Trong xu thế phát triển của đất nước, để đáp ứng nhu cầu bạn xem truyền hình, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chúng tôi nhận thấy cần tiếp tục nghiên cứu sâu, từ đó c
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước Việt Nam ta có 54 dân tộc anh em Trong số hơn 86 triệu dân số thì đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi chiếm tới 14, 2 triệu người Vùng có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi sinh sống là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và miền Trung Đây cũng là vùng có nhiều khó khăn về địa hình, về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và vùng bị tranh chấp thông tin
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn khẳng định tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược của vấn đề dân tộc và miền núi trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới đất nước Sự quan tâm
đó được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực chính trị, KT-XH Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc từng bước được cải thiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững
Tuy nhiên, các thế lực thù địch trong nước và quốc tế luôn tìm cách lợi dụng những khó khăn, hạn chế của đồng bào và những yếu kém, sai sót của các cấp, các ngành
về công tác dân tộc và miền núi để tuyên truyền xuyên tạc, kích động, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, gây mất ổn định an ninh chính trị Nhiều đài phát thanh nước ngoài phát chương trình tiếng Việt như: Đài Châu Á Tự do (RFA), Đài VOA, BBC v.v Đặc biệt Đài Manila (Philippin) phát chương trình tiếng H’Mông nhằm xuyên tạc đường lối, chính sách dân tộc của Đảng ta
Trong tình hình bùng nổ thông tin hiện nay, nhiều sản sản phẩm văn hoá không lành mạnh, với nhiều hình thức khác nhau đã đưa vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số Trên mạng internet, nhiều trang web phản động của các thế lực thù địch lập ra nhằm bôi xấu chế độ, hạ
bệ lãnh tụ, kích động quần chúng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ly khai, chống lại Nhà nước Điển hình là vụ xúi giục hình thành nhà nước Đề Ga ở Tây Nguyên Mặc dù chúng ta
đã ngăn chặn, nhưng chiến dịch "chuyển lửa về quê hương" với tần suất ngày càng dày gây tâm lý hoang mang, không tin tưởng vào chế độ khiến không ít thanh thiếu niên, người dân
Trang 3
bi quan Đặc biệt do phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số học vấn thấp, hiểu biết còn hạn hẹp nên họ là đối tượng dễ bị các thế lực thù địch xúi giục, kích động Trước tình hình phức tạp như vậy, với tư cách là một cơ quan báo chí chính thống, có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho đồng bào hiểu, không tin theo kẻ xấu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, trách nhiệm của Đài Truyền hình Việt Nam (THVN) nói chung, Ban truyền hình tiếng dân tộc nói riêng càng khó khăn và nặng nề hơn bao giờ hết Chính vì vậy, việc nâng cao nhận thức chính trị của người làm báo và sự cần thiết phải đổi mới thông tin là yêu cầu cấp bách đối với báo chí nói chung, trong đó có Đài THVN
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác dân tộc trong tình hình mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã nêu mục tiêu cụ thể đến năm 2010:
Phấn đấu 90% đồng bào được xem truyền hình; 100% được nghe đài phát thanh; các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc thiểu
số sẽ được bảo tồn và phát triển
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh truyền hình: tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh truyền hình bằng các tiếng dân tộc thiểu số [6]
Đổi mới thông tin nói chung, trong đó tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với Đài THVN Trước hết cần đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những ưu điểm, nhược điểm; đồng thời, đề ra những giải pháp khắc phục, nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của thông tin tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: "Chương trình Dân tộc và Miền núi trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam" cho luận văn Thạc sỹ Truyền thông đại
chúng của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Những năm qua, vấn đề dân tộc và miền núi đã được nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu đề cập với nhiều góc độ khác nhau
Trang 4
Trên lĩnh vực báo chí truyền thông, đáng chú ý có các công trình sau:
- Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Xuân An Việt về "Thông tin về dân tộc miền núi
trên VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam" năm 2001, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền,
đã khảo sát chương trình về đề tài dân tộc miền núi của Đài THVN trong 3 năm 1999 -
2001 Qua khảo sát, tác giả đưa ra các giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng chương trình, nhằm tăng cường hiệu quả thông tin về vấn đề dân tộc miền núi của Đài THVN
- Năm 2005, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Phạm Ngọc Bách đã bảo vệ luận văn
thạc sỹ với tiêu đề "Chương trình Dân tộc và Miền núi trên sóng VTV1- Đài Truyền hình
Việt Nam" Trong luận văn này, tác giả đã khảo sát các chương trình dân tộc và miền núi từ
tháng 01-2004 đến tháng 06-2005 đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình
Trong cuốn “Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX” Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội xuất bản năm 2001, gồm nhiều bài viết của một số tác giả về sự phát triển các dân tộc thiểu số; chính sách dân tộc; xây dựng phát triển kinh tế, đời sống văn hoá - xã hội,
bảo vệ tổ quốc của đồng bào các dân tộc thiểu số Trong đó có bài "Sự nghiệp phát
triển truyền hình ở vùng dân tộc thiểu số" của ông Hồ Anh Dũng, Nguyên Tổng Giám
đốc Đài THVN Bài viết cho thấy sự cần thiết và dự báo khả năng đóng góp, tăng cường đầu tư cho công tác thông tin tuyên truyền của Đài THVN đối với vùng dân tộc thiểu số trong tình hình mới
Năm 2001, Hội thảo tổng kết "Tăng cường và đổi mới công tác thông tin phục vụ
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi" do Bộ Văn hóa - Thông tin tổ chức, đề cập nhiều
về yêu cầu đổi mới công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Tuy nhiên, các tham luận còn nặng về việc trình bày các báo cáo, tổng kết của đại diện các cơ quan báo chí, chưa đi sâu kiếm tìm giải pháp tăng cường đổi mới nội dung, hình thức, chất lượng của từng ngành, từng đơn vị mình
Năm 2007, Ủy ban Dân tộc đã sơ kết đánh giá tiến độ thực hiện Quyết định 975/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số báo, tạp chí cho đồng bào dân tộc thiểu số Hội nghị mới dừng lại đánh giá mặt tốt, chưa cụ thể từng nội dung và hình thức tuyên truyền, công tác phát hành đến đồng bào các dân tộc thiểu số
Trang 5
Từ năm 2006, khi “Chương trình Dân tộc và Miền núi” từ Ban chuyên đề Đài
THVN được chuyển về Ban truyền hình tiếng dân tộc, thì tên gọi, nội dung và kết cấu của chương trình này đã có sự thay đổi
Trong xu thế phát triển của đất nước, để đáp ứng nhu cầu bạn xem truyền hình, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chúng tôi nhận thấy cần tiếp tục nghiên cứu sâu, từ đó có các giải pháp điều chỉnh chương trình để đạt hiệu quả hơn trong thời đại bùng nổ và cạnh tranh thông tin
Kế thừa kết quả của các tác giả nghiên cứu đi trước, đề tài nghiên cứu “Chương trình Dân tộc và miền núi trên sóng Đài truyền hình Việt Nam” của chúng tôi sẽ đi sâu
nghiên cứu những vấn đề cơ bản của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong năm vừa qua Trên cơ sở đó, có cái nhìn tổng quát về Chương trình Dân tộc và Miền núi của Đài THVN, làm rõ những ưu điểm và nhược điểm, đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng công tác thông tin về lĩnh vực này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận báo chí và thực tiễn sản xuất, phát sóng các sản phẩm của chương trình Dân tộc và Miền núi, luận văn để xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tuyên truyền đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên sóng Đài THVN
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề Dân tộc và Miền núi
- Khảo sát Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển trên sóng VTV1 và thực tế hoạt động sản xuất chương trình Dân tộc và Miền núi nói chung trên sóng Đài THVN
- Phân tích kinh nghiệm, phát hiện vấn đề và những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chương trình, đề xuất các giải pháp, nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển trên sóng Đài THVN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Trang 6Thời gian khảo sát từ tháng 05-2008 đến tháng 05-2009
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Phương pháp luận của luận văn dựa trên cơ sở quan điểm triết học Mác - Lênin,
mà nền tảng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phân tích đánh giá trong đề tài dựa trên quan điểm báo chí vô sản, tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối dân tộc; dựa vào đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề dân tộc và miền núi; cũng như quan điểm của Đảng về vai trò của báo chí trong đời sống văn hóa xã hội để làm căn cứ trong quá trình nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở của lý luận báo chí truyền thông và lý luận của báo chí truyền hình để phân tích, đánh giá từng khía cạnh cụ thể của thông tin về vấn đề dân tộc thiểu số và miền núi trên sóng truyền hình Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp khảo sát thực tế, khảo sát Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát
triển trên sóng VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam
Phương pháp điều tra xã hội học: phương pháp này chọn đối tượng khảo sát là đồng bào
dân tộc thiểu số ở 4 tỉnh là: Hà Giang, Điện Biên, Cần Thơ và Gia Lai
Phương pháp thống kê, phân loại nhằm tổng hợp, phân tích vấn đề một cách cụ
thể, khách quan Qua đó, tìm ra những điểm nổi bật về nội dung, hình thức, thế mạnh của chương trình phát trên sóng Đài THVN phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Trang 7
Phương pháp phỏng vấn sâu những người am hiểu, quan tâm đến chương trình, cùng
ý kiến của các đồng nghiệp, của nội bộ lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên Ban truyền hình tiếng dân tộc cũng như lãnh đạo Đài THVN
Phương pháp đối chiếu, so sánh: để rút ra những ưu nhược điểm của chương trình
so với yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn mới Từ đó, xác định rõ vai trò, đặc điểm của thông tin phục vụ đồng bào trong hệ thống báo chí
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ góp phần tổng kết thực tiễn và lý luận về thông tin phục
vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là việc nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin phục vụ đồng bào Đồng thời, luận văn cũng có thể là tài liệu để cán bộ, phóng viên trực tiếp làm công tác thông tin về lĩnh vực này tham khảo, vận dụng Luận văn cũng
có thể là tài liệu cho các cơ quan chức năng, các cơ sở giáo dục - đào tạo và những ai quan tâm tham khảo đến vấn đề dân tộc và miền núi nói chung, vấn đề tuyên truyền đề tài này trên sóng truyền hình Việt Nam nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết, 83trang
Trang 9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI Ở NƯỚC TA
1.1 DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN ĐẤTNƯỚC 1.1.1 Khái niệm về Dân tộc và Miền núi
Hiện nay, khái niệm “dân tộc” còn có nhiều ý kiến khác nhau Điều đó một phần là do vấn đề dân tộc được xem xét từ nhiều quan điểm, lập trường và giác độ khác nhau; phần khác là do hiện thực phong phú, phức tạp của các loại hình dân tộc đang tồn tại ở các quốc gia, khu vực trên thế giới Sự phong phú, phức tạp đó làm cho nhiều định nghĩa được nêu ra, cho đến nay chưa diễn đạt được đầy đủ, trọn vẹn các thuộc tính của các loại hình dân tộc đã xuất hiện trên thế giới Tìm kiếm một định nghĩa chuẩn xác về dân tộc đang là đòi hỏi của lý luận và thực tiễn, cần được quan tâm
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa như sau:
1 Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính người (ethnie) của bộ phận tộc người Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau…
2 Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người… Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc [35, tr 655]
Từ điển Tiếng Việt nêu định nghĩa dân tộc như sau:
1 Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách…
Trang 10
2 Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc…
3 Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về
sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung [50, tr 255]
Và định nghĩa dân tộc thiểu số như sau: "Dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm
số đông nhất trong một nước có nhiều dân tộc"
Giáo trình triết học Mác - Lênin, do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo
trình quốc gia các bộ sách khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh xuất bản, nói về khái niệm dân tộc như sau:
Khái niệm dân tộc thông thường được dùng để chỉ hầu như tất cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc) Cần phân biệt "dân tộc" theo nghĩa rộng trên đây với "dân tộc" theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng trước đó, kể cả bộ tộc Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát triển lên, song, đa số trường hợp được hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và tộc người hợp nhất lại Từ hình thức cộng đồng trước dân tộc phát triển lên dân tộc là một quá trình vừa có tính liên tục vừa là bước nhảy vọt lớn [34,
tr 475-476]
Từ những nội dung trên có thể khái quát rằng: dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo nên từ yếu
tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người Xét cho cùng, nền tảng của sự liên kết mà các yếu tố trên tạo nên là trình độ phát triển kinh
tế Bởi vì, tính chất của dân tộc bao giờ cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất
Ngoài ra nhiều ý kiến còn nhấn mạnh, dù hiểu theo nghĩa nào thì dân tộc cũng vừa
là một cộng đồng người, vừa là một cộng đồng chính trị- xã hội-tộc người Có thể định nghĩa khái quát: dân tộc là một cộng đồng chính trị-xã hội- tộc người Quan niệm này tạo
Trang 11
nên một ranh giới rõ rệt để phân biệt khái niệm dân tộc với sắc tộc, bởi vì khái niệm sắc tộc thường dùng để chỉ các tộc người da màu [53, tr 199] Quan niệm này cũng cho phép phân biệt khái niệm dân tộc với khái niệm chủng tộc, vì khái niệm chủng tộc thường dùng
để chỉ sự khác nhau về cấu tạo tự nhiên của con người [35, tr 529]
Dân tộc và Miền núi - đây là cách gọi ngắn gọn khi chúng ta dùng để chỉ toàn bộ
các dân tộc thiểu số và các vấn đề liên quan đến miền núi, cao nguyên, vùng cao Gọi
như thế này để dễ dàng trong giao tiếp và nhằm khu biệt với những nội dung khác Hiện nay, cụm từ này đang được dùng phổ biến trong các đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước ta
1.1.2 Đặc điểm về dân tộc thiểu số và miền núi ở Việt Nam
1.1.2.1 Những đặc điểm chung
Cộng đồng văn hóa Việt Nam rất đa dạng, bao gồm 54 dân tộc và bảy hệ ngôn ngữ chính tìm thấy từ Tây Á tới khu vực Thái Bình Dương Nhiều nhóm dân tộc đã tồn tại rất lâu đời và thậm chí trước cả khi người Việt tới định cư; một số khác thì mới nhập
cư gần đây Dân tộc thiểu số và miền núi đông nhất là người Tày, với gần 1,5 triệu người Trong khi dân tộc thiểu số nhỏ nhất là người Ơ Đu với con số vừa vặn 300 người
Các dân tộc thiểu số và miền núi có một vài đặc điểm chung: 75% người dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống ở hai vùng: miền núi phía Bắc giáp với Trung Quốc và vùng Tây Nguyên giáp Lào và Cam-pu-chia Hầu hết các dân tộc thiểu số đều sống ở vùng nông thôn Các vùng khác cũng có người dân tộc thiểu số sinh sống, ví dụ như: người Khơ - me, người Hoa và người Chăm thấy ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên nhìn chung là những tỉnh nghèo, kinh
tế chậm phát triển, đời sống vật chất, văn hóa, xã hội còn nhiều khó khăn Các tỉnh này cũng là nơi tập trung chủ yếu đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Theo thống kê, số hộ nghèo ở vùng núi và trung du phía Bắc là 48,5% và ở Tây Nguyên hơn 48,4%
Mặt khác, sự đa dạng cũng tồn tại nhiều trong nội bộ các cộng đồng dân tộc thiểu số: họ rất khác nhau về sự đồng hóa, khác cả cấp độ thành công về kinh tế Một số dân tộc như: Tày và Mường, có mức thu nhập hộ gia đình và sự giáo dục tương đương với người Kinh, trong khi ở một nhóm dân tộc khác thì thậm chí lại không có thành viên nào
Trang 12
theo học được tới bậc trung học phổ thông Tính đa dạng về văn hóa và địa lý này khiến cho việc xây dựng chương trình của Chính phủ và các chương trình khác đáp ứng được nhu cầu về ngôn ngữ và văn hóa của từng cá thể trở nên vô cùng khó khăn Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những nghiên cứu nhân học đầy đủ trong tương lai về mối tương đồng và khác biệt dân tộc
Mặc dù được sự quan tâm đầu tư thích đáng của Đảng và Nhà nước, song đến nay vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta vẫn là khu vực chậm phát triển về mọi mặt Khoảng cách chênh lệch phát triển giữa miền núi và miền xuôi có xu hướng ngày càng tăng Tính bền vững của quá trình phát triển giữa các vùng miền chưa được bảo đảm bởi còn nhiều hạn chế, yếu kém Hiện nay, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang phải đối mặt với nhiều cam go, thách thức, trước hết là đói nghèo Ba vùng nghèo nhất là Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc
1.1.2.2 Những khác biệt
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo, lạc hậu ở hầu hết các
vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta là: sự khác biệt về năng lực, và sự khác biệt về
ngôn ngữ
Sự khác biệt về năng lực
- Rào cản lớn nhất để đạt tới sự thành công chính là giáo dục Các dân tộc thiểu số
và miền núi được tiếp cận ít hơn nền giáo dục có chất lượng Do vậy, kết quả học tập của
họ cũng thấp hơn Tỷ lệ học sinh bỏ học vẫn còn cao trong cộng đồng các dân tộc thiểu
số và miền núi Họ có xu hướng đi học muộn hơn ở bậc tiểu học và còn thiếu tiếp cận giáo dục bậc mầm non Kết quả là tỷ lệ mù chữ và không thông thạo tiếng Việt ở người dân tộc thiểu số cao, từ đó cản trở khả năng tương tác của họ
Nhiều người dân tộc thiểu số, đặc biệt là người già và phụ nữ, không biết đọc biết viết, thậm chí không biết nói tiếng Việt Điều này hạn chế khả năng tiếp cận và chia sẻ thông tin; đồng thời là trở lớn trọng tới năng lực của họ trong suốt cả cuộc đời
- Rào cản khác ngăn cản khả năng mở rộng năng lực là việc thiếu tính di chuyển
và ít kinh nghiệm hòa nhập về một thế giới rộng lớn Các dân tộc thiểu số và miền núi ít
Trang 13Sự khác biệt về ngôn ngữ
Trong "các cuộc thảo luận nhóm tập trung trên khắp cả nước, các nhóm dân tộc thiểu số thường bày tỏ rằng họ "không tự tin" và "e ngại" khi lui tới các khu chợ, đòi giá cao hơn cho hàng hóa của mình, đòi hỏi các dịch vụ của Chính phủ mà họ được quyền hưởng lợi" [33, tr.13]
Sự e ngại này cùng với những hạn chế về tiếp cận giáo dục đã khiến người dân
tộc thiểu số cảm thấy bị hạn chế về khả năng ngôn ngữ Cùng với đó, việc thiếu tính di chuyển cũng khiến cho họ ít kinh nghiệm và ít sẵn sàng tiếp cận với thế giới xung quanh
Một trở ngại nữa hạn chế việc tăng tiếng nói và quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số là lối suy nghĩ rập khuôn phổ biến hiển thị về sự kém cỏi của người dân tộc thiểu
số trong con mắt của những người khác Lối suy nghĩ rập khuôn này có thể dẫn tới những hậu quả xấu, đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tự trọng và sự tự tin của người dân tộc thiểu số trong việc sử dụng tiếng nói và quyền lực riêng của họ
Thay đổi nhận thức của số đông về người dân tộc thiểu số đòi hỏi phải chú ý đến
sự đại diện của các dân tộc thiểu số trong những công trình nhân học, đặc biệt trong các phương tiện truyền thông đại chúng
1.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI
1.2.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu, nhiệm vụ của công tác dân tộc và miền núi
1.2.1.1 Vị trí
Ngay từ khi mới ra đời, vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc được nhà nước ta đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng
Trang 14
ta đã đề ra chính sách dân tộc và công tác dân tộc phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và
đã đạt được những kết quả quan trọng
Cùng với sự phát triển của cách mạng, báo chí nước ta ngày càng khẳng định được vai trò là cầu nối tin cậy giữa Đảng với dân, dân với Đảng Nước ta có 54 dân tộc anh
em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số sống trải đều từ Bắc vào Nam Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi miền núi dân tộc thiểu số có tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Trong mọi thời điểm phát triển, Đảng và Nhà nước vẫn tập trung mọi nguồn lực để đầu tư phát triển miền núi và vùng đồng bào dân tộc
Cách mạng xã hội, đó là sự nghiệp của quần chúng Vì vậy, về cơ bản mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đến với các vùng và đồng bào các dân tộc là nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc phát huy được nội lực, phấn đấu vượt qua đói nghèo, vươn lên từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước
Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27-11-1989 "Về chủ trương chính
sách lớn phát triển kinh tế- xã hội miền núi" đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong
quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và miền núi, Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) đã có quyết định số 72/QĐ-HĐBT, ngày 13-3-1990 "Về một số chủ trương,
chính sách cụ thể phát triển KT-XH miền núi" quy định rõ những nội dung đổi mới cơ
cấu kinh tế và tổ chức sản xuất ở miền núi theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hóa phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc, gắn phát triển kinh tế với vấn
đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và củng cố an ninh, quốc phòng
Ngày 31 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số TTg về việc cấp một số loại báo, tạp chí của 17 tòa soạn báo được Chính phủ cấp kinh phí xuất bản để phát hành không thu tiền đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Ngày
1637/QĐ-20 tháng 7 năm 1637/QĐ-2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 975/QĐ-TTg thay thế Quyết định 1637 nhưng nội dung không thay đổi Đến nay, các báo, tạp chí phục vụ riêng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc diện thụ hưởng của Quyết định 975 đang phát huy hiệu quả tuyên truyền, được đồng bào ghi nhận
Trang 15
Có thể nói, thông tin nói chung và thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cơ quan báo chí và
sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân
Cả trong thời kỳ chiến tranh và trong thời kỳ đổi mới hiện nay, thông tin về lĩnh vực này luôn được coi trọng góp phần rút ngắn khoảng cách giữa miền ngược và miền xuôi Thông tin giúp đồng bào nắm bắt được chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhanh chóng xóa đói, giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu,…
1.2.1.2 Vai trò
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta trên cơ sở nguyên lý của chủ nghĩa Mác -Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh đã coi trọng vấn đề dân tộc, coi đây là một bộ phận quan trọng của
sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi công tác dân tộc thiểu số là một phần hữu cơ, có vai trò quan trọng của cách mạng Việt Nam
Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2003)
đã đánh dấu một bước ngoặt lớn về đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về dân tộc
miền núi Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định: "Vấn đề
dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển" [23, tr.127]
Văn kiện Đảng khóa X đã khẳng định lại quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc, miền núi trong thời kỳ mới:
Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy
Trang 16
bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Thực hiện tốt chiến lược phát triển KT-XH ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế mới Quy hoạch, phân bố, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với đảm bảo an ninh, quốc phòng Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tri thức là người dân tộc thiểu số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kỳ thị hẹp hòi chia rẽ dân tộc [54]
Nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào: hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh việc dạy và học tiếng dân tộc Hầu hết đồng bào nghèo vùng sâu, vùng xa được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe; tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng dân tộc Phấn đấu 90% đồng bào được xem truyền hình; 100% được nghe đàiphát thanh; các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu
số được bảo tồn và phát triển [6]
Thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết nêu nhiệm vụ:
Trang 17tộc [6]
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã nêu: "Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số" [25, tr, 214]
Những năm gần đây, việc nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần cho nhân dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được Đảng và Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm hơn, thể hiện trong việc ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách, xây dựng và phát triển bộ máy ngành văn hóa-thông tin, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất
và phát triển các loại hình văn hóa Chủ trương phủ sóng phát thanh, truyền hình được triển khai khắp các địa phương miền núi, kể cả các vùng xa xôi hẻo lánh
Hiện nay, tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt hơn 90% lãnh thổ, truyền hình khoảng 85% Các xã miền núi được trang bị các thiết bị thông tin hiện đại như video, máy thu hình, thu thanh, điện thoại, intơnet… và có thêm nhiều loại hình văn hóa truyền thống phù hợp với nhân dân các dân tộc; mở rộng chương trình phát thanh, truyền hình bằng nhiều thứ tiếng phù hợp với nguyện vọng đông đảo của đồng bào các dân tộc
Bằng sự nỗ lực của các cơ quan báo chí dưới sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, công tác thông tin về đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn miền núi Mục tiêu của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi rất rõ, đó là ngày càng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào
1.2.1.4 Nhiệm vụ
Chăm lo cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số là trách nhiệm và nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Đây là yêu cầu tất yếu nhằm bồi dưỡng lực lượng cách
Trang 18Sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc luôn được Đảng và Bác Hồ quan tâm và coi trọng
Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam năm 1946, Bác viết:
Đồng báo Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau,
no đói giúp nhau…Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt [49]
Khẳng định vai trò và nhiệm vụ của báo chí trong sự nghiệp đổi mới, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ:
Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng Báo chí, xuất bản… làm tốt chức năng tuyên truyền, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội; giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán các hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhân tố lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái; coi trọng, nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu của thông tin[32]
Trang 19
1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi dân tộc và miền núi có tầm chiến lược quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới của đất nước
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (ngày 27-11-1989) "Về chủ trương chính sách lớn
phát triển KT-XH miền núi" đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức
thực hiện chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước; đồng thời đưa ra các quan điểm, chủ trương, đường lối cho việc phát triển KT-XH vùng dân tộc và miền núi
Thể chế hóa Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị 525/CT - TTg "Về một số chủ trương, biện pháp tiếp tục phát triển KT-XH miền núi" nhằm thúc đẩy việc thực hiện Nghị quyết 22, Quyết định 72 và quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) về
"Đổi mới và phát triển KT-XH nông thôn"
Khẳng định những nội dung cơ bản của chính sách dân tộc, miền núi trong sự nghiệp đổi mới, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX tiếp tục coi vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước…bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc Thực hiện cho được ba mục tiêu là xóa đói giảm nghèo, ổn định và cải thiện cuộc sống, sức khỏe đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy được bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, xây dựng cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh
Thực hiện các định hướng phát triển vùng của chiến lược 10 năm 2001 - 2010 và các Nghị quyết của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển các vùng, Nghị quyết Đại hội X nêu rõ:
Có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển các vùng khó khăn, nhất là các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Bổ sung chính sách khuyến khích các doanh
Trang 20
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư, kinh doanh ở vùng khó khăn [25, tr.225]
Về chủ trương xóa đói giảm nghèo, tại Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định:
Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH và trợ giúp
về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách của Nhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn
xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là đối với những vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tình trạng tái nghèo
Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đặc biệt về trợ giúp đầu tư phát triển sản xuất, nhất là đất sản xuất; trợ giúp đất ở, nhà ở, nước sạch, đào tạo nghề và tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo [25, tr 217]
Trên cơ sở đường lối của Đảng về miền núi và dân tộc, báo chí đã cố gắng tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc về phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phù hợp với đặc điểm, điều hiện từng vùng, đảm bảo cho đồng bào khai thác ngày càng hiệu quả thế mạnh của địa phương, làm giàu cho mình và đóng góp tích cực vào sự nghiệp của đất nước trong thời kỳ đổi mới
Báo chí đã thông tin đầy đủ về những chính sách ưu tiên cho miền núi, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển giáo dục và đào tạo, coi trọng đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số Đồng thời, tuyên truyền rộng rãi trong đồng bào, giúp họ thấy, họ hiểu và họ phát huy tốt hơn nữa những giá trị văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam
và của từng dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; góp phần vào việc xây dựng giữ gìn nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập
Đối với lĩnh vực an ninh quốc phòng, Đảng, Nhà nước ta khẳng định sức mạnh quốc phòng, an ninh phụ thuộc trước hết vào sự ổn định chính trị, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới; bảo vệ tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân…Do đó, thực hiện đầy đủ chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực an
Trang 21
ninh quốc phòng chính là tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc trên địa bàn đồng bào dân tộc
1.2.3 Yêu cầu của thông tin đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Từ mục tiêu, nhiệm vụ trên, thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số cần đáp ứng những yêu cầu sau:
- Đảm bảo đúng quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
- Đảm bảo tính chính xác kịp thời
- Phát huy thế mạnh tổng hợp trên hai lĩnh vực: Thông tin nhanh nhạy, chính xác, phương tiện thông tin phong phú: báo in, báo nói, báo hình
- Đáp ứng nhu cầu của đồng bào: giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu
- Thông tin về chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình chung cho đối tượng là đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa
- Thông tin về dân tộc và miền núi cho khán giả trong và ngoài nước
Báo chí cần có định hướng rõ ràng, xác định nội dung cần phản ánh, đúng thời điểm, đúng thời lượng, nhằm đạt hiệu quả cao khi thông tin về dân tộc thiểu số và miền núi Trong thời điểm hiện nay nội dung thông tin phục vụ đồng bào cần làm tốt một số yêu cầu cụ thể:
- Khẳng định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trước sau như một, bình đẳng, đoàn kết các dân tộc, tôn trọng tự do tín ngưỡng, giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền trên phạm
vi cả nước
- Khẳng định những thành tựu mà Đảng và Nhà nước đã mang lại cho miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Thành tựu đó thể hiện trên các mặt chính trị, KT-
XH Nhờ các chương trình dự án của Nhà nước mà diện mạo nông thôn miền núi đã có
sự khởi sắc nhất định Đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào từng bước được nâng cao
- Phản ánh kết quả các chương trình phát triển kinh tế của miền núi, vùng dân tộc, đặc biệt là chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình phát triển y tế, giáo dục, văn hóa
Trang 22
- Biểu dương đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, hoặc người Kinh lên công tác miền núi, vùng dân tộc thiểu số, biểu dương các điển hình trong sản xuất và xây dựng cuộc sống mới của đồng bào dân tộc
- Nêu cao vai trò của cơ sở đảng, các tổ chức đoàn thể quần chúng
- Cùng với việc biểu dương, báo chí cần phê phán những mặt hạn chế, tiêu cực ở miền núi và vùng dân tộc: nạn phá rừng, di dân tự do, các tệ nạn xã hội, mê tín, tà đạo Phê phán đúng mức các hiện tượng tiêu cực trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc
và các dự án phát triển KT-XH ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số
- Phê phán vạch trần những luận điệu, vu cáo, xuyên tạc, kích động gây rối của các thế lực thù địch đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
1.2.4 Đài Truyền hình Việt Nam với công tác thông tin, tuyên truyền về dân tộc thiểu số và miền núi
1.2.4.1 Những tác động của báo chí đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta
Nhiều năm qua, báo chí nước ta đã góp phần tích cực vào nhiệm vụ nâng cao trình
độ dân trí, nhận thức và phổ biến kiến thức cho đồng bào vùng dân tộc miền núi Hiện nay, đồng bào các dân tộc ở miền núi rất coi trọng thông tin báo chí trên các tờ báo, tạp chí; các chương trình phát thanh, truyền hình… Đối với họ báo chí chỉ nói những điều đúng, điều tốt đẹp, vừa là người bạn vừa là người thầy rất gần gũi
Báo chí đã định hướng, tăng cường thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức, phổ biến kiến thức phổ thông góp phần thay đổi mặt bằng dân trí, xóa bỏ sự cách biệt giữa miền núi và đồng bằng Con em đồng bào được đến trường Tỷ lệ người đọc thông viết thạo tiếng phổ thông ngày càng cao Tỷ lệ mù chữ của đồng bào đã giảm hẳn Sự thay đổi đã hiện rõ trong cuộc sống đời thường của bà con như nằm ngủ phải mắc màn, biết cách phòng và chống các bệnh đơn giản, có hiểu biết về sinh sản và dinh dưỡng; biết tiếp thu kiến thức chăn nuôi, trồng trọt,… biết áp dụng vào thực tế
Những thành công của công tác thông tin tuyên truyền báo chí đã góp phần ổn định tình hình chính trị, an ninh quốc phòng ở vùng dân tộc miền núi Các vấn đề dân tộc, tôn giáo, xung đột sắc tộc… đã được giải quyết và tự giải quyết Đặc biệt, những âm mưu
Trang 23Cùng với việc tăng thời lượng, chương trình, mở rộng phạm vi phát sóng, mở rộng phạm vi phát hành báo chí đưa thông tin kịp thời phục vụ đồng bào các dân tộc thiểu số, các cơ quan báo chí đã quan tâm đến hình thức thể hiện chương trình, nội dung và chất lượng thông tin Các tin, bài, phóng sự đã hướng tới nhóm độc giả đặc thù Từ đó khẳng định sự đúng đắn và thành công của quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi
Nhờ được tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông, trong đó có vai trò đặc biệt của truyền hình, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng - Nhà nước; thực hiện đúng pháp luật và biết cách làm kinh tế, vượt đói nghèo, từng bước nâng cao mức sống cho chính gia đình họ
Với đồng bào các dân tộc thiểu số, truyền hình tiếng dân tộc như một món ăn tinh thần không thể thiếu Chương trình truyền hình đã phát bằng tiếng của dân tộc họ Ngoài vấn đề tiếng nói được tôn trọng, bình đẳng, điều quan trọng hơn là nội dung các chương trình tiếng dân tộc đã truyền tải giúp họ tiếp thu thuận lợi hơn Họ nghe và hiểu dễ hơn so với tiếng phổ thông
1.2.4.2 Sự hình thành và phát triển của Chương trình truyền hình tiếng dân tộc trên sóng truyền hình Việt Nam
Tuyên truyền phục vụ miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số được Đài THVN xác định là một nội dung quan trọng trong nhiệm vụ thông tin Ngay từ những ngày đầu thành lập, phóng viên truyền hình Việt Nam đã hòa mình cùng nhân dân cả nước trong đó có
Trang 24Đầu năm 2003 Chương trình truyền hình tiếng dân tộc thuộc Đài THVN chính thức trở thành một ban riêng lấy tên là Ban truyền hình tiếng dân tộc Sau khi thành lập, Ban đã từng bước xây dựng kiện toàn bộ máy tổ chức tập trung vào công tác biên tập, cải tiến nội dung và nâng cao chất lượng chương trình Tháng 03-2003 tất cả các chương trình phát sóng trên kênh VTV5 đã có phụ đề tiếng Việt Khi xem chương trình của dân tộc khác có phụ đề tiếng Việt, đồng bào đều có thể hiểu được những nội dung chính Hiệu quả chương trình được nâng nên một bước Đồng bào dân tộc rất phấn khởi, mong muốn được xem truyền hình dân tộc với thời lượng nhiều hơn
Tháng 01-2004, kênh VTV5 được tách hẳn thành một kênh độc lập, đánh dấu bước phát triển mới của Ban Thời lượng chương trình tăng gấp đôi, từ 4h/ngày lên 8h/ngày, phát sóng bằng 11 thứ tiếng Do có sự sắp xếp lại nhân sự, đội ngũ phóng viên, biên tập viên chuyên trách về mảng dân tộc miền núi, nên chương trình đã phát huy được hiệu quả từng, bước nâng cao chất lượng chương trình
Được Chính phủ phê duyệt, năm 1995 Đài THVN đã triển khai chương trình truyền hình bằng các thứ tiếng dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền Trung và miền Tây Nam Bộ Trong điều kiện khó khăn về giao thông, phương tiện kỹ
thuật, nguồn điện không ổn định…song, với quyết tâm phục vụ đồng bào, dự án "Đưa
truyền hình về vùng núi, vùng cao" đã cấp được gần 36 nghìn máy thu hình cho 4000
nghìn xã và trang bị cho trên 180 điểm xem TVRO, đạt gần 70% kế hoạch Dự án "Phủ
sóng truyền hình vùng lõm" đã xây dựng được gần 300 trạm phát lại truyền hình cho 43
tỉnh, cung cấp hàng chục nghìn máy thu hình cho bà con Mục tiêu của dự án đến năm
2010, sẽ phủ 100% sóng truyền hình trên cả nước
Trang 25
Năm 2005, thời lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc là 10h/ngày Năm 2006: 14h/ngày Năm 2007: 14h/ngày với 13 thứ tiếng Năm 2008: phát sóng trên VTV5 16h/ngày
Từ ngày 01-01-2006 đến nay, VTV5 tiếp tục tăng thời lượng phát sóng lên 12 giờ/ngày (tăng 2 giờ/ngày so với năm 2005 và gấp 3 lần so với giai đoạn phát sóng thử nghiệm) Song song với việc tăng thời lượng, chất lượng chương trình cũng được từng bước cải tiến Nội dung chương trình ngày càng sát với đời sống thực tế của bà con dân tộc thiểu số
Hiện nay, ngoài chương trình truyền hình bằng tiếng phổ thông, một số vùng có đồng bào dân tộc, nhiều đài phát thanh - truyền hình địa phương, Đài THVN thường trú tại các khu vực đã tổ chức sản xuất và phát sóng các chương trình bằng tiếng dân tộc
Thông qua các chương trình truyền hình tiếng dân tộc, bà con học tập và làm theo truyền hình nên đã góp phần nâng cao hiệu quả về các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội cũng như an ninh quốc phòng Nhiều điển hình tiên tiến, nhiều gương người tốt việc tốt là đồng bào dân tộc thiểu số có tác dụng động viên rất lớn trong cộng đồng
Theo lộ trình phát triển của kênh VTV5 thì thời lượng chương trình sẽ tăng như sau: Năm 2007: 14 giờ/ngày; Năm 2008: 16 giờ/ngày; Năm 2009 đến 2010: 18 giờ/ngày với 15 thứ tiếng: Khơmer, Chăm, Ê đê, J Rai, Ba Na, K'Ho, Xê Đăng, S'Tiêng, Thái, Mường, Dao, M'Nông, K'Tu, H'rê và không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng chương trình Tất cả các chương trình đều có phụ đề tiếng Việt để đồng bào xem và hiểu được hoạt động của các dân tộc anh em
Song song với nội dung trên, Ban truyền hình tiếng dân tộc còn có các chương trình tiếng phổ thông như Bản tin Dân tộc trên kênh VTV5, Sắc màu văn hoá các dân tộc (gọi tắt
là Sắc màu văn hoá) trên sóng VTV2, và Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển trên kênh VTV1
Để có được thời lượng phát sóng như trên, VTV5 căn cứ vào 3 nguồn sản xuất chương trình:
Một là: chương trình do phóng viên VTV5 trực tiếp sản xuất Lực lượng phóng viên
này chủ yếu sản xuất tin bài cho Bản tin dân tộc, Tạp chí VTV5 và đặc biệt là hai chương
Trang 26
trình tiếng phổ thông trên các kênh quảng bá VTV1, VTV2 Tất cả các sản phẩm báo chí phát sóng sau đó đều được dịch ra các thứ tiếng dân tộc để trình chiếu cho đồng bào theo dõi trên VTV5 Đây có thể coi là nguồn sản xuất chương trình quan trọng nhất mang lại
“bản sắc” riêng cho VTV5, khẳng định uy tín của một kênh truyền hình mà khi lần đầu được nghe nhiều người xem ra ái ngại Hiện nay, phóng viên truyền hình dân tộc VTV5 đã
có được những thành công nhất định Nhiều chương tình phát sóng được đánh giá cao, có phản hồi tích cực từ khán giả Bên cạnh đó có lực lượng phóng viên của Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế, Phú Yên tham gia
Hai là: chương trình do đài PT-TH các địa phương thuộc dự án, cộng tác theo chỉ
đạo và đặt hàng về nội dung của VTV5
Ba là: Khai thác, biên tập và biên dịch những chương trình phát sóng trên các kênh của
VTV có nội dung phù hợp với các vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Tiểu kết chương 1
Thông tin, tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từ lâu được Đảng, Bác Hồ, đội ngũ làm báo và đông đảo nhân dân quan tâm Thông tin giúp đồng bào nắm bắt kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Tuyên truyền những chương trình, dự án của Nhà nước hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để đồng bào thấy được sự quan tâm đầu tư từ Trung ương, sự giúp đỡ của toàn xã hội nhằm nâng cao hơn nữa đời sống, từng bước xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
Báo chí là kênh thông tin quan trọng chuyển tải tâm tư, nguyện vọng của đồng bào tới Đảng và Nhà nước Thông tin báo chí giúp đồng bào nhận rõ âm mưu thâm độc của
kẻ thù, là chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xúi giục đồng bào làm điều xấu, trái pháp luật…
Truyền hình có ưu thế đặc biệt truyền thông tin nhanh, nhạy, kịp thời các sự kiện trong nước và quốc tế, có sức lôi cuốn lớn đối với khán giả trong phạm vi không gian rộng lớn và có sức truyền cảm lớn Truyền hình tiếng dân tộc nói riêng và truyền hình nói chung là phương tiện thông tin tuyên truyền đại chúng có nhiệm vụ quan trọng tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Trang 27
Truyền hình tiếng dân tộc có bước đi phù hợp, cơ bản đạt được mục tiêu ban đầu
mà Chính phủ đã giao cho Đài THVN
Chương 2 KHẢO SÁT CHƯƠNG TRÌNH TẠP CHÍ DÂN TỘC
Năm 2006, chương trình đổi tên thành Tạp chí Dân tộc và Phát triển Đến tháng 11-2006, lãnh đạo đài đã giao Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển từ Ban Chuyên
đề cho Ban truyền hình tiếng dân tộc đảm nhiệm
Đến nay Chương trình đã dần khẳng định được vị thế, vai trò, sự tác động đối với khán giả, nhất là đồng bào các dân tộc và những người làm công tác dân tộc Từ tháng 01-2005 đến tháng 12-2007, thời lượng chương trình tăng từ 15 đến 30 phút phát sóng trên kênh VTV1 Đồng thời, lãnh đạo Đài quyết định xây dựng chương trình theo tiêu chí thể loại tạp chí, khuyến khích người sản xuất chương trình chủ động sáng tạo, tìm tòi hình thức thể hiện trong mỗi chương trình sao cho phong phú, hấp dẫn và phù hợp với đối tượng dân tộc thiểu số và miền núi
Đầu năm 2008, do có sự điều chỉnh sắp xếp lại toàn bộ chương trình của đài, nhằm giảm bớt chi phí sản xuất, nâng cao hơn nữa chất lượng chương trình và tăng thêm nguồn thu từ quảng cáo; chương trình đã bị lãnh đạo Đài cắt giảm thời lượng từ 30 phút xuống còn 25 phút Thời điểm phát sóng được bố trí vào 18h tối ngày thứ 2 hàng tuần và phát
Trang 28
lại 11h30 phút ngày tiếp theo trên sóng VTV1 Mặc dù có vài lần thay đổi giờ phát sóng, nhưng cuối cùng chương trình vẫn giữ được khung giờ trên Hiện nay, chương trình được phát cố định vào 15h chủ nhật hàng tuần và phát lại vào 16h30’ ngày thứ 3 của tuần kế tiếp
2.1.1 Kết cấu chương trình
Ngày mới ra đời, chương trình có kết cấu (format) gồm 4 phần: Tin tức, sự kiện (3-5 phút); Nét đẹp bản làng (4-5 phút); Chuyện kể già làng (5 phút) và Từ chính sách đến thực hiện (15-18 phút)
Sau khi chuyển về Ban truyền hình tiếng dân tộc (tháng 11-2006), kết cấu chương trình đã thay đổi, tập trung nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền theo hướng một format mở, sao cho phù hợp nhất với đối tượng đặc thù là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Làm theo cách này, chương trình được cải tiến Báo cáo tổng kết công tác năm
2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008 của Ban truyền hình tiếng dân tộc khẳng định:
“Các chương trình đã phát sóng đều đề cập đến vấn đề đồng bào quan tâm Vấn đề ấy được nêu lên, lý giải cặn kẽ, có sức thuyết phục và ghi lại được nhiều ý kiến cụ thể từ người dân ở các bản làng, phum sóc."…
Hiện nay, Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển của Ban truyền hình tiếng
dân tộc gồm 3 phần: Từ chính sách đến cuộc sống; Gương sáng giữa cộng đồng; Giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa
- Phần 1: Từ chính sách đến cuộc sống
Đây là nội dung chính của mỗi chương trình phát sóng Phần này được thể hiện dưới dạng chuyên mục: phóng sự, ý kiến nhà quản lý, những người trong cuộc về những vấn đề mang tính thời sự đang diễn ra tại vùng đồng bào dân tộc, dẫn hiện trường… mang đậm tính chính luận, thái độ khen, chê rõ ràng Tuy nhiên, không vì thế mà chương trình khô cứng, khó hiểu; ngược lại, chương trình thể hiện theo lối kể chuyện Từ những chi tiết, những câu chuyện, những ví dụ cụ thể để bàn bạc, phân tích, phóng viên nâng vấn đề lên một mức cao hơn, có tính khái quát và tính chính luận sâu sắc Điều này giúp cho bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiếp cận, nắm bắt và xử lý thông tin một cách đúng mực nhất
Trang 29
- Phần 2: Gương sáng giữa cộng đồng
Phần này chủ yếu nêu chân dung về một gương sáng người dân tộc Hình thức thể hiện linh hoạt, gần gũi và dễ hiểu Chẳng hạn như làm kinh tế giỏi, làm tốt công tác vận động quần chúng, xóa hủ tục lạc hậu, ma túy, nghiện hút…
- Phần 3: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
Là phần thông tin giới thiệu về nét đẹp văn hóa, vùng đất, con người, phong tục tập quán, trang phục, ngôn ngữ… của đồng bào các dân tộc trên phạm vi cả nước Mục này góp phần giữ gìn và xây dựng nền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
Bảng 2.1 Ý kiến khán giả nhận xét chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển trên kênh VTV1 (phụ lục 1)
V
ới kết cấu trên đây, chươn
g trình theo kiểu thể loại tạp chí được phát sóng hàng tuần nhằm tuyên truyền, phổ biến tốt hơn và hiệu quả hơn chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa
Tạp chí cung cấp cho người xem truyền hình bức tranh toàn cảnh về những vấn đề dân tộc và miền núi; về những khó khăn cần có lời giải đáp Cùng với việc phản ánh những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước khi đi vào cuộc sống, nêu gương điển hình tiên tiến, tạp chí cũng giới thiệu nét đẹp văn hóa mang tính bản sắc của từng dân tộc đến với quảng đại quần chúng Giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa của các
Trang 30
dân tộc, góp phần nâng cao dân trí, tiến tới văn minh, hiện đại hòa nhập nhưng không hòa tan
Với thời lượng mỗi tuần hơn 25 phút, Tạp chí trở thành điểm hẹn cho tất cả những
ai quan tâm đến vấn đề dân tộc và miền núi Chương trình có ý nghĩa thiết thực với bà con vùng dân tộc Qua đây, họ nắm bắt được những chính sách mới, những kiến thức làm giàu, tìm hiểu được nét đẹp truyền thống và bản sắc văn hoá của 54 dân tộc Việt Nam
Mục tiêu của Tạp chí nhằm xây dựng chương trình trở thành cầu nối thông tin giữa Đảng với dân, với đồng bào dân tộc Có thể coi Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển là diễn đàn, là tiếng nói của đại gia đình các dân tộc Việt Nam
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất
- Về cơ cấu tổ chức
Như đã nêu ở trên, Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển thuộc Ban truyền hình tiếng dân tộc Theo quyết định thành lập của Đài THVN, Ban truyền hình tiếng dân tộc có trụ sở chính tại Đài Ban gồm một trưởng ban, hai phó ban Có 12 phóng viên, trong đó có 6 nữ và 6 nam Sự phân chia tỷ lệ gần 50 – 50 theo giới tính như vậy đã tạo
sự cân bằng trong cơ cấu nhân sự, giúp phóng viên có thể hỗ trợ, giúp đỡ nhau tác nghiệp thuận lợi Phóng viên VTV5 được phân công sản xuất các chương trình phù hợp với khả năng và cách suy nghĩ, tư duy của mình Chẳng hạn, phóng viên nữ với lối viết mềm mại, giàu hình ảnh sẽ được phân công làm các chương trình về văn hoá Còn phóng viên nam chủ yếu sản xuất các tác phẩm mang tính chính luận cao, cần tư duy sắc xảo, các dẫn chứng thuyết phục, mạnh mẽ, quyết liệt
Về độ tuổi, hầu hết đều còn rất trẻ Người ít tuổi nhất sinh năm 1986 và lớn tuổi nhất sinh năm 1960 Có 4 phóng viên, sinh vào những năm 70, còn lại đều đang trong độ tuổi đôi mươi Điều này tạo ra “sức trẻ” cho lực lượng sản xuất chương trình Họ có sức khoẻ, có trí tuệ, có niềm đam mê nghề và có bầu nhiệt huyết nóng hổi của thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, không ngừng hoàn thiện mình Sức trẻ được thể hiện trong mỗi tác phẩm
mà họ sáng tạo, qua mỗi chuyến thâm nhập thực tế sản xuất chương trình Họ thể hiện bản lĩnh, khả năng, quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành tốt các nhiệm vụ
Trang 31-Về cơ sở vật chất
Là một ban trực thuộc Đài THVN, nên được đầu tư khá tốt về cơ sở vật chất và phương tiện làm việc Trụ sở của ban (cũng như các ban khác trực thuộc Đài THVN) được xây dựng khang trang Thiết bị làm việc như máy vi tính, máy quay, bàn dựng… được Đài trang bị đầy đủ, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của công việc
Phương tiện công tác được cơ quan đáp ứng nếu thấy hợp lý và cần thiết
Cơ sở vật chất của ban đầy đủ, đáp ứng yêu cầu làm việc của phóng viên, biên tập viên Đây là một lợi thế lớn dành cho những người trực tiếp sản xuất Chương trình Tạp chí
Dân tộc và Phát triển, nhằm hướng tới mục tiêu cao nhất là đảm bảo chất lượng tác phẩm
2.1.3 Kỹ năng tiếp cận thiết bị, công nghệ và truyền dẫn
Khả năng tiếp cận các ứng dụng công nghệ của phóng viên truyền hình tiếng dân tộc cũng có thể được coi như một thế mạnh của họ Những ứng dụng công nghệ mới nhất, phù hợp với đặc thù tác nghiệp, đem lại hiệu quả cao đều được phóng viên, nghiên cứu khai thác và nhanh chóng nắm bắt để sử dụng thành thạo
Trang tác nghiệp www.truyenhinhdantoc.info đóng vai trò rất lớn trong quá trình sản xuất chương trình của các phóng viên Tất cả công việc chuyên môn nghiệp vụ đều diễn ra trên trang web này Hoạt động của phóng viên đều được hiển thị trên trang Từ kế hoạch công tác, nội dung tác nghiệp, tin, bài, trao đổi nghiệp vụ đến lịch máy quay, lịch bàn dựng, lịch họp phòng, biên bản họp phòng, quy chế phòng Sản xuất chương trình, các mẫu văn bản cần thiết, nhận xét đánh giá chương trình, lịch phát sóng VTV5 đều được thể hiện trên mạng
Trang 32Trang web tác nghiệp www.truyenhinhdantoc.info thiết thực phát huy tác dụng của công nghệ khi hai mục: Quản lý tư liệu và quản lý băng đi vào hoạt động, mang lại hiệu quả rõ rệt Đây là “kho tư liệu” lớn và đầy đủ, quy tụ toàn bộ lượng băng tư liệu của truyền hình tiếng dân tộc, tạo thuận lợi tìm kiếm và sử dụng tư liệu Phóng viên cần tư liệu về vấn đề gì, chỉ cần vào hai mục này, có thể biết ngay được mã số ký hiệu băng cần tìm, thời lượng băng, nội dung đề cập, địa phương ghi hình, phân cảnh, số cụm cảnh chính Kèm theo đó là toàn bộ tác phẩm hoàn chỉnh
Mỗi phóng viên của ban đều có laptop riêng cài phần mềm dựng Adobe Premiere 2.0 để chủ động dựng thô tin bài, giúp tiết kiệm thời gian, giảm áp lực cho phòng kỹ thuật mà lại chọn lựa được hình ảnh theo đúng ý đồ của tác giả Kỹ thuật dựng chỉ kết nối, hoàn thiện các kỹ xảo (nếu có) hay tinh chỉnh các thông số cho đảm bảo chất lượng
âm thanh, hình ảnh Hiện nay, 70 - 80% số lượng tin bài là do các phóng viên tự dựng Việc này góp phần làm tăng kỹ năng tư duy hình ảnh của phóng viên
Mỗi khi đi công tác, phóng viên có thể gửi tin, bài mang tính thời sự nóng hổi qua mạng về đài phát sóng Chủ động dựng tin bài như vậy, phóng viên độc lập tác nghiệp,
có thể tận dụng thời gian để hoàn thành công việc, nâng cao hiệu suất lao động Bản thân mỗi phóng viên sẽ tác nghiệp một cách chuyên nghiệp nhất, chủ động thực hiện toàn bộ quy trình sản xuất một tác phẩm báo chí truyền hình qua các công đoạn, ý tưởng kịch bản, đạo diễn ghi hình, dựng bài, đọc bài, nộp băng phát sóng trong khoảng thời gian ngắn nhất
Hiện nay, truyền hình tiếng dân tộc có một sever lưu trữ1200 giờ phim, vừa để quản lý khai thác những thước phim tư liệu quý giá (bên cạnh các thước phim được lưu theo cách thông thường là vào băng và vào đĩa), vừa để các phóng viên khi hoàn thành
Trang 33và kết nối phát sóng
Đây là một cách làm hay, thể hiện được tầm tư duy mới mẻ, sự mạnh bạo cải tiến
kỹ thuật của những người làm truyền hình tiếng dân tộc, không ngừng đổi mới, hoàn thiện quy trình sản xuất Ứng dụng thành công tiến bộ kỹ thuật công nghệ phi tuyến tính
và tin học vào việc nâng cao kỹ năng tác nghiệp và sản xuất chương trình nhằm hướng tới mục tiêu cao nhất là đảm bảo chất lượng tác phẩm
2.2 VỀ NỘI DUNG PHẢN ÁNH CHƯƠNG TRÌNH
Đối với Chương trình Tạp chí này, ngay từ tên gọi đã cho thấy, đây là chương trình lấy thể loại chính luận, phản ánh và phóng sự làm chủ đạo
Bảng 2.2: Ý kiến khán giả xem truyền hình về mức độ quan tâm tới chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển và nhận xét về nội dung chương trình (phụ lục 1)
Mức độ theo dõi chương trình Nội dung chương trình
Xác định đúng đối tượng chính xem truyền hình là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã quy định nội dung và cách thể hiện của chương trình Đối tượng phục vụ của chương trình, phần lớn do trình độ còn nhiều hạn chế, nên ngoài các tiêu chí khác, thì thể hiện sao cho "câu chữ dễ hiểu, hình ảnh rõ nét, ngôn ngữ phù hợp" là yêu cầu bắt buộc
Trang 34
Thực tế cho thấy, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, lối viết dài dòng ít mang lại hiệu quả Đồng bào cần ngắn gọn, dễ hiểu, thiết thực Có vậy đồng bào mới dễ nhớ nội dung và không ngại xem truyền hình tiếng dân tộc
2.2.1 Đề tài phản ánh
Đề tài tạo cảm hứng vô tận của hoạt động sáng tạo báo chí trước cuộc sống Đó là những vấn đề, những sự kiện mới xẩy ra, những xung đột, những cái mới vừa phát sinh… Chỉ khi biết xác định và khoanh vùng phạm vi đề tài phản ánh, tác phẩm báo chí mới đạt được các chức năng thông tin tuyên truyền được giao Đó là định hướng, điều chỉnh hành
vi và nhận thức, làm tốt chức năng giáo dục, thẩm mỹ… Đề tài là phạm vi đời sống hiện thực được phản ánh vào tác phẩm
Đề tài của báo chí truyền hình không nằm ngoài phạm vi phản ánh hiện thực, nhưng nó có cách thể hiện riêng mang tính đặc thù của loại hình báo chí này Đề tài về dân tộc miền núi được phản ánh thường xuyên, ngoài những thông tin về đường lối, chính sách liên quan đến miền núi là những vấn đề được phát hiện, khai thác ở các địa phương
Qua khảo sát, từ tháng 05-2008 đến tháng 05-2009, Chương trình Tạp chí Dân tộc
và Phát triển đã phát sóng 52 chương trình với nhiều chủ đề khác nhau Tỷ lệ phân chia chương trình phát sóng do VTV5 sản xuất với các Trung tâm truyền hình khu vực là 60 - 40% trong một năm Nghĩa là trong số 52 chương trình sản xuất được phát song, có 30 chương trình là do phóng viên của Ban truyền hình tiếng dân tộc trực tiếp thực hiện, 22 chương trình còn lại do đài khu vực và địa phương sản xuất
Thống kê số liệu chương trình đã khảo sát cho thấy, các đề tài chủ yếu Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển đề cập là: chính trị, kinh tế và văn hóa xã hội Trong
đó, chính trị là 27%, kinh tế 33%, văn hóa - xã hội 29% còn lại là các đề tài khác Đây là
tỷ lệ phù hợp với đối tượng xem truyền hình là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Những thông tin về sự kiện chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được đội ngũ phóng viên biên tập viên của chương trình xử lý đề tài, phản ánh một cách mềm hóa, uyển chuyển Điều đó giúp người xem bớt nặng nề, nhàm chán và khô cứng
Trang 35
Vấn đề này được thể hiện trong chuyên mục: "Từ chính sách đến cuộc sống"
Chương trình về mảng đề tài này đề cập đến những chính sách lớn, có ý nghĩa và tác động lớn đối với đồng bào miền núi, tiếp đó đi sâu từng vấn đề cụ thể sát với thực tế người dân khu vực thuộc diện 61 huyện nghèo nhất cả nước Chuyên mục có thời lượng gần 15 phút với một hoặc vài phóng sự kết nối với nhau theo một chủ đề
Những phóng sự (PS) đã thực hiện như: "Cuộc sống của người dân vùng đệm" phát
sóng chương trình ngày 22-5-2008; "Giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc",
phát sóng chương trình ngày 03-8-2008; "Đổi thay ở Kon Tom", phát sóng chương trình ngày 29-5-2008; "Hỗ trợ 5 dân tộc ít người", phát sóng chương trình ngày 21-6-2009; "khó
khăn trong phổ biến pháp luật ở vùng cao" phát sóng chương trình ngày 22-7-2008; "Làm gì
để có mùa bão lũ an toàn" phát sóng chương trình ngày 8-11-2008; " Giải pháp cho 61 huyện nghèo nhất nước" chương trình phát sóng ngày 09-20-2008; "Di dân tự do thực trạng và giải pháp" chương trình phát sóng ngày 01-11-2008; "Ổn định dân cư tại các vùng thiên tai"
chương trình phát sóng ngày 11-12-2008; "Củng cố hệ thống chính trị ở Tây Nguyên", chương trình phát sóng ngày 13-01-2009; "Quyết định 74 với công tác xóa đói giảm nghèo",
chương trình phát sóng ngày 3-3-2009
Song song với các đề tài phát triển KT-XH, đề tài về cơ sở hạ tầng cũng được khai
thác, phản ánh kịp thời Đó là những PS "Đẩy mạnh giảm nghèo từ chương trình 135 giai
đoạn II", phát sóng ngày 12-06-2008; "Hiệu quả và bất cập từ các công trình dân sinh miền núi", phát sóng ngày 30-9-2008; "Phát triển giao thông miền núi, những khó khăn từ thực tế", phát sóng ngày 22-04-2009; "Tuyên Quang phát triển kinh tế bền vững", phát sóng ngày
02-05-2009; "4 năm thực hiện chương trình 134 của Chính phủ" phát sóng ngày 25-05-2009
…
Đề tài văn hóa cũng được chú ý sản xuất phát sóng Qua khảo sát cho thấy, mảng văn hóa xã hội của Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển chiếm 29% So với một kết quả khảo sát năm 2005, thì hiện nay mảng này đã tăng lên 6% Tỷ lệ này chứng tỏ, lĩnh vực văn hóa - xã hội được Chương trình Tạp chí phản ánh nhiều hơn Lĩnh vực có sức cuốn hút được đồng bào quan tâm, yêu thích Có hơn 60% ý kiến nhận xét chương
trình: hay Nội dung về đề tài này được thể hiện rõ trong chuyên mục: Giữ gìn và phát
Trang 36
huy bản sắc văn hóa Đó là các PS: "Bà con Khmer Sóc Trăng vui đón tết Chôl Chnam thmây" phát sóng ngày 01-05-2008; "Tây Nguyên nỗ lực giữ gìn hồn chiêng" phát sóng
ngày 12-06-2008; "Bảo tồn nhà ở - nghề thủ công truyền thống đồng bào dân tộc thiểu
số" phát sóng ngày 14-03-2009; "Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc" phát
sóng ngày 19-04-2009 Nhân ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam, chương trình đã đi sâu phân tích những giá trị truyền thống của 54 dân tộc anh em, cùng sự cần thiết phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập
Biểu đồ 2.1: Ý kiến nhận xét của công chúng về đề tài phản ánh của Chương trình năm 2005 và năm 2009 (phụ lục 1)
60 23
17
2005
Rất phù hợp Bình thường Không phù hợp
69 30
1
2009
Rất phù hợp Bình thường Không phù hợp
Qua khảo sát, có tới 69% ý kiến của công chúng là đồng bào dân tộc thiểu số cho
rằng: đề tài trong chương trình phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của họ 30% đề tài phản ánh trong chương trình là bình thường và chỉ có duy nhất 1% là không phù hợp
So với cuộc khảo sát nghiên cứu trước đó vào năm 2005 [1], thì phần phù hợp về fomat - kết cấu, cũng như sự chú ý điều chỉnh, lựa chọn đề tài đã tăng lên 9% Điều này cho thấy hiện nay, chương trình phát sóng đã có thêm đề tài mới, hấp dẫn thể hiện được tính chiến đấu, tính phát hiện Nét mới này có sức tác động lớn của chương trình đối với bà con miền núi, được đồng nghiệp và lãnh đạo đài đánh ghi nhận
Tuy nhiên, điều dễ nhận ra trong các chương trình phát sóng của Tạp chí Dân tộc và Phát triển là sự phân bố đề tài giữa các vùng chưa đồng đều Trong 52 chương trình đã phát sóng, chỉ có 22 chương trình của các trung tâm truyền hình Việt Nam thường trú ở các khu vực và đài địa phương Mặt khác, việc phân chia tỷ lệ cứng hóa
Trang 37
chương trình kế hoạch phát sóng cũng có ảnh hưởng, hạn chế đối với những nội dung cấp bách, nóng hổi diễn ra ở mỗi địa phương, mỗi vùng Điều này dẫn đến sự khập khiễng thiếu linh hoạt nhạy bén trong nội dung thông tin tuyên truyền các khu vực dân tộc miền núi trong cả nước
Đề cập tới vấn đề này nhà báo Đỗ Quốc Khánh – Phó trưởng Ban truyền hình Tiếng dân tộc cho rằng:
Đây là điều thiếu sót của Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển Chúng tôi đã kiến nghị với lãnh đạo đài về vấn đề này nhằm tăng tỷ lệ chương trình phát sóng của các đài khu vực địa phương Nhưng hiện nay vẫn còn nhiều vướng mắc trong cơ chế, nhân lực của các đài khu vực với Đài THVN Ngoài chương trình này, các đài khu vực còn có chức năng sản xuất hàng ngày các chương trình phục vụ đồng bào tại vùng ấy
Hiện nay, chúng tôi khắc phục bằng cách thường xuyên liên lạc với các đài khu vực, các đài địa phương kiểm tra những sự kiện nóng, cấp thiết xảy ra
ở các vùng để kịp thời đặt hàng ngay và thay đổi ngay lịch phát sóng Chúng tôi cũng cử các phóng viên đi xa hơn, vào tận các tỉnh miền Trung để sản xuất các chương trình Điều quan trọng nhất là phải nâng cao chất lượng nội dung
và hình thức để giữ vững vị thế của chương trình chính luận về vùng dân tộc, miền núi của cả nước; là tiếng nói của đại gia đình các dân tộc Việt Nam (phụ lục 3)
Ngoài ra, vấn đề về y tế, giáo dục cũng còn đề cập, tuyên truyền ở mức độ rất khiêm tốn, trong khi kết quả đạt được ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là đáng ghi nhận Bởi đến nay, 100% thôn bản có điểm trường, 100% xã có trường tiểu học, 100% huyện có trường phổ thông trung học Hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú phát triển không ngừng Các trường đại học và dự bị đại học đã mọc lên nhiều Hiện có 4 trường dự bị đại học, 6 khoa dự bị đại học thuộc các trường đại học Số lượng sinh viên
cử tuyển vào các trường đại học dự bị ngày càng tăng Cơ sở vật chất trang thiết bị y tế ngày càng được tăng cường đầu tư, 98% số xã có trạm y tế, 100% huyện miền núi có bệnh viện đa khoa, 94% thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 47% số xã có bác sĩ, 100%
Trang 38bà con đồng bào cùng sự đánh giá cao của những người làm công tác dân tộc miền núi
2.2.2 Vấn đề phản ánh
Vấn đề để phản ánh là một trong yếu tố quan trọng quyết định chất lượng tác phẩm Chọn được vấn đề phản ánh để mỗi phóng viên, biên tập viên mới nhìn ra cách hướng tới nhằm phân tích, phản ánh, đánh giá Giải quyết được vấn đề này chính là sự thành công của một tờ báo, tạp chí, hay một chương trình truyền hình
Xác định rõ đặc thù đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với những phong tục, tập quán riêng, có nét đẹp đạo đức thuần phác, nhưng trình độ nhận thức hạn chế, nên đội ngũ phóng viên, biên tập viên của Chương trình Tạp chí Dân tộc và Phát triển, Đài THVN luôn ý thức trong việc lựa chọn vấn đề phản ánh Nhiều chương trình đã khai thác, phát hiện, đề cập được những nội dung thiết thực, có ý nghĩa và tác động sâu sắc đến đồng bào các dân tộc thiểu số, đến sự phát triển KT-XH của miền núi, vùng cao, đến những cán bộ, cơ quan ban ngành liên quan về vùng dân tộc miền núi Những vấn đề
đó đã được thể hiện, phân tích, lý giải giản dị, dễ hiểu, sâu sắc và ngắn gọn Do đó, chương trình vừa trở thành một người bạn tin cậy vừa là diễn đàn giữa đồng bào, cán bộ vùng dân tộc miền núi với Đảng, Nhà nước
Qua khảo sát, chương trình đã chọn được những vấn đề thiết thực, tác động trực tiếp đến đồng bào và sự phát triển của miền núi, vùng cao Đồng thời, chương trình phát hiện những hạn chế, thiếu sót của các chính sách, chủ trương để kịp thời kiến nghị, điều
chỉnh cho phù hợp và phát huy hiệu quả cao nhất trong thực tiễn cuộc sống Ví dụ: ngày
30-09-2008 chương trình phát PS "Hiệu quả và bất cập từ các công trình dân sinh miền
núi" Với chương trình này, phóng viên đã đề cập đến việc triển khai thực hiện các công
trình dân sinh miền núi tại một số địa phương nảy sinh nhiều bất cập, làm giảm hiệu quả
Trang 39Ở xã vùng cao còn nhiều khó khăn như Ea Chà Rang, một công trình từ nguồn vốn 135 có giá trị xây dựng hàng trăm triệu đồng nhưng bỏ hoang gần 8 năm qua, hiện nay đang xuống cấp thành nơi chăn thả gia súc Tình trạng các công trình xây dựng xong rồi bỏ hoang phí đang là vấn đề cần sớm được giải quyết để góp phần cải thiện cuộc sống cho bà con miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (phụ lục 4)
Chương trình bắt đầu dẫn dắt những bất cập từ các công trình dân sinh do Nhà nước đầu tư ở vùng cao kém hiệu quả, rồi rút ra bài học kinh nghiệm về sự thiếu đồng bộ trong qui hoạch xây dựng và hiệu quả sử dụng kém ở các công trình tại hai xã Ma Nới và
xã Ea Cha Rang một lần nữa cho chúng ta thấy được hầu hết các chương trình đầu tư ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số chỉ phát huy hiệu quả khi có sự kết hợp hài hòa giữa việc quan tâm đầu tư của chính quyền địa phương với ý thức của bà con buôn làng
PS "Khó khăn trong việc phổ biến pháp luật ở vùng cao" được phát sóng chương
trình ngày 22-07-2008 Đề tài không mới, nhưng PS đã đề cập đến vấn đề quan trọng, tìm được nguyên nhân của gia tăng dân số và đói nghèo dai dẳng ở một số địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đó là nạn tảo hôn
Để hạn chế tình trạng tảo hôn, các hình thức tuyên truyền phổ biến pháp luật đã được tổ chức lồng ghép tại các buổi họp thôn, bản và cũng đưa ra những mức xử lý về vi phạm hành chính như: với trường hợp vi phạm tảo hôn lần đầu thì lập biên bản và xử phạt hành chính 200.000 đồng, nếu lần thứ hai tái phạm, sẽ bị xử phạt 400.000 đồng Thế nhưng, chính những hạn chế về
Trang 40
trình độ dân trí và tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại trong đời sống của đồng bào đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật và thực hiện chính sách pháp luật (phụ lục 4)
PS "Chương trình 135 giai đoạn 2” phát sóng ngày 12-06-2008, phóng viên đã
chọn được vấn đề là tập trung khai thác những cách làm hay của mỗi địa phương ở một hợp phần của chương trình 135 PS dẫn dắt bằng sự thay đổi cuộc sống của người dân ở huyện Mù Cang Chải rồi mở rộng vấn đề là làm sao để chương trình 135 thật sự phát huy hiệu quả của nó Đó là cần thực hiện triệt để nguyên tắc dân chủ ở cơ sở khi đầu tư bất cứ một công trình hạng mục nào, dù lớn hay nhỏ Mọi việc đều được đưa ra lấy ý kiến của người dân trực tiếp hưởng dự án đó Cho nên hiệu quả, tốc độ và chất lượng công trình đã đảm bảo chất lượng
Một nội dung mới trong 135 giai đoạn 2 là giao quyền cho xã làm chủ đầu tư các công trình Đây là vấn đề gây ra nhiều nghi ngờ về tính hiệu quả của nó vì trình độ quản
lý của cán bộ nhiều xã bất cập chưa thể làm tốt vai trò đó Các phóng viên đã chọn những
mô hình thành công ở Thanh Hóa và Sơn La để chứng minh rằng nếu có phương án, tổ chức tốt và quyết tâm của xã lẫn huyện thì vẫn thành công Mặc dù, việc triển khai và thực hiện chương trình 135 hiện còn nhiều vướng mắc cần giải quyết, nhưng chương trình phát sóng đã đưa ra những mô hình, cách làm hay rất đáng để nhiều địa phương học tập, rút kinh nghiệm
Nhiều chương trình đã tập trung vào tính phát hiện đề tài, có tính dự báo, cảnh báo
và tìm kiếm gợi mở những giải pháp trong những vấn đề được phản ánh Đây là điểm mạnh nhờ biết chọn vấn đề của chương trình
Trao đổi vấn đề này, nhà báo Đỗ Quốc Khánh - Phó Ban truyền hình tiếng dân tộc cho biết:
Với tiêu chí là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và đồng bào, cán bộ vùng dân tộc miền núi, chúng tôi đã hết sức cố gắng để nâng cao chất lượng từng chất lượng chương trình phát sóng Làm sao mỗi số lên sóng buộc đồng bào, cán bộ phải chú ý đón xem chương trình và có những suy nghĩ, nhận thức mới nhằm cải thiện cuộc sống của mình Đó cũng là điều mong mỏi của tất cả các