Trong khi đó, thu nhập, thời gian, cường độ lao động cao, đa số công nhân mới chỉ đáp ứng được nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần tối thiểu, nên công nhân không có điều kiện tham gia
Trang 1
LUẬN VĂN:
Nhu cầu giải trí của công nhân lao động
khu công nghiệp hiện nay
Trang 2
Mở Đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hằng năm, doanh nghiệp trong các KCN, KCX đóng góp cho ngân sách Nhà nước hàng chục nghìn tỷ đồng Nhưng, phần lớn số công nhân tại các KCN, KCX đang phải sống trong những căn phòng trọ quá tạm bợ, nhếch nhác, ăn uống kham khổ qua ngày; đời sống văn hoá tinh thần thiếu thốn, khả năng đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu giải trí rất thấp, mặc dù ở ngay các trung tâm đô thị lớn
Vấn đề bức bách đặt ra hiện nay, là hoạt động giải trí của công nhân lao động ở các KCN đã và đang bị dạt ra bên ngoài đời sống văn hoá tinh thần tại địa phương nơi mình làm việc Và ngay cả trong KCN chưa thực sự quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và công trình phúc lợi tập thể, nên hầu hết ở đây điều kiện phục vụ đời sống tinh thần của công nhân như nhà văn hoá, thể thao, thư viện, công viên, nơi vui chơi giải trí, hội họp sau giờ làm việc của công nhân còn thiếu thốn Trong khi đó, thu nhập, thời gian, cường độ lao động cao, đa số công nhân mới chỉ đáp ứng được nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần tối thiểu, nên công nhân không có điều kiện tham gia các hoạt động giải trí nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần Hoạt động giải trí là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu hoạt động sống của cá nhân, góp phần tạo nên diện mạo văn hoá cá nhân
và là một trong những thước đo lối sống của con người Nếu nhu cầu giải trí không được đáp ứng thoả đáng, nhân cách có nguy cơ bị biến dạng, do đó nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp trở thành một vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn
Hiện nay, nhu cầu giải trí của công nhân lao động là rất đơn điệu và tẻ nhạt, chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách khoa học Trong khi đó, công nhân lao động
là một nhóm xã hội có nhu cầu giải trí cao, muốn tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí bên cạnh đó thiết chế văn hoá và khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí cho công nhân lao động thấp Nên, họ đã và đang tự phát giải quyết các nhu cầu giải trí của mình, việc giải quyết nhu cầu giải trí đó còn gặp nhiều khó khăn nên dễ tạo nên các khe hở để xuất hiện những kiểu giải trí lệch chuẩn, thiếu lành mạnh, làm tổn hại đến sự ổn định xã
Trang 3
hội, ảnh hưởng xấu đến nhân cách, đạo đức, nhất là ảnh hưởng xấu đến hình ảnh người công nhân Việt Nam trên trường quốc tế
Do vậy, việc tìm hiểu nhu cầu giải trí của công nhân lao động trong KCN, qua đó
có giải pháp định hướng và đáp ứng nhu cầu của họ sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng làm việc, chất lượng sống của công nhân lao động hiện nay Trên cơ sở đó, tác
giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công
nghiệp hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp Khu công nghiệp Quang Minh và Khu công
nghiệp Bắc Thăng Long, Nội Bài - Hà Nội)
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về nhu cầu của con người đã trở thành đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau, còn riêng đối với ngành xã hội học nhu cầu của con người được nghiên cứu theo nhiều khía cạnh Tuy nhiên, việc nghiên cứu nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN thì chưa được đề cập đến Đây cũng là vấn đề khó và mới, mà tác giả đã và đang kế thừa, vận dụng các công trình gần sát để tìm ra cái mới của các công trình dưới đây, để phục vụ cho luận văn của mình:
- Cuốn sách “Nhu cầu động lực và định hướng xã hội” (Nxb Khoa học Xã hội,
2005) của tác giả TS Lê Thị Kim Chi đã đề cập đến động lực của nhu cầu, tiền đề tạo nhu cầu Qua đó, làm rõ các căn cứ lý luận và thực tiễn cho luận văn, bởi vì trước nay,
có rất ít các công trình nghiên cứu được triển khai theo phương pháp này sẽ giúp người đọc nhận diện sâu sắc hơn những khía cạnh nhu cầu động lực và phát triển xã hội
Đề tài có thể vận dụng nó để nghiên cứu tiền đề tạo nhu cầu của nhóm công nhân lao động KCN
- Cuốn sách “Nhu cầu giải trí của Thanh niên”, (Nxb Chính trị Quốc gia, 2003)
của TS Đinh Thị Vân Chi đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nhu cầu giải trí của thanh niên từ góc độ xã hội học, khuân mẫu giải trí của thanh niên hiện nay, đưa
ra được xu hưởng biến đổi nhu cầu giải trí của thanh niên Luận văn có thể kế thừa và so sánh kết quả nghiên cứu về nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp với nhu cầu giải trí của thanh niên hiện nay
Trang 4- Đại học Công đoàn (2003)“ Tìm hiểu nhu cầu sử dụng Internet của sinh viên” do
Thạc sỹ Hoàng Thị Nga chủ nhiệm đề tài Đề tài đã phân tích được thực trạng nhu cầu
sử dụng Internet của sinh viên; đánh giá được những yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng internet như học tập, tư tưởng đạo đức, lối sống Nhưng nhóm tác giả chỉ dừng lại ở dịch vụ giải trí Internet, tức là mới chỉ đánh giá được một khía cạnh của nhu cầu giải trí của đối tượng Luận văn, có thể phát triển và bổ sung các hoạt động giải trí khác
Từ đó, luận văn có được ý tưởng mới trong đề tài đó là đánh giá ảnh hưởng của nhu cầu tới tư tưởng đạo đức, lối sống của công nhân lao động khu công nghiệp
Trang 5đã gợi ra những tương đồng trong nghiên cứu của luận văn: đó là khách thể nghiên cứu
là những người làm việc mang tính chất công nghiệp Tuy nhiên điều khác là, không gian giải trí là tại nơi làm việc Vấn đề kế thừa, phát triển là tìm hiểu động cơ giải trí của họ và những hiệu quả mang lại khi nhu cầu giải trí được đáp ứng; tìm hiểu nhu cầu giải trí tại nơi công cộng của công nhân lao động
- Ban Tuyên giáo, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2007) nghiên cứu đề tài:
“Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất” do Ths, Trương Thanh Cần làm chủ nhiệm đã đề cập đến thực trạng đời
sống văn hoá tinh thần của công nhân lao động trên một số khía cạnh tác động như: đến nhận thức, ý thức tham gia các hoạt động văn hoá ở khu công nghiệp, khu chế xuất và khu nhà trọ; các thiết chế phục vụ hoạt động văn hoá, văn nghệ của công nhân các KCN, KCX Đây là hướng tiếp cận rất gần với đề tài nghiên cứu Tuy nhiên, nhóm tác giả đề tài chưa đề cập đến tác động của việc thoả mãn nhu cầu giải trí tới nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của công nhân lao động tại các KCN, KCX Nên luận văn có thể nghiên cứu bù lấp kết quả đó bằng việc làm rõ nhu cầu giải trí của công nhân lao động
- Viện Công nhân và Công đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2006)
nghiên cứu đề tài: “Thực trạng đời sống, việc làm lao động nữ doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các giải pháp của Công đoàn” do TS Dương Văn Sao chủ nhiệm đề tài,
nhóm tác giả đã đưa ra bức tranh tổng thể và khái quát tình hình phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đặc điểm lao động nữ, việc làm và điều kiện làm việc của lao
Trang 6
động nữ; thực trạng đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nữ công nhân lao động Luận văn, dựa vào thực trạng đời sống, việc làm khó khăn như hiện nay có mối quan hệ với nhu cầu giải trí không? Liệu công nhân lao động thiếu cả hai thì đó có là một trong những nguyên nhân gây đến đình công ở các KCN hiện nay không?
- Viện Sử học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2008) nghiên cứu đề tài: “ Xây dựng và phát triển văn hoá của giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” thuộc chương trình: Xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế Mã số: KX.03/06-10 PGS.TS
Nguyễn Văn Nhật, Chủ nhiệm đề tài và cùng nhóm tác giả đã làm rõ khái niệm, nội hàm của văn hoá và đời sống văn hoá của GCCN Việt Nam, đánh giá thực trạng đời sống văn hoá của công nhân trong các loại hình doanh nghiệp, chỉ rõ nguyên nhân, rút
ra bài học thành công và yếu kém, đồng thời dự báo triển vọng đời sống văn hoá của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời gian tới Do đó, luận văn có thể so sánh một số tiêu chí về hoạt động giải trí của công nhân lao động trong đề tài với hoạt động giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp
- Viện Công nhân và Công đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2009)
nghiên cứu đề tài: “Giải pháp đảm bảo việc làm, cải thiện điều kiện lao động của công nhân các khu công nghiệp ở Việt Nam” do TS Lê Thanh Hà phó Viện trưởng Viện
Công nhân và Công đoàn làm chủ nhiệm Đề tài chỉ đưa ra được về đời sống, thu nhập của công nhân khu công nghiệp, chưa đề cập đến các hoạt động giải trí của công nhân, nhưng đề tài có đề cập đến vấn đề, dự báo xu hướng phát triển khu công nghiệp và công nhân các khu công nghiệp đến năm 2020, nên luận văn có sự kết nối dự báo về nhu cầu giải trí của công nhân lao động trong thời gian tới
Có thể thấy rằng tuy chưa nhiều đề tài nghiên cứu, những việc nghiên cứu nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp đã đặt ra và đã được nhìn nhận một cách nghiêm túc, mà chưa có một công trình nào từ trước tới nay nghiên cứu sâu Nó cho thấy đây là một phần cực kỳ quan trọng đối với đời sống tinh thần của công nhân lao động khu công nghiệp
Trang 7
Như vậy, liên quan đến đề tài này, trước đó có khá nhiều các công trình tiếp cận gần sát vấn đề, nhưng chưa có công trình nào trùng lặp với đề tài này trước đó và cũng chưa có đề tài nào đi sâu tìm hiểu xem nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp mức độ như thế nào? Kế thừa những kết quả nghiên cứu đó, tác giả xác định mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hoá các khái niệm liên quan;
- Hệ thống hoá các nhu cầu giải trí của công nhân KCN; phác thảo các hoạt động giải trí và nhu cầu giải trí phù hợp với công nhân KCN;
- Khảo sát thực trạng nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu giải trí cho công nhân tại KCN Quang Minh và Bắc Thăng Long;
- Nêu ra vấn đề có tính chất lý luận, khoa học về quản lý, định hướng giải trí cho công nhân KCN làm cơ sở khoa học tham khảo cho việc xây dựng các chính sách liên quan đến hoạt động giải trí của công nhân KCN;
- Đề xuất một số hình thức giải trí cho công nhân KCN phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội chung và điều kiện hoạt động của các KCN hiện nay
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN Quang Minh và Bắc Thăng Long, Nội Bài, Hà Nội
Trang 8- Thời gian nghiên cứu: tháng 7/2009 - 10/2009
5 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
5.1 Giả thuyết nghiên cứu
+ Giả thuyết thứ nhất: Nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp
cao và đa dạng;
+ Giả thuyết thứ hai: Nhu cầu này đối với những đặc điểm cá nhân khác nhau sẽ
dẫn đến sự khác nhau về nhu cầu giải trí;
+ Giả thuyết thứ ba: Nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp sẽ
bị ảnh hưởng bới các yếu tố cá nhân và các dịch vụ giải trí tại địa bàn cư trú
- Biến trung gian: Điều kiện kinh tế - xã hội
- Biến phụ thuộc: Nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp
- Biến can thiệp: Kinh tế địa phương, sự phát triển của các KCN
Trang 9- Xem ti vi, nghe đài, đọc sách, báo;
- Hoạt động thể dục thể thao;
- Giao lưu bạn bè;
- Du lịch dã ngoại
nhu cầu giải trí:
- Xem ti vi, nghe đài, đọc sách, báo;
- Hoạt động thể dục thể thao;
- Giao lưu bạn bè;
- Du lịch dã ngoại
Trang 10Đề tài sử dụng các quan điểm của lý thuyết nhu cầu, lý thuyết chức năng định hướng cho luận văn
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành việc thu thập, xử lý và phân tích thông tin phục vụ cho đề tài, tác giả
sử dụng một số phương pháp Xã hội học cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Những đề tài có liên quan đều được kế thừa và
vận dụng những thông tin về vấn đề nghiên cứu Qua phân tích tài liệu, tác giả sẽ có nội dung phong phú và đầy đủ hơn Bên cạnh đó sử dụng phương pháp này giúp đề tài có thể so sánh các nguồn thông tin từ các quan điểm, các cách nhìn khác nhau để lựa chọn những thông tin chân thực, khách quan làm nổi bật vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đề tài sử dụng 323 công nhân lao động để
tiến hành điều tra trên cơ sở chọn mẫu ngẫu nhiên Phương pháp này nhằm tìm kiếm những thông tin trực tiếp, khách quan và là căn cứ cần thiết cho những kết luận khoa học
- Phương pháp thống kê Xã hội học, sử dụng phần mềm SPSS 12.0 để xử lý và
phân tích thông tin theo yêu cầu của đề tài
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp mà tác giả sử dụng phỏng vấn
sâu nhằm bổ sung một số thông tin về mặt định tính khi điều tra
- Phương pháp quan sát: Phương pháp này góp phần hỗ trợ và làm sáng tỏ thêm
những thông tin đã thu được đồng thời là cơ sở ban đầu để đưa ra các giả thuyết và hướng nghiên cứu
Trang 11
6.3 Mẫu nghiên cứu
- Cách chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên theo danh sách thang bảng lương của doanh nghiệp, danh sách sổ ở khu lưu trú
- Dung lượng mẫu:
+ Nghiên cứu định tính: phỏng vấn sâu 16 công nhân lao động
+ Nghiên cứu định lượng: 323 phiếu an két
7 Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa của luận văn
Khu công nghiệp là đối tác tác động một chiều, dẫn đến việc không chú trọng đúng mức đến nhu cầu giải trí của công nhân lao động Nếu việc làm ổn định, thu nhập cao, thì kéo theo nhu cầu giải trí của công nhân lao động tăng đáng kể về nhiều mặt, nên không coi đó là những đặc điểm vốn có, mà coi đó là đối tượng luôn luôn vận động và biến đổi rất nhanh
Luận văn góp phần làm rõ thêm sự thiếu thốn của hoạt động giải trí trong KCN và nơi cư trú, đồng thời làm rõ thêm nguyên nhân tác động và yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng của xã hội không làm thoả mãn nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN Bên cạnh đó, đề tài làm sáng tỏ mối tương quan giữa nhu cầu giải trí với năng suất lao động, với những hệ luỵ nơi cư trú
Qua những đóng góp về mặt khoa học của luận văn về nhu cầu giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp hiện nay, rút ra ý nghĩa của đề tài như sau:
- Về mặt lý luận: áp dụng các lý thuyết của tâm lý về nhu cầu, lý thuyết xã hội học
cấu trúc chức năng về giải trí và các phương pháp xã hội học để phân tích và đánh giá mức độ, nhận thức, sở thích và động cơ giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp
- Về mặt thực tiễn: Qua việc tìm hiểu nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN
Quang Minh và KCN Bắc Thăng Long, Nội Bài cho thấy, nhu cầu giải trí của công nhân lao động là rất cao nhưng khả năng đáp ứng của xã hội chưa thoả đáng
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 12
Chương 1
cơ sở thực tiễn về Nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCn hiện nay
1.1 Thao tác hoá khái niệm
1.1.1 Khái niệm nhu cầu
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, xã hội loài người vận động và phát triển theo quy luật thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội, sự thay thế này chịu sự quy định của sự phát triển của lực lượng sản xuất Những lực lượng sản xuất này sẽ góp phần thoả mãn những nhu cầu cơ bản, sống còn và thoả mãn những nhu cầu ngày một cao của con người Điều đó có nghĩa là nhu cầu kích thích lực lượng sản xuất Mác viết: “không có nhu cầu thì không có sản xuất”[27, tr.865]
Chứng tỏ, nhu cầu của con người không phải là bất biến mà nó biến đổi và phát triển thường xuyên Nhu cầu này được thoả mãn, kích thích, bị dập tắt, đồng thời xuất hiện nhu cầu mới với những kích thích mới Trong mỗi con người đều tồn tại một hệ thống nhu cầu, nhu cầu nào lớn hơn thì sẽ chi phối các nhu cầu khác và đòi con người phải đáp ứng nhu cầu đó C Mác khẳng định: “Bản thân các nhu cầu đầu tiên đã được thoả mãn Hoạt động và công cụ để thoả mãn đã có được đưa tới những nhu cầu mới, và
sự nảy sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên” [26, tr.40]
Nhưng bên cạnh đó, nhu cầu là một mâu thuẫn, vừa xuất hiện, lại vừa mất đi khi
nó hoàn toàn được thoả mãn, rồi lại nẩy sinh nhu cầu mới Chính vì vậy, những nhu cầu nhất định của con người là có tính lịch sử, cụ thể nhưng tổng các nhu cầu thì tồn tại vĩnh viễn với đời sống hoạt động của con người Do đó, hoạt động giải trí của công nhân lao động hiện nay nhằm thoả mãn nhu cầu, cũng như tạo ra nhu cầu mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người còn mang bản chất xã hội và nhân văn của hoạt động chính bản thân họ C Mác đã khẳng định:
Cảm giác bị nhu cầu thực tiễn thô lậu cầm tù chỉ có một ý nghĩa hạn hẹp Đối với con người sắp chết đói thì không có hình thức người của thức
ăn, mà chỉ có sự tồn tại trừu tượng của nó với tính cách là thức ăn: Thức ăn
Trang 13
có thể có một hình thức thô lỗ nhất, và không không thể nói việc nuốt thức
ăn ở chỗ nào Con người cùng khổ bị những nỗi lo lắng dầy vò hững hờ ngay cả đối với một cảnh tượng tuyệt đẹp [28, tr.176]
Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng là nhằm thoả mãn một nhu cầu nào
đó của bản thân Nhưng nhu cầu với tư cách là một điều kiện bên trong, là trạng thái thiếu thốn của cơ thể - trạng thái này tự nó không gây ra bất kỳ hoạt động nào có định hướng nhất định Chức năng của nó chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng sinh lý tương ứng và kích thích chung đối với lĩnh vực vận dụng biểu hiện thành những
cử động tìm tòi không có phương hướng Chỉ khi nào gặp được đối tượng đáp ứng thì khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động Sự việc nhu cầu gặp được đối tượng là sự việc đặc biệt lúc đó như cầu được đối tượng hoá làm cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra từ thế giới xung quanh
Như vậy, các nhà khoa học cố gắng tập trung làm rõ khái niệm, đặc trưng chủ yếu của nhu cầu của con người và xã hội Chúng ta có thể thấy:
Dưới góc độ tâm lý cá nhân, vấn đề nhu cầu được tiếp cận với tư cách một cấu trúc tâm lý quy định xu hướng nhân cách, khẳng định một cách hệ thống rằng “nhu cầu - nguồn gốc bên trong tạo nên tính tích cực của con người” Xuất phát từ quan điểm cho rằng, nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi người trong những điều kiện nhất định đảm bảo cho sự sống và phát triển của con người A.G Côvaliov viết: “ Một nhu cầu đã được con người phản ánh sẽ trở thành một trạng thái chủ quan, mọi thái độ của
cá nhân; nó có xu hướng điều chỉnh hành vi và hoạt động, xác định hướng suy nghĩ, tình cảm và ý chí của người đó” và do đó có thể nói “trong nhu cầu có sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan” [12, tr.192]
Rõ ràng đối tượng thoả mãn nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không phải
tự nó bộc lộ ra khi chủ thể có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi, mà chỉ khi nào con người thực
sự hoạt động thì nó mới được phát lộ ra Chỉ nhờ kết quả của sự phát lộ ấy mà nhu cầu được thúc đẩy, tức là trở thành động cơ Mà A.N Leonchiev cho rằng không phải nhu cầu, không phải sự trải nhiệm về nhu cầu ấy mà động cơ là “một cái khách quan mà trong đó nhu cầu tìm thấy bản thân mình trong những điều kiện nhất định Cái khách quan ấy trở
Trang 14TS Lê Thị Kim Chi, Viện Triết học đưa ra khái niệm: “Nhu cầu là những trạng thái thiếu hụt và những đòi hỏi cần được đáp ứng của chủ thể (con người và xã hội) để tồn tại và phát triển” [4, tr.29]
Theo quan điểm của Tâm lý học thì khái niệm “Nhu cầu” dùng để chỉ “sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển”
[40, tr.186]
“Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể và nội dung của nó do những điều kiện
và phương thức thoả mãn quy định Khi nào đối tượng của nhu cầu có khả năng đáp ứng thì lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy sự hoạt động của các cá nhân hay nhóm xã hội" [40, tr.187]
Nhu cầu của con người rất đa dạng, thường được chia thành 2 dạng chính đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần
Nhu cầu vật chất: có liên quan mật thiết đến hoạt động của cơ thể và đôi khi được
mô tả như là các xung năng (drives) sơ cấp hoặc sinh lý Chẳng hạn như xung năng tình dục, xung năng đói Đó là các nhu cầu bẩm sinh Các nhu cầu vật chất thông thường ở người là nhu cầu về thực phẩm, phương tiện sinh sống như nước, ô xy và nhu cầu bài tiết, quần áo và nơi che chở để bảo vệ và giữ cơ thể ấm áp Nhu cầu được hoạt động, hoặc được kích thích cảm giác và vận động kể cả khoái cảm, tình dục, luyện tập thân thể và nghỉ ngơi
Nhu cầu tinh thần được nảy sinh trên cơ sở của nhu cầu vật chất và được nhu cầu vật chất nuôi dưỡng Nhu cầu tinh thần làm cho nhu cầu vật chất biến dạng cao thường phức tạp thêm lên Nhu cầu tinh thần cũng vô cùng đa dạng: Nhu cầu học tập, nhu cầu làm khoa học nghệ thuật, chính trị, nhu cầu công bằng xã hội, nhu cầu vui chơi, giải trí
Trang 15
Kế thừa và bổ sung tác giả đưa ra khái niệm nhu cầu: Nhu cầu là quá trình thoả
mãn một cái gì đó của con người để tìm tòi lấy được cân bằng, thì sẽ kích thích nhu cầu mới và nhu cầu mới sẽ nổi lên, hoạt động mới sẽ xuất hiện nhằm thúc đẩy động lực phát triển cá nhân và xã hội
Tóm lại, khi nghiên cứu hệ thống nhu cầu của công nhân lao động khu công nghiệp cần phải nghiên cứu điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế, phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý của họ Chính những điểm đó quy định hệ thống nhu cầu của con người Thường thì con người thực hiện một hành vi nào đó là để thoả mãn một hệ thống nhu cầu Trong hệ thống nhu cầu đó có những nhu cầu cấp thiết hơn nó thúc đẩy mạnh mẽ con người tới hành vi và ta gọi những nhu cầu đó là nhu cầu nổi trội
1.2.2 Khái niệm giải trí
Giải trí là dạng hoạt động mang tính chất tự do hơn các dạng hoạt động khác, nó không hề mang tính cưỡng bức; con người có quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuôn khổ hệ chuẩn mực của xã hội Nó là bước chuyển từ những hoạt động nghĩa vụ, bổn phận sang những hoạt động tự nguyện Nó đồng thời là những hoạt động không mang tính vụ lợi nhằm mục đích giải toả sự căng thẳng tinh thần để đạt tới sự thư giãn, thanh thản trong tâm hồn và cao hơn, đó là sự rung cảm về thẩm mỹ
Từ điển Xã hội học: “Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng những nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể chất, trí tuệ và mỹ học” và
“Giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của đời sống cộng đồng” [41, tr.116]
Theo TS Đinh Thị Vân Chi: “Giải trí là hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rỗi, nhằm giải toả căng thẳng trí não, tạo sự hứng thú cho con người và là điều kiện phát triển con người và lao động điều kiện phát triển con người một cách toàn diện về trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ” [6, tr.39-40]
Giải trí là hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rỗi để con người có thể thực hiện nhiều hoạt động khác nhau: Có người tranh thủ làm thêm tăng thu nhập hoặc học thêm
để nâng cao trình độ; Cũng có người dùng thời gian rỗi để thực hiện những hoạt động không hề có tác dụng gì đối với sự phát triển toàn diện cá nhân, thậm chí là vô bổ hoặc
Trang 16Theo Đoàn Văn Chúc, “giải trí là hoạt động sản xuất và tiêu dùng các các tác phẩm văn hoá” [7, tr.28], tác phẩm văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng, là toàn bộ những
sản phẩm của các lĩnh vực thuộc nhu cầu tinh thần theo nghĩa rộng nhất Để tạo ra sản phẩm văn hoá trong khi giải trí là sáng tạo những sản phẩm tinh thần với nghĩa rộng nhất, không chỉ là viết truyện làm, thơ, vẽ tranh theo sở thích, không chỉ là hoạt động nghệ thuật không chuyên hoặc tham gia các câu lạc bộ năng khiếu, mà còn gồm cả giao tiếp, tâm sự, tổ chức những cuộc vui chơi [6, tr.39]
Giải trí là sản phẩm của lao động Lao động phải đạt tới trình độ phát triển nhất định mới tạo được thời gian rỗi cho giải trí Ngược lại, giải trí giúp con người phát triển toàn diện, và nhờ vậy sẽ lao động tốt hơn Nghĩa là có lao động thì mới có giải trí, giải trí tốt sẽ lao động tốt, lao động tốt sẽ lại giải trí tốt hơn Lao động và giải trí nằm trong mối tương tác chặt chẽ, chuyển hoá và hỗ trợ cho nhau, nên không có lao động thì không có giải trí đích thực, không có giải trí thì con người như Robot và lúc đó không cảm nhận được cuộc sống mà thôi, cũng không biết hưởng thụ những thành quả lao động của chính mình
Tác giả đưa ra khái niệm giải trí: “Giải trí là hoạt động của con người tạo hứng thú, giúp con người sảng khoái, lấy lại tinh thần bù đắp sự mệt mỏi và căng thẳng của trí não Đồng thời, giải trí là nguồn động lực thúc đẩy tái tạo sức lao động, để con người phát triển toàn diện về lực - trí - mỹ”
Trang 17
Giải trí của công nhân lao động KCN sau một ngày làm việc căng thẳng và mệt mỏi là các hoạt động như, xem ti vi, đọc sách báo, chơi thể dục thể thao, giao lưu bạn
bè, tâm tình tâm sự là chủ yếu để tái tạo sức lao động
1.1.3 Khái niệm nhu cầu giải trí
Nhu cầu giải trí là nhu cầu hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rỗi, vì không bị bức bách bởi các nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi các nghĩa vụ cá nhân hoặc sự đòi hỏi của nhu cầu vật chất, con người hoàn toàn tự do, thoát khỏi những băn khoăn, lo lắng thường nhật Khi đó, với sự thanh thản về trí óc, sự bay bổng về tâm hồn, con người tìm đến hoạt động giải trí Ví dụ, hoạt động giải trí của công nhân lao động khu công nghiệp chủ yếu là xem ti vi, nghe đài, đọc sách báo… Theo tác giả Đoàn Văn Chúc, trong bất kỳ xã hội nào cũng có 4 dạng hoạt động mà con người phải thực hiện [7, tr.224-225] Cụ thể là:
Thứ nhất, hoạt động lao động sản xuất để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cá
nhân và xã hội Đó là nghĩa vụ xã hội của mỗi người
Thứ hai, hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân trong xã hội như nuôi dậy con cái,
chăm sóc gia đình, thăm viếng họ hàng, bạn bè… Đó là nghĩa vụ cá nhân của mỗi con người
Thứ ba, hoạt động thuộc đời sống vật chất của con người như nấu nướng, ăn uống,
nghỉ ngơi, vệ sinh cá nhân… Đó là hoạt động thoả mãn nhu cầu vật chất của mỗi người
Thứ tư, hoạt động thuộc đời sống tinh thần của cá nhân như thưởng thức nghệ
thuật, chơi các trò chơi, sinh hoạt tôn giáo… Đó là hoạt động thoả mãn nhu cầu tinh thần của mỗi người
Qua bốn hoạt động giải trí trên thì hoạt động thứ nhất diễn ra trong khoảng thời gian nghiêm ngặt, chặt chẽ Còn ba hoạt động còn lại được thực hiện linh hoạt, theo cụ thể của mỗi cá nhân và nó là hoàn toàn tự do mà cá nhân toàn quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuân khổ chuẩn mực của xã hội Hoạt động giải trí trong thời gian rỗi là hoạt động để con người bộc lộ rõ những khả năng tiềm ẩn của mình Điều đó là có thể, bởi giải trí là những hoạt động sở thích, giúp cá nhân bộc lộ và nâng cao khả năng mà trong thời gian lao động không có điều kiện thể hiện [6, tr.47]
Trang 18
Nhu cầu giải trí là động cơ của hoạt động giải trí Khi xuất hiện nhu cầu giải trí, con người bị thôi thúc hành động để thoả mãn nhu cầu đó Nhu cầu giải trí thuộc các bậc cao của thang nhu cầu con người do không gắn liền với sự tồn tại sinh học mà là sự vươn cao, nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, tự hoàn thiện và tự khẳng định mình Nhu cầu giải trí cũng là một bộ phận quan trọng cấu thành các nhu cầu tinh thần
Nhu cầu giải trí là nhu cầu phát triển toàn diện trí não con người sau thời gian lao động căng thẳng như những trò chơi trí tuệ nhằm rèn luyện khả năng phân tích, suy luận
và phán đoán, là điều kiện phát triển trí tuệ cho người chơi; những trò chơi vận động nhất là các hoạt động thể dục, thể thao giúp người tham gia phát triển thể lực; những hoạt động thưởng thức nghệ thuật như xem phim, đọc báo, nghe nhạc và những hoạt động câu lạc bộ năng khiếu nghệ thuật như hát, ngâm thơ, múa là những hoạt động thiết thực nhằm nâng cao năng lực thẩm mỹ của thể lực
Qua phân tích trên, thì nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN thể hiện thông qua những hoạt động giải trí mà họ thường tham gia sau giờ tan ca vào các ngày thường và ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ, ngày tết Qua thời gian, những hoạt động đó lặp
đi lặp lại, trở nên ổn định, thành thói quen Khi đã trở thành thói quen, chúng được mô hình hoá, khiến CNLĐ thực hiện nó một cách “tự động hoá” mỗi khi điều kiện cho phép, Khi đó, có thể nói, các hoạt động giải trí của công nhân lao động đã trở thành thói quen
1.1.4 Khái niệm thời gian rỗi
Theo C Mác, quỹ thời gian của cá nhân và xã hội được phân chia thành thời gian lao động và thời gian tự do Thời gian lao động là khoảng thời gian tất yếu mà mỗi cá nhân buộc phải thực hiện công việc lao động để đảm bảo sự sinh tồn Thời gian tự do là khoảng thời gian còn lại ngoài thời gian lao động, dành cho những hoạt động mà cá nhân có quyền tự quyết định, tức là thời gian không lao động
Chính C Mác cũng tiên đoán rằng ở xã hội tương lai lao động không còn cực nhọc
mà là lao động sáng tạo, mang lại niềm vui cho con người Khi đó, thời gian rỗi tăng chứng tỏ năng suất lao động đã đủ cao, tạo điều kiện cho con người thoát khỏi sự nặng nhọc, vất vả của lao động để phát triển nhân cách đầy đủ và toàn diện [6, tr.28]
Trang 19
Thời gian tự do càng nhiều thì cơ cấu của nó càng phức tạp dần với những bộ phận nhỏ dành cho hoạt động khác nhau Về cấu trúc, thời gian nhàn rỗi hiện đại là một hiện tượng phức tạp bao gồm nhiều dạng hoạt động khác nhau có hai chức năng cơ bản: chức năng khôi phục lại sức lực cho cá nhân đã tiêu phí trong sản xuất và những nhiệm vụ không thể không làm, và chức năng phát triển cá nhân về tinh thần và thể lực Phân tích nội dung của thời gian nhàn rỗi, có thể xem xét theo đối tượng của hoạt động (làm gì?) hoặc theo tính chất của hoạt động (làm như thế nào?); trong đó, có thể xem xét chuẩn đánh giá các dạng hoạt động theo tính chất: có ích, có hiệu quả tốt lành hay ngược lại ít hiệu quả, có hại
Theo Đoàn Văn Chúc, thời gian rỗi theo cấp độ khác nhau [7, tr.239]: Thời gian rỗi cấp ngày gồm hai dạng; dạng thứ nhất là khoảng nghỉ giữa buổi lao động để phục
hồi sức lao động; dạng thứ hai là khoảng nghỉ sau một ngày lao động và sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ cá nhân, đáp ứng mọi nhu cầu vật chất Đây là thời gian dành cho
các hoạt động tinh thần Thời gian rỗi cấp tuần, là gồm những ngày nghỉ cuối tuần Thời gian rỗi cấp năm, là kỳ nghỉ phép hay nghỉ hè hàng năm Thời gian rỗi cấp đời người, là thời gian nghỉ hưu Nên thời gian rỗi với các cấp độ khác nhau cho phép con
người thực hiện những hoạt động giải trí khác nhau
Theo Từ điển tóm tắt Xã hội học (tiếng Nga), thời gian rỗi được coi là khái niệm
đồng nghĩa với thời gian tự do, nghĩa là “phần thời gian ngoài giờ lao động của cá nhân (nhóm xã hội) còn lại sau khi đã trừ đi chi phí thời gian cho những hoạt động cần thiết không thể thiếu” [11, tr.299]
Theo TS Đinh Thị Kim Chi: Thời gian rỗi là khoảng thời gian mà trong đó con người không bị thúc bách bởi các nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi bất cứ nghĩa vụ khách quan nào Nó được dành cho các hoạt động tự nguyện, theo sở thích của chủ thể nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người
Qua phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: “Thời gian rỗi là những khoảng thời gian mà cá nhân không bị chi phối bởi các nội quy, quy chế làm việc Thời gian đó dành cho các hoạt động tự do, với sự thanh thản về trí óc, sự bay bổng về tâm hồn, họ tìm đến những hoạt động giải trí nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần của họ”
Trang 20
Thời gian rỗi của công nhân lao động KCN là những khoảng thời gian sau giờ tan
ca không bị chi phối bởi các nội quy, quy chế của doanh nghiệp Thời gian đó dành cho các hoạt động giải trí tự do tại nơi cư trú, giải trí theo nhóm cùng sở thích để đỡ buồn và
cô đơn
1.1.5 Khái niệm khu công nghiệp
Ngày nay, KCN xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Mặc dù thuật ngữ KCN được sử dụng khá phổ biến nhưng bản thân nó lại bao hàm nhiều loại hình, nhiều
mô hình tổ chức và tính chất hoạt động khác nhau Một số nước KCN được hiểu là các công viên công nghiệp (Industrial Parks) Có những KCN được gọi là cụm công nghiệp (Industrial Clusters) Những KCN hoạt động chuyên về sản xuất hàng xuất khẩu với quy chế miễn thuế nhập khẩu được gọi là khu chế xuất (KCX) (Export Processing Zones) Khu công nghiệp cũng có thể là khu công nghệ cao (Hight tech centres) hoặc khu công nghệ cao là một bộ phận của KCN
Nghị định 36- CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ nêu rõ:
KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập
Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu- triển khai khoa học- công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất [8, tr.12]
Ngoài ra, KCN còn có những hình thái biến tướng như khu công nghệ sinh học (Bio Technology Park), khu công nghệ sinh thái (Eco Industrial Park)
Như vậy, KCN là một thuật ngữ để chỉ một vùng lãnh thổ quốc gia được xác định ranh giới địa lý rõ ràng Trong đó các doanh nghiệp công nghiệp tập trung đầu tư, hoạt động, phát triển do có kết cấu hạ tầng tốt, có môi trường kinh doanh tốt (ưu đãi của nhà
Trang 21
nước về đất đai, tài chính) và có thị trường tốt (thị trường đầu vào, đầu ra và dịch vụ) Đây là kết quả của quá trình tích tụ, tập trung, chuyên môn hoá sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ, là hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp phù hợp với yêu cầu của quá trình CNH, HĐH nền kinh tế
Quy chế KCN (Ban hành kèm theo nghị định số 192-CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ) đã đưa ra quan niệm: "KCN quy định trong quy chế này là KCN tập trung
do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sống" [8, tr.1]
Theo luật đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2006 thì: "Khu công nghiệp là khu sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch
vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ"
Nhìn chung, các tiêu chí để hình thành một khu công nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp nghiệp có đủ cơ sở pháp lý,
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp
Thứ hai, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống,
xây dựng theo quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt
Thứ ba, KCN phải do Chính phủ hoặc do Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập
Khi muốn hình thành KCN đã có trong quy hoạch tổng thể thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi thành lập KCN và trình Thủ tướng chính phủ xem xét quyết định thành lập
Thứ tư, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất Đó là các doanh nghiệp
chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu
Trên cơ sở 4 tiêu chí trên, chúng tôi thống nhất với khái niệm về KCN đã được nêu
ra trong nghị định 36-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về Quy chế KCN, KCX và khu công nghệ cao:
Trang 22
Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có
doanh nghiệp chế xuất [8, tr.7]
Với khái niệm như vậy, KCN của Việt Nam được hiểu là khu công nghiệp tập trung, không có dân cư sinh sống nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề hạ tầng và ô nhiễm môi trường, có phân biệt với các vùng công nghiệp (bao gồm nhiều KCN), với các đặc khu kinh tế (có bộ máy quản lý hành chính độc lập) Do vậy, KCN Thăng Long, Nội Bài
và KCN Quang Minh là hai KCN lớn của Thành phố Hà Nội, cũng là mô hình KCN hiện đại và sớm đi vào hoạt động KCN Thăng Long còn nổi tiếng là KCN xanh, sạch, đẹp, với 100% các nhà đầu tư đều áp dụng công nghệ sản xuất sạch, thân thiện với môi trường KCN Quang Minh gần 1000 ha, chuyên sản xuất hàng công nghiệp nổi tiếng, công nghệ tiên tiến
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhu cầu giải trí
Nhu cầu giải trí là tất cả nội dung và cách thức, hình thức hoạt động giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Đó cũng là quá trình hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hoá vì sự phát triển của con người và cộng đồng Đời sống văn hoá ở ngay trong cuộc sống hằng ngày, trong mỗi con người, mỗi gia đình và cộng đồng nhất định
Nhu cầu giải trí là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều vấn đề thiết thực, ở đây chỉ
đề cập đến ba vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng đời sống cho nhân dân phải được tiến hành xây dựng nếp sống văn hoá Ngay từ những năm 1946, trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, Người đã viết tác phẩm "Đời sống mới" rất sinh động, sâu sắc, nhằm động viên, kêu gọi các tầng lớp nhân dân thực hành đời sống mới với tinh thần rất
rõ là: “Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn Đó là mục đích đời sống mới” [29, tr.953]
Trang 23
Đời sống mới không phải cao xa gì, cũng không khó khăn gì Nó không bảo ai phải huy sinh chút ít Nó chỉ sửa đổi những việc rất tầm thường rất phổ thông trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc Sửa đổi được những điều đó thì mọi người được hưởng hạnh phúc [29, tr.345]
Quan điểm xây dựng đời sống mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức rõ ràng, cụ thể, thiết thực, có kế thừa, bảo tồn, phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp mang tính truyền thống, loại trừ những hủ tục lạc hậu, không phù hợp: “Đời sống mới không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì mới cũng làm Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý Thí dụ: Đám cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm Thí dụ: ta phải tương thân, tương
ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân", "Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm Thí dụ: ăn
ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp" [29, tr.95] Theo Người, nếu mọi người đều làm đúng đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường, mang lại hiệu quả to lớn, có tác động tích cực trở lại cho phong trào xây dựng gia đình văn hoá, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, làm thay đổi diện mạo đời sống ở cơ sở, nhất là những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa
Thực hiện xây dựng nếp sống văn hoá và tham gia toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá là thực hiện đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Chúng ta đồng tâm mà làm, quyết tâm mà làm thì đời sống mới nhất định thực hiện được Mong toàn thể đồng bào gắng sức theo đời sống mới, xây dựng một nước Việt Nam phú cường” [29, tr.110] Cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế kéo theo nhu cầu giải trí của công nhân lao động ngày càng gia tăng Điều đó đòi hỏi lãnh đạo các cấp không chỉ chăm lo cuộc sống vật chất phát triển mà còn phải chăm lo đời sống tinh thần bền vững, lành mạnh Điều này muốn thực hiện được phải thông qua hoạt động của hệ thống thiết chế văn hoá trực tiếp phục vụ cuộc sống của nhân dân Đó là thiết chế văn hoá thông tin cơ
sở, cầu nối gần gũi giữa Đảng, Nhà nước với người lao động là nơi giải trí sinh động; nơi cất giữ các trang thiết bị, công cụ phục vụ nhu cầu giải trí, sinh hoạt văn nghệ, thông tin ở cơ sở Thiết chế văn hoá thông tin cơ sở phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành các
Trang 24Hồ Chí Minh coi việc đầu tư cho giải trí là đầu tư cho con người, phát triển văn hoá chính là phát huy nguồn lực con người - nguồn lực to lớn và quyết định nhất đối với
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Tạo cho con người có trình độ văn hoá cao, nhân cách đẹp và vị tha, giàu lòng yêu nước, có ý thức trách nhiệm đối với xã hội là việc làm thường xuyên và lâu dài Bởi vậy, Người đã hết lòng chăm lo cho việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tố con người
"Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người"
Trong điều kiện xã hội diễn biến càng phức tạp, chúng ta càng tin tưởng rằng phong trào xây dựng đời sống văn hoá cơ sở với nếp sống văn minh, lành mạnh, thiết chế văn hoá thông tin cơ sở hoàn chỉnh và môi trường văn hoá trong lành sẽ là nhân tố đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" đi tới thành công Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở và các nội dung mục tiêu đạt được sẽ trở thành pháo đài vững chắc trước các thế lực thù địch, chống lại có hiệu quả đánh bại các biểu hiện phản văn hoá và các tệ nạn xã hội mà không một loại hình, phương thức hoạt động nào
có thể thay thế hữu hiệu hơn
Trang 25
1.2.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nhu cầu giải trí
Mặc dù không đề cập trực tiếp tới giải trí và không sử dụng khái niệm giải trí, nhưng Đảng và Nhà nước ta coi các hoạt động vui chơi lành mạnh, văn hoá - văn nghệ - thể thao là một bộ phận không thể thiếu của đời sống văn hoá - tinh thần của nhân dân Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc
tế, công nhân lao động ngày càng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ hiện nay là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng và Nhà nước ta, trong đó xây dựng đời sống tinh thần cho công nhân lao động là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và là vấn đề cấp thiết, bởi vì nó đã trở thành một nhu cầu sinh hoạt không thể thiếu được đối với con người
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã khẳng định: “phải đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân, đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy, công trường, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện đều có đời sống văn hoá”, “Chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, đưa văn hoá văn nghệ đến các vùng kinh tế mới, vùng căn cứ cách mạng cũ, vùng dân tộc thiểu số và các vùng xa xôi, hẻo lánh, quan tâm các tầng lớp xã hội và các lứa tuổi khác nhau Xây dựng và củng cố các nhà văn hoá, câu lạc bộ, thư viện, bảo tàng, công viên văn hoá”, đã chỉ rõ nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá lành mạnh, đáp ứng những
nhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp cư dân
Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta cũng xác định chiến lược phát triển văn hoá theo định hướng:
Tạo điều kiện để nhân dân ngày càng nâng cao trình độ thẩm mỹ và thưởng thức nghệ thuật, trở thành những chủ thể sáng tạo văn hoá, đồng thời hưởng thụ ngày càng nhiều các thành quả văn hoá Nâng cao chất lượng hệ thống bảo tàng lịch sử, bảo tàng cách mạng; đẩy mạnh xây dựng thư viện, nhà văn hoá, nhà thông tin, câu lạc bộ sức khoẻ, sân bãi thể dục thể thao, khu vui chơi giải trí… [15, tr.114-115]
Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng chỉ rõ:
Trang 26
Ba lĩnh vực cần tập trung thực hiện bằng được là: xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hoá của mọi người dân ở cơ sở, phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân; khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm, công trình có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hoá, chú trọng các công trình văn hoá tiêu biểu [16, tr.34]
Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở cũng có nghĩa là xây dựng đời sống vật chất và tinh thần phát triển vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Định hướng phát triển văn hoá Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định:
Đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hoá làm cho văn hoá thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân Đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hoá đại chúng và môi trường văn hoá lành mạnh [16, tr.212-213]
Qua các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, lần đầu tiên các khu vực vui chơi giải trí, thiết chế vui chơi giải trí được đưa vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Điều này chứng tỏ nhận thức của Đảng ta về nhu cầu giải trí ngày càng khoa học, đúng hướng; đồng thời thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng tới việc đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân
1.3 Vận dụng Các lý thuyết vào nghiên cứu
1.3.1 Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là những đòi hỏi thường xuyên của mỗi cá nhân, là trạng thái thấy thiếu thốn ở trong con người Khi xuất hiện nhu cầu, những người đó ở trạng thái đặc biệt, đòi hỏi được đáp ứng bằng vật phẩm hoặc bằng một sản phẩm tinh thần hoặc bằng một dịch
vụ nào đó
Như vậy, các nhu cầu của con người, một mặt được tạo ra do những đòi hỏi bên trong của cơ thể, mặt khác được tạo ra từ trong những điều kiện nhất định của xã hội, Nhu cầu nào đó thường xuyên xuất hiện và được thoả mãn thì gọi là thói quen Thói
Trang 27Abraham Maslow căn cứ vào tính chất của nhu cầu đã phân chia thành 5 thứ bậc của các nhu cầu
Theo ông, con người ta cố gắng thoả mãn được những nhu cầu quan trọng nhất và khi nhu cầu nào đó đã được thoả mãn thì lại xuất hiện sự đòi hỏi thoả mãn những nhu cầu tiếp theo
Maxlốp chia tổng thể nhu cầu của con người thành bẩy tầng:
Nhu cầu tình cảm Nhu cầu nhận thức Nhu cầu kính trọng Nhu cầu được hoạt động thực tiễn
Nhu cầu an sinh Nhu cầu sinh học
Trang 28Nhu cầu thẩm mỹ
Theo ông Maxlốp đó là sự hướng tới cái đẹp và nhu cầu thưởng thức cái đẹp chính
là nhu cầu thẩm mỹ của con người
Như vậy, vận dụng lý thuyết nhu cầu vào nghiên cứu nhu cầu giải trí của công nhân lao động có ý nghĩa rất lớn Người lao động sẽ cảm thấy đời sống tinh thần được nâng lên và gắn bó hơn với công việc, sẵn sàng lao động hăng say, tận tình và nhiệt thành trong công việc khi họ được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu Sự thoả mãn nhu cầu càng cao thì lòng hăng say trong công việc càng được củng cố
1.3.2 Vận dụng lý thuyết chức năng
Thuyết chức năng được khởi xướng từ H Spencer và E Durkhiem trong bối cảnh của xã hội châu Âu đầu thế kỷ XX đầy những loạn luân và khủng hoảng Những người theo thuyết chức năng mong muốn nhanh chóng lập lại trật tự để có một xã hội ổn định
và phát triển Chức năng được hiểu là nhu cầu, lợi ích, sự cần thiết, sự đòi hỏi, hệ quả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo ra hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận động của cả hệ thống
Thuyết này cho rằng, mỗi một yếu tố, một thành phần, một bộ phận cấu thành của xã hội đều thực hiện những chức năng và thoả mãn những nhu cầu nhất định của
xã hội Thay đổi một yếu tố hay một bộ phận nào đó sẽ kéo theo sự thay đổi ở các bộ phận, các yếu tố khác và làm biến đổi hệ thống [30, tr 58] Nghĩa là một xã hội tồn tại và phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc Bất kỳ một sự thay đổi của thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi của các bộ phận, các yếu tố, thành phần khác và làm biến đổi cả hệ thống Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo quy luật tiến hoá, thích nghi khi môi trường sống thay đổi; sự thay đổi của cấu trúc luôn hướng tới thiết lập lại trạng thái cân bằng ổn định
Các nhà chức năng luận cho rằng, giống như các bộ phận khác nhau trong cơ thể con người, mỗi thiết chế xã hội như nhà nước, tôn giáo, gia đình, trường học đều giữ những chức năng nhất định, song lại luôn có sự liên hệ mật thiết với nhau và chính điều này tạo cho xã hội sự cân bằng trong hoạt động Parsons cũng coi chức năng là nhu cầu,
Trang 29
là những yêu cầu, những đòi hỏi của hệ thống đối với từng bộ phận cấu thành nó Chức năng còn được hiểu là quá trình hoạt động đáp ứng nhu cầu, tạo ra lợi ích, thoả mãn yêu cầu của một chỉnh thể xã hội [20, tr.225]
Thuyết chức năng cho rằng, mọi xã hội từ bản chất nội tại của nó luôn có xu hướng tiến tới sự hài hoà và tự điều chỉnh, tương tự như những cơ thể sinh học, giống như cơ thể con người là một thể thống nhất, mà các bộ phận riêng phải phục tùng những nhu cầu cụ thể của cả hệ thống (ví dụ trái tim thực hiện chức năng bơm máu đi nuôi cơ thể, ruột có chức năng hấp thụ và bài tiết) Xã hội là một hệ thống các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sự bền vững của tổng thể [30, tr.59]
Thuyết chức năng cho rằng, xã hội do cấu trúc xã hội cấu thành, được xác định như những mẫu hành vi xã hội tương đối ổn định Các cấu trúc xã hội quan trọng nhất là những bộ phận chính trong xã hội như: gia đình, tôn giáo, chính trị và hệ thống kinh tế…mỗi thành phần cấu trúc xã hội được hiểu theo nghĩa chức năng xã hội, quy vào kết quả hoạt động xã hội như một tổng thể Vì thế mỗi bộ phận trong xã hội có một hay nhiều chức năng quan trọng cần thiết cho xã hội tồn tại ít nhất trong hình thức hiện tại [24, tr.27]
Do đó, để giải thích sự tồn tại của một thiết chế nhất định, chúng ta không nên tìm hiểu mục đích của các cá nhân mà phải tìm hiểu hệ thống xã hội như một tổng thể, đòi hỏi những nhu cầu của nó được thoả mãn như thế nào? Và chức năng ứng dụng của xã hội học trước hết là nhằm tác động để tạo ra sự ổn định xã hội, chấn chỉnh xã hội sao cho phù hợp với bản chất bên trong của nó [30, tr.59]
Từ nhu cầu của hệ thống xã hội mà đã không đếm xỉa đến những vai trò làm thay đổi hoàn cảnh của các chủ thể Mà trong đó, các tiểu hệ thống có mối quan hệ qua lại với nhau theo nguyên lý chức năng để tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn Chẳng hạn, tiểu
hệ thống văn hoá có mối quan hệ qua lại với nhau và với tiểu hệ thống khác của xã hội
để thấy “nhu cầu” và đạt được sự “thoả mãn” là đời sống văn hoá Nhu cầu của chúng ta
về các sự vật không thể làm cho chúng như thế này, thế kia, và do đó, không phải nhu cầu đó, có thể lấy nó ra từ hư vô và đem lại tồn tại cho nó [13, tr.113]
Trang 30Vận dụng thuyết chức năng cho thấy, khi phân tích bất kỳ một xã hội nào dù ở cấp
độ vĩ mô hay vi mô, điều cần thiết trước tiên là nhà quản lý phải chỉ ra cho được những nhu cầu thiết yếu, cơ bản, hợp lý nào đang tồn tại hoặc mới nảy sinh trong xã hội đó và
có những nhu cầu nào đang mất đi hoặc tỏ ra không tương hợp với những quy luật mang tính xu hướng của xã hội Nhà quản lý phải tìm hiểu xem, trong xã hội đó có những thiết chế xã hội nào đã được thành lập nhằm giúp cho mọi thành viên trong xã hội thực hiện những nhu cầu của mình Đồng thời, phân tích xem có những thiết chế xã hội nào giúp cho các thành viên trong xã hội thoả mãn những nhu cầu của họ một cách có trật
tự, hợp lý, có hiệu quả và những thiết chế xã hội nào không thực hiện những chức năng
đó Nếu phát hiện được những thiết chế xã hội nào đã lỗi thời hoặc không phù hợp, không thực hiện được vai trò điều chỉnh, hướng dẫn hành vi một cách có hiệu quả, cũng như không tạo ra được sự hoạt động ăn khớp của các thành viên trong xã hội với những chuẩn mực, giá trị yêu cầu đòi hỏi từ phía xã hội, từ đó làm cho xã hội trì trệ hoặc rối loạn thì nhà quản lý cần phải điều chỉnh hoặc đổi mới những thiết chế đó sao cho tạo ra được những mô hình của hành vi, trật tự của hành động thích hợp nhất, nhằm tạo ra sự cân bằng, ổn định và phát triển một cách trật tự cho xã hội
Thuyết này sẽ giúp nhà quản lý hiểu được rằng, bất kỳ một yếu tố, một thành phần, một bộ phận cấu thành của tổ chức, cơ quan, xã hội mình quản lý đều thực hiện những chức năng và thoả mãn những nhu cầu nhất định của tổ chức, cơ quan và xã hội Từ đó, nhà quản lý có cách ứng xử thích hợp, không xem thường yếu tố, bộ phận nào, cũng như không quá coi trọng một yếu tố, bộ phận này mà xem thường yếu tố, bộ phận khác
Ví dụ, không quá coi trọng bộ phận sản xuất và tiếp thị, mà xem thường bộ phận môi
Trang 31
trường, phúc lợi xã hội cho công nhân Qua thuyết này và thực tế cho thấy, cách quản lý như trên đều làm cho tổ chức thất bại Bởi vì, nếu không làm tốt công tác bảo vệ môi trường sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường cho cả cộng đồng và thiệt hại về kinh tế cho doanh nghiệp; đồng thời, nếu không làm tốt công tác phúc lợi xã hội cho công nhân, công nhân sẽ chán nản, bãi công, đình công, biểu tình, không sản xuất thì doanh nghiệp
sẽ không có sản phẩm để tiếp thị và là yếu tố dẫn đến phá sản hoặc đóng cửa doanh nghiệp
Do vậy, nắm vững thuyết chức năng, nhà quản lý sẽ có cách thức quản lý, ứng xử thích hợp đối với các bộ phận cấu thành tổ chức, tất nhiên là có những ưu tiên cho các
bộ phận quan trọng nhất, song không được lơ là, xem nhẹ hoặc không quan tâm đến các
bộ phận khác Các bộ phận đó có hoạt động nhịp nhàng với nhau thì tổ chức mới tồn tại
và phát triển
Kết luận chương 1
Rõ ràng rằng hệ thống hoá khái niệm nhu cầu, cho đến các quan điểm và vận dụng
lý thuyết đến chừng nào về nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN là hết sức phong phú và đa dạng Song, theo tác giả khi nghiên cứu nhu cầu giải trí của con người cần chú ý đến luận điểm hết sức quan trọng đó là người ta phải có đời sống vật chất tốt thì mới có mới có nhu cầu giải trí cao
Cho đến nay, nhu cầu giải trí của công nhân lao động KCN Quang Minh và KCN Thăng Long, Nội Bài không chỉ đáp ứng đời sống tinh thần mà còn lấp đi những chỗ trống thiếu hụt trong tâm khảm của mỗi người, bớt đi nỗi cô đơn, quạnh hưu, lạnh lẽo
để rồi an phận cảnh xa mái ấm, tình thương quê nhà Nhưng thực tế hoạt động giải trí và nhu cầu giải trí của họ ở mức độ nào, được sự quan tâm của xã hội đến đâu thì thấy rõ hơn ở chương 2
Trang 32
Chương 2 Thực trạng nhu cầu giải trí của công nhân lao động Khu Công nghiệp hiện nay
2.1 mô tả địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Khu công nghiệp giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Xây dựng khu công nghiệp chính là thực hiện ý tưởng “đi tắt, đón đầu” trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Điểm mạnh của khu công nghiệp là thu hút mạnh mẽ đầu tư trong và ngoài nước
Nhận thức được điều đó, hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ
khoá VII (1994) đã đặt ra vấn đề “quy hoạch các vùng, trước hết là các địa bàn trọng điểm, các khu chế xuất, khu kinh tế đặc biệt, khu công nghiệp tập trung” Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII nêu rõ "cải tạo các khu công nghiệp hiện có
về kết cấu hạ tầng và công nghệ sản xuất, xây dựng mới một số khu công nghiệp phân bố rộng trên các vùng" Ngày 24/4/1997 Chính phủ đã ban hành nghị định 36/CP tạo cơ sở
pháp lý cho việc xây dựng và vận hành khu công nghiệp tập trung trên phạm vi cả nước
Sau hơn 10 năm phát triển, bắt đầu từ KCN đầu tiên là KCN Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 31/12/2008 cả nước có 219 KCN với tổng diện tích tự nhiên là 61.472,4 ha, phân bổ trên 54 tỉnh, thành phố Các KCN trên cả nước đã thu hút được 3.588 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký là 251.541,57 tỷ đồng Với số lượng lao động trực tiếp làm việc tại các KCN là 1,2 triệu người, không kể lao động gián tiếp và lao động làm việc tại các doanh nghiệp ngoài KCN tham gia vào chuỗi sản xuất giá trị của các doanh nghiệp trong KCN [22, tr.13]
Tuy nhiên, bên cạnh đó việc thu hút đầu tư vào các KCN cũng có những hệ luỵ dai dẳng đối với môi trường, xã hội, nhất là vấn đề giải trí của công nhân lao động chưa được quan tâm thoả đáng
Trang 33
Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có 12 khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung, 23 cụm công nghiệp, 66.964 doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số 820.000 CNLĐ, đã thành lập được 2.078 Công đoàn cơ sở với 199.245 đoàn viên [14]
KCN Thăng Long, Nội Bài và KCN Quang Minh trong thời gian qua đã thu hút một lượng lớn nguồn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó đã thúc đẩy sự tăng trưởng công nghiệp của Thành phố, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Không chỉ đứng đầu về thu hút vốn FDI trong hệ thống các KCN của Hà Nội, KCN Thăng Long còn nổi tiếng là KCN xanh, sạch, đẹp, với 100% các nhà đầu tư đều áp dụng công nghệ sản xuất sạch, thân thiện với môi trường
Khu Công Nghiệp Thăng Long, nằm khoảng giữa tuyến đường từ Hà Nội đến sân bay quốc tế Nội Bài KCN Thăng Long được đầu tư bởi một liên doanh giữa Tập đoàn Sumitomo (Nhật Bản) và Công ty cơ khí Đông Anh thuộc Bộ Xây dựng, trong đó đối tác Nhật Bản đóng góp 58% vốn, 42% còn lại là của đối tác Việt Nam Được thành lập theo Giấy phép đầu tư số 1845/GP do Bộ Kế hoạch & Đầu tư Việt Nam cấp ngày 22/2/1997 Mục tiêu liên doanh là xây dựng một khu công nghiệp hiện đại tại phía Bắc thủ đô với tổng diện tích 300 ha, chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn 1 (từ 1997 đến 2000) gồm 128 ha; giai đoạn 2 (2004-2005) 75 ha; giai đoạn 3 (2005-2006) 83 ha Cho đến nay, KCN Thăng Long đã được xây dựng xong toàn bộ cơ sở hạ tầng, thu hút gần 60 nhà đầu tư nước ngoài, phần lớn là Nhật Bản, sản xuất các linh kiện điện tử, lắp ráp điện
tử, sản xuất linh kiện ô tô và xe máy với dây chuyền hiện đại, công nghệ cao Thu hút được tổng vốn FDI là 1,2 tỷ USD, chiếm 2,5% vốn FDI của cả nước và 5,38% vốn FDI của Hà Nội Và một điều quan trọng nữa là KCN đã thu hút được khoảng 40-45 ngàn lao động
Hầu hết các nhà đầu tư có mặt tại KCN Thăng Long đều là những tập đoàn của Nhật Bản Có vẻ tiêu chuẩn quá khắt khe của KCN Thăng Long khiến các doanh nghiệp trong nước không dễ tiếp cận Đó là, ngay từ khi thành lập, KCN Thăng Long đã xác định chỉ lựa chọn các doanh nghiệp đầu tư sản xuất theo hướng công nghiệp sạch, công nghệ cao Chính
Trang 34
điều đó khiến các doanh nghiệp đang ở trình độ công nghệ thấp khó vào Tiêu chuẩn của KCN Thăng Long là tiêu chuẩn quốc tế, trong khi đó các doanh nghiệp Nhật Bản rất kỹ tính trong việc lựa chọn những điều kiện môi trường, địa điểm, công nghiệp phụ trợ; giá cả, chi phí đầu tư, chi phí hoạt động có hợp lý không Đó là lý do các nhà đầu tư Nhật Bản lựa chọn KCN Thăng Long Thực trạng đóng góp của các doanh nghiệp trong KCN Thăng Long đến phát triển kinh tế Việt Nam; Kim ngạch luỹ kế đầu tư vào KCN là 1,38 tỷ USD; Kim ngạch xuất khẩu là 920 triệu USD (năm 2006), 1,58 tỷ USD (năm 2007) chiếm 3,3% của cả nước; thuê trực tiếp người lao động là 39.000 người (trong đó có 370 người Nhật Bản) [19, tr 29a] Khu công nghiệp Quang Minh nằm trên địa bàn xã Quang Minh, huyện Mê Linh,
Hà Nội, nằm cạnh đường cao tốc Bắc Thăng Long - Nội Bài, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 5km, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 20 km, có ga đường sắt tuyến Hà Nội - Lào Cai trong KCN, cách cảng Hải Phòng và cảng Cái Lân (Quảng Ninh) khoảng 150 km theo quốc lộ 18 Do Tổng Công ty Đầu tư phát triển đô thị & KCN thuộc Bộ Xây dựng làm chủ đầu tư
Khu Công nghiệp Quang Minh với tổng diện tích: 850 ha Trong đó 100% diện tích KCN Quang Minh 1 (345 ha) đã được thuê, KCN Quang Minh 2 là 402 ha và KCN Quang Minh mở rộng gồm 100 ha Chủ yếu là các nhà đầu tư: Sản xuất phụ tùng cơ khí, điện tử, điện lạnh, trang thiết bị nội thất, sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm v.v Với khoảng 100.000 công nhân lao động và trên 100 doanh nghiệp
2.1.2 Mẫu nghiên cứu
2.1.2.1 Cơ cấu giới tính trong công nhân lao động
Tình trạng chung là cơ cấu giới tính công nhân lao động trong các KCN hiện nay là mất bình đẳng về giới vẫn xẩy ra, đó là do tính chất ngành nghề sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do khả năng tiếp cận các trung tâm giới thiệu việc làm và lôi kéo của bạn bè cũng như người thân thì nữ giới là đối tượng chiếm ưu thế hơn nam giới Chính sự bất bình đẳng về giới trong KCN cũng là một yếu tố tạo nên nhu cầu giải trí khác nhau trong công nhân lao động
Theo kết quả điều tra 298/323 công nhân lao động trả lời, thì có 101/298 lao động nam chiếm tỷ lệ 33,9%, có 197/298 lao động nữ chiếm tỷ lệ 61,1% Trong khi đó, có 173 người đã
Trang 35
kết hôn, thì có 74/173 lao động nam chiếm 42,8%, có 99/173 lao động nữ đã kết hôn chiếm
57,2% [xem phụ lục1] Trong số công nhân lao động đã kết hôn thì, có 8,8% vợ chồng không
sống cùng nhau tức là mỗi người 1 nơi, chồng hoặc vợ đi làm ở KCN, có 19,9% vợ chồng sống chung cùng nhau ở nhà trọ, 50,9% vợ chồng sống chung cùng nhau ở nhà riêng, 2,3%
vợ chồng sống chung cùng nhau ở KTX công nhân và 18,1% vợ chồng chung sống cùng gia đình (người thân) Bên cạnh đó số công nhân lao động chưa kết hôn; có 53,9% thuê nhà trọ; 31,2% sống với gia đình; 8,5% ở nhà người thân; 2,8% ở KTX công nhân và 3,5% không trả
lời [xem phụ lục 2] Do vậy, nghiên cứu cơ cấu giới tính, giúp cho chúng ta nắm được cơ cấu
nguồn lao động cung ứng cho KCN, để có hướng giải quyết những vấn đề về nhu cầu giải trí nảy sinh do đặc thù giới
Xét theo cơ cấu giới tính, không có sự khác biệt về giới khi xem xét tiêu chí trình độ học vấn Cụ thể, trong đó có 1% lao động nữ và nam có trình độ tiểu học; 7,9% lao động nam
có trình độ trung học cơ sở và 7,1% lao động nữ; 91,1% lao động nam có trình độ trung học
phổ thông và 91,9% lao động nữ [xem phụ lục 3]
Biều đồ 2.1: Tương quan giữa giới tính với trình độ chuyên môn
§ T
§ T ng¾n h¹ n
Nam N÷
Nguồn: Tác giả tự khảo sát ở KCN Quang Minh và KCN Thăng Long
Cũng như theo kết qua Biểu đồ 2.1 thì tỷ lệ công nhân đang làm việc trong KCN chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ còn cao (lao động nữ chiếm 50,5%, lao động nam chiếm 31,7%); tỷ lệ công nhân được đào tạo ngắn hạn trong doanh nghiệp (lao động nam chiếm 13,9% và lao động nữ là 18,2%); công nhân có trình độ trung cấp trở lên chiếm
tỷ lệ không cao Những công nhân có trình độ chuyên môn thấp và chưa qua đào tạo là
Trang 36
những người yếu thế trong doanh nghiệp Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do tình trạng thu hút đầu tư mạnh vào các KCN nên đất canh tác nông nghiệp ngày càng có xu hướng thu hẹp lại Vì thế, thanh niên nông thôn bị đẩy vào thị trường lao động khi họ chưa được trang bị đầy đủ những kiến thức cơ bản đáp ứng với thị thường lao động hiện nay
2.1.2.2 Cơ cấu tuổi đời của công nhân lao động
Nhìn chung đa số công nhân lao động trong KCN Quang Minh và KCN Thăng Long ở các vùng lân cận, xuất thân từ nông thôn, tuổi đời còn tương đối trẻ như kết quả điều tra cho thấy, nhóm công nhân dưới 18 tuổi chiếm tỷ lệ 3,3%, nhóm từ 18 - 25 tuổi chiếm tỷ lệ 61,5%, nhóm từ 26 - 30 tuổi chiếm tỷ lệ 24,4%, nhóm từ 31 - 40 tuổi
là 9,7% và nhóm trên 40 tuổi là 1% Khi xét tương quan tuổi đời và giới tính thì nhóm từ 18 - 25 tuổi nữ công nhân cao gần gấp 2 lần nam công nhân (71,4%, 39,3%)
[xem phụ lục 4] Tuổi trung bình của công nhân lao động là 27,5 tuổi (tối đa là 40
tuổi và tối thiểu là 18 tuổi) Chứng tỏ công nhân lao động KCN có độ tuổi trẻ (dưới
30 tuổi), chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Như vậy, hầu hết người lao động nước ta gia nhập đội ngũ công nhân trong thời kỳ đổi mới, họ là lực lượng trẻ, ít chịu ảnh hưởng của cơ chế tập trung, bao cấp, có khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trường năng động và tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ hiện đại
Do tuổi đời công nhân lao động KCN còn trẻ, nên thời gian gia nhập GCCN chưa dài, chưa được rèn luyện, thử thách nhiều trong khó khăn, gian khổ, trong khi
đó phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, công tác tuyên truyền, giáo dục có nhiều khó khăn, nên ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp của công nhân còn nhiều hạn chế, công nhân dễ bị ảnh hưởng do tác động mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Hiện tượng công nhân trong KCN thay đổi việc làm, nghề nghiệp, nơi làm việc đang có chiều hướng gia tăng và diễn ra thường xuyên Điều đáng lưu ý là do một số lớn công nhân trẻ tuổi không được ký hợp đồng lao động, hoặc chỉ ký hợp đồng lao động ngắn hạn, không được người sử dụng lao động đóng bảo hiểm xã hội, nên khi thay đổi nơi làm việc cũng gây cho doanh nghiệp rất nhiều khó khăn
Trang 37
2.1.2.3 Về trình độ học vấn của công nhân lao động
Những năm qua cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trình
độ học vấn của công nhân nước ta đã được nâng lên đáng kể, song, so với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, so với trình độ của công nhân các nước trong khu vực và quốc tế, thì đội ngũ công nhân nước ta còn nhiều bất cập Mặt khác, trình độ học vấn của công nhân nước ta phân bố không đều, công nhân có trình độ học vấn cao thường tập trung chủ yếu ở một số thành phố lớn, ở các trung tâm công nghiệp và chủ yếu tập trung ở một số ngành kinh tế mũi nhọn như, hàng không, dầu khí, điện tử, tin học, bưu chính, viễn thông ở các tỉnh miền núi, các ngành nông, lâm nghiệp, sản xuất chế biến thuỷ sản, dệt may, giầy da trình độ học vấn của công nhân còn thấp
Theo kết quả nghiên cứu công nhân lao động KCN cho thấy; có 91.7% công nhân
đã tốt nghiệp trung học phổ thông; 7,3% công nhân có trình độ trung học cơ sở và 1%
công nhân có trình độ tiểu học [xem phụ lục 5] Chứng tỏ trình độ học vấn của công
nhân lao động KCN cao hơn mặt bằng của cả nước Nguyên nhân chính là do một số doanh nghiệp khi tuyển công nhân không yêu cầu trình độ cao, mặt khác, việc tổ chức học tập nâng cao trình độ học vấn, tay nghề cho công nhân lao động gặp rất nhiều khó khăn do chủ doanh nghiệp ít quan tâm Về phía công nhân lao động, do thu nhập thấp, cường độ lao động căng thẳng nên không có thời gian và kinh phí để học tập
Trước yêu cầu hội nhập, mỗi công nhân phải tự nâng trình độ để tiếp cận, làm chủ công nghệ ngày càng hiện đại Thế nhưng, nếu để công nhân tự bơi, họ dễ hụt hơi, từ đó phải chấp nhận những công việc nhọc nhằn, lương thấp Vì vậy, các cấp, các ngành cũng như các doanh nghiệp cần thống kê trình độ học vấn, nghiệp vụ của công nhân lao động, từ đó có kế hoạch phối hợp với lãnh đạo địa phương, ngành, cơ quan, đào tạo lại, nhằm thực hiện tốt chương trình nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp của người lao động
2.1.2.4 Về trình độ chuyên môn, nghề nghiệp của công nhân lao động
Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh trong và ngoài nước ngày càng gay gắt đòi hỏi các cơ sở sản xuất kinh doanh phải chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất,
Trang 38
điều này đũi hỏi đội ngũ cụng nhõn phải cú tay nghề thành thạo, học vấn cao, chuyờn mụn sõu Mặt khỏc yờu cầu cạnh tranh trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế tạo sự năng động, thỏo vỏt, sỏng kiến, sỏng tạo của cụng nhõn
Khi nghiờn cứu về trỡnh độ chuyờn mụn, tay nghề của cụng nhõn lao động KCN, kết quả cho thấy Biểu đồ 2.2 sau:
Biểu đồ 2.2: Trỡnh độ chuyờn mụn, tay nghề của cụng nhõn lao động
Đ ạ i học, 3.6%
Cao đẳng, 7.9%
Trung cấp,
20.4%
Chư a qua đào tạ o, 43.9%
Đ ào tạ o ngắn hạ n, 18.2%
Sơ cấp, 6.1%
Nguồn: Tỏc giả tự khảo sỏt ở KCN Quang Minh và KCN Thăng Long
Cú 3,6% cụng nhõn lao động cú trỡnh độ đại học; 7,9% cụng nhõn lao động cú trỡnh độ cao đẳng; 20,4% cụng nhõn cú trỡnh độ trung cấp; 6,1% cụng nhõn cú trỡnh
độ sơ cấp; 18,2% cụng nhõn được đào tạo ngắn hạn trong doanh nghiệp và 43,9% cụng nhõn chưa qua đào tạo nghề trước khi vào doanh nghiệp làm việc Qua kết quả Biểu đồ 2.2, cho thấy cụng nhõn lao động KCN cú trỡnh độ chuyờn mụn thấp hơn so với điều tra của Tổng Liờn đoàn vào thỏng 5/2009 như; 32,7% cụng nhõn lao động được đào tạo qua cỏc trường cao đẳng, đại học; 21,6% cụng nhõn được doanh nghiệp nhận vào làm rồi đào tạo; 17,1% vừa làm, vừa học tại doanh nghiệp; 7,7% cụng nhõn được đào tạo qua cỏc trung tõm dậy nghề của tư nhõn; 5,7% cụng nhõn được đào tạo qua cỏc trung tõm của cỏc đoàn thể, đặc biệt cú 11% cụng nhõn chưa được đào tạo nghề [18, tr.49] Qua kết quả so sỏnh cho thấy, quy mụ điều tra đề tài chỉ ở hai KCN, tớnh
Trang 39Từ 1 – 1,5 triệu
Từ 1,5 -
2 triệu
Từ 2 - 2,5 triệu
Từ 2,5 -
3 triệu
Trên 3 triệu
Chưa qua đào tạo 50,0 48,5 46,5 47,1 39,1 11,8
Nguồn: Tác giả tự khảo sát ở KCN Quang Minh và KCN Thăng Long
Qua kết quả điều tra Bảng 2.1 cho thấy, công nhân lao động chưa qua đào tạo
có thu nhập dưới 1 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 50%, công nhân lao động được đào tạo ngắn hạn và có trình độ trung cấp thu nhập dưới 1 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 25%; khi xét công nhân có thu nhập trên 3 triệu đồng/tháng thì công nhân có trình độ đại học chiếm tỷ lệ cao nhất là 47,1%, công nhân có trình độ cao đẳng là 35,3%, công nhân có trình độ trung cấp là 5,9% và đặc biệt có 11,8% công nhân chưa qua đào tạo có thu nhập trên 3 triệu đồng/tháng Như vậy, công nhân lao động trong KCN có trình độ càng cao thì thu nhập càng cao
Có một nghịch lý là hầu hết công nhân lao động KCN không muốn trở thành thợ lành nghề trong các doanh nghiệp, theo họ, dù có làm tốt công việc, bỏ ra nhiều công
Trang 40
sức nhưng mức lương vẫn quá thấp, chỉ đủ để thắt lưng buộc bụng chi tiêu Nhiều công nhân lao động chọn giải pháp vừa làm vừa học nghề để lấy ngắn nuôi dài, hy vọng sẽ tìm được công việc ổn định hơn
Một ý kiến công nhân làm việc KCN Thăng Long, ở trọ thôn Bầu: Hầu hết chị em cùng xóm trọ với em đều đi học kế toán tổng hợp hoặc hành chính, văn phòng ở Trường Trung cấp Kinh tế kỹ thuật Bắc Thăng Long Trường có lớp ca, lớp kíp (dành riêng cho những người làm ca, kíp ở các KCN) nên thời gian học khá thuận lợi (Nữ 24 tuổi, quê Tiền Hải, Thái Bình)
Nhiều bạn trẻ tâm sự: “Thà chết đói, về quê ăn bám bố mẹ còn hơn đi làm tiếp viên nhà hàng, karaoke, bia “ôm“, gội đầu “thư giãn“ cho dù thu nhập một ngày bằng lương công nhân cả tháng“(Nhóm lao động, xã Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội)
Đây là cơ hội để công nhân lao động nâng cao trình độ, hiểu biết hơn và tự bảo vệ quyền lợi của bản thân, nhưng dù có lương thấp không đủ sống công nhân lao động cũng không vướng vào các tệ nạn xã hội Chúng tôi đánh giá rất cao những phẩm chất, suy nghĩ và hành động rất hướng thiện của hầu hết công nhân lao động trong KCN, hầu hết các thành phần mua bán dâm sống trà trộn vào công nhân làm xấu đi hình ảnh công nhân ở trọ
Như vậy, có một tỷ lệ lớn công nhân lao động trẻ chưa được qua đào tạo nghề tại các trường, lớp cơ sở đào tạo nghề, số này phần lớn là những lao động nông thôn và học sinh mới tốt nghiệp phổ thông được các doanh nghiệp tuyển dụng vào làm các công việc mang tính đơn giản, thời vụ Vì vậy, cần các cấp các ngành vào cuộc để xây dựng và phát triển giai cấp công nhân trong những năm tới là phải tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, tay nghề cho công nhân lao động, nhất là trong các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay
2.1.2.5 Thời gian nhàn rỗi của công nhân lao động khu công nghiệp
Theo C.Mác quỹ thời gian của xã hội và cá nhân được phân chia thành thời gian lao động và thời gian tự do Thời gian lao động là khoảng thời gian tất yếu mà mỗi cá nhân buộc phải thực hiện công việc lao động để đảm bảo sự sinh tồn; Thời gian tự do là khoảng thời gian còn lại ngoài thời gian lao động, dành cho những hoạt động mà cá