Tỡnh hỡnh nghiên cứu liên quan đến luận văn Nghiên cứu về tác động của phát triển công nghiệp tới nông nghiệp cho đến nay vẫn cũn hạn chế, nhưng nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn thỡ
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp và nông nghiệp được Chủ tịch Hồ Chí Minh ví như hai chân của nền kinh tế Phát triển công nghiệp có tác động lớn tới nông nghiệp thúc đẩy nông nghiệp phát triển Ngược lại nông nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện tích luỹ vốn ban đầu cho phát triển công nghiệp Sau hơn 20 năm đổi mới, đặc biệt sau Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) nền nông nghiệp Việt Nam đó đạt những thành tựu khá toàn diện và to lớn, tốc
độ tăng trưởng kinh tế đạt cao, không những đảm bảo an ninh lương thực mà cũn cú sản phẩm xuất khẩu, một số sản phẩm được thị trường quốc tế ưa chuộng Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp chậm hơn công nghiệp và nền nông nghiệp đang chịu tác động mạnh mẽ làn sóng phát triển công nghiệp Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X chỉ rừ:
Phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao…Xây dựng và thực hiện tốt chương trỡnh phát triển công nghiệp phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Tập trung nguồn lực phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động, như: chế biến nông, lâm, thuỷ sản… [17, tr.196 - 197]
Vĩnh Phúc nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, nhưng có địa hỡnh đa dạng và được nhiều địa phương trong cả nước biết đến với “khoán hộ” vào thập niên 60 của thế
kỷ XX Được tái lập năm 1997, tại thời điểm đó nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, 85% dân cư sống bằng nghề nông, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Mặt khác, do điều kiện địa lý tự nhiên, Vĩnh Phúc có khả năng phát triển công nghiệp
- dịch vụ Thực tiễn trong hơn 10 tái lập tỉnh, sự phát triển công nghiệp của Vĩnh Phúc
đó thỳc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ (năm 2008 chiếm 82%) Sự chuyển dịch này có ảnh hưởng toàn diện tới sản xuất nông nghiệp của Vĩnh Phúc Phát triển công nghiệp là nền tảng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao, tăng thu ngân sách để có điều kiện tái đầu tư cho nông nghiệp Quá trỡnh phỏt triển cụng nghiệp của Vĩnh Phỳc thời gian qua đó tỏc
Trang 3
động lớn tới phát triển nông nghiệp của tỉnh cả tác động tích cực và tác động tiêu cực Cần phải có sự nghiên cứu về những tác động này để tỡm ra cỏc giải pháp phù hợp phát huy hiệu quả tác động phát triển công nghiệp đến phát triển nông nghiệp của
tỉnh Vỡ vậy, đề tài nghiên cứu “Tác động của phát triển công nghiệp đối với nông
nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc” được học viên lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ
kinh tế
2 Tỡnh hỡnh nghiên cứu liên quan đến luận văn
Nghiên cứu về tác động của phát triển công nghiệp tới nông nghiệp cho đến nay vẫn cũn hạn chế, nhưng nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn thỡ đó cú nhiều nhà khoa học và cỏc tỏc giả quan tõm, cụ thể:
- Nguyễn Phúc Thọ, Tác động tiêu cực của công nghiệp hoá tới nội dung xây dựng
khu công nghiệp tập trung đến sản xuất và đời sống của các hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất ở xó Nam Sơn, huyện Quế Vừ, tỉnh Bắc Ninh www.hua.edu.vn
- Nguyễn Quốc Thanh, Phát triển công nghiệp ở nông thôn gắn với bảo vệ môi
trường www.quangtri.vn
- Bùi Huy Đáp - Nguyễn Điền (1996), Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi
mới Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Đỡnh Phan (2007), Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội
- Đặng Kim sơn (2008), Nông nghiệp nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và
mai sau Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- TS Nguyễn Thế Trường (2008) Hoàn thiện tổ chức sản xuất nông nghiệp ở các
tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội
- Phạm Thị Khanh (2005), “Đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp bền vững ở Việt
Nam”, Tạp chớ Lý luận chớnh trị, tr 33 - 40
- Lưu Văn Sùng (2004), Một số kinh nghiệm điển hỡnh về phỏt triển nụng nghiệp,
nụng thụn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 4
Ngoài ra cũn nhiều luận văn Thạc sĩ kinh tế về đề tài nông nghiệp, nông thôn dưới các góc độ và ở các địa phương khác nhau
Tại Vĩnh Phúc cũng đó cú những cụng trỡnh nghiờn cứu như: TS Nguyễn Thế
Trường (2008), Những biến đổi kinh tế - xó hội ở Vĩnh Phỳc giai đoạn 1997 - 2005 Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội; Hoàng Đức Tiến (1999) Công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp ở huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc, Luận án Thạc sỹ kinh tế; Các đề án
cụ thể hoá Nghị quyết số 03 của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc về “Phát triển nông nghiệp, nông
thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2020”
Những cụng trỡnh nghiờn cứu về lĩnh vực nụng nghiệp, nụng thụn cú rất nhiều và
đó đề cập đến phát triển nền nông nghiệp nói chung và của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng Nhưng nghiên cứu về tác động của phát triển công nghiệp tới nông nghiệp trên địa bàn của tỉnh Vĩnh Phỳc thỡ đến nay chưa có tác giả nào đề cập đến Vỡ vậy, đề tài nghiên cứu
“Tác động của phát triển công nghiệp đối với nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc” được học
viên lựa chọn làm đề tài luận văn Thạc sĩ kinh tế là không trùng lắp với các công trỡnh nghiờn cứu khoa học đó được công bố
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trang 5
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực để thúc đẩy nông nghiệp Vĩnh Phúc phát triển bền vững trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu tác động của phát triển công nghiệp tới nông nghiệp Vĩnh Phúc từ năm 2004 đến 2008, trong đó từ 2004 - 2007 theo địa giới hành chính cũ và năm 2008 theo địa giới hành chính mới, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả tác động phát triển công nghiệp đến phát triển nông nghiệp Vĩnh Phúc trong thời gian tới
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mỏc- Lờnin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ Tỉnh Vĩnh Phúc về vấn đề tác động của phát triển công nghiệp tới nông nghiệp Ngoài ra luận văn kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của một số công trỡnh, bài viết cú liờn quan đến vấn đề này
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, luận văn cũn sử dụng những phương pháp như: Phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê…
6 Đóng góp mới của luận văn
- Làm rừ thờm những tỏc động của phát triển công nghiệp đối với nông
nghiệp
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng tác động của phát triển công nghiệp tới nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2004 - 2008, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả tác động phát triển công nghiệp đến phát triển nông nghiệp Vĩnh Phúc trong thời gian tới
Trang 67 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 7 tiết
Trang 7Việc duy trỡ phương pháp canh tác cũ do nhiều nguyên nhân, nhưng yếu tố quan trọng là do tính rủi ro và tính không ổn định của ngành nông nghiệp quy định Nếu để người sản xuất nông nghiệp chuyển từ những giống cây trồng và công nghệ truyền thống sang một cây trồng và công nghệ mới với hứa hẹn cho một năng suất, sản lượng cao hơn nhưng có thể phải chịu rủi ro mất mùa thỡ họ sẽ chọn những cõy trồng và công nghệ đó được thực tế kiểm nghiệm Với người sản xuất nông nghiệp tránh được một vụ hay một năm mất mùa cũn quan trọng hơn nhiều lần là nâng cao sản lượng Ở nền sản xuất nông nghiệp truyền thống thỡ tớnh ăn chắc luôn được người nông dân đặt lên hàng đầu
Tuy nhiờn, ngay trong lũng của nền sản xuất nụng nghiệp truyền thống cũng đó cú những bước tiến: từ du canh, du cư đến định canh, định cư, ổn định giống cây trồng, vật nuôi cũng như công nghệ sản xuất đó tạo tiền đề cho sự ra đời phương pháp canh tác mới Nhưng để một phương pháp, một công nghệ sản xuất mới được áp dụng vào sản
Trang 8
xuất cần phải có thời gian và một trải nghiệm thực tiễn, khi trải nghiệm đó được cá nhân hay tập thể chứng minh tính hiệu quả vượt trội, ổn định hơn phương pháp sản xuất cũ tự khắc nó sẽ được chấp nhận và nhân rộng
Công nghiệp phát triển đó tỏc động mạnh tới phương thức sản xuất nông nghiệp,
đó phỏ thế độc canh hỡnh thành cỏch thức sản xuất mới đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi - đánh dấu bước chuyển quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Cơ sở của bước chuyển này là do những phương pháp canh tác mới được áp dụng rộng rói và đem lại hiệu quả kinh tế - xó hội cao Áp dụng phương pháp canh tác mới đũi hỏi phải biết phỏt huy đúng lúc tác dụng của các dự án thuỷ lợi, sử dụng phân bón hữu cơ cho các loại cây trồng đúng chu kỳ sinh trưởng, phát triển của cây…nên năng suất, sản lượng tăng, đặc biệt là cây lương thực
Công nghiệp phát triển, hàng loạt các máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp
ra đời như: máy cày, máy tuốt, máy xay xát được đưa vào sử dụng nhằm giải phóng sức lao động Bên cạnh đó những giống mới được đưa vào sản xuất đó làm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm, nhờ đó người dân đó giải phóng một phần đất đai để trồng các loại cây công nghiệp, cây lấy gỗ, cây ăn quả và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm Việc đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi cũng có thể giảm thiểu những tác động tiêu cực khi mất mùa ở những cây trồng chính, tạo ra sự ổn định cho phát triển kinh
tế Chính từ sự đa dạng cây trồng, vật nuôi đó cú tỏc động rất mạnh mẽ đến người sản xuất nông nghiệp như: thời gian nông nhàn giảm, tỷ lệ sử dụng lao động trong nông nghiệp tăng, hệ số sử dụng đất cao và thu nhập của người sản xuất nông nghiệp cũng tăng lên, làm thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp
Công nghiệp phát triển sẽ làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại hơn, hỡnh thành cỏc vựng sản xuất hàng hoỏ lớn tập trung Tuy nhiờn, quỏ trỡnh tập trung hoỏ diễn ra chậm và kéo dài hơn so với lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nhưng những thay đổi trong kỹ thuật và cách thức tổ chức của sản xuất nông nghiệp
đó làm cho sản lượng và năng suất lao động trong nông nghiệp tăng mạnh: Lúa của Việt nam từ 28 tạ/ha năm 1985 tăng lên 49tạ/ha năm 2006, Trung Quốc 53 tạ/ha lên
63 tạ/ha, Inđônêxia 39 tạ/ha lên 63 tạ/ha [33, tr.68] Sự tăng trưởng này một mặt làm
Trang 9
tăng khối lượng hàng hoá nụng sản cú thể cung cấp cho xó hội, chuyển bớt một phần lao động từ nông nghiệp sang các ngành sản xuất khác mà không gây ra sự suy giảm sản lượng nông nghiệp và đời sống xó hội Mặt khỏc, lượng cầu về tư liệu lao động và hàng tiêu dùng trong khu vực nông nghiệp tăng lên đó kớch thớch mở rộng sản xuất ở những khu vực phi nụng nghiệp Quỏ trỡnh này đó dần phỏ vỡ nền kinh tế tự nhiờn để chuyển thành kinh tế hàng hoá
Việc hỡnh thành cỏc vựng sản xuất hàng hoá tập trung xuất phát từ phát triển của lực lượng sản xuất nói chung và đũi hỏi nguồn cung nguyờn liệu cho phỏt triển cụng nghiệp chế biến nụng sản núi riờng Đây là giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, nó gắn với các tiến bộ của phát triển công nghiệp, của khoa học - công nghệ, trong đó công nghệ sinh học làm tăng năng suất cây trồng, cơ giới hoá làm tăng năng suất lao động
Đặc điểm chung của các vùng sản xuất hàng hoá tập trung là chú trọng trồng một hoặc hai loại cây chủ lực như: vùng trồng lúa, vùng trồng cây công nghiệp như: cà phê, mía…, chuyển từ sản xuất nông nghiệp theo phương thức truyền thống độc canh cây lúa sang phương thức sản xuất sản xuất hàng hoá lớn, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao
1.1.2 Sự phát triển nông nghiệp chịu sự tác động mạnh của khoa học - công nghệ
Trước đây, chúng ta thường quan niệm, sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như; tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động… Nhưng các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đó chứng minh, ngoài những yếu tố trờn cũn cú những nhõn tố khỏc cú khả năng thay đổi và giữ vai trũ quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế khi mà nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, môi trường ngày càng ô nhiễm đó là khoa học - công nghệ Nó được coi là yếu tố đầu vào của quá trỡnh sản xuất và thỳc đẩy nền kinh tế phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu Khi nhận xét về tác động của khoa học - công nghệ C.Mác đó dự đoán: “đến giai đoạn công nghiệp, việc sản sinh ra sự giàu có thực sự không phụ thuộc nhiều vào thời
Trang 10
gian lao động, mà lại phần lớn phụ thuộc vào tỡnh trạng chung của khoa học và tiến
bộ của kỹ thuật hay sự vận dụng khoa học và sản xuất” [37, tr.276]
Ngày nay, khoa học - công nghệ tạo ra công cụ lao động mới, phương pháp sản xuất mới, nên các nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả hơn, làm biến đổi chất lượng lao động, cơ cấu lao động, chuyển từ lao động thủ công, giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc là chính nên năng suất lao động tăng cao Khoa học - công nghệ
có tác động toàn diện tới nền kinh tế nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng, dẫn đến phân chia thành nhiều ngành nhỏ, xuất hiện thêm nhiều ngành mới, lĩnh vực kinh tế mới Mặt khác, nó làm cho thu nhập tăng, cơ cấu tiêu dùng thay đổi, tất yếu cơ cấu sản xuất cũng phải thay đổi và từ đó làm thay đổi cơ cấu, vị trí các ngành chuyển dịch theo hướng giảm tương đối tăng tuyệt đối
Cũng như những ngành kinh tế khác, nông nghiệp cũng chịu tác động mạnh của khoa học - công nghệ, đây chính là cú hích tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nội bộ ngành Khi nền sản xuất nông nghiệp cũn mang tớnh tự cung, tự cấp, độc canh đến định canh, định cư, đa dạng cây trồng, vật nuôi, đến hỡnh thành cỏc vựng sản xuất hàng hoỏ tập trung thỡ khoa học - cụng nghệ đóng vai trũ nền tảng Ngay cả khi một giống mới được tạo ra đó gắn với cụng nghệ sinh học, nhưng để đưa ra sản xuất đảm bảo tăng năng suất chỉ trong điều kiện đủ nước, phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật từ công nghiệp Sản xuất nông nghiệp chỉ phát triển khi song hành với các lĩnh vực kinh tế khác
Sự phát triển của công nghiệp, của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến làm tăng năng suất cây trồng, kết hợp với thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, hoá học hoá làm tăng năng suất lao động trong nông nghiệp Tất cả các yếu tố trên kết hợp với nhau làm gia tăng sản lượng và từ đây người nông dân có thể bán các nông sản của mỡnh, nên đó hỡnh thành thị trường - một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp Khi mà việc chú trọng sử dụng các yếu tố của sản xuất không hoàn toàn cũn đặt vào đất đai, nước, lao động như sản xuất nông nghiệp truyền thống nữa, thỡ thay vào đó là việc tạo vốn và tiến bộ của khoa học - công nghệ đóng vai trũ then chốt thỳc đẩy sự phát triển của nông nghiệp Ở nước ta giai đoạn 2001 - 2007 khoa học - công nghệ trở thành yếu tố đóng góp tới 63% vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp [33, tr.67]
Trang 11
Mục tiêu của việc đưa khoa học - công nghệ vào nông nghiệp là nhằm thúc đẩy sản xuất tăng trưởng, phát triển nhanh, cải biến nền nông nghiệp lạc hậu thành nền nông nghiệp tiên tiến, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng sản lượng và giá trị thu nhập trên một đơn vị đất đai, mặt nước, tăng năng suất, sản lượng và giá trị thu nhập trên lao động nông nghiệp và nông thôn và cuối cùng là nâng cao mức sống và thu nhập của nông dân [10, tr.296] Trong điều kiện đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp thỡ phương thức canh tác: thâm canh, xen canh, tăng vụ đi đôi với việc ứng dụng khoa học - công nghệ sẽ là một phương thức canh tác tốt nhất để nâng cao hệ số sử dụng đất, tăng khối lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích
Công nghệ sinh học hiện đại đang tạo ra những chuyển biến cách mạng trong lĩnh vực nụng nghiệp và cụng nghiệp thực phẩm nhờ sử dụng rộng rói kỹ thuật gen, kỹ thuật
tế bào, kỹ thuật lên men mới và kỹ thuật enzim Trong nông nghiệp, hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ sinh học thể hiện trước hết trong việc tạo ra các giống mới có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, khả năng chống dịch bệnh tăng, chịu hạn và các tác nhân khác từ thiên nhiên Điều này cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của công nghệ sinh học trong phát triển nền nông nghiệp hiện đại
Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của công nghiệp, của tiến bộ khoa học - công nghệ và của các điều kiện kinh tế - xó hội, con người có khả năng làm thay đổi môi trường một cách nhanh chóng Tuy nhiên, sự thay đổi môi trường này phải đảm bảo vừa thu được từ thiên nhiên nhiều sản phẩm nhất phục vụ cho cuộc sống của con người vừa phải nâng cao được tính tái tạo của tự nhiên, bảo vệ và cải tạo môi trường sống
Ngày nay, với một hệ thống công nghệ mới như: công nghệ thông tin, sinh học, năng lượng mới, vật liệu mới đó mở ra cơ hội phát triển mới cho nhiều ngành Đối với nông nghiệp thỡ cụng nghệ sinh học tạo sự đột phá toàn diện và được công nghệ thông tin phổ biến rộng rói mang tớnh toàn cầu đó hướng tới phát triển một nền nông nghiệp sinh thái, phục tráng và đổi mới hệ thống giống, tái tạo lại thảm thực vật rừng, khai thác tiềm năng to lớn của biển…Với những thành tựu của công nghệ sinh học, loài người không chỉ đảm bảo đủ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh từ tự nhiên cho hơn 9 - 10 tỷ người vào giữa thế kỷ XXI mà cũn cú khả năng khôi phục cân bằng sinh
Trang 12
thỏi, giữ gỡn đa dạng sinh học toàn cầu [21, tr.309] Chớnh vỡ vậy, cỏc nước đó và đang tiến hành nghiên cứu khoa học để áp dụng vào sản xuất nông nghiệp tạo bước phát triển đột phá trong nông nghiệp Một trong những nước đó cú bí quyết sử dụng khoa học - công nghệ để tăng năng suất, chất lượng nông sản vươn lên nắm thế chủ động chi phối thị trường gạo thế giới như Thái Lan (giá gạo của Thái Lan hiện nay đang chi phối giá thị trường gạo thế giới)
Ở nước ta, nhiều Nghị quyết và văn kiện quan trọng của Đảng, Nhà nước nhấn mạnh việc đưa nhanh khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, coi đây là khâu đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xó hội và chấn hưng nền nông nghiệp Việt Nam Hiện tại ở Việt Nam đó hỡnh thành cỏc kờnh hỗ trợ chuyển giao cụng nghệ ở như:
- Hỗ trợ theo kênh khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư: Đây là kênh chính thức
và quan trọng nhất của Nhà nước nhằm cung cấp cho người sản xuất nông nghiệp tiếp cận và làm chủ những kiến thức sản xuất nông nghiệp hiện đại
- Hỗ trợ qua kênh chương trỡnh, dự ỏn của Nhà nước nhằm đào tạo kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ cho cả lao động trực tiếp và lao động quản lý trong nụng nghiệp
- Hỗ trợ thông qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài; bao gồm các hoạt động chuyển giao công nghệ ở các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, bảo vệ và trồng rừng, bảo quản nông sản
Nhỡn chung, trong bối cảnh như hiện nay thỡ nụng nghiệp chịu tỏc động mạnh của công nghiệp, của tiến bộ khoa học - công nghệ, nó được coi là các yếu tố đầu vào và
hỗ trợ đầu ra rất hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp
Từ hai đặc điểm cơ bản của phát triển nông nghiệp dưới sự tác động của phát triển công nghiệp, có thể rút ra một số nhận xét:
+ Sự vận động, thay đổi từ sản xuất nông nghiệp thống sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá là một đũi hỏi khỏch quan Đặc biệt dưới tác động của công nghiệp chế biến và dịch vụ nông nghiệp ngày càng phát triển hoàn thiện đó làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh
tế ngành nông nghiệp, cơ cấu lao động, quy mô sản xuất, cơ cấu thu nhập Bên cạnh đó,
do nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn của xó hội cũng như đũi hỏi của nền kinh tế nờn
Trang 13
ngành nụng nghiệp phải cú sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi để đáp ứng tư liệu tiêu dùng thiết yếu của con người và khai thác lợi thế so sánh của từng loại giống cây trồng, vật nuôi và của từng vùng
+ Lao động khu vực nông nghiệp dưới tác động của phát triển công nghiệp có sự phân công lao động mới trên cơ sở hỡnh thành và phỏt triển cỏc nghề mới như: tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống, dịch vụ…theo phương châm “ly nông bất ly hương” Từng bước xác lập cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trên địa bàn nông thôn, thúc đẩy phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, làm biến đổi bộ mặt nông thôn
+ Chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp đũi hỏi luụn phải được nâng cao đáp ứng yêu cầu của sự phát triển công nghiệp Đối với người lao động trực tiếp trong nông nghiệp phải vừa có kiến thức chuyên ngành vừa có kiến thức thực tiễn; với những người lao động sống ở khu vực nông thôn nhưng không tham gia trực tiếp sản xuất nông nghiệp
mà lao động ở lĩnh vực khác thỡ phải cú sự nhậy bén trong nắm bắt công nghệ cũng như lựa chọn nghề cho phù hợp
+ Các tiến bộ khoa học - công nghệ được ứng dụng vào sản xuất, quản lý, kinh doanh, thực hiện thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, hoá học hoá, tin học hoá vào sản xuất nông nghiệp đó tạo đà cho nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Thành tựu của công nghệ sinh học đó làm thay đổi căn bản cách thức quản lý sản xuất kinh doanh ở khu vực kinh tế nông nghiệp theo hướng lấy cơ cấu, quy mô và nhu cầu thị trường làm cơ sở quyết định cơ cấu, quy mô sản xuất và cơ cấu sản phẩm nhằm kết hợp hài hoà giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ ngay trong phương án sản xuất, kinh doanh
+ Kết cấu hạ tầng nông nghiệp từng bước được đầu tư theo hướng kiên cố hoá, hiện đại hoá Phong cách lao động nông nghiệp truyền thống có bước chuyển mạnh sang phong cách lao động công nghiệp (tính năng động, sáng tạo) và tổ chức kỷ luật cao trong lao động
1.2 SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG NGHIỆP
1.2.1 Tác động của công nghiệp đối với nông nghiệp
Trang 14Một là: Công nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào cho nông nghiệp; để đảm bảo
cho việc sản xuất lương thực, thực phẩm (hay tư liệu sinh hoạt thiết yếu) cho nhu cầu tiêu dùng của con người và nhu cầu này có xu hướng ngày càng tăng theo thị hiếu và quy mô dân số Để thực hiện được nhiệm vụ này nông nghiệp không thể tự thân vận động nếu không có sự hỗ trợ của công nghiệp như: phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, máy cơ giới trong các khâu từ làm đất đến thu hoạch, do đó làm nõng cao trỡnh độ công nghệ của sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, công nghiệp có vai trũ quan trọng trong quỏ trỡnh xõy dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp như hệ thống kênh mương cứng, trạm bơm, đường nội đồng… Tất cả làm cho năng suất lao động, chất lượng nông sản tăng
Hai là: Công nghiệp vừa tạo thị trường vừa tạo điều kiện cần thiết tăng giá trị sản
phẩm nông nghiệp; khi thu nhập của dân cư thành thị nâng lên do công nghiệp ở đó phát triển sẽ là thị trường tiêu thụ các sản phẩm của nông nghiệp như: gạo, rau quả các loại, thịt gia súc, gia cầm… Bên cạnh đó, công nghiệp chế biến phát triển làm cho các sản phẩm nông nghiệp nâng cao giá trị, tăng khả năng tích trữ, vận chuyển, làm cho sản phẩm nông nghiệp thêm phong phú về chủng loại, từ đó mở ra khả năng tiêu thụ mới không những ở thị trường trong nước mà cũn làm cho “cỏc sản phẩm từ nụng nghiệp, nụng thụn của nước ta phải có mặt trong từng căn hộ, từng bữa ăn của người nước ngoài” [22, tr.15], tạo vị thế mới cho nông sản và tham gia vào phân công lao động cũng như thị trường thế giới Nhờ có công nghiệp chế biến đó góp phần khắc phục khuyết tật của nền sản xuất nông nghiệp đó là tính thời vụ cao, khó bảo quản, khó vận chuyển Chính sự phát triển của công nghiệp chế biến, sự tác động của công nghiệp chế biến nông sản vào nền nông nghiệp hàng hoá tạo cơ sở giải quyết những vấn đề xó hội, nõng cao đời sống
Trang 15
dân trí…là mục tiêu của quá trỡnh phỏt triển, song cũng là cơ sở xó hội của quỏ trỡnh phỏt triển cụng nghiệp [26, tr.16]
Ba là: Công nghiệp đó thỳc đẩy sự ứng dụng công nghệ sinh học vào nông nghiệp
tạo ra bước đột phá mới về giống cây trồng, vật nuôi Với những giống cây trồng, vật nuôi có nhiều đặc tính ưu việt vượt trội về chu kỳ sinh trưởng, phát triển, có khả năng kháng bệnh tốt, đa dạng nông sản hơn, năng suất - chất lượng hơn…, dưới tác động của công nghệ sinh học đó tạo ra dũng sản phẩm phong phỳ, đa dạng và có giá trị cao
Bốn là: Công nghiệp phát triển dẫn đến mở rộng đất sản xuất công nghiệp, thu hút
lao động từ nông nghiệp; khi nền nông nghiệp chịu tác động mạnh của công nghiệp; cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, tin học hoá…được ứng dụng sẽ tạo khả năng giải phóng sức lao động rất lớn Bên cạnh đó, công nghiệp phát triển cũng sẽ tạo ra các ngành sản xuất mới, hỡnh thành cỏc khu công nghiệp mới, khu chế xuất mới và chính những cái mới này đũi hỏi phải cú quỹ đất, có nguồn lao động dồi dào để vận hành, đến đây cơ cấu lao động trong toàn xó hội cú sự dịch chuyển từ lao động nông nghiệp sang công nghiệp
và các lĩnh vực kinh tế khác Như vậy, công nghiệp thu hút lao động từ nông nghiệp và việc thu hút này ngày càng tăng đó gúp phần giải quyết lao động dư thừa trong khu vực nông thôn, lao động nông nhàn và lao động dư thừa trong xó hội, làm tăng thu nhập, thúc đẩy người lao động tự học tập nõng cao tay nghề, trỡnh độ chuyên môn, kỷ luật lao động
Khi phân tích sự tác động của công nghiệp đối với nông nghiệp V.I.Lênin khẳng định:
Ngoài máy móc ra sự cần thiết phải cày bừa ruộng đất tốt hơn nữa sẽ đưa đến chỗ thay thế những công cụ thô sơ trước đây, bằng những công cụ cải tiến hơn, và thay thế gỗ bằng sắt, bằng thép Sự thay đổi đó sẽ đưa đến chỗ phải xây dựng tại chỗ những nhà máy chế tạo ra những công cụ đó, vỡ cụng nghiệp thủ cụng khụng thể làm ra được những công cụ tốt như thế và nhờ có sự phát triển của công nghiệp chế biến bằng máy móc và công nghiệp khác cho nên yêu cầu về khoáng sản cũng ngày một tăng thêm [28, tr.89]
V.I.Lờnin cũn nhấn mạnh thờm:
Trang 16
Cụng nghiệp là chỡa khoỏ để cải tạo nông nghiệp lạc hậu và phân tán trên cơ sở tập thể hoá… Do đó, nhiệm vụ là phải cung cấp cho nông nghiệp đến mức tối đa những công cụ và tư liệu sản xuất cần thiết để xúc tiến và đẩy mạnh cải tạo nông nghiệp trên cơ sở kỹ thuật mới và việc cải tạo một nền nông nghiệp bị chia nhỏ, phân tán là một việc làm hết sức khó khăn cần phải đi dần từng bước nhưng liên tục và kiên quyết bền bỉ, làm cho nông nghiệp chuyển qua một cơ sở kỹ thuật mới, cơ sở của nền đại sản xuất, đưa nông nghiệp lên ngang tầm trỡnh độ công nghiệp xó hội chủ nghĩa Nếu làm được việc đó thỡ thắng lợi cuối cựng của chủ nghĩa xó hội mới được đảm bảo [28, tr.157 - 159]
Từ thực tiễn cỏch mạng và qua nghiờn cứu V.I.Lờnin cho rằng Chủ nghĩa xó hội chỉ cú thể thắng khi xõy dựng được một nền sản xuất hiện đại trên cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, năng suất lao động vượt trội hơn hẳn Chủ nghĩa tư bản
Khi nói về sự tác động của công nghiệp đối với nông nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công nghiệp - nông nghiệp như hai chân của nền kinh tế, chúng có tác động hỗ trợ nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển, Người chỉ rừ: “Muốn tiến lờn Chủ nghĩa xó hội thỡ phải phỏt triển cụng nghiệp nhưng đồng thời cũng phải phát triển nông nghiệp, vỡ hai ngành đó khắng khít với nhau” [29, tr.136] hay “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế… hai chân đi khoẻ và đi đều thỡ tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích” [30, tr.544 - 545] Công nghiệp phải phục vụ nông nghiệp, sự phục đó phải thiết thực và hiệu quả, Người chỉ rừ: Quan trọng nhất trong đời sống nhân dân là vấn
đề ăn, để giải quyết tốt lương thực phải dồi dào Muốn như vậy thỡ cụng nghiệp phải giúp cho nông nghiệp nhiều máy tăng thuỷ lực, máy cày, máy bừa, phân bón hoá học [30, tr.352] Người tiếp tục khẳng định giữa công nghiệp và nông nghiệp có sự liên
hệ khăng khít trong tiến trỡnh công nghiệp hoá, được biểu hiện ra bên ngoài như những hoạt động kinh tế, trao đổi sản phẩm giữa hai ngành; “Công nghiệp phát triển thỡ sẽ giỳp nụng thụn ta về thuỷ lợi, về phõn bún, về nụng cụ cải tiến, về mỏy móc nông nghiệp, về sức điện…[30, tr.15]
1.2.2 Tác động của nông nghiệp đối với phát triển công nghiệp
Trang 17
Nông nghiệp có tác động lan toả đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xó hội, trong
đó có tác động mạnh mẽ đối với quá trỡnh phỏt triển cụng nghiệp, những tỏc động đó thể hiện ở:
Một là: Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nhiều
ngành sản xuất hàng tiêu dùng Những yếu tố đầu vào này đáp ứng yêu cầu các nhà máy,
xí nghiệp chế biến về số lượng, chất lượng và chủng loại sản phẩm sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất nhằm nâng cao giá trị nông sản và đa dạng về sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước cũng như quốc tế Để có sự phát triển đồng bộ giữa nông nghiệp và công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến phải có các nhóm giải pháp hợp qui luật phát triển của từng ngành cả về tư liệu sản xuất, qui trỡnh kỹ thuật, qui mụ, tổ chức sản xuất và quan hệ lợi ích kinh tế J.Stalin chỉ ra; không thể phát triển được công nghiệp nếu trong nước không có nguyên liệu, không có lương thực cung cấp cho công nhân, nếu không có một nền nông nghiệp phát triển ít nhiều đến mức có thể làm thị trường chủ yếu cho công nghiệp và Ông khẳng định muốn phát triển công nghiệp phải
có ba điều kiện: một là, phải có thị trường trong nước mà thị trường trong nước lại chủ yếu là nông dân; hai là, nông nghiệp phải đảm bảo nguồn nguyên liệu tương đối phát đạt; ba là, phải làm cho nông dân có thể dự trữ một số lượng cần thiết về nông sản để cung cấp cho công nghiệp, cung cấp cho công nhân và Ông đó nhắc lại cõu núi của Lờnin: muốn xõy dựng cụng nghiệp thỡ cần phải bắt đầu từ nông nghiệp [28, tr.171]
Đương thời Hồ Chí Minh đó chỉ rừ: “Muốn phỏt triển cụng nghiệp, phỏt triển kinh
tế núi chung phải lấy việc phỏt triển nụng nghiệp làm gốc, làm chớnh Nếu khụng phỏt triển nụng nghiệp thỡ khụng cú sơ sở để phát triển công nghiệp vỡ nụng nghiệp cung cấp nguyờn liệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hoá của công nghiệp làm ra” [30, tr.180] và Người cũn nhấn mạnh “Nụng nghiệp phải cung cấp đủ lương thực và nguyên liệu để phát triển công nghiệp, để đảm bảo công nghiệp hoỏ xó hội chủ nghĩa” [30, tr.379]
Ngày nay dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ ngành dệt may đó
cú nhiều sản phẩm được làm ra từ chất liệu hoá học như; bông hoá học, len hoá học…nhưng
Trang 18
vẫn không thể thay thế và phủ nhận hoàn toàn tác dụng của những cây công nghiệp này đối với các ngành dệt may hiện nay
Hai là: Nông nghiệp là thị trường lớn tiêu thụ các sản phẩm của nhiều ngành kinh
tế, trong đó các sản phẩm của ngành công nghiệp là không thể thiếu và ngày có xu hướng gia tăng Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong
cơ cấu nền kinh tế, cư dân chủ yếu sinh sống ở khu vực nông thôn Bên cạnh đó quá trỡnh cụng nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp đó tạo sức bật cho kinh tế khu vực nụng nghiệp phỏt triển theo hướng sản xuất hàng hoá, thu nhập của người dân ngày càng tăng nên nhu cầu mua sắm cũng không ngừng tăng lên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định; nông thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hoá của công nghiệp sản xuất ra Đồng thời, sẽ cung cấp
đủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị Như thế là nông thôn giàu có sẽ giúp cho công nghiệp phát triển Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển
mạnh hơn nữa [29, tr.91] Nông nghiệp là nền tảng của nền kinh tế quốc dân và để
nông nghiệp phát triển phải đặt nông nghiệp trong mối quan hệ tổng thể với các ngành khác trong nền kinh tế, Người chỉ rừ, “Cần mở rộng cụng nghiệp, nụng nghiệp, thương nghiệp để nâng cao sức sản xuất và cải thiện đời sống cho nhân dân” [29, tr.516]
Thực tiễn đó chứng minh nụng nghiệp đóng vai trũ quan trọng đối với sự tồn tại của xó hội loài người, mọi sự tiến bộ của khoa học - công nghệ chỉ làm thay đổi hỡnh thức, tập quán sản xuất nông nghiệp hướng tới tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các ngành công nghiệp và nhu cầu tiêu dùng của xó hội
Ba là: Nông nghiệp là khu vực cung cấp nguồn lao động cho công nghiệp; trong
quỏ trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá thỡ sức lao động trong các ngành kinh tế nói chung được giải phóng, trong đó nông nghiệp dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đó làm cho lao động dôi dư nhiều và một đũi hỏi tất yếu phải dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp
và các lĩnh vực hoạt động khác Tuy nhiên sự dịch chuyển này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Năng suất lao động trong nông nghiệp phải không ngừng tăng lên; công nghiệp và
Trang 19xó hội cũ, và thay thế nông dân bằng người làm thuê Do đó mà ở nông thôn, những nhu cầu cải biến xó hội và cuộc đấu tranh giai cấp, được nâng lên ngang với trỡnh độ ở thành thị” và “chỉ có nền nông nghiệp lớn sử dụng máy móc, mới tạo cho nền kinh doanh nông nghiệp tư bản chủ nghĩa” [28, tr.84]
Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển số lao động khu vực nông thôn cao, ngay cả khi quá trỡnh cụng nghiệp hoá được tiến hành thành công cũng không sử dụng hết số lao động này Một dự báo của Tổ chức Carnegie về Trung Quốc cho thấy vào năm 2020 lúc nông nghiệp trong GDP cũn 4,8%, lao động nông nghiệp vẫn cũn 34,6% và dõn số nụng thụn cũn 45% Theo dự bỏo, cựng thời điểm đó ở Việt Nam nông nghiệp trong GDP sẽ cũn 9,6%, lao động nông nghiệp từ 22,6 đến 49% và lao động nông thôn sẽ từ 61,3 đến 72,6% [2, tr.1] Bên cạnh đó, con đường ngắn nhất để giảm khoảng cách giàu nghèo và thu nhập trong các khu vực kinh tế là dịch chuyển lao động, nhưng nếu để tỡnh trạng dịch chuyển lao động khu vực nông thôn ra thành thị, ra các khu công nghiệp, cụm cụng nghiệp tập trung kiếm việc làm một cỏch tự phỏt thỡ sẽ nảy sinh nhiều vấn đề xó hội như: quy mô sản xuất sẽ tăng nhưng khó quản lý, lao động nông nghiệp bị già và nữ hoỏ, trỡnh
độ thâm canh truyền thống sẽ được áp dụng…Trong điều kiện như vậy sẽ dẫn đến mất an ninh lương thực, thực phẩm, xó hội sẽ mất ổn định
Bốn là: Nông nghiệp là ngành đóng vai trũ quan trọng trong bảo vệ tài nguyờn
thiờn nhiờn và mụi trường sinh thái trước sức ép về chất thải công nghiệp Trước làn sóng phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, làng nghề trong khi đó công tác quản
lý về mụi trường chưa theo kịp nên để lại hậu quả nặng nề về chất thải Trong khi đó rác thải rắn hàng năm thải ra hàng triệu tấn mà biện pháp chủ yếu là chôn lấp, công nghiệp
Trang 20là chỗ dựa cho nền kinh tế trong thời kỳ khủng hoảng
1.2.3 Đường lối phát triển công nghiệp và nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ta thể hiện qua các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng
Thấy được vị trí và tầm quan trọng của sự tác động qua lại của công nghiệp và nông nghiệp trong quá trỡnh phỏt triển kinh tế của đất nước, qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đặc biệt quan tâm tới hai lĩnh vực kinh tế quan trọng này và đó đề ra chủ trương, đường lối cho phỏt triển cụng nghiệp và nụng nghiệp trong từng thời kỳ phự hợp với tỡnh hỡnh
cụ thể của Việt Nam, phấn đấu đạt mục tiêu chung dân giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh Cụ thể:
Đại hội III (1960), Đảng ta xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt thời kỳ quá độ và nông nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trỡnh cụng nghiệp hoỏ đất nước
Đại hội IV (1979), nhấn mạnh ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp
lý, trờn cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
Đại hội V (1982), thể hiện rừ hơn quan điểm của Đảng về vai trũ của nụng nghiệp đối với sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước:
…tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu…, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp
Trang 21
hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp
lý Đó là những nội dung chính của công nghiệp hoỏ xó hội chủ nghĩa [13, tr.62 - 63]
Đại hội VI (1986), thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, nông nghiệp luôn được Đảng ta đặc biệt quan tâm, đó cú nhiều văn bản chỉ đạo tạo bước ngoặt cho sản xuất nông nghiệp; Nghị quyết 10, ngày 5/4/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nụng nghiệp; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 - khoá VI xác định hộ gia đỡnh là đơn vị kinh
tế tự chủ
Đại hội VII (1991) đưa ra quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Tại Hội nghị Trung ương 5 - khoá VII “…phải sớm phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản…cần phát triển công nghiệp nông thôn một cách toàn diện, từ công nghiệp hàng tiêu dùng đến công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí chế tạo và sửa chữa với qui mô vừa và nhỏ” [18, tr.13] Tư tưởng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn được thể hiện
rừ hơn trong văn kiện Hội nghị Trung ương 7 - khoá VII
Trong những năm trước mắt, khả năng về vốn cũn cú hạn chế, nhu cầu việc làm rất bức bỏch, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tỡnh hỡnh kinh
tế - xó hội chưa thật ổn định vững chắc Vỡ vậy, cần tập trung nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn…từng bước hiện đại hoá các ngành nghề tiểu thủ công truyền thống có thị trường tiêu thụ lớn trong và ngoài nước [19, tr.7]
Đại hội VIII, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, trong
đó coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Đại hội IX, khẳng định “Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trỡnh độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, quy hoạch và sử dụng đất hợp lý; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá…chú trọng công nghệ chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao
Trang 22
động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới…” [16, tr.92 - 93]
Đặc biệt đến Nghị quyết Trung ương 5 - khoá IX, nêu rừ; chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường [20, tr.93]
Đại hội X, với chủ đề; nâng cao năng lực lónh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta
ra khỏi tỡnh trạng kộm phỏt triển đó thể hiện sự tổng kết nhiều vấn đề hệ trọng nhất của đất nước Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, nhất là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp Đại hội tiếp tục khẳng định:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp…gắn với công nghiệp chế biến
và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến
bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương…khuyến khích việc dồn điền đổi thửa, cho thuê, góp vốn cổ phần bằng đất; phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng trồng trọt và chăn nuôi tập trung… [17, tr.88 - 89]
Như vậy, trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và trong định hướng phát triển kinh
tế của Đảng ta được thể hiện qua các kỳ Đại hội cho thấy, trong từng thời điểm công nghiệp luôn gắn với nông nghiệp Từ chỗ xác định nông nghiệp là tiền đề để tiến hành công nghiệp hoá đến việc phát triển công nghiệp phải thúc đẩy nông nghiệp phát triển Quá trỡnh nhận thức của Đảng về phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá xuất phát từ đặc thù của nước nông nghiệp nhằm khơi dậy khu vực kinh
tế nhiều tiềm năng, chuẩn bị các tiền đề cho quá trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 23
Tóm lại, xuất phát từ nhu cầu nội tại của phát triển nông nghiệp mà cần phải gắn với
công nghiệp để nâng cao năng suất lao động, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động, đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị, văn hoá, xó hội theo hướng bền vững
1.3 KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ TỈNH TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỊ THU HẸP DO TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC HèNH THÀNH CÁC KHU CễNG NGHIỆP
Việc giải quyết những tác động trong phát triển công nghiệp đối với nông nghiệp không những là vấn đề kinh tế, lợi ích mà cũn là vấn đề mang tích chất xó hội phức tạp Nếu chỉ giải quyết về mặt lợi ớch kinh tế, nghĩa là khi thu hồi ruộng đất chỉ bồi thường là xong sẽ để lại hậu quả xó hội ngày càng trầm trọng hơn, vỡ tỷ lệ thất nghiệp gia tăng điều
mà tất cả các nền kinh tế đều tỡm mọi giải phỏp để khắc phục Như vậy để ổn định cuộc sống cho người lao động khi chịu những tác động từ phát triển công nghiệp là rất cần thiết và cần nhiều giải pháp mạnh, đồng bộ thỡ mới thực hiện thành công Để có thêm những kinh nghiệm của các địa phương trong cả nước về vấn đề này rất có ý nghĩa với Vĩnh Phỳc
Qua khảo sỏt, nghiờn cứu tỡnh hỡnh của cỏc địa phương như: Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Nam và Bỡnh Dương có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh và có những điều kiện tương đồng, chúng tôi thấy các tỉnh đó cú những cỏch giải quyết riờng của mỡnh về việc diện tớch đất nông nghiệp bị thu hẹp do mở rộng và phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn của tỉnh Cụ thể:
Ở Bắc Giang, tỉnh đó lập kế hoạch chi tiết, công khai để dân được biết biết và góp
ý kiến về vấn đề thu hồi diện tích đất nông nghiệp để phát triển các khu công nghiệp Đồng thời tỉnh cũn ban hành và thực hiện chớnh cỏc chính sách khác hỗ trợ cho người dân có đất bị thu hồi như: hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm cho người dân có đất bị thu hồi bằng hỡnh thức cụ thể: giao đất sản xuất - kinh doanh - dịch vụ phi nông nghiệp
Ở Hải Dương, tỉnh đó đề ra cơ chế hỗ trợ 100% phí học nghề cho những lao động
đó bàn giao từ 50% diện tớch đất canh tác trở lên
Trang 24
Ở Hà Nội, thành phố đó thành lập quỹ hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi, cấp thẻ học học nghề miễn phí, hỗ trợ chi phí học văn hoá, chi phí học nghề và cho vay vốn để kinh doanh
Ở Bỡnh Dương và Hà Nam, tỉnh đó thực hiện quy hoạch tỏi định cư gắn với tạo việc làm, đầu tư ngân sách cho dạy nghề, phát triển ngành nghề, mở rộng sản xuất, dịch
vụ gắn với khu công nghiệp, khu kinh tế
Như vậy, có thể nói, khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp để hỡnh thành các khu công nghiệp đó ảnh hưởng lớn tới việc làm của người nông dân, bởi họ sinh sống được chính là nhờ vào đất canh tác của họ Do đó, các địa phương đó chỳ trọng giải quyết vấn đề này đối với nông dân bị thu hồi đất Mỗi địa phương có cách giải quyết riêng, nhưng chung quy lại các tỉnh đều tạo cho người lao động cần câu để câu cá mà ăn chứ không phải là cho họ con cá để ăn ngay Đó là những cách làm mang tính lâu dài để đảm bảo cho người dân có thể tự tạo việc làm, nâng thu nhập, ổn định đời sống lâu dài của họ Các cách làm của các tỉnh nêu trên là những bài học thực tiễn quan trọng có thể vận dụng vào Vĩnh Phúc trong việc giải quyết vấn đề đất nông nghiệp bị thu hẹp do phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Chương 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
TỚI NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH VĨNH PHÚC
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH THUẬN LỢI CHO PHÁT TRIỂN CễNG NGHIỆP VÀ NÔNG NGHIỆP
2.1.1 Về điều kiện tự nhiên
Vĩnh phúc là 1 trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang; phía Nam và Phía Đông giáp Hà Nội; phía Tây giáp Phú Thọ Tỉnh có 1 thành phố là Vĩnh Yên; 1 thị xó là Phỳc Yờn và 7 huyện: Bỡnh Xuyờn, Tam Đảo, Tam Dương, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Lập Thạch và Sông Lô (Từ 01/8/2008 huyện Mê Linh cắt về Hà Nội, 01/4/2009 huyện Lập Thạch tách thành huyện Lập Thạch và huyện Sông Lô) Tính đến 01/01/2009 tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
Trang 25
Vĩnh Phúc là 123.176,43ha, giảm 14.164,53 ha so với 2007 do điều chuyển 18 xó, thị trấn của huyện Mê Linh về Thành phố Hà Nội, dõn số là 1.017 nghỡn người Tỷ lệ dân số thành thị 23%
Nằm tiếp giáp với Hà Nội, Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông đa dạng, thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu văn hoá với các tỉnh phía Bắc Về đường bộ tỉnh có Quốc lộ 2A (Hà Nội - Hà Giang), 2B (Vĩnh Yên - Tam Đảo), 2C (Vĩnh Tường - Vĩnh Yên - Tam Dương - Tuyên Quang) chạy qua và nối với Quốc lộ 18, Quốc lộ 5 Đường tỉnh lộ đang được đầu tư xây dựng với quy mô mặt cắt từ 36m trở lên đến các trung tâm khu công nghiệp và đô thị, cùng hệ thống đường liên huyện, xó được đầu tư mở rộng Trong tương lai không xa có tuyến đường cao tốc mới từ sân bay quốc tế Nội Bài đi Vân Nam (Trung Quốc) chạy qua - tuyến đường này đi thẳng tới cảng nước sâu Cái Lân (Quảng Ninh) rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hoá đến các sân bay, bến cảng trên toàn thế giới; Về đường sắt có tuyến Hà Nội - Lào Cai chạy qua với chiều dài 41 km, có
6 ga, trong đó ga Vĩnh Yên và ga Phúc Yên là 2 ga chính; Về đường thuỷ có 50km Sông Hồng, 35km Sông Lô đảm bảo cho việc vận chuyển dưới 30 tấn, cùng hệ thống sông - suối nhỏ, đầm - ao - hồ cung cấp nguồn nước, chất lượng nước cho phát triển kinh tế và sinh hoạt của người dân; liền kề với cảng hàng không quốc tế Nội Bài cho phép Vĩnh Phúc tiếp cận với các trung tâm kinh tế lớn, các trung tâm công nghiệp, các đô thị lớn, của thủ đô Hà Nội và tiếp nhận sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ những nơi này, tận dụng mọi
cơ hội cho phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xó hội của tỉnh
Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bỡnh hàng năm là 24,2oC Do vị trí địa lý đặc thù chuyển tiếp trung du miền núi với vùng châu thổ Sông Hồng nên địa hỡnh thấp dần theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, với 3 vùng sinh thái: Vùng núi; vùng trung du và vùng đồng bằng Với địa hỡnh đa dạng rất thuận tiện cho phát triển nông - lâm - thuỷ sản, dịch vụ, đặc biệt là công nghiệp và du lịch
Vĩnh Phúc có nhiều phong cảnh đẹp cho phép phát triển nhiều loại hỡnh du lịch, vui chơi giải trí: rừng Quốc gia Tam Đảo có khu nghỉ mát, hồ Làng Hà, Xạ Hương, thác Bản Long, hồ Đại Lải, Đầm Vạc…và gần 250 di tích lịch sử, văn hoá Mỗi danh lam
Trang 26đó đi vào hoạt động
Về tài nguyên đất: Theo kết quả điều tra thỡ chất lượng đất Vĩnh Phúc có 8 loại, thuộc 3 nhóm: Nhóm phù sa các sông chiếm 62,2% phù hợp với thâm canh cây lúa, hoa màu các loại; nhóm đất bạc màu chiếm 24,8% và nhóm đất vùng núi đặc trưng chiếm 13%, hai nhóm này phù hợp phát triển cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi, các công trỡnh hạ tầng kỹ thuật và xõy dựng khu cụng nghiệp
Vĩnh Phúc là tỉnh có tài nguyên rừng đa dạng, với 33.089 ha, trong đó rừng đặc dụng do Vườn Quốc gia Tam Đảo quản lý 11.658 ha - nơi đây đang gỡn giữ hệ động, thực vật phong phú với gần 1000 loài Bên cạnh đó tỉnh cũng có nhiều khoáng sản như: Nhóm khoáng sản nhiên liệu có Than bùn tập trung ở Văn Quán (Lập Thạch) và Hoàng Đan, Hoàng Lâu (Tam Dương) với trữ lượng khoảng 5,12 triệu tấn; than nâu ở Đạo Trù (Tam Đảo), Bạch Lưu, Đồng Thịnh (Sông Lô); Nhóm khoáng sản kim loại có trữ lượng nhỏ và phân tán ở các điểm dọc theo dóy đứt sườn Tây Nam dóy nỳi Tam Đảo Đáng chú ý có Barit dưới dạng tảng lăn ở vùng cao Đạo Trù thường đi liền với Chỡ, Kẽm, Đồng Vàng được xác định tập trung dọc theo đứt gẫy Tây Nam Tam Đảo, đó là chưa
kể đến nhóm khoáng sản không kim loại và vật liệu xây dựng Những điều kiện này rất thuận lợi cho phát triển công nghiệp khai khoáng của Vĩnh Phúc
2.1.2 Về điều kiện kinh tế - xó hội
Giai đoạn 2004 - 2008 nền kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng và có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh giai đoạn 2004 - 2008
Đơn vị: %
Năm
Trang 27Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế thỡ cơ cấu kinh tế của tỉnh cũng có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ; cụ thể Công nghiệp - xây dựng tăng từ 49,74% năm 2004 lên 61.06% năm 2007 và đạt 58,34% năm 2008 Dịch vụ - thương mại liên tục sụt giảm, năm 2004 đạt 26,17% và giảm cũn 23,95% năm 2008 Nông - lâm - thuỷ sản có
xu hướng giảm dần từ 24,1% năm 2004 xuống cũn 17,71% năm 2008
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế theo ngành
Đơn vị: %
Năm
Nông, lâm, thuỷ sản 24,1 21,2 17,30 14,25 17,71
Công nghiệp - xây dựng 49,74 52,3 57,00 61,06 58,34
Dịch vụ - thương mại 26,17 26,5 24,68 24,68 23,95
Nguồn: [9], [27], [43]
Khi nói đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Vĩnh Phúc được biết đến với những đột phá trong thu hút đầu tư, nhất là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đó tạo được sự bứt phá, tính đến hết năm 2008 trên địa bàn tỉnh có 365 dự ỏn cũn hiệu lực, trong đó 100 dự án FDI vốn đăng ký gần 1,98 tỷ USD, 265 dự án DDI vốn đăng ký trên 15,5 nghỡn tỷ đồng [43, tr.5] Với chính sách thu hút thông thoáng, cởi mở, chuẩn bị tốt hạ tầng kỹ thuật các khu - cụm công nghiệp, làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, thực hiện triệt để việc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” giúp các nhà đầu tư rút ngắn thời gian, chi phí trong
Trang 28đề án quy hoạch phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến 2020, Vĩnh Phúc có thêm 14 khu công nghiệp với diện tích 5.576 ha [6, tr.6-8] Từ tỉnh thuần nông đến nay tỉnh
đó cú cơ cấu kinh tế: công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Nhờ phát triển mạnh công nghiệp mà thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh liên tục tăng qua các năm
Bảng 2.3: Tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2004 - 2008
2008 “tập trung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xó hội, lấy phỏt triển giao thụng làm
Trang 29
khõu đột phá”, từ quan điểm chỉ đạo này, năm 2008 tỉnh dành 937 tỷ đồng (chiếm 45%) tổng chi để đầu tư cho các công trỡnh giao thụng, hạ tầng ngoài các khu - cụm công nghiệp, cỏc cụng trỡnh giao thụng liờn xó, giao thụng nụng thụn và hạ tầng cụng cộng cả tỉnh Nhờ đó, bộ mặt nông thôn Vĩnh phúc có thay đổi đáng kể, tỉnh không cũn hộ đói, số
hộ nghèo cũn 10,4% [4, tr.6], giảm 8% so với năm 2005 Thu nhập bỡnh quõn đầu người không ngừng tăng lên, năm 2004 là 6,79 triệu đồng thỡ đến 2008 là 21,836 triệu đồng
Bảng 2.4: Thu nhập bỡnh quõn đầu người giai đoạn 2004 - 2008
Về nguồn nhân lực: Hiện Vĩnh Phúc có nguồn lao động khá dồi dào, chiếm khoảng gần 70% dân số Trong đó lao động có việc làm trong các ngành kinh tế chiếm khoảng trên 80%, cũn lại chưa có việc làm Trên địa bàn có gần 20 trường Cao Đẳng, Đại học, Trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề của Trung ương và địa phương (chưa kể
Trang 30
các trường dạy nghề do huyện, thành, thị quản lý) với quy mô đào tạo trên 20.000 học sinh, sinh viên, đây là cơ sở để tỉnh nhanh chóng cải thiện nguồn nhân lực, đến 2008 lao động qua đào tạo đạt 42,9%, lao động qua đào tạo nghề đạt 32,6% Với nguồn nhân lực trẻ, có kiến thức sẽ đáp ứng nhu cầu về lao động cho quá trỡnh phỏt triển cụng nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
Cỏc chớnh sỏch xó hội, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có chuyển biến mạnh, đến nay có 130/137 xó, phường, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế Từ 2006 đến nay tỉnh đó cấp 472.378 thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách với tổng kinh phí 41.140 triệu đồng (riêng 2008 cấp 138.498 thẻ, kinh phí 18.005 triệu đồng), miễn giảm học phí
và đóng góp xây dựng cho 100.940 học sinh với kinh phí 20.932 triệu đồng; trợ cấp học tập hàng tháng và hỗ trợ học bổng cho học sinh dân tộc nội trú với tổng kinh phí trên 7 tỷ đồng, hỗ trợ xây dựng nhà đại đoàn kết với tổng kinh phí 57.576 triệu đồng [36, tr.15], giải quyết việc làm cho số lao động lớn Các lễ hội làng, xó được khôi phục, làm tăng cường hơn nữa truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong tỉnh - một nhân tố quan trọng không thể bỏ ngỏ trong quá trỡnh đẩy nhanh công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế như hiện nay
Có thể thấy điều kiện tự nhiên, kinh tế - xó hội của tỉnh rất thuận lợi cho sự phỏt triển cụng nghiệp trờn địa bàn tỉnh, và do đó đó tỏc động mạnh đến phát triển nông
nghiệp của tỉnh như:
Một là, tỉnh có điều kiện tự nhiên đa dạng, với 3 vùng sinh thái: vùng núi, vùng
trung du và vùng đồng bằng; có diện tích đất thuộc nhóm phù sa các sông lớn (chiếm 62,2%); nhiều danh lam thắng cảnh đẹp…cho phép phát triển nhiều ngành nghề, nhất là thuận lợi trong phát triển sản xuất nông nghiệp, thâm canh lúa và hoa màu các loại, phát triển cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi, phát triển trang trại, cỏc cụng trỡnh hạ tầng
kỹ thuật và phát triển các khu - cụm công nghiệp, phát triển du lịch…đó tạo cơ hội cho Vĩnh Phúc chủ động tỡm hướng đi phù hợp giải quyết hài hoà mối quan hệ các ngành kinh tế, nhà nước với doanh nghiệp
Hai là, Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, có cả đường
bộ, đường sông, đường sắt, gần sân bay quốc tế Nội bài…rất có lợi thế trong phát triển
Trang 31
công nghiệp, mở rộng lưu thông hàng hoá và tiếp cận - ứng dụng - làm chủ những tiến bộ khoa học - công nghệ trong nước cũng như thế giới để phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh
Ba là, sự tăng trưởng kinh tế cao và liên tục đó tạo nờn sự ổn định về kinh tế,
chính trị, an ninh quốc phũng và trật tự an toàn xó hội Đây là điều kiện thuận lợi để Vĩnh Phúc thu hút các nhà đầu tư lớn tỡm đến và đậu lại đầu tư nên đó tạo được sự bứt phá nhanh trong phát triển công nghiệp nhằm tăng thu ngân sách có điều kiện hỗ trợ các ngành kinh tế khác và giải quyết các vấn đề xó hội mới nảy sinh nờn đó hạn chế những tỏc xấu cho người sản xuất nói chung và người sản xuất nông nghiệp nói riêng
Bốn là, lịch sử đó hun đúc nên truyền thống cần cù, sáng tạo, vượt khó khăn, thử
thách để vươn lên, truyền thống đó được các thế hệ người con Vĩnh Phúc nối tiếp nhau làm nên những thành công mới Trong đó thế hệ trẻ của tỉnh đó và đang được đào tạo sẽ
là lực lượng tiếp cận và làm chủ những công nghệ mới, thúc đẩy công nghiệp phát triển lên tầm cao mới, cùng cả nước thực hiện thành công các mục tiêu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
2.2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỚI NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH VĨNH PHÚC
2.2.1 Những tác động tích cực và những nguyên nhân của nó
2.2.1.1 Những tác động tích cực
Thứ nhất, công nghiệp phát triển đó thỳc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông
nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi
Công nghiệp phát triển, việc thực hiện thuỷ lợi hoá, có giới hoá, điện khí hoá, sinh học hoá được thuận lợi, đó tỏc động mạnh tới sản xuất nông nghiệp (gồm cả nông nghiệp
- lâm nghiệp - thuỷ sản) Giai đoạn 2004 - 2008 nông nghiệp của tỉnh có bước phát triển khá cả về quy mô và trỡnh độ thâm canh; cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm nông sản có giá trị kinh tế cao; công tác chuyển giao, ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất được quan tâm nhằm tăng năng suất lao động, sản lượng cây trồng, vật nuôi nên giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp liên tục tăng lên:
Bảng 2.5: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giai đoạn 2004 - 2008
Trang 32Về tỷ trọng giữa hai ngành trồng trọt và chăn nuôi đó cú sự thay đổi Trong 5 năm qua giá trị sản xuất hàng năm thỡ trồng trọt cú xu hướng giảm mạnh nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao, chi phối sự đóng góp của ngành trong cơ cấu nền kinh tế của tỉnh, cũn chăn nuôi có nhịp độ tăng trưởng nhanh nhưng vẫn chiếm tỷ trọng thấp hơn nhiều Tuy vậy, theo xu thế phát triển và qua mối quan hệ giữa 2 ngành trồng trọt và chăn nuôi từ 2004 trở lại đây cho thấy tỷ trọng ngành chăn nuôi có tốc độ tăng nhanh
và đều hơn so với ngành trồng trọt
Bảng 2.6: Tỷ trọng ngành trồng trọt và chăn nuôi giai đoạn 2004 - 2008
(Theo giá cố định 1994)
Trang 33Sự biến đổi về giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp cho thấy xu thế vận động của ngành có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, nhưng cũng thể hiện sự tác động xấu tới ngành trồng trọt Nếu sự sụt giảm quá mức của ngành trồng trọt sẽ gây mất an ninh lương thực trên địa bàn, đe doạ sự ổn định xó hội
Trong quỏ trỡnh chuyển dịch, tỷ trọng trồng trọt tuy giảm dần, song về quy mô vẫn không ngừng tăng lên, vẫn là ngành sản xuất chính trong nông nghiệp Cơ cấu giống,
cơ cấu cây trồng, cơ cấu thời vụ có chuyển biến tích cực, theo hướng tăng diện tích các loại cây có giá trị kinh tế và hàng hoá cao Sự phát triển sản xuất nông nghiệp theo phương thức công nghiệp và việc áp dụng hàng loạt các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về giống, biện pháp thâm canh, bảo quản, chế biến, tiêu thụ được áp dụng rộng rói đó gúp phần thỳc đẩy trồng trọt phát triển Đặc biệt đó cú nhiều cụng thức luõn canh cho hiệu quả kinh tế cao như: 2 lúa + rau vụ đông đạt 56 triệu đồng, rau + lúa mùa đạt 80 triệu, chuyên rau 90 - 100 triệu đồng, chuyên hoa 150 - 200 triệu đồng, dâu tằm 75 triệu đồng
Trang 34
Trong trồng trọt thỡ việc trồng cõy lương thực vẫn chiếm ưu thế (75%), cây công nghiệp (8,7%), cây thực phẩm (7,8%) và một số cây trồng hàng năm khác Bên cạnh đó diện tích trồng cây lâu năm, điển hỡnh là cõy ăn quả tăng về diện tích nhưng sản lượng tăng giảm không đều do ảnh hưởng của thời tiết, diện tích lại không đồng đều giữa các vùng; vùng đồng bằng diện tích đất vườn/ hộ thấp nên chủ yếu trồng cây ăn quả tự cung, tự cấp, ít có sản phẩm hàng hoỏ, trừ vựng bói ven sông Hồng; vùng trung du, miền núi diện tích đất vườn/ hộ lớn thích hợp trồng các loại cây ăn quả nhưng điều kiện và khả năng thâm canh của người dân hạn chế, trong khi đó giá phân bón và chi phí nhân công cao nên hiệu quả sử dụng đất thấp
Ngành trồng trọt giai đoạn 2004 - 2008, vẫn giữ được vai trũ quan trọng trong việc cung cấp khối lượng lương thực đáp ứng nhu cầu tiờu dựng, bỡnh quõn lương thực đầu người năm 2004 là 378,19 kg/người, năm 2008 đạt 370,77kg/người Sản xuất đó cú sự gắn kết với thị trường tiêu thụ, ngoài việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nội tỉnh, phục vụ chăn nuôi, có các vùng sản xuất hàng hoá Trong 2 năm 2007 - 2008 đó xõy dựng được 48 vùng trồng trọt sản xuất hàng hoá, với tổng diện tích 1457 ha Đó hỡnh thành và ổn định tập quán sản xuất 3 vụ/ năm, một số diện tích 4 vụ/ năm trên diện tích đất canh tác hàng năm và vùng sản xuất hàng hoá Từng bước khai thác tiềm năng và lợi thế về tài nguyên đất của tỉnh Với chủ trương sử dụng đất nông nghiệp phải đạt hiệu quả và hợp lý nờn tỉnh
đó cú hướng sử dụng đất cho các vùng cụ thể, đặc biệt là vùng đồi và vùng trũng rất khó khăn cho tổ chức sản xuất trồng trọt: Đối với vùng đồi, phát triển trang trại, trồng cây ăn quả, cây lâm nghiệp kết hợp chăn nuôi; vùng trũng cải tạo chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản
và 2 vùng khó khăn này đang từng bước khai thác và sử dụng hợp lý
Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển công nghiệp, nên Vĩnh Phúc có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành chăn nuôi theo lối công nghiệp quy mô gia đỡnh và quy mụ trang trại tập trung lớn Từ những chủ trương, chính sách kích cầu đầu tư cho chăn nuôi như: sind hoá đàn bũ, nạc hoá đàn lợn, mô hỡnh chăn nuôi gà an toàn sinh học,
gà thả vườn, chương trỡnh cung cấp giống cõy trồng, vật nuụi, chương trỡnh hỗ trợ vựng chậm lũ, cỏc dự ỏn chăn nuôi thuộc vốn giải quyết việc làm hoặc do các đoàn thể chính trị xó hội quản lý…Sự phỏt triển của ngành chăn nuôi đó trở thành mũi đột phá trong quá
Trang 35
trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và đang dần chuyển mạnh sang hướng sản xuất hàng hoá, chăn nuôi theo phương thức công nghiệp Tuy nhịp độ tăng trưởng cao nhưng xét về mặt cơ cấu giá trị vẫn cũn thấp hơn ngành trồng trọt, chiếm 29,8% năm
2004 lên 40,1% năm 2008 Số lượng đại gia súc tăng giảm không đồng đều (xem bảng
2.7), nhất là đàn Trâu liên tục giảm qua các năm từ 32.325 năm 2004 xuống cũn 25.110
con năm 2008 (giảm 7215 con), đàn Bũ và đàn Lợn tăng giảm không ổn định, năm 2008
Bũ tăng 8040 con so với 2004, trong khi đó đàn Lợn giảm 21.835 con Đàn gia cầm năm
2008 tăng 2020.100 con so với 2004
Bảng 2.7: Số lượng gia súc, gia cầm giai đoạn 2004 - 2008
Từ 2004 đến nay, nhận thức của người dân về sản xuất hàng hoá có chuyển biến tích cực thể hiện qua tăng đầu tư, không những ở các thành phần kinh tế, doanh nghiệp trong và ngoài nước mà các hộ gia đỡnh cũng ra tăng đầu tư cho nông nghiệp nói chung và
Trang 36Ngành chăn nuôi có bước phát triển mạnh, cung cấp khối lượng thực phẩm lớn, bỡnh quõn thịt hơi xuất chuồng từ 50,82kg/người năm 2004 lên 70,48kg/người năm 2008
Nhỡn chung, giai đoạn 2004 - 2008 cơ cấu ngành nông nghiệp (theo nghĩa hẹp) có
sự chuyển dịch đúng hướng: Diện tích các loại cây có giá trị kinh tế cao như rau, đậu, lạc, hoa, cây cảnh tăng dần Năng suất hầu hết các loại cây trồng không ngừng tăng lên do áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới về giống, về kỹ thuật thâm canh… Một số dự án về chăn nuôi đó triển khai như dự án cải tạo, nâng cao chất lượng giống đàn bũ thịt, phỏt triển bũ sữa, dự ỏn cải tạo giống và chăn nuôi lợn hướng nạc, dự án chăn nuôi lợn xuất khẩu…bước đầu đó đạt được một số kết quả Riêng dự án chăn nuôi lợn hướng nạc đó xuất hiện mụ hỡnh nuụi với quy mụ lớn [44, tr.6 - 7]
Thứ hai, công nghiệp phát triển tạo điều kiện thu hút lao động dư thừa trong nông
nghiệp
Trong những năm qua kinh tế Vĩnh Phúc có bước phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế
có sự chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp - dịch vụ (năm 2008 chiếm khoảng 82%), theo đó cơ cấu lao động cũng có những thay đổi Đặc biệt, dưới tác động của công nghiệp diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng nên sức lao động trong nông nghiệp được giải phóng dẫn đến lao động dư thừa nhiều và tất yếu có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác, trong đó công nghiệp giải quyết một số lượng lao động lớn, góp phần vào ổn định đời sống của hàng vạn hộ dân trên địa bàn tỉnh
Theo thống kê, năm 2008 tổng số lao động trên địa bàn là 597,360 người, trong đó lao động nông - lâm - thuỷ sản có 310,460 người, chiếm 51,95 % so với tổng số lao động
Trang 37
toàn tỉnh, gấp gần 2,43 lần so với lao động ngành công nghiệp - xây dựng, gần 2 lần so
với lao động ngành dịch vụ (xem bảng 2.8)
Bảng 2.8: Cơ cấu lao động trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2004 - 2008
- Nông - lâm - thuỷ sản 420,32 391,10 383,49 375,14 310,460
- Công nghiệp - xây
Trang 38
Sự dịch chuyển lao động chịu tác động nhiều chiều, trong đó có cả tác động từ ngay trong lũng của sản xuất nụng nghiệp, nhưng mạnh nhất vẫn là phát triển công nghiệp Theo kết quả khảo sát năm 2005 về việc làm ở khu vực kinh tế nông nghiệp của Ban chỉ đạo xây dựng Nghị quyết 03 của tỉnh cho thấy; thời gian lao động sản xuất nông
- lâm - thuỷ sản chỉ đảm bảo 35 - 40%, giá trị ngày công chỉ đạt 20.000 đồng/công, trong khi đó công nghiệp - dịch vụ là 30.000 - 50.000 đồng/công Sự chênh lệch này dẫn đến người lao động không gắn bó với sản xuất nông nghiệp chuyển đi làm các nghề khác thường xuyên và lúc nông nhàn Bên cạnh đó, lao động trong ngành nông nghiệp có thời gian sản xuất là 59,65%, thời gian sản xuất phi nông nghiệp tại địa phương là 19,91% và thời gian làm việc ở nơi khác không phân biệt ngành nghề là 20% Thêm vào đó là đất canh tác bỡnh quõn đầu người thấp lại phải dành đất cho phát triển công nghiệp và các hoạt động phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn chưa phát triển nên hạn chế cơ hội tỡm việc làm Với những tỏc động trên thỡ ỏp lực việc làm đang là vấn đề bức xúc nhất tại khu vực kinh tế nông nghiệp, nó không cũn là vấn đề kinh tế mà cũn mang tớnh chất xó hội sõu sắc
Để quá trỡnh chuyển dịch lao động diễn ra theo hướng ổn định và phát triển, công nghiệp phải là khu vực thu hút một lượng lớn lao động để góp phần giải quyết những vấn
đề xó hội mới nảy sinh từ khu vực kinh tế nụng nghiệp Vĩnh Phỳc đó ỏp dụng nhiều cơ chế, chính sách nhằm tạo thêm nhiều việc làm và cơ hội tỡm việc làm mới cho người lao động, đồng thời bù đắp sự thiếu hụt lao động do phát triển công nghiệp mang lại như: chú trọng xây dựng các cơ sở đào tạo nghề; hỗ trợ học phí cho con em nông dân; quy hoạch
và phát triển làng nghề; khuyến khích các công ty, doanh nghiệp tự mở các lớp, mở các trung tâm đào tạo nghề để chủ động về nguồn nhân lực; dạy nghề cho lao động nông thôn, dạy nghề cho lao động ở các địa phương dành đất cho phát triển công nghiệp; dạy nghề gắn với giảm nghốo và giải quyết việc làm cho cỏc xó đặc biệt khó khăn; các huyện, thành, thị đều xây dựng chương trỡnh giải quyết việc làm và kế hoạch giải quyết việc làm hàng năm Đặc biệt, đối với các địa phương dành nhiều đất cho phát triển công nghiệp có đề án đào tạo nghề và giải quyết việc làm riêng, mở hội thảo giữa nhân dân với doanh nghiệp đóng trên địa bàn và các cơ sở dạy nghề để tỡm giải phỏp
Trang 39
cho việc làm và cơ hội tỡm việc làm Từ những chính sách hữu hiệu trên, giai đoạn
2004 - 2008 toàn tỉnh đó giải quyết được trên 109.900 lao động có việc làm mới, bỡnh quõn mỗi năm giải quyết được 21.980 lao động Trong tổng số lao động hàng năm có việc làm mới thỡ ngành cụng nghiệp thu hỳt số lao động lớn
Chỉ tính riêng năm 2007, trong tổng số trên 24.200 lao động cú việc làm mới thỡ ngành nụng nghiệp thu hỳt được 5.100 (chiếm 21%), ngành cụng nghiệp thu hỳt khoảng 13.300 (chiếm 54,9%), cũn lại là dịch vụ và xuất khẩu lao động Trong khi đó giai đoạn 2001
- 2005 nông nghiệp giải quyết được 32,9%, công nghiệp giải quyết được 26,7%, cũn lại là do dịch vụ và xuất khẩu lao động Qua đó cho ta thấy công nghiệp đang thu hút lao động trong nông nghiệp
Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn tỉnh vẫn cũn 15.880 lao động không làm việc và không có việc làm, số lao động này chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, khu vực dành đất cho phát triển công nghiệp, đô thị và dịch vụ Do vậy trong thời gian tới cần có giải pháp mạnh để số lao động này có điều kiện đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh cũng như giải quyết các vấn đề xó hội mới nảy sinh từ khu vực này
Thứ ba, công nghiệp phát triển tạo điều kiện cho việc ứng dụng các tiến bộ khoa
học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
Công nghiệp phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học
- công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, đồng thời với mục tiêu mà Tỉnh Đảng bộ Vĩnh phúc đó đề ra “Đẩy mạnh các hoạt động khoa học và công nghệ để khoa học và công nghệ thực sự là động lực phát triển kinh tế - xó hội Tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất” [11, tr.47] đó thỳc đẩy việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi Tỉnh đặc biệt quan tâm tới công tác quản lý và cung ứng, chuyển giao giống Hàng năm các ngành chức năng được giao chủ động sản xuất giống tốt phục
vụ sản xuất, mỗi năm tỉnh sản xuất khoảng 3000 tấn lúa giống, 50 tấn ngô giống, 150.000 lợn ngoại giống, 7,5 - 8 triệu gà con giống công nghiệp, 1,2 - 2 triệu giống cây lâm nghiệp, 1,8 - 2 tỷ giống cá bột [36] Bên cạnh đó phối hợp với các doanh nghiệp trung ương, tỉnh bạn, viện nghiên cứu, trường Đại học tham gia cung ứng 10 - 15% nhu cầu về
Trang 40
giống (5, tr.6) Hướng dẫn xó, hợp tỏc xó, bà con nụng dõn tự tổ chức sản xuất nhõn giống tại chỗ theo quy trỡnh kỹ thuật Đó cú nhiều mụ hỡnh cho hiệu quả kinh tế cao phự hợp với từng vựng sinh thỏi Đến nay trên địa bàn tỷ lệ sử dụng giống lúa, ngô từ xác nhận trở lên
đạt 85% nên năng suất đạt cao (xem bảng 2.9) và sản lượng lương thực có hạt năm 2008 tăng 12,2% so với 2004 (xem bảng 2.10) trong khi đó diện tích giảm từ 78,7 nghỡn ha