Mặc dù từ Đại hội IX năm 2001, Đảng ta đó có chủ trương đa dạng hóa đầu tư phát triển KH&CN, nhưng đến nay hầu như vẫn không có sự quan tâm của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước vào
Trang 2
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phỏt triển kinh tế - xó hội của mỗi nền kinh tế đều phụ thuộc rất lớn vào khoa học và công nghệ (KH&CN) Nhận thức được điều đó, trong những năm qua, để thúc đẩy quá trỡnh cụng nghiệp húa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước
ta đó rất chỳ trọng đến phát triển KH&CN Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng xác định KH&CN cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu ở nước ta hiện nay Nghị quyết Đại hội IX của Đảng chỉ rừ: “Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục cú nhiều biến đổi, khoa học
và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức sẽ có vai trũ ngày càng nổi bật trong quỏ trỡnh phỏt triển lực lượng sản xuất Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng có nhiều nước tham gia” Cần tạo ra năng lực nội sinh về KH&CN đủ khả năng ứng dụng các công nghệ hiện đại, tiếp cận trỡnh độ thế giới và tự phát triển trên một số lĩnh vực, nhất là công nghệ thông tin Nghị quyết Đại hội X (năm 2006) của Đảng nêu “phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ… tạo động lực đẩy nhanh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức”
Để thực hiện chủ trương này, Nhà nước đó dành một lượng vốn lớn đầu tư cho phát triển KH&CN Trong một số năm gần đây, đầu tư cho KH&CN đó chiếm 2% tổng chi ngân sách tức là khoảng 0,5% GDP của cả nước Việc quan tâm đầu tư nói trên đó đem lại những kết quả khích lệ Tiềm lực KH&CN đó được tăng cường từ việc xây dựng cơ quan làm việc, các xưởng, trại thực nghiệm, phũng thớ nghiệm đến sửa chữa nhỏ, tăng cường máy móc thiết bị hiện đại Nhờ vậy, điều kiện làm việc và nghiên cứu khoa học được cải thiện một bước Cán bộ KH&CN đó được đào tạo, nâng cao trỡnh
độ Đó cú được những đề tài khoa học và sản phẩm công nghệ có giá trị phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
Tuy nhiên, đến nay hoạt động KH&CN của nước ta cũn rất hạn chế Trong đó, vấn đề đầu tư cho KH&CN chưa thật sự được chú trọng, nhất là đấu tư cho các dự án khoa học có điều kiện nghiên cứu và ứng dụng, gắn kết với nhu cầu thực tiễn của các ngành kinh tế quốc dân, nâng cao năng lực công nghệ nội sinh cũn nhiều bất cập
Trang 3
KH&CN nên vẫn chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế,
xó hội, chậm đưa vào ứng dụng những kết quả đó nghiờn cứu được, trỡnh độ công nghệ cũn thấp nhiều so với các nước xung quanh Năng lực tạo ra cụng nghệ mới cũn rất cú hạn, chưa đáp ứng được yêu cầu phỏt triển kinh tế - xó hội của đất nước
Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra hạn chế này là nguồn vốn đầu
tư cho hoạt động KH&CN cũn rất thấp Tỷ lệ vốn đầu tư cho KH&CN nếu tính cả đầu
tư của khu vực ngoài nhà nước mới chỉ khiêm tốn ở mức khoảng 0,6% GDP, trong khi
đó, năm 2004 con số này của các nước EU đó là 1,95% GDP, Nhật Bản là 3,15% GDP, Trung Quốc là 1,31% GDP, Hoa Kỳ là 2,59% GDP, Hàn Quốc là gần 5% GDP Nếu tớnh mức đầu tư cho hoạt KH&CN trên đầu người, thỡ Việt Nam mới đạt khoảng 5 USD (năm 2007), trong khi của Trung Quốc là khoảng 20 USD (năm 2004) và đặc biệt
là Hàn Quốc khoảng 1.000 USD (năm 2007) Đầu tư cho KH&CN của Việt Nam vào loại thấp nhất trong khu vực kể cả theo tỷ lệ % GDP lẫn tỷ trọng xó hội húa về vốn đầu
tư
Mức đầu tư thấp là một nguyên nhân khiến cho nhiều đề tài không đủ điều kiện
để nghiên cứu hoàn chỉnh, có đề tài dù đó rất gần tới thành cụng những phải dừng lại, đành phải “bỏ ngăn kéo” Tỷ lệ các đề tài nghiên cứu của Việt Nam được áp dụng vào thực tế cũn rất thấp, số công bố quốc tế và patent được đăng ký cũn rất ớt so với cỏc nước trong khu vực, nghĩa là hiệu quả nghiên cứu khoa học thấp Thực tế cho thấy, đầu
tư cho KH&CN ở nước ta vẫn nặng về bao cấp của Nhà nước Mặc dù từ Đại hội IX (năm 2001), Đảng ta đó có chủ trương đa dạng hóa đầu tư phát triển KH&CN, nhưng đến nay hầu như vẫn không có sự quan tâm của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước vào loại đầu tư này, nhiều nguồn lực KH&CN vẫn cũn bị lóng phớ, trong khi nhu cầu bức bỏch hiện nay là phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Từ thực tế trên, để góp phần vào giải pháp tạo động lực cho phát triển KH&CN,
tôi chọn đề tài: “Thu hút vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 4
Kể từ năm 1996, khi Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 02/HNTW (khóa VIII) về KH&CN đến nay, ở nước ta đó cú những nghiờn cứu về vấn đề này Trong những nghiên cứu liên quan đến vốn đầu tư cho phát triển KH&CN đó cú những cụng trỡnh như:
Trong các năm 2000 -2003, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN
đó cú những nghiờn cứu bàn luận về nguồn vốn đầu tư cho phát triển KH&CN trong
điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần Trong đó có đề tài cấp Bộ nghiên cứu về “Chia
sẻ kinh phí giữa nhà nước và cơ sở cho dự án triển khai và đổi mới công nghệ” do
Nguyễn Thanh Hà làm chủ nhiệm, nghiờn cứu tỡnh hỡnh và cơ chế hoạt động của hệ thống các quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam Hay những đề tài
cấp cơ sở như: “Nâng cao hiệu quả một số chính sách thuế và tín dụng khuyến khích các
doanh nghiệp đổi mới công nghệ” do Hoàng Văn Tuyên làm chủ nhiệm, nghiên cứu về
chính sách thuế và tín dụng cùng một số nỗ lực của Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào sản xuất kinh doanh, trên cơ
sở đó đề xuất một số biện pháp chính sách về tài chính đối với doanh nghiệp; đề tài về;
“Nghiờn cứu xõy dựng cỏc hỡnh thức hợp tỏc và cơ chế khuyến khích hợp tác viện –
doanh nghiệp phát triển sản phẩm và công nghệ của doanh nghiệp” do Hoàng Thanh
Hương làm chủ nhiệm nhằm phân tích mối quan hệ giữa hoạt động KH&CN và hoạt động sản xuất nhằm tỡm ra và kiến nghị cỏc hỡnh thức hợp tỏc và cơ chế khuyến khích hợp tác cho mối quan hệ này
Đó cú một số bài viết như: “Thị trường khoa học và công nghệ; đặc trưng của
kinh tế tri thức” của GS Vũ Đỡnh Cự bàn về nhiệm vụ do Đại hội IX của Đảng đặt ra là
phải phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam nhưng thực tế thị trường đó như thế nào,
đó làm được gỡ và kiến nghị giải pháp thúc đẩy phát triển; bài: “Phát triển thị trường
khoa học và công nghệ Việt Nam” của TS Hồ Ngọc Luật nhằm phân tích các yếu tố
cung, cầu, môi trường pháp lý, xó hội cho thị trường này hoạt động trôi chảy, đưa ra đánh giá bước đầu về sự phát triển thị trường này và kiến nghị các giải pháp thúc đẩy phát triển Các nghiên cứu này đó cú những bàn luận về nguồn vốn cho phỏt triển
KH&CN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần Một số bài viết về đầu tư phát
Trang 5
triển KH&CN, phân tích thực trạng của hoạt động đầu tư này và kiến nghị giải pháp thúc đẩy
như: “Vốn đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ vẫn chưa có lời giải hữu hiệu” của
Hoàng Văn Dụ trên diễn đàn của Bộ Khoa học và Công nghệ, http://irv.moi.gov.vn/KH-CN,
Số 2/2003; “Quy chế tài chính không phù hợp với nghiên cứu khoa học và công nghệ” của Thu Hương, số 1/2004; "Đầu tư cho công nghệ cao cũn quỏ thấp!" http://vietnamnet.vn 09:18' 01/04/2008; “Mong muốn chính sách khoa học và công nghệ phù hợp” trên diễn đàn
http://irv.moi.gov.vn; “éầu tư cho khoa học công nghệ nông nghiệp” của Kiều Linh trên báo
Nhân dân điện tử http://www.nhandan.com.vn
Nhỡn chung, cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu khoa học và bài viết hiện cụng bố chưa phân tích phân tích một cách có hệ thống những cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu tư cho KH&CN, chưa phân tích thực trạng thu hút nguồn vốn này cho phát triển KH&CN ở Việt Nam trong những năm gần đây và kiến nghị những giải pháp cần thiết cho những năm tiếp theo Vỡ vậy, đề tài mà học viên lựa chọn là mới, không trùng lặp với các công trỡnh hiện hiện đó được công bố
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống húa lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền kinh tế thị trường, luận văn phân tích và đánh giá thực tiễn về hoạt động này ở nước ta để đề xuất giải pháp nhằm tạo động lực thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN Việt Nam trong thời gian tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN trong điều kiện của nền kinh tế thị trường
+ Phân tích và đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN ở nước ta từ khi có Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII về KH&CN (năm 1996) đến nay
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thiết thực nhằm tạo động lực mở rộng việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: toàn bộ hoạt động thu hút vốn vốn đầu tư cho phát triển
KH&CN kể cả đầu tư cho các dự án nghiên cứu và triển khai KH & CN lẫn đầu tư xây dựng cơ cơ vật chất – kỹ thuật cho các cơ quan và tổ chức nghiên cứu KH & CN các khu công nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: về không gian, đề tài nghiên cứu trên địa bàn cả nước; về
thời gian, kể từ khi có Nghị quyết Trung ương, khóa VIII của Đảng (năm 1996) đến nay
Do phạm vi là một đề tài luận văn thạc sĩ, thời hạn thực hiện đề tài ngắn, nên việc nghiên cứu của học viên chỉ giới hạn trên cơ sở các tài liệu đó cụng bố, tiến hành khảo sỏt thực tế một số ớt địa bàn phục vụ cho mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Việc khảo sát, điều tra trên quy mô lớn về lý luận và thực tiễn sẽ được tiếp tục nghiên cứu ở các công trình tiếp theo
5 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam; đồng thời sử dụng những lý thuyết của kinh tế học hiện đại về vai trò của vốn đầu tư trong phát triển kinh tế – xã hội
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Khái quát lý luận về thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN phù hợp với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN ở nước ta 10 năm qua, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tạo động lực kích thích thu hút nguồn vốn này cho phát triển KH&CN của đất nước trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết
Trang 7
Chương 1
Cơ sở lý luận - thực tiễn về thu hút vốn đầu tư cho khoA HọC Và CÔNG NGHệ ở việt nam
1.1 vốN ĐầU TƯ CHO KHOA HọC Và CÔNG NGHệ
1.1.1 Vốn đầu tư và đặc điểm vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ
1.1.1.1 Vốn đầu tư
Vốn đầu tư là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế thị trường Để hiểu khái niệm này, trước hết phải bắt đầu từ khái niệm vốn
Theo Từ điển kinh tế hiện đại, thỡ tư bản hay vốn (capital) là một từ dùng để chỉ
một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vào cho quá trỡnh sản xuất tiếp theo Vỡ vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai và sức lao động, những thứ không được coi là do
hệ thống kinh tế tạo ra Do bản chất không đồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cói trong lý thuyết kinh tế" [36, tr 129]
Theo cấu trúc giá trị của hàng hoá trong học thuyết của C Mỏc, thỡ: Giá trị hàng
hoá = C + V + M; trong đó C là chi phí về tư bản bất biến, V là chi phí về tư bản khả
biến, M là giá trị thặng dư
Để tiến hành tái sản xuất nhà tư bản cần chi phí về vốn cho cả tư bản bất biến và
tư bản khả biến Tư bản khả biến ở đây hoàn toàn không đồng nghĩa với người lao động Nói cách khác, lao động không phải là vốn đầu tư mà chỉ có sức lao động đó chi ra mới
là yếu tố hỡnh thành vốn đầu tư
Có quan niệm cho rằng, vốn có nghĩa là nguồn lực cho sản xuất Muốn tiến hành tái sản xuất thỡ cần phải chi phí về đất đai, tài chính (vốn) và lao động; theo đó người ta thường nói: "Lao động là vốn quý", coi "lao động như là chi phí về "vốn"
Tuy nhiên, theo tác giả luận văn thỡ không nên thuần túy đều coi "lao động" là "vốn";
mà chỉ có khả năng lao động, tức là sức lao động khi nó được sử dụng để sản xuất ra các yếu
tố đầu vào cho quỏ trỡnh tỏi sản xuất thỡ mới gọi là vốn
Trang 8
Vốn là biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đó bỏ ra để đầu tư Chúng có thể
là của cải vật chất, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động, là các tài sản vật chất khác
Các phạm trù vốn, tài sản và đầu tư tồn tại đan xen nhau Có vốn mới thực hiện được đầu tư và kết quả của đầu tư lại tạo ra tài sản và vốn Trong thực tế, người ta thường gọi vốn cố định là đầu tư dài hạn và vốn lưu động là đầu tư ngắn hạn
Đầu tư cũng là một khái niệm kinh tế Theo nghĩa rộng, đầu tư là sự hy sinh các
nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai, mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đó bỏ ra Nguồn lực bỏ ra cú thể là tiền, là tài nguyờn thiờn nhiờn, là tài sản vật chất khỏc hoặc sức lao động Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đó bỏ
ra trờn đây gọi là vốn đầu tư
Trong các kết quả đạt được có thể là tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực tăng thêm, Những kết quả của đầu tư đem lại là sự tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sỏ, của cải vật chất khỏc), tài sản trớ tuệ (trỡnh
độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật, của người dân) Các kết quả đó đạt được
của đầu tư đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xó hội
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở
hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xó hội kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đó sử dụng để đạt được kết quả đó
Như vậy, nếu xem xét trên giác độ đầu tư thỡ đầu tư là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trỡ khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có Tương ứng với phạm vi đầu tư này có phạm trù tổng vốn đầu tư mà thường được gọi là vốn đầu tư phát triển, có thời kỳ gọi là vốn đầu tư phỏt triển toàn xó
hội
Việc xác định vốn đầu tư tùy thuộc vào phạm vi nghiên cứu Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, vốn đầu tư là tổng số tiền biểu hiện nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức [26, tr.29] Dưới góc độ tài
Trang 9
sản, vốn đầu tư là những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được cái khác tạo ra [39, tr.56] Để một “hộp đen” của doanh nghiệp hoạt động, vốn là một trong ba yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn) Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản xuất (tức là máy móc công cụ thiết bị, nhà cửa, kho dự trữ, thành phẩm hoặc bán thành phẩm” [39, tr.300]
ở Việt Nam, khái niệm vốn đầu tư được đưa ra trong cuốn “Từ điển tiếng Việt ” của Viện Ngôn ngữ học như sau: “Vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh, nhằm mục tiêu sinh lợi” [39, tr.1126] Nguồn vốn đầu tư có thể là tiền hay tài sản được trị giá hoá Nhưng với tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai Nghĩa là vốn luôn gắn với sự vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời
Tóm lại, ta có thể hiểu vốn đầu tư từ hai góc độ: Dưới góc độ doanh nghiệp hoặc các đơn vị sản xuất kinh doanh, nếu khoản đầu tư nào của nhằm đem lại kết quả trong tương lai (lợi nhuận), kể cả việc đầu tư vào mua sắm tài sản đó qua sử dụng; đầu tư vào bất động sản; đầu tư vào cầm cố, thế chấp hoặc đầu tư vào thị trường chứng khoán, thỡ cũng được gọi là vốn đầu tư Nhưng nếu xột trong toàn bộ nền kinh tế quốc dõn thỡ nú lại khụng thuộc về vốn đầu tư phát triển Bởi vỡ, nếu xột trờn phạm vi toàn xó hội, thỡ những hoạt động này không làm tăng tổng vốn của quốc gia Nó chỉ là sự chuyển dịch
từ đơn vị này sang đơn vị khác mà thôi
Từ cách đặt vấn dề như vậy, do tính chất của luận văn là nghiên cứu vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ, nên nội dung của đề tài chỉ tiếp cận nguồn vốn đầu tư dưới góc độ kinh tế xó hội hay trờn phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dõn, chứ khụng tiếp cận vốn đầu tư từ góc độ doanh nghiệp
Trong kinh tế thị trường, vốn đầu tư do là lực nguồn tài chính nên luôn vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời Ta có thể nhìn nhận bản chất của vốn đầu tư thông qua các nội dung sau:
Một là, về hình thái biểu hiện thì vốn đầu tư là hình thái giá trị Giá trị đó được
ứng ra để chuyển hoá nó thành các yếu tố đầu vào cấu thành quá trình sản xuất Trải qua quá trình sản xuất, giá trị của vốn được lớn lên
Trang 10
Xét về mặt cụ thể, vốn đầu tư được tồn tại ở các dạng: tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính Những tài sản này tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ; đồng thời làm tăng giá trị Vốn là giá trị thực của tài sản hữu hình, tài sản vô hình và là tài sản tài chính đưa vào đầu tư để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu lợi nhuận
Hai là, vốn đầu tư là một loại hàng hoá đặc biệt Tính đặc biệt của nó thể hiện ở
chỗ, vốn đầu tư tạo khả năng sinh lời Với tư cách là hàng hoá đặc biệt, quyền sở hữu vốn đầu tư và quyền sử dụng vốn đầu tư có thể được tách rời nhau Đặc điểm này không thể có ở các loại hàng hoá thông thường Chủ sở hữu vốn đầu tư sẽ nhận được một khoản lợi tức (giá bán hay lãi suất quyền sử dụng vốn) khi bán quyền sử dụng vốn cho người mua (các nhà đầu tư) Nhà đầu tư khi mua quyền sử dụng vốn phải bỏ ra một khoản gọi là chi phí (giá mua quyền sử dụng vốn) trả cho chủ sở hữu và nhận về mình quyền sử dụng vốn Nhờ có sự tách rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn làm cho vốn trở nên linh hoạt trong lưu thông và sinh lời Do đó, khi sử dụng trong hoạt động đầu tư, vốn không những không bị “tan biến” giá trị và giá trị sử dụng mà lại được bảo tồn, phát triển giá trị và giá trị sử dụng của chúng Theo C.Mác, "Hàng hoá tư bản
có đặc tính là khi giá trị sử dụng của nó được đem tiêu dùng đi, hàng hoá tư bản không những giữ được giá trị và giá trị sử dụng của nó, mà còn làm cho giá trị sử dụng đó tăng
thêm nữa" [25, tr.537]
Tuy nhiên, để đồng vốn phát sinh lợi nhuận (tăng giá trị), nó phải được đặt trong môi trường cụ thể, có sự tương tác của các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh Từ môi trường này, các nhà đầu tư có thể lựa chọn kênh cung cấp vốn, cơ chế hoạt động và hình thức đầu tư
Ba là, vốn đầu tư có quan hệ mật thiết với thời gian Theo C.Mác, “Tiền không chỉ
được đem lại với hai điều kiện, một là nó sẽ quay về điểm xuất phát sau một thời hạn nhất định, và hai là, nó sẽ quay về điểm đó với tư cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi đã thực hiện được các giá trị sử dụng của nó, thực hiện được các khả năng của nó là sản xuất ra
giá trị thặng dư” [25, tr.525] Vậy, chủ sở hữu chuyển nhượng lại quyền sử dụng vốn
cho nhà đầu tư trong một khoản thời gian xác định Sau khi vốn chuyển qua chu kỳ
Trang 11
vận động, nó quay về tay chủ sở hữu, với một lượng giá trị lớn hơn Lượng giá trị lớn hơn đó là lợi tức của chủ sở hữu vốn hay lãi suất phải trả của nhà đầu tư khi sử dụng vốn Mức lãi tức được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với lượng vốn khi chủ sở hữu vốn nhượng, bán quyền sử dụng vốn theo đơn vị thời gian (tháng, quý, năm ), phù hợp với nền kinh tế thị trường [31, tr.14] Thông thường, lãi suất tỷ lệ thuận với thời gian vay Có nghĩa là thời gian vay vốn dài thì lãi suất cao và ngược lại thời gian vay vốn ngắn thì lãi suất thấp
Từ phân tích những nhận thức về vốn của những nhà kinh tế, có thể hiểu vốn đầu
tư là toàn bộ giá trị của tất cả các yếu tố sản xuất như tiền tệ, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, vị trí kinh doanh, bằng phát minh sáng chế được bỏ vào đầu tư sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận và làm tăng tổng nguồn vốn quốc gia
1.1.1.2 Các nguồn vốn đầu tư
Có nhiều cách xác định nguồn vốn đầu tư
- Cách thứ nhất, xác định nguồn vốn theo hình thái của đầu tư, có vốn hữu hình
và vốn vô hình Vốn hữu hình là loại vốn đầu tư có hình thái vật chất cụ thể gồm tài sản hữu hình, tiền mặt, những giấy tờ có giá trị thanh toán Đối với mọi chủ thể sản xuất kinh doanh, vốn đầu tư được chuyển hoá phần lớn dưới hình thái vốn hữu hình Vốn vô hình là nguồn vốn tiền tệ đã được chi phí nhằm sử dụng những tài sản vô hình để phục
vụ yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh Phần vốn này bao gồm quyền sở hữu vị trí kinh doanh, chi phí sử dụng bí quyết công nghệ, chi phí cho việc phát minh sáng chế Trong thực tế, tỷ trọng vốn vô hình ngày càng chiếm phần lớn trong tổng vốn đầu
tư
- Cách thứ hai, xác định theo thời gian sử dụng, nguồn vốn đầu tư được phân
chia thành: vốn ngắn hạn, vốn trung hạn và vốn dài hạn Vốn ngắn hạn, lượng tiền được
sử dụng để đầu tư trong thời hạn 1 năm; vốn trung hạn là lượng tiền được sử dụng để đầu
tư trong thời hạn từ 1 năm đến 5 năm; và vốn dài hạn là lượng tiền được sử dụng để đầu
tư có kỳ hạn từ 5 năm trở lên
- Cách thứ ba, xác định theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, có: vốn đầu tư trực
tiếp và vốn đầu tư gián tiếp Vốn đầu tư trực tiếp là loại vốn được đầu tư vào hoạt động
Trang 12
kinh tế do nhà đầu tư bỏ ra và tham gia quản lý hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư này
có thể dưới nhiều hình thức khác nhau như hợp đồng, liên doanh, lập công ty cổ phần Vốn đầu tư gián tiếp là loại vốn được đầu tư vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội, nhưng người có vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư gián tiếp được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như mua cổ phiếu, tín phiếu, tín dụng
- Cách thứ tư, xác định theo nguồn gốc xuất xứ, có: nguồn vốn trong nước và
nguồn vốn nước ngoài Vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn được hình thành từ tiết
kiệm trong nước bao gồm tiết kiệm từ ngân sách nhà nước, tiết kiệm của các doanh nghiệp và tiết kiệm của dân cư Ngoài ra, còn bao gồm nguồn vốn tín dụng tín dụng nhà nước, nguồn vốn tín dụng ngân hàng Tiết kiệm của ngân sách nhà nước là phần vốn được dành để chi cho đầu tư phát triển, không tính đến các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ và các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của chính phủ để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước Tiết kiệm của doanh nghiệp là phần lãi sau thuế được các doanh nghiệp trích lại cho đầu tư phát triển Nguồn vốn dành cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp còn bao gồm cả nguồn vốn thu được từ khấu hao tài sản cố định Tiết kiệm của dân cư là phần thu nhập để dành chưa tiêu dùng của các hộ gia đình và cá nhân Nguồn vốn tín dụng nhà nước, là hình thức vay nợ của Nhà nước thông qua kho bạc, được thực hiện chủ yếu bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ,
do bộ tài chính phát hành
Trong trường hợp nhu cầu chi tiêu của ngân sách lớn, nhưng nguồn thu lại không thể đáp ứng được Để thoả mãn nhu cầu này chính phủ thường cân đối ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ Cũng có thể chính phủ tiến hành một dự án nào đó, nhưng không muốn sử dụng vốn ngân sách, thì dự án này có thể được thực hiện bằng vay vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu chính phủ Nước ta đã và đang phát hành các loại trái phiếu chính phủ như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc
Vốn tín dụng là nguồn vốn tại các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian khác như công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, công ty bảo hiểm Nguồn vốn này có vai trò rất quan trọng trong đầu tư phát triển Các tổ chức này có ưu điểm là
Trang 13
thoã mãn được mọi nhu cầu về vốn của pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế, nếu những đối tượng vay vốn chấp hành đầy đủ những quy chế tín dụng Sở dĩ các tổ chức này có thể thu hút, huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với khối lượng lớn, bởi vì các tổ chức này đã sử dụng dưới nhiều hình thức huy động khác nhau rất phong phú và đa dạng Mặt khác, thời hạn cho vay cũng rất linh hoạt (bao gồm vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn), tuỳ thuộc vào nhu cầu của người đi vay Bởi vậy, trong lĩnh vực đầu tư phát triển thì việc tiếp cận vốn qua tín dụng ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian là một phương thức rất quan trọng không thể thiếu được
Vốn nước ngoài là nguồn vốn tài trợ của các quốc gia, các tổ chức quốc tế và cá
nhân người nước ngoài, vốn đầu tư trực tiếp của các nhà sản xuất kinh doanh, vốn tín dụng của các ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế Đối với nước ta, còn có vốn do người Việt Nam định cư ở nước ngoài gửi về cho gia đình hoặc đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh ở trong nước
Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (Offcial Development Assistance - ODA) là nguồn vốn do các cơ quan chính thức của chính phủ một số nước và các tổ chức quốc tế viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp, thậm chí không
có lãi suất Nguồn vốn này, thường được tập trung vào ngân sách của Chính phủ để đầu tư phát triển hoặc cho vay Hình thức viện trợ của nguồn vốn này ngoài vốn ngoại tệ, thường được đầu tư dưới dạng máy móc, thiết bị, công nghệ, công trình hoặc chuyên gia, có thể liên quan đến hỗ trợ cơ bản hay hay hỗ trợ kỹ thuật hoặc cả hai hình thức này Đây là nguồn vốn có quy mô tương đối lớn, được sử dụng đầu tư thực hiện các công trình quốc gia như năng lượng, giao thông, nông nghiệp, thuỷ lợi, thông tin liên lạc Hoặc ưu tiên đầu tư các chương trình y tế, dân số và kế hoạch hoá gia đình; giáo dục đào tạo và giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, phát triển nông thôn và miền núi Như vậy, ODA là nguồn vốn cực kỳ quan trọng và có ý nghĩa cho công cuộc phát triển kinh tế của các nước đang phát triển Thông qua dự án ODA, kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội của nước tiếp nhận được nâng lên Nếu các nước tiếp nhận đầu tư sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA sẽ là
Trang 14Hình thức phổ biến của đầu tư trực tiếp là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng; doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng- chuyển giao - kinh doanh (BTO) và xây dựng - chuyển giao (BT)
Vốn nước ngoài là nguồn ngoại lực rất quan trọng cho đầu tư phát triển ở một nước đang phát triển khi mà trình độ kinh tế và thu nhập của dân cư trong nước còn thấp kém Trong các nguồn vốn nước ngoài, thì nguồn đầu tư trực tiếp (FDI) có thể bù đắp được sự thiếu hụt vốn trong nước cho đầu tư tạo việc làm và thu nhập Qua đó, để tiếp nhận và chuyển giao công nghệ, mô hình và phương thức quản lý tiên tiến, tìm kiếm thị trường tiêu thụ và tăng thu ngoại tệ Tuy nhiên, việc thu hút FDI cũng có thể làm nảy sinh nhiều vấn đề Vì khi thu hút FDI, các nước đang phát triển sẽ gặp không ít khó khăn trước những tác động tiêu cực Nếu không phát hiện kịp thời và ngăn chặn những tiêu cực từ nguồn vốn này thì sẽ gây ra hậu quả xấu như phá sản các ngành truyền thống, gây tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái, nền kinh tế thiếu sự phát triển bền vững
Vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO) là nguồn vốn tài trợ của các tổ chức phi chính phủ chủ yếu là cho các nhu cầu nhân đạo như nhu cầu cung cấp thuốc men, lương thực, quần áo cho nạn nhân bị thiên tai, dịch bệnh, địch hoạ Ngày nay, hình thức nguồn vốn này có sự thay đổi: chuyển từ viện trợ nhân đạo sang hỗ trợ cho việc phát triển các công trình kết cấu hạ tầng có quy mô vừa và nhỏ Nếu biết tranh thủ, khai thác nguồn vốn này thì sẽ có tác dụng tốt đối với các công trình có quy mô vừa và nhỏ ở nông thôn, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn
Vốn của Việt là nguồn vốn của người Việt Nam sinh sống và làm việc ở nước ngoài Hiện nay, có trên 3 triệu người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước
Trang 15xó thành lập theo Luật hợp tỏc xó; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực; Hộ kinh doanh, cá nhân; Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam
- Nếu tiếp cận theo góc độ vĩ mô của nền kinh tế, thỡ vốn đầu tư được gọi là vốn
đầu tư phát triển toàn xó hội và được cấu thành bởi ba bộ phận: vốn đầu tư cơ bản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác
Vốn đầu tư cơ bản là số vốn để tạo ra tài sản cố định, bao gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn tài sản cố định Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là
một thuật ngữ đó được sử dụng khá quen thuộc ở nước ta với nội dung bao hàm những
chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế Về thực chất, loại vốn này chỉ bao gồm những chi phí làm tăng thêm giá trị tài sản cố định Nó có hai bộ phận hợp thành: vốn đầu tư để mua sắm hoặc xây dựng mới tài sản cố định và chi phí cho sửa chữa lớn tài sản cố định Hai bộ phận này bao gồm: chi phí cho việc thăm dũ, khảo sỏt và quy hoạch xõy dựng chuẩn bị cho việc đầu tư; chi phớ thiết kế cụng trỡnh; chi phí xây dựng; chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và những chi phí khác thuộc nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản; chi phí cho việc sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc và máy móc thiết
bị, sửa chữa lớn các tài sản cố định khác Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận
của vốn đầu tư cơ bản được sử dụng để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật như đó nờu trờn
Vốn lưu động bổ sung là những khoản đầu tư làm tăng thêm tài sản lưu động của toàn xó hội
Trang 16
Vốn đầu tư phát triển khác là các khoản đầu tư của xó hội nhằm tăng năng lực phát triển của xó hội Sự phỏt triển của xó hội ngoài yếu tố làm tăng tài sản cố định và tài sản lưu động, cũn phải làm tăng nguồn lực khác như: nâng cao dân trí, hoàn thiện
môi trường xó hội, cải thiện môi trường sinh thái, hỗ trợ cho các chương trỡnh phũng
chống tệ nạn xó hội và cỏc chương trỡnh phỏt triển khỏc
Vốn đầu tư phát triển khác cũn bao gồm cả những khoản chi phí cho KH&CN, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trỡnh độ nghiên cứu Do việc phát triển KH&CN, nghiên cứu và triển khai, đào tạo cán bộ trong xó hội hiện nay
cú mặt ở hầu hết cỏc ngành, cỏc cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh Bên cạnh những trung tâm, đơn vị lớn có ngân sách riêng, cũn có rất nhiều cơ quan đơn vị khác phần ngân sách này là một bộ phận của chi phí sản xuất kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động thường xuyên Vỡ vậy rất khú cú thể thu thập thụng tin đầy đủ
1.1.1.3 Đặc điểm của vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ
Khoa học là hoạt động khám phá để sinh ra tri thức Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trỡnh, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành hàng hóa và dịch vụ mong muốn
Trước đây, do có không ít người thường cho rằng khoa học là hầu như không biên giới, cũn cụng nghệ thỡ phải mua bỏn khỏ tốn kộm, cho nên việc đầu tư kinh doanh chỉ chỳ ý vào lĩnh vực cụng nghệ Thế nhưng hiện nay, khoảng cách giữa KH&CN ngày càng được rút ngắn, thậm chí rất ngắn Ranh giới giữa khoa học và công nghệ khó tách bạch Do vậy, đầu tư vào công nghệ hay đầu tư vào khoa học đều mang ý nghĩa như nhau Chúng ta phải có cách nhỡn động đối với đầu tư cho KH&CN và đặt hoạt động đầu tư này trong bối cảnh tổng thể của đầu tư phát triển nói chung và do vậy khẳng định mối liên hệ mật thiết, sự phụ thuộc chặt chẽ của đầu tư cho KH&CN vào các hoạt động đầu tư khác trong phát triển kinh tế xó hội
Vốn đầu tư cho KH&CN là một loại đầu tư phát triển Nó là nguồn vốn được bỏ
ra để thực hiện mục đích đầu tư phát triển KH&CN nhằm tăng năng lực KH&CN của một đơn vị và của quốc gia, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Hoạt KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ
Trang 17là hoạt động KH&CN Từ cách đặt vấn đề như trên, ta có thể khái quát những đặc điểm
cơ bản của nguồn vốn đầu tư này:
Một là, đối tượng đầu tư không chỉ đơn thuần thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh để nhà đầu tư trực tiếp thu lợi nhuận, thu được một giá trị lớn hơn giá trị vốn đó
bỏ ra, mà khoản đầu tư này cũn lấy đối tượng là phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai tỡm kiếm, phỏt hiện tri thức mới và vận dụng những tri thức đó vào việc tạo
ra những phương tiện, phương pháp mới thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống xó hội Nó không là bộ phận đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động, mà là là bộ phận đầu tư để tăng năng lực sản xuất và để nâng cao chất lượng của
sự tăng trưởng Đầu tư cho phát triển KH&CN thực chất là đầu tư cho phát triển tri thức Bởi vậy, đây là hỡnh thức đầu tư cú tớnh “sống cũn” trong việc nõng cao năng suất lao động của từng doanh nghiệp cũng như thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế của một quốc gia
Hai là, xột theo chu trỡnh nghiờn cứu – triển khai – sản xuất, thỡ hoạt động
KH&CN nằm trong giai đoạn trước khi đưa ra sản xuất đại trà (hỡnh 1)
Hỡnh 1.1: Phạm vi của hoạt động KH&CN trong hệ thống sản xuất
Theo cách tiếp cận này, đầu ra của các dự án KH&CN (sản phẩm khoa học và sản phẩm công nghệ) mới chỉ dừng lại ở sản phẩm loạt nhỏ, không thể bán đại trà và mới chỉ có khả năng thương mại hóa
Nghi
ên cứu
cơ
Nghiên cứu ứng dụng
Triể
n khai
Sản xuất
Hoạt động KH&CN
Trang 18
Do mục tiêu của một dự án KH&CN là tạo ra hoặc hoàn thiện các yếu tố liên quan đến sự khám phá hoặc đến công nghệ (áp dụng, cải tiến, hấp thụ, làm chủ công nghệ) và sản phẩm của dự án có khả năng chuyển giao (thương mại hóa), nên trong quá trỡnh thực hiện dự ỏn, bản thõn người trong cuộc sẽ phải có những hoạt động triển khai
cụ thể mà những hoạt động này có thể nằm trong những giai đoạn khác nhau trong chu trỡnh nghiờn cứu – triển khai – sản xuất
Sản phẩm của dự án KH&CN có thể là tri thức mới, là công nghệ hoàn chỉnh với đầy đủ tính năng mong muốn và có khả năng thương mại hóa Sản phẩm của KH&CN thực chất là tri thức, chất xám nên khó lượng định, được thể hiện dưới dạng vật chất hữu hỡnh như bằng phát minh sáng chế hoặc vô hỡnh dưới dạng ý tưởng công nghệ Việc xác định giá trị của hàng hóa này là điều rất khó, do lao động sáng tạo ra hàng hóa là lao động trí óc và tồn tại sự bất đối xứng thông tin giữa bên bán và bên mua Thực tế cho thấy, sự thành công trong việc tạo ra tri thức, công nghệ và khả năng chuyển giao, thương mại hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: kinh tế, kỹ thuật, tài chớnh, xó hội, v.v Điều này có nghĩa là đầu tư vào các dự án KH&CN thường có độ mạo hiểm và rủi
ro tương đối Những rủi ro này thường gắn với rủi ro về mặt công nghệ và rủi ro về mặt thị trường
Rủi ro về mặt công nghệ gắn nhiều tới các yếu tố kỹ thuật, các yếu tố đầu vào khác của dự án (kinh tế, tài chính) Ví dụ, Edison – một nhà sáng chế ra dây tóc bóng đèn điện, đó thất bại hàng nghỡn lần thớ nghiệm mới chế tạo thành cụng dõy túc đèn điện, Marie Curie cũng thất bại hàng nghỡn lần mới phỏt minh ra chất phúng xạ uranium Điều này nghĩa là nếu sử dụng tiền túi tự đầu tư để nghiên cứu thỡ sự mạo hiểm cú thể dẫn đến nguy hiểm Thực tế, đó cú nhiều nhà khoa học ở cỏc nước tư bản công nghiệp bị phá sản vỡ thất bại Rủi ro về mặt thị trường gắn nhiều tới các yếu tố liên quan tới cầu (nhu cầu và sức mua) của thị trường
Đầu tư cho KH&CN tiềm ẩn sự “mạo hiểm” Ngay cả tại các nước phát triển, tỷ
lệ nghiên cứu thành công có thể áp dụng vào đời sống và sản xuất cũng chỉ khoảng trên
dưới 20%
Tuy vậy, đi cùng với nó, một dự án khi thành công (tạo ra sản phẩm là tri thức,
Trang 19
công nghệ hoàn chỉnh, đáp ứng được nhu cầu thị trường), thỡ nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận lớn, thậm chí là rất lớn nếu đó là những dự án mang tính đột phá Đây chính là một điểm khá hấp dẫn các nhà đầu tư
Ba là, KH&CN là yếu tố “đầu vào” rất quan trọng để biến đổi các nguồn lực sản
xuất, là thước đo trỡnh độ phát triển của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia Trong kinh
tế thị trường, do áp lực cạnh tranh và lợi nhuận, từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh
tế đều phải coi phát triển khoa học và đổi mới công nghệ sản xuất là một đũi hỏi cú tớnh sống cũn Bí quyết về KH&CN phải có chủ sở hữu Việc sản xuất và mua bán loại tài sản này tất yếu sẽ diễn ra, do đó tất yếu hỡnh thành và phát triển thị trường KH&CN
Kinh tế thị trường càng phát triển, càng thúc đẩy phân công, chuyên môn hóa sâu Việc một chủ thể có được một sản phẩm KH&CN cũng không nhất thiết phải do chính chủ đó tạo ra Họ có thể mua trên thị trường Do đó, tồn tại quan hệ cung – cầu về KH&CN Dũng chảy của vốn đầu tư cho KH&CN phải tuân theo quan hệ cung – cầu trên thị trường Tức là người ta chỉ đầu tư vào lĩnh vực hay dự án KH&CN nào mà xó hội cú nhu cầu Theo quy luật về dũng chảy của cỏc nguồn vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh, thỡ sức cầu là một yếu tố quyết định việc chủ kinh tế nên đầu tư vào dự án KH&CN nào và mức độ nhiều hay ít Bởi vỡ loại vốn đầu tư này cũng tỡm kiếm lợi nhuận Nú sẽ vận động từ nơi hoạt động đầu tư kém hiệu quả đến nơi hoạt động đầu tư
có hiệu quả hơn
Trên thị trường KH&CN, sự cạnh tranh giữa các cơ sở khoa học với tư cách là người bán (nghiờn cứu, tỡm kiếm sản phẩm tốt nhất phục vụ khỏch hàng), và cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp với tư cách là người mua (lựa chọn sản phẩm tốt nhất của các cơ sở khoa học phục vụ mục tiêu phát triển) Điều đó có nghĩa là trong kinh tế thị trường, đầu tư cho phát triển KH&CN không chỉ đơn thuần là công việc được Nhà nước bao cấp như đó hiểu và làm trước đây ở nước ta Đầu tư cho KH&CN trước hết phải là hoạt động đầu tư cho sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp không phân biệt thuộc thành phần kinh tế nào trong cơ chế thị trường Vỡ khoản đầu tư này gắn với lợi ích thiết thân của mỗi chủ kinh tế
Trang 20
Tuy nhiên, đầu tư vào KH&CN không phải là vỡ bản thõn KH&CN, mà lại vỡ đầu tư đó có đem lại cho chủ sản xuất kinh doanh một hàng hóa và dịch vụ nào đó có chi phí thấp hơn và có chất lượng sản phẩm cao hơn năng lực hiện có hay không Đầu tư cho KH&CN là khoản đầu tư phái sinh, chỉ xuất hiện khi có nhu cầu đầu tư tạo sản phẩm mới hoặc làm tăng thêm năng lực sản xuất kinh doanh của một hàng hóa, dịch vụ nào đó trên thị trường
Bốn là, do hiệu quả của hoạt động KH&CN có độ trễ nhất định, không dễ thấy,
nên việc đầu tư không thể đũi hỏi nhỡn thấy hiệu quả ngay lập tức Đầu tư cho KH&CN
là đầu tư phát triển, đầu tư cho tương lai Nghiên cứu đó mất nhiều thời gian, đưa kết quả nghiên cứu vào cuộc sống cũng cần có thời gian, để kết quả nghiên cứu phát huy hiệu quả lại cần thêm thời gian nữa Đây chính là quá trỡnh “thương mại hóa” kết quả nghiên cứu
Trong lịch sử, nhiều phát minh vĩ đại phải hàng chục năm sau mới được xó hội biết đến Nhưng nếu không đầu tư cho nghiên cứu hôm nay thỡ khụng bao giờ cú kết quả ngày mai
Đầu tư cho KH&CN ngoài hiệu quả trực tiếp, cũn cú hiệu quả tiềm năng (Ví dụ, đầu thập niên 70 thế kỷ XX, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về ưu thế lai, 25 năm sau đánh bật được các công ty nước ngoài, giành lại thị phần ngô giống lai ở Việt Nam); hiệu quả mang tính tích hợp như: Việt Nam chặn đứng được dịch SARS sớm nhất thế giới là nhờ công của các nhà nghiên cứu siêu vi trùng, dịch tễ học, bác sĩ điều trị; hiệu quả gián tiếp, như công trỡnh nghiờn cứu sản xuất dõy hàn lừi thuốc bằng vật liệu trong nước ngoài hiệu quả kinh tế cũn gúp phần vào nõng cao chất lượng đóng tàu của Việt Nam
Nhiều sản phẩm khoa học mang lại hiệu quả lớn nhưng là hiệu quả gián tiếp hoặc
vô hỡnh Vớ dụ, một phần mềm diệt virus mỏy tớnh Hiệu quả kinh tế trực tiếp của nú rất khú nhỡn thấy Nhưng ở một nước có khoảng 10 triệu máy tính cá nhân, nếu không
có phần mềm diệt virus hiệu quả, khi bị virus tấn công trên diện rộng, chi phí sửa chữa một máy có thể tới vài chục đô la Nhân lên cả xó hội thỡ tổn thất là rất lớn, chưa kể thiệt hại do cơ sở dữ liệu quản lý của cả xó hội bị phỏ hủy, trong khi việc bỏ ra vài
Trang 21ta làm chủ được công nghệ chế tạo, không phụ thuộc vào nước ngoài, có thể sử dụng cho các công trỡnh khỏc tiếp theo như thủy điện Lai Châu, tiếp tục mang lại hiệu quả kinh tế cao
Năm là, đầu tư cho KH&CN cũng là hoạt động đầu tư trong kinh tế thị trường để
tạo ra sản phẩm hàng hóa Do vậy, nguồn huy động vốn cho hoạt động đầu tư này cũng tất yếu thông qua thị trường Các hỡnh thức tớn dụng, cổ phiếu và trỏi phiếu cũng là kênh dẫn vốn thiết yếu cho hoạt động đầu tư này
Tuy nhiên, do hoạt động KH&CN có độ trễ, hiệu quả hoạt động của nó là gián tiếp hoặc vô hỡnh, nờn sự hỗ trợ về tài chớnh của Nhà nước là rất cần thiết cho các hoạt động KH&CN, nhất là đối với các nghiên cứu cơ bản, có tính chất đột phá nhằm nâng cao tiềm lực KH&CN quốc gia
1.1.2 Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư cho phát triển khoa học và công
nghệ
Vốn đầu tư có tầm quan trọng đặc biệt Nó là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định
tốc độ tăng trưởng kinh tế, phỏt triển xó hội và bảo vệ, cải thiện mụi trường Trên bình
diện vĩ mô tất cả các chiến lược, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội đều rất cần đến vốn đầu tư Đối với hoạt động KH&CN, vốn đầu tư có vai trũ là điều kiện tiên quyết Nếu khụng cú vốn, cỏc dự ỏn KH&CN chỉ cú thể dừng lại ở ý tưởng và sự mong muốn, chứ không thể trở thành hiện thực Vốn đầu tư là điều kiện không thể thiếu được
để nâng cao năng lực KH&CN của một doanh nghiệp, một tổ chức và của một quốc gia
Để thực hiện tốt chức năng và vai trò của KH&CN, yêu cầu đặt ra phải thu hút
Trang 22
vốn đầu tư để tổ chức việc nghiên cứu, triển khai các dự án KH&CN, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các cơ sở KH&CN trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như trong từng ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội là cần thiết và cấp bách
1.1.2.1 Tính cấp thiết phải giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư rất lớn cho KH&CN với tình trạng thiếu vốn và sự hạn hẹp của ngân sách Nhà nước
Nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH phấn đấu đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp Trong giai đoạn này, phải đẩy mạnh phát triển KH&CN, coi
đó là điều kiện để đẩy nhanh tiến trình và thực hiện CNH, HĐH có hiệu quả Thực chất của CNH, HĐH là phát triển KH&CN Điều này có nghĩa là nguồn vốn đầu tư cho phát triển KH&CN phải rất lớn mới có thể đáp ứng được yêu cầu
Theo các nghiên cứu gần đây, để trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, KH&CN nước ta phải đạt trỡnh độ tiên tiến trong khu vực ở các ngành kinh tế trọng điểm như công nghệ sinh học, sản xuất lương thực, chế biến nông - lâm - hải sản, cơ khí điện tử, công nghệ thông tin, bưu chính - viễn thông, khai thác và chế biến dầu khí, giao thông vận tải, xây dựng, vật liệu cơ bản, sản xuất và sử dụng nǎng lượng, y dược Phát triển một số ngành công nghiệp biển ứng dụng có chọn lọc các thành tựu khoa học hiện đại nhằm tiếp cận với trỡnh độ thế giới trong một số lĩnh vực quan trọng, làm cơ sở vững chắc cho phát triển các nghành công nghiệp hiện đại Để đạt được trỡnh độ đó, mức đầu tư tối thiểu hàng năm cho KH&CN phải trên 2% GDP Thế nhưng, mức đầu tư những năm gần đây của nước ta ở nước ta cũn rất khiờm tốn so với cỏc nước trong vùng
Ví dụ, năm 2006 nước ta đầu tư 428 triệu USD cho KH&CN, chiếm khoảng 0,17% GDP toàn quốc Trong khi đó, theo số liệu của UNESCO, Singapore là nước (trong vùng) mức đầu tư cho KH&CN chiếm 2,2% GDP (tương đương 3,01 tỉ USD), Malaysia 0,5% GDP hay 1,54 tỉ USD, Thái Lan 0,3% GDP hay 1,79 tỉ USD Theo số liệu năm 2004, đầu tư cho KH&CN của EU là 1,95% GDP, Nhật Bản là 3,15% GDP, Trung Quốc là 1,31% GDP, Hoa Kỳ là 2,59% GDP, Hàn Quốc là gần 5% GDP Mức đầu tư cho hoạt động KH&CN tính trên đầu người (per capita) năm 2007 của Việt Nam
Trang 23Do thu nhập của dân cư thấp, nên nguồn thu ngân sách Nhà nước cũn ớt Mặc dự hàng năm Nhà nước đó cú nhiều cố gắng dành phần lớn ngõn sỏch cho phỏt triển KH&CN, nhưng không thể đáp ứng được nhu cầu
Cũng như các nước đang phát triển khác, nước ta đang đứng trước “vũng luẩn quẩn” của tỡnh trang kộm phỏt triển: thu nhập thấp, dẫn đến tiết kiệm và đầu tư thấp, dẫn đến tỷ lệ tích luỹ vốn thấp, không đủ vốn cho đầu tư; làm cho năng lực sản xuất giảm, năng suất của nền kinh tế thấp; điều này dẫn đến kết quả là thu nhập bình quân thấp và không thể vượt lên mức thu nhập ban đầu Để phá vỡ vòng luẩn quẩn đó, các nước đang phát triển phải tạo ra “một bước đột phá” vào một mắt xích nào đó, để rồi phá vỡ các mắt xích còn lại Khâu đột phá thường được lựa chọn là tăng nguồn vốn đầu
Trang 24
Nếu từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, Trung Hoa thực sự là trung tâm và làm thay đổi thế giới nhờ 4 phát minh công nghệ là thuốc súng, kỹ thuật in, giấy và la bàn nam chõm, thỡ từ thế kỷ XVIII, vị trớ này khụng cũn nữa do chõu Âu đó vượt qua nước này về công nghệ bằng cuộc cách mạng công nghiếp lần thứ nhất với phát minh
ra động cơ hơi nước Nhờ biết thay thế lao động dựa vào sử dụng công cụ thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, nước Anh đó lờn ngụi bỏ chủ thế giới Một trăm năm sau, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai trong các lĩnh vực: điện, hóa chất, dược phẩm, ô-tô, hóa dầu đó khởi phỏt và tới lượt các nước Đức và Mỹ chiếm ưu thế, cũn nước Anh bị bỏ rơi vỡ không bắt kịp sự phát triển các ngành công nghiệp mới Sau 100 năm nữa, vào lúc chuyển giao hai thế kỷ XX và XXI, trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, tri thức và việc ứng dụng tri thức vào sản xuất đóng vai trũ quyết định cho sự giàu có của đất nước Ngày nay, với mục tiêu phát triển trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa, hầu như tất cả các nước trên thế giới đều đang thực hiện chủ trương tập trung phát triển KH&CN
Thực tế đó cho thấy, khoa học - tri thức và công nghệ - ứng dụng tri thức vào sản xuất chính là những yếu tố quyết định sự phồn vinh của một dân tộc, một đất nước Thực tế ở nhiều nước và Việt Nam cũng cho thấy, chính tụt hạng về năng lực KH&CN
là tác nhân lớn nhất làm cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của quốc gia bị suy giảm Ví dụ, năm 2004 năng lực cạnh tranh của Việt Nam tụt 17 bậc
so với năm 2003 Nếu xét riêng về công nghệ, thỡ năm 2003 Việt Nam đứng thứ 65, sang năm 2004 bị đứng vào thứ 92, tức là chỉ sau 1 năm đó tụt xuống 27 bậc
Để có 20 năm tăng trưởng kinh tế mạnh vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đó “cởi trúi” nụng nghiệp bằng khoỏn 10, cụng nghiệp bằng luật doanh nghiệp, huy động tối đa tiềm lực lao động giản đơn Tuy nhiên, muốn tiến xa hơn, chỉ cũn cỏch phỏt triển KH&CN Chỉ có phát triển KH&CN mới có thể làm cho một đất nước phát triển bứt phá và bền vững Con đường để đáp ứng đũi hỏi này là phải cú vốn Xỳc tiến đầu tư phải coi là một giải pháp chiến lược để thúc đẩy phát triển KH&CN
1.1.2.3 Việc thu hút vốn đầu tư vào KH&CN còn là cần thiết để nuôi dưỡng nhân tài, tạo động lực phát triển, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động
Trang 25
Nhõn lực trỡnh độ cao là một yếu tố quyết định tốc độ và hiệu quả phát triển KH&CN Ngày nay, mục tiêu phát triển trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa đó được nhiều nước quan niệm: khoa học sử dụng tiền để tạo ra tri thức, cũn cụng nghệ thỡ
sử dụng tri thức để tạo ra tiền Để có được như vậy, cần phải có nguồn nhân lực đủ trỡnh
độ Trong xu thế phát triển như vũ bóo của cuộc cỏch mạng KH&CN hiện nay, ngoài việc
mở rộng đào tạo mới để tăng nhanh số lượng nguồn nhân lực KH&CN, thỡ việc trang bị thờm cỏc kiến thức về phỏp lý, tài chớnh, v.v mỗi nhà quản lý, mỗi nhà khoa học là rất cần thiết
Hiện tại, đa phần các nước đang phát triển vẫn là nơi tự nguyện cung cấp lực lượng lao động và đất đai giá rẻ cũng như tạo các điều kiện thuận lợi về thuế và xuất khẩu để thu hút đầu tư nước ngoài Điển hỡnh nhất của tỡnh trạng "công nghiệp hóa phi công nghệ" là các nước Đông Nam Á Doanh nghiệp ở các nước này chỉ quan tâm việc thu lợi nhanh bằng buôn bán bất động sản hơn là bỏ công sức để học tập công nghệ và xây dựng nhà máy Rừ ràng là, nếu chớnh sỏch phỏt triển chỉ nhỡn nhận đầu tư theo phương diện tài chính hoặc số lượng người lao động có việc làm mà không coi trọng đầu tư để học tập, nâng cao trỡnh độ khoa học và đổi mới công nghệ, đổi mới văn hóa, thỡ cựng lắm đất nước cũng chỉ thoát nghèo và mói mói vẫn chỉ là nước đang phát triển Không phải khi nào chỉ số GDP cũng là thước đo của sự phát triển
Hiện nay, tỷ lệ lao động tốt nghiệp đại học trên số dân của nước ta không bằng một nửa tỷ lệ đó ở các nước đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ Các trường đại học ở Việt Nam có một khoảng cách xa mới đạt tầm của các trường đại học ở các nước trong khu vực, trong khi các trường đại học ở các nước này cũng cũn lõu nữa mới đạt chuẩn các trường đại học đẳng cấp quốc tế Khó khăn lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam là chưa đủ kiến thức (chất xám) để làm chủ công nghệ, nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào phát triển kinh tế Điều này nghĩa là, nếu chúng ta thiếu một cuộc cách mạng về phát triển con người sẽ rất khó khăn khi đón nhận những lợi ích lâu dài và
to lớn mà đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, mang lại cho đất nước Nói cách khác, ngày nay, trung tâm của mọi tư tưởng, học thuyết hay chính sách, cơ chế sẽ đều phải được hỡnh thành trờn cơ sở nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cần phải coi củng cố nguồn
Trang 26
nhân lực cho đổi mới là mục tiêu quan trọng trong phát triển KH&CN Do vậy, cần phải thu hút vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực Đũi hỏi này đó và đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với nước ta để phát triển KH&CN hay nói rộng ra là để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Bên cạnh đó, việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN cũn là cần thiết để tạo và ổn định việc làm, tăng thu nhập kích thích tính năng động, sáng tạo của người lao động Việc thu hút nhân tài cho phát triển KH&CN cũng chỉ có thể thực hiện được thông qua chính sách hỗ trợ, ưu đói trong đầu tư vốn
Một trong những nguy cơ của các nước đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay là tỡnh trạng “chảy mỏu chất xỏm” Cỏc nước phát triển thường lợi dụng toàn cầu hóa, tạo ra điều kiện làm việc thuận lợi và mức tiền công cao để thu hút nhân tài từ các nước đang phát triển Trong khi đó, các nước đang phát triển muốn thực hiện một
dự án nào đó liên quan sử dụng công nghệ chất lượng cao lại phải thuê chuyên gia từ các nước phát triển với mức chi phí rất lớn Tức là, các nước đang phát triển bị thiệt hại kép Thực tế ngày càng chứng tỏ, thu hút vốn đầu tư cho phát triển nhân lực KH&CN, bảo đảm mức thu nhập cao và ổn định cho người lao động, nuôi dưỡng nhân tài phải được coi là ưu tiên trong quá trỡnh nõng cao tiềm lực KH&CN quốc gia
Để đẩy nhanh tiến trỡnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập sâu hơn, đầy đủ hơn vào các quan hệ kinh tế quốc tế, trên cơ sở nhận thức vai trũ của vốn cho phỏt triển KH&CN, trong Điều 6 của Luật Khoa học và công nghệ nước ta ban hành tháng 6/2000 quy định: “Đầu tư xây dựng và phát triển năng lực nội sinh, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
và trọng dụng nhân tài về khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hợp tác quốc tế; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển khoa học và công nghệ; sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực khoa học và công nghệ”
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển Khoa học và công nghệ
Việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN cũng chịu ảnh hưởng bởi các yếu
tố quyết định đầu tư nói chung Tuy nhiên, nếu xem xét đến cả tính đặc thù của hình thức đầu tư này thì quy mô vốn đầu tư cho phát triển KH&CN phụ thuộc chủ yếu vào
Trang 27cơ hội mở rộng đầu tư cho KH&CN
Cũng do thu nhập thấp, nên sức cầu thị trường thấp Điều này khiến cho giá cả các hàng hóa bị giảm, lợi nhuận của các nhà đầu tư giảm, làm giảm động lực đầu tư Đầu
tư vào KH&CN cũng không thoát khỏi tình trạng chung đó
Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển, nếu nhà nước có cơ chế, chính sách giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm, lựa chọn việc sản xuất
và khuyến khích đầu tư, thì quy mô nguồn vốn cho đầu tư vào KH&CN sẽ có thể tăng lên
1.2.2 Sự phát triển của thị trường vốn và thị trường tài chính
Về lý thuyết, thị trường vốn có thể hiểu là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính Thị trường tài chính là các định chế tài chính qua đó người muốn tiết kiệm có thể cung cấp vốn cho người muốn vay Trên thị trường tài chính có các chủ thể: người
có khoản tài chính muốn cho vay, người muốn vay cho hoạt động đầu tư và các trung
Trang 28
gian tài chính Trung gian tài chính là các định chế tài chính mà qua đó những người tiết kiệm có thể gián tiếp cung cấp vốn cho người muốn vay Nó bao gồm các tổ chức nhận tiền gửi (các ngân hàng, các tổ chức tín dụng); các công ty bảo hiểm; các công ty đầu tư, qũy đầu tư, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí.v.v… Các trung gian này đứng giữa người cho vay (người tiết kiệm) và người vay (người chi tiêu vốn) và giúp cho chuyển vốn từ người này sang người kia, bằng cách nhận vốn của người cho vay (người tiét kiệm ) và sau đó cho người đi vay vay Kết quả là vốn đã chuyển từ những người tiết kiệm tới những người cần vay Khi thực hiện chức năng chuyển vốn các trung gian tài chính đặt
ra một lãi suất cao hơn cho các khoản tiền cho vay so với lãi suất mà họ trả cho người cho vay, bằng cách đó họ cũng thu được một khoản lợi nhuận
Thị trường tài chính thực hiện chức năng kinh tế nòng cốt trong việc dẫn vốn từ những người tiết kiệm (những người chỉ chi tiêu môt phần thu nhập của mình) tới những người cần vốn (những người chi tiêu nhiều hơn thu nhập của mình) Đây chính là con đường tài chính trực tiếp, bởi vì những người đi vay vay vốn trực tiếp từ người cho vay trong các thị trường tài chính bằng cách bán cho họ những chứng khoán Các chứng khoán này là tài sản có đối với người mua chúng (người cho vay) và là tài sản nợ với người bán chúng (người đi vay)
Ví dụ, công ty FPT cần vay vốn để tài trợ cho việc đầu tư tạo ra sản phẩm chống
và diệt virut bảo vệ hoạt động của máy tính Công ty có thể vay vốn của người tiết kiệm bằng cách phát hành trái phiếu trong đó công ty có lời hứa thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định
Thị trường tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ nơi có cung đến nơi có cầu dưới tác động của các quy luật khách quan Thông qua thị trường này, người có vốn tuy không trực tiếp đầu tư sinh lời, nhưng vẫn có điều kiện đầu tư để tăng thu nhập Đồng thời, giúp người cần vốn do có cơ hội sản xuất kinh doanh, nhưng họ không đủ vốn, có thể vay được vốn để đầu tư có hiệu quả và giúp nhà sản xuất tiêu thụ được hàng hóa nhanh hơn Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho xây dưng cơ sở vật chất của nền kinh tế Thông qua thị trường tài chính nguồn vốn cho vay sử dụng có hiệu quả hơn Hoạt động của thị trường tài chính tạo điều
Trang 29
kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của chính phủ Thực tế cho thấy nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định trong phát triển kinh tế Nếu chúng ta chỉ dựa vào trong nước không thôi thì chưa đủ, mà cần có sự bổ sung nguồn vốn từ bên ngoài Thị trường tài chính là cầu nối để dẫn vốn từ nước ngoài chảy vào và từ trong nước chảy ra Thông qua thị trường này, ta có thể làm tăng quy mô thu hút vốn cho phát triển KH&CN
Sự phát triển, tính đồng bộ và sự thông thoáng của thị trường tài chính sẽ là yếu tố tác động mạnh đến việc thu hút vốn đầu tư không chỉ cho KH&CN mà còn cho tất cả các hoạt động đầu tư phát triển khác
1.2.3 Triển vọng hiệu quả của các dự án đầu tư
Một dự án đầu tư có hiệu quả là dự án sử dụng các nguồn lực sẵn có ít nhất để đạt được kết quả cao nhất Nó được xem xét qua hai khía cạnh: kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội
Có các tiêu thức phổ biến dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của một tổ chức kinh tế là: hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối, hiệu quả chung và hiệu quả từng phần Hiệu quả tuyệt đối của hoạt động là mức lợi nhuận thu được trong quá trình sản
xuất kinh doanh của tổ chức kinh tế Nếu gọi là khối lượng lợi nhuận của doanh
nghiệp trong 1 năm, TR là doanh thu mà doanh nghiệp có được trong năm đó (TR = P.Q), TC là tổng chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để có được khối lượng doanh thu trên, thì ta có:
= TR – TC
Khối lượng lợi nhuận của nhà đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh ( > 0) càng nhiều, thì hiệu quả càng lớn Nếu kết quả hoạt động của nhà đầu tư thu được 0, thì đầu tư đó không có hiệu quả Trong kinh tế thị trường, nguyên tắc hoạt động của nhà đầu tư là phải thu được lợi nhuận tối đa (max), muốn vậy, nhà đầu tư phải đạt doanh thu tối đa (TRmax) còn tổng chi phí phải tối thiểu (TCmin)
Hiệu quả tương đối của sản xuất kinh doanh là chỉ số so sánh giữa khoản thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí thực tế để có được khoản thu đó Nó
có thể được tính bằng năng suất lao động (số lượng sản phẩm sản xuất ra trong 1 đơn vị
Trang 30
thời gian hoặc số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm), tỷ suất
’ = ( : K) 100%; trong đó: ’ là tỷ suất lợi nhuận trong năm, là tổng lợi nhuận trong năm, và K là tổng vốn đầu tư trong năm Một hoạt động đầu tư có hiệu quả khi đạt được tỷ suất lợi nhuận cao Mục tiêu của nhà đầu tư là tối đa hóa lợi nhuận (max) Hiệu quả của hoạt động đầu tư còn được đo lường bằng chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn Chỉ tiêu này được xác định trên cơ sở lấy tổng doanh thu do hoạt động đầu tư mang lại trong
1 năm hoặc sau khi hoàn thành dự án chia cho tổng vốn đầu tư để có tổng doanh thu đó, tính theo phần trăm
Ngoài các chỉ tiêu trên, trong xác định hiệu quả hoạt động của một tổ chức kinh
tế, người ta còn tính toán các chỉ tiêu khác như tỷ trọng thời gian lao động được sử dụng, mức tăng thu nhập của người lao động trong tổ chức kinh tế, mức đóng góp vào ngân sách nhà nước và việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội…
Để đánh giá hiệu quả của một hoạt động đầu tư của một tổ chức, cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá nêu trên Nếu chỉ chú ý đến tỷ suất lợi nhuận mà bỏ qua mức độ thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội thì không thể gọi hoạt động của tổ chức đó có hiệu quả Hiệu quả kinh tế phải đi liền với hiệu quả xã hội, phục vụ cho sự tiến bộ xã hội Theo cách này, việc đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư cho KH&CN phải rất coi trọng vấn đề hiệu quả kinh tế - xã hội Bởi vì, sản phẩm của hoạt động KH&CN có độ trễ nhất định Nó không chỉ thu được hiệu quả trực tiếp, mà nhiều khi chỉ thu được hiệu quả tiềm năng như đó phõn tớch ở đặc điểm của vốn đầu tư vào KH&CN ở trên
Hiệu quả đầu tư của dự án KH&CN càng cao thì càng có điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn vốn trong xã hội cho hoạt động này Ngược lại, nếu dự án thu được hiệu quả thấp, thiếu triển vọng thì khó có thể kích thích được các nguồn vốn đầu tư vào Hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện (nếu không nói là có tính quyết định) của việc thu hút vốn
1.2.4 Chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước
Muốn thu hút được nhiều vốn đầu tư phải có môi trường đầu tư hấp dẫn Môi
Trang 31
trường đầu tư bao gồm luật pháp, kết cấu hạ tầng, thủ tục hành chính và môi trường chính trị xó hội Để tạo lập môi trường thuận lợi, hấp dẫn nhà đầu tư vào KH&CN, việc hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là một yếu tố rất quan trọng
Ví dụ, mấy năm gần đây, Đảng cộng sản Trung Quốc coi việc củng cố nguồn nhân lực cho cải cách, mở cửa là mục tiêu quan trọng trong phát triển KH&CN Thực hiện chủ trương đó, nhà nước Trung Quốc đó tạo ra một hệ thống và môi trường thuận lợi cho thu hút nhân tài Các sinh viên Trung Quốc nghiên cứu ở nước ngoài được khuyến khích về nước để phục vụ quê hương theo một loạt các chính sách hỗ trợ, trong đó có “Chương trỡnh nhân tài”, “Chương trỡnh học bổng Cheung Kong”, và các dự án lớn trong khuôn khổ hợp tác quốc tế về KH&CN Nhiều cơ quan trong Chính phủ cũn đưa ra những chính sách ưu đói khác để thu hút sinh viên Trung Quốc ở nước ngoài hồi hương1 Nhờ thế mà thu hút được nhân
tài, nhu cầu đầu tư cho phát triển KH&CN được tăng lên
Chính sách kinh tế là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của môi trường đầu tư Nếu một chính sách phù hợp, hấp dẫn, giải quyết hài hũa cỏc lợi ớch kinh tế của cỏc chủ thể, thỡ sẽ gõy hấp dẫn để các nhà đầu tư lựa chọn và quyết định đầu tư Chính sách đầu tư là một bộ phận trong chính sách kinh tế của Nhà nước
Đi liền với hệ thống chính sách kinh tế là một môi trường pháp lý phự hợp và đồng bộ bao gồm các định chế pháp lý như: Hiến pháp, toà án kinh tế, trọng tài kinh tế, hệ thống kiểm toán quốc gia Chính sách kinh tế và hệ thống pháp luật được Nhà nước ban hành nhằm khuyến khích đầu tư bao gồm các ưu đói đầu tư và các biện pháp đảm bảo cho các ưu đói
được thực hiện trên thực tế
Mức độ hoàn thiện và tính hiệu lực của chính sách và pháp luật cùng với phương thức vận hành của chúng, sẽ là điều kiện quan trọng trong việc tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, kớch thớch dũng chảy của vốn đầu tư trong kinh tế thị trường theo mục tiêu nhà nước đó xỏc định Ngược lại, tính không ổn định, thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ và kém hiệu lực của chính sách và luật pháp sẽ là yếu tố cản trở dũng chảy của vốn
1.3 Kinh nghiệm của một số nước về thu hút các nguồn vốn cho đầu tư phát
1
NACESTI (Theo Chinadaily, 31/10/2008)
Trang 32
triển khoa học và công nghệ
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển các nguồn vốn của Nhật Bản
Hiện nay, Nhật Bản không chỉ là một cường quốc về kinh tế, mà cũn là một trong những nước dẫn đầu về KH&CN Trỡnh độ KH&CN của Nhật Bản được thể hiện qua nhiều khía cạnh Trong đó, nổi bật nhất là số lượng các bài báo và đơn xin cấp bằng sáng chế Số lượng các bài báo của Nhật Bản về KH&CN năm 1999 chỉ đứng thứ hai sau Mỹ Đơn xin cấp bằng sáng chế 1998 ở Nhật Bản gần bằng một phần ba của Mỹ (2.210.000) và EU (2.030.000) Số lượng tài liệu KH&CN trích dẫn (thể hiện chất lượng của các bài báo) của Nhật Bản đứng thứ tư sau Mỹ, Anh và CHLB Đức… Điều này cho thấy hiệu quả và tính hấp dẫn của những nghiên cứu hàng đầu của các nhà khoa học Nhật Bản Thực tế ở Nhật Bản cho thấy, kinh tế Nhật Bản mạnh vỡ cú nền KH&CN mạnh Tuy là một nước không có truyền thống KH&CN từ nhiều thế kỷ trước như các nước châu Âu, nhưng Nhật Bản đó có rất nhiều thành công về lĩnh vực này trong một thế kỷ vừa qua
Những chủ trương tạo nên sự thành công trong phát triển KH&CN của Nhật Bản lúc đầu là sao chép, mô phỏng công nghệ nước ngoài Tiếp đén là vươn xa hơn, trở thành người “khổng lồ” trong việc cung cấp công nghệ tiên tiến cho thế giới Những quan điểm phát triển KH&CN của Nhật là: bắt chước có tính sáng tạo; gắn nghiên cứu khoa học với thực tế; chú trọng áp dụng công nghệ cao vào sản xuất; phát huy và khuyến khích nhân tài; đẩy mạnh sự hợp tác giữa các viện nghiên cứu và công nghiệp; thúc đẩy KH&CN
Một trong những nhân tố dẫn đến thành công về phát triển KH&CN của Nhật Bản là đó coi trọng việc mở rộng thu hút vốn đầu tư để tăng kinh phí cho hoạt động KH&CN Năm 1998, tổng chi phí cho hoạt động KH&CN là 122,3 tỷ USD, gần bằng 20% tổng chi phí nghiên cứu phát triển của toàn thế giới, 54% của Mỹ, cao hơn 2,5 lần
so với nước có chi phí nghiên cứu phát triển lớn thứ ba thế giới là CHLB Đức [2, tr.204] Riêng số vốn đầu tư cho KH&CN năm 1998 là 122,3 tỷ USD đó cú 88.093 triệu USD (bằng 72% tổng nguồn vốn cho nghiờn cứu phỏt triển) là của cỏc doanh nghiệp Theo số liệu cụng bố cuối thỏng 11/2000 của Cơ quan quản lý và điều phối Nhật Bản,
Trang 33Kế hoạch Cơ bản về KH&CN dự định cải tổ hệ thống KH&CN Nhật Bản để làm cho nó có năng lực đổi mới nhiều hơn và hiệu quả hơn trên cơ sở cải thiện mạnh mẽ môi trường nghiên cứu Trong giai đoạn giai đoạn 2001-2005, chính phủ Nhật quyết định chi vốn từ ngân sách cho KH&CN 21 nghỡn tỷ yờn (191 tỷ USD); giai đoạn 2006-
2010 là 25 nghỡn tỷ yờn (227 tỷ USD) Chi phí của Nhật Bản dành cho KH&CN trong năm tài chính 2008 (từ 1/4/2008 đến 31/3/2009) là 3.570 tỷ yên (tương đương 32,45 tỷ USD, nếu tính 1 USD bằng 110 yên), chiếm 7,55% của toàn bộ chi tiêu quốc gia năm
2008 Kinh phí của chính phủ Nhật Bản cấp cho KH&CN tiếp tục tăng ở tốc độ cao hơn những khoản kinh phí khác trong toàn bộ ngân sách Ba cơ quan được phân bổ nhiều nhất trong tổng số ngân sách dành cho KH&CN là Cơ quan Khoa học công nghệ; Bộ Giáo dục, Khoa học, Thể thao và văn hóa; và Bộ Thương mại quốc tế và Thương nghiệp (MITI) Bảng 1.1 là ví dụ về phân bổ ngân sách nhà nước cho ba cơ quan này trong năm tài khóa 1996 và 1997
Bảng 1.1: Phân bổ ngân sách nhà nước cho ba cơ quan chủ yếu của
Nhật Bản (năm tài khóa 1996 và 1997)
Năm 1996 (tỷ yên)
Năm 1997 (tỷ yên)
Bộ Giáo dục, Khoa học, Thể thao và Văn hóa 1.241,2 1.288,8
Bộ Thương mại quốc tế và Thương nghiệp 421,6 742,6
Trang 34
Nguồn: [2, tr.207]
Nguồn vốn tài trợ từ ngân sách nhà nước tuy đó rất lớn, nhưng mới chỉ chiếm khoảng 1/5 tổng nguồn vốn đầu tư cho KH&CN tại Nhật Bản Các doanh nghiệp là lực lượng chủ yếu trong đầu tư cho hoạt động KH&CN với mức đầu tư thường gấp 4 lần so với đầu tư của nhà nước cho hoạt động này Các doanh nghiệp Nhật Bản là lực lượng tích cực nhất trong đầu tư nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ mới Bảng 1.2 mô tả vốn đầu tư cho khoa học và nghiên cứu viên trong năm 2005 của hai khu vực tư nhân và nhà nước ở một số nước hàng đầu thế giới về KH&CN, trong đó
có Nhật Bản
Bảng 1.2: Vốn đầu tư cho khoa học và số nghiên cứu viên năm 2005
Nước Tổng vốn đầu tư
(100 triệu yên)
Đầu tư từ chính phủ (%)
Đầu tư từ các công
ty (%)
Tỷ lệ theo GDP (%)
Số nghiên cứu viên
Chi phí này được phân bổ cho các đề án và chương trỡnh KH&CN do nhiều Bộ
và cơ quan quản lý, trong đó MEXT (Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ), METI (Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp), MOD (Bộ Quốc phũng), MHLW (Bộ Y tế, Lao động, và Phúc lợi Xó hội), … Việc phõn bổ này do MOF (Bộ Tài chớnh) quyết định, dựa trên đánh giá của Hội đồng Chính sách KH&CN (SCTP, là tổ chức cố vấn của Hội đồng Chính phủ) về các đề án và chương trỡnh KH&CN do cỏc Bộ
Trang 35Bảng 1.3: Tỷ lệ đầu tư năm 2005 cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu
ứng dụng và nghiên cứu phát triển ở Nhật Bản (%)
Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu phát triển
2
Loại S: Nghiên cứu sáng tạo và mũi nhọn, thời gian 5 năm, kinh phí
từ 500 nghỡn đến 1 triệu USD/đề tài
Loại A: Nghiên cứu sáng tạo, 2-4 năm, kinh phí 200-500 nghỡn USD/đề tài
tài
Loại C: Nghiên cứu sáng tạo, 2-4 năm, kinh phí dưới 50 USD nghỡn/đề tài
Trang 361.3.2 Kinh nghiệm đa dạng hóa vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ của Trung Quốc
Từ khi thực hiện đường lối cải cách mở cửa, trong lĩnh vực KH&CN, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương cần phải đổi mới, tự chủ, sáng tạo hơn nữa để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và khắc phục tỡnh trạng cũn chậm tiến về KH&CN của Trung Quốc so với cỏc nước tiên tiến Trung Quốc bắt đầu tiến hành đổi mới cơ chế quản lý KH&CN vào đầu những năm 1980 Cùng với việc chuyển dần từ cơ chế làm việc kế hoạch hoá tập trung, cứng nhắc và khép kín, Trung Quốc đó thực hiện hàng loạt cỏc chớnh sỏch đổi mới cơ chế thu hút vốn đầu tư cho KH&CN với mục đích thay đổi tư duy làm việc và sản phẩm của các tổ chức KH&CN
Công cuộc cải cách cơ chế thu hút vốn đầu tư cho KH&CN ở Trung Quốc
những năm 1980 và 1990 tập trung vào hai mảng cải cách quan trọng Mảng thứ nhất là
chuyển đổi cơ chế phân bổ nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu sang đấu thầu cạnh tranh,
tập trung nguồn lực cho các nhà khoa học và các tổ chức KH&CN làm việc tốt Chính
sách thứ hai là khuyến khích các tổ chức KH&CN thương mại hoá kết quả nghiên cứu,
cho phép họ giữ lại một phần lợi nhuận để phân bổ và tái đầu tư phần lớn lợi nhuận để cho các hoạt động nghiên cứu tiếp theo Từ cuối những năm 1990, Trung Quốc lại tiến hành một cuộc cải cách mới nhằm hiện đại hoá hệ thống nghiên cứu KH&CN gây tính
hấp dẫn hơn và thực hiện đa dạng hóa đầu tư
- Về phân bổ vốn đầu tư, nhà nước chủ trương đấu thầu cạnh tranh và các xây
dựng chương trỡnh nghiờn cứu trọng điểm Bắt đầu từ đầu những năm 1980, Trung
Trang 37
Quốc thay đổi chính sách phân bổ vốn đầu tư cho nghiên cứu trong đó tăng dần tỷ trọng vốn đầu tư cho các đề xuất nghiên cứu tốt nhất thông qua hỡnh thức đấu thầu cạnh tranh giữa các tổ chức KH&CN và các cá nhân Hiện nay, hầu hết vốn đầu tư cho nghiên cứu được phân bổ thông qua hỡnh thức đấu thầu cạnh tranh Uỷ ban Khoa học công nghệ của Quốc gia và của các tỉnh đều có Ban chuyên gia tư vấn mà thành phần bao gồm các nhà khoa học, những người sẽ tiến hành đánh giá các đề xuất nghiên cứu dựa trên cơ sở mức độ đóng góp dự kiến của các nghiên cứu này đối với sản xuất và đời sống, phương pháp sử dụng cho nghiên cứu và tính mới, sáng tạo của nghiên cứu
Trong những năm cuối của thập kỷ 1990 và những năm gần đây, tỷ trọng của các nguồn vốn đầu tư cho KH&CN thông qua cơ chế đấu thầu cạnh tranh có xu hướng tăng dần Bên cạnh đó, các tổ chức KH&CN vẫn được cấp một khoản kinh phí nhất định với
tỷ trọng giảm dần cho hoạt động thường xuyên của đơn vị theo những định mức phân
bổ nhất định của các Bộ ngành chủ quản của Trung Quốc hoặc chính quyền các địa phương Kinh phí hoạt động thường xuyên này chủ yếu dùng để trang trải cho các khoản chi như lương cơ bản, lương hưu và các chi phí hoạt động thường xuyên khác của đơn vị mà trong đó lương hưu thường chiếm tỷ trọng đáng kể
Về hỡnh thức cấp vốn, Trung Quốc cấp vốn cho cỏc tổ chức KH&CN thụng qua
3 hỡnh thức: 1) Cho các vị trí nghiên cứu chủ chốt: Trước tiên, các tổ chức KH&CN tiến hành sắp xếp lại đội ngũ cán bộ trên cơ sở làm rừ chức năng, nhiệm vụ, vai trũ của cỏc vị trớ nghiờn cứu chủ chốt Nhà nước cam kết sẽ chi trả lương cho các vị trí này với mức lương tăng lên đáng kể (thường gấp từ 3-5 lần so với trước khi sắp xếp) 2) Chính phủ thiết lập cơ chế tài trợ vốn KH&CN theo chương trỡnh thụng qua đấu thầu cạnh tranh Các chương trỡnh được xây dựng căn cứ vào định hướng phát triển của quốc gia bao gồm nhiều lĩnh vực nghiên cưú và giao cho các Bộ, Ngành tổ chức triển khai thực hiện Hỡnh thức cấp vốn này là chủ yếu ở Trung Quốc hiện nay 3) Tài trợ vốn của Viện trưởng: Nhà nước dành một khoản kinh phí nhất định, giao Viện trưởng chủ quản lý và quyết định phê duỵêt cấp vốn nghiên cứu cho những đề xuất nghiên cứu tốt nhất Mục đích của quỹ này dùng để khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến nghiên cứu của các nghiên cứu viên
Trang 38
Việc chuyển đổi từ cấp vốn theo cơ chế cũ sang đấu thầu cạnh tranh đó gúp phần đáng kể làm tăng năng suất, hiệu quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN và cỏc nhà khoa học vỡ thụng qua cơ chế đấu thầu cạnh tranh có thể chọn được các đề xuất nghiên cứu tốt nhất
Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh là tỷ trọng vốn đầu tư cho nghiên cứu KH&CN nụng nghiệp thụng qua hỡnh thức đấu thầu cạnh tranh ngày càng tăng lên và hệ quả là tỷ trọng vốn cấp thường xuyên cho các tổ chức KH&CN giảm dần Điều này đồng nghĩa với việc để thu hút được nhiều kinh phí cho nghiên cứu, các nhà khoa học đầu đàn phải dành nhiều thời gian cho việc chuẩn bị đề xuất nghiên cứu để đấu thầu mà cũn rất ớt thời gian dành cho việc tổ chức thực hiện nghiờn cứu khi đó thắng thầu Kết quả một cuộc khảo sát do Trung tâm nghiên cứu chính sách nông nghiệp Trung Quốc (CCAP) thực hiện cho thấy thời gian cán bộ nghiên cứu dành cho các hoạt động nghiên cứu giảm từ 74% năm 1985 xuống cũn khoảng 50% ở cuối những năm 1990
Nhận thức rừ vấn đề này, gần đây Chính phủ Trung Quốc đó tăng dần tỷ lệ đầu tư
cố định cho các tổ chức KH&CN, tuy nhiên theo đánh giá của Giáo sư (GS) Hu Ruifa, chuyên gia nghiên cứu hàng đầu về chính sách KH&CN ở CCAP thỡ sự tăng này cũn xa mới đáp ứng đủ nhu cầu Theo GS Hu, các khoản đầu tư cố định này cần được cân đối và đáp ứng ở mức đủ để cán bộ nghiên cứu tập trung vào làm công tác nghiên cứu - nói cách khác, cần đầu tư cho lương và thu nhập thích đáng để cán bộ nghiên cứu yên tâm, dành tối
đa thời gian cho công tác nghiên cứu GS Hu cho biết lương cơ bản hiện nay của cán bộ nghiên cứu ở Trung Quốc rất thấp (Giáo sư trung bỡnh cú mức lương khoảng 50.000 nhân dân tệ/năm trong khi một sinh viên mới ra trường làm cho công ty điện lực có mức thu nhập bỡnh quõn khoảng 80.000-100.000 nhân dân tệ /năm)
- Về chính sách thương mại hoá hệ thống KH&CN, Trung Quốc bắt đầu khuyến
khích các tổ chức KH&CN trong nước tiến hành thương mại hoá các sản phẩm khoa học công nghệ từ giữa những năm 1980 Vào năm 1987, Chủ nhiệm Uỷ ban khoa học
kỹ thuật Nhà nước Trung Quốc đó cụng bố kế hoạch mà trong đó, thúc đẩy các nhà KH&CN Trung Quốc tư duy như những nhà doanh nghiệp Các Bộ ngành Trung Quốc nhanh chúng tiếp thu ý tưởng này, khuyến khích các tổ chức KH&CN tỡm kiếm thờm
Trang 39
thu nhập từ hoạt động thương mại hoá các sản phẩm KH&CN Thời gian đầu, việc thương mại hoá các sản phẩm KH&CN là tương đối khó khăn do giá cả được bao cấp nặng nề và có rất ít cơ hội để có thể thương mại hoá các sản phẩm KH&CN
Tuy nhiên, khi mà ngân sách đầu tư cho KH&CN ngày càng trở nên hạn hẹp và đổi mới trở thành nhu cầu cấp thiết thỡ vấn đề thương mại hoá sản phẩm KH&CN trở nên vấn đề cực kỳ quan trọng Quá trỡnh đổi mới thể chế, chính sách quản lý KH&CN
ở Trung Quốc mà trọng tâm là chính sách thương mại hoá các tổ chức KH&CN có thể phân thành 3 nhóm chính sách chủ yếu là: Nhóm chính sách định hướng, nhóm chính sách hỗ trợ và nhóm chính sách phát triển
Nhóm chính sách định hướng nhấn mạnh nguyên tắc hướng nghiên cứu tới ngày càng sát hơn nhu cầu của thị trường Các chính sách đó được thiết kế để cho phép các nhà khoa học có thể bán các phát minh sáng chế mà họ đó tạo ra và điều đó dần trở thành trào lưu trong nghiên cứu - cố gắng kiếm tiền từ sản phẩm KH&CN bằng bất cứ cách nào Khác với trước đây, Chính phủ sẽ không cấp vốn thường xuyên cho các tổ chức KH&CN mà họ phải tỡm kiếm cỏc nguồn thu bổ sung từ thị trường Nguồn thu từ các hoạt động thương mại tăng đáng kể từ cuối những năm 1980 đến hết 1990 Các hoạt động thương mại này bao gồm từ việc bán các sản phẩm KH&CN từ quỏ trỡnh nghiên cứu đến các hoạt động kinh doanh thương mại khác như mở nhà hàng, khách sạn hoặc buôn bán thương mại Gần đây, xu hướng tập trung vào việc bán các sản phẩm KH&CN gần với lĩnh vực nghiên cứu của tổ chức hơn
Đối với các tổ chức KH&CN chuyển đổi sang thương mại hoá, Nhà nước có những chính sách hỗ trợ đáng kể Sau 7 năm từ khi chuyển đổi, các tổ chức này được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và được phép tham gia đấu thầu các chương trỡnh, dự
ỏn ở tất cả cỏ cấp khỏc nhau Cỏc tổ chức KH&CN chuyển đổi hoạt động thực sự như các công ty và hiện tại đó cú hơn 10 Viện nghiên cứu chuyển đổi đó tiến hành niờm yết trờn thị trường chứng khoán
Để thực hiện các chính sách phát triển, Bộ Khoa học Công nghệ Trung Quốc đó thiết lập Quỹ KH&CN để các tổ chức KH&CN chuyển đổi tiếp cận nguồn vốn dưới dạng chương trỡnh và thụng qua đấu thầu cạnh tranh
Trang 40
Kết quả là, trước đây Trung Quốc có tổng số 265 Viện nghiên cứu của nhà nước (cấp Bộ - không bao gồm các Viện nghiên cứu cơ bản của Nhà nước trực thuộc Viên hàn lâm khoa học Trung Quốc) đến nay đó cú 165 Viện tiến hành chuyển đổi sang thành viện nghiên cứu thương mại Trong ngành nông nghiệp, trước đây có 69 viện nghiên cứu của Nhà nước với 15.000 cán bộ thỡ nay đó cú 39 viện với số cỏn bộ là 10.000 người chuyển đổi sang thành các viện nghiên cứu thương mại
Việc thực hiện chính sách đa dạng hóa đầu tư đó đưa lại kết quả rất đáng khích
kệ Các cơ sở KH&CN mở rộng được nguồn vốn cho các hoạt động, đồng thời giảm được gánh nặng của ngân sách nhà nước cho hoạt động này Thực chất, đây là giải pháp
xó hội húa vốn đầu tư cho phát triển KH&CN Kết quả là, năm 2004, tỷ lệ đầu tư của Trung Quốc cho KH&CN từ ngân sách Nhà nước so với khu vực ngoài Nhà nước khoảng 1/3, mức đầu tư bỡnh quõn cho 1 cỏn bộ KH&CN đạt 20 USD gấp 4 lần so với
ở Việt Nam Hiện nay, Trung Quốc đó cú những giống lỳa lai cho sản lượng tới 15 tấn/ha/vụ; có những giống ếch mỗi năm đẻ trứng 8 lần, mỗi lần có thể sinh ra tới 40-60 nghỡn trứng Một Viện nghiờn cứu cụng nghệ sinh học ở tỉnh Quảng Chõu cú thể sản xuất tới 70 sản phẩm khác nhau Người làm khoa học không cần nhận quỹ lương từ nhà nước mà lại có thể hưởng lương ở mức cao… Trung Quốc hiện có mọi thành tựu khoa học mà thế giới có, như tên lửa, vũ khí hạt nhân, tàu vũ trụ có người lái, máy bay chiến đấu, máy bay chở khách, tàu sân bay…
Tuy nhiên, vấn đề thương mại hoá sản phẩm KH&CN cũng có những mặt trái của nó Thứ nhất, đó là do hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ yếu nên việc cấp giấy chứng nhận phát minh sáng chế gặp khó khăn và khó thực thi trong điều kiện có quá nhiều người sản xuất là nông dân nhỏ Hiện nay, Trung Quốc phân loại các tổ chức KH&CN thành 3 nhóm: 1) Nhóm các Viện nghiên cứu mang tính đột phá như nghiên cứu về cây trồng biến đổi gen, dịch bệnh chăn nuôi, Nhóm này được ưu tiên đầu tư cao - tăng mức đầu tư 2-3 lần hàng năm; 2) Nhóm các viện nghiên cứu mang tính hàng hoá công - ví dụ như Viện nghiên cứu thông tin thị trường nông sản Những năm qua nhà nước bắt đầu tăng vốn đầu tư cho các viện loại này nhưng mức độ chưa nhiều; và 3) Các Viện nghiên cứu thương mại - tất cả các sản phẩm sẽ được bán ra thị trường - mức