1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với Hội đồng nhân dân tỉnh giai đoạn hiện nay pdf

101 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với Hội đồng nhân dân tỉnh giai đoạn hiện nay
Trường học Trường Đại Học Vĩnh Phúc
Thể loại Luận văn
Thành phố Vĩnh Phúc
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội đồng nhân dân bầu ra Uỷ ban nhân dân và thực hiện quyền giám sát với Thường trực HĐND, UBND, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, giám sát việc thi hành pháp luật và các

Trang 2

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng địa phương về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, không

ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Hội đồng nhân dân bầu ra Uỷ ban nhân dân và thực hiện quyền giám sát với Thường trực HĐND, UBND, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, giám sát việc thi hành pháp luật và các nghị quyết của HĐND đối với các

cơ quan nhà nước các tổ chức chính trị-xã hội, đơn vị vũ trang và công dân địa phương

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hệ thống chính trị và là một bộ phận của hệ thống ấy Đảng lãnh đạo và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là vấn đề có

tính nguyên tắc trong toàn bộ tổ chức và hoạt động của HĐND

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm ở Tây - Bắc Thủ đô Hà Nội trong vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ, nối liền Thủ đô với các tỉnh Tây Bắc của Tổ quốc có tổng diện tích

tự nhiên 1.231,76 km2, dân số trên một triệu người, bao gồm 9 đơn vị hành chính cấp huyện và 137 đơn vị hành chính cấp cơ sở Là tỉnh có vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội

Theo qui định của Hiến pháp, chính quyền địa phương được chia thành 3 cấp, do vậy HĐND cũng được hình thành ở 3 cấp: HĐND tỉnh, HĐND các huyện, thị xã, thành phố và HĐND các xã, phường, thị trấn

Trong những năm qua, cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo các lĩnh vực kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, các cấp uỷ đảng ở Vĩnh Phúc đã nhận thức đúng

Trang 3

đắn vị trí, vai trò của HĐND, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, giải quyết tốt mối quan hệ lãnh đạo giữa Đảng và chính quyền vừa phát huy được vai trò của Nhà nước vừa giữ được sự lãnh đạo của Đảng Hoạt động của HĐND các cấp ngày càng thực chất và hiệu quả hơn, góp phần phát huy sức mạnh của

cả hệ thống chính trị, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thúc đẩy kinh tế-xã hội

ngày càng phát triển Vĩnh Phúc đã trở thành tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Thủ đô với tốc độ tăng trưởng cao và cơ cấu kinh tế chuyển

dịch ngày càng đúng hướng, chính trị xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững

Tuy nhiên, ở một số nơi cấp uỷ đảng (nhất là ở cơ sở) chưa làm cho cán bộ,

đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, chưa phát huy được vai trò của HĐND, UBND, chưa đề cao ý thức chấp hành các nghị quyết của HĐND Nhiều cấp uỷ đảng còn lúng túng trong phương thức lãnh đạo đối với HĐND, chưa có định hướng kịp thời trong việc kiện toàn, củng cố tổ chức, trong việc duy trì các hoạt động của HĐND, chưa kiểm tra sát sao việc thực hiện các nghị quyết và giải quyết các kiến nghị của đại biểu HĐND

Mặt khác, điều kiện bối cảnh quốc tế hiện nay còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường Các thế lực thù địch, phản động quốc tế vẫn điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam, chúng dùng mọi thủ đoạn nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ giữa Đảng với Nhà nước làm cho Đảng ta suy yếu tiến tới xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Hiện nay, nước ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo Tuy đã đạt được một số kết quả nhưng nhìn chung bộ máy nhà nước vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, sự phân công nhiệm

vụ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nhiều khi chưa cụ thể, tính thống nhất của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước chưa cao, hiệu lực, hiệu

Trang 4

quả quản lý của bộ máy nhà nước còn hạn chế Để thiết thực thực hiện tinh gọn

bộ máy nhà nước, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII đã ra nghị quyết về việc thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường Theo tinh thần nghị quyết này, tỉnh Vĩnh Phúc sẽ thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND ở 7 huyện và 13 phường Đây là nét mới trong thể chế hành chính, thể chế chính trị ở nước ta Nhiều qui định trong Hiến pháp và pháp luật hiện hành sẽ phải điều chỉnh lại một số chức năng, nhiệm vụ của HĐND huyện, phường sẽ phải giao cho HĐND cấp trên, các tổ chức chính trị xã hội khác Mối quan hệ công tác giữa Mặt trận Tổ quốc, UBND, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân sẽ phải điều chỉnh lại…

Nhằm tiếp tục nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND tỉnh thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời đảm bảo sự lãnh đạo thường xuyên, kịp thời và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ và tìm ra những giải pháp

trong thời gian tới, việc nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ: “Đổi mới phương thức

lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với Hội đồng nhân dân tỉnh giai đoạn hiện nay” là có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được nhiều người nghiên cứu trong các chương trình, đề tài khoa học, đã công bố ở một số tạp chí, nhà xuất bản trong nước Phương thức lãnh đạo của Đảng bao giờ cũng gắn với vấn đề Nhà nước Vấn đề này cũng đã được nhiều cơ quan và nhiều cán

bộ khoa học của Đảng và Nhà nước nghiên cứu

Đề tài khoa học cấp nhà nước có: Chương trình KHXH.05-Đề tài KHXH

05 04: Phương thức lãnh đạo của Đảng – Thực trạng và một số giải pháp đổi mới (Báo cáo khoa học.Lưu hành nội bộ), Hà Nội, 1998, GS.TS Nguyễn Phú Trọng – PGS.TS Tô Huy Rứa – PGS.TS Trần Khắc Việt: Nâng cao năng lực

Trang 5

đồng chí Trần Đình Nghiêm làm chủ biên, GS-TS Trần Ngọc Quang-TS Ngô

Kim Ngân (đồng chủ biên) “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân

và vì dân” (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, Đề tài cấp nhà nước KX 05 06 (1994) “Đặc điểm nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng trong

hệ thống chính trị, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể chính trị

xã hội”, do PGS Vũ Hữu Ngoạn làm chủ nhiệm, Viện Xây dựng Đảng thuộc Viện

Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì Luận văn thạc sĩ đã bảo vệ ở cơ sở đào tạo Học viện Chính trị - Hành chính

quốc gia Hồ Chí Minh có: Trần Vĩnh Tuyến: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Thành uỷ đối với chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, Luận văn thạc sĩ (2005) Tô Văn Minh:“Sự lãnh đạo của huyện uỷ đối với chính quyền huyện Đông Anh thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ (2006) Trần Văn Tường: Sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ (2006) Nguyễn Vinh Hà: Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, luận văn thạc sĩ,

Trang 6

nước”, Tạp chí Cộng sản, số 19, tr 26-30 Phạm Ngọc Quang-Nguyễn Khánh (2004), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội”, Tạp chí Cộng sản, số 9 GS.TS Mạch Quang Thắng: Về vấn đề tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11-2008

Các đề tài khoa học, luận văn, bài báo khoa học trên đây chủ yếu đi vào nghiên cứu những vấn đề lớn, những vấn đề chung về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thường là ở cấp Trung ương, chưa đề cập vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp Tỉnh uỷ đối với HĐND cùng cấp Riêng đối với Vĩnh Phúc cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với HĐND tỉnh

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như phương hướng và những giải pháp chủ yếu đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với HĐND cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

- Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phương thức lãnh đạo của của Tỉnh uỷ đối với HĐND tỉnh trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như kinh nghiệm đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với Hội đồng nhân dân tỉnh ở một số địa phương hiện nay

- Đánh giá thực trạng phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với HĐND tỉnh những năm qua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo HĐND tỉnh

Trang 7

- Đề xuất, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan ở Trung ương

về các vấn đề liên quan đến đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với HĐND cấp tỉnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

uỷ và HĐND tỉnh

Thời gian nghiên cứu là từ đầu nhiệm kỳ, tức là từ năm 2004 đến nay và đề xuất giải pháp từ nay đến năm 2015

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Việc nghiên cứu luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về Đảng cầm quyền, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, lãnh đạo và phát huy vai trò của Nhà nước (trong đó có HĐND), lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội khác

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn phương thức lãnh đạo của một số tỉnh và Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với tổ chức và hoạt động của HĐND tỉnh

Trang 8

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn kết hợp

sử dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử và phương pháp lô gích, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp tổng kết thực tiễn Trong đề tài này tác giả luận văn đã sử dụng những kinh nghiệm trong thực tế công tác lãnh đạo của Tỉnh uỷ các tỉnh: Lạng Sơn, Sơn La, Thái Nguyên và Phú Thọ cũng như thực tế công tác lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với HĐND tỉnh những năm gần đây phục vụ cho công tác nghiên cứu của mình

6 Đóng góp về mặt khoa học và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn

- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phương thức lãnh đạo của của Tỉnh uỷ đối với HĐND tỉnh trên cơ sở khái quát các quan điểm của Đảng, cũng như kinh nghiệm đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với Hội đồng nhân dân tỉnh ở một số địa phương hiện nay

- Đánh giá thực trạng phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với HĐND tỉnh những năm qua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để Tỉnh uỷ tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo HĐND tỉnh

- Kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan ở Trung ương về các vấn đề liên quan đến đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với HĐND cấp tỉnh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 2 chương, 5 tiết

Chương 1

Trang 9

1.1.1 Một vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 50 km và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ Phía Đông và phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội Tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm: Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, các huyện: Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường và Yên Lạc với diện tích tự nhiên 1.231,76 km2 Dân số 1.000.800 người (theo tổng điều tra dân số 1/4/2009) với mật độ dân số 813 người/km2

Vĩnh Phúc nằm trên quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai Là cầu nối giữa các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội, liền cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 nối thông với cảng Hải Phòng qua quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai tạo điều kiện giao lưu với các trung tâm kinh tế công nghiệp Côn Minh, Lào Cai và các vùng giáp

Hà Giang của Trung Quốc

1.1.1.1 Về điều kiện tự nhiên

Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du với vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Do vậy địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và miền núi

Vùng núi chiếm phần lớn diện tích của huyện Sông Lô, Lập Thạch, Tam

Đảo, 4 xã của huyện Bình Xuyên và 1 xã của thị xã Phúc Yên

Trang 10

1.1.1.2 Về lịch sử phát triển và các giá trị văn hoá cộng đồng

Có thể nói cùng với cả nước, lịch sử phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Vĩnh Phúc nổi tiếng với khu di chỉ Đồng Đậu được xem là cái nôi của người Việt cổ Nhiều

di tích trên địa bàn Vĩnh Phúc gắn liền với thời đại Hùng Vương và nền văn hoá Văn Lang (Đền Quốc mẫu Tây Thiên thờ bà Lăng Thị Tiêu vợ của Vua Hùng thứ 7) Các danh tướng và anh hùng dân tộc: Hai Bà Trưng, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Thái Học, Đội Cấn… Trong kháng chiến chống Pháp trên đất Vĩnh Phúc đã diễn ra nhiều chiến công hiển hách như chiến thắng Xuân Trạch, chiến dịch Trần Hưng Đạo Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ tỉnh là nơi bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, có các anh hùng quân đội tiêu biểu như Trần Cừ, Nguyễn Viết Xuân… có những con người sáng tạo, năng động như đồng chí Kim Ngọc Cho đến nay Vĩnh Phúc vẫn mang đậm dấu ấn của nền văn hoá Hùng Vương, Kinh Bắc, Thăng Long, của nền văn hoá dân gian đặc sắc, khoa bảng với lối sống và các chuẩn mực đạo đức luôn được giữ gìn và phát huy cho đến ngày nay

Các giá trị văn hoá truyền thống được lưu lại thông qua các di tích lịch sử văn hoá đa dạng Toàn tỉnh có 967 di tích lịch sử văn hoá trong đó có 288 di tích được xếp hạng cấp quốc gia nổi bật là cụm di tích Tây Thiên, tháp Bình Sơn, di chỉ Đồng Đậu… cùng với các lễ hội, các trò chơi dân gian, văn hoá nghệ thuật, thi ca, ẩm thực đặc sắc

Trang 11

xã từ huyện Lập Thạch Như vậy tính đến nay tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính cấp huyện và 137 xã, phường, thị trấn

Theo kết quả điều tra dân số ngày 1/4/2009 Vĩnh Phúc có 1.000,8 ngàn người Dự kiến năm 2010 là 1.012 ngàn người Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 11,3-11,7% trong đó dân số đô thị chiếm gần 22,4%, nông thôn 77,6% Trong những năm tới cùng với việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá ngoài số lượng dân số tăng tự nhiên, dự kiến có một số lượng đáng

kể lao động ngoài tỉnh đến làm việc tại Vĩnh Phúc trong các khu công nghiệp và các hoạt động kinh tế - xã hội khác Chính vì vậy, dự báo dân số Vĩnh Phúc sẽ gắn liền với việc phát triển kinh tế- xã hội và thu hút lao động đến Vĩnh Phúc nên dân số của Vĩnh Phúc sẽ là tương đối trẻ, lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm tỉ lệ khá cao, khoảng 70% dân số

Toàn tỉnh có 11 dân tộc anh em sinh sống trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số: 95,72% còn lại là các dân tộc thiểu số như: Sán dìu, Cao Lan, Nùng, Dao, Tày, Mường, Ngái, Lào, Hoa, Thái… chiếm 4,28% dân số Trong số đó dân tộc Sán Dìu chiếm tỉ lệ cao nhất (3,93%) còn lại là các dân tộc thiểu số khác Người dân Vĩnh Phúc hiếu học, cầu thị, có ý thức tìm tòi đổi mới và sáng tạo đó chính

là động lực cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh

Trang 12

Tất cả những đặc điểm xã hội và nhân văn nêu trên là tiền đề cơ sở tạo nên sức mạnh cho tỉnh trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá những năm qua và những năm tiếp theo

1.1.1.3 Về kinh tế

Sau hơn mười năm tái lập tỉnh, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, Đảng

bộ Vĩnh Phúc đã đoàn kết, nhất trí, tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, vượt qua khó khăn thử thách Đã quán triệt và vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, xác định rõ mục tiêu và có hướng đi đúng, tích cực nên đã tìm ra các giải pháp đột phá tạo môi trường thuận lợi nhằm giải phóng sức sản xuất của nền kinh tế Thu hút mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho đầu tư phát triển và đạt được nhiều kết quả quan trọng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực

Nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng cao bình quân 10 năm 2007) tăng 17,5% trong đó công nghiệp xây dựng tăng 33,1%, dịch vụ tăng 15,3%, nông lâm thuỷ sản tăng 5,4% Thu ngân sách tăng từ 114 tỉ đồng năm

(1997-1997 lên 5.642 tỉ đồng năm 2007 và 9.200 tỉ đồng năm 2008 Chi ngân sách năm

2007 là 4.356 tỉ đồng năm 2008 là 6.600 tỉ đồng Từ năm 2004 tỉnh đã cân đối được thu, chi ngân sách và có đóng góp đáng kể cho ngân sách Trung ương

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp Đầu năm 2007 tỉnh Vĩnh Phúc có cơ cấu kinh

tế là: Công nghiệp: 61,06%, dịch vụ: 24,69%, nông nghiệp: 14,25%

Thu hút đầu tư tăng mạnh trong hơn 10 năm tỉnh đã thu hút được trên 600

dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký gần 4 tỷ USD Trong đó có 170 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI ) và 465 dự án có vốn đầu tư trong nước (DDI ) Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 tăng 25 lần so với năm 1997 (đạt 343,8 triệu USD), nhập khẩu tăng 163 lần so với 1997 (chủ yếu là linh kiện phụ tùng cho các nhà máy công nghiệp)

1.1.1.4 Về văn hoá xã hội

Trang 13

Các lĩnh vực văn hoá xã hội tiếp tục phát triển ổn định vững chắc, chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn được nâng cao Tỉ lệ trẻ từ 3-5 tuổi được học mầm non đạt 90% Có 98% học sinh tốt nghiệp THCS được học THPT, bổ túc THPT, học nghề Tỉ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm trên 30% (năm 2008-2009 bình quân điểm thi vào đại học đứng thứ 7 cả nước, có 5 trường THPT nằm trong top 100 trường có chất lượng cao) Năm 2009 là năm thứ 10 liên tiếp tỉnh Vĩnh Phúc có học sinh đạt giải trong các kỳ thi Olympic quốc tế và khu vực

Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm, hệ thống y tế

từ tỉnh đến cơ sở được củng cố và phát triển Đến năm 2008 toàn tỉnh có 130/137 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế xã Công tác đào tạo nghề, giải quyết công ăn việc làm được chú trọng, tỉ lệ lao động qua đào tạo tính đến năm 2008 đạt 42,9% Tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 18,07% còn 10,4%

Tỉnh Vĩnh Phúc rất chú trọng việc thực hiện chính sách an sinh xã hội Thực hiện tốt các chính sách đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ, những người có công, quan tâm đến người nghèo, hộ nghèo, những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Vĩnh Phúc đã hoàn thành việc xoá nhà tạm, nhà tranh, tre, nứa, lá cho các hộ nghèo Ngoài việc chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách của Trung ương, tỉnh còn bổ sung, ban hành nhiều chính sách mới được nhân dân đồng tình ủng hộ

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

1.1.2 Cơ cấu tổ chức, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của Tỉnh uỷ

Vĩnh Phúc

1.1.2.1 Về cơ cấu tổ chức

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc hiện có 13 Đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ (9 Đảng

bộ huyện, thị, thành và 4 Đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ là: Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh, Đảng bộ Công an tỉnh, Đảng bộ Quân sự tỉnh và Đảng bộ

Trang 14

Khối doanh nghiệp tỉnh) Toàn Đảng bộ tỉnh có 577 tổ chức cơ sở đảng trong đó

có 259 Đảng bộ, 326 chi bộ cơ sở, các cơ quan hành chính, 91 chi Đảng bộ cơ

sở các đơn vị sự nghiệp, 48 chi Đảng bộ lực lượng vũ trang còn lại là loại hình doanh nghiệp và các loại hình khác với 2.514 chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở Toàn tỉnh có 46.180 đảng viên (tính đến hết năm 2008) Có 2.549 cấp uỷ viên cơ sở trong đó 1785 cấp uỷ viên thuộc Đảng bộ xã, 236 cấp uỷ viên thuộc Đảng bộ phường và 136 cấp uỷ viên thuộc lực lượng vũ trang Có 285 cấp uỷ viên cấp huyện

Ban Chấp hành Đảng bộ tinh Vĩnh Phúc gồm 49 đồng chí Trong đó: nam

Cán bộ lãnh đạo chủ chốt các Sở, ban, ngành đoàn thể tỉnh:

Tổng số: 235 đồng chí,Trong đó nữ 23 đồng chí chiếm 10,36%

Nhìn chung đội ngũ cán bộ tỉnh Vĩnh Phúc có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với sự nghiệp đổi mới của Đảng, năng động sáng tạo trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, nhiều đồng chí được rèn luyện qua thực tiễn, trưởng thành về mọi mặt, có ý thức tổ chức kỷ

Trang 15

luật, trung thực, gương mẫu về đạo đức, lối sống, lời nói đi đôi với việc làm được quần chúng tín nhiệm có tinh thần chủ động, sáng tạo, trình độ chuyên môn và lý luận ngày càng được nâng lên

1.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc

Theo quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc khoá 14 nhiệm kỳ 2005-2010, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh có chức năng, nhiệm vụ sau: Quyết định chương trình công tác toàn khoá, hàng năm và quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Chuẩn bị nội dung chương trình Đại hội

và nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá mới, quyết định triệu tập đại hội Đảng bộ tỉnh Thảo luận và quyết định các chủ trương, biện pháp và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Trung ương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh

Tổng kết những chuyên đề về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, căn cứ vào nội dung, tính chất của từng lĩnh vực, Tỉnh uỷ ra nghị quyết hoặc kết luận Thảo luận về việc điều chỉnh địa giới hành chính cấp tỉnh, cấp huyện

Quyết định những nội dung về công tác xây dựng Đảng, những vấn đề quan trọng về công tác cán bộ, về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng Bầu uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư, Phó Bí thư, uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Xem xét, giới thiệu và đề nghị bổ sung uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh

Giới thiệu chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để Hội đồng nhân dân tỉnh bầu cho ý kiến về chủ trương, định hướng lớn đối với những vấn đề đặc biệt quan trọng của Hội đồng nhân dân trước khi thảo luận và thông qua

Quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng về kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, các chương trình, dự án trọng điểm về đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, kinh tế đối ngoại liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương, chủ trương đầu tư các dự án đặc biệt của tỉnh

Trang 16

Xem xét kỷ luật đối với Tỉnh uỷ viên theo quy định của Điều lệ Đảng Xem xét các vấn đề khác mà Thường vụ Tỉnh uỷ thấy cần phải trình Tỉnh uỷ thảo luận và quyết định

1.1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ

Tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh uỷ Xây dựng chương trình công tác năm của Ban Thường vụ đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Tỉnh

uỷ Lãnh đạo việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể

Định hướng về phát triển những ngành kinh tế, những vấn đề xã hội quan trọng của tỉnh, các chủ trương chính sách, giải pháp lớn có quan hệ với phát triển kinh tế - xã hội, định hướng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm Xem xét quy định những chủ trương, chính sách liên quan rộng rãi tới cán bộ, nhân dân trong tỉnh (trừ những vấn đề thuộc nhiệm vụ của Tỉnh uỷ) Xem xét các quy hoạch liên quan đến vùng sản xuất nông lâm, phát triển đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch

Thống nhất chủ trương về các phương án liên doanh với nước ngoài, các

dự án xử lý chất thải độc hại cần phải quản lý chặt chẽ, có quan hệ đối với số đông dân cư

Quyết nghị về lập mới, chia tách, giải thể, sát nhập các Ban của Đảng, các

sở và cơ quan ngang sở, cơ quan trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý Cho ý kiến phương án cải cách hành chính về mặt tổ chức sắp xếp tổng thể các tổ chức

sự nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh theo ngành nghề, kỹ thuật, cho ý kiến

về lập mới, sát nhập, giải thể phá sản các doanh nghiệp nhà nước về việc giải tán Hội đồng nhân dân cấp huyện và xã, về phân vạch địa giới hành chính cấp xã trước khi trình Chính phủ

Trang 17

Cho ý kiến về những định hướng, chủ trương quan trọng trong chương trình hoạt động, chương trình các kỳ họp và những Quyết định quan trọng của Hội đồng nhân dân tỉnh về kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh, những vấn đề liên quan đến chế độ, chính sách và đời sống nhân dân ở địa phương, những vấn đề về tổ chức hành chính trước khi trình Hội đồng nhân dân quyết định Cho ý kiến về các chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh, hợp tác liên doanh, liên kết trước khi tổ chức thực hiện hoặc trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định

Cho ý kiến về những vấn đề đột xuất quan trọng mà Ban cán sự Đảng Uỷ ban nhân dân xin ý kiến hoặc Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thấy cần thiết phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo Ban hành quy chế phối hợp công tác giữa Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội của tỉnh với các cơ quan đảng, chính quyền, các cấp uỷ trực thuộc Ban hành quy chế phối hợp công tác giữa Ban cán sự Đảng Toà án nhân dân, Ban cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh với các cơ quan đảng, chính quyền, các cấp uỷ trực thuộc

Chỉ định bổ sung, thay thế hoặc cách chức thành viên Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban cán sự Đảng, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành viên Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh, thành viên Ban cán sự Đảng

Trang 18

Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân tỉnh trên cơ sở xem xét đề nghị của các

cơ quan có thẩm quyền Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, kỷ luật, cho nghỉ hưu đối với cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý Xem xét, thoả thuận các chức danh trưởng, phó các ngành thuộc Trung ương quản lý để ngành dọc Trung ương quyết định quy hoạch, bổ nhiệm

Chỉ định cấp uỷ, Bí thư, Phó Bí thư các Đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ theo quy định của Điều lệ Đảng và phân cấp quản lý cán bộ, giới thiệu nhân sự ứng

cử các chức danh thuộc diện quản lý của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ

Xem xét xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên theo thẩm quyền Xem xét việc bãi nhiệm, miễn nhiệm đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện

là cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý Xét duyệt danh sách đề nghị tặng thưởng danh hiệu anh hùng, nhà giáo nhân dân, thầy thuốc nhân dân, nghệ sỹ nhân dân, huân chương độc lập

Chuẩn bị nội dung hội nghị Tỉnh uỷ Thay mặt Tỉnh uỷ báo cáo công tác của Đảng bộ với Trung ương và đảm bảo chế độ thông tin cho Tỉnh uỷ và cấp uỷ cấp dưới Chỉ đạo chuẩn bị các dự thảo văn kiện và nhân sự đại hội Đảng bộ tỉnh trình Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh

Để giải quyết các vấn đề phát sinh thường ngày, đột xuất tại địa phương Ban Thường vụ Tỉnh uỷ uỷ quyền cho Thường trực Tỉnh uỷ giải quyết một số công việc cụ thể

1.1.3 Cơ cấu tổ chức, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân tỉnh

1.1.3.1 Cơ cấu tổ chức

Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

Trang 19

Trong đó: Đại biểu chuyên trách 04 bằng 7,69% nữ: 11 bằng 21,15%, tôn

giáo: 01 bằng 1,92% dân tộc ít người: bằng 3,85%, tái cử 14 bằng 26,92%

Trong đó: Đại biểu chuyên trách 04 bằng 7,69% nữ: 11 bằng 21,15%, tôn

giáo: 01 bằng 1,92% dân tộc ít người: bằng 3,85%, tái cử 14 bằng 26,92%

Về trình độ văn hoá: 100% đại biểu có trình độ PTTH

Trình độ chuyên môn: Trung cấp, cao đẳng: 03 bằng 5,7% đại học: 37 bằng

Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc được bầu 3 ban:

Ban kinh tế ngân sách: gồm 07 thành viên, trưởng Ban hoạt động chuyên

trách, Phó Ban và các thành viên khác hoạt động kiêm nhiệm

Ban văn hoá xã hội: gổm 07 thành viên, Trưởng Ban hoạt động chuyên

trách Phó Ban và các thành viên hoạt động kiêm nhiệm Đến kỳ bầu cử Quốc hội khoá XII đồng chí Trưởng Ban chuyển sang làm Phó đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách, đồng chí Uỷ viên Thường trực tiếp tục kiêm nhiệm Trưởng Ban văn hoá xã hội

Trang 20

Ban pháp chế: gồm 7 thành viên Trưởng Ban, Phó Ban và các thành viên

đều hoạt động kiêm nhiệm Tháng 7 năm 2006 Trưởng Ban được chuyển về Trung ương công tác nên hiện nay còn lại 6 thành viên

Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân tỉnh có văn phòng giúp việc bao gồm chánh văn phòng, 2 phó văn phòng và 3 phòng tham mưu là phòng công tác Hội đồng nhân dân, phòng thông tin dân nguyện và phòng hành chính, tổ chức quản trị

Kể từ tháng 5/2008 thực hiện Nghị quyết 545/NQ-QH12 của UBTVQH văn phòng Hội đồng nhân dân và văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội sát nhập trở thành Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh bao gồm 4 đ/c lãnh đạo văn phòng và 4 phòng chức năng giúp việc là: Phòng Công tác đại biểu Quốc hội, phòng công tác Hội đồng nhân dân, phòng thông tin, dân nguyện, phòng tổ chức, hành chính, quản trị, với tổng số cán bộ là 34 người

1.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân tỉnh

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực của Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ: Bầu cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Trưởng Ban và các thành viên khác của các Ban của Hội đồng nhân dân, Hội thẩm nhân dân của Toà án nhân dân cùng cấp, bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu ra Phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, quyết định thành lập, sát nhập, giải thể một số cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp theo hướng dẫn của Chính phủ

Trang 21

Quyết định tổng biên chế sự nghiệp ở địa phương phù hợp với yêu cầu phát triển và khả năng ngân sách của địa phương, thông qua tổng biên chế hành chính của địa phương trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định Quyết định chính sách thu hút và một số chế độ khuyến khích đối với cán bộ, công chức trên địa bàn phù hợp với khả năng của ngân sách địa phương quyết định số lượng và mức phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn trên cơ sở hướng dẫn của Chính phủ

Quyết định quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm về phát triển ngành

và quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị, nông thôn trong phạm vi quản lý, lĩnh vực đầu tư và quy mô vốn đầu tư theo phân cấp của Chính phủ

Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công ở địa phương và thông qua cơ chế khuyến khích phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển các thành phần kinh

tế ở địa phương, bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh

tế theo quy định của pháp luật

Quyết định dự toán ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương, quyết định các chủ trương, biện pháp triển khai thực hiện ngân sách địa phương, điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết, giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước Quyết định thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn theo quy định của pháp luật

Quyết định phương án quản lý, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở địa phương Quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.Quyết định biện pháp quản lý và

sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển tại địa phương theo quy định của pháp luật

Trang 22

Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động giáo dục, đào tạo ở địa phương Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, biện pháp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá ở địa phương, biện pháp bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao ở địa phương theo quy định của pháp luật

Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển nguồn nhân lực, sử dụng lao động, giải quyết việc làm và cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao động, bảo hộ lao động, thực hiện phân bổ dân cư và cải thiện đời sống nhân dân ở địa phương Quyết định biện pháp giáo dục, bảo vệ, chăm sóc thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, biện pháp ngăn chặn việc truyền bá văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ, bài trừ mê tín, hủ tục và phòng, chống các tệ nạn xã hội, các biểu hiện không lành mạnh trong đời sống xã hội ở địa phương

Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh, biện pháp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo vệ và chăm sóc người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, bảo vệ, chăm sóc bà mẹ, trẻ em, thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, phòng, chống dịch bệnh và phát triển y tế địa phương Quyết định biện pháp thực hiện chính sách, chế độ đãi ngộ

ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia đình

có công với nước, thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội và xoá đói, giảm nghèo Quyết định chủ trương, biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân ở địa phương Quyết định bảo vệ môi trường, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, suy thoái môi

Trang 23

trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường ở địa phương theo quy định của pháp luật Quyết định biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường và chất lượng sản phẩm, ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành hàng giả, hàng kém chất lượng tại địa phương, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng

Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh và thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng dự bị động viên ở địa phương Quyết định biện pháp bảo đảm an ninh, trật

tự, an toàn xã hội, phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương Quyết định các biện pháp thực hiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số, bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân và tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc ở địa phương

Quyết định biện pháp thực hiện chính sách tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các tôn giáo trước pháp luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân địa phương theo quy định của pháp luật

Quyết định biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của

cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương Quyết định biện pháp bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước, bảo hộ tài sản của cơ quan, tổ chức và cá nhân ở địa phương Quyết định biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật Thông qua đề án thành lập mới, nhập, chia và điều chỉnh địa giới hành chính để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định Quyết định việc đặt tên, đổi tên đường, phố, quảng trường, công trình công cộng ở địa phương theo quy định của pháp luật Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của Uỷ

Trang 24

Với các chức năng quyền hạn như trên, hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển về kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, thực hiện nghĩa

vụ của địa phương đối với cả nước trong toàn bộ các hoạt động của mình Hội đồng nhân dân ra quyết định các vấn đề quan trọng tại địa phương đồng thời giám sát việc thực thi pháp luật việc thực hiện các nghị quyết của mình Tổ chức tiếp xúc cử tri, tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân

1.2 PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH UỶ ĐỐI VỚI HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH

1.2.1 Quan niệm về phương thức lãnh đạo và đổi mới phương thức

lãnh đạo của Đảng

1.2.1.1 Một số vấn đề lý luận về phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng

sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

Để tìm hiểu phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chúng ta cần tìm hiểu một số

khái niệm cơ bản: lãnh đạo, phương thức lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Trang 25

Lãnh đạo: theo tiếng Anh là hướng dẫn, dẫn dắt, cầm đầu, đi trước Theo

tiếng Pháp là Digigen cũng có nghĩa là cầm đầu còn theo nghĩa Hán việt có nghĩa là dẫn đường

Đối với Đảng cầm quyền, từ "Lãnh đạo" với ý nghĩa như trên thể hiện đúng vai trò, chức năng của Đảng chính trị trong đời sống xã hội Đó là vai trò của người dẫn dắt, người đi đầu trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh giành, giữ và thực hiện quyền lực chính trị

Lãnh đạo là mối quan hệ xã hội mà cơ sở của nó là uy tín của người lãnh đạo và sự tự nguyện của người bị lãnh đạo Nếu không có uy tín thì không có quan hệ lãnh đạo Nó khác với mối quan hệ cai trị dựa trên cơ sở của uy quyền, của quyền lực Nhà nước trong quan hệ cai trị và tầng lớp bị trị

Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ ngày đầu mới thành lập đã tự xác định là người dẫn đường chỉ lối, là người tổ chức, là đội tiền phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam Điều này đã được đồng chí Nguyễn

Ái Quốc nói rõ từ năm 1923 “Đối với tôi câu trả lời thật rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”

Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được lịch sử chứng minh và được xã hội thừa nhận như một tất yếu lịch sử Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ

Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [38, tr.1]

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng,

là vấn đề có tính nguyên tắc, tính quy luật của cách mạng Việt Nam Để thực hiện có hiệu quả vai trò lãnh đạo của mình Đảng luôn nghiên cứu, tìm tòi phương thức lãnh đạo hợp lý, đúng đắn phù hợp với những đòi hỏi khách quan của từng giai đoạn lịch sử nhất định

Trang 26

Phương thức lãnh đạo: là vấn đề quan trọng, thời kỳ nào cũng phải có

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm đưa ra tư tưởng về phương thức lãnh đạo, Người gọi đó là “cách tổ chức”, “sách lược của Đảng”, là “cách lãnh đạo”, là

“lối làm việc”

Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc

đã nói đến phương thức, phương pháp cách mạng khi bàn về cách làm cách mạng Người chỉ ra “cách tổ chức” công hội, “cách tổ chức” dân cày, cách tổ chức các loại hợp tác xã, cách tổ chức các tổ chức quốc tế Người khẳng định:

“Mục đích có đồng, chí mới đồng, chí có đồng tâm mới đồng, tâm đã đồng thì lại phải biết cách làm thì làm mới chóng”

Theo phương thức lãnh đạo của Hồ Chí Minh là phải biết dựa vào dân, thắt chặt mối quan hệ máu thịt với nhân dân bởi Người chỉ rõ: “dân là gốc”, theo tinh thần “chở thuyền cũng là dân”, “ lật thuyền cũng là dân”, “dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu vẫn qua” Người nói: “phải truyền bá lý luận vào trong nhân dân thức tỉnh họ, vận động họ, đoàn kết họ và tổ chức cho công nông binh cùng tham gia cách mạng”

Phương thức lãnh đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị phương pháp luận quan trọng, đó là: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” có nghĩa là lấy cái không đổi để ứng với vạn sự thay đổi Theo phương châm này Đảng ta và chính quyền non trẻ đã vượt qua thử thách “ngàn cân treo sợi tóc” Đến nay nó trở thành một nguyên tắc, nghệ thuật lãnh đạo, xử thế của cách mạng Việt Nam Những tư tưởng về phương thức lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh được khái quát nêu thành một nội dung, một nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng từ cuối năm 1988 đầu năm 1989 Trong Thông báo của Bộ Chính trị khoá VI cuối năm 1988 về tình hình Liên Xô và Đông Âu, có nêu rõ: "phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng" Hội nghị Trung ương 6 Khoá VI (tháng 3 năm 1989) khẳng định: “Đảng phải tự đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của mình” Sau đó, trong Cương lĩnh cũng như trong các văn kiện khác của Đại hội

Trang 27

VII, Hội nghị Trung ương 3 Khoá VII, Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng giai đoạn 1975-1995, Văn kiện Đại hội VIII, IX, X, đều nói rõ nội dung, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Có nhiều ý kiến khác nhau khi nói tới phương thức lãnh đạo của Đảng

Trong phát biểu mở đầu cho Hội thảo khoa học: “Phương thức lãnh đạo của Đảng, thực trạng và một số giải pháp đổi mới”, tháng 2 năm 1998, GS.TS

Nguyễn Phú Trọng nói: “Phương thức lãnh đạo là vấn đề hệ trọng, nó là một nội dung của công tác xây dựng Đảng, được nhận thức ở tầm quan điểm chứ không chỉ là thủ pháp, là công nghệ lãnh đạo Đảng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo hệ thống chính trị bằng đường lối, cương lĩnh, chiến lược, chỉ thị, nghị quyết, thông qua

tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên Đảng đề ra đường lối, bố trí cán bộ, kiểm tra việc thực hiện, không bao biện làm thay, đồng thời không khoán trắng, buông lỏng”

Cũng tại cuốn sách trên, trong bài “Quan niệm về phương thức lãnh đạo” PGS.TS Trần Khắc Việt viết: “Phương thức lãnh đạo của Đảng là cách thức (tổng hợp các hình thức, phương pháp, biện pháp) Đảng sử dụng để tác động vào các tổ chức trong hệ thống chính trị và cả xã hội, làm cho chủ trương, đường lối của Đảng được thực hiện có hiệu quả cao nhất trong thực tế, phát huy cao độ vai trò của Nhà nước, các tổ chức xã hội và tiềm năng của đất nước, qua đó không ngừng nâng cao lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”

Như vậy có thể nói: phương thức lãnh đạo của Đảng là cách thức (hình thức, phương pháp, biện pháp) Đảng sử dụng để tác động vào các tổ chức trong

hệ thống chính trị và cả xã hội làm cho chủ trương, đường lối của Đảng được thực hiện có hiệu quả cao nhất trong thực tế, phát huy cao độ vai trò của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và tiềm năng của đất nước, qua đó nâng cao không ngừng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

Trang 28

Phương thức lãnh đạo của Đảng được hiểu là khâu tiếp liền sau khi đường lối, Nghị quyết của Đảng được khẳng định trong toàn bộ qui trình từ đường lối của Đảng đến thực tiễn Song trong thực tiễn, phương thức lãnh đạo của Đảng còn có vai trò to lớn trong cả việc xác định đường lối hình thành và quyết định chủ trương chính sách Phương thức lãnh đạo của Đảng còn chịu ảnh hưởng tác động trở lại đối với công tác tư tưởng, công tác tổ chức, sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và quan hệ giữa Đảng với quần chúng

Có thể khẳng định phương thức lãnh đạo có vai trò quan trọng trong toàn

bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng nhưng là vấn đề rất rộng lớn liên quan đến tất

cả các mặt hoạt động của Đảng và các lĩnh vực trong công tác xây dựng nội bộ Đảng

Phương thức lãnh đạo của Đảng được hiểu như là nghệ thuật lãnh đạo của Đảng phụ thuộc vào đường lối của Đảng, biến đường lối của Đảng thành hiện thực và qua sự thể hiện của phương thức lãnh đạo của mình Đảng thấy được sự cần thiết phải bổ sung đường lối Phương thức lãnh đạo của Đảng không chỉ liên quan đến Đảng mà có ảnh hưởng to lớn và trực tiếp tới hệ thống chính trị Nó liên quan đến cách thức tổ chức, kết cấu bộ máy cán bộ và phương thức hoạt động cụ thể của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội và toàn xã hội Do vậy khi bối cảnh xã hội thay đổi, hoàn cảnh mới ra đời thì đòi hỏi Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo

1.2.1.2 Sự cần thiết đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Sự cần thiết phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng xuất phát từ bối cảnh phát triển, những yếu tố khách quan, chủ quan đặt ra

Kết quả của gần 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng

và lãnh đạo đã thu được những thành tựu vô cùng to lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng, đối lĩnhi, càng khẳng định vững chắc vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Bước tiến quan trọng là Đảng ta nhận thức ngày càng

Trang 29

toàn diện hơn, rõ ràng hơn, sâu sắc và ngày càng trưởng thành hơn không chỉ trong nội dung lãnh đạo mà còn linh hoạt, sáng tạo, đa dạng và hiệu quả trong thực thi phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội

Đảng lãnh đạo xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Thời cơ và thách thức đan xen trong quá trình hội nhập này chúng ta có điều kiện vươn cánh tay dài để buôn bán, làm ăn với thế giới Những nhân tố mới tích cực sẽ xuất hiện, có vai trò lôi kéo, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước Tuy nhiên sự nghiệt ngã của kinh tế thị trường trong khi chúng ta kinh nghiệm còn non trẻ, sức cạnh tranh của hàng hoá thấp và trong sân chơi đó tình

trạng "cá lớn nuốt cá bé" cũng sẽ là nguy cơ đe doạ với doanh nghiệp vừa và

nhỏ, những hệ luỵ của kinh tế thị trường nếu không chú ý trong vận hành thì có thế sẽ làm vẩn đục môi trường xã hội của Việt Nam

Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đặt ra trong điều kiện chúng

ta đang từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đảng là một tiến bộ của lịch sử về mặt tổ chức

và phương pháp quản lý nhà nước Nhà nước pháp quyền là nhấn mạnh phương pháp, cách thức quản lý bằng pháp luật, theo pháp luật, nó yêu cầu mọi tổ chức đảng, mọi công dân phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật Nhà nước vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả cũng chính là thể hiện sức mạnh lãnh đạo của Đảng

Vấn đề đặt ra trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là việc giải

quyết mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ

Đảng lãnh đạo xã hội thông qua Nhà nước, bằng Nhà nước là chủ yếu Đảng lãnh đạo Nhà nước đồng thời phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, trong điều kiện đó phương thức lãnh đạo của Đảng cần thay đổi như thế nào để bảo đảm mọi quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế văn hoá – xã

Trang 30

Đảng lãnh đạo trong điều kiện bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, sự sụp

đổ của Liên xô và các nước XHCN Đông Âu, sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Các thế lực thù địch bên ngoài đang thực hiện chiến

lược diễn biến hoà bình nhằm chuyển hoá nội bộ Đảng gây chia rẽ và mất đoàn

kết trong Đảng Trong nội bộ thì bệnh quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân cũng là những khó khăn, thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Từ các lý do trên đòi hỏi Đảng phải liên tục đổi mới phương thức lãnh đạo của mình đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới xứng đáng với niềm tin và sự mong đợi của nhân dân

1.2.2 Quan điểm, nguyên tắc, nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1.2.2.1 Quan điểm về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước (trong đó có Hội đồng nhân dân)

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng lãnh đạo xây dựng bộ máy nhà nước bằng việc đề ra phương hướng nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà

nước V.I.Lênin viết: “Chừng nào mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng và toàn Đảng còn tiếp tục làm công tác quản lý hành chính, nghĩa là quản lý nhà nước thì Đảng không thể gọi là người lãnh đạo được” Theo V.I.Lênin, Đảng

lãnh đạo nhà nước bằng cương lĩnh, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Đảng lãnh đạo thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong bộ máy nhà nước Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra và Đảng lãnh đạo Nhà

Trang 31

nước thông qua công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia quản lý nhà nước

Hồ Chí Minh quan niệm: Nước ta là một Nhà nước dân chủ, bao nhiêu

quyền lực đều ở nơi dân Người viết: “nước ta là nước dân chủ địa vị cao nhất

là dân vì dân là chủ”

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính

phủ lâm thời “càng sớm càng hay tổ chức ngay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”, đây là dịp để cho những người có đức có tài gánh vác

công việc nước nhà

Trước đòi hỏi của đất nước hiện nay, Đảng ta đã xác định phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững Đảng ta phải tiếp tục đổi mới sâu sắc, hoàn thiện hơn

về phương thức lãnh đạo Trong quá trình đổi mới, toàn Đảng nói chung, cấp uỷ đảng cấp tỉnh nói riêng cần quán triệt những quan điểm cơ bản sau đây:

- Đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng phải xuất phát từ đường lối chính trị, thực hiện sự nghiệp đổi mới toàn diện

- Đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo phải đồng bộ với đổi mới tổ chức và cơ chế vận hành của cả hệ thống chính trị và cần phải có bước đi phù hợp

- Đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng phải phù hợp với trình độ trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trình độ dân chủ của Đảng, của toàn xã hội đặt trên nền tảng nguyên tắc cơ bản là tập trung dân chủ

- Đổi mới hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng phải đặt trong mối quan hệ của sự phát triển khoa học lãnh đạo, khoa học quản lý và điều kiện phương tiện, kỹ thuật phục vụ sự lãnh đạo

Phải lấy hiệu quả của việc tổ chức thực hiện đường lối chính trị, sự trưởng thành của Đảng, của hệ thống chính trị, của mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và

Trang 32

Sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng có vai trò quyết định đến chất lượng hoạt động của HĐND, đối với cấp tỉnh bao gồm: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Đảng đoàn HĐND tỉnh, Đảng bộ Văn Phòng Đoàn ĐBQH

và HĐND tỉnh

Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ thông qua Ban Thường vụ Tỉnh uỷ được thể hiện một cách rõ nhất, Ban Thường vụ quyết định những vấn đề cần được đưa ra HĐND bàn thảo quyết nghị, những vấn đề cần đưa ra HĐND thảo luận cho ý kiến trước khi cấp uỷ quyết định đây là vấn đề phát huy và mở rộng dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát, kiểm tra và tổ chức thực hiện nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương Đối với hoạt động giám sát của HĐND, các cấp uỷ đảng cần thể hiện rõ quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất giữa 3 cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, việc giám sát của cơ quan HĐND thực chất là nhằm giúp các cơ quan hành pháp và tư pháp tổ chức thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước

Sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác cán bộ, tổ chức bộ máy, việc quyết định những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội và những đảm bảo về kinh phí, phương tiện cho hoạt động của HĐND tỉnh, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp uỷ đảng đối với hoạt động kỳ họp HĐND, hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri, việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân của HĐND

Trang 33

chính trị Điều này cũng chính là để hoàn thiện mối quan hệ: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ Đảng lãnh đạo Nhà nước là phải làm

cho Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không ôm đồm, bao biện, làm thay Nhà nước Đảng lãnh đạo để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đó là xây dựng phương pháp, cách thức quản

lý nhà nước bằng pháp luật, tuân thủ pháp luật nhằm phục vụ và bảo vệ tốt nhất

lợi ích của nhân dân

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải nhằm giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy được tính chủ động, sáng tạo của Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội, nêu cao quyền làm chủ của nhân dân Trong việc thay đổi ấy phải làm cho Nhà nước thực sự đóng vai trò là thiết chế chính trị cơ bản đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, phát huy cao độ nguồn lực của đất nước, trước hết là nguồn lực con người

- Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải được tiến hành đồng

bộ với toàn bộ hệ thống chính trị bởi như chúng ta biết phương thức lãnh đạo của Đảng đối với một bộ phận, một lĩnh vực nào đó không chỉ phụ thuộc vào bản chất, mục tiêu của Đảng mà còn phụ thuộc vào đặc tính của đối tượng lãnh đạo

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải được tiến hành đồng bộ với đổi mới, sắp xếp lại và nâng cao phẩm chất năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao chất lượng của các tổ chức đảng

Trang 34

Sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động lãnh đạo của cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng Do vậy phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước phụ thuộc rất lớn vào hai nhân tố này

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là Đảng thực hiện sự lãnh đạo một cách dân chủ, bằng những biện pháp dân chủ Đây là yếu tố quan trọng bởi

“nước ta là nước dân chủ” Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không bao biện, áp đặt, ôm đồm, làm thay Nhà nước Đảng lãnh đạo Nhà nước song cần coi trọng vai trò tác động trở lại của Nhà nước trong việc hình thành, hoàn thiện quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng

Dân chủ hoá phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước còn có nghĩa Đảng phải biết nghe tiếng nói của cơ quan nhà nước để cân nhắc trước khi quyết định

Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta nó cũng là mục tiêu động lực đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Quá trình đổi mới phải được tiến hành kiên quyết, khẩn trương nhưng vững chắc

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở ra trên phạm vi rộng và đi vào chiều sâu trong khi trình độ dân trí và yêu cầu dân chủ ngày càng cao, Đảng cần phải khẩn trương, kiên quyết đổi mới phương thức lãnh đạo mới đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới

Sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân chính là việc thực hiện cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" là nhân tố cơ bản để bảo đảm các quyết định của Hội đồng nhân dân được thực hiện đúng "ý Đảng lòng dân" mà Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện, từ đó tạo được sự thống nhất cao trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân

Trang 35

Thực tế những năm qua cho thấy vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp đã được chú trọng và tăng cường, thể hiện ở việc phân công đảng viên giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt của Hội đồng nhân dân, việc quy hoạch, lựa chọn bố trí cán bộ làm công tác HĐND luôn bảo đảm các yêu cầu về trình độ chuyên môn, năng lực công tác, uy tín, cơ cấu hợp lý và chú trọng đến tính kế thừa

Vai trò lãnh đạo của Đảng trong hoạt động HĐND được thể hiện ở việc các cấp uỷ đảng ban hành các chỉ thị về việc tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân Các chỉ thị này được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả, xuyên suốt trong quá trình hoạt động, bằng việc tăng cường hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, hoạt động giám sát thông qua việc xem xét các báo cáo đề án trình kỳ họp, hoạt động chất vấn và hoạt động giám sát của HĐND

Mọi hoạt động của HĐND đều phải tuân thủ theo đường lối, chủ trương

và Nghị quyết của Đảng, cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng thành các nội dung Nghị quyết của HĐND trong việc phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của HĐND đó là việc cấp uỷ địa phương cần thường xuyên quan tâm và cho ý kiến chỉ đạo về hoạt động của HĐND nói chung và tại kỳ họp nói riêng

Mặt khác, HĐND phải không ngừng đổi mới phương thức hoạt động để đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giai đoạn cách mạng hiện nay Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND trước hết là nâng cao chất lượng của các kỳ họp Do vậy, kỳ họp của HĐND phải được chuẩn bị chu đáo, từng bước cải tiến

và nâng cao chất lượng, xác định rõ yêu cầu, nội dung cần phải đạt được, chuẩn

bị tốt các báo cáo, đề án và các vấn đề cần thảo luận, bàn bạc để xem xét, quyết định Trong kỳ họp cần đổi mới phương pháp điều hành của Chủ toạ, bảo đảm qui trình soạn thảo và thông qua Nghị quyết của kỳ họp Kết quả của mỗi kỳ họp HĐND được kết tinh trong các Nghị quyết của HĐND Nghị quyết đó phải thực

Trang 36

sự là sản phẩm cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng, tuân thủ các qui định của luật pháp và phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương để góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển, khắc phục tình trạng: HĐND chỉ quyết định những vấn đề sau khi cấp uỷ đảng đã quyết định, nghị quyết của HĐND chỉ là sự sao chụp, hợp thức hoá về mặt nhà nước các nội dung nghị quyết của cấp uỷ cùng cấp

Việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của HĐND để ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho HĐND các cấp phát huy tốt hơn vai trò, chức năng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, bảo đảm thực quyền của các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương

1.2.2.3 Nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với Hội đồng nhân dân tỉnh

Như ở phần trên đã trình bày về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước là đặt trong mối quan hệ tổng thể giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ Là làm rõ hơn khái niệm lãnh đạo và khái niệm quản lý trong đó vai trò lãnh đạo là thuộc về Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiệm vụ quản lý là chức năng của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Khái niệm Nhà nước ở đây bao gồm cả 3 bộ phận cấu thành đó là các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Ở các nước tư bản chủ nghĩa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là độc lập với nhau Ở nước ta các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có độc lập tương đối nhưng được đặt trong một thể thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, đó chính là sự phân công thành các nhóm quyền lực nhằm hỗ trợ nhau, giám sát lẫn nhau để thúc đẩy sự phát triển Quốc hội cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

là cơ quan đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân cả nước Quốc hội có quyền lập pháp, giám sát tối cao với các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương Có quyền cao nhất quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước,

Trang 37

quyết định phân bổ thu, chi ngân sách quốc gia và các dự án quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và công tác đối ngoại Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chính phủ có mối quan hệ chặt chẽ với sự lãnh đạo của Quốc hội vì các chủ trương chính sách của Đảng được Quốc hội thể chế hoá bằng pháp luật và giao cho Chính phủ thực hiện dưới sự giám sát của Quốc hội Các thẩm quyền liên quan đến xét xử như: điều tra, truy tố, thi hành án và các hoạt động bổ trợ tư pháp trong đó quyền xét xử là hoạt động trung tâm Quyền tư pháp được thực hiện bởi các cơ quan

tư pháp như: các cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân, toà án nhân dân, các tổ chức luật sư, các cơ quan giám định

Ở tỉnh, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương là Hội đồng nhân dân

Là cơ quan đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương về kinh tế, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương và làm tròn nghĩa vụ của địa phương với cả nước

Hội đồng nhân dân có quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân Giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, việc thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân địa phương được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ về công tác tổ chức và cán bộ

Một bộ máy tổ chức hợp lý sẽ đảm bảo cho hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh hoạt động tốt Vì thế, để đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Hội

Trang 38

đồng nhân dân tỉnh, Tỉnh uỷ cần chú trọng lãnh đạo Hội đồng nhân dân xây dựng hệ thống tổ chức phù hợp đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng bởi Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc thống nhất, lãnh đạo và quản lý công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ chủ chốt trong các cơ quan nhà nước, nhất là người đứng đầu trong các cơ quan nhà nước, vừa tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ vừa nêu cao trách nhiệm đảng viên là người đứng đầu Trong công tác cán bộ cần lãnh đạo thực hiện tốt công tác qui hoạch cán bộ, đây là khâu hết sức quan trọng cần qui hoạch các chức danh chủ chốt của HĐND nhiệm kỳ tiếp theo Để đảm bảo thực hiện tốt công tác qui hoạch, đào tạo cán bộ hàng năm, các cấp uỷ đảng cần chú trọng tổ chức tốt việc đánh giá, phân loại chất lượng cán bộ, đảng viên và chú trọng đào tạo nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ thuộc diện qui hoạch Cần làm tốt công tác giới thiệu nhân sự ra ứng cử, đề cử đối với các chức danh lãnh đạo HĐND tỉnh: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, uỷ viên Thường trực, trưởng, phó các ban để Đảng đoàn HĐND tỉnh lãnh đạo HĐND tỉnh thực hiện bầu cử Song song với việc quan tâm tới công tác qui hoạch, đào tạo các chức danh lãnh đạo của HĐND tỉnh, việc qui hoạch, đào tạo vào kiện toàn các chức danh lãnh đạo Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh cơ quan giúp việc trực tiếp của HĐND tỉnh cũng cần được Tỉnh uỷ quan tâm thực hiện

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với Hội đồng nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn theo luật định

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực của Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được Chủ tịch nước công bố ngày 10/12/2003, Hội đồng nhân dân tỉnh có các nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

Trang 39

Trong lĩnh vực kinh tế, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện:

Quyết định quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm về phát triển ngành

và quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị, nông thôn trong phạm vi quản lý, lĩnh vực đầu tư và quy mô vốn đầu tư theo phân cấp của Chính phủ,

Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công ở địa phương và thông qua cơ chế khuyến khích phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển các thành phần kinh

tế ở địa phương, bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh

tế theo quy định của pháp luật

Quyết định dự toán ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương, quyết định các chủ trương, biện pháp triển khai thực hiện ngân sách địa phương, điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết, giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định

Quyết định phương án quản lý, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở địa phương Quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại

Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội, thông tin, thể dục thể thao, hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện:

Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động giáo dục, đào tạo ở địa phương

Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, biện pháp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá ở địa phương, biện pháp bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao ở địa phương theo quy định của pháp luật

Trang 40

Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển nguồn nhân lực, sử dụng lao động, giải quyết việc làm và cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao động, bảo hộ lao động, thực hiện phân bổ dân cư và cải thiện đời sống nhân dân ở địa phương

Quyết định biện pháp giáo dục, bảo vệ, chăm sóc thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, biện pháp ngăn chặn việc truyền bá văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ, bài trừ mê tín, hủ tục và phòng, chống các tệ nạn xã hội, các biểu hiện không lành mạnh trong đời sống

xã hội ở địa phương

Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh, biện pháp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo vệ và chăm sóc người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, bảo vệ, chăm sóc bà mẹ, trẻ em, thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, phòng, chống dịch bệnh và phát triển y tế địa phương

Quyết định biện pháp thực hiện chính sách, chế độ đãi ngộ ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia đình có công với nước, thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội và xoá đói, giảm nghèo

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường, hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện:

Quyết định chủ trương, biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân ở địa phương

Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển tại địa phương theo quy định của pháp luật Quyết định bảo vệ môi trường, phòng chống và khắc phục

Ngày đăng: 27/06/2014, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.Nguyễn Đức Bình (đồng chủ biên) (1999), Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới
Tác giả: GS.Nguyễn Đức Bình (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
2. Lê Đức Bình (2003), "Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước", Tạp chí Cộng sản, (19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Tác giả: Lê Đức Bình
Năm: 2003
4. Bộ Nội vụ (2008), Báo cáo tổng hợp đánh giá của Thường trực HĐND và UBND các tỉnh thành phố trực thuộc TW về thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND huyện, quận, phường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp đánh giá của Thường trực HĐND và UBND các tỉnh thành phố trực thuộc TW về thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND huyện, quận, phường
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2008
5. Chính phủ (2008), Đề án thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
6. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2009), Niên giám thống kê Vĩnh phúc 2008, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh phúc 2008
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2009
7. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (2008), Văn kiện Hội nghị kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và các nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (khoá XIV), Công ty TNHH một thành viên in Tiến Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và các nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (khoá XIV)
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
Nhà XB: Công ty TNHH một thành viên in Tiến Bộ
Năm: 2008
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Dự thảo các văn kiện trình Đại hội X của Đảng, Công ty in Tiến Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội X của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá X), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá X)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
13. Trương Thị Hồng Hà (2007), Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện KHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Trương Thị Hồng Hà
Năm: 2007
14. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng (2004), Giáo trình Xây dựng Đảng, (dùng cho hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xây dựng Đảng
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
15. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng (2004), Giáo trình Xây dựng Đảng (dùng cho hệ cử nhân chính trị), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xây dựng Đảng (dùng cho hệ cử nhân chính trị)
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
16. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006), Vấn đề nhân dân giám sát cơ quan dân cử ở nước ta hiện nay, Báo cáo tổng quan khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhân dân giám sát cơ quan dân cử ở nước ta hiện nay
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Báo cáo tổng quan khoa học
Năm: 2006
19. Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (2006), Báo cáo kết quả hoạt động năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2006
Tác giả: Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
Năm: 2006
20. Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (2007), Báo cáo kết quả hoạt động năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2007
Tác giả: Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
Năm: 2007
24. Nguyễn Quang Hương (2006), Nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực đại diện của đại biểu Quốc hội nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ Luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện KHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực đại diện của đại biểu Quốc hội nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Quang Hương
Nhà XB: Viện Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2006
26. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
27. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
28. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w