nhân dân ta là xây dựng một xã hội, trong đó các quan hệ đạo đức giữa con người phải trong sáng, tương thân, tương ái, xã hội công bằng và bình yên, mọi người được bình đẳng ấm no, tự do
Trang 1
LUẬN VĂN:
Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo
trong quá trỡnh xõy dựng đạo đức
mới ở Việt Nam hiện nay
Mở đầu
Trang 2
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo không phải từ trên trời rơi xuống, và cũng không phải là một di sản thiên nhiên vốn có, mà là một sản phẩm do con người sáng tạo ra Tuy nhiên, tôn giáo không đồng hành với con người Tôn giáo là phạm trù lịch sử Tôn giáo vốn là một hiện tượng xã hội phức tạp và hiện nay là một trong những vấn đề nhạy cảm ở nhiều dân tộc, quốc gia Việt nam là một quốc gia đa tôn giáo Có những tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên Có những tôn giáo mới hình thành ở Việt Nam vào những thập niên đầu của thế kỷ XX như: Cao Đài, hòa Hảo v.v
Lịch sử dân tộc đã minh chứng, có một số tôn giáo đã góp phần nâng cao ý thức dân tộc, ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống của cả cộng đồng Tuy nhiên, lại cũng có những tôn giáo
có thời kỳ đã bị các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng vì mục đích ngoài tôn giáo Hiện nay số lượng tín đồ các tôn giáo chiếm gần khoảng 20% dân số, và tập trung ở các tôn giáo lớn, còn nếu tính cả những người có tâm thức tôn giáo thì con số sẽ lớn hơn gấp bội
Quá trình đổi mới đất nước, khi chuyển sang kinh tế thị trường, bên cạnh những thành tựu, cũng nảy sinh những hiện tượng tiêu cực, làm xói mòn một số giá trị đạo đức
xã hội Thực tiễn đó đòi hỏi phải xây dựng những giá trị đạo đức mới cho phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Do
đó trong nhận thức cần xác định những ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo tới quá trình xây dựng đạo đức mới, để từ đó có thái độ ứng xử đúng với các tôn giáo (một vấn đề hết sức tế nhị, nhạy cảm và còn tồn tại lâu dài) là điều cấp thiết
Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị ngày 16/10/1990 có ghi:
"Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới"
Xuất phát từ tinh thần nghị quyết 24 của Bộ Chính trị, từ đặc điểm tình hình tôn giáo Việt Nam và từ yêu cầu của việc xây dựng đạo đức mới trong giai đoạn cách mạng
hiện nay, tôi thấy cần thiết phải chọn vấn đề nghiên cứu: "Ảnh hưởng của đạo đức tôn
Trang 3
giáo trong quá trỡnh xõy dựng đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay ", làm đề tài cho
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tôn giáo của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
"Đạo đức tôn giáo" là một vấn đề đã được nhiều người quan tâm trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, chẳng hạn:
+ Khuynh hướng nghiên cứu đạo đức phật giáo từ góc độ tôn giáo Đó là những công trình nghiên cứu của các phật tử, đều nhằm mục đích phục vụ cho tôn giáo của mình Ví dụ, cuốn "Đạo đức học Phật giáo" (nhiều tác giả) của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành năm 1995
Cuốn "Giải thoát tri kiến" của Jkrishnamutri, An Tiêm, Sài Gòn xuất bản 1973 Cuốn sách này đã nêu bật đạo đức Phật giáo là phương tiện quan trọng để thực hiện con đường giải thoát theo quan điểm của Phật giáo
+ Khuynh hướng nghiên cứu đạo đức Phật giáo nhìn từ góc độ triết học Đã có một số công trình đáng lưu ý Đó là cuốn "Lịch sử triết học ấn Độ" của hòa thượng Thích Mãn Giác, Ban tu thư, đại học Vạn Hạnh 1997 Cuốn "Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông" của Nguyễn Hùng Hậu, nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội 1996 Cuốn "Triết học về Tánh không" của Tuệ Sĩ, An Tiêm, Sài Gòn xuất bản 1970 Cuốn "Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo" của hòa thượng Thích Mật Thể, Viện triết lý và triết học thế giới Từ những cuốn sách này ta có thể chắt lọc
ra những ý tưởng nghiên cứu đạo đức Phật giáo dưới góc độ triết học
+ Bên cạnh các khuynh hướng trên còn có khuynh hướng nghiên cứu đạo đức Phật giáo dưới góc độ văn hóa cũng đáng chú ý Chẳng hạn như cuốn "Những nét văn hóa của đạo Phật" của hòa thượng Thích Phụng Sơn, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh 1995 Cuốn "Cơ sở văn hóa Việt Nam" của giáo sư Trần Ngọc Thêm, Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh 1996 Ngoài ra gần đây còn có một số luận án cũng nghiên cứu về đạo đức Phật giáo như "Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó với đời sống tinh thần của người Việt Nam"
Trang 4
Nếu như đạo đức Phật giáo được nghiên cứu tương đối nhiều dưới các góc độ khác nhau thì ngược lại đạo đức của các tôn giáo khác chưa có nhiều công trình nghiên cứu
+ Gần đây có các luận án tiến sĩ triết học nghiên cứu về đạo đức của Công giáo như "Góp phần tìm hiểu tư tưởng đạo đức trong Kinh thánh" của Trương Như Vương,
"Sự thống nhất giữa Kính Chúa " và "yêu nước" trong "lịch sử tư tưởng Việt Nam thời cận đại"; "Vận dụng quan điểm khoa học về tôn giáo trong công tác đối với Thiên chúa giáo hiện nay ở Việt Nam" của Nguyễn Văn Long Bên cạnh các luận án tiến sĩ này cũng phải nói tới các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đạo đức công giáo như: "Khía cạnh nhân văn của giáo lý Thiên chúa và công tác xây dựng nếp sống mới ở vùng đồng bào Thiên chúa giáo";
"Quá trình truyền giáo của đạo Thiên chúa và ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam"
Về đạo đức của đạo hòa Hảo có: "Đạo hòa Hảo và ảnh hưởng của nó ở đồng bằng sông Cửu Long" (5.01.02) của Nguyễn Hoàng Sa Về đạo đức của đạo Cao Đài có
"ảnh hưởng của đạo Cao Đài với đời sống tinh thần ở Tây Ninh " của Đặng Thị Thu Nga
Tuy nhiên, nghiên cứu "ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo trong quá trình xây dựng đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay" là một vấn đề mang tính tổng hợp và là một vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo trong quá trình xây dựng đạo đức mới Việt Nam hiện nay, bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của sự ảnh hưởng đó
3.2 Nhiệm vụ
+ Luận văn tập trung làm rõ một số đặc trưng của đạo đức tôn giáo
Trang 53.3 Phạm vi nghiên cứu
- Lịch sử các tôn giáo cho thấy, khi tôn giáo tồn tại trong bất cứ một xã hội nào
đó thì ít, nhiều nó đều có ảnh hưởng tới đạo đức, lối sống của xã hội đó Điều này cũng được kiểm chứng qua lịch sử các tôn giáo tồn tại ở Việt Nam Như vậy, cũng có nghĩa
là tôn giáo đã từng ảnh hưởng tới các dạng đạo đức trong lịch sử dân tộc Việt Nam Song ở đây luận văn tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng của Đảng ta về tôn giáo, đạo đức để phân tích những vấn đề đặt ra
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chú ý sử dụng tổng hợp các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời chú trọng sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh v.v
5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
+ Trên cơ sở phân tích đạo đức của các tôn giáo, bước đầu luận văn nêu lên một
số đặc trưng của đạo đức tôn giáo và góp phần làm rõ một số nét tương đồng và khác biệt giữa đạo đức tôn giáo và đạo đức mới
Trang 66 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
+ Về mặt lý luận:
Luận văn góp phần làm sáng tỏ tinh thần nghị quyết 24 của Bộ Chính trị ban hành ngày 16.10.1990: "Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới"
+ Về mặt thực tiễn:
- Luận văn góp phần vào việc tìm ra những biện pháp thực hiện nhiệm vụ của nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) về chính sách văn hóa đối với tôn giáo: "Khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện trong tôn giáo, đồng thời tuyên truyền, giáo dục khắc phục mê tín dị đoan "
- Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu cho việc tham khảo, nghiên cứu và học tập bộ môn tôn giáo, đạo đức, triết học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Mục lục
Trang
Trang 7
Chương 1
Một số nét đặc trưng của đạo đức tôn giáo
và đạo đức mới ở việt nam hiện nay
6
1.1 Một số nét đặc trưng của đạo đức tôn giáo 7
1.1.1 Hướng con người tới khát vọng hạnh phúc 7
1.2 Một số nét đặc trưng của đạo đức mới 25
1.2.1 Yêu nước, yêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội 25
1.2.2 Đoàn kết, gắn bó cộng đồng, hòa hợp dân tộc 26
1.2.3 Cần cù, sáng tạo, có kỷ luật trong lao động, tiết kiệm trong
tiêu dùng
28
1.2.4 Tôn trọng chủ nghĩa tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân 30
1.2.5 Lòng thương người, trọng nghĩa, chủ nghĩa nhân đạo cao cả 32
1.3 Một số nét tương đồng và khác biệt giữa đạo đức tôn giáo
Trang 8
2.1 Thực trạng những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo
đức tôn giáo với đạo đức mới
47
2.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn
chế mặt tiêu cực của đạo đức tôn giáo với xây dựng đạo đức
mới ở Việt Nam hiện nay
57
2.2.2 Nhóm giải pháp về nhận thức, cơ chế chính sách 64
2.2.3 Nhóm giải pháp về tổ chức quần chúng hoạt động thực tiễn 68
2.2.4 Nhóm giải pháp về văn hóa tinh thần 72
2.2.5 Nhóm giải pháp về cán bộ làm công tác tôn giáo 74
Danh mục tài liệu tham khảo 79
Trang 9
Chương 1
một số nét đặc trưng của đạo đức tôn giáo
và đạo đức mới ở việt nam hiện nay
"Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại,
và biến đổi từ nhu cầu của xã hội Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội" [14, tr 12]
Trong bất cứ một xã hội cụ thể nào cũng cần hình thành những nguyên tắc sống
để con người tự nguyện tuân theo, nhằm bình ổn trật tự xã hội, duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội và cá nhân Trong đời sống, có những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức chung cho mọi thời đại (sống thiện, trung thực, yêu quý lao động), nhưng vẫn có những nguyên tắc, chuẩn mực chỉ phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất định
Ngày nay, cả nước ta đang tiến hành sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Định hướng xã hội chủ nghĩa về các quan hệ đạo đức của chúng ta đòi hỏi phải tạo ra được một môi trường mà như C Mác đã nhấn mạnh: Tự do của mỗi người không phải là sự chấm dứt
tự do của người khác, mà ngược lại, nó là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người Môi trường đạo đức theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải xuất phát từ quan điểm đạo đức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là chống áp bức, bóc lột, bất công tàn bạo Con người đối với con người phải có văn hóa Mỗi người phải được phát triển toàn diện khả năng và nhân cách Không phải vì có cơ chế thị trường chúng ta mới đặt ra yêu cầu xây dựng nền đạo đức mới Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã làm cuộc cách mạng phản đế và phản phong Đạo đức của giai cấp phong kiến cũng như đạo đức của chủ nghĩa đế quốc và giai cấp tư sản đều là đối tượng cải tạo của cách mạng dân tộc, dân chủ và xã hội chủ nghĩa của chúng ta Lý tưởng đạo đức nhất quán của Đảng và
Trang 10
nhân dân ta là xây dựng một xã hội, trong đó các quan hệ đạo đức giữa con người phải trong sáng, tương thân, tương ái, xã hội công bằng và bình yên, mọi người được bình đẳng ấm no, tự do, hạnh phúc, tiến bộ
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống, và cũng không nảy sinh từ một mảnh đất trống trải, khô cằn Đạo đức cách mạng chỉ có thể ra đời trên cơ sở của nền đạo đức truyền thống, là sự nối tiếp và phát huy đạo đức truyền thống lên một tầm cao mới Theo tinh thần đó, việc xây dựng nền đạo đức mới phải đi từ lịch sử tới hiện tại, từ truyền thống tới cách tân Truyền thống tuy sinh thành trong lịch sử nhưng lại là một thành phần quan trọng trong tích hợp, trong hạt nhân văn hóa của xã hội hiện thực Vì vậy, việc xây dựng đạo đức mới không thể là sự đoạn tuyệt với lịch sử Thái độ khoa học là cần kế thừa có phê phán, chắt lọc lấy những tinh hoa hợp lý trong di sản truyền thống để phục vụ cho cuộc sống hôm nay Vì vậy việc xây dựng nền đạo đức mới vừa phải kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, vừa phải chắt lọc những tinh hoa có thể có ở các dạng đạo đức khác, mà trong
đó có đạo đức tôn giáo
1.1 Một số nét đặc trưng của đạo đức tôn giáo
1.1.1 Hướng con người tới khát vọng hạnh phúc
Phạm trù "Hạnh phúc" là một trong những phạm trù cơ bản của đạo đức học Qua các thời đại lịch sử, con người luôn luôn khát khao, mơ ước tìm kiếm hạnh phúc Mọi cố gắng của con người đều đi đến thực hiện lý tưởng tối cao của mình, đó là hạnh phúc cho cá nhân, cho gia đình, cho dân tộc, cho xã hội Hạnh phúc có tính lịch sử cụ thể, vì mỗi thời đại lịch sử, mỗi một con người trong những hoàn cảnh khác nhau, có quan niệm về hạnh phúc khác nhau Vì vậy, trong lịch sử loài người đã tồn tại nhiều quan niệm hạnh phúc khác nhau Có người cho rằng, hạnh phúc là sự thỏa mãn và đáp ứng những nhu cầu cụ thể, đó là điều kiện sống, địa vị xã hội, điều kiện tham gia công tác, học tập của mỗi người Người lao động quan niệm về hạnh phúc khác với quan niệm của giai cấp thống trị bóc lột Người ở các lứa tuổi, các vùng khác nhau, có những quan niệm hạnh phúc khác nhau
Trang 11
Đạo đức học Mác - Lênin quan niệm rằng "Hạnh phúc là một phạm trù cơ bản của đạo đức học, là mối quan tâm lớn, là mục đích của con người Nó bắt nguồn và tồn tại trong cuộc sống, hiện thực như những cảm nhận, phân tích, đánh giá có tác dụng mạnh mẽ đến ý nghĩa, hành vi, quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với xã hội" [14, tr 87]
Nếu xét về đạo đức các tôn giáo ta có thể khẳng định: hầu như tôn giáo nào cũng đề cập, hướng con người tới khát vọng hạnh phúc, dù rằng cái hạnh phúc đó theo quan niệm của các tôn giáo có khác nhau và khác với quan niệm mác xít
Trước hết, ta hãy xem xét trong đạo đức Phật giáo Với Phật giáo trạng thái Niết Bàn là hạnh phúc siêu việt, một trạng thái an lạc tuyệt đối, khi con người được giải thoát tức là khi con người đã đạt đến sự giác ngộ cao Tuy vậy, trong cuộc sống hàng ngày, Phật giáo vẫn quan niệm có những trạng thái hạnh phúc khác nhau của con người Và
để đạt được hạnh phúc đó con người phải sống có đạo đức và khuyến khích người khác cũng sống có đạo đức Nhưng sống có đạo đức theo quan niệm của nhà Phật là phải thực hiện tốt các giới răn mà Phật giáo đã nêu ra Với ý nghĩa đó, trong lời dạy cho giới Tỳ-kheo xuất gia, đức Phật đặc biệt nhấn mạnh: "Một đời sống đạo đức là một đời sống hạnh phúc" [10, tr 16] Đồng thời Đức Phật dạy các đệ tử hãy tôn trọng giới luật, tức là sống có đạo đức để đảm bảo một đời sống hạnh phúc cho chính mình và đem lại hạnh phúc cho mọi người: "Thành tựu năm pháp, Tỳ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người Thế nào là năm? Vị Tỳ kheo tự mình đầy đủ giới hạnh và khuyến khích người khác đầy đủ giới hạnh Tự mình đầy đủ Thiền định và khuyến khích người khác đầy đủ Thiền định Tự mình đầy đủ trí tuệ và khuyến khích người khác đầy đủ trí tuệ Tự mình đầy đủ giải thoát và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát Tự mình đầy đủ giải thoát tri kiến và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát tri kiến Đầy đủ năm pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình
và đem lại hạnh phúc cho người" (Tăng chi II, tr 20) [10, tr 17] Đạo đức Phật giáo còn chia ra từng thứ bậc của hạnh phúc để khuyến khích các phật tử từng bước tu dưỡng tới hạnh phúc Theo nguyên tắc, phép tu từ Nhân Thừa đến Bồ Tát Thừa thì mỗi phép tu có bao nhiêu điều, đắc bấy nhiêu là hạnh phúc Nhưng đó là hạnh phúc của những người tu
Trang 12
hành Đối với đời thường, để diễn giải cụ thể cái hạnh phúc cơ bản của một con người, đức Phật có thuyết pháp cho ông Cấp - Cô - Độc (Anatha pin di ka), một đại thí chủ quan trọng nhất khi Phật còn tại thế Trong đó, đức Phật chia ra bốn loại hạnh phúc: Hạnh phúc có vật sở hữu là hạnh phúc do mình tạo nên vật sở hữu, bằng sự cố gắng nỗ lực của chính sức mình; hạnh phúc có tài sản là hạnh phúc mà mình đã tạo nên tài sản bằng sự nỗ lực cố gắng giống như tạo ra vật sở hữu; hạnh phúc không mang nợ là mình không nợ ai bất cứ món nợ lớn nhỏ nào cả về vật chất và tinh thần; hạnh phúc không bị khiển trách là nói về vấn đề tự trọng của con người Trong bốn loại hạnh phúc đó, thì ba loại đầu thuộc về kinh tế, vật chất, còn loại thứ tư thuộc về hạnh phúc của tâm hồn, phát sinh từ một đời sống trong sạch và lương thiện Theo đức Phật, ba loại hạnh phúc đầu không bằng một phần mười sáu của hạnh phúc thứ tư, vì đây thuộc về giá trị con người Như vậy hạnh phúc trước hết là sự an tâm, sự yên tĩnh của tâm hồn là hạnh phúc lớn hơn tất cả
Trong đạo đức Công giáo, khi bàn về hạnh phúc, các nhà Thần học Công giáo
đã chia mức độ của hạnh phúc thành hai loại: Hạnh phúc tương đối để chỉ các mức độ của cảm giác con người về sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể trong cuộc sống ở trần gian
và hạnh phúc tuyệt đối là hạnh phúc hoàn hảo, toàn phúc để chỉ mức độ tuyệt đỉnh, hoàn
mỹ của cảm giác con người về sự thỏa mãn mọi nhu cầu của con người trong cuộc sống
ở Thiên đường
Hạnh phúc tuyệt đối ở nơi Thiên đường, thường được Kinh thánh diễn tả cho dễ hiểu bằng nhiều hình ảnh cụ thể như: Thái bình, đời sống vĩnh cửu, niềm vui Chúa ban, thiên triều vinh hiển, thiên quốc, nơi cực thánh Và trong Tân cước, Thiên đường ấy còn được gọi bằng cái tên "Nước Đức Chúa Trời" Cũng trong Tân ước, sách khải huyền của Thánh Giắc đã mô tả về cuộc sống của những con người đã được chọn vào
"Nước Đức Chúa Trời ": "Họ sẽ không còn đói khát nữa, cũng chẳng bị mặt trời và hơi nóng nung đốt nữa Vì Chiên Con ở giữa ngai sẽ chăn giữ và hướng dẫn họ đến các suốt nước sự sống Đức Chúa Trời sẽ lau sạch tất cả các giọt lệ nơi mắt họ" [54, tr 485 ] Người trong "Nước Đức Chúa Trời" sẽ là công dân thiên quốc, mặc áo dài tinh bạch, đầu đội vòng hoa, tay cầm cành lá kè và ngồi với Chúa để xét xử dân các nước Nói
Trang 13
chung các sách trong Kinh Thánh đều mô tả cuộc sống nơi Thiên đường là yên hàn, vô
lo, hết khổ, không còn chết nữa, con người hoàn toàn giác ngộ về chân lý, nhất là được hưởng trọn tình yêu thương của Thiên Chúa như Con thảo trong nhà Cha mình ở đó lòng người được mãn nguyện bởi được thông phần vĩnh phúc với Thiên Chúa trong hiểu biết và yêu thương: "Mọi sự của con đều là của Cha và sự gì của Cha cũng là của Con" [37, tr 176]
Vì thế các nhà Thần học đã coi hạnh phúc mãn nguyện đời người là được nhìn thấy Thiên Chúa
Đối với hạnh phúc trần thế (hạnh phúc tương đối), lúc đầu các tác giả sách Cựu ước cho rằng đó là việc thỏa mãn những nhu cầu, khát vọng trong cuộc sống, hạnh phúc
là những điều tốt lành và là mục tiêu mà con người hướng tới Đối lại, bất hạnh là một điều xấu mà trong mọi điều kiện con người cần phải xa lánh Về sau trong sách Tân ước các tác giả hướng con người tới những hạnh phúc trần thế không chỉ là sự thỏa mãn nhu cầu mà còn là sự chấp nhận hoàn cảnh của mình để hướng tới hạnh phúc nơi Thiên đường Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giê-su đã hướng con người tới một chương trình hạnh phúc trần thế giành cho những người nghèo nhưng có tấm lòng trong sạch, giàu tình thương và chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh để làm sáng danh Chúa: "Phúc cho người nghèo khổ trong tâm linh, vì Nước Thiên Đảng thuộc về họ; phúc cho người than khóc, vì sẽ được an ủi Phúc cho người khiêm nhu, vì sẽ được thừa hưởng đất; phúc cho người đói khát sự công chính, vì sẽ được no đủ, phúc cho người đầy lòng thương, vì sẽ được thương xót; phúc cho người có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời; phúc cho người hòa giải vì sẽ được gọi là con cái Đức Chúa Trời; phúc cho người vì sự công chính mà chịu bắt bớ, vì Nước Thiên Đàng thuộc về họ; phúc cho các con khi bị người
ta mắng nhiếc, ngược đãi và vu cáo đủ điều ác vì cớ Ta (Giê-su)" [54, tr 7] Như vậy từ
đó có thể thấy rằng trong cuộc sống trần thế con người có hai điều hạnh phúc chính, bao hàm mọi điều hạnh phúc khác: đó là sự khó nghèo, vì từ nay những người hạnh phúc trên trần gian không còn là những tay cự phú, những người no say, những kẻ được tâng bốc; đó là sự bị bách hại vì tình yêu Thiên Chúa, vì những người bị bách hại đó sẽ được vào Nước Thiên Đàng trong ngày tận thế
Trang 14
- Với đạo Cao Đài, muốn xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, không phải là đấu tranh xóa bỏ bóc lột mà phải luyện đệ nhị xác thân cho đầy đủ sự tinh khiết, là phải thương loài vật, thương tất cả để chấm dứt cái oan nghiệt (tức là chấm dứt sự hận thù, thù địch nhau mà tranh tranh, đấu đấu không ngừng - Theo Phạm Công Tắc), cứu vớt quần sinh thoát khỏi vòng địa lạc hoàn toàn Và đối với đạo Cao Đài thì chính đạo đức con người là cái thang vô ngần bắc cho con người leo đến phẩm vị tối cao, tối thượng là ngang bậc "cùng Thầy" hoặc "hơn Thầy" ("Thầy" chỉ Phạm Công Tắc) Vì lẽ đó Cao Đài khuyên con người nên tu hành, làm đủ phận người, công bằng chính trực để khi hồn lìa xác thì cứ theo đẳng cấp gần trên mà luân hồi lên mãi Tuy nhiên, nếu như vậy thì cũng biết chừng nào mới hiệp hội cùng "Thầy" Vì thế, "Thầy" cho một quyền rộng rãi hơn cho cả nhân loại càn khôn thế giới biết là: nếu biết ngộ kiếp một đời tu đủ trở về cùng "Thầy" - giữ trọn con đường tu hành, sẽ sớm trở về "Bạch Ngọc Kinh", nơi mà đạo Phật gọi là Niết Bàn
1.1.2 Tính hướng thiện, tránh ác
Tính hướng thiện, tránh ác là một đặc trưng cơ bản của đạo đức các tôn giáo
Có thể nói, thiện, ác là hai phạm trù có vai trò trọng yếu trong hệ thống đạo đức của mọi tôn giáo nói chung và đạo đức Phật giáo nói riêng Trong quan niệm về Thiện, ác, Phật giáo chú trọng đến phạm trù thiện hơn, bởi với Phật giáo thiện không chỉ là một chuẩn mực đạo đức, mà còn là một phương tiện thiết thực để giải thoát Phật giáo quan niệm thiện là bản chất thường trụ của pháp giới (Phật tính), nên một đồ tể chỉ cần quẳng con dao, chịu khó tu đạo là có thể đạt thiện tâm, ngược lại là tội ác, phải chịu cảnh trầm luân, khổ ải Trong Phật giáo nội dung của thiện, ác được kết tập trong Kinh tạng nguyên thủy, văn hệ Pa-li, và được duy trì một cách liên tục, nhất quán cho đến nay hầu như không thay đổi gì mấy, kể cả trong thời kỳ Phật giáo Bộ Phái và Phật giáo Đại Thừa
Quan điểm về thiện được trình bày rất rõ ràng, đặc biệt là trong tác phẩm "Kinh thập thiện" Thiện là "lành, có đạo đức tốt", trái lại là ác, "Kinh thập thiện" có bốn phần chính:
Trang 15
Phần đầu nói về thế và xuất thế gian Theo Phật, tất cả sự xấu xa hoặc tốt đẹp ở cuộc đời và trên bậc Thánh đều là do hành động của thân - miệng - ý tạo nên Tâm ý tốt, lời nói và việc làm tốt, giúp ích cho đời ở cả hiện tại và tương lai Ngược lại tâm ý xấu dẫn đến lời nói và cả việc làm không tốt đẹp, đem lại tai ương cho cuộc đời ở cả hiện tại
và tương lai Theo Kinh Thập thiện "Tất cả hình sắc, chủng loại của chúng sinh có khác nhau đều do tâm tạo thiện hoặc bất thiện nơi thân, ngữ, ý gây ra" [10, tr 84]
Phần thứ hai nói về hình tướng của Thập thiện qua thân, miệng, ý: Thân không được giết hại sinh vật, trộm cắp và tà hạnh Miệng không nói dối, không nói châm chọc, không nói thêm bớt và không nói độc ác
ý không tham, sân, si
Phần thứ ba nói rằng nếu con người thực hành "thập thiện" sẽ có những hiệu quả tốt ở hiện tại và tương lai Chẳng hạn, theo Kinh nhà Phật, không giết hại sinh vật
sẽ được pháp không bức não, thân ít bệnh, giúp cho việc trường thọ Không ai giết hại sinh vật sẽ không có sự oán thù ; không trộm cắp sẽ được pháp bảo tín, giàu có không
bị lường gạt, nhà nhà không cần đóng cửa Ngoài đường của đánh rơi được đem trả lại; không tà hạnh được người hiểu biết ngợi khen, vợ chồng không bị ai xâm phạm tiết hạnh, cuộc sống được thuần phong, mỹ tục; không nói dối, châm chọc, thêm bớt, thô tục, miệng được thanh tịnh, nói không sai lầm được người tín cẩn, gia đình, bạn bè, xóm làng hòa thuận, vui vẻ, tôn trọng lẫn nhau, không tham, sân, si sẽ được tự tại, không gây oán hờn, kiện tụng, trí não thanh thản, sáng suốt, phán đoán được mọi vấn đề trong cuộc sống
Phần thứ tư cho rằng nhờ thực hiện Kinh thập thiện, con người sẽ không còn ích
kỷ mà vị tha, bằng cách thực hành lục độ, vạn hạnh như bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, siêng năng, hành thiền và trí tuệ Rồi cũng từ đó mở rộng tâm từ bi, hỷ xả
Cũng theo nhà Phật, pháp thập thiên có tác dụng ngăn chặn các hành vi độc ác, đối trị các hành vi không thiện, giải thoát tất cả những nỗi khổ của việc sống, việc chết Nếu ngoài việc thực hành thập thiện lại biết đem giáo hóa cho mọi người, giúp cho mọi người hướng thiện, tức là đã tựu đủ quả vị giác ngộ Bồ-đề Cũng theo đạo đức phật
Trang 16
giáo, trong thân, miệng, ý thì tâm ý là chủ động Tâm ý tốt làm cho lời nói và hành động tốt Tâm ý xấu thì lời nói hành động xấu Bởi thế, khi kết tội người phạm giới, phải xem xét có dụng ý hay không Hành vi phạm giới có dụng ý là yếu tố cấu thành tội Trường hợp phạm giới, không dụng ý, dù cũng có tội, song lại nhẹ hơn
Bên cạnh Kinh thập thiện, đạo đức Phật giáo còn định ra "ngũ giới", "bát giới"
để hướng thiện theo những cấp độ khác nhau nhằm giáo dục tín đồ Trong đó "ngũ giới"
là những giới luật cơ bản nhất Đó là: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu
Cùng với "Ngũ giới" giáo lý về "tam độc" (tham, sân, si) trong đạo đức Phật giáo đã phân biệt rành rọt đâu là thiện, đâu là bất thiện mà con người cần theo và cần tránh, tham là bất thiện, vô tham là thiện, sân là bất thiện, vô sân là thiện Si là bất thiện,
vô si là thiện Sát sinh là bất thiện, không sát sinh là thiện Tà dâm là bất thiện, từ bỏ tà dâm là thiện Nói dối, nói ác là bất thiện, từ bỏ nó là thiện, không uống rượu làm tổn hại sức khỏe dẫn đến mất trí là bất thiện, từ bỏ là thiện
Với đạo cơ đốc, kinh thánh đã xem Thiên Chúa là cái Thiện toàn năng, tức là xem Thiên Chúa là hình mẫu lý tưởng của cái Thiện mà các tín đồ phải nói theo: "Các con hãy toàn hảo như Cha các con trên trời là Đấng toàn hảo" [54, tr 9] Từ quan niệm
về cái Thiện, Kinh thánh đi đến đề cập về nhân đức, là những hành vi đạo đức tốt ở con người trong cuộc sống, là biểu hiện cụ thể của cái thiện Khi con người trở nên bất lực trong việc chế ngự dục vọng và không làm chủ được mình thì tội lỗi, tật xấu xuất hiện
và nhân đức sẽ lu mờ Sau khi con người phạm tội (tội tổ tông) - bất tuân luật Chúa thì cái ác đã xuất hiện và tràn lan trên trái đất Cái ác còn có nguồn gốc từ quỷ dữ là địch thủ của cái thiện, là kẻ thù của Thiên Chúa và của mọi tín đồ Công giáo Nói cách khác, cái ác xuất hiện ở trần thế là do sự kết hợp giữa quỷ giữ và các tật xấu trong con người Hậu quả của cái ác con người phải gánh chịu, đó là sự trừng phạt bằng đau khổ, chết chóc, bệnh tật thậm chí giới tự nhiên cũng nổi giận, đất sinh ra gai góc để chống lại con người Kinh thánh cho rằng con người có bảy tật xấu cơ bản (bảy mối tội đầu): Kiêu ngạo, dâm ô, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, lười biếng Đây là nguồn gốc phát
Trang 17
sinh ra các tội và các tật xấu khác Đối với kinh thánh trong hành trình con người đi tìm Chúa là phải đi theo con đường Chúa đã vạch ra, phải tuân theo những lời Chúa phán truyền, noi gương Chúa mà trở nên người thiện Vì vậy sự hướng thiện trong Kinh thánh là nằm trong hành trình con người đến với hạnh phúc vĩnh cửu nơi Thiên đường Nhưng thái độ hướng thiện của Kinh thánh thời Cựu ước còn mang tính tích cực hơn so với thời Tân ước Bởi ngoài việc khuyên dạy con người làm những điều lành như nhau thì thời Cựu ước "Kinh thánh còn cho phép con người thù ghét kẻ tội lỗi, và không được đồng lõa với cái ác Dân kinh thánh được phép sử dụng luật báo thù" [54, tr 61] Nhưng đến thời Tân Ước thay cho quan niệm này, Kinh thánh khuyên con người trong mọi trường hợp phải lấy thiện báo ác, lấy ơn báo oán Chẳng hạn, trong điều luật nói về thẩm quyền của Đức Chúa Con, có viết "Ai làm việc thiện sẽ sống lại để được sống Còn ai làm điều ác sẽ sống lại để nhận án phạt" [54, tr 186]
Kinh thánh trong Tân ước cũng khuyên các tín hữu phải biết xa lánh những điều
dữ, luôn luôn làm điều lành: "Đừng lấy ác báo ác cho ai cả; hãy làm điều thiện trước mặt mọi người, đừng tự báo thù ai Đừng để điều ác thắng mình nhưng hãy lấy điều thiện thắng ác" [54, tr 304]
Điều này được thể hiện rõ trong sách Tân ước, khi Thánh Mathi-ơ mô tả cuộc nói chuyện giữa đức Giê-su với một tín đồ: "Có một người đến hỏi đức Giê-su: Thưa thầy tôi phải làm điều thiện nào để được sống vĩnh phúc? Ngài đáp: Tại sao anh hỏi Ta
về việc thiện? Chỉ có một đấng Toàn thiện mà thôi Nếu muốn được sự sống ấy hãy giữ các điều răn" Người đó lại hỏi: "Những điều răn nào?" Đức Giê-su đáp: "Đừng giết người, đừng ngoại tình, đừng trộm cắp, đừng làm chứng dối Hãy hiếu kính cha mẹ và thương yêu người lân cận như chính mình" [54, tr 38]
- Giáo lý đạo Hòa Hảo là sự kết hợp, pha trộn bởi nhiều tư tưởng và được trình bày dưới hình thức diễn nôm với mức độ bình dân, dễ hiểu, nhưng trong giáo lý đó cũng
có cả một quyển sấm giảng thứ 5 với tựa đề: "Khuyến thiện" Chẳng hạn, đối với người phụ nữ, bên cạnh việc phê phán các thói hư tật xấu: xa hoa, lẳng lơ đạo Hòa Hảo yêu cầu:
Trang 18
"Phải gìn dục vọng lòng tà Đừng chiều theo nó vậy mà hư thân Nghe lời cha mẹ cân phân
Tam tòng vẹn giữ lập thân buổi này" [50, tr 69]
Ngay trong "lời dặn dò bổn đạo", giáo lý Hòa Hảo cũng chỉ rõ phải biết hiểu đúng "Tứ đế", biết suy nghĩ đúng, biết giữ nghiệp chính, không làm nghiệp xấu, biết rèn luyện, tu tập không mệt mỏi, có niềm tin vững bền vào sự giải thoát:
"Đạo mầu bát chánh ráng ghi Thứ nhất chánh kiến việc chi xem mình Luận bàn chân lý cho minh
Chuyện chi xét đoán xảo - tinh mới là Thứ nhì chánh mạng vậy mà " [51, tr 73]
Hoặc: "Thứ năm tinh tấn hội đàm
Sạch trong kỹ lưỡng mà làm mới ngoan Thứ sáu chánh ngữ liêu toan
Nói năng điều chánh thì an lo gì Thứ bảy chánh niệm vậy thì Khi cầu, khi niệm chuyện gì thật tâm Thứ tám chánh định chớ lầm " [51, tr 73]
1.1.3 Tính nhẫn nhục, cam chịu
Hầu hết giáo lý của các tôn giáo đều có những điều khuyên răn con người, khuyên răn các tín đồ phải nhẫn nại, cam chịu Nếu chỉ giới hạn sự nhẫn nại trong những hoàn cảnh cần thiết thì lại khác, nhưng sự nhẫn nại trong đạo đức các tôn giáo là
Trang 19Thậm chí ngay cả khi trong cơn hoạn nạn, bị bức hại, Kinh thánh Tân ước vẫn khuyên các tín đồ nên vui mừng hy vọng, không chỉ đừng hành động chống cự mà còn đừng cả nói lời chống cự (nguyền rủa) Vượt lên trên sức chịu đựng ấy, Kinh thánh còn khuyên tín đồ hãy chúc phúc cho kẻ bức hại mình và kiên nhẫn cầu nguyện Chúa: "Hãy vui mừng trong hy vọng, nhẫn nại trong cơn hoạn nạn, kiên tâm cầu nguyện Hãy chúc cho kẻ bức hại anh chị em, hãy chúc phúc đừng nguyền rủa" Hơn thế nữa, Kinh thánh còn khuyên các tín đồ, nếu kẻ bức hại mình có đói khát thì hãy cho ăn, cho uống và cũng đừng nghĩ đến sự trả thù nó, bởi mọi sự đã có Chúa anh minh phán xét: "Anh chị
em thân yêu, đừng tự báo thù ai, nhưng hãy nhường chỗ cho cơn thịnh nộ của Chúa, vì Thánh kinh đã chép: "Sự báo trả thuộc về Ta; Ta sẽ báo ứng!" Chúa phán vậy " Nhưng nếu kẻ thù anh chị em đói, hãy cho ăn, có khát hãy cho uống [54, tr 304] Bị kẻ thù bức hại mà không được nghĩ sự chống cự, không được nói lời chống cự và không được làm hành động chống cự, lại còn phải nuôi ăn, nuôi uống và chúc phúc cho kẻ thù Như thế vẫn chưa đủ, Kinh thánh còn dạy tín đồ phải biết thương yêu kẻ thù nữa "Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con " [54, tr 9] Cũng trong Kinh thánh của sách Tân ước có đoạn viết: "Hễ ai tìm cách bảo tồn mạng sống thì sẽ mất, nhưng ai chịu mất mạng sống thì sẽ bảo toàn được nó" [54, tr 153] Đây là những thái độ "tạo thuận lợi" cho kẻ thù, cho cái ác mặc sức hoành hành, một mặt thể hiện tính chịu đựng, chịu nhục, kiên tâm chờ đợi đến khi kẻ thù đã "chán, chê", mặt khác còn thể hiện sự hèn nhát và ích kỷ Bởi vì trước kẻ thù, trước cái ác, trước cái chết con người có quyền được tự vệ
Trang 20sức mạnh Kẻ nào không thể tiếp nhận những lời nhục mạ một cách hoan
hỷ như uống nước cam lồ, kẻ ấy không được ca ngợi là bậc thượng nhân có trí" [10, tr 54]
Đạo đức Phật giáo không chỉ khuyên các đệ tử nhẫn nhục tiếp nhận những lời nhục mạ một cách hoan hỷ, mà còn coi sự nhẫn nhục cam chịu là một thứ vũ khí để đối phó với những kẻ xâm phạm đến đời sống của mình, như trong Bồ - tát giới mô tả: "Nếu
là phật tử thì không được đem sự giận dữ đáp lại sự giận dữ, cũng không được nuôi hận thù đối với những kẻ đã tàn sát cha mẹ, anh em, chú bác của mình Tóm lại, làm tổn thương
sự sống để trả thù sự sống là điều trái ngược với đức hiếu sinh của đạo Bồ tát" [10, tr 53] Theo Phật giáo quan niệm, kẻ thù đích thực từng gây đau thương, thống khổ, bất tận cho nhân loại chính là tam độc tham, sân, si, chứ không phải là những con người bằng xương, bằng thịt có những hành vi độc ác Do tham, sân, si thúc đẩy mà có người
đã biến thành kẻ trộm, kẻ cướp, kẻ giết người, gây đau khổ cho bao người Do tham, sân, si mà có những tập đoàn người ngông cuồng thực hiện mộng xâm lăng, đi xâm chiếm đất đai nước khác Vì thế, Phật giáo cho rằng những người mà ta xem là kẻ thù kia chẳng qua cũng chỉ là nạn nhân của những hoàn cảnh lịch sử, địa lý, chính trị và đặc biệt là nạn nhân của tham, sân, si, không nên trả thù họ, hãy nhẫn nhục cam chịu Nhẫn nhục, cam chịu cũng là cách thể hiện sự mở rộng tấm lòng khoan dung cho họ, để cảm hóa họ Bởi nếu không, dùng oán để trả oán thì oán sẽ chất chồng, khó mà dứt được dòng vay trả, trả vay bất tận:
Trang 21
"Hận thù diệt hận thù, Đời này không thể có
Từ bi diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu" [10, tr 53]
- Đối với đạo hòa Hảo, biết nhẫn nhịn trên mọi phương diện tức là đã biết trau sửa tâm tính để đạt tâm đức của người hiền - Một mẫu hình lý tưởng trong sự tu nhân của hòa Hảo Sự nhẫn nhịn ấy được giáo lý chỉ ra thành một loạt thứ nhẫn Trong đó:
Nhẫn thứ nhất là nhẫn nhịn trong ứng xử cuộc sống:
"Chữ thứ nhất nhẫn năng xử thế
Là người hiền khó kiếm trên đời" [51, tr 62]
Nhẫn thứ hai là nhẫn giới trì tâm, nghĩa là răn lòng cẩn thận mọi việc muốn thành công thì trước hết phải biết nhẫn nhục Thiếu sự nhẫn thì lòng ắt nóng nảy, hời hợt, vọng động, không thể tu thân được:
"Chữ nhẫn giới trì tâm trong trẻo Khuyên dương trần giữ phận làm đầu" [51, tr 62]
Nhẫn thứ ba, thứ tư là nhẫn nhịn trong quan hệ tình làng, nghĩa xóm, trong quan
hệ vợ chồng phu - phụ, để xây dựng cuộc sống bình yên, vợ chồng thuận hòa
"Nhẫn hương lân cùng khắp đâu đâu Trên cùng dưới đều hòa ý hỷ
Nhẫn phụ - mẫu gọi trang hiền sĩ Phận xướng tùy chồng vợ nhịn nhau" [51, tr 62]
1.1.4 Đề cao luân lý gia đình
Trang 22
Trong giáo lý nói về đạo đức của mỗi tôn giáo, đều có phần dành riêng để nói
về luân lý gia đình Đó là những chuẩn mực, những quy định mà mỗi tôn giáo đặt ra cho con người trong việc xử lý các mối quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái v.v
Chẳng hạn, đạo đức Thiên Chúa giáo ít nói tới cộng đồng rộng lớn nhưng lại rất quan tâm đến gia đình, bởi lẽ đối với đạo Công giáo gia đình là đền thờ tại gia, là nơi được mời gọi chuyển giao đức tin của tiền nhân, là nơi vun trồng các truyền thống tôn giáo, là nơi cùng nhau dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa và là nơi thể hiện các niềm tin tôn giáo trong cuộc sống Luân lý gia đình trong đạo đức Kinh thánh đề cập đến hai mối quan hệ chủ yếu: Quan hệ vợ chồng; quan hệ cha mẹ, con cái
Hôn nhân là một chủ đề được Kinh thánh quan tâm đặc biệt Trong thập giới thì
có điều 6 và điều 9 ngăn cấm các hành vi tội lỗi trong quan hệ tình dục để bảo vệ hôn nhân Đặc trưng của hôn nhân trong Kinh thánh là hôn nhân một vợ một chồng, và hôn nhân bất phân rẽ Vợ chồng phải sống thương yêu, hòa thuận và thủy chung với nhau cho đến chết, bởi lẽ Chúa Giê-su đã phán dạy: "Những người Đức Chúa Trời đã kết hợp thì loài người không được phân rẽ" [54, tr 38] Tín điều này đến nay vẫn được Công đồng Va-ti-căng II khẳng định: "Vì sự hiến dâng của hai người cho nhau, vì sự kết hợp mật thiết giữa hai người, cũng như vì lợi ích của con cái, vợ chồng phải trung thành toàn diện đối với nhau, cũng như giữa hai người có một sự hợp nhất không thể phá vỡ được" [70, tr 129] Song, ngoại trừ trường hợp vợ ngoại tình, lúc đó người chồng muốn ly dị mới được giáo hội cho phép Cùng với thời gian, phẩm giá người phụ nữ trong quan hệ hôn nhân đã được nâng lên bình đẳng với nam giới Điều này được thể hiện trong sách Tân ước, với việc làm và lời nói của mình, Chúa Giê-su đã khẳng định rằng phụ nữ cũng được kính trọng như nam giới Ngài đã đòi hỏi sự chung thủy tuyệt đối cả từ phía người chồng lẫn người vợ và bác bỏ quyền li dị không phải chỉ đối với người đàn bà mà
cả đối với người đàn ông: "Ta nói cho các ông rõ: Trừ trường hợp vợ tà dâm, nếu ai ly
dị vợ mà cưới người khác, thì phạm tội ngoại tình" [54, tr 38]
Trang 23
Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái, đạo đức Công giáo quy định con cái phải "Thảo kính cha mẹ", đây là điều răn thứ tư, một trong mười điều răn dạy của Thiên Chúa, đã được khắc vào bia đá, ban cho Mai-sen, tổ phụ của dân Do Thái Thảo kính cha mẹ theo Kinh thánh phải thực hiện đủ bốn việc sau: Nể trọng, tôn kính cha mẹ, cho
dù tuổi tác hay kiến thức (kể cả tài năng hay địa vị) của cha mẹ và con cái chênh lệch nhau đến mức nào; vâng phục cha mẹ; yêu quý và biết ơn cha mẹ; đùm bọc, giúp đỡ cha
mẹ trong cuộc sống Kinh thánh còn nêu rõ, nếu không thảo kính cha mẹ sẽ phạm tội nghịch cùng điều răn thứ tư: "Ai cười nhạo cha và không tuân phục mẹ theo bổn phận,
kẻ ấy sẽ bị quạ tới mổ xác bên bờ suối và chim kền kền xẻ thịt" [70, tr 123] Mặt khác khi đã phạm vào điều răn thứ tư, thì cũng có thể mắc luôn các tội nghịch với các điều răn khác nữa, khi đó tùy biểu hiện mà con cái có thể mắc tội trọng, tội nhẹ hoặc không
có tội
Đạo đức Công giáo cũng xác định rõ nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái Cha
mẹ phải nuôi dưỡng và giáo dục con cái cho đến khi "luật Chúa được khắc ghi trong tâm hồn nó" [70, tr 123] (tức là đến khi con cái trưởng thành) Mọi hành vi ứng xử trong gia đình và cộng đồng, cha mẹ phải làm gương cho con cái như Chúa đã từng làm gương cho con người: Đó là việc làm gương, như Đức Giê-su đã làm cho các môn đệ của mình noi theo [70, tr 124]
Vai trò của gia đình và giáo dục gia đình trong đạo đức Phật giáo cũng rất được chú trọng Điều này dễ thấy, bởi trong hệ thống đạo đức Phật giáo, có cả một phương thức xây dựng cuộc sống gia đình với hai mối quan hệ cơ bản: quan hệ giữa cha mẹ và con cái và quan hệ giữa vợ với chồng Đạo đức Phật giáo đã nêu ra một số nguyên tắc ứng xử để xây dựng tốt hai mối quan hệ này
Trong mối quan hệ thứ nhất, Đức Phật khuyên cha mẹ nên thực hiện 5 điều đối với con cái: "Ngăn chặn con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp; cưới vợ (gả chồng) xứng đáng cho con và đúng thời điểm trao của thừa tự cho con" [10, tr 29-30]
Trang 24
Điều này chứng tỏ Phật giáo xem vai trò của cha mẹ và giáo dục gia đình rất lớn Cha, mẹ không chỉ có bổn phận nuôi dưỡng con cái khôn lớn mà có trách nhiệm giáo dục con cái trong gia đình làm theo những việc thiện, tránh ác, trang bị cho con cái một nghề nghiệp trong cuộc sống Trách nhiệm của người cha, người mẹ đến khi cưới vợ,
gả chồng xứng đáng cho con vẫn chưa phải là hết mà còn phải lựa thời điểm, "trao của thừa
tự cho con" để giúp cho con cái có một cơ sở vật chất ban đầu trong cuộc sống tự lập riêng Khi cha mẹ già yếu, con cái phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ và thay cha
mẹ gánh vác công việc gia đình Điều này được thể hiện trong năm bổn phận mà đạo đức Phật giáo quy định cho con cái đối với cha mẹ: "Nuôi dưỡng cha mẹ; làm tròn bổn phận đối với cha mẹ; giữ gìn truyền thống gia đình; bảo vệ tài sản thừa tự và tang lễ khi cha mẹ qua đời" [10, tr 30]
Trong mối quan hệ vợ - chồng, đạo đức Phật giáo cũng quy thành những bổn phận riêng cho người vợ, người chồng phải thực hiện, để đảm bảo quan hệ thủy chung trong hôn nhân và duy trì cuộc sống hạnh phúc của gia đình Những bổn phận mà người chồng phải thực hiện đó là: "Phải kính trọng vợ; thương yêu vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ và sắm nữ trang cho vợ" [10, tr 30] Người vợ cũng phải thực hiện năm bổn phận đối với chồng: "Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón
bà con (bên chồng); trung thành với chồng; théo giữ gìn tài sản của chồng và khéo léo nhanh nhẹn trong công việc" [10, tr 30]
Với đạo hòa Hảo, những quy tắc ứng xử trong gia đình như giữa cha mẹ với con cái và giữa vợ với chồng cũng rất được quan tâm Chẳng hạn:
"Đạo cha - con chặt chẽ chữ miên trường Đạo chồng - vợ thuận hòa cho đến thác" [51, tr 70]
1.1.5 Tình yêu thương con người, vị tha
Thương yêu con người là một nét phổ biến trong đạo đức các tôn giáo
Trang 25
- Trong đạo đức Công giáo, tình yêu thương được Kinh thánh nói đến trên cả ba bình diện: Yêu thương mình, yêu thiên nhiên và yêu thương tha nhân (yêu thương người khác), trong đó yêu thương tha nhân vẫn là trọng tâm của quan niệm đạo đức về tình yêu Kinh thánh cho rằng, con người trước hết phải yêu mến Thiên Chúa rồi yêu thương đến chính bản thân mình Đó là tiền đề, là cơ sở để yêu tha nhân được chân thực: "Hãy yêu mến Thiên Chúa trước hết, rồi đến bản thân ngươi, sau đó hãy yêu thương người gần mình nhất như chính bản thân mình Bởi vì, nếu ngươi không yêu bản thân mình thì làm sao ngươi có thể yêu thương người gần mình một cách chân thực" [55, tr 310]
Cũng như con người, thiên nhiên là tạo vật của Thiên chúa Vì vậy, yêu Thiên Chúa thì con người phải yêu thiên nhiên Tình yêu đó phải được quy định thành nghĩa
vụ chăm sóc thiên nhiên của con người, cho dù thiên nhiên ấy là đất đai, cây trồng hay muông thú Yêu chính mình và yêu thiên nhiên, theo Kinh thánh đó đều là lẽ tất nhiên
và được lấy làm thước đo để so sánh với tình yêu tha nhân - Cốt lõi của giới răn bác ái trong đạo đức Công giáo Trong Tân ước, tác giả Phúc âm Lu-ca đã đưa ra ngoại diên của "tha nhân" mà con người phải yêu thương không chỉ là đồng bào trong một nước, hay tín đồ cùng một tôn giáo mà cả người ngoại kiều và ngoại đạo Như vậy giới răn yêu thương của Tân ước là không biên giới, không phân biệt chủng tộc, giai cấp, giới tính, giàu nghèo, có tội hay không có tội, thậm chí cho cả kẻ thù
Nét nổi bật của lòng bác ái trong Tân ước là động cơ, hành vi phải không vị lợi Thương yêu phải chân thành, hết mình và phải được thể hiện bằng hiệu quả thực sự của hành động Cho dù vì nghèo túng hay khốn khó, ta không thể làm được nhiều, song trong khả năng có thể ta vẫn phải hành động vì đức ái: "Nếu gặp anh chị em nào đó thiếu cơm ăn,
áo mặc, mà có người bảo: "Chúc anh chị em bình an! Cứ mặc cho ấm, ăn cho no nhé!" Nhưng không cung ứng cho họ nhu cầu thể xác, thì có ích lợi gì?" [54, tr 445] "Hỡi các con bé nhỏ, chúng ta đừng thương yêu chỉ bằng lời nói và nơi chót lưỡi, nhưng hãy yêu thương thành thật và bằng hành động" [54, tr 468] Như vậy, tình yêu thương, bác ái của Công giáo không chỉ là tình yêu thương bản thân, yêu thiên nhiên, mà còn là lòng mong muốn mọi sự được êm đẹp với người đang túng thiếu, là sự nỗ lực làm điều tốt cho người
ấy, một cách cụ thể và làm bất cứ điều tốt nào có thể làm được Không chỉ là hành động
Trang 26- Trong đạo Hòa Hảo, tình yêu thương con người là một nét tạo thành hạnh đức của người hiền Người có hạnh đức là người biết thương yêu mọi người "hết lòng giúp
đỡ họ khỏi phải khốn đốn, nghèo nàn" [51, tr 63]
1.2 Một số nét đặc trưng của đạo đức mới
1.2.1 Yêu nước, yêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Lòng yêu nước là động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta Hồ Chủ tịch nói: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng to lớn mạnh mẽ nó lướt qua mọi sự nguy hiểm và khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ cướp cướp nước và bán nước" [11, tr 74]
Tinh thần yêu nước của dân tộc ta đã hình thành ngay vào buổi bình minh của lịch sử Tinh thần yêu nước truyền thống của Việt Nam thời phong kiến lấy độc lập dân tộc làm giới hạn cao nhất của mình Tinh thần yêu nước mới gắn độc lập dân tộc với sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội Ngót nửa thế kỷ chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc
ta đã hướng theo chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do" và làm nên những kỳ tích
vẻ vang Khi độc lập tự do đã giành lại được thì tiến lên chủ nghĩa xã hội là xu thế tất yếu của lịch sử Việt Nam Độc lập dân tộc là nấc thang để tiến tới mục tiêu cao hơn là
Trang 27
mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân Muốn vậy phải từ giải phóng dân tộc tiến tới giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động khỏi mọi áp bức bóc lột, từng bước nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân Quan điểm về độc lập dân tộc gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân là cơ sở của tư tưởng về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đó cũng là nội dung chủ yếu của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện nay Lòng yêu nước biểu hiện ở tình yêu với văn hóa của dân tộc, với những truyền thống lành mạnh của nhân dân, đóng góp tích cực vào việc củng cố và phát triển những truyền thống ấy phù hợp với yêu cầu xây dựng đất nước hiện nay Lòng yêu nước đòi hỏi một mặt phải thường xuyên chăm lo thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, mặt khác phải dồn sức cho nhiệm vụ xây dựng đất nước với ý thức coi nghèo nàn, lạc hậu của đất nước là nỗi nhục không kém gì nỗi nhục mất nước
Như vậy yêu nước hiện nay là phải gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự phát triển đất nước; vươn lên mạnh mẽ trong sản xuất, kinh doanh theo phương châm "ích nước, lợi nhà" Có khát vọng vươn lên mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực hoạt động để làm giàu cho mình và cho Tổ quốc là một nội dung quan trọng của chủ nghĩa yêu nước hiện nay
1.2.2 Đoàn kết, gắn bó cộng đồng, hòa hợp dân tộc
Đoàn kết là một truyền thống quý báu, là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc
ta từ xưa đến nay Trong những cuộc chiến tranh yêu nước, cả dân tộc ta đã kết lại thành một khối vững vàng như sắt đá Người Lạc Việt và người Âu Việt đoàn kết dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương Nhân dân khắp Giao Chỉ, Cửu Chân nô nức hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng Dựa vào khối đoàn kết toàn dân mà Ngô Quyền đã dìm xuống sông Bạch Đằng cả đội quân xâm lược Nam Hán Hội nghị Diên Hồng mãi mãi còn vang lên ý chí "Sát thát" muôn người như một của quân dân đời Trần Cuộc chiến đấu gian khổ của Lê Lợi chỉ có thể thắng được nhờ vào sự thu hút hết thảy sức lực và nhân tài cả nước quy tụ về ngọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn xóa bỏ sự chia cắt đất nước do bọn phong kiến Trịnh Nguyễn gây ra, Quang Trung đã huy động được lực lượng toàn dân từ Bắc đến Nam để có "thế chẻ tre" trong cuộc đại phá quân Thanh Bọn thực dân
Trang 28
Pháp đã chia cắt nước ta thành ba kỳ, nhưng người Việt Nam khắp Bắc, Trung, Nam đều chung một mối căm hờn quân cướp nước Nhờ tinh thần đoàn kết triệu người như một mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Hiện nay, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc hiểu rõ và phát huy tinh thần đoàn kết là trách nhiệm của mỗi người nhằm khơi dậy sức mạnh to lớn của cả dân tộc nhằm phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng cao quý của Đảng và nhân dân ta
Đời sống chính trị thế giới hiện nay đã và đang có những biến động phức tạp, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào, thậm chí sụp đổ ở nhiều nước Các cuộc chiến tranh sắc tộc gây ra cảnh "nồi da nấu thịt" vẫn xảy ra ở nhiều khu vực Các dân tộc trong toàn nhân loại đang sống trong những mối quan hệ chằng chịt, phức tạp, tác động qua lại lẫn nhau trên nhiều mặt Những vấn đề toàn cầu của thời đại đụng chạm, liên quan đến từng nước, đòi hỏi phải có sự gắn kết nỗ lực của từng cộng đồng, có sự hòa hợp dân tộc trong từng quốc gia, trong từng khu vực và trong cả cộng đồng quốc tế
để giải quyết nó Sự hội nhập, hợp tác và đấu tranh trong kinh tế, trong quan hệ đa phương, đa cực vừa tạo ra những thuận lợi mới chưa từng có, vừa nảy sinh những khó khăn gay gắt Trước đây nhân dân ta đã đoàn kết, tự lực tự cường, kháng chiến chống giặc ngoại xâm cứu nước thì ngày nay càng phải gắn bó cộng đồng, hòa hợp dân tộc, đoàn kết rộng rãi hơn nữa để tranh thủ mọi điều kiện thuận lợi và phát huy sức mạnh cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
1.2.3 Cần cù, sáng tạo, có kỷ luật trong lao động, tiết kiệm trong tiêu dùng
Con người Việt Nam từ rất sớm đã phải vật lộn với môi trường tự nhiên khắc nghiệt để nuôi sống mình và xây dựng quê hương đất nước Quá trình đó đã rèn luyện cho người lao động cần cù trong sản xuất, tiết kiệm trong sinh hoạt Đức tính đó là một nét khá nổi bật, trở thành nếp nghĩ, việc làm của bao thế hệ từ xưa đến nay Tính sáng
Trang 29
tạo trong nhiều lĩnh vực được thể hiện, nhưng nó chỉ thực sự được phát huy sức mạnh trong các công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước
Chuyển sang kinh tế thị trường với việc giải quyết đúng đắn một loạt các vấn đề
về sở hữu, tổ chức, quản lý, phân phối, cùng với nó là việc tăng cường tính tự chủ của các chủ thể kinh tế, chăm lo đến lợi ích thiết thân của người lao động đã kích thích mạnh mẽ tính tích cực của người lao động trong lao động sản xuất, kinh tế thị trường với yêu cầu nghiêm ngặt về năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá thành sản phẩm trong một môi trường cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi hoạt động của con người phải mang tính sáng tạo, không ngừng đổi mới tư duy đến phương thức hoạt động để đạt hiệu quả cao
Cạnh tranh trên thị trường không chỉ đòi hỏi cần cù theo kiểu "một nắng, hai sương" mà phải gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trong các hoạt động của con người Nếu trước đây ông cha ta đề cao đức tính cần cù trong lao động sản xuất, nhất là lao động chân tay, và dựa vào kinh nghiệm của người đi trước theo kiểu "xưa bày, nay bắt chước" ngại cải tiến kỹ thuật thì ngày nay cần cù phải đi liền với sáng tạo Tính sáng tạo với tính cách là đặc trưng của con người hiện đại phải được quán triệt trong cách nghĩ, cách làm, vừa đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống hiện tại vừa phải biết nhìn xa, trông rộng, mưu tính lâu dài vì cuộc sống của mình và sự phát triển lâu bền của đất nước
Chuyển sang kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi hoạt động của con người phải mang tính kỹ thuật và kỷ luật cao Phải biến kỷ luật lao động thành thói quen của từng người, từng tập thể và cả xã hội
Lao động cần cù và sáng tạo, có kỹ thuật và kỷ luật là tiền đề để nâng cao năng suất lao động, tạo khả năng đem lại một cuộc sống phồn vinh cho xã hội, gia đình và từng cá nhân Phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động còn là yêu cầu chính trị của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì "xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới" [38, tr 25]
Trang 30
Trải qua thực tế hơn mười năm đổi mới, đời sống của nhân dân ta được nâng lên rõ rệt Đó là một thành tựu rất đáng tự hào Tuy nhiên một số ít người lại có xu hướng lao vào hưởng thụ Đó là điều dễ xảy ra nên cần phải được ngăn ngừa và khắc phục sớm Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội VIII đã nêu lên một trong những khuyết điểm và yếu kém của chúng ta là: "Nước ta còn nghèo và kém phát triển Chúng ta lại chưa thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, dồn vốn cho đầu tư phát triển" [66, tr 63]
Hiện nay, Việt Nam vẫn còn là nước nông nghiệp, lao động nông nghiệp chiếm hơn 70%, đời sống nhân dân ở nhiều vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn rất thấp, GDP bình quân đầu người mới khoảng 400 USD/năm nhưng tình trạng tiêu dùng xa hoa, lãng phí diễn ra khá phổ biến cả ở nông thôn và thành thị, trong một số khá đông cán bộ và nhân dân Đó là điều rất đáng lo ngại, cần được điều chỉnh Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII), nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã khẳng định: "Chúng ta nhất thiết phải cần kiệm để công nghiệp hóa, phải khắc phục xu hướng chạy theo xã hội tiêu dùng, lối xa hoa lãng phí, đó là một trong những nhân tố quyết định thành công của chúng ta" [67, tr 11] Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, việc nâng cao ý thức tiết kiệm, tích lũy để
mở rộng sản xuất vẫn đóng một vai trò tích cực đối với việc nâng cao năng suất lao động, đáp ứng ngày càng có cơ sở tốt hơn nhu cầu cuộc sống của con người Tuy nhiên, sự kiềm chế thái quá nhu cầu thiết yếu của cá nhân và gia đình, vô hình trung lại hạn chế sự phát triển của sản xuất, vì sản xuất quyết định tiêu dùng nhưng tiêu dùng đúng đắn đến lượt nó lại kích thích sản xuất phát triển theo hướng tiến bộ
Tiết kiệm trong điều kiện kinh tế thị trường không phải là khuyến khích giảm thiểu nhu cầu mà chính là nhằm nâng cao khả năng thỏa mãn nhu cầu hợp lý của con người như là tiền đề để phát huy nguồn lực con người - nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.2.4 Tôn trọng chủ nghĩa tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân
Trang 31
Với sự xuất hiện của giai cấp công nhân và được sự giáo dục của Đảng, nhân dân ta ngày càng học tập, rèn luyện và tiếp thu chủ nghĩa tập thể trong đạo đức của giai cấp công nhân là giai cấp chỉ có thể giải phóng cá nhân với điều kiện giải phóng toàn giai cấp, chỉ có thể giải phóng giai cấp khi giải phóng toàn thể xã hội Đạo đức mới của
xã hội ta hiện nay là đạo đức đòi hỏi thoát khỏi chủ nghĩa cá nhân Đồng chí Lê Duẩn
đã chỉ rõ: "Nguồn gốc đạo đức lớn nhất của chúng ta bây giờ là gì? Là vấn đề xây dựng chủ nghĩa tập thể, là vấn đề chống chủ nghĩa cá nhân Cá thể hay tập thể, cá nhân hay xã hội, đó là vấn đề cơ bản nhất của đạo đức mới trong xã hội hiện nay" [6, tr 151]
Chủ nghĩa tập thể không hề phủ nhận lợi ích cá nhân như giai cấp tư sản xuyên tạc "Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không bao giờ chủ trương xóa bỏ quyền lợi cá nhân, mà chỉ làm sao cho quyền lợi cá nhân và quyền lợi tập thể được nhất trí
Ta khuyến khích mỗi người cố gắng tiến lên để cho đời sống chung và riêng được khá hơn Đã là một người thì phải có cái riêng của con người, không thể có một con người siêu hình Không thể phá đơn vị con người Không còn cái riêng của con người nữa thì
xã hội sẽ mất hết ý nghĩa, mất cơ sở" [7, tr 36]
Chủ nghĩa tập thể phải vừa phấn đấu cho lợi ích chung của tất cả, vừa chăm lo đến tâm tư, nguyện vọng, hạnh phúc và tiến bộ của mỗi con người Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta đã và đang làm nảy sinh nhiều hiện tượng trái với định hướng xã hội chủ nghĩa và truyền thống của dân tộc ta Mục đích sống lấy đồng tiền làm trung tâm, coi "đồng tiền là Tiên, là Phật" đang nổi lên mạnh mẽ, ảnh hưởng xấu đến quan hệ giữa người và người Chủ nghĩa cá nhân - kẻ thù nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội được dịp ngóc đầu dậy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ" [16, tr 156]
Trang 32
"Cũng do chủ nghĩa cá nhân mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân" [16, tr 156]
Tôn trọng chủ nghĩa tập thể đòi hỏi mỗi người phải có tinh thần làm chủ Con người có tinh thần làm chủ trên lập trường của giai cấp công nhân không phải chỉ quan tâm đến công việc chung của dân tộc, của giai cấp, của loài người, mà còn phải thiết thực quan tâm những cá nhân, những con người lao động mà chúng ta gặp gỡ hàng ngày
Làm chủ trên lập trường của giai cấp công nhân: "Nó không những chống lại ý thức làm chủ cá thể của bọn tư bản và của những người sản xuất nhỏ, mà còn chống lại
cả tư tưởng "tập thể" theo lối phường hội, đem tập thể nhỏ của của mình tách rời sự lãnh đạo tập trung của nhà nước vô sản, đem lợi ích của tập thể này đối lập với lợi ích tập thể kia" [8, tr 79]
1.2.5 Lòng thương người, trọng nghĩa, chủ nghĩa nhân đạo cao cả
Lòng thương người là một giá trị đạo đức cao đẹp của dân tộc ta Tình thương yêu ấy thể hiện trong quan hệ gia đình, thôn xóm, làng mạc và rộng lớn hơn là trong quan hệ của mỗi người đối với số phận của nhân dân, sự tồn vong của Tổ quốc
Trong tâm lý người Việt Nam, cái cần nhất, cái nâng đỡ người ta nhiều nhất cũng là tình thương Gia đình Việt Nam có cái đặc sắc của quan hệ tình thương và rất quan tâm giáo dục tình thương giữa cha mẹ với con cái, giữa anh em ruột thịt với nhau Tình vợ chồng ở người Việt Nam là sự gắn bó cả yêu thương và tình nghĩa trong quan
hệ sâu sắc và thủy chung Dân tộc nào cũng thường nhắc tới tình thương sâu xa của người mẹ Nhưng ở Việt Nam người mẹ, người vợ, người chị là những người vì nặng lòng thương mà gánh vác một cách kiên cường, âm thầm mọi gian nan, cực khổ, mọi tai họa của đời sống gia đình Làng xóm Việt Nam cũng có cái đặc sắc của quan hệ tình thương Tâm lý cộng đồng vốn có trong đời sống công xã xưa kia được tiếp tục thành truyền thống tình làng, nghĩa xóm, đùm bọc lấy nhau, lúc an vui cũng như khi hoạn nạn
"Bán anh em xa, mua láng giềng gần", làng xóm trông cậy lẫn nhau, nương tựa lẫn
Trang 33
nhau, giúp đỡ nhau trong xây dựng nhà cửa, trong việc cưới xin, ma chay v.v giỗ tết, hội hè (tức là trong những việc lớn và vui, buồn của đời người) Làng xóm đối với người Việt Nam là quê hương gần gũi nhất, gắn bó con người trong vô số những quan
hệ họ hàng, bà con, thân thuộc Tình nghĩa quê hương, làng xóm làm vững chắc thêm
sự hợp tác tự nguyện trong việc đấu tranh với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm Từ khi có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, theo lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lòng thương người, trọng nghĩa của dân tộc ta được nâng lên một trình độ mới, trở thành lý tưởng nhân đạo, chủ nghĩa nhân đạo cao cả
Lý tưởng nhân đạo của giai cấp công nhân là giải phóng người lao động khỏi chế độ bóc lột, giải phóng các dân tộc bị áp bức, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân
Vì vậy, nó mang tính cách mạng triệt để và tính khoa học sâu sắc
Chủ nghĩa nhân đạo, trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin và nhân sinh quan cộng sản, coi việc giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, phát huy sức mạnh của chính con người, trước hết là của người lao động, trong việc đem lại tự do, hạnh phúc cho chính mình là mục đích tối cao của sự phát triển kinh tế - xã hội Chủ nghĩa nhân đạo mới bao hàm trong nó yêu cầu giải phóng giai cấp, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động, trong đó có giải phóng cá nhân Chủ nghĩa nhân đạo không phải là
sự xóa bỏ cá nhân con người, mà chính là sự tôn trọng con người, bảo vệ và chăm lo cho sự phát triển của cá nhân, đặt tiền đồ cá nhân trong tiền đồ của tập thể, dân tộc Làm cho sự phát triển chính đáng của cá nhân gắn bó với sự lớn mạnh của từng tập thể và cả cộng đồng
Giải phóng con người, đem lại tự do hạnh phúc thực sự cho con người, nhất là người lao động, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, là ý nghĩa cao quý của chủ nghĩa nhân đạo mác-xít Một trong những điều kiện cơ bản nhất của giải phóng con người là tạo ra khả năng cho con người có được những điều kiện vật chất cần thiết để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nó
Chúng ta chuyển nền kinh tế quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là tạo môi trường xã hội phát triển sức sản xuất của các
Trang 341.3 Một số nét tương đồng và khác biệt giữa đạo đức Tôn giáo và đạo đức mới
1.3.1 Một số nét tương đồng
* Tư tưởng hướng thiện, tránh ác - thương yêu con người
Trong lịch sử nhân loại, điều thiện và cái ác đã được đề cập đến từ rất sớm, trở thành những phạm trù có tính chất đại chúng Nhìn chung, mọi người đều mơ ước sống thiện, khát khao làm điều thiện Đồng thời cùng với quá trình xây dựng và phát triển cái thiện, nhân loại cũng phê phán và đấu tranh tích cực để loại trừ cái ác Thiện, ác là những phạm trù đạo đức nằm trong hình thái ý thức xã hội Mọi quan niệm Thiện, ác đều có cơ sở từ tồn tại xã hội, đều do các cơ sở kinh tế và bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế Do đó cái thiện, ác ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau thì khác nhau Tuy nhiên giữa các thời đại lịch sử khác nhau cũng có những điểm tương đồng về Thiện Đó
là bản chất của cái thiện Cái thiện là tất cả những gì có vai trò tích cực có tác động thuận đối với tiến bộ của con người và của xã hội Cái ác là tất cả những gì gây trở ngại
và có hại cho con người, cho xã hội "Thiện là một phạm trù đạo đức của đời sống cộng đồng phản ánh những cái chân thực, tốt đẹp, phù hợp với lợi ích cao cả, toàn diện của con người hướng tới sự phát triển và tiến bộ xã hội Thiện là một giá trị đạo đứng tổng hợp các giá trị đạo đức tốt đẹp khác đang trong quá trình phát triển Còn ác là phạm trù đối lập của thiện, bản chất của ác đi ngược lại giá trị chân - thiện - mỹ của nhân loại, đi ngược lại lợi ích cao cả của con người là những cái xấu xa, giả dối, đáng bị xã hội lên
án và loại bỏ" [61] "Sống thiện là một nét đặc trưng của đời sống đạo đức con người và
xã hội loài người nói chung Sống thiện không chỉ vì mình mà còn vì người khác,
Trang 35
thương người, sẵn sàng tương trợ, giúp đỡ người hoạn nạn khó khăn Sống thiện là điều phù hợp với sự tiến bộ của nền văn minh Trước hết nó làm cho con người mang tính người hơn, đồng thời còn làm nảy nở ở mỗi con người những tình cảm đẹp đẽ: tính vị tha, lòng nhân ái, thái độ biết quý trọng nhau, loại bỏ sự khinh ghét, thói ích kỷ và những hành vi vô nhân đạo Văn minh càng phát triển đòi hỏi con người càng phải sống thiện, cái thiện phù hợp với lẽ công bằng, nhân đạo" [14, tr 119] Cách mạng nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có nghĩa là chúng ta đang quá độ xây dựng một xã hội thiện đầy đủ nhất, mà trong đó chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa là những biểu hiện cao đẹp của cái thiện đó Với ý nghĩa đó thì tư tưởng hướng thiện tránh
ác - thương yêu con người trong đạo đức của các tôn giáo là những nét tương đồng với đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay
Thật vậy, trong Phật giáo, làm từ thiện, từ bi, cứu khổ, cứu nạn là những bộ phận hợp thành tư tưởng và hành vi đạo đức Phật giáo Tư tưởng và hành vi này là những nét đẹp, bởi trong xã hội những cảnh khổ của con người vẫn còn, cần có sự chia
sẻ, giúp đỡ Tư tưởng và hành vi này là những nét cao thượng, bởi trong xã hội ta mặt trái của cơ chế thị trường đã tạo nên một số người còn phát triển chủ nghĩa cá nhân, phát triển tính bàng quan và thói ích kỷ, cần phải phê phán Tư tưởng và hành vi này phù hợp với truyền thống thương người như thể thương thân của đạo lý làm người Việt Nam
Từ Bi của đạo Phật cũng có tác dụng, ích lợi cho cuộc đời, có ảnh hưởng tốt cho sự sống Nó làm cho con người trở nên hiền dịu, biết thông cảm với đồng loại, yêu sinh vật, cây cỏ, tôn trọng sự sống của tất cả Đó cũng chính là yêu cầu cơ bản của môn đạo đức học môi trường, sinh thái mà chúng ta cần trang bị cho những chủ nhân của đất nước ta hiện nay
Từ lòng Từ Bi, đạo đức Phật giáo khuyên con người phải biết cứu khổ, cứu nạn đối với người khác và điều này cũng phù hợp với tinh thần mình vì mọi người của đạo đức mới hiện nay
Trang 36
"Ngũ giới", "Bát giới", "Thập giới" là những giới luật mà người Phật tử phải thực hiện Về thực chất, đó là những nguyên tắc đạo đức đã được hình thành nên từ những yêu cầu của cuộc sống xã hội mà Phật giáo nắm bắt được và vận dụng vào việc thực hiện mục đích của mình Việc thực hiện chúng, với Phật giáo là điều kiện để giải thoát, nhưng với xã hội thì đưa đến hệ quả là làm cho xã hội có cuộc sống yên bình, có quan hệ lành mạnh, cục diện mà bất cứ xã hội phát triển nào cũng mong đạt được
Luật nhân quả của nhà Phật có liên quan đến nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp,
ý nghiệp) mà sợi dây nối nguyên nhân với kết quả ít nhiều có tính chất thần bí, nhưng
nó lại có hạt nhân hợp lý nhất định, nó cho thấy một xu thế chuyển biến tất yếu từ vật
nọ sang vật kia, cho thấy một cơ sở hiện thực để hiểu một sự vật được hình thành từ sự vận động của một vật khác trước nó và trong mối liên hệ với nó Luật nhân quả đó có tác dụng trực tiếp là khuyên người ta làm thiện, tránh ác vì nhân nào quả ấy, thiện giả thiện báo, ác giả ác báo
Cùng với các giới răn, giáo lý về "tam độc" của đạo đức tôn giáo góp phần phân biệt đâu là thiện, đâu là bất thiện mà con người cần theo và cần tránh
Nhìn vào cuộc sống của chúng ta hôm nay, sau một số năm đổi mới đất nước, với chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, với việc mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế, đã dần dần đưa đất nước ta vào thế ổn định và phát triển Nhưng bên cạnh đó, nhiều hiện tượng về lẽ sống đạo đức không khỏi làm cho chúng ta phải suy nghĩ Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội xảy ra nhiều hiện tượng tiêu cực như tệ nạn ô dù, tham nhũng, nạn mại dâm, cờ bạc, rượu chè và lưu truyền các văn hóa phẩm đồi trụy Trên lĩnh vực an ninh và trật
tự xã hội xảy ra những hiện tượng trộm cắp, cướp giật, gây án mạng Chủ nghĩa thực dụng coi trọng đồng tiền, sống gấp đang như một thứ bệnh dịch làm xói mòn lòng tin
và làm tha hóa truyền thống đạo đức tốt đẹp của nhân dân ta
Để giải quyết tận gốc các hiện tượng tiêu cực trên đây, phải là kết quả lâu dài của một quá trình cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nhưng trên một ý nghĩa
Trang 37
nào đó, các giáo lý Từ Bi, cứu khổ cứu nạn, "tam độc", "Ngũ giới" của đạo đức Phật giáo cũng có ý nghĩa thiết thực nhất định
Khi mặt trái của cơ chế thị trường đã làm phát sinh lối sống thực dụng, xa rời
lý tưởng xã hội, chạy theo đồng tiền thì một thực trạng đáng lo ngại là: "Khuynh hướng làm giàu bằng bất cứ giá nào, kể cả lừa đảo, gây tội ác, vi phạm pháp luật, sẵn sàng chà đạp lên lương tâm và nhân phẩm" [68, tr 137] Khuynh hướng này đang gặm nhấm dần những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, làm khô héo lòng nhân ái trong con người Trong tình hình ấy thì hướng thiện, tránh ác, thương yêu con người của đạo đức tôn giáo có thể khơi dậy tình người, lòng yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, góp phần đẩy lùi những ô nhiễm xã hội, làm cân bằng trạng thái của môi trường sống, phù hợp với tinh thần nhân đạo cao cả "mình vì mọi người" của chúng ta hiện nay
* Một số phẩm chất tốt trong đạo đức gia đình
Trong xã hội, gia đình được coi là cộng đồng đầu tiên và là tế bào để tạo dựng
xã hội loài người Gia đình cũng là nơi đầu tiên phát sinh và nuôi dưỡng những nhu cầu, tình cảm, khuynh hướng của con người Bởi vậy, muốn xã hội phát triển (nhất là trong các lĩnh vực đạo đức, lối sống) người ta thường chú ý đến việc củng cố và phát triển gia đình
Chúng ta đang trong quá trình xây dựng đạo đức mới Đạo đức mới đòi hỏi người làm cha, làm mẹ phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dạy con cái trên một quan điểm mới, một tinh thần mới Nghĩa vụ đó không dừng ở thiên chức thông thường mà phải thấm nhuần trách nhiệm thiêng liêng đối với việc đào tạo thế hệ tương lai cho Tổ quốc
Sự gương mẫu về đạo đức của cha mẹ là một đòi hỏi quan trọng của giáo dục gia đình Đạo đức mới còn đòi hỏi người làm cha, làm mẹ phải tiêu biểu cho tinh thần đặt lợi ích của Tổ quốc của xã hội lên trên lợi ích của gia đình Lòng biết ơn và kính yêu cha mẹ là tình cảm sâu nặng của con người Trong đạo đức mới, tình cảm đó càng được phát huy hơn nữa vì xã hội ta giáo dục lòng biết ơn và thái độ săn sóc đầy đủ nhất đối với cha mẹ Chăm nom, săn sóc và nuôi dưỡng cha mẹ vào lúc tuổi già là nghĩa vụ đạo đức không thể lơ là của con người mới Xã hội ta không cho phép bất cứ một người nào xem nhẹ
Trang 38
nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ già như một gánh nặng, một việc bắt buộc, thiếu hẳn tình cảm và lòng tôn kính chân thành Dư luận và xã hội luôn luôn căm phẫn và lên án những người có thái độ vô tình và bạc đãi cha mẹ Tuy thế, những người như vậy trong
xã hội ta vẫn còn Họ bỏ mặc cha mẹ trong lúc khó khăn, hoặc thỏa mãn với việc trợ giúp chút ít tiền bạc để cha mẹ sinh sống Thậm chí có người, khi có một đôi chút địa vị
và làm ăn khá đã tỏ ra xấu hổ vì cha mẹ mình Họ không muốn có mặt người mẹ già
"quê kệch" bên cạnh cuộc sống của vợ chồng họ, ở nơi tiếp đãi khách khứa, bạn bè của
họ trong căn nhà biệt thự, lầu son Cũng có những thanh niên vừa kiếm được tiền là tiêu xài, ăn diện không nghĩ đến đỡ trợ cha mẹ chăm sóc gia đình Những thái độ đó đang
bị xã hội ta cực lực chỉ trích và khinh bỉ Trong thực tế đó, một số phẩm chất tích cực về quan hệ đạo đức gia đình của các tôn giáo là những nét tương đồng với đạo đức gia đình mới của chúng ta hiện nay Bởi lẽ, trong luân lý gia đình của mọi tôn giáo đều có những quy tắc ứng xử giữa cha mẹ - con cái và quan hệ vợ chồng để đảm bảo được nền nếp kỷ cương trong gia đình Việc xây dựng những quy tắc ứng xử, bảo đảm quan hệ kính trên nhường dưới, hòa thuận thủy chung, tình nghĩa giữa cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh em theo luân lý gia đình của các tôn giáo là điều cần thiết để xây dựng gia đình mới với quan hệ tốt đẹp
Bên cạnh những nét tương đồng phổ biến trong đạo đức các tôn giáo với đạo đức mới, ta còn thấy có những nét tương đồng giữa đạo đức của một hoặc một số tôn giáo với đạo đức mới hiện nay Chẳng hạn:
- Tư tưởng về công bằng và bình đẳng
Đi đôi với hạnh phúc, công bằng và bình đẳng cũng là khát vọng của con người Công bằng đòi hỏi có sự tương xứng giữa vai trò với địa vị xã hội, giữa hành vi với sự đền bù hay giữa quyền và nghĩa vụ của con người Còn bình đẳng đòi hỏi không có sự phân biệt đối xử giữa các thành viên trong cùng một xã hội với nhau Trong xã hội ta, công bằng và bình đẳng vừa là động lực, vừa là mục tiêu để chúng ta nỗ lực, tích cực phấn đấu vươn lên hoàn thành sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa Điều này được thể hiện rõ trong các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Hiến pháp của nước
Trang 39
ta đã quy định: Mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật Văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII có đoạn viết: "Để tiếp tục sự nghiệp đổi mới tiến lên, giành những thành tựu lớn hơn, cần thực hiện tốt hơn nữa việc mở rộng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, cả ở trong nước và nước ngoài, phát huy dân chủ, động viên tối đa sức mạnh của toàn thể dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh" [66, tr 73]
Tư tưởng về sự công bằng và bình đẳng cũng là một tư tưởng dễ thấy trong đạo đức của một số tôn giáo như Phật giáo, Công giáo Thật vậy, một trong những nền tảng của đạo đức Phật giáo là "Ngũ giới" Người nào phát nguyện vào đạo Phật phải giữ năm điều này Ngũ giới nghe qua cũng thấy đó là tính hướng thiện Song không chỉ thế, trong "Ngũ giới" còn có tính công bằng hợp lý Vì chúng ta quý trọng sinh mạng mình thì phải tôn trọng sinh mạng người, nên không sát sinh Chúng ta yêu quý tài sản mình thì phải tôn trọng tài sản của người nên không trộm cướp Chúng ta muốn giữ hạnh phúc gia đình mình thì phải tôn trọng hạnh phúc gia đình người, nên không tà dâm Chúng ta không muốn ai lừa đảo mình thì phải tôn trọng sự thật, không dối gạt người Chúng ta muốn được thông minh sáng suốt thì phải quý trọng trí tuệ, nên không uống rượu Tư tưởng về sự công bằng, bình đẳng còn có thể thấy trong nhiều giáo lý khác của đạo đức Phật giáo như luật "nhân quả", đức "Từ Bi" v.v Từ Bi trong đạo đức Phật giáo là tình thương không giới hạn, không phân biệt con người, muông thú, cỏ cây, nghĩa là toàn thể "chúng sinh" - những gì có sự sống Vì theo nhà Phật, "chúng sinh" luân hồi, lăn lộn trong sáu cảnh giới: Thiên, Nhân, A-tu-la, Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục từ muôn triệu kiếp, chúng sinh đối với nhau đã từng là cha mẹ, ông bà, anh em, chị em, thân thuộc nhau, cho nên phải thương yêu nhau Theo nhà Phật "Mặc dù chúng sinh có hình thức khác nhau, nhưng sự sống chỉ là một Sự sống đã là một thì tình thương không thể phân biệt Làm đau khổ một phần nào, một khía cạnh của sự sống, tức là đã làm đau khổ sự sống của chính mình, vì sự sống của mình và của chúng sinh là một Trái lại thương yêu một sinh vật nào đó cũng chính là thương yêu mình " [10, tr 66]
- Trong đạo đức Công giáo, công bằng được sử dụng với nghĩa rất rộng vừa theo nghĩa phán xét, vừa theo nghĩa đức độ thanh liêm của con người theo mẫu mực của