1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh Giá Hiệu Quả Của Vắc Xin Sản Xuất Từ Chủng Vi Khuẩn Gây Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò Và Heo Phân Lập Được.pdf

62 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Của Vắc Xin Sản Xuất Từ Chủng Vi Khuẩn Gây Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò Và Heo Phân Lập Được
Tác giả Lê Anh Thư
Người hướng dẫn TS. Trần Xuân Hạnh
Trường học Trường Đại Học Mở Bán Công TP.HCM
Chuyên ngành Vi Sinh
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp Cử Nhân Khoa Học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 356,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1: Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản xuất từ chủng phân lập trên bê và thỏ Bảng 3.2: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ BÁN CÔNG TP.HCM

KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC

CHUYÊN NGÀNH: VI SINH

GVHD : TS TRẦN XUÂN HẠNH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn :

Ban giám hiệu, ban chủ nhiệm khoa, quý thầy cô cùng các bạn đang công tác và theo học tại khoa Công Nghệ Sinh Học Trường Đại Học Mở Bán Công Thành Phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và chia sẽ những khó khăn trong suốt khóa học

Các cô chú và anh Phạm Hào Quang đang công tác tại Bộ Môn Nghiên Cứu Vi Trùng Thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Thú Y Công Ty Thuốc Thú Y Trung Ương 2 đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập tại công ty

Ban lãnh đạo cùng các anh chị công nhân đang làm việc tại các trại chăn nuôi đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian thực hiện đề tài

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI

3 YÊU CẦU

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

1.1 Trên thế giới

1.2 Ở Việt Nam

2 TỔNG QUAN VỀ VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA

2.1 Đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu

2.2 Tính chất nuôi cấy

2.2.1 Trong môi trường canh nước thịt

2.2.2 Trên môi trường thạch đĩa

2.2.2.1 Môi trường thạch TSA (Trypticase soya agar)

2.2.2.2 Trên môi trường thạch máu

2.3 Đặc điểm sinh hóa

2.4 Cấu trúc kháng nguyên

2.4.1 Kháng nguyên giáp mô (kháng nguyên K)

2.4.2 Kháng nguyên thân (kháng nguyên O)

2.5 Các type huyết thanh học

Trang 4

2.6 Độc tố của vi khuẩn

2.7 Tính bám dính vào mô bào

2.8 Sức đề kháng của vi khuẩn

2.9 Tính cảm thụ của lòai vật

3 ĐẶC ĐIỂM BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG CỦA TRÂU BÒ VÀ HEO

3.1 Lứa tuổi mắc bệnh

3.2 Mùa phát bệnh

3.3 Con đường lây nhiễm bệnh

3.4 Cách sinh bệnh

3.5 Các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích

3.5.1 Thể Quá Cấp Tính

3.5.2 Thể Cấp Tính

3.5.3 Thể Mãn Tính

3.6 Chẩn đoán bệnh

3.7 Phòng bệnh và điều trị

3.7.1 Phòng bệnh

3.7.2 Điều trị

3.7.2.1 Phương án 1: Streptomycine + Peniciline hoặc Ampiciline

3.7.2.2 Phương án 2: Gentamycine + Erythromycine hoặc Tylan

3.7.2.3 Phương án 3: Terramycine + Septotryl

4 SƠ LƯỢC VỀ VẮC XIN

4.1 Khái niệm về vắc xin:

4.1.1 Vắc xin vô hoạt (vắc xin chết)

Trang 5

4.1.2 Vắc xin sống

4.2 Cơ chế tác dụng của vắc xin

4.3 Yêu cầu của vắc xin

4.3.1 Tính an toàn:

4.3.1.1 Đối với vắc xin sống:

4.3.1.2 Đối với vắc xin chết:

4.3.2 Tính sinh miễn dịch

4.3.3 Tính kháng nguyên

4.3.4 Tính hiêu lực

4.4 Những điều cần lưu ý khi sử dụng vắc xin

4.5 Quy trình điều chế vắc xin vô hoạt

PHẦN III: NỘI DUNG VẬT LIỆU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1 Kiểm tra hai lô vắc xin sản xuất từ chủng phân lập phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò

2.1.1 Kiểm tra vô trùng

2.1.2 Kiểm tra an toàn trên bê và thỏ

2.1.3 Kiểm tra hiệu lực trên bê và thỏ

2.2 Kiểm tra hai lô vắc xin sản xuất từ chủng phân lập phòng bệnh tụ huyết trùng heo

2.2.1 Kiểm tra vô trùng

2.2.2 Kiểm tra an toàn trên heo và thỏ

Trang 6

2.2.3 Kiểm tra hiệu lực trên heo và thỏ

3 VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ THÍ NGHIỆM

3.1 Động vật thí nghiệm

3.2 Các loại vắc xin dùng trong thí nghiệm

3.3 Chủng vi khuẩn Pasteurella multocida dùng thí nghiệm

3.4 Các môi trường nuôi cấy vi khuẩn Pasteurella multocida

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Quy trình sản xuất vắc xin vô hoạt phòng bệnh tụ huyết trùng trâu, bò và heo

4.2 Phương pháp xác định số lượng vi khuẩn trong canh trùng dùng trong kiểm tra nồng độ canh trùng sản xuất vắc xin và công cường độc

4.3 Kiểm tra vô trùng

4.3.1 Chuẩn bị môi trường:

4.3.2 Mục đích:

4.3.3 Cách thực hiện

4.4 Kiểm tra an toàn và hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò

4.4.1 Kiểm tra an toàn

4.4.1.1 Phương pháp trọng tài:

4.4.1.2 Phương pháp thay thế:

4.4.2 Kiểm tra hiệu lực

4.4.2.1 Phương pháp trọng tài

4.4.2.2 Phương pháp thay thế ( dùng thỏ )

Trang 7

4.5 Kiểm tra an toàn và hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo

4.5.1 Kiểm tra an toàn

4.5.1.1 Phương pháp trọng tài:

4.5.1.2 Phương pháp thay thế:

4.5.2 Kiểm tra hiệu lực

4.5.2.1 Phương pháp kiểm tra trên heo:

4.5.2.2 Phương pháp thay thế dùng thỏ:

5 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM

5.1 Kiểm tra vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản xuất từ chủng phân lập

5.1.1 Kiểm tra an toàn

5.1.2 Kiểm tra hiệu lực

5.1.3 Kiểm tra an toàn

5.1.4 Kiểm tra hiệu lực

PHẦN IV: KẾT QUẢ THẢO LUẬN

1 KẾT QUẢ KIỂM TRA VẮC XIN PHÒNG BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ SẢN XUẤT TỪ CHỦNG PHÂN LẬP

1.1 Kết quả kiểm tra vô trùng

1.2 Kết quả kiểm tra an toàn

1.3 Kiểm tra hiệu lực

2 KẾT QUẢ KIỂM TRA VẮC XIN PHÒNG BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG HEO SẢN XUẤT TỪ CHỦNG PHÂN LẬP

2.1 Kết quả kiểm tra vô trùng

2.2 Kiểm tra an toàn

Trang 8

2.3 Kiểm tra hiệu lực

3 THẢO LUẬN

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1 KẾT LUẬN

2 ĐỀ NGHỊ

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản

xuất từ chủng phân lập trên bê và thỏ

Bảng 3.2: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản

xuất từ chủng phân lập đợt thí nghiệm 1 trên thỏ

Bảng 3.3: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản

xuất từ chủng phân lập đợt thí nghiệm 2 trên bê và thỏ

Bảng 3.4: Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất

từ chủng phân lập trên heo và thỏ

Bảng 3.5: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất

từ chủng phân lập đợt 1 trên heo và thỏ

Bảng 3.6: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất

từ chủng phân lập đợt 2 trên heo và thỏ

Bảng 4.1: Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản

xuất từ chủng phân lập trên bê và thỏ

Bảng 4.2: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản

xuất từ chủng phân lập đợt thí nghiệm 1 trên thỏ

Bảng 4.3: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản

xuất từ chủng phân lập đợt thí nghiệm 2 trên bê và thỏ

Bảng 4.4: Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất

từ chủng phân lập trên heo và thỏ

Bảng 4.5: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất

từ chủng phân lập đợt 1 trên heo và thỏ

Bảng 4.6: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất

từ chủng phân lập đợt 2 trên heo và thỏ

Trang 10

PHAÀN I

Trang 11

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong chăn nuôi, bệnh tụ huyết trùng thể bại huyết xuất huyết ở trâu bò và heo được biết đến như một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi khuẩn

Pasteurella multocida gây ra đã, đang và sẽ còn là một vấn đề quan trọng cần

phải giải quyết

Bệnh tụ huyết trùng xảy ra có tính lẻ tẻ nhưng đôi khi cũng thành dịch và được xếp vào những bệnh quan trọng của trâu bò và heo Theo thống kê của Cục thú y - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong năm 1999 cả nước có 35 tỉnh xảy ra dịch bệnh tụ huyết trùng trên heo, số con mắc bệnh 114232 con, số chết là 19844 con Năm 2001 có 40 tỉnh thành báo cáo có 17789 trâu bò mắc bệnh tụ huyết trùng và số chết trong số này là 2080 con Đến thời diểm hiện nay, những số liệu này đã khác đi nhưng qua đó đã nói lên phần nào những thiệt hại đáng kể do bệnh này gây ra cho người chăn nuôi

Hiện nay nước ta đang sử dụng ba lọai vắc xin để phòng lọai bệnh này là:

⮚ Vắc xin keo phèn phòng bệnh tụ huyết trùng do Xí nghiệp thuốc thú y Trung Ương sản xuất

⮚ Vắc xin tụ huyết trùng trâu bò do Phân viện Thú y miền Trung sản xuất với chủng IR

⮚ Vắc xin vô họat tụ huyết trùng trâu bò do Công ty thuốc thú y Trung Ương sản xuất với chủng P52

Cho đến nay các lọai vắc xin này vẫn cho kết quả tốt trong công tác phòng dịch bệnh Nhưng với mong muốn ngày càng hòan thiện và nâng cao hơn nữa khả năng bảo hộ của Vắc xin cho thú nuôi, Tiến sĩ Trần Xuân Hạnh và Bác

sĩ Tô Thị Phấn cùng các cộng sự đang công tác tại Bộ môn Nghiên cứu vi trùng của Trung tâm nghiên cứu Thú y- Công ty thuốc thú y Trung Ương sau thời gian phân lập đã nghiên cứu điều chế thử nghiệm vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng

Trang 12

cho trâu bò, heo từ một số chủng Pasteurella multocida phân lập được trên trâu

bò và heo bệnh Để có cơ sở đưa vắc xin này sử dụng trong điều kiện sản xuất, được sự phân công của Bộ môn cùng với sự hướng dẫn của Quý thấy cô nay chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Đánh giá hiệu quả của vắc xin sản xuất từ chủng vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò và heo phân lập được”

2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI

Đánh giá an tòan và hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò được sản xuất thử nghiệm từ chủng KT1 phân lập tại Việt Nam

Đánh giá an tòan và hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo được sản xuất thử nghiệm từ chủng KT1 + KT3 phân lập tại Việt Nam

3 YÊU CẦU

Đánh giá mức độ an toàn của vắc xin trong điều kiện phòng thí nghiệm Đánh giá hiệu lực cuả vắc xin trên động vật thí nghiệm và trên bản động vật

Trang 13

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ

LUẬN

Trang 14

1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

1.1 Trên thế giới

Bệnh tụ huyết trùng đại gia súc được Bonllinger mô tả đầu tiên vào năm

1878 ở Đức, những tác nhân gây bệnh sau này được Kitt phân lập vào năm 1885 Louis Pasteur đã thành công khi phát hiện vi khuẩn gây bệnh và điều chế được vắc xin phòng bệnh toi gà từ những vi khuẩn này Sau đó những vi khuẩn này cũng được Graffky tìm thấy trong bệnh nhiễm trùng huyết ở thỏ (1881), Loeffer tìm được ở bệnh lợn chết nhanh (1886) Nhà nghiên cứu người Đức, Hueppe, đã ghi lại sự giống nhau về mặt hình thái học và sinh bệnh học của những vi khuẫn gây bệnh bại huyết trên thỏ , bệnh toi trên gà

Năm 1887, hai nhà khoa học Oreste và Armanni phân lập được vi khuẩn gây bệnh này trên trâu, bò ở Ý Trong thời gian này Trevisan đã đề nghị đặt tên

cho vi khuẩn là Pasteurella để ghi nhớ công lao của Louis Pasteur - người đầu

tiên xác định vi khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng Chính vì thế

mà tên Bacterium multocidum được đặt bởi Lehmann và Neumann không còn

phổ biến

Giống vi khuẩn này được xác định là có nhiều chủng khác nhau và được

đặt tên theo lòai vật chủ mà nó gây bệnh như: Pasteurella suiseptica gây bệnh tụ huyết trùng cho heo, Pasteurella aviseptica gây bệnh tụ huyết trùng ở gà và

Pasteurella boviseptica gây bệnh tụ huyết trùng trên trâu bò

Sau nhiều lần đổi tên, đến năm 1939, Rosenhbush và Merchant dựa trên

đề nghị của Kitt đã thống nhất đặt tên cho lòai vi khuẩn này là Pasteurella

multocida

1.2 Ở Việt Nam

Trang 15

Lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1868, Condamine phát hiện bệnh truyền nhiễm của trâu ở Bà Rịa và Long Thành Sau đó, Carmein cũng phân lập được vi khuẩn này ở Gò Công (1869), Yersin phân lập vi khuẩn và mô tả những trường hợp bệnh ở các tỉnh miền Trung gọi là bệnh “Nhiễm trùng xuất huyết” hay “Bệnh lỵ đỏ” ở trâu

Vào những năm đầu thế kỷ 20 và những thập niên sau đó, theo một số tác giả như Đào Trọng Hiển, Schein đã xác định nguyên nhân gây ra bệnh tụ huyết trùng cho trâu bò và lợn tại Tây Ninh , Quảng Ngãi, Quảng Nam và một số tỉnh

khác là do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra, đồng thời phát hiện một số ổ

dịch lớn làm chết hàng ngàn trâu bò và heo

Những năm gần đây bệnh không còn bùng phát thành dịch như thời gian trước nhưng vẫn còn xảy ra lẻ tẻ làm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi, vì

thế vi khuẩn Pasteurella multocida vẫn còn đang được nghiên cứu ở nhiều trung

tâm trên cả nước

2 TỔNG QUAN VỀ VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA

2.1 Đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu

Theo hệ thống phân lọai của Bergrey thì vi khuẩn Pasteurella multocida

được xếp vào:

Bộ Eubacteriales

Họ Pasteurellaceae

Giống Pasteurella

Lòai Pasteurella multocida

Vi khuẩn Pasteurella multocida bắt màu gram âm, có hình dạng chung là

cầu trực khuẩn nhỏ, dạng trứng hay bầu dục, có kích thước trung bình khỏang 0,25 _ 0,4µm * 0,4 _ 1,5µm Hình dạng của vi khuẩn chỉ có tính đồng nhất trong mô bào động vật mắc bệnh, còn trong môi trường nuôi cấy nhân tạo thì có nhiều

Trang 16

lọai hình dạng như hình cầu hay hình gậy nhỏ, xếp thành chuỗi ngắn hoặc đứng riêng lẻ Trong một số canh nuôi cấy để lâu thì vi khuẩn bị già đi, khi đó ta quan sát có thể thấy hình gậy dài, hình dùi cui có thể dài đến 2 _ 3µm Hay nói cách khác hình dạng và kích thước của vi khuẩn có thể thay đổi tùy thuộc vào nguồn gốc phân lập và môi trường nuôi cấy

Pasteurella multocida là loại vi khuẩn không sinh bào tử, không có lông

nên không có khả năng di động, có giáp mô Những vi khuẩn phân lập từ mô bào thú bệnh như máu, phủ tạng… khi nhuộm bằng phương pháp Giemsa hay Wright có hiện tượng bắt màu sẫm ở hai đầu còn ở giữa bắt màu nhạt hoặc không bắt màu nên được gọi là vi khuẩn lưỡng cực

2.2 Tính chất nuôi cấy

2.2.1 Trong môi trường canh nước thịt

Vi khuẩn Pasteurella multocida là lọai hiếu khí tùy nghi, nhiệt độ nuôi

cấy từ 130C _ 380C nhưng vi khuẩn mọc tốt nhất ở 370C _ 380C, pH từ 7,2 _ 7,4

Sau 24 giờ nuôi cấy vi khuẩn phát triển làm đục môi trường, tạo cặn nhày

ở đáy bình, lắc nhẹ thấy vẩn như sương mù rồi lại biến mất Nếu để vài ngày có khi hình thành lớp màng mỏng trên bề mặt canh

Một số tác giả đề nghị khi nuôi cấy nên cho thêm vào môi trường máu vỡ hoặc huyết thanh thỏ do khi mới được phân lập thì vi khuẩn mọc tốt nhưng nếu nuôi tiếp tục sẽ yếu dần Theo Carter ( 1952 ), vi khuẩn phát triển sẽ tạo thành mùi tanh nước giải khô đặc trrưng và mùi này sẽ mất dần sau thời gian nuôi cấy lâu

2.2.2 Trên môi trường thạch đĩa

2.2.2.1 Môi trường thạch TSA (Trypticase soya agar)

Vi khuẩn Pasteurella multocida được cấy ria trên môi trường thạch TSA

thông thường và nuôi cấy ở nhiệt độ 370C trong 24 giờ, vi khuẩn mọc thành

Trang 17

những khuẩn lạc nhỏ, trong suốt như hạt sương, bề mặt khuẩn lạc vồng lên, nếu nuôi lâu khuẩn lạc có màu trắng ngà, dính vào môi trường

2.2.2.2 Trên môi trường thạch máu

Trên môi trường này vi khuẩn phát triển tạo thành những khuẩn lạc tròn không gây dung huyết, có mùi nước dải khô đặc trưng để nhận biết Tính chất

này được xem như là một đặc điểm để chẩn đóan vi khuẩn Pasteurella

multocida

Khuẩn lạc của vi khuẩn có kích thước và độ láng bóng khác nhau, dạng khuẩn lạc nhầy (M _ Mucocid) có kích thước lớn nhất, dạng láng (S _ Smooth) có kích thước trung bình và dạng xù xì (R _ Rough) nhỏ nhất Đối với vi khuẩn phân lập được từ gia súc thì khuẩn lạc dạng S có độc lực cao nhất, kế đến là dạng M, sau cùng là dạng R có độc lực yếu hoặc không có độc lực

Khi chiếu ánh sáng tới xiên 450 so với khuẩn lạc của vi khuẩn Pasteurella

multocida (được nuôi cấy trên môi trường thạch huyết thanh) đặt dưới kính hiển

vi quang học có độ phóng đại thấp (khỏang 20 lần), ta sẽ thấy sự dung quang của khuẩn lạc, hiện tượng này sẽ thấy rõ sau 24 giờ nuôi cấy vi khuẩn, nếu để lâu quá 72 giờ thì hùynh quang sẽ mất Đặc điểm này được Decruit phát hiện vào năm 1921

Lọai huỳnh quang và dạng khuẩn lạc là những yếu tố có liên quan mật thiết với về mặt độc lực Với ánh sáng phản quang, khuẩn lạc được quan sát thấy màu xanh lơ, màu xanh lá mạ chiếm 2/3 diện tích khuẩn lạc về phía đèn, 1/3 còn lại là màu vàng kim lọai hay vàng da cam thì đây là khuẩn lạc dạng S và có hùynh quang Fg (Green Flourescent), độc lực cao nhất Nếu là khuẩn lạc dạng

M, độc lực vừa thì khi quan sát sẽ thấy diện tích màu xanh lơ ít hơn màu vàng da cam, hùynh quang lọai này được gọi là Fo (Orange Flourescent) Nếu vi khuẩn

Trang 18

có độc lực yếu thì những khuẩn lạc của chúng (dạng R) không có hiện tượng phát hùynh quang và gọi là lọai Nt (Not Flourescent)

Vi khuẩn Pasteurella multocida không làm đông sữa, không phát triển

trên môi trường khoai tây tự nhiên và môi trường thạch Macconkey hay môi trường có muối 4%

2.3 Đặc điểm sinh hóa

Để phục vụ cho công tác chẩn đóan chính xác các lòai vi khuẩn thuộc giống Pasteurella, Hedleston và cộng sự (1966), Namioka (1978) đã đưa ra một số phản ứng sinh hóa để phân biệt theo bảng sau đây:

Phản ứng Pasteurella

multocida

Pasteurella haemolytica

Pasteurella anatipestifer

Pasteurella gallinarum

* : Có một số chủng phân lập có khả năng lên men lactose (luận án Tiến

sĩ – Trần Xuân Hạnh, 2002)

Trang 19

2.4 Cấu trúc kháng nguyên

Lignieres (1900), đã khẳng định rằng các chủng Pasteurella multocida

phân lập từ các loài vật mắc bệnh khác nhau có đặc tính huyết thanh không đồng nhất

Kháng nguyên của vi khuẩn Pasteurella multocida rất phức tạp, đến nay

người ta xác định có hai lọai kháng nguyên chính là kháng nguyên thân (kháng nguyên O) và kháng nguyên giáp mô (kháng nguyên K)

2.4.1 Kháng nguyên giáp mô (kháng nguyên K)

Kháng nguyên giáp mô (K) chỉ gặp ở vi khuẩn Pasteurella multocida tạo

dạng khuẩn lạc láng (S), không bao giờ thấy ở những vi khuẩn mọc tạo hai dạng khuẩn lạc còn lại Để thu nhận kháng nguyên này ta cho canh trùng mới nuôi cấy vào nước cất và chiết xuất trong 5 phút ở nhiệt độ 370C

Kháng nguyên giáp mô (K) được cấu tạo từ hai thành phần chính là phức hợp protein (α) và polysaccharide (β) Kháng nguyên protein dễ bị phá huỷ bởi nhiệt độ và các enzyme phân huỷ như: trypsin, pepsin,… nhưng có vai trò gây miễn dịch cao Trong khi đó kháng nguyên polysaccharide không bị biến tính bởi nhiệt độ nhưng tính sinh miễn dịch thấp

2.4.2 Kháng nguyên thân (kháng nguyên O)

Kháng nguyên này có hai nhóm là: kháng nguyên (O) đặc hiệu và kháng nguyên (O) không đặc hiệu Kháng nguyên (O) được cấu tạo bởi phức hợp lipopolysaccharide (γ) Kháng nguyên này được chiết xuất nhờ acid toichloacetic, dung dịch phenol và siêu âm

Trang 20

Theo Namioka và Murata (1961), những khuẩn lạc chuyển từ dạng láng

sang dạng xù xì thì vi khuẩn Pasteurella multocida vẫn giữ được kháng nguyên

(O)

Về đặc điểm sinh học, kháng nguyên này gây độc đối với thỏ nhưng độc lực không lớn lắm Qua 1 ngày đêm, sau khi tiêm kháng nguyên (O) cho chuột sẽ tạo miễn dịch không đặc hiệu và qua 3 tuần sẽ tạo được miễn dịch đặc hiệu

Trong các phản ứng huyết thanh học, kháng nguyên (O) có tính đặc hiệu loài rất cao và chúng tạo phản ứng chéo với các huyết thanh kháng các vi khuẩn

gram âm khác như Pasteurella pseudotuberculosis, Pasteuella haemolytica…

Prince và Smitt (1966) đã dùng kỹ thuật khuếch tán miễn dịch tách được

16 kháng nguyên và ký hiệu từ a đến n, hai kháng nguyên giáp mô α, β và một kháng nguyên khác nữa là γ (kháng nguyên thân)

Cho đến nay, người ta đã phát hiện được 18 loại kháng nguyên hoà tan

khác của vi khuẩn Pasteurella multocida ngoài hai loại kháng nguyên thân (O)

và kháng nguyên giáp mô (K) kể trên Trên thực nghiệm người ta thấy rằng kháng nguyên thân (O) và kháng nguyên giáp mô (K) đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành miễn dịch nhưng kháng nguyên (O) lại đóng vai trò quan trọng hơn

2.5 Các type huyết thanh học

Qua những công trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều

phương pháp phân loại vi khuẩn Pasteurella multocida nói chung là dựa vào

kháng nguyên giáp mô Tuy nhiên, cách phân loại được đưa ra sớm nhất là của

Little và Lyon (1943) dựa trên phản ứng ngưng kết đã chia Pasteurella multocida

làm 3 type và ký hiệu là 1, 2, 3

Sau đó, Robert (1947) bằng phản ứng bảo hộ trên chuột đã chia vi khuẩn

Pasteurella multocida làm 4 serotype I, II, III, IV

Trang 21

Vào năm 1952, qua nghiên cứu, Carter đã phát hiện thấy kháng nguyên giáp mô đặc hiệu ở những biến chủng dạng S Bằng phản ứng ngưng kết hồng

cầu gián tiếp ông đã phân loại Pasteurella multocida thành 4 serotype A, B, C,

D Đến năm 1961, bằng phản ứng ngưng kết chậm, Carter đã phát hiện thêm serotype E

Nhiều thực nghiệm đã chứng minh được sự tương quan giữa các serotype theo 2 cách phân chia của Robert và Carter

Namioka và Murata (1961) đã nhận diện được kháng nguyên thân và căn cứ vào kháng nguyên này họ đã chia thành 11 serotype và đánh số từ 1 đến 11

Huddleston và cộng sự (1970) bằng phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch lại chia kháng nguyên (O) thành 16 serotype khác nhau theo thứ tự từ 1 đến 16

Năm 1979, Brogden và Backer đã so sánh các phương pháp xác định

serotype của Pasteurella multocida và chứng minh rằng có những thành phần

kháng nguyên chung nhưng cũng có thành phần kháng nguyên đặc trưng

Đến năm 1987, Rimler và Rhoader đã bổ sung thêm một serotype mới ký hiệu là F, sự phân loại này dựa vào sự khác biệt của polysaccharide bề mặt

Cho đến nay, cách phổ biến để xác định serotype của vi khuẩn

Pasteurella multocida theo quy định của FAO là kết hợp cả hai hệ thống định

type kháng nguyên của Carter và Huddleston Như vậy, một serotype được nhận diện đầu tiên bằng chữ cái in hoa (A, B, D, E, F) đại diện cho nhóm kháng nguyên giáp mô (K) sau đó là chữ số từ 1 đến 16 dùng để chỉ nhóm kháng nguyên thân (O)

Trang 22

2.6 Độc tố của vi khuẩn

Theo nhiều nghiên cứu cho thấy khi nuôi cấy trong những điều kiện nhất

định thì vi khuẩn Pasteurella multocida hình thành giáp mô bao xung quanh tế

bào, chính giáp mô này có liên quan mật thiết với độc lực của vi khuẩn Chủng

vi khuẩn nào mất khả năng tái tạo giáp mô thì sẽ không có độc lực

Độc tố của Pasteurella multocida gồm hai lọai là : nội độc tố và ngọai độc

tố Nội độc tố có bản chất là Lipopolysaccharide, lọai này gây độc đối với cả bê, nghé, chuột, thỏ và gà Chúng làm cho thú bị viêm sốt và tạo miễn dịch chống vi khuẩn ở nhiều mức độ khác nhau Bản chất ngọai độc tố của vi khuẩn

Pasteurella multocida là protein, lọai độc tố này là nguyên nhân gây teo mũi

truyền nhiễm ở lợn

Ơû Việt Nam, những thí nghiệm của Jacoplot (1927) cho biết: trong thủy thủng và máu con vật ốm vi trùng không sinh ngọai độc tố Chính vì lí do này nên bê, nghé nếu có bú sữa mẹ bị ốm cũng ít khi nhiễm bệnh Trái lại, trong canh trùng để lâu ngày có thể phân ly được độc tố , thành phần chủ yếu trong độc tố này là lọai nội độc tố, có một lượng nhất định ngọai độc tố có khả năng làm chết thỏ

Các chế phẩm tinh khiết của nội độc tố có khả năng chịu nhiệt tốt nhưng họat lực bị giảm khi xử lý bằng dung dịch acid acetic ở 370C trong 1 giờ hay phenol ở 220C

Còn theo Bain và Jones thì khi xử lý xác vi khuẩn bằng nhiệt độ (500C), hoặc 0,25% Formalin hay bằng kháng sinh thì xác vi khuẩn này vẫn có khả năng giết chết chuột trong vòng 12 – 36 giờ bằng đường tiêm tĩnh mạch hay tiêm phúc mạc

2.7 Tính bám dính vào mô bào

Trang 23

Thêm một đặc điểm nữa để các nhà nghiên cứu dùng làm chỉ tiêu để giải

thích cho quá trình sinh bệnh của vi khuẩn Pasteurella multocida là sự khu trú và

tính bám dính vào mô bào trên động vật chủ

Phát hiện của Jacques (1987) cho thấy vi khuẩn Pasteurella multocida

thuộc serotype A, D bám vào tế bào biểu bì kém chắc chắn, nhưng phần lớn serotype A bám vào tế bào biểu bì có lông nhung tốt hơn serotype D Theo Pijoan và Trigo, thì serotype D lại bám dính vào tế bào biểu bì không có lông nhung

Tuy không bám dính tốt trên bề mặt tế bào biểu bì nhưng Pasteurella

multocida bám dính dễ dàng trên bề mặt niêm mạc vòm mũi

2.8 Sức đề kháng của vi khuẩn

Vi khuẩn Pasteurella multocida rất nhạy cảm với ngọai cảnh, dễ bị tiêu

diệt bởi các tác nhân như ánh nắng mặt trời, chất sát trùng và nhiệt độ cao Ở nhiệt độ 580C, vi khuẩn có thể bị tiêu diệt trong 20 phút Các chất sát trùng thông thường như acid phenic 1%, canxi clorua 1%, nước vôi 0,5%, acid furic 0,5%, đồng sulfat 5%, nước vôi 10% có thể diệt vi khuẩn trong 3 – 5 phút

Ngòai ra ánh sáng mặt trời cũng có thể diệt vi khuẩn trong 12 giờ Ở

những chỗ mát và đất ẩm Pasteurella multocida có thể sống lâu hơn, tuy nhiên ở

nơi đất đã ô nhiễm do phân gia súc ốm thì vi khuẩn không tồn tại quá 15 ngày

Trong da sấy khô chậm, Pasteurella multocida vẫn giữ được độc lực 15 –

25 ngày, trong xác sinh vật bị thối rửa, vi khuẩn sống được từ 1 – 3 tháng

2.9 Tính cảm thụ của lòai vật

Bệnh có thể từ loài này lây sang lòai khác như trâu bò bị bệnh có thể truyền mầm bệnh sang chó, ngựa và heo Ngòai đại gia súc thì những lọai gia cầm như ngan, vịt, gà cũng dễ mắc bệnh

Trang 24

Trong phòng thí nghiệm người ta thường dùng thỏ, chuột bạch, bồ câu để gây bệnh tụ huyết trùng bằng đường tiêm dưới da hoặc tiêm phúc mạc Mức độ

nhạy cảm của động vật thì nghiệm đối với vi khuẩn Pasteurella multocida được

sắp xếp theo thứ tự: thỏ, chuột bạch, trâu, bò, chuột lang, bồ câu, heo, dê và cừu Trong đó thỏ là loài nhạy cả nhất, chỉ cần vài vi khuẩn là có thể gây chết thỏ

Một số tác giả cho rằng người cũng có thể bị nhiễm vi khuẩn Pasteurella

multocida do bị thú cắn, làm nhiễm trùng cục bộ vết thương Sự cảm nhiễm ở

người ngoài nguyên nhân do Pasteurella multocida gây ra còn có vai trò bội

nhiễm của các vi khuẩn khác làm tăng các biểu hiện của bệnh như viêm hạch, viêm phế quản, viêm hệ thần kinh, hệ sinh dục (Miller, 1966; Hubbert và Rossen, 1970; Anon, 1972)

3 ĐẶC ĐIỂM BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG CỦA TRÂU BÒ VÀ HEO

Bệnh tụ huyết trùng trâu bò, heo được định nghĩa là một bệnh truyền

nhiễm do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra tạo nên các hội chứng tụ huyết,

xuất huyết ở những vùng đặc biệt trên cơ thể Sau cùng vi khuẩn xâm nhập vào máu và gây bại huyết toàn thân

3.1 Lứa tuổi mắc bệnh

Đối với heo thì lứa tuổi mắc bệnh không phân biệt thú non hay thú già, trên thực tế cho thấy bệnh gặp ở cả heo cai sữa, heo trưởng thành, giống heo nội hay heo nhập nội đều có khả năng mắc bệnh như nhau Đối với một số đại gia súc như trâu, bò, những thú non dưới hai năm tuổi dễ mắc bệnh hơn và khi nhiễm bệnh thì tỷ lệ chết cũng cao hơn những con già Ngoài ra, bệnh cũng gây thiệt hại không nhỏ trên đàn gia cầm nuôi ở nước ta

3.2 Mùa phát bệnh

Trang 25

Do khí hậu nước ta nóng ẩm vì thế bệnh tụ huyết trùng vẫn có thể xảy ra lẻ tẻ quanh năm nhưng nhiều nhất là vào mùa mưa Ở miền Bắc bệnh xảy ra nhiều nhất vào khoảng tháng 7 đến tháng 9, đặc biệt sau những trận mưa lớn đến khi nắng lên thì bệnh lại càng gia tăng thêm Theo Bùi Quý Huy, số tỉnh báo có dịch vào tháng 8 – tháng 9 năm 1990 chiếm 82%, các tháng còn lại chiếm 18% Trong khi đó khoảng thời gian xảy ra dịch bệnh ở miền Nam lại kéo dài hơn, từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm

3.3 Con đường lây nhiễm bệnh

Vào đầu mùa mưa bệnh bắt đầu xảy ra do vi khuẩn có sẵn trong đất bị ô nhiễm được nước mưa đưa lên mặt đất và dính vào rơm cỏ hoặc nguồn nước Khi thú ăn hoặc uống phải những thức ăn bị nhiễm khuẩn này, vi trùng sẽ xâm nhập vào cơ thể và khu trú ở một số nơi nhất định và cùng sống cộng sinh với cơ thể vật chủ, lúc này giữa cơ thể thú và vi khuẩn có sự cân bằng sinh học nên thú chưa có biểu hiện bệnh

Khi gặp điều kiện ngoại cảnh bất lợi như thời tiết thay đổi, chăm sóc kém, thiếu thức ăn, sức đề kháng của thú bị giảm hoặc vi khuẩn trở nên cường độc thì lúc này bệnh sẽ phát ra và làm cho con vật có thể chết hoặc bị bệnh mãn tính

Ngoài việc lây nhiễm qua con đường tiêu hóa, hô hấp, bệnh cũng có thể xảy ra do việc tiếp xúc qua da đã có vết trầy xước của thú khoẻ với thú bệnh, hoặc do tiếp xúc với phân và nước tiểu của con vật bị ốm

Có nhiều tác giả cho rằng, một số côn trùng như ve, rận, ruồi trâu, muỗi, bọ chét… là tác nhân truyền bệnh vào mùa nóng ẩm hoặc là vật mang trùng vào mùa thường không phát bệnh

3.4 Cách sinh bệnh

Trang 26

Vi khuẩn Pasteurella multocida bắt đầu khu trú có chọn lựa vào đường

tiêu hóa trên và cửa buồng ngực rồi theo tĩnh mạch lâm ba lớn để vào hệ thống lâm ba và máu Nhóm hạch sau hầu và hệ lâm ba của bộ máy tiêu hóa là những trung tâm thu hút vi khuẩn, từ đó chúng phát triển và lây lan sang các hạch nách, khí quản và phế quản Vì thế bệnh tiến triển dưới những thể gọi là tụ huyết ruột, tụ huyết ngực, tụ huyết thủy thủng, riêng thể thủy thủng thì thường gặp ở cuống họng và bả vai

Khi mổ khám xác súc vật chết, thấy bệnh tích ( thể bệnh có ngoại xuất ) thường ở xung quanh các nhóm hạch nhất định Tiêm truyền dưới da có thể gây một phản ứng ở hạch xa chỗ tiêm, trong khi đó ở ngay chỗ tiêm không có bệnh tích cục bộ Hiện tượng này có thể chứng minh vai trò của hệ thống lâm ba trong quá trình tiến triển của bệnh

Trong thể bệnh cấp tính vi khuẩn không sinh mủ, nhưng ở những súc vật ít

dị cảm, nếu vi trùng sống một thời gian ở một điểm nào đó trong cơ thể thì nó có thể sinh mủ

3.5 Các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích

Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò và heo ở nước ta xảy ra dưới ba thể: thể quá cấp tính, thể cấp tính và thể mãn tính

3.5.1 Thể Quá Cấp Tính

Thể này thường ít gặp, không phổ biến như thể cấp tính Ở thể này thời kỳ nung bệnh rất ngắn vì thế làm cho trâu bò và heo chết đột ngột do nhiễm trùng huyết Lúc đầu con vật bị sốt cao ( 410C – 420C ), bỏ ăn, trở nên điên loạn và hung dữ Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, ở một số ổ dịch chúng ta có thể thấy bê, nghé từ 3 – 18 tháng tuổi có hội chứng thần kinh giẫy giụa, đập đầu vào tường, rung rẩy ngã xuống lịm đi và chết

Trang 27

Ngoài một số triệu chứng đã nêu trên, ở heo còn thấy hiện tượng ứ máu, tím tái các vùng bụng, tai và bẹn do các hoạt động trong cơ thể heo bị rối loạn Trước khi chết thấy heo vẫn khoẻ mạnh, chỉ sốt cao và bỏ ăn, vài giờ sau đó heo

bị khó thở, thần kinh bị kích thích nên húc chạy loạng choạng, la hét rồi lăn ra chết

Do thể bệnh này biến chuyển quá nhanh nên làm cho thú chết đột ngột nên bệnh tích thường ít đặc trưng Tuy nhiên, vẫn có thể thấy được chứng xuất huyết và xung huyết khắp cơ thể như niêm mạc mắt, mũi, miệng và các tổ chức dưới da

3.5.2 Thể Cấp Tính

Thể bệnh này xảy ra phổ biến hơn, thời gian nung bệnh từ 1 – 3 ngày Thể này làm cho trâu bò chết, ít khi khỏi bệnh, còn ở heo thì có một số tình trạng bệnh khả quan hơn, con vật không chết nhưng chuyển sang mãn tính

Triệu chứng quan sát được là con vật cũng sốt cao, bỏ ăn, đố với trâu, bò thì không nhai lại Niêm mạc mắt ứ máu nên có màu đỏ gạch sau đó chuyển sang tím bầm, chảy nước mũi Tim và mạch đập nhanh làm cho thú thở dốc và nguyên nhân dẫn đến chết thú là do ngạt thở

Ngoài những triệu chứng kể trên, khi vi khuẩn xâm nhập và khu trú tại một bộ phận nào đó trên cơ thể như: ngực, bụng, hạch… thì chúng gây thêm những triệu chứng cục bộ Trường hợp vi khuẩn khu trú và tạo thể bệnh ưu thế ở ngực sẽ dẫn đến tụ huyết phổi, viêm phổi, viêm màng bao tiêm làm cho thú ho khan, khó thở Khi ho heo ngồi với tư thế giống như chó, còn đối với trâu bò thì đứng dang bốn chân, đầu đưa ra trước thở hổn hển, chảy nước mũi có lẫn mủ

Thể bệnh dạng khu trú ở hạch sẽ làm viêm hạch cấp ở nơi nhất định như hạch hầu, hạch lâm ba, hạch dưới hàm và sau đó trở thành thuỷ thủng Khi ấn mạnh tay vào nơi có thuỷ thủng rồi buông ra thì vết lõm nơi ấy vẫn giữ nguyên

Trang 28

Con vật bị thể bệnh này sẽ bị sưng hầu, vai sưng to, con vật lúc nào cũng thè lưỡi ra ngoài do cuống lưỡi và lưỡi bị sưng nên dân gian thường gọi là “trâu hai lưỡi”

Trong trường hợp thể bệnh ưu thế ở bụng sẽ có những triệu chứng viêm ruột, lúc đầu bị táo bón, sau đó phân lỏng có lẫn máu và niêm mạc ruột, viêm phúc mạc và bụng chướng to rồi chết

Trâu bò và heo mắc bệnh tụ huyết trùng ở dạng cấp tính khi mổ khám bệnh tích thường thấy phổi, khí quản và phế quản tụ máu và xuất huyết Màng phổi dính vào lòng ngực, các mô liên kết dưới da và bắp thịt có những chấm đỏ, tim sưng to, trong bao tim, màng phổi, xoang bụng và xoang ngực đểu có tương dịch

3.5.3 Thể Mãn Tính

Khi trâu, bò và heo mắc bệnh ở thể cấp tính nhưng không chết thì bệnh chuyển thành mãn tính, có những thay đổi chậm và kéo dài ở ruột, cuống phổi và phổi Bệnh kéo dài trong vài tuần sau đó con vật có thể khoẻ lại nếu được chăm sóc tốt hoặc có thể con vật sẽ bị chết

Ở trường hợp này bệnh tích không cò gì đặc biệt, màng phổi, màng ngoài tim, phúc mạc và các màng hoạt dịch của khớp xương đều bị viêm

3.6 Chẩn đoán bệnh

Các triệu chứng và bệnh tích của thú nuôi được mô tả ở trên là cơ sở cho việc chẩn đoán lâm sàng về bệnh tụ huyết trùng Ngoài ra, chúng ta cũng cần phân biệt rõ tránh nhầm lẫn với một số bệnh gây trên trâu bò, heo có những biểu hiện tương tự thường gặp như bệnh nhiệt thán, dịch tả heo, đóng dấu lợn, phó thương hàn…

Trang 29

Để cho kết quả chẩn đoán được chính xác hơn và nhằm nâng cao hiệu quả cho công tác chữa trị chúng ta cần tiến hành chẩn đoán vi trùng học để tìm

ra nguồn gây bệnh thực sự

Các bước tiến hành chẩn đoán vi trùng học cao gồm:

⮚ Cấy phân lập vi khuẩn từ mẩu bệnh phẩm nghi ngờ có vi khuẩn khu trú (máu tim, dịch màng bao tim, dịch khí quản, dịch ruột non… )

⮚ Nhuộm Gram hoặc Giemsa để xem hình thái và tính chất bắt màu của

vi trùng, sau cùng dùng một số phản ứng sinh hóa đặc trưng của vi khuẩn

Pasteurella multocida để thử và kết luận về nguyên nhân gây chết thú có phải là

do vi khuẩn Pasteurella multocida hay không

⮚ Ngoài ra, sau khi xem tiêu bản từ mẩu bệnh phẩm đã được nhuộm, ta có thể nghiền mẫu bệnh phẩm để tiêm cho động vật thí nghiệm như thỏ, chuột bạch để xem triệu chứng cũng như bệnh tích của những con này để có kết luận chính xác hơn về vi

khuẩn gây bệnh

3.7 Phòng bệnh và điều trị

3.7.1 Phòng bệnh

Bệnh tụ huyết trùng thường gặp ở thể cấp tính hoặc quá cấp tính nên việc phòng bệnh cho thú bằng vắc xin là đều cấn thiết nhất Bên cạnh đó ta cũng phải chú ý đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và chế độ làm việc thích hợp cho thú, tránh bắt thú làm việc quá sức, ăn những thức ăn ôi thiu

Khi thời tiết thay đổi cần chú ý đến việc che chắn hoặc làm thông thoáng chuồng trại cũng như tẩy uế thường xuyên nhằm ngăn chặn mầm bệnh có cơ hội phát triển Thực hiện tốt những điều trên là ta đã góp phần vào việc nâng cao sức chống đỡ của thú đối với vi khuẩn gây bệnh

Trang 30

Trong đàn thú nuôi, nếu có con nào bị mắc bệnh thì nên cách ly sớm và chữa trị kịp thời, không lưu hành súc vật bệnh để tránh việc lây lan có thể thành dịch địa phương hoặc phát tán mầm bệnh sang các địa phương khác

Khi súc vật ốm bị chết thì không nên giết thịt mà phải đào hố sâu để chôn và rãi thêm vôi bột để sát trùng hoặc có thể đem đốt để tránh vi khuẩn vẫn còn khu trú trong đất

3.7.2 Điều trị

Khi phát hiện thú bệnh ta phải cách ly và điều trị kịp thời để tránh những hậu quả đáng tiết xảy ra Theo tài liệu của Cục thú y tỉnh Phú Yên, một số phương án có thể dùng trong việc điều trị bệnh tụ huyết trùng cho trâu bò và heo như sau:

3.7.2.1 Phương án 1: Streptomycine + Peniciline hoặc Ampiciline

Trâu bò:

Streptomycine tiêm bắp thịt, liều 10mg/ kg TT/ 1 lần tiêm

Peniciline tiêm bắp thịt, liều 10mg/ kg TT/ 1 lần tiêm

Tiêm ngày 2 lần, tiêm liên tục 3 – 4 ngày

Heo:

Streptomycine tiêm bắp thịt, liều 20mg/ kg TT/ 1 lần tiêm

Peniciline tiêm bắp thịt, liều 20mg/ kg TT/ 1 lần tiêm

Tiêm ngày 2 lần, tiêm liên tục 2 – 3 ngày

3.7.2.2 Phương án 2: Gentamycine + Erythromycine hoặc Tylan

Trâu bò:

Gentamycine tiêm bắp thịt, liều 10mg/ kg TT/ 1 lần tiêm

Erythromycine tiêm bắp thịt, liều 5mg/ kg TT/ 1 lần tiêm

Tiêm ngày 1 lần, tiêm liên tục 3 – 4 ngày

Heo:

Gentamycine tiêm bắp thịt, liều 15 - 20mg/ kg TT/ 1 lần tiêm

Trang 31

Erythromycine tiêm bắp thịt, liều 10mg/ kg TT/ 1 lần tiêm

Tiêm ngày 1 lần, tiêm liên tục 3 – 4 ngày

3.7.2.3 Phương án 3: Terramycine + Septotryl

Trâu bò:

Terramycine tiêm bắp thịt, liều 10mg/ kg TT/ 1 lần tiêm

Septotryl tiêm bắp thịt, liều 1mg/ 10kg TT/ 1 lần tiêm

Tiêm ngày 1 lần, tiêm liên tục 3 – 4 ngày

Heo:

Terramycine tiêm bắp thịt, liều 15mg/ kg TT/ 1 lần tiêm

Septotryl tiêm bắp thịt, liều 1mg/ 5kg TT/ 1 lần tiêm

Tiêm ngày 1 lần, tiêm liên tục 3 – 4 ngày

4 SƠ LƯỢC VỀ VẮC XIN

4.1 Khái niệm về vắc xin:

Vắc xin là thuốc sinh vật dùng để phòng bệnh, vắc xin được chế bằng bản thân mầm bệnh gây ra bệnh mà ta muốn phòng Mặc dù được điều chế từ mầm bệnh nhưng khi đưa vắc xin vào cơ thể thú thì nó không còn khả năng gây bệnh hoặc chỉ gây bệnh nhẹ không gây hại cho thú Ngược lại, vắc xin còn có ích vì gây ra một phản ứng gọi là đáp ứng miễn dịch, chính phản ứng này tạo cho thú được bảo hộ chống lại mầm bệnh

Quá trình đáp ứng miễn dịch xảy ra làm sản sinh kháng thể, nếu kháng thể hiện diện nhiều trong huyết thanh thì đáp ứng miễn dịch đó gọi là miễn dịch dịch thể Bên cạnh đó, đáp ứng miễn dịch cũng tạo ra những tế bào có vai trò tiêu diệt mầm bệnh, miễn dịch này gọi là miễn dịch tế bào

4.1.1 Vắc xin vô hoạt (vắc xin chết)

Loại vắc xin này được điều chế từ vi khuẩn hoặc virus gây bệnh được giết bằng các tác nhân vật lý hay hoá học (nhiệt độ cao, tia cực tím,

fomaldehyde, ethylene imine…) Ngoài ra các loại vắc xin tinh chế được sản xuất

Miễn dịch cơ thể = miễn dịch tế bào + miễn dịch dịch thể

Ngày đăng: 08/08/2024, 15:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (1997), “Vi sinh vật thú y”. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
2. Đoàn Thị Băng Tâm (1978), “Bệnh ở động vật nuôi”.Nhà xuất bản Nông nghieọp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở động vật nuôi
Tác giả: Đoàn Thị Băng Tâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghieọp
Năm: 1978
3. Lê văn Hùng (1998), “Miễn dịch học”. Tủ sách đại họvc Nông lâm thành phoá Hoà Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học
Tác giả: Lê văn Hùng
Năm: 1998
4. Võ Văn Ninh, “Những điều cần chú ý khi xây dựng chuồng trại nuôi heo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần chú ý khi xây dựng chuồng trại nuôi heo
5. Cục thú y (1994), “Quy trình kỹ thuật kiểm nghiệm vắc xin dùng trong thú y”. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kỹ thuật kiểm nghiệm vắc xin dùng trong thú y
Tác giả: Cục thú y
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1994
6. Tô Minh Châu, “Giáo trình Vi sinh cơ sở ”, tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Vi sinh cơ sở
7. Dương Thế Long (1995), “Đánh giá hiệu quả những biện pháp phòng và trị bệnh tụ huyết trùng ở Sơn La từ 1990 – 1993”. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, soá 2 naêm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả những biện pháp phòng và trị bệnh tụ huyết trùng ở Sơn La từ 1990 – 1993
Tác giả: Dương Thế Long
Năm: 1995
8. Nguyễn Vĩnh Phước (1978), “Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc”. Nhà xuất bản Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông thôn
Năm: 1978
9. Phan Thanh Phượng, Đào Trọng Đạt, Trần Minh Tử, Hoàng Xuân Nghinh, Nguyễn Xuân Bình, Lê Lập, Lê Thị Soa, “ Nghiên cứu chế tạo và sử dụng vắc xin tụ huyết trùng”. Tạp chí khoa học Nông nghiệp, tr 6-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo và sử dụng vắc xin tụ huyết trùng
10. Nguyễn Lương (tái bản 1997), “Bệnh bại huyết xuất huyết trâu bò. Bệnh bại huyết xuất huyết heo”. Dịch tễ thú y phần chuyên biệt. Tủ sách trường đại học nông lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh bại huyết xuất huyết trâu bò. Bệnh bại huyết xuất huyết heo
11. “Những bệnh thường gặp ở gia súc gia cầm”, (Sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Phú Yên). Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bệnh thường gặp ở gia súc gia cầm
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản - Đánh Giá Hiệu Quả Của Vắc Xin Sản Xuất Từ Chủng Vi Khuẩn Gây Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò Và Heo Phân Lập Được.pdf
Bảng 3.1 Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản (Trang 46)
Bảng 3.2: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản - Đánh Giá Hiệu Quả Của Vắc Xin Sản Xuất Từ Chủng Vi Khuẩn Gây Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò Và Heo Phân Lập Được.pdf
Bảng 3.2 Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản (Trang 47)
Bảng 3.4: Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo - Đánh Giá Hiệu Quả Của Vắc Xin Sản Xuất Từ Chủng Vi Khuẩn Gây Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò Và Heo Phân Lập Được.pdf
Bảng 3.4 Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo (Trang 48)
Bảng 3.6: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất - Đánh Giá Hiệu Quả Của Vắc Xin Sản Xuất Từ Chủng Vi Khuẩn Gây Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò Và Heo Phân Lập Được.pdf
Bảng 3.6 Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất (Trang 49)
Bảng 4.1: Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản - Đánh Giá Hiệu Quả Của Vắc Xin Sản Xuất Từ Chủng Vi Khuẩn Gây Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò Và Heo Phân Lập Được.pdf
Bảng 4.1 Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản (Trang 51)
Bảng 4.3: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản - Đánh Giá Hiệu Quả Của Vắc Xin Sản Xuất Từ Chủng Vi Khuẩn Gây Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò Và Heo Phân Lập Được.pdf
Bảng 4.3 Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò sản (Trang 53)
Bảng 4.4: Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất - Đánh Giá Hiệu Quả Của Vắc Xin Sản Xuất Từ Chủng Vi Khuẩn Gây Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò Và Heo Phân Lập Được.pdf
Bảng 4.4 Kiểm tra an toàn của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất (Trang 55)
Bảng 4.5: Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất - Đánh Giá Hiệu Quả Của Vắc Xin Sản Xuất Từ Chủng Vi Khuẩn Gây Bệnh Tụ Huyết Trùng Trâu Bò Và Heo Phân Lập Được.pdf
Bảng 4.5 Kiểm tra hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng heo sản xuất (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w