đến hàng hoá sức lao động để tồn tại với

tư cách là giai cấp tư sản Do đó, sức lao động phải được thường xuyên thay thế bằng những sức lao động mới; điều này khẳng định trong tổng số tư liệu sinh hoạt cần thiết cho việc tái sản xuất sức lao động phải bao hàm cả những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho con cái của người công nhân tồn tại và phát triển C.Mác viết: “Tổng số những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho việc sản xuất ra sức lao động bao gồm cả những tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế đó, tức là cho con cái của những người lao động, khiến cho cái giống những người chủ hàng hoá đặc biệt đó được duy trì vĩnh cửu ở trên thị trường hàng hoá” [20, tr.257]

Mặt khác, muốn cho người lao động có được kiến thức và những thói quen khéo léo trong một ngành lao động nhất định, nghĩa là muốn cho nó trở thành một sức lao động phát triển và đặc thù thì họ cần phải được đào tạo, mà muốn thế phải chi phí một số tiền nhiều hay ít để làm gia tăng giá trị sức lao động Những chi phí đào tạo ấy khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất phức tạp của sức lao động “Do đó, những chi phí học tập ấy - những chi phí hoàn toàn không đáng kể đối với sức lao động bình thường - đều gia nhập vào tổng số những giá trị đựơc chi phí để sản xuất ra sức lao động” [20, tr.257 - 258]

Giá trị của mọi hàng hoá thông thường có xu hướng càng giảm càng tốt nhưng giá trị hàng hóa sức lao động lại có giới hạn thấp nhất của nó, đó chính là “giá trị của cái khối lượng hàng hóa thì hàng ngày thiếu nó thì kẻ mang sức lao động, chính là con người, sẽ không thể khôi phục lại quá trình sống của mình, tức là tạo thành giá trị của những tư liệu sinh hoạt không thể thiếu được về mặt sinh lý” [20, tr.259] Vượt qua giới hạn này, người lao động sẽ rơi vào trạng thái sống lay lắt mà thôi, việc sử dụng sức lao động của người này sẽ bị ảnh hưởng và giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động khó phát huy tốt được

Trang 12

Giá trị hàng hoá sức lao động có hình thức biểu hiện là tiền công Bản chất của tiền công là giá cả của hàng hoá sức lao động, nó được tính trên cơ sở hao phí lao động cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng đáp ứng nhu cầu của người mua là

sử dụng vào trong quá trình sản xuất Khác với hàng hóa thông thường, khi được sử dụng, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó “Nhưng cái có ý nghĩa quyết định là giá trị sử dụng đặc biệt của thứ hàng hoá đó là cái đặc tính của nó, là cái nguồn gốc sinh ra giá trị, hơn nữa lại sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của chính bản thân nó Đó là sự phục vụ đặc biệt mà nhà tư bản mong chờ” [20, tr.289-290]

Người bán sức lao động thực hiện giá trị trao đổi của sức lao động và nhượng lại giá trị sử dụng của sức lao động đó Anh ta không thể nhận được giá trị trao đổi mà lại không chuyển nhượng giá trị sử dụng Người mua đã trả giá trị hàng ngày của sức lao động, vì vậy, việc tiêu dùng sức lao động ấy trong một ngày là thuộc quyền của anh ta; và nhà tư bản biết được rằng:

Chi phí hàng ngày để duy trì sức lao động và sự tiêu phí sức lao động ấy trong một ngày - đó là hai đại lượng hoàn toàn khác nhau Đại lượng thứ nhất quyết định giá trị trao đổi của nó, đại lượng thứ hai tạo thành giá trị nhờ việc sử dụng nó Nếu nửa ngày lao động là cần thiết để nuôi sống người công nhân trong 24 giờ đồng hồ thì điều đó quyết không ngăn cản người công nhân có thể lao động suốt cả ngày [20, tr.289]

Nhưng tính có ích của sức lao động “Chỉ thực sự được thực hiện tức chỉ tạo ra được một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó khi sức lao động phải hoạt động trong những điều kiện bình thường” [20, tr.292], đó là các điều kiện sau:

- Phải đảm bảo tính chất bình thường của những yếu tố vật chất: tư liệu lao động, nguyên liệu, vật liệu đạt trình độ phổ biến bình thường

- Bản thân sức lao động cũng phải là một sức lao động bình thường, nghĩa là trong ngành chuyên môn mà sức lao động ấy được sử dụng, nó phải có một trình độ trung bình

về mặt tài nghệ, về mặt thành thục và tốc độ Tức muốn nâng cao giá trị sử dụng của sức lao động thì phải trải qua một thời kỳ huấn luyện chuyên môn nhất định

Trang 13

Như vậy, muốn có thị trường sức lao động thì trước hết phải có hàng hoá sức lao động

1.1.2 Thị trường sức lao động và đặc điểm thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.1.2.1 Khái niệm về thị trường sức lao động

Thị trường lao động là một loại thị trường cơ bản trong nền kinh tế thị trường Đây

là loại thị trường của một loại hàng hóa đặc biệt vì nó liên quan trực tiếp đến con người Nghiên cứu lý luận về thị trường lao động được bắt đầu từ những khái niệm, bao gồm những định nghĩa và lý giải về bản chất hiện tượng, sự vật và những biểu hiện của nó trong những bối cảnh khác nhau, đặc biệt nhấn mạnh đối tượng thị trường lao động

Có rất nhiều quan niệm về thị trường sức lao động, mỗi quan niệm nhấn mạnh một phương diện nào đó của thị trường

- Theo A.Smith: “Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hoá sức lao động (hoặc dịch vụ lao động) giữa một bên là người mua sức lao động và người bán sức lao động” [34, tr.11-12], khái niệm này nhấn mạnh đối tượng trao đổi trên thị trường lao động là sức lao động chứ không phải người lao động, ở đây người lao động là chủ sở hữu sức lao động của mình, họ chỉ đem bán sức lao động mà không phải bán bản thân người lao động

- Theo tổ chức Lao động quốc tế ILO đưa ra định nghĩa: “Thị trường lao động là thị trường trong đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua một quá trình thỏa thuận để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công” [34, tr.12] Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làm và tiền công

Trang 14

- Theo các nhà khoa học Mỹ thì: “Thị trường mà đảm bảo việc làm cho người lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm được gọi là thị trường lao động" [35, tr.21] Định nghĩa này nhấn mạnh đến quan hệ điều tiết giải quyết việc làm

- Theo các nhà khoa học kinh tế Nga thì: "Thị trường lao động được hiểu như một

hệ thống quan hệ xã hội, những định mức và thể chế xã hội (trong đó có cả luật pháp), đảm bảo cho việc tái sản xuất, trao đổi và sử dụng lao động" [35, tr.21] Quan niệm này cũng nhấn mạnh quan hệ giải quyết việc làm cho lao động làm thuê

- Theo "Đại từ điển kinh tế thị trường” (xuất bản năm 1998) thì: "Thị trường lao động là nơi mua bán sức lao động diễn ra giữa người lao động (cung lao động) và người sử dụng lao động (cầu lao động)” [9, tr.10] Quan niệm này nhấn mạnh mối quan hệ trên thị trường lao động là quan hệ giữa cung và cầu lao động

- Theo các nhà kinh tế Việt Nam cho rằng:

Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ bản nhất như thuê mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao động …), ở đó diễn ra sự trao đổi, thỏa thuận giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động [35, tr.21]

"Thị trường lao động biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có sức lao động

và bên kia là người sử dụng sức lao động nhằm xác định số lượng và chất lượng lao động

sẽ đem ra trao đổi và mức thù lao tương ứng” [35, tr.23], "thị trường lao động là sự trao đổi hàng hóa sức lao động giữa một bên là người sở hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao động đó” [29, tr.73] Các quan niệm này chỉ rõ có sự thống nhất trao đổi mua bán sức lao động giữa người thuê lao động và lao động làm thuê

Sự vận động của thị trường sức lao động tuân thủ các quy luật của nền kinh tế thị trường Hàng hoá trên thị trường lao động chính là sức lao động có tiềm năng về thể lực, trí lực của người lao động, quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động là quan hệ thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động (về việc làm, nghỉ ngơi, tiền công, và các điều kiện làm việc khác)

Khác với các hàng hoá thông thường, thị trường sức lao động luôn gắn với chủ thể mang nó, do đó thị trường sức lao động chỉ có thể thực hiện được trong điều kiện người lao

Trang 15

động làm chủ khả năng của mình Thông qua thị trường sức lao động, sức lao động được bán, được mua trong một thời hạn xác định Con người là chủ thể hàng hoá sức lao động, vì vậy, việc cung ứng lao động phụ thuộc vào những đặc điểm tâm lý kinh tế, xã hội của người lao động

Qua các khái niệm trên cho thấy tính phức tạp trong nhận thức về thị trường sức lao động, đôi khi dùng thuật ngữ "thị trường lao động”, lúc dùng "thị trường sức lao động” Mặc dù còn có những điểm khác biệt, song về cơ bản các quan niệm trên đều thống nhất với nhau về nội dung các điều kiện hình thành thị trường sức lao động, đó là: người bán sức lao động, người mua sức lao động, giá cả sức lao động và những ràng buộc giữa các bên về những nội dung này Từ đó có thể hiểu:

Thị trường sức lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở các mối quan hệ lao động như tiền công, tiền lương, điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội… thông qua một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng [4, tr.39] Quan niệm này càng khẳng định rõ hơn về thị trường sức lao động "thị trường sức lao động là một hợp phần của kinh tế thị trường Cũng như bất kỳ một hình thái thị trường nào, các yếu tố cấu thành thị trường sức lao động bao gồm: người mua, người bán và hàng hoá” [10, tr.76], nó đòi hỏi phải giải quyết tốt quan hệ giữa người và người, chủ thể của xã hội

Tuy nhiên, thị trường sức lao động được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, do đó, khi tiếp cận và nghiên cứu thuật ngữ sử dụng có sự khác nhau "thị trường lao động”, "thị trường sức lao động"

Theo Mác, dùng thuật ngữ "sức lao động” để phân tích, vạch rõ bản chất bên trong của phương thức sản xuất tư bản và khẳng định người công nhân bán sức lao động chứ không phải bán lao động C.Mác cho rằng, sức lao động được hiểu là tổng hợp toàn bộ thể lực, trí lực của con người, nó nói lên khả năng có thể lao động, là hoạt động có mục đích của con người, là tiêu dùng sức lao động trong quá trình lao động

Khi Mác nghiên cứu quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá tư bản chủ nghĩa, C.Mác sử dụng thuật ngữ "thị trường sức lao động" để phân tích biểu hiện bề ngoài khi

Trang 16

quá trình lưu thông hàng hoá diễn ra "tại sao người lao động tự do ấy đứng đối diện với người chủ tiền trong lĩnh vực lưu thông, vấn đề ấy không làm bận tâm người chủ tiền là người đã tìm thấy thị trường lao động với tính cách là một chi nhánh đặc biệt của thị trường hàng hoá" [20, tr.253]

Vì vậy "thị trường lao động” (Labour Market) là cách gọi khác nhưng thực chất là thị trường sức lao động, hơn nữa nếu xem xét đối tượng mua và bán trên thị trường sức lao động là "sức lao động”, nên chính xác thì phải được gọi là "thị trường sức lao động" Nhưng thực tế, trong các văn bản chính thống của tổ chức Lao động quốc tế (ILO), cũng như ở nhiều nước phát triển và ở Việt Nam thường dùng tên gọi "thị trường lao động" Cho nên trong luận văn việc sử dụng khái niệm thị trường lao động và thị trường sức lao động là đồng nhất với nhau

1.1.2.2 Đặc điểm thị trường sức lao động

Do tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động và những đặc điểm riêng của quan

hệ lao động trên thị trường lao động, nên thị trường lao động có những đặc điểm sau:

Một là, hàng hóa trao đổi trên thị trường lao động là loại hàng hoá đặc biệt

Hàng hóa trao đổi trên thị trường lao động là hàng hoá sức lao động Khác với tất cả hàng hóa thông thường khác, đây là loại hàng hóa đặc biệt, vì:

- Về mặt giá trị:

+ Trong khi giá trị của các hàng hóa thông thường được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó, thì giá trị của hàng hoá sức lao động lại được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để duy trì và phát triển nó Cụ thể, nó được tính bằng: giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động và gia đình họ; chi phí đào tạo

để người lao động có một nghề nhất định

+ Trong khi giá trị của các hàng hóa thông thường sẽ giảm dần cùng với quá trình

sử dụng hàng hóa đó, thì giá trị của hàng hoá sức lao động lại tăng dần cùng với quá trình

sử dụng nó vì theo thời gian, trình độ thành thạo, tay nghề của người lao động càng được nâng lên và nhu cầu sinh hoạt, chi tiêu cần thiết cho người lao động và gia đình họ cũng ngày càng cao

- Về mặt giá trị sử dụng:

Trang 17

Với các hàng hóa thông thường, giá trị sử dụng sẽ giảm dần cùng với quá trình sử dụng và mất đi Còn đối với hàng hóa sức lao động thì ngược lại và đặc biệt là khi sử dụng hàng hoá sức lao động, nó sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó Đây chính là điểm khác biệt lớn nhất của hàng hoá sức lao động so với các hàng hóa khác Chính đặc điểm này gây ra sự hấp dẫn đối với người mua loại hàng hoá này trên thị trường

- Một số đặc điểm khác:

+ Khác với các hàng hoá thông thường, hàng hoá sức lao động luôn gắn chặt với chủ thể mang nó, không thể tách rời được Xét cả mặt số lượng và chất lượng, hàng hoá sức lao động phụ thuộc vào hai quá trình: sinh đẻ và nuôi dạy, đào tạo Hai quá trình này vừa chịu sự chi phối của nhân tố sinh học, vừa chịu sự chi phối của các nhân tố kinh tế, tâm lý, xã hội

+ Khác với các hàng hoá thông thường, hàng hoá sức lao động dù đã được trao đổi hay chưa, thì nó vẫn đòi hỏi phải được cung cấp những điều kiện vật chất và tinh thần nhất định để tồn tại và phát triển

+ Trong khi các hàng hoá thông thường thường đựơc chuẩn hoá ở mức cao (kiểu dáng, trọng lượng, chất lượng…) thì hàng hoá sức lao động lại hoàn toàn không giống nhau Mỗi người lao động đều có những đặc điểm riêng về khả năng, trình độ chuyên môn

kỹ thuật, học vấn, thể lực, nguồn gốc, động lực, nhu cầu…

Hai là, cung của thị trường lao động có nhiều điểm khác biệt so với cung của các thị trường khác:

- Cung của các thị trường khác chủ yếu gắn liền với sản xuất, còn cung của thị trường lao động chịu sự chi phối trực tiếp của yếu tố dân số và không thể vượt khỏi giới hạn Thông thường, quy mô dân số lớn thì cung lao động sẽ cao, tốc độ tăng dân số cao và

cơ cấu dân số trẻ thì cung lao động trong tương lai sẽ tăng lên Cung của thị trường lao động phụ thuộc vào dân số mà biến động của dân số lại tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố: lịch

sử, phong tục, tập quán, trình độ phát triển, văn hoá… Nhìn tổng thể, cung của thị trường lao động luôn cao hơn cầu của thị trường này, nên luôn có tình trạng thất nghiệp

- Trong khi số lượng cung của các thị trường khác có thể tăng giảm nhanh chóng, đột ngột, thì cung của thị trường lao động lại không thể, vì nó phụ thuộc vào sự sinh đẻ của con người và quá trình nuôi dạy, đào tạo, đào tạo lại người lao động

Trang 18

- Trong khi, chất lượng cung của các thị trường khác chủ yếu phụ thuộc vào công nghệ sản xuất, thì chất lượng cung của thị trường lao động lại chủ yếu phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng, giáo dục – đào tạo và cơ chế, chính sách sử dụng con người

- Nếu cơ cấu cung của các thị trường khác dễ dàng thay đổi và thay đổi nhanh chóng thì cơ cấu cung của thị trường lao động lại không dễ dàng thay đổi và phải có thời gian Chẳng hạn, muốn thay đổi cơ cấu ngành nghề của cung lao động trên thị trường lao động thì phải qua một thời gian đào tạo nhất định

Ba là, giá cả của hàng hoá sức lao động tương đối ổn định và ít có khả năng phản ứng linh hoạt trước sự biến động của cung - cầu trên thị trường như các hàng hoá thông thường khác

Về lý thuyết, giá cả sức lao động do mức cung - cầu trên thị trường quyết định như bất

kỳ một loại hàng hoá nào khác Khi tiền công cao thì mức cung, trong khi đó mức cầu lại giảm

và thị trường lao động sẽ cân bằng khi cung và cầu gặp nhau Tuy nhiên, trong thực tế, thị trường lao động không bao giờ hoàn hảo Tiền công thường ít thay đổi ( hoặc rất chậm thay đổi) dù mức cầu giảm hay mức cung tăng và chính vì thế luôn tồn tại hiện tượng thất nghiệp Tính cạnh tranh không hoàn hảo của thị trường lao động có nguồn gốc từ sự độc quyền cả về phía người bán lẫn người mua Về phía người bán, sự độc quyền xảy ra khi sức lao động khan hiếm Còn sự độc quyền của người mua thể hiện rất rõ khi cung lao động dư thừa Tính cạnh tranh không hoàn hảo của thị trường lao động còn thể hiện ít nhiều ở tính cá biệt là nó không thể đem ra mua bán theo phương thức đấu giá các các sàn giao dịch như các hàng hoá thông thường khác Mặt khác, việc thuê mướn lao động thường là dài hạn, với các hợp đồng đã ký kết, nên tiền công tương đối ổn định và ít có khả năng phản ứng linh hoạt trước sự biến động của cung - cầu trên thị trường như các hàng hoá khác

Như vậy, những đặc điểm trên của thị trường lao động đòi hỏi Nhà nước phải có sự quản lý đặc biệt đối với thị trường này Bởi lẽ, nó không đơn thuần là vấn đề kinh tế, mà vẫn là vấn đề chính trị, xã hội, con người Có như vậy, quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia thị trường và phát huy vai trò của nguồn lực lao động

1.1.3 Các yếu tố cấu thành thị trường sức lao động

Thị trường sức lao động là bao gồm các yếu tố cung, cầu, giá cả hàng hoá sức lao động và thể chế hoạt động

Trang 19

- Cung sức lao động

Cung sức lao động là tổng nguồn sức lao động tự nguyện đem ra tham dự vào quá trình tái sản xuất xã hội, tức tổng số nhân khẩu trong độ tuổi lao động, có năng lực lao động, và cả tổng số nhân khẩu không nằm trong độ tuổi lao động, nhưng trong thực tế chính thức tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội

Thông thường khi nói đến cung trên thị trường lao động, người ta thường phân biệt

rõ thành hai phạm trù: cung thực tế và cung tiềm năng

+ Cung thực tế về lao động: bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc và những người thất nghiệp

+ Cung tiềm năng về lao động: bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc, những người thất nghiệp, những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm công việc nội trợ, hoặc không có nhu cầu làm việc

Như vậy, cung sức lao động được hiểu là cung cấp cả thể lực và trí lực người lao động làm thuê và người sử dụng lao động (các doanh nghiệp, công ty) trong một thời gian nhất định với một mức tiền công xác định, nó thể hiện quan hệ một bên là người chủ sức lao động và một bên là người chủ tư liệu sản xuất Do đó cung sức lao động bắt đầu từ người lao động và nó mang tính chất cá nhân nhưng mức độ, số lượng, cấu trúc cung sức lao động thực sự được xác định ở cấp khu vực và ngành hay cụ thể hơn ở mức độ ngành nghề và trong thị trường sức lao động khu vực

Cung sức lao động là lực lượng lao động xã hội, là toàn bộ những người có nhu cầu làm việc, bao gồm cả những người trong và ngoài độ tuổi lao động Hay nói một cách khác

là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự nguyện tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội Đó là khối lượng lao động được sử dụng trong một thời gian nhất định với mức tiền công khác nhau

Trên góc độ quản lý và thống kê, cung sức lao động không đề cập đến lao động dưới 15 tuổi mà chỉ đề cập đến lao động từ 15 tuổi trở lên Cung sức lao động trên thị trường sức lao động phụ thuộc vào các nhân tố cơ bản như: Quy mô và tốc độ tăng dân số,

tỉ lệ đủ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, chính sách nhập cư quản lý hộ tịch, hộ khẩu, di cư lao động, chất lượng giáo dục đào tạo, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe…

Trang 20

Trong các nhân tố đó thì quy mô dân số sẽ quyết định số lượng sức lao động tham gia vào thị trường và các hoạt động kinh tế Yếu tố này tỉ lệ thuận với lượng cung sức lao động trên thị trường sức lao động khi quy mô dân số lớn thì cung sức lao động cũng sẽ tăng, đồng thời tốc độ tăng dân số cao thì cung sức lao động trong tương lai sẽ tăng lên và ngược lại

Sự tăng giảm của tiền lương, tiền công thực tế, khi giá cả sức lao động tăng thì cung lao động sẽ có xu hướng tăng và ngược lại Sự thay đổi điều kiện sống cũng ảnh hưởng đến cung lao động, đời sống thấp thì người lao động có xu hướng tích cực làm thêm để có thu nhập và ngược lại Như vậy, khi đề cập đến cung sức lao động trên thị trường sức lao động cần nghiên cứu về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động

Cung lao động xét về mặt số lượng thể hiện qua cung thực tế về lao động: bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc và những người thất nghiệp, đó là lực lượng lao động xã hội hay dân số hạot d965ng kinh tế; tiềm năng về lao động: bao gồm cung thực tế về lao động và bộ phận những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đag đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình hoặc không cò nhu cầu lao động và tình trạng khác

Xét về chất lượng của cung lao động thể hiện qua tình trạng sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thái độ, tác phong của cung sức lao động trên thị trường

- Cầu sức lao động

Cầu sức lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địa phương, một ngành hay một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định, nhu cầu này thể hiện qua khả năng thuê mướn lao động trên thị trường lao động Cầu lao động được chia thành hai loại: cầu thực tế và cầu tiềm năng

+ Cầu thực tế về lao động: là nhu cầu thực tế về lao động cần sử dụng tại một thời điểm nhất định, thể hiện qua số lượng những chỗ làm việc trống và chỗ làm việc mới

+ Cầu tiềm năng về lao động: là nhu cầu về lao động cho tổng số chỗ làm việc có thể có được, sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo việc làm trong tương lai như vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ, và cả những điều kiện khác như chính trị, xã hội…

Trang 21

Những yếu tố này có sự khác nhau giữa các vùng lãnh thổ, các thành phần kinh tế, thành thị - nông thôn, cũng như giữa các ngành kinh tế Như vậy, có thể xác định cầu tiềm năng như sau:

Cầu tiềm năng = Cầu thực tế + Số chỗ làm việc sẽ được tạo ra trong tương lai

Một quốc gia thì có nhiều loại cầu lao động: cầu tổng thể, cầu từng ngành, từng khu vực, từng nghề theo thời gian; cầu trong nước và cầu quốc tế

Cầu lao động phụ thuộc vào những yếu tố liên quan đến tạo việc làm, tăng trưởng việc làm như:

Một là, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm

Hai là, sự phát triển của các ngành, các vùng, các khu vực kinh tế

Ba là, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Bốn là, khả năng huy động đầu tư toàn xã hội

Năm là, khả năng mở rộng thị trường trong nước và quốc tế…

Cầu về lao động bao gồm hai mặt: thứ nhất, cầu về chất lượng lao động, và thứ hai, cầu về số lượng lao động Xét từ giác độ số lượng, trong điều kiện năng suất lao động không biến đổi, cầu về sức lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc độ sản xuất nếu quy mô sản xuất không đổi, cầu về sức lao động tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Còn xét từ giác độ chất lượng, việc nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy mô, tiền vốn, tri thức… của doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi nâng cao cầu về chất lượng sức lao động

- Giá cả hàng hoá sức lao động

Giá cả hàng hoá sức lao động là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động Trên thị trường sức lao động , giá cả được thể hiện dưới dạng tiền công Cũng như các loại hàng hoá khác, giá cả hàng hoá sức lao động không chỉ bị quy định bởi giá trị hàng hoá sức lao động mà còn chịu ảnh hưởng của quan hệ cung cầu sức lao động Khi cung sức lao động vượt quá cầu, giá cả sức lao động sẽ thấp hơn giá trị sức lao động Khi cung sức lao động không đáp ứng đủ cầu sức lao động, giá cả sức lao động sẽ tăng lên Mối quan hệ này có thể diễn giải một cách đơn giản qua đồ thị sau:

Đồ thị 1.1: Mối quan hệ giữa cung - cầu sức lao động

Trang 22

Tại điểm E trên thị trường sức lao động cung = cầu, nhưng trong trường hợp này chỉ

là một sự hạn hữu hiếm có Nhìn chung cung cầu trên thị trường sức lao động luôn mất cân đối (cả về cơ cấu lao động, cả về chất lượng lao động - trình độ chuyên môn) Sự mất cân đối đó tác động đến giá cả hàng hóa làm cho giá cả sức lao động tăng lên khi cầu > cung

và ngược lại Điều này cho thấy giá cả sức lao động có tác động đến cung cầu và ngược lại cung cầu đã tác động đến giá cả và giá cả sức lao động trở thành công cụ quan trọng để điều tiết thị trường sức lao động

Trong một thị trường cạnh tranh, mức lương được quyết định bởi quan hệ cung cầu

về lao động (xem đồ thị) Đường cong D (nhu cầu lao động) dốc xuống phản ánh giảm khả năng sản xuất cận biên của lao động khi có nhiều người cùng lao động Đường cong

S (cung lao động) dốc lên chứng tỏ mức lương càng cao thì số cung lao động càng lớn; vị trí và độ dốc của S tuỳ thuộc vào trình độ chuyên môn của công nhân và khả năng di động sức lao động về địa lí và nghề nghiệp Mức lương cân bằng Lm là nối hai đường cong cung và cầu cắt nhau (E) Tác động của tiền lương vào cung cầu thị trường lao động còn chịu ảnh hưởng các chính sách của các nghiệp đoàn và của giới chủ Chính phủ có thể tác động vào thị trường lao động bằng quy định mức lương tối thiểu và thời gian ngày làm việc tối đa, hoặc chính sách giá và thu nhập

Trang 23

Tuy nhiên, trên thực tế, thị trường lao động ở nước ta hiện nay là thị trường không hoàn hảo: tiền công, tiền lương trên thị trường chưa hoàn toàn phản ánh đúng giá cả sức lao động Hơn thế nữa, do kinh tế chậm phát triển, khả năng mở mang các ngành nghề thu hút thêm lao động còn thấp, nên cung lao động luôn lớn hơn cầu Vì vậy, để có thể cân bằng đựơc cung - cầu, cần có những chính sách phù hợp để thu hẹp dần khoảng cách giữa chúng với nhau

- Thể chế thị trường sức lao động

Thị trường lao động là sân chơi bình đẳng mà ở đó có nhiều lực lượng tham gia với các vai trò khác nhau: Nhà nước, người sử dụng lao động; người lao động; nhà cung cấp các dịch vụ việc làm; các đối tác xã hội khác Các lực lượng tham gia thị trường lao động

có vai trò khác nhau nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhất là hình thành cơ chế ba bên trong xử lý các quan hệ lao động, đảm bảo hài hoà quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích các bên (lợi ích của người lao động, của người sử dụng lao động và của Nhà nước) vì mục tiêu phát triển chung

- Phân loại thị trường sức lao động

Trong nền kinh tế thị trường, thị trường sức lao động hình thành, phát triển và hoạt động rất đa dạng với nhiều phân lớp khác nhau Trong thực tế thị trường sức lao động được phân chia thành các loại sau đây:

+ Phân theo khu vực chia ra thị trường nông thôn và thị trường thành thị

+ Phân chia theo trình độ quản lý có thị trường sức lao động chính thức và phi chính thức

+ Phân chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật có thị trường sức lao động giản đơn

và thị trường sức lao động qua đào tạo, trong đó có thị trường sức lao động trình độ cao

- Giao dịch trên thị trường sức lao động

+ Giao dịch trên thị trường sức lao động là hoạt động để nối cung cầu sức lao động Trong giao dịch các chủ thể người lao động và người sử dụng lao động hoặc giữa các chủ thể với các tổ chúc trung gian thoả thuận về tuyển dụng và sử dụng sức lao động phù hợp với quy định của pháp luật

+ Các hình thức giao dịch chính thức trên thị trường là:

Trang 24

* Giao dịch trực tiếp: là hình thức người lao động trực tiếp gặp người sử dụng lao

động để thoả thuận về hợp đồng lao động

* Giao dịch gián tiếp: là hình thức người lao động và người sử dụng lao động thoả

thuận về hợp đồng lao động thông qua tổ chức trung gian như thông tin quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, internet, website…; qua trung tâm giới thiệu việc làm; qua hội chợ việc làm và qua các doanh nghiệp cung ứng lao động

1.1.4 Thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Hình thành thị trường sức lao động ở Việt Nam không thể diễn ra trong chốc lát, bởi vì chúng ta đang chuyển đổi từ hệ thống tổ chức lao động tập trung sang thị trường, do vậy phải cần một thời gian dài để tạo lập những bản tính của nền kinh tế thị trường tổng hợp Xây dựng thị trường sức lao động tự do là yếu tố quan trọng nhất cho việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là điều kiện để tăng trưởng có hiệu quả nền kinh tế đó Tuy nhiên, thị trường lao động mới chỉ đạt được những bước đi ban đầu trên con đường giải phóng khỏi những tồn đọng từ hệ thống kinh tế mệnh lệnh hành chính trước đây

1.1.4.1 Sự hình thành cung sức lao động trong nền kinh tế thị trường

Chỉ thị 100 CT/TW (03/1981) Ban bí thứ Trung ương quyết định thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, đã kích thích đầu tư và lao động làm thuê, thúc đẩy quá trình làm xuất hiện hàng hoá sức lao động trong sản xuất nông nghiệp Trong ngành công nghiệp Quyết định 25/CP (1/1981) cho phép các doanh nghiệp nhà nước được quyền mua tư liệu sản xuất và sử dụng lao động, gắn hoạt động của doanh nghiệp nhà nước với thị trường, nhằm mở rộng giao lưu, phát huy tính năng động tích cực của người lao động Như vậy, khi thị trường hàng hoá phát triển đến một mức nào đó thì kéo thị trường sức lao động cũng phát triển tương ứng

Thực tế lúc bấy giờ quan niệm về hàng hoá sức lao động là riêng có của chủ nghĩa

tư bản, là sự bóc lột người lao động, là sự đói nghèo, bần cùng hóa, điều này dẫn đến cơ sở sản xuất cần sức lao động để sản xuất cũng không được phép sử dụng thêm sức lao động, người lao động có sức lao động cũng không được làm thêm, do đó làm cho người lao động

Trang 25

Trong xã hội ta, còn nhiều người có sức lao động chưa có việc làm và chưa sử dụng hết thời gian lao động Khả năng thu hút sức lao động của khu vực nhà nước trong những năm trước mắt còn có hạn Cũng không thể đưa tất cả những người làm ăn cá thể vào các tổ chức kinh tế tập thể trong một thời gian ngắn… [11, tr.55]

Từ các quan hệ thuê mướn, mua bán giữa người có sức lao động và người sử dụng sức lao động được công khai, bình đẳng trước pháp luật Theo đó nhiều nơi hình thành các chợ tự phát, lén lút do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hàng hoá, đã chuyển sang quan hệ thuê mướn lao động ngày càng phổ biến, nhất là trong nông nghiệp Hiện nay các thành phần kinh tế có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tuyển dụng lao động thông qua các hội chợ việc làm, các trung tâm dịch vụ việc làm, các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng yêu cầu chuyên môn, ngành nghề

Mặt khác, Quyết định 217/HĐBT (14/11/1987) đã cho phép các xí nghiệp quốc doanh chuyển dần từ chế độ tuyển dụng biên chế nhà nước sang chế độ hợp đồng lao động Pháp lệnh "Hợp đồng lao động” ngày 30/08/1990 đã thừa nhận phương thức tuyển chọn và

sử dụng lao đông mới, phù hợp với nền kinh tế, trong đó đề cao sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động Hiến pháp 1992 thừa nhận quyền tự do kinh doanh, qua đó tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ thuê mướn lao động được phát triển

Như vậy, thị trường sức lao động đã hình thành và tồn tại ngay trong thể chế kế hoạch hoá tập trung, nhưng nó chỉ lộ diện khi có sự thừa nhận hàng hoá sức lao động Người có sức lao động có quyền bán cho người sử dụng sức lao động, qua đó hình thành sức cung của thị trường Xét đến nay biểu hiện của cung sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua trước hết là quy mô và tốc độ tăng dân số

Trang 26

mà trực tiếp là dân số trong độ tuổi lao động Tính đến năm 2008 dân số nước ta trung bình

là 86,210,800 ngàn người với tốc độ tăng dân số 1,22% trong đó dân số thành thị là 24.233,300 ngàn người, dân số nông thôn là 61.977,500 ngàn người, lao động, lao động đang làm việc ở các ngành kinh tế là 44.915,800 ngàn người, trong đó nông lâm thuỷ sản chiếm 52,62%, công nghiệp - xây dựng 20,83%, dịch vụ 26,55% [32, tr.75]

Theo đánh giá mới của Ngân hàng Thế giới (WB) thì chất lượng lao động của Việt Nam hiện nay mới chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước châu Á tham gia xếp hạng Một nghiên cứu khác cho thấy lao động Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm Trong khi đó, những nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường lao động toàn cầu Nguồn lao động của nước ta có năng suất lao động quá thấp, đứng thứ 77/125 nước và vùng lãnh thổ, sau cả Indonesia, Philippine và Thái Lan

1.1.4.2 Sự hình thành cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Cùng với quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong CNXH, việc thừa nhận sức lao động là hàng hoá đã làm cho người lao động thực sự làm chủ bản thân mình, được xã hội đánh giá, trả công xứng đáng với giá trị đích thực của

họ Những mặt tích cực của sức lao động trở thành hàng hóa được kế thừa và phát huy, những mặt tiêu cực do bản chất của chế độ TBCN quy định hoặc do điều kiện lịch sử hạn chế đã được khắc phục và ngăn ngừa

Tuy nhiên từ chỗ xoá bỏ phạm trù hàng hoá sức lao động, đến chỗ thừa nhận sức lao động là hàng hoá đối với nước ta là cả một quá trình Đây là quá trình vận động đi từ tất yếu của thực tế đời sống đến tất yếu trong nhận thức lý luận Ngay từ khi chưa có chỉ Chỉ thị 100 CT/TW (03/1981) Ban Bí thứ Trung ương về khoán trong nông nghiệp thì ở nhiều địa phương nước ta đã hình thành "chợ lao động” ví dụ như ở Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú… thị trường sức lao động ở nước ta đã manh nha hình thành và phát triển trước khi chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

Như vậy, cầu lao động đã hình thành từ chỗ đáp ứng nhu cầu riêng lẻ từng cơ sở, dẫn đến hình thành cầu sức lao động tổng thể của nền kinh tế Ở nước ta tốc độ tăng dân số

Trang 27

Cầu lao động trong nước có xu hướng tăng về cả số lượng và chất lượng Số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng những năm gần đây Theo số liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê, ước tính tổng số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh đến cuối năm 2006 là 234 ngàn doanh nghiệp Ngoài ra, với khoảng 2 ngàn làng nghề, 110 ngàn trang trại, 2 triệu hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương, tiểu chủ đã thu hút khoảng 15 triệu lao động vào làm việc, trong đó có hơn 5 triệu làm theo hợp đồng, đưa tổng số lao động làm công ăn lương lên trên 13 triệu (trong đó có khoảng gần 2 triệu làm việc trong khu vực hành chính sự nghiệp), chiếm khoảng 30% lao động xã hội Số lao động đang có việc làm tính đến tháng 7/2006 là 43.843 ngàn người, tăng 386 ngàn người

so với năm 2005, tốc độ tăng 0,9%/năm

Nhìn chung, cầu lao động ngày càng tăng về số lượng và chất lượng trên thị trường lao động chung ở nước ta, đặc biệt tăng mạnh và đa dạng ở cầu lao động theo quan hệ làm công ăn lương Tuy nhiên số lượng lao động là người nước ngoài có trình độ quản lý, chuyên môn kỹ thuật cao đang gia tăng, do người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được nhất là trong các ngành dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, khai thác dầu khí, xây dựng các công trình lớn Thị trường lao động Việt Nam đã hình thành, đang từng bước phát triển với

hệ thống cơ chế, chính sách đã được ban hành tương đối đồng bộ

Cầu về sức lao động hiện nay còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác, như là tác động từ sự dịch chuyển cơ cấu của nền kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động, thay đổi cầu sức lao động Tổng số lao động đang làm việc tăng thêm của cả nước từ năm 1990 đến năm 2007 (gần 14,8 triệu người), thì nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản đóng góp 2.627,8 ngàn người, chiếm 17,8%, trong khi nhóm ngành công nghiệp - xây dựng đã đóng góp 5.332,6 ngàn người, chiếm trên 36%, đặc biệt nhóm ngành dịch vụ đã đóng góp 6.799,2 ngàn người chiếm trên 46,9% Nhờ vậy, tỷ trọng trong tổng số lao động đang làm

Trang 28

việc của nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản đã giảm từ 73% xuống còn 54,6%, của nhóm ngành công nghiệp - xây dựng đã tăng từ 11,2% lên 19,6%, của nhóm ngành dịch vụ

đã tăng từ 15,7% lên 25,9% Đây là một trong những yếu tố góp phần làm cho cơ cấu kinh

tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp - thuỷ sản, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ

Tuy nhiên, thị trường lao động hiện nay phát triển không đều giữa các vùng, địa phương; hệ thống thông tin thị trường lao động chưa hoàn thiện; các trung tâm giới thiệu việc làm chưa đáp ứng được yêu cầu; chất lượng lao động qua đào tạo còn thấp, chưa gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động … đã tác động trực tiếp đến cầu lao động

1.1.4.3 Sự hình thành giá cả hàng hóa sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam

Ngày nay, ở nước ta chưa có một cơ quan hay tổ chức nào chính thức theo dõi tình hình giá cả sức lao động trên thị trường lao động những năm qua, Nhà nước đã sử dụng mức tiền lương tối thiểu làm công cụ chủ yếu để điều tiết quan hệ cung - cầu trên thị trường Từ năm 1993 đến nay, mức lương tối thiểu luôn được điều chỉnh theo sự biến động của giá trên thị trường, cụ thể: mức tiền lương tối thiểu áp dụng chung từ 01/01/1993 là 120.000 đồng/tháng/người; từ 01/07/1997 là 144.000 đồng/tháng; từ 01/01/2000 là 180.000 đồng/tháng; từ 01/01/2001 là 210.000 đồng/tháng; từ 01/01/2002 là 290.000 đồng/tháng Theo Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 của Chính phủ là 350.000 đồng/tháng (từ ngày 01/10/2005) và từ 01/10/2006 theo Nghị định 94/2006/NĐ-

CP là 450.000 đồng/tháng Từ ngày 01/01/2008 đã điều chỉnh từ 450.000đồng lên 540.000 đồng/tháng theo Nghị định 166/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007 quy định mức lương tối thiểu chung

Đối với các loại hình doanh nghiệp, tiền lương tối thiểu hiện nay được quy định là khác nhau Chính sách tiền lương đối với các doanh nghiệp được quy định tại Bộ luật Lao động và các văn bản dưới luật như: Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương; Nghị định số 205/2004/NĐ-CP, Nghị định số 206/2004/NĐ-CP, Nghị định số 207/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ, Nghị định 94/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006, Nghị định 03/2006/NĐ-CP ngày 06/01/2006 của Chính phủ, Nghị định

Trang 29

167/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007, Nghị định 168/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007 và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội… Cụ thể:

- Đối với doanh nghiệp nhà nước, áp dụng mức thấp nhất bằng tiền lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 3 lần mức lương tối thiểu chung, cụ thể là từ 450.000 đến 1.350.000 đồng/tháng theo Nghị định 94/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006 của Chính Phủ

- Đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp hợp tác xã có thuê lao động, doanh nghiệp gia đình có thuê lao động là 450 đồng/tháng (từ ngày 01/10/2006)

- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được trả thấp hơn 710.000 đồng đến 870.000 đồng/tháng, tùy theo khu vực, lãnh thổ do Nhà nước quy định (Nghị định 03/2006/NĐ-CP ngày 06/01/2006 của Chính phủ) [15, tr.4-5] Như vậy, đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì mức lương tối thiểu được quy định cao hơn Và theo Nghị định 168/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007, quy định mức lương tối thiểu vùng dùng để trả công đối với người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam (gọi chung là doanh nghiệp) thực hiện

từ ngày 01/01/2008 theo các vùng như sau: Mức 1.000.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Mức 900.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; các quận thuộc thành phố Hải Phòng; thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh; thành phố Biên Hoà, thị xã Long Khánh, các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu và Tràng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai; thị xã Thủ Dầu Một, các huyện: Thuận An, Dĩ An, Bến Cát và Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương; thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu Mức 800.000 đồng/tháng

áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn còn lại

Và theo Nghị định 167/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thể thuê mướn lao động Với mức lương tối thiểu vùng để trả công đối với người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường ở các doanh nghiệp quy định tại Điều 1

Trang 30

Tuy có sự điều chỉnh nhưng nhìn chung chính sách tiền lương của chúng ta vẫn còn bộc lộ một số hạn chế: thứ nhất, mức lương tối thiểu còn thấp so với yêu cầu sinh hoạt cần thiết, có sự quy định không thống nhất giữa các khu vực nên tạo ra sự không bình đẳng trên thị trường, chính vì thế tiền lương trả cho người lao động ở nhiều doanh nghiệp nhất

là khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa gắn với thị trường; thứ hai, hệ thống tiền lương còn quá nhiều thang, bảng lương và khoảng cách giữa các bậc lương nhỏ, tiền lương danh nghĩa tăng nhưng tiền lương thực tế giảm sút; thứ ba, hệ thống tiền lương kém linh hoạt và trong khu vực nhà nước đa số tuyển dụng biên chế và một số điều kiện hợp đồng lao động quá chặt chẽ làm cho quá trình tinh giảm biên chế và gỉai quyết lao động dôi dư rất khó khăn

Như vậy, giá cả sức lao động trên thị trường lao động là một vấn đề quan trọng có sức nhạy cảm cao, đòi hỏi vai trò quản lý định hướng của nhà nước nhằm đảm bảo lợi ích của người lao động và của doanh nghiệp, đồng thời bản thân người lao động cũng phải tự nâng cao trình độ tay nghề để đạt một mức thu nhập hợp lý, và từng doanh nghiệp cũng phải quan tâm đến người lao động

1.1.4.4 Quan điểm, chủ trương của Đảng ta về phát triển thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây các vấn đề về lao động (đào tạo, phân bổ, sử dụng và trả công…) được thực hiện theo một kế hoạch thống nhất từ trên xuống và bắng các quyết định hành chính, mệnh lệnh, nên trong khu vực Nhà nước không hình thành quan hệ thuê mướn lao động Tuy nhiên ở miền Nam kinh tế khu vực ngoài quốc

Trang 31

doanh phát triển mạnh theo kinh tế hàng hóa, việc thuê mướn lao động vẫn tồn tại và có xu hướng phát triển Do vậy, thị trường lao động cũng được phát triển theo và sau đó là miến Bắc

Từ năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu mốc quan trọng về đường lối đổi mới toàn diện ở nước ta Trước hết là tư duy kinh tế, chuyển nền kinh tế từ sản xuất tự cung, tự cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hoá Đây là điều kiện quan trọng

để hình thành thị trường lao động

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, nhận thức về thị trường lao động đã rõ ràng hơn Khái niệm "thất nghiệp” chính thức được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội Tư tưởng giải phóng sức lao động trên cơ sở tự do hóa lao động đã được khẳng định: Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở rộng ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nhận thức về thị trường lao động đã được nâng cao lên một bước cao hơn và được thể hiện thành chủ trương: thức đẩy sự hình thành và từng bước hòan thiện thị trường lao động; hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch; Nhà nước phải có chính sách mở rộng thị trường lao động trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đồng thời phát triển hệ thống bảo hiểm việc làm nhằm bảo vệ người lao động gặp rủi ro trong cơ chế thị trường

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X nhận thức về thị trường lao động được cụ thể và

rõ nét hơn: Tiếp tục hoàn chỉnh thể chế thị trường lao động theo hướng bảo đảm hài hoà lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động; hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tạo môi trường thông suốt để phát triển thị trường lao động theo hướng gắn kết cung - cầu lao động; đa dạng hoá các hình thức giao dịch việc làm, phát huy tính tích cực và bảo đảm quyền của người lao động lựa chọn chỗ làm việc Thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cả người lao động và người sử dụng lao động; thực hiện chế độ bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp Tăng cường hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động Đẩy mạnh xuất khẩu lao động và tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động này

Trang 32

Như vậy, quá trình nhận thức và phát triển của Đảng ta về thị trường lao động ở Việt Nam là theo định hướng XHCN, phù hợp với quá trình đổi mới tư duy về kinh tế và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với quan điểm và nội dung chủ yếu là:

- Khẳng định thị trường lao động theo định hướng XHCN là một trong những thị trường quan trọng của nền kinh tế với đa hình thức sở hữu, đa thảnh phần kinh tế, sản xuất lớn, mở cửa và hội nhập quốc tế

- Cơ chế hoạt động của thị trường lao động tuân thủ các quy luật khách quan như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu với hệ thống pháp luật và lộ trình cải cách nhằm đảm bảo thị trường lao động phát triển lành mạnh, hiệu quả

- Hướng vào mục tiêu tăng trưởng bền vững và phát triển con người là trung tâm, đầu tư con người là đầu tư cho phát triển; giải phóng và phát huy triệt để tiềm năng con người, tạo nhiều việc làm, giảm thất nghiệp, cải thiện đời sống cho người lao động;

- Quan hệ giữa các bên quan hệ lao động là quan hệ hợp tác, hài hoà lợi ích, đồng thuận, đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị, xã hội;

- Nhà nước thực hiện chức năng thể chế hoá; tổ chức; kiểm soát, điều tiết thị trường lao động; đồng thời có giải pháp vĩ mô để giải quyết những vấn đề lịch sử của thời kỳ bao cấp về lao động

Đây là quá trình chuyển đổi rất căn bản về quan điểm, nhận thức về thị trường lao động, tạo điều kiện, nhân tố, động lực cho đất nước phát triển từ nguồn vốn quý nhất là lao động; người lao động trở thành chủ thể trong lao động, tạo việc làm cho mình và cho người khác; nâng cao chất lượng việc làm và việc làm với giá trị ngày càng cao; thu hút được đầu tư nước ngoài ngày càng lớn và tích cực, chủ động hội nhập, tham gia vào thị trường lao động khu vực và quốc tế…

Điều đó cho thấy rằng, thị trường lao động ở Việt Nam không chỉ chính thức được công nhận là cần thiết phải phát triển, mà còn được thể hiện rõ nu cầu phải đẩy nhanh sự phát triển của loại thị trường đặc biệt này Các định hướng cho việc sắp xếp, tiếp tục phát triển các quan hệ trên thị trường lao động cũng bước đầu được xác định, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước trong việc khuyến khích, tạo cơ hội về việc làm cho người dân, tạo điều kiện thuận lợi dịch chuyển lao động; khuyến khích xuất khẩu lao động,

Trang 33

khuyến khích phát triển hoạt động đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề kỹ thuật cho người lao động; tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào hoạt động của thị trường lao động

- Điều kiện đảm bảo sự phát triển thị trường hàng hoá sức lao động

Thứ nhất, hoàn thiện môi trường pháp lý cho phép tồn tại phát triển thị trường sức

lao động bao gồm: thể chế hoá các chủ trương quan điểm của Đảng và Nhà nước thành cơ chế, chính sách thiết thực hỗ trợ phát riển thị trường lao động; thành lập và phát triển các

tổ chức thị trường lao động, đặc biệt là các tổ chức đảm bảo cho giai dịch trên thị trường lao động hoạt động bình thường (thông tin thị trường lao động, tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động, hội chợ việc làm, sàn giao dịch việc làm…); hình thành cơ cấu tổ chức quản lý và điều tiết của Nhà nườc đối với sự hoạt động của thị trường lao động (kiểm tra, giám sát sự hoạt động của thị trường lao động, điều tiết quan hệ cung - cầu lao động, xử lý những khiếm khuyết của thị trường lao động …)

Thứ hai, tạo cung lao động đáp ứng thị trường về số lượng, chất lượng và cơ cấu

ngành nghề Vấn đề quan trọng nhất là phải tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhất là đào tạo

kỹ thuật thực hành trình độ cao; tăng tỷ trọng lao động làm công ăn lương trong tổng lực lượng lao động

Thứ ba, tăng cầu lao động thông qua phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ trong

các khu kinh tế, thành phần kinh tế, nhất là về số lượng và quy mô các loại hình doanh nghiệp hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ… thuê mướn lao động, tạo ra sự linh hoạt trong lao động làm thuê giữa các thành phần kinh tế và các vùng; tăng thị phần người Việt Nam làm việc có thời hạn ở nước ngoài, kể cả mở rộng khả năng cho người lao động

tự tiếp cận được với thị trường lao động khu vực và quốc tế

Thứ tư, sự tác động của thị trường thế giới vào thị trường lao động Việt Nam ngày

càng mạnh hơn, làm cho cạnh tranh nàgy càng gay gắt, kể cả thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc tế; cơ hội thu hút các nguồn đầu tư, tạo việc làm tăng, nhưng tính chất rủi ro trong lao động (thất nghiệp, mất việc làm…) cũng sẽ gia tăng, do sự tác động bởi biến động của thị trường khu vực và quốc tế, trong khi hệ thống an sinh xã hội, đảm bảo việc làm trong nước chưa hoàn thiện so với yêu cầu, cho nên cần phải cải thiện các điều kiện liên quan đến sự phát triển của thị trường lao động

Trang 34

Những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc xây dựng và phát triển kinh

tế thị trường là quá rõ ràng: đã thiết lập được cơ chế thị trường quy định giá cả, tỷ giá, lãi suất; đã hình thành các thị trường cơ bản dù còn sơ khai; các thành phần kinh tế, các chủ doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh đã được khuyến khích phát triển và đảm bảo quyền

tự chủ kinh doanh rộng rãi; hệ thống các luật kinh tế thị trường đã được ban hành tuy còn khiếm khuyết; nền kinh tế đã mở cửa và hội nhập quốc tế v.v Việt Nam đã chuyển đổi sang kinh tế thị trường không phải với giá phải trả là suy thoái và trì trệ, mà với phần thưởng là liên tục tăng trưởng cao và mức sống của dân cư được cải thiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế làm cho các ngành kinh tế chuyển dịch rõ nét, theo đó cơ cấu lao động cũng chuyển dịch theo Lực lượng lao động ngày tăng cao về số lượng cũng như chất lượng, một phần nào đáp ứnh nhu cầu phát triển kinh tế hiện nay

Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường đã đạt được những thành tựu nhất định, trong nền kinh tế những tín hiệu khả quan

về tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ đầu tư trong và ngoài nước, dẫn đến sự ra đời của hàng loạt doanh nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất, cũng tạo ra “cơn sốt” thiếu hụt nguồn lao động tuyển dụng trên thị trường sức lao động

Các dòng di chuyển lao động đến các tỉnh, thành phát triển công nghiệp đặc biệt là

di chuyển đến Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để lao động, làm cho thị trường lao động

có sự thay đổi giữa cung và cầu lao động, di chuyển lao động đã góp phần đáp ứng các nhu cầu cấp thiết về lao động của nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là những ngành sử dụng nhiều lao động, giúp mở rộng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trang 35

Tuy nhiên, khi phát triển kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến thất nghiệp xảy ra trong quá trình phát triển, đặc biệt là thất nghiệp lao động nông thôn Vai trò quản lý của Nhà nước về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong lực lượng lao động hiện nay ở nước ta

1.2.2 Cầu về lao động

Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta thì cơ cấu lao động cũng chuyển dịch theo, lao động trong công nghiệp - xây dựng và dịch vụ có xu hướng ngày càng tăng, lao động trong nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm, do vậy, nhu cầu lao động trong công nghiệp và dịch vụ tăng và lao động trong nông nghiệp sẽ giảm

Tuy nhiên, một nghịch lý giữa cung - cầu lao động vẫn diễn ra lâu nay là tình trạng vừa thiếu, vừa thừa! Các doanh nghiệp trong các khu vực kinh tế không tuyển được lao động có tay nghề, trong khi có không ít người lao động phải chạy đôn chạy đáo kiếm việc làm Thiếu lao động phổ thông diễn ra ngày càng nhiều, nhưng tình trạng thừa lao động tại các doanh nghiệp cũng không ít Nhiều doanh nghiệp không gồng nổi việc trả lương cho các lao động phổ thông do không có đơn hàng, hoặc do bị ảnh hưởng bởi tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu, buộc phải sang tên đổi chủ Cùng là một ngành nghề, ví dụ như may mặc, trước kia số lượng doanh nghiệp ít, nay nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào, trong khi nhu cầu thị trường không tăng là bao, tạo nên sự cạnh tranh cả trong sản xuất lẫn thu hút lao động

Thực tế đó cho thấy, xã hội không thiếu việc làm mà do người lao động thiếu sự chuẩn bị cho nhu cầu của xã hội Hơn nữa, tác phong công nghiệp của người lao động hiện nay còn kém, ý thức chấp hành quy định nơi làm việc, nhất là lao động nam còn chưa nghiêm, chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp chất lượng cầu lao động không đáp ứng được, lao động qua đào tạo không theo kịp thực tế doanh nghiệp phát triển, yêu cầu của doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi lao động phải có chuyên môn kỹ thuật và học vấn cao Như vậy, cần phải nâng cao chất lượng cầu lao động cũng nhu số lượng cầu để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường sức lao động

1.2.3 Nguồn nhân lực ảnh hưởng đến cung lao động

Trang 36

Trình độ nhân lực chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường lao động trong nước và quốc tế Một bộ phận không nhỏ lao động nước ta vẫn còn có thói quen và tập quán của người sản xuất nhỏ, chưa có tác phong công nghiệp Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới sự tham gia của lao động Việt Nam trong việc phân công lao động quốc tế ngay tại thị trường trong nước (khi có sự tham gia của các doanh nghiệp liên doanh, của các tập đoàn đa quốc gia )

Nguồn nhân lực chất lượng cao thì chất lượng cung lao động cao đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nhưng thực tế, hiện tượng “khát” lao động có tay nghề diễn

ra ở hầu hết các khu công nghiệp và khu chế xuất trên cả nước Thực tế cho thấy, tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng vẫn tiếp tục diễn ra ở các ngành nghề sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, gỗ, tiếp đó là các ngành nghề về lĩnh vực du lịch Nhìn vào tình hình cung ứng lao động cũng như chất lượng lao động cho thấy Việt Nam vừa thiếu hụt, vừa mất cân đối nghiêm trọng Đây là vấn đề đặt ra đối với hệ thống đào tạo, dạy nghề hiện nay ở nước ta, cần có giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cung lao động để đáp ứng yêu cầu của thị trường sức lao động hiện nay

1.2.4 Thu nhập và mức sống của người lao động

Hiện nay thu nhập thực tế của người lao động rất thấp, đặc biệt là lao động nhập cư, với mức lương bình quân một lao động trên dưới 1 triệu đồng như hiện nay đối với lao động thì học không có điều kiện để nâng cao trình độ cũng như cải thiện đời sống, do vậy, đây cũng là nhân tố làm ảnh hưởng đến thị trường sức lao động thị trường sức lao động

Trang 37

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.3.1 Kinh nghiệm thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có thị trường lao động phát triển sớm và khá sôi động, cung lao động, đặc biệt là cung lao động tiềm năng rất lớn Theo kết quả khảo sát của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP.HCM năm 2005, cứ 03 người đang làm việc tại các doanh nghiệp thì có 01 người là lao động ngoại tỉnh Riêng tại các khu công nghiệp, khu chế xuất cứ 10 lao động làm việc trong ngành da giày và may mặc có 08 người là lao động ngoại tỉnh

Lực lượng lao động tính đến năm 2005 có 4.164.160 người, lao động cần giải quyết việc là 245.690 lao động Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng dần qua các năm

2001 là 33,17%; năm 2002 là 45,48%; đến năm 2005 là 48,31% trong tổng số lao động đang làm việc

Phát triển thị trường sức lao động trong thời gian tới thành phố Hồ Chí Minh thực hiện một số biện pháp sau:

- Đối với cung sức lao động

Để đảm bảo cho nguồn cung sức lao động cho thị trường lao động thì vấn đề cần ưu tiên đến là cần chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em, trong đó cần thực hiện tốt chủ trương kế hoạch hóa gia đình để đảm bảo nguồn nhân lực cho quá trình phát triển của

Trang 38

Do đó công tác đào tạo nguồn nhân lực cần phải được thực hiện thường xuyên, lâu dài

+ Đảm bảo di chuyển tự do dưới sự chi phối của tiền công, tiền lương

Trong thời gian tới thành phố Hồ Chí Minh cần tạo điều kiện cho người lao động, nhất là lao động đã qua đào tạo được tự do di chuyển chỗ làm khi cần thiết, tạo ra môi trường thông thoáng trong chuyển dịch cung lao động Đối với lao động phổ thông Thành phố cần khuyến khích hỗ trợ về vốn, hỗ trợ phát triển các ngành nghề thu hút và sử dụng nhiều lao động tại chỗ, qua đó làm giảm sức ép về phí cung lao động trong giai đoạn hiện nay Đồng thời cũng cần có chính sách thu hút các du học sinh, sinh viên tài năng… cùng với một chiến lược quản lý nhân sự chặt chẽ là giải pháp tốt nhất để làm hạn chế thiếu hụt lao động chất lượng cao của Thành phố trong giai đoạn tới

- Đối với cầu sức lao động

Giải pháp tăng cầu sức lao động đối với thị trường sức lao động thành phố Hồ Chí Minh thời gian tới cần thực hiện tốt các nội dung chủ yếu sau:

+ Hoàn thiện các quy định của pháp luật, tạo môi trường cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước phát triển

Trong những năm qua, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu vực có sự tăng trưởng cao và thu hút được nhiếu lao động, nhiều chỗ việc làm mới Vì thế việc tạo điều kiện cho khu vực này phát triển có nghĩa là cầu sức lao động ở Thành phố cũng phát triển

Do vậy, để tạo việc làm cho khu vực này trong thời gian tới cần: ổn định thể chế và kinh tế

Trang 39

vĩ mô, tạo ra môi trường ổn định thì mới đảm bảo lợi ích trong hoạt động đầu tư, mới thu hút được nguồn vốn đầu tư và trở thành động lực lôi kéo các thành phần kinh tế tham gia phát triển; có chính sách khuyến khích, sẵn sàng tư vấn hỗ trợ kinh tế dân doanh về tài chính thông tin, đào tạo nhân lực…

+ Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, qua đó góp phần tạo việc làm cho người lao động

Cơ cấu lao động của Thành phố chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Muốn vậy cần phải kích cầu lao động của các khu doanh nghiệp, các thành phần kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, coi trọng việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn

+ Phát triển cơ sở hạ tầng và đẩy mạnh xuất khẩu lao động

Thành phố là địa phương có hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển Thành phố là đầu mối giao thông đi các tỉnh Nam bộ, đồng bằng Sông Cửu Long, ra biển Đông và sang Campuchia… Những năm qua cơ sở hạ tầng của Thành phố không ngừng được mở rộng

và nâng cấp, chính việc cơ sở hạ tầng phát triển tạo điều kiện cho quá trình tăng trưởng kinh tế cao

Song song với quá trình phát triển và hoàn thiện về cơ sở hạ tầng, cần tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lao động vào thị trường các nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển, trước mắt nhằm giải quyết tốt việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời đào tạo đội ngũ công nhân có chuyên môn, tay nghề, tiếp cận được công nghệ mới, cách quản lý, tác phong của các nước công nghiệp, đây chính là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

1.3.2 Kinh nghiệm ở thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng là thành phố có diện tích tự nhiên 1.255,53 km2, dân số tính đến năm 2007

là 806,746 nghìn người, trong đó thành thị là 699,836 nghìn người chiếm 86,8% và ở nông thôn là 106,910 nghìn người chiếm 13,2% Để giải quyết những vấn đề đặt ra đối với thị trường lao động Đà Nẵng trong thời gian qua, trên cơ sở thống nhất quản lý nhà nước trên thị trường lao động, thành phố Đà Nẵng đã ban hành nhiều quyết định, văn bản pháp quy nhằm triển khai pháp luật của Nhà nước tạo sự phát triển cho thị trường lao động tại địa

Trang 40

phương nói riêng và cả khu vực miền Trung Tây nguyên nói chung Thông qua các văn bản đó mà Đà Nẵng đã phần nào điều tiết được quan hệ cung, cầu lao động trên thị trường, đồng thời khuyến khích tăng cầu lao động, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng cung sức lao động cho thị trường lao động và xử lý các khiếm khuyết thị trường sức lao động

Đà Nẵng có 6 trường đại học, 13 trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp và một hệ thống trường dạy nghề cũng như các cơ sở đào tạo tin học ngoại ngữ, hàng năm thành phố đào tạo được hàng chục nghìn lao động trẻ có kiến thức khá vững vàng, tác phong công nghiệp, năng động, nhiệt tình, ham học hỏi và tinh thần trách nhiệm cao, hình thành lực lượng lao động có chất lượng hàng đầu của khu vực miền Trung Tây Nguyên

Hệ thống các trường này nằm ngay trên địa bàn của thành phố, tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc nâng cao chất lượng nguồn lao động ở Đà Nẵng Đây là đặc điểm mà nhiều địa phương khác khó và ít có được, ngoài ra Đà Nẵng còn có hơn 50 trung tâm dạy nghề Hàng năm các trường và trung tâm đã đào tạo hàng ngàn lao động có trình độ chuyên môn

kỹ thuật, trình độ tay nghề đáp ứng nhu cầu trên thị trường lao động không chỉ cho thành phố mà cả khu vực miền Trung

Để tạo điều kiện cho thị trường lao động hoạt động có hiệu quả, thành phố Đà Nẵng

đã đầu tư phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, hệ thống dịch vụ của thị trường, chính sách hỗ trợ người thất nghiệp, nhóm lao động yếu thế có cơ hội hoà nhập vào thị trường lao động Thông qua phòng Tư Vấn Quan Hệ lao động nhằm cung cấp các dịch vụ tư vấn cho người sử dụng lao động và người lao động tại nơi làm việc kể từ thời điểm phát sinh quan hệ lao động bằng việc giao kết hợp đồng lao động như: giải quyết khó khăn về quan hệ lao động, bổ trợ kiến thức về lao động… Đồng thời đưa vào trang tin điện tử "Người tìm việc - việc tìm người” nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người có sức lao động và người có nhu cầu sử dụng sức lao động

Tuy nhiên, thông tin thị trường lao động vẫn còn bị chia cắt, chưa có một hệ thống thông tin thống nhất, cập nhật thường xuyên về việc làm và thất nghiệp trên địa bàn Hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm, những gắn kết, chia sẻ thông tin thị trường lao động, chưa thành một hệ thống thật sự Doanh nghiệp hoạt động này chưa có nhiều

Ngày đăng: 27/06/2014, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Bá - Nguyễn Thị Kim Dung - Trần Hữu Hân (2003), Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Bá - Nguyễn Thị Kim Dung - Trần Hữu Hân
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2003
2. Nguyễn Ngọc Bình (2008), Thị trường sức lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh dưới tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường sức lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh dưới tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2008
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2007), Bộ luật Lao động được sửa đổi, bổ sung năm 2006 (thực hiện từ 01/07/2007), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Lao động được sửa đổi, bổ sung năm 2006 (thực hiện từ 01/07/2007)
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2007
6. Bộ Tài Chính - Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội (2008), Thông tư liên tịch Số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch Số
Tác giả: Bộ Tài Chính, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội
Năm: 2008
7. Cục Thống kê tỉnh Bình Dương (2008), Niên giám thống kê 2007 , Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2007
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Bình Dương
Năm: 2008
8. Trần Kim Dung (2003), Quản trị nguồn nhân lực, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Kim Dung
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
9. Nguyễn Hữu Dũng (2005), Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2005
10. Ngô Văn Dụ - Trần Xuân Giá (2006), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng
Tác giả: Ngô Văn Dụ - Trần Xuân Giá
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1987
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Nguyễn Văn Điềm - Nguyễn Ngọc Quân (2004), Quản trị nhân lực, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân lực
Tác giả: Nguyễn Văn Điềm - Nguyễn Ngọc Quân
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2004
16. Nguyễn Quang Hiển (1995), Thị trường lao động - thực trạng và giải pháp, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Quang Hiển
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1995
17. Nguyễn Đình Hương (2006), Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị "trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Hương
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
18. Lê Thu Hường (2008), Lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Nghệ An, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Nghệ An
Tác giả: Lê Thu Hường
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2008
19. Nguyễn Thị Hương Lan (2002), Thị trường lao động Việt Nam - định hướng và phát triển, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động Việt Nam - định hướng và phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Lan
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2002
20. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
21. K.I. Mykylski (1995), Thị trường lao động ở Nga: vấn đề hình thành và điều tiết, Nxb MGU, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động ở Nga: vấn đề hình thành và điều tiết
Tác giả: K.I. Mykylski
Nhà XB: Nxb MGU
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Lao động công nghiệp phân theo thành phần kinh tế năm 2007 - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.1 Lao động công nghiệp phân theo thành phần kinh tế năm 2007 (Trang 46)
Bảng 2.2: Diễn biến dân số từ năm 2001 - 2007 - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.2 Diễn biến dân số từ năm 2001 - 2007 (Trang 48)
Bảng 2.3: Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi năm 2006 - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.3 Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi năm 2006 (Trang 49)
Bảng 2.4: Tình hình biến động LĐ tại các doanh nghiệp năm 2007 - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.4 Tình hình biến động LĐ tại các doanh nghiệp năm 2007 (Trang 50)
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn phổ thông - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.5 Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn phổ thông (Trang 51)
Bảng 2.6: Lực lượng lao động ngoại tỉnh theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.6 Lực lượng lao động ngoại tỉnh theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ (Trang 52)
Bảng 2.7: Lao động đủ 15 tuổi trở lên có việc làm - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.7 Lao động đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (Trang 53)
Bảng 2.9: Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.9 Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ (Trang 60)
Bảng 2.11: Lao động nước ngoài tại các doanh nghiệp năm 2007 theo khu vực - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.11 Lao động nước ngoài tại các doanh nghiệp năm 2007 theo khu vực (Trang 61)
Bảng 2.12: Tỷ lệ lao động qua đào tạo đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.12 Tỷ lệ lao động qua đào tạo đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp (Trang 64)
Bảng 2.13: Lao động thất nghiệp năm 2005 - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.13 Lao động thất nghiệp năm 2005 (Trang 65)
Bảng 2.14: Cơ cấu hệ thống mạng lưới dạy nghề theo hình thức đào tạo - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.14 Cơ cấu hệ thống mạng lưới dạy nghề theo hình thức đào tạo (Trang 71)
Bảng 2.15: Tình hình đào tạo nghề, giải quyết việc làm - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 2.15 Tình hình đào tạo nghề, giải quyết việc làm (Trang 72)
Bảng 3.3: Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo tỉnh Bình Dương - LUẬN VĂN:Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương hiện nay doc
Bảng 3.3 Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo tỉnh Bình Dương (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w