Các KCN và KCX đóng góp một lượng lớn nước thải vào lưu vực sông, trong đó lớn nhất là của Đồng Nai chiếm 57,2%, TPHCM 23% và Bình Dương 9%… Tính đến nay, trên lưu vực hệ thống sông Đồng
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ivDANH MỤC CÁC BẢNG vDANH MỤC HÌNH vi
15 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
DANH MỤC BẢNG
Trang 2DANH MỤC HÌNH
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sông Đồng Nai bắt nguồn từ Cao nguyên Liăng Biăng (Lâm Đồng) chảy qua vùng núi cao nguyên đến hồ Trị An, sau đó chảy ngang qua thành phố Biên Hoà, về Tp.Hồ Chí Minh, đến ngã ba Mũi Đèn Đỏ và hợp lưu với sông Sài Gòn Tổng diện tích lưu vực tính đến cửa sông vào khoảng 38.600 km2, tổng chiều dài khoảng 437 km với
độ dốc trung bình của dòng sông là 0,42% Sông Đồng Nai có các nhánh sông chính là sông La Ngà và sông Bé Đây là một trong những lưu vực hệ thống sông lớn của Việt Nam và giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của của vùng Đông Nam Bộ
Theo kết quả phân tích gần đây nhất, hạ lưu sông Đồng Nai đoạn từ Nhà máy nước Thiện Tân đến Long Đại đã bắt đầu ô nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng vượt
từ 3 đến 9 lần giới hạn cho phép Đáng chú ý là đã phát hiện hàm lượng chì vượt tiêu chuẩn TCVN 5942 - 1995 đối với nguồn loại A tại lưu vực này Vùng hạ lưu sông Đồng Nai cũng bị nhiễm mặn nghiêm trọng và không thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu
Các cơ quan chuyên môn cho rằng, nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm là từ các nguồn nước thải công nghiệp, khai thác khoáng sản, làng nghề, sinh hoạt, y tế, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, chất thải rắn…, trong đó nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đóng góp tỷ lệ lớn nhất, với tải lượng các chất ô nhiễm rất cao Các KCN
và KCX đóng góp một lượng lớn nước thải vào lưu vực sông, trong đó lớn nhất là của Đồng Nai (chiếm 57,2%), TPHCM (23%) và Bình Dương (9%)… Tính đến nay, trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có khoảng trên 60 KCN, KCX đang hoạt động, tuy nhiên chỉ có khoảng trên 1/3 trong số này có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp ra sông Tại Đồng Nai, hiện chỉ có 9/19 khu công nghiệp có nhà máy
xử lý nước thải tập trung
Hệ thống sông Đồng Nai chảy qua 12 tỉnh thành, đến nay vẫn chưa thống nhất được mục đích sử dụng và bảo vệ nguồn nước Trong nhiều trường hợp, phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh này làm ảnh hưởng đến môi trường trong phạm vi của tỉnh kia Đặc biệt các tỉnh đầu nguồn như Lâm Đồng, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An nếu gây ô nhiễm thì khu vực hạ lưu như TP.Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai phải gánh chịu hậu quả
Trong năm 2008, Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về quản lý lưu vực hệ thống sông đã ra đời Với Nghị định này, tài nguyên nước trong lưu vực sông sẽ được quản lý theo nguyên tắc thống nhất, không chia cắt giữa các cấp hành chính, giữa thượng nguồn
và hạ nguồn; bảo đảm sự công bằng, hợp lý và bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi giữa các tổ chức, cá nhân trong cùng lưu vực Cũng trong năm này, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 157/2008/QĐ-CP về việc thành lập Ủy ban BVMT LVHTS Đồng Nai (gọi tắt là Ủy ban sông Đồng Nai) với chức năng nhiệm vụ, cơ chế hoạt động được quy định cụ thể Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động của Ủy ban này vẫn chưa thực sự hiệu quả Có rất nhiều lý do cho vấn đề này, nhưng cốt lõi nhất vẫn là sự thiếu hụt một công
cụ quản lý phù hợp nhằm phục vụ cho công tác quản lý môi trường nói chung, quản lý chất lượng nước nói riêng cho cơ quan này Một công cụ quản lý mà trong đó có sự tham gia với nhiều cấp độ khác nhau tùy theo chức năng, nhiệm vụ của tất cả các cơ quan quản lý môi trường các cấp: Trung ương, cấp vùng, cấp địa phương và cả sự tham gia của cộng đồng Ngoài ra, công cụ này cũng nhằm đáp ứng một nhu cầu bức thiết
Trang 4hiện nay trong quản lý môi trường nói chung và quản lý chất lượng nước nói riêng: đó
là sự chia sẻ, trao đổi thông tin, cơ sở dữ liệu giữa các địa phương, giữa các cơ quan quản lý môi trường với nhau Như vậy, hiệu quả của công tác quản lý chất lượng nước
sẽ tăng lên gấp nhiều lần
Chính vì vậy, việc phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông Đồng Nai là vấn đề vô cùng cấp thiết trong việc ra quyết định nhằm bảo vệ môi trường và làm giảm tổng chi phí môi trường nói chung và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên nói riêng của lưu vực, tạo môi trường giao tiếp gần gũi, giúp cho cộng đồng dễ dàng tiếp cận và theo dõi chất lượng nước, tăng mức độ xã hội hóa công tác bảo vệ chất lượng nước theo chủ
trương của nhà nước Trên cơ sở đó, đề tài “Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp dụng cho lưu vực sông Đồng Nai” được đưa
ra, nhằm đề ra một hướng ứng dụng công nghệ mới phục vụ quản lý và chia sẻ thông tin liên quan tới chất lượng nước cũng như tính toán về phần kinh tế được giảm thiểu đến mức tối đa trong việc bảo vệ nguồn nước khi có sự cố xảy ra
2 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu khả năng ứng dụng mô hình MCCRB trong công tác quản lý và phân chia tải lượng phát thải một cách phù hợp trong khai thác lưu vực sông Đồng Nai
để phát triển bền vững
3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn sẽ thực hiện những nội dung cơ bản sau:
- Tìm hiểu hiện trạng quản lý chất lượng nước trên lưu vực sông Đồng Nai
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn ba tỉnh thuộc lưu vực sông Đồng Nai
- Thu thập số liệu về mặt cắt, biên độ thủy lực, lưu lượng, tải lượng của sông Đồng Nai
- Khảo sát hiện trạng môi trường của các nhà máy, khu công nghiệp trên địa bàn
ba tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu khả năng ứng dụng mô hình MCCRB trong việc phân chia tải lượng phát thải trong lưu vực sông Đồng Nai
- Dùng mô hình Mike 11 để đánh giá chất lượng nước trên lưu vực sông dựa theo mô hình phân chia tải lượng phát thải
4 Phạm vi, giới hạn luận văn
Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lưu vực hệ thống sông Đồng Nai với tổng diện tích toàn lưu vực khoảng 44.612 km2, bao gồm toàn bộ địa giới hành chánh của 3 tỉnh thành: Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM, các kết quả đề tài và số liệu
sử dụng được đưa ra trên cơ sở phạm vi, giới hạn như sau:
- Thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội được thu thập từ một số địa phương đại diện trong lưu vực sông: Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM
- Về ranh giới lưu vực sông Đồng Nai: Từ hồ Trị An đến ngã ba đèn đỏ
- Về số liệu: Các số liệu trong để tài được sử dụng dựa trên kết quả quan trắc
chất lượng nước mặt, nước thải của các khu công nghiệp trên lưu vực sông Đồng Nai của Chi Cục Bảo Vệ Môi Trường Tỉnh Đồng Nai, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, Viện Môi Trường và Tài Nguyên Tp.Hồ Chí Minh, đề tài KHCN07-
17 “Xây dựng một số cơ sở khoa học phục vụ cho việc quản lý thống nhất và tổng hợp chất lượng môi trường nước lưu vực sông Đồng Nai” cơ quan thực hiện: Trung tâm công nghệ môi trường (ENTEC)
Trang 55 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp tài liệu: Tổng hợp các tài liệu, số liệu đã có từ những đề tài
nghiên cứu ứng dụng thiết lập quy hoạch, khảo sát đánh giá hiện trạng, các báo cáo tổng hợp v.v… đúc kết các thông tin tin cậy để tổng hợp ra những diễn biến của việc thay đổi chất lượng nước trên lưu vực sông Đồng Nai do các tác động của nguồn thải gây ra
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, thống kê, so sánh
- Phương pháp xử lý số liệu: Nhập, xử lý các số liệu điều tra, các số liệu phân tích bằng EXCEL, WORD Nhập các kết quả thống kê được thực hiện trên các kết quả phân tích mẫu và xử lý để đưa ra nhận định
- Phương pháp thống kê: sử dụng trong phân tích, xử lý số liệu, truy vấn dữ liệu trong đánh giá công tác quản lý môi trường
- Phương pháp so sánh: Thu thập những thông tin liên quan và những quy định, quy chuẩn hiện có của Nhà nước về quản lý môi trường để so sánh và phát hiện những vấn đề còn thiếu sót hoặc chưa phù hợp
Phương pháp mô hình hoá
- Ứng dụng mô hình MCCRB để tính toán việc phân chia tải lượng phát thải một cách phù hợp trong khai thác lưu vực sông Đồng Nai để phát triển bền vững
- Sử dụng mô hình MIKE 11 để đánh giá chất lượng nước theo mô hình phân chia tải lượng phát thải
Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã
tham khảo ý kiến của các chuyên gia tại phòng Tin học – Môi trường, Viện Môi trường
và Tài nguyên TP.HCM, các chuyên gia về quản lý chất lượng nước, về mô hình cũng như từ các nhà quản lý tại các đơn vị có liên quan Trong đó, tiêu biểu là các đề tài khoa học cấp nhà nước và cấp bộ
Trang 6CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.1 Vị trí địa lí
Đồng Nai
Hình 1 Bản đồ quy hoạch tỉnh Đồng Nai
Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng địa lý - kinh tế Đông Nam bộ (gồm 8 tỉnh, thành Đông Nam bộ) và tham gia vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm 8 tỉnh, thành Đông và Tây Nam bộ) là vùng kinh tế động lực trọng điểm quan trọng nhất của cả nước
- Tọa độ vị trí địa lý của tỉnh đồng Nai: từ 10o31’17” đến 11o34’49” vĩ độ Bắc và
từ 106o44’45” đến 107o34’50” kinh độ Đông Tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (590.215,47 ha) và có các tiếp giáp ranh giới cụ thể bao gồm:
+ Phía Đông giáp với tỉnh Bình Thuận
+ Phía Đông Bắc giáp với tỉnh Lâm Đồng
+ Phía Tây Bắc giáp với các tỉnh Bình Dương và Bình Phước
Trang 7+ Phía Tây giáp với thành phố Hồ Chí Minh.
+ Phía Nam giáp với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường sắt phát triển như: Quốc
lộ 1A, 20, 51 và đường sắt Bắc - Nam; có sân bay quân sự Biên Hòa rộng 40 km2 và đã quy hoạch xây dựng sân bay Quốc tế Long Thành rộng 50 km2, đồng thời có hệ thống giao thông đường thủy quan trọng như: sông Đồng Nai, Đồng Tranh và Thị Vải, tạo nên nhiều lợi thế giao lưu kinh tế - văn hóa với các tỉnh, thành khác trong phạm vi cả nước
- Tỉnh là một địa bàn trọng yếu về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng, có
vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và sự thật tỉnh đã sớm tận dụng được một số lợi thế so sánh của vùng trong công cuộc đổi mới kinh tế hiện nay để đạt được những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội rất đáng kể trong thời kỳ 1995 - 2005
Bình Dương
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía bắc giáp Bình Phước, phía nam và tây nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía tây giáp Tây Ninh, phía đông giáp Đồng Nai Tỉnh lỵ của Bình Dương hiện nay là thị xã Thủ Dầu Một, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km
Trang 8Hình 1 Bản đồ quy hoạch tỉnh Bình Dương
- Tọa độ địa lý: vĩ độ Bắc: 110°52' - 120°18', kinh độ Đông: 106°45' - 107°67'30"
- Diện tích tự nhiên 2.681,01km2 (chiếm 0,83% diện tích cả nước và xếp thứ 42/64 về diện tích tự nhiên)
Trên địa bàn Bình Dương có nhiều sông lớn chảy qua, nhưng quan trọng nhất là sông Sài Gòn và sông Đồng Nai Sông Đồng Nai là một trong những sông lớn của Việt Nam, có tổng chiều dài 450 km, trong đó chảy qua Bình Dương 84 km
TP.HCM
Trang 9Hình 1 Bản đồ quy hoạch Tp.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng
và còn là một cửa ngõ quốc tế
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông
Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến
25 mét Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở
phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận
12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét
1.2 Điều kiện tự nhiên
Đồng Nai
Địa hình đặc trưng của tỉnh là kiểu núi thấp và bán bình nguyên, có bề mặt nghiêng thoải từ Tây Bắc xuống Tây Nam (tức là nghiêng về phía lòng sông
Trang 10Đồng Nai) Có thể phân chia các mức địa hình theo độ cao tuyệt đối như sau (theo chiều giảm dần của độ cao tuyệt đối):
- Mức cao 837 - 400 m: Địa hình đặc trưng bởi những núi đẳng thước, độc lập
cách xa nhau như núi Chứa Chan (837m), núi Sóc Lu (418m), núi Suối Râm (444m) và núi Mây Tào chung với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (708m)
- Mức cao 300 - 100 m: Tương đối phổ biến trên địa bàn tỉnh, phân bố rải rác từ
Bắc xuống Nam dài gần 100 km không liên tục Dải địa hình này có đặc điểm có nơi dạng vòm (vùng rừng Cát Tiên - Tân Phú) Đường kính vòm rộng 25-30 km nằm giữa hai lưu vực sông Mã Đà (thượng nguồn sông Bé) và sông Đồng Nai Đỉnh vòm cao 372
m là nơi hội tụ của nhiều đầu nguồn suối kiểu tỏa tia đặc trưng Về phía Nam (của hồ Trị An) dải núi tựa như một nóc nhà khổng lồ chia nước cho hai phía Đông và Tây thuộc lưu vực sông Đồng Nai và sông La Ngà Mức chia cắt sâu, chia cắt ngang từ 50 -
100 m Vùng ít lộ đá gốc, lớp vỏ khá dày
- Mức cao 100-50 m: Khu lòng hồ Trị An, dọc thung lũng sông La Ngà, vùng
Cây Gáo, Trảng Bom, Vùng được cấu thành từ các thành tạo Kainozoi là chủ yếu
- Mức cao 50 m trở xuống: Là địa hình đồng bằng, thung lũng các sông Đồng
Nai, Thị Vải ở phía Tây Nam tỉnh giáp vùng Cần Giờ (Tp.Hồ Chí Minh) Đây là vùng đất nông nghiệp quan trọng và nuôi trồng thủy sản
Tỉnh có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa mưa và mùa khô khác biệt Có thể tóm tắt tình hình diễn biễn chế độ khí hậu tại tỉnh như sau:
- Diễn biến nhiệt độ trung bình: Trong 5 năm gần đây nhiệt độ trung bình năm
tại tỉnh vẫn có xu hướng tăng từ 0,1 - 0,3oC/năm (tổng giá trị tăng là 0,4oC/5 năm), trong
đó riêng tại khu vực thành phố Biên Hòa có mức tăng cao nhất tới 0,7oC Tháng 01 có nhiệt độ thấp nhất: 24,3 - 26,6oC, rồi tăng nhanh đến tháng 4 đạt mức cao nhất: 28,5 - 29,7oC (trừ tại La Ngà muộn và sớm hơn 1 tháng, là tháng 2, 3)
Bình Dương
Là một tỉnh ở miền Đông Nam Bộ, phía bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía nam giáp Tp Hồ Chí Minh, phía đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây giáp tỉnh Tây Ninh
Tỉnh Bình Dương có các vùng đất đỏ trồng cao su và cà phê, vùng đất xám, nơi có đồng cỏ chăn nuôi và trồng hoa màu; vùng đồng bằng sông bồi, nơi
có nhiều ruộng lúa, vườn cây ăn trái như Lái Thiêu, nổi tiếng với các loại: sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, mít tố nữ
Có các con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh là: sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé với nhiều kênh rạch, sông con, cung cấp nước tưới cho đồng ruộng và tạo điều kiện cho ghe thuyền đi lại thuận tiện
Khí hậu: Có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình năm 27ºC
TP.HCM
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình
có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958
Trang 11Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, 80%, và xuống thấp vào mùa không, 74,5% Trung bình, độ ẩm không khí đạt bình quân/năm 79,5%.
1.3 Kinh tế - xã hội
Đồng Nai
Kinh tế Đồng Nai giai đoạn 2005 - 2010 đạt tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và khá bền vững; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh
Sản xuất công nghiệp tiếp tục đạt nhịp độ tăng trưởng cao Một số ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi thế so sánh phát triển nhanh; công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp được đầu tư đúng mức, phục vụ đắc lực cho yêu cầu công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn; bước đầu phát triển được một số ngành công nghiệp kỹ thuật cao
Việc huy động các nguồn lực cho phát triển có tiến bộ, công tác đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, quy hoạch đô thị, quy hoạch các khu dân cư tập trung được chú trọng, tạo chuyển biến mới về bộ mặt thành thị và nông thôn, đặc biệt là về kiến trúc đô thị Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh 5 năm qua đạt trên 46 ngàn tỷ đồng, gấp 2,4 lần thời
kỳ 1996 - 2000 (vượt mục tiêu Nghị quyết), trong đó vốn đầu tư trong nước chiếm 47,6%, tăng gấp 3,3 lần Cơ cấu đầu tư được triển khai đúng định hướng, tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hoàn thành cơ bản chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng chủ yếu ở các xã đặc biệt khó khăn, tăng đầu tư phát triển công nghiệp, đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
Bình Dương
Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài Gồm có 13 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó nhiều khu công nghiệp đã cho thuê gần hết diện tích như Sóng Thần II, Đồng An, Tân Đông Hiệp A, Việt Hương, Sóng Thần 1.Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thu hút 938 dự án đầu tư, trong đó có 613 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3,483 triệu USD và 225 dự án đầu tư trong nước có số vốn 2.656 tỉ đồng Nhằm tăng sự thu hút đầu tư; hiện nay địa phương này đang tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tiến độ thi công các khu công nghiệp mới
để phát triển công nghiệp ra các huyện phía bắc của tỉnh (Mỹ Phước 1,2,3; 6 khu công nghiệp trong Khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị Bình Dương, Tân Uyên)
Mục tiêu kinh tế xã hội của Bình Dương thời kỳ 2006 -2010
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VIII năm 2006 đã nêu mục tiêu phấn đấu thời kỳ 2006-2010 về kinh tế-xã hội của tỉnh như sau:
- Tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm là 15%
- Quy mô GDP (giá hiện hành) đến năm 2010 đạt khoảng 45.800 tỷ đồng, tương đương 2,9 tỷ Đôla Mỹ -GDP bình quân đầu người đạt khoảng 30 triệu đồng
Trang 12- Cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp: 65,5%; dịch vụ: 30%; nông nghiệp: 4,5%
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 14-15%/năm
- Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cả thời kỳ đạt 3 tỷ USD
- 90% trường trung học phổ thông, tiểu học đạt chuẩn quốc gia
- Phổ cập giáo dục bậc trung học -95% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế
- Tỷ lệ hộ nghèo còn 2,5% (theo chuẩn mới của tỉnh 400.000 đồng/người/tháng đối với nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng đối với thành thị) Theo mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì nông nghiệp giảm xuống còn 15-16%, công nghiệp và xây dựng 43-44%, dịch vụ 40-41% Với tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp luôn ở mức cao như hiện nay là 35%/năm (2001-2005) thì Bình Dương sẽ là một trong những tỉnh về đích trước và sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người
ở thành phố đạt 2.100 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước, 730 USD/năm vào 2006
Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm
tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%
Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp cũng gây khó khăn cho nền kinh tế Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn
1.4 Hiện trạng môi trường và thông tin chất lượng nước lưu vực sông Đồng Nai
1.4.1 Tổng quan lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
Sông Đồng Nai có dòng chính dài 470 km và có diện tích lưu vực tính đến thác Trị An là 14.800 km2 Toàn bộ lưu vực có 266 sông suối với chiều dài từ 10 km trở lên Lưu vực đổ nước ra biển tại 2 cửa chính là vịnh Gành Rái và cửa Soài Rạp Tổng lượng dòng chảy hàng năm LVHTS Đồng Nai (sau đây gọi tắt là LVS Đồng Nai) khoảng 36,6
tỷ m3 trong đó có khoảng 32 tỷ m3 phát sinh trong lãnh thổ (chiếm 89 % tổng lượng nước trong lưu vực)
Lưu vực sông Đồng Nai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân hóa theo 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa cả năm Lưu vực có rất nhiều đập và công trình điều tiết với 2 hồ
Trang 13chứa lớn là hồ Trị An (phát điện); hồ Dầu Tiếng (hồ thủy lợi) Trên LVHTS Đồng Nai, lượng mưa trung bình nhiều năm vào khoảng 2100 mm, tương ứng với khối lượng nước mưa khoảng 84 tỷ m3 Lượng nước này, ngoài phần tổn thất do bốc hơi, sẽ là nguồn cung cấp cho nước ngầm và hình thành dòng chảy bề mặt của các sông suối.
Đoạn sông Đồng Nai từ sau hồ Trị An đến Ngã ba Đèn Đỏ có vai trò quan trọng với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Đoạn sông này
có chức năng cấp nước sạch đồng thời tiếp nhận nước thải của Tp.Hồ Chí Minh, Tp.Biên Hòa, các KCN, vùng sản xuất nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai, Tp.Hồ Chí Minh, Bình Dương Tuy nhiên nguồn tài nguyên nước có ý nghĩa sống còn này đang ở mức nguy hiểm về chất lượng và khả năng cung cấp nước sạch Để duy trì nguồn tài nguyên nước quý giá này cần phải có biện pháp quản lý, bảo vệ mà bước đầu tiên là phải phân đoạn quản lý theo các mục tiêu thích hợp nhất cho hiện tại và trong tương lai
Nhìn chung, tài nguyên nước mặt ở LVHTS Đồng Nai tương đối khá Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên không cho phép để có thể điều chỉnh lại dòng chảy cho phù hợp với nhu cầu sinh hoạt và phát triển KTXH đối với toàn bộ vùng lãnh thổ LVHTS Đồng Nai với lượng nước hàng năm 24,3 tỷ m3
1.4.2 Diễn biến chất lượng nước sông Đồng Nai những năm gần đây
Sông Đồng Nai có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh Đồng Nai, là nguồn nước cấp cho sinh hoạt của tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay, sông Đồng Nai không chỉ là nguồn tiếp nhận lượng chất thải từ các đô thị và khu công nghiệp trong tỉnh, mà còn tiếp nhận một lượng chất thải khá lớn từ một số tỉnh, thành lân cận Vì vậy, sông Đồng Nai đã được quan trắc tác động thường xuyên nhằm theo dõi diễn biến nhạy cảm trong chất lượng của nguồn nước sinh hoạt quan trọng này
Bảng 1 Diễn biến chất lượng nước sông Đồng Nai trong giai đoạn 2005-2009
TCVN
5942 – 1995 (cột A)
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2005-2009)
So sánh kết quả quan trắc môi trường với TCVN 5942 - 1995 (cột A) cho nhận xét sau: Trong cả 5 năm chất lượng nguồn nước sông Đồng Nai hoàn toàn không đạt ở các chỉ thị NH3-N và coliform (vượt 2 - 110 lần); chỉ thị SS nhìn chung không đạt tiêu chuẩn, song có xu hướng giảm dần và đạt tiêu chuẩn vào mùa khô năm 2005; các chỉ thị DO, BOD cơ bản chấp nhận được; chỉ thị pH đều đạt tiêu chuẩn cho phép
Trang 14 Diễn biến chất lượng nước từ hồ Trị An đến Ngã ba Đèn Đỏ
Đoạn sông Đồng Nai từ sau hồ Trị An đến Ngã ba Đèn Đỏ có độ dài 90km, chảy ngang qua tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và Tp.HCM Đoạn sông này có nhiều đặc trưng quan trọng: không có các điểm hợp lưu lớn, là nguồn cung cấp nước sạch, chịu ảnh hưởng của triều, mặn, là nơi tiếp nhận nước thải sinh hoạt, sản xuất với số lượng lớn của Tp.HCM, Tp.Biên Hòa Dựa theo các đặc trưng trên có thể chia đoạn sông ra 3 đoạn nhỏ Trong đoạn sông Đồng Nai từ hồ Trị An đến cầu Đồng Nai hiện đang có trạm bơm nước của nhà máy nước Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) và nhà máy nước Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai), tổng lượng nước đang khai thác đạt 700.000m3/ngày đêm Theo quy hoạch, đến năm 2005 sẽ có thêm nhà máy nước Thiện Tân thuộc tỉnh Đồng Nai (200.000
m3/ngày.đêm); nhà máy nước Bình An thuộc tỉnh Bình Dương (100.000 m3/ngày.đêm) Lượng nước khai thác trên sông Đồng Nai vào năm 2005 tối thiểu là 1.000.000
m3/ngày.đêm Với vai trò là nguồn cung cấp nước sạch cho sinh hoạt, nước sông Đồng Nai được bảo vệ để đạt loại A của TCVN về chất lượng nước mặt Nồng độ các thông số
ô nhiễm của nước sông Đồng Nai được quan trắc hàng tháng Kết quả của hệ thống quan trắc chất lượng nước sông Đồng Nai (Cục Môi trường và Sở KHCN & MT tỉnh Đồng Nai) cũng như các khảo sát của các cơ quan khoa học trong những năm gần đây cho thấy chất lượng nước sông Đồng Nai (đoạn sông từ sau hồ Trị An đến điểm hợp lưu của sông Đồng Nai và sông Sài Gòn) đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ Nguyên nhân chính là nước thải sinh hoạt, công nghiệp từ các khu vực đô thị, khu công nghiệp… nằm ven sông
Bảng 1 Diễn biến chất lượng nước hồ Trị An trong giai đoạn 2005-2009
5942-1995 (cột A)
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2005 – 2009)
Trải rộng trên địa bàn nhiều tỉnh, sông Đồng Nai chịu ảnh hưởng mạnh của
nhiều nguồn tác động trên toàn lưu vực Phần hạ lưu của nhiều sông trong lưu vực đã bị
ô nhiễm nghiêm trọng, trong đó, có đoạn đã trở thành sông "chết" Sông Đồng Nai có nhiều đoạn đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là vùng hạ lưu nước sông Đồng Nai, đoạn từ nhà máy nước Thiện Tân đến Long Đại - Đồng Nai đã bắt đầu ô nhiễm chất hữu
cơ và chất rắn lơ lửng, đáng chú ý là đã phát hiện hàm lượng chì vượt tiêu chuẩn TCVN 5942-1995 đối với nguồn loại A Trong đoạn sông này, chất rắn lơ lửng thường vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần, giá trị COD vượt từ 1,8 - 2,8 lần, giá trị DO thấp dưới giới hạn
cho phép
Trên đoạn sông từ khu vực trạm bơm cấp nước Hóa An đến trạm Cát Lái, qua địa bàn Tp.HCM cho thấy CLN tương đối ổn định từ năm 2001 đến nay; hàm lượng BOD5 dao động trong khoảng 2 mg/l, đạt tiêu chuẩn CLN mặt dùng làm nguồn cấp
Trang 15nước sinh hoạt Hàm lượng dầu dao động từ 0,025 đến 0,029 mg/l, trong khi TCVN quy định không cho phép dầu hiện diện trong nguồn nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt Ô nhiễm vi sinh ở mức cao tại các khu vực Hóa An và Cát Lái, nhưng đã có chiều hướng giảm trong vài năm gần đây CLN sông của khu vực hạ lưu: Giá trị DO giảm xuống rất thấp, SS vượt từ 2- 2,5 lần TCVN 5942 - 1995 (loại B) Vùng này cũng đã bị nhiễm mặn nghiêm trọng, nước sông ở khu vực này không thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu
Hình 1 Bản đồ khu vực nghiên cứu từ hồ Trị An đến ngã ba đèn đỏ
1.5 Nguồn tác động đến CLN LVHTS Đồng Nai
Hiện nay, LVHTS Đồng Nai đang chịu áp lực mạnh mẽ của gia tăng dân số, đô thị hóa và phát triển kinh tế, đặc biệt là các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Ngoài ra, CLN còn chịu tác động mạnh bởi hoạt động phát triển thủy điện - thủy lợi, việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, hoạt động khai thác khoáng sản, phát triển giao thông vận tải thủy Trong
số các nguồn thải có lưu lượng thải lớn, nước thải công nghiệp và sinh hoạt đóng góp tỷ
lệ lớn nhất, với tải lượng các chất ô nhiễm rất cao [1].
1 5.1 Hoạt động của các KCN và KCX
Tính đến nay, trên lưu vực có khoảng hơn 70 KCN và KCX đang hoạt động, trong số đó chỉ có 21 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung, còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động lớn đến CLN của các nguồn tiếp nhận, chủ yếu là
Trang 16khu vực trung lưu và hạ lưu sông Đồng Nai (KCN của Đồng Nai, Bình Dương), sông Sài Gòn (KCN của TP.HCM, Bình Dương) và sông Thị Vải (KCN, cảng nước sâu của Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu) Cùng với lượng lớn nước thải sinh hoạt, nước thải từ các KCN và các CSSX công nghiệp phân tán đã gây ô nhiễm nghiêm trọng khu vực hạ lưu sông Đồng Nai, sông Sài Gòn.
Bảng 1 Các khu công nghiệp trên địa bàn ba tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương,
Tp.HCM
(Nguồn: Chi cục bảo vệ môi trường)
1 5.2 Nước thải công nghiệp
Theo thống kê đến hết năm 2007, trên LVS có khoảng hơn 10.000 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp (riêng TP HCM chiếm hơn 60%) Trong số đó, có rất nhiều cơ sở sản xuất phân tán, nằm xen kẽ trong các khu dân cư, do đó công tác quản lý, kiểm soát nguồn và lượng thải thường rất khó khăn
Xét về tổng lượng nước thải, bình quân một ngày, LVS tiếp nhận khoảng 480.000 m3 nước thải từ các KCN và các CSSX công nghiệp phân tán trên lưu vực Các KCN và KCX tập trung đóng góp một lượng lớn nước thải khoảng 120.000 m3/ngày) vào LVS Trong đó, lớn nhất là nước thải từ các KCN và KCX của Đồng Nai (57,2%), tiếp đó là TP HCM (23%) và Bình Dương (9%)
Trang 17Hình 1 Tỉ lệ lưu lượng nước thải từ các KCN tập trung của một số Tỉnh/TP trong
LVHTS Đồng Nai
(Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên, 2006)
1.5.3 Hoạt động khai thác khoáng sản
Hiện nay, hoạt động khai thác khoáng sản phát triển tương đối mạnh trong lưu vực Nhóm khoáng sản kim loại tập trung chủ yếu ở khu vực thượng lưu (Lâm Đồng, Đồng Nai), nhóm khoáng sản phi kim (cát, đá, đất sét ) tập trung ở vùng hạ lưu (Bình Dương, TP.HCM, Đồng Nai, Long An) Các hoạt động này đang là một nguyên nhân gây ảnh hưởng đến CLN mặt (trong đó có ô nhiễm kim loại nặng)
Khai thác quặng Bôxit (Lâm Đồng - thượng nguồn sông Đồng Nai) và khai thác vàng (khoảng 50 điểm quặng và mỏ vàng tập trung ở phía bắc tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và một phần phía nam tỉnh Đắk Nông): chủ yếu là hoạt động khai thác lộ thiên, phương tiện khai thác rất thủ công Hoạt động khai thác
sử dụng đến hàng trăm nghìn m3 nước; việc đào bới, rửa xói từ hàng chục đến trăm nghìn tấn đất, thải ra sông suối cũng đã làm suy giảm mạnh mẽ CLN sông Đồng Nai
1 5.4 Nước thải sinh hoạt
Hiện nay, trên toàn lưu vực có hơn 77 khu đô thị với dân số khoảng trên 15 triệu người Các khu đô thị phân bố không đồng đều, tập trung nhiều nhất trên sông Sài Gòn Khu vực từ trung tâm TP.HCM đến Thị xã Thủ Dầu Một tập trung khoảng gần 8 triệu dân Tốc độ đô thị hóa nhanh, trong khi đó hạ tầng kỹ thuật đô thị phát triển không tương xứng, làm gia tăng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt
Các khu đô thị hàng ngày thải vào LVHTS Đồng Nai trung bình khoảng 992.000
m3 nước thải sinh hoạt Tất cả các đô thị trên LVS đều chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt Đây là nguồn thải lớn, gây suy giảm CLN tại lưu vực, đặc biệt là ô nhiễm hữu
cơ và vi si nh
Bảng 1 Các khu dân cư trên lưu vực sông Đồng Nai
Trang 18TP.Biên Hòa Đồng Nai 470528
(Nguồn: Đề tài KHCN 07-17 năm 1999)
Trong LVS, TP.HCM đóng góp lượng nước thải sinh hoạt lớn nhất (77,5%) Hạ lưu sông Sài Gòn, đoạn chảy qua trung tâm TP, nước sông bị ô nhiễm nghiêm trọng do đây là khu vực tiếp nhận lượng nước thải sinh hoạt lớn nhất Đồng Nai là địa phương đóng góp lượng nước thải sinh hoạt lớn thứ 2 trong lưu vực Hạ lưu sông Đồng Nai là nơi tiếp nhận chủ yếu lượng thải này, đặc biệt đoạn sông qua TP Biên Hòa (tiếp nhận 87% tổng lượng nước thải sinh hoạt của tỉnh) nên môi trường nước bị ô nhiễm hữu cơ nặng
xử lý (chiếm 78% tổng lượng nước thải) Tuy nhiên, tỷ lệ nước thải bệnh viện được xử
lý đạt TCVN 6772 - 2000 mới chỉ chiếm 26% so với tổng lượng thải
Lượng nước thải này hầu hết được thải trực tiếp vào hệ thống tiếp nhận nước thải sinh hoạt và được đưa vào nguồn nước mặt trong LVS Đây là nguồn tiềm ẩn nguy
cơ lan truyền dịch bệnh qua môi trường nước
1.5.6 Hoạt động nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Trồng trọt
LVHTS Đồng Nai hiện có khoảng 1,8 triệu ha đất nông nghiệp (chiếm 48,7% diện tích toàn lưu vực) Hoạt động canh tác này cũng đã gây ảnh hưởng xấu đến CLN
do việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy cách
Việc khai thác và cải tạo đất phèn trên một số vùng như Long An, Củ Chi, Bình Chánh (TP.HCM), cộng với việc sử dụng phân bón có đặc tính chua làm gia tăng mức
độ axít hóa nước sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông
Chăn nuôi
Lâm Đồng, Bình Thuận và Đồng Nai là những khu vực có hoạt động chăn nuôi phát triển rất mạnh trong lưu vực Tổng lượng nước thải từ hoạt động chăn nuôi trên toàn LVS là khoảng 147.300 m3/ngày Hầu hết lượng nước thải này đều được đổ trực tiếp xuống các nguồn nước mặt mà không qua xử lý
Nuôi trồng thuỷ sản
Hiện nay, nuôi trồng thủy sản nước ngọt phát triển rộng trên toàn lưu vực (nuôi
cá bè, nuôi trong ao hồ, hồ chứa nước ) Tổng diện tích nước mặt nuôi trồng thủy sản của các địa phương trên toàn lưu vực khoảng 71.800 ha, sản lượng nuôi đạt xấp xỉ 500.000 tấn/năm Nước thải và chất thải từ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản thường không được kiểm soát, không qua xử lý mà thải trực tiếp vào môi trường nước, gây tác động
Trang 19đáng kể đến CLN mặt trong LVS Thêm vào đó, các sự cố do tôm, cá nuôi chết hàng loạt không được xử lý kịp thời cũng là nguồn làm suy giảm CLN mặt nghiêm trọng.
1.5.7 Hoạt động giao thông vận tải thủy
LVHTS Đồng Nai có nhiều sông lớn, rộng, sâu và luồng lạch ổn định, đặc biệt là khu vực hạ lưu sông Đồng Nai, Sài Gòn, Nhà Bè, Soài Rạp, Vàm Cỏ, Thị Vải Những khu vực này có các điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông thủy và cũng như hệ thống cảng nước sâu trong khu vực
Tại lưu vực, hiện có tổng số 37 cảng lớn nhỏ với khả năng tiếp nhận các tàu từ 1.000 - 30.000 DWT Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống các cảng kéo theo số lượng tàu thuyền gia tăng Đây là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước mặt do việc xả thải dầu cặn và các chất thải có nguồn gốc dầu mỡ khoáng Theo nhiều công trình nghiên cứu thì khối lượng dầu phát sinh trong quá trình vệ sinh các tàu chở dầu chiếm khoảng 0,67% trọng tải tàu Hiện nay, hoạt động súc rửa vệ sinh tàu và đổ thải ngay tại chỗ đã gây ô nhiễm dầu trên một số sông rạch khu vực hạ lưu của LVS
Ngoài ra, các sự cố tràn dầu đang ngày càng gia tăng do các vụ va chạm, chìm tàu chở dầu Đối với tỉnh ven biển như Bà Rịa - Vũng Tàu thì số lượng sự cố tràn dầu còn lớn hơn vì ngoài hoạt động giao thông vận tải thủy còn có công nghiệp khai thác dầu khí Sự cố môi trường do vỡ đường ống dẫn dầu vào các bồn chứa xăng dầu tại các kho cảng nằm ven sông Đồng Nai - Sài Gòn cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường nước vùng hạ lưu của LVS
1.6 Hiện trạng công tác quản lý chất lượng nước tại lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
1.6.1 Công tác ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm chất lượng nước
1.6.1.1 Tình hình thực hiện công tác ĐTM
Trong những năm qua, công tác ĐTM tại LVS đã được triển khai một cách
có hệ thống tại các địa phương và ngày càng mạnh mẽ Tổng số báo cáo ĐTM và bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường (TCMT) được phê duyệt và thẩm định trong 10 năm qua ngày càng tăng Tuy nhiên, công tác này vẫn còn một số hạn chế như: tỷ lệ báo cáo ĐTM và bản đăng ký đạt TCMT được thẩm định và phê duyệt trên tổng số các dự án và cơ sở thuộc diện phải lập báo cáo ĐTM còn thấp;
số báo cáo ĐTM và bản đăng ký đạt TCMT được phê duyệt giữa các tỉnh/thành cũng không đồng đều; hoạt động sau thẩm định báo cáo ĐTM còn rất yếu; nhiều
dự án được phê duyệt nhưng sau đó không xây dựng các công trình xử lý nước thải hoặc có xây dựng nhưng không vận hành đúng quy cách thiết kế Song, nỗ lực thực hiện công tác ĐTM của các tỉnh/TP trong thời gian qua là rất đáng khích
lệ, góp phần không nhỏ trong việc BVMT cũng như bảo vệ CLN tại LVS
1.6.1.2 Tình hình cấp phép xả nước thải
Việc xin và cấp phép xả nước thải vào nguồn nước đã được quy định tại Điều
18, Luật Tài nguyên nước Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 quy định cụ thể về việc cấp phép thăm dò, khai thác,
sử dụng TNN, xả nước thải vào nguồn nước và Bộ TN&MT cũng đã ban hành Thông tư
số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24-6-2005 hướng dẫn việc thực hiện Nghị định này
Theo báo cáo của các địa phương trong lưu vực, nhiều nơi đã thực hiện việc thống kê các cơ sở xả thải thuộc diện phải xin cấp phép, nhưng cho đến nay trên cả LVS, số lượng giấy phép xả nước thải vào nguồn nước cấp được còn rất ít so với số lượng các đối tượng phải xin cấp phép Tính đến cuối tháng 6 năm 2006, có rất ít giấy
Trang 20phép được cấp trong tổng số khoảng hàng trăm các CSSX kinh doanh thuộc diện phải xin cấp phép xả nước thải, cho thấy công tác này cần triển khai chặt chẽ hơn nữa trong thời gian tới.
1.6.1.3 Tình hình áp dụng các công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế như phí, thuế, quỹ…đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ CLN LVS Công cụ kinh tế giúp các tổ chức và cá nhân lựa chọn cách ứng xử hiệu quả trong khai thác, sử dụng và bảo vệ CLN, mà cụ thể là trong thủy nông, cấp thoát nước
đô thị và khắc phục ô nhiễm nguồn nước, bao gồm: định giá dịch vụ nước, tự chủ tài chính của doanh nghiệp, thuế TNN và các thuế khác, chính sách huy động vốn đầu tư phát triển, thu phí BVMT đối với các hộ dân, CSSX kinh doanh… trên LVS
Tại LVHTS Đồng Nai, các công cụ kinh tế cũng được áp dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự suy giảm CLN, cụ thể là tiến hành thu phí nước thải Đồng thời, Quỹ BVMT Việt Nam ra đời với mục đích hỗ trợ tài chính trong lĩnh BVMT trên phạm
vi cả nước mà không vì mục đích lợi nhuận Mặc dù số dự án lập hồ sơ vay vốn và số
dự án được chấp thuận cho vay vốn tại các tỉnh, TP thuộc LVHTS Đồng Nai còn rất ít song đây là dấu hiệu đáng mừng, tạo đà cho việc phát triển và áp dụng các công cụ kinh
tế khác trong BVMT tại LVS
1.6.2 Công tác kiểm tra, thanh tra
Kiểm tra, thanh tra (định kỳ và đột xuất) về hoạt động BVMT của các CSSX,
kinh doanh, dịch vụ và KCN có nước thải công nghiệp gây nguy cơ ô nhiễm nước sông
là việc làm hết sức cấp thiết nhằm bảo vệ CLN các LVS Tại LVHTS Đồng Nai, công tác thanh kiểm tra bao gồm: thanh kiểm tra về TNN, kiểm tra các hoạt động BVMT sau phê duyệt báo cáo ĐTM, các chương trình thanh kiểm tra các cấp, Gần đây nhất, từ tháng 9/2008, Bộ TN&MT đã tiến hành tổng kiểm tra các cơ sở thuộc LVHTS Đồng Nai, phát hiện và xử lý theo pháp luật các đối tượng vi phạm, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến CLN
Ngoài ra, thực hiện ý kiến chỉ đạo của TTCP về việc xử lý ô nhiễm môi trường sông Thị Vải thuộc địa bàn các tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai, Bộ TN&MT đã phối hợp với UBND hai tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Đồng Nai tổ chức kiểm tra các CSSX, kinh doanh và KCN đang hoạt động trên sông Thị Vải Qua kết quả kiểm tra tại chỗ và kết quả phân tích các chỉ tiêu ô nhiễm trong nước thải của 77 cơ sở và KCN cho thấy hầu hết các cơ sở sau khi được thẩm định Báo cáo ĐTM hoặc Bản đăng ký đạt TCMT đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nội dung đã được phê duyệt hoặc xác nhận; có 49/77 cơ sở đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải nhưng chỉ có
12 cơ sở xử lý đạt TCVN (chiếm 15,6%); 28/77 cơ sở sản xuất và KCN vi phạm các quy định về xả nước thải vượt TCVN gây ô nhiễm môi trường nước sông Thị Vải, một
số cơ sở và KCN có tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải lớn; 8/12 KCN chưa xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung đáp ứng yêu cầu xử lý nước thải của các dự án trong KCN, nước thải có nhiều chỉ tiêu ô nhiễm vượt TCVN.
1.6.3 Công tác quy hoạch LVS Đồng Nai
Quy hoạch tài nguyên nước LVS
Ngày 13/02/2006, Bộ TN&MT đã có các Quyết định phê duyệt đề cương và tổng dự toán dự án Quy hoạch TNN LVS Đồng Nai, Vùng cực Nam Trung Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Mục tiêu của ác dự án quy hoạch là:
+ Xây dựng khuôn khổ chung cho công tác bảo vệ, khai thác, phát triển và sử dụng TNN; phòng chống, giảm thiểu tác hại do nước gây ra và BVMT có liên quan đến
Trang 21TNN LVS (vùng lãnh thổ), bao gồm xác định các mục tiêu, các vấn đề ưu tiên và giải pháp tổng thể cho việc thực hiện các mục tiêu đạt ra của quy hoạch;
+ Xác định các quy tắc, các họat động cần thực hiện để quản lý sử dụng tổng hợp và bền vững TNN LVS, bao gồm: chia sẻ, khai thác, sử dụng và phát triển TNN; Bảo vệ TNN và các hệ sinh thái dưới nước; Phòng, chống và giảm thiểu tác hại do nước gây ra
Phân vùng khai thác, sử dụng TNN và xả nước thải
Việc quy hoạch phân vùng khai thác, sử dụng TNN và xả nước thải vào nguồn nước là hết sức quan trọng Khi chưa có các quy hoạch này, sẽ xảy ra tình trạng nước thải được xả vào đoạn sông phía trên nhưng phía dưới lại lấy nước dùng cho sinh hoạt
Vì vậy, tuy chưa có quy hoạch đầy đủ về khai thác, sử dụng và bảo vệ TNN, nhưng một
số địa phương đã có quy định về phân vùng khai thác, sử dụng TNN và xả nước thải vào nguồn nước như: Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu Đây cũng là một căn cứ tốt cho việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước Tuy nhiên, để thực hiện tốt việc quản lý tổng hợp LVS nhằm tránh những xung đột, mâu thuẫn giữa các địa phương, giữa các vùng thượng, trung và hạ lưu các con sông, việc phân vùng khai thác sử dụng TNN và
xả nước thải vào nguồn nước cần được thực hiện, góp phần bảo vệ CLN chung cho toàn lưu vực
Quy hoạch của các ngành khai thác sử dụng nước
Trong các quy hoạch của ngành khai thác, sử dụng nước, quy hoạch thủy lợi và thủy điện là hai ngành có tác động lớn làm thay đổi nguồn nước do các hồ, đập, công trình thủy lợi, thủy điện điều tiết lại dòng chảy Cho đến nay, đã có khá nhiều quy hoạch thủy lợi và thủy điện trên LVS như: Quy hoạch thủy lợi LVS Đồng Nai; Quy hoạch lũ sông Đồng Nai; Quy hoạch bậc thang thủy điện trên HTS Đồng Nai Điều này cũng góp phần tác động đến CLN chung của lưu vực
1.6.4 Công tác quan trắc, thông tin môi trường
Tại LVS, nhiều chương trình quan trắc CLN mặt phục vụ cho các mục tiêu khác nhau đã được thực hiện Việc quan trắc CLN mặt ngày càng được tổ chức một cách hệ thống hơn, thu được nhiều số liệu quan trọng theo không gian và thời gian đối với từng lưu vực
1.6.4.1 Về mạng lưới quan trắc
Hoạt động quan trắc CLN các LVS ở cấp trung ương hiện nay chủ yếu do một số đơn vị trong Bộ TN&MT và một số bộ/ngành khác tham gia: Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia, mạng lưới quan trắc nước dưới đất do Cục Địa chất và Khoáng sản quản lý Trong đó, quan trọng nhất là Hệ thống quan trắc môi trường Quốc gia do Cục
BVMT quản lý
Bên cạnh đó, các Bộ, ngành khác cũng tiến hành quan trắc nước mặt LVS, phục
vụ các yêu cầu của Bộ, ngành mình Chẳng hạn Bộ Thuỷ sản quan trắc CLN nuôi trồng thuỷ sản, Bộ Y tế giám sát CLN đảm bảo điều kiện vệ sinh, Bộ NN&PTNT quan trắc CLN nước phục vụ nông nghiệp Ngoài các trạm quan trắc môi trường quốc gia, nhiều tỉnh/thành trong các LVHTS cũng đã thành lập Trung tâm Quan trắc nhằm theo dõi, giám sát diễn biết CLN nói chung, phục vụ công tác quản lý bảo vệ CLN của địa
phương như: TP HCM, Đồng Nai và Bình Dương…
Một số hạn chế trong hoạt động quan trắc CLN mặt thể hiện như sau:
- Kinh phí đầu tư và nguồn lực cán bộ cho công tác quan trắc môi trường nước còn hạn chế do đó tần suất quan trắc thưa, thông số quan trắc hạn chế và số lượng điểm quan trắc ít so với yêu cầu thực tế
Trang 22- Các hoạt động quan trắc CLN chưa liên tục Do đó khó phát hiện và cảnh báo kịp thời các vấn đề ô nhiễm khi mới xuất hiện hoặc đang tiềm tàng.
- Một số địa phương đã trang bị được các thiết bị quan trắc và phân tích môi trường, tuy nhiên chưa chú trọng đến phát triển dài hạn cũng như vấn đề đào tạo nguồn nhân lực
- Hoạt động bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng (QA/QC) trong hoạt động quan trắc môi trường còn yếu làm ảnh hưởng đến chất lượng và tính thống nhất của số liệu
1.6.4.2 Hệ thống thông tin (HTTT) và cơ sở dữ liệu (CSDL)
Hiện tại, chưa có HTTT môi trường LVHTS cả ở mức quốc gia cũng như ở mức lưu vực, cũng như chưa có chuẩn thống nhất cho HTTT và cơ chế cập nhật thông tin môi trường (TTMT) các LVS trong cả nước Trong năm 2006, Cục BVMT phối hợp với các tỉnh trong lưu vực tiến hành xây dựng và cập nhật thông tin cho trang thông tin điện
tử về môi trường LVS Một số địa phương trên các LVS đã tiến hành xây dựng CSDL môi trường tại địa phương mình Tuy nhiên, chưa có các CSDL ở cấp lưu vực hoặc tiểu lưu vực Việc trao đổi, chia sẻ số liệu, TTMT giữa các tỉnh trong lưu vực và giữa các lưu vực với nhau cũng còn nhiều hạn chế Nghị định số 162/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ về việc Ban hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước, là văn bản cung cấp cơ sở pháp lý cho việc phát triển các mô hình quản lý dữ liệu về TNN cùng với việc xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong việc quản lý số liệu Tuy nhiên, đến nay Quy chế vẫn chưa được thực thi một cách hiệu quả.
1.6.5 Công tác xây dựng nguồn nhân lực
hạn chế về năng lực
Trong số 12 tỉnh, thành phố trên LVHTS Đồng Nai, TP.HCM là địa phương có điều kiện tốt nhất về nguồn nhân lực cho công tác QLMT, đặc biệt là quản lý CLN Tại
Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi Cục BVMT TP đã được tăng cường về nhân sự và cơ
sở vật chất để thực hiện các hoạt động tác nghiệp như: quan trắc môi trường, thu phí nước thải, tư vấn cho các tổ chức và doanh nghiệp về quản lý CLN,… Tại 24 quận/huyện của TP cũng đều có Phòng TNMT với biên chế trung bình khoảng 3-4 người Ngoài ra, Ban quản lý KCN/KCX của thành phố (HEPZA) với phòng môi trường chuyên đảm trách công tác QLMT chung và quản lý CLN tại các KCN, KCX
của TP
1.6.5.2 Năng lực đội ngũ cán bộ
Các cán bộ hiện tại đang làm việc trong lĩnh vực BVMT phần lớn đều không
được đào tạo chuyên ngành về môi trường và TNN, lại phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực nên kiến thức về bảo vệ CLN LVS thường không sâu Trung bình mỗi tỉnh có khoảng 5-
7 cán bộ QLMT cấp tỉnh (riêng các tỉnh có trạm quan trắc môi trường như Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Bà Rịa -Vũng Tàu, thì số lượng có nhiều hơn) Số lượng cán bộ QLMT cấp huyện, xã còn rất hạn chế và nhiều huyện vẫn chưa hoàn thiện Phòng TNMT Trong khi đó, nhu cầu QLMT tại các địa phương đòi hỏi phải giải quyết một
Trang 23khối lượng lớn các công việc có liên quan, từ việc xây dựng chính sách, chiến lược BVMT của địa phương, xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm cho đến thực thi các hoạt động cụ thể như: thẩm định báo cáo ĐTM, kiểm soát ô nhiễm, thu phí nước thải, thanh tra môi trường, giải quyết sự cố môi trường, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về môi trường,… Do vậy, nhân sự tập trung cho QLMT tại LVS là rất thấp.
Ngoài ra, những kỹ năng truyền thống cũng như trình độ hiện tại của đội ngũ
cán bộ hiện nay đã bắt đầu bộc lộ việc không phù hợp với điều kiện mới, đặc biệt trong
lĩnh vực đa ngành và tổng hợp như BVMT LVS
1.6.6 Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý chất lượng nước
Thực tế những năm qua cho thấy, thành công của các hoạt động bảo vệ CLN phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của cộng đồng Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam trong thời gian qua đã chỉ cho thấy rằng: cộng đồng có vai trò và tầm ảnh hưởng rất quan trọng đối với công tác quản lý và BVMT nói chung Các mô hình quản
lý và bảo vệ CLN LVS thành công trên thế giới đều có sự tham gia tích cực từ phía cộng đồng Khái niệm “cộng đồng” được hiểu ở đây bao hàm tất cả các thành phần và các tổ chức trong xã hội, từ các cơ quan quản lý cao nhất cho đến dân cư trong vùng Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ CLN LVS hiện vẫn còn nhiều hạn chế:
- Tiềm năng của cộng đồng vẫn chưa được phát huy đầy đủ, sự tham gia củacộng đồng vào các quá trình ra quyết định, hoạch định chính sách và các hoạt động bảo vệ CLN vẫn còn nhiều hạn chế
- Trách nhiệm bảo vệ CLN LVHTS và tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp cũng như cộng đồng chưa cao
- Nhận thức của cộng đồng dân cư với công tác bảo vệ CLN LVS còn là vấn đề cần được quan tâm Vấn đề này sẽ còn tồn tại cho đến khi chuyển biến được tư tưởng cố hữu vốn không quen coi việc BVMT là trách nhiệm của bản thân của cộng đồng
Trong thời gian qua, Bộ TN&MT đã đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện thể chế về quản lý TNN, trình Chính phủ ban hành nhiều Nghị định hướng dẫn thi hành Luật TNN, trình TTCP quyết định phê duyệt Chiến lược TNN quốc gia đến năm 2020; xúc tiến xây dựng quy hoạch một số LVS qua đó tăng cường đáng kể công tác quản lý TNN Tuy nhiên, việc quy định quản lý LVS còn có sự chồng chéo, thể hiện ở Nghị định 91/2003/NĐ-CP giao Bộ TN&MT quản lý TNN trong khi Nghị định 86/2004/NĐ-
CP lại giao Bộ NN&PTNT quản lý vật thể chứa nước (LVS), gây khó khăn cho việc quản lý thống nhất TNN Các quyết định gần đây của TTCP đã phân định rõ vai trò của các cơ quan liên quan trong một số công việc cụ thể Tại Quyết định số 123/2006/QĐ-TTg ngày 03/6/2006, TTCP đã giao cho Bộ TN&MT chức năng lập quy hoạch về sử
Trang 24dụng, quản lý tổng hợp và bảo vệ TNN ở các LVS chính và giao Bộ NN&PTNT thực hiện chức năng rà soát, sửa đổi, bổ sung quy hoạch phát triển hệ thống tưới tiêu, rừng và nông nghiệp đặc biệt cho các mục đích sử dụng nước trong tưới tiêu, cấp nước, phát triển thủy điện và nuôi trồng thủy sản.
Trong thời gian qua, nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan được ban hành đã góp phần luật hoá công tác bảo vệ nguồn nước các LVS Trong đó có thể kể ra các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như: Luật BVMT (2005), Luật TNN (1998), Luật Đất đai (2003), Hệ thống TCVN - Các tiêu chuẩn CLN sông, hồ (ban hành năm
1995, sửa đổi năm 2001 và 2005), và hàng loạt các văn bản dưới luật khác
Trên cơ sở Luật TNN, Hội đồng Quốc gia về TNN đã được thành lập theo quyết định số 67/2000/QĐ-TTg ngày 15/6/2000 Theo chức năng của mình cùng với các uỷ viên là đại diện các Bộ ngành liên quan, Hội đồng này sẽ giúp tiến tới quản lý TNN một các tổng hợp Đồng thời Hội đồng sẽ tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề chính sách, chiến lược và thông qua quy hoạch LVHTS và các dự án lớn về phát triển nguồn nước, giải quyết tranh chấp về nước, quản lý CLN và các khía cạnh Quốc tế về TNN
Ở cấp độ liên vùng, dưới sự chỉ đạo của TTCP và Bộ TN&MT, Ủy ban sông Đồng Nai được thành lập theo thỏa thuận của 12 tỉnh, TP trong lưu vực theo QĐ số 157/2008/QĐ-TTCP Tuy nhiên, trên thực tế, Ủy ban này vẫn hoạt động chưa thực sự hiệu quả Ở các địa phương, từ năm 2003, các Sở TN&MT được thành lập và đều có Chi cục BVMT (trước kia là Phòng QLMT)
Liên quan đến quản lý và bảo vệ CLN LVS, Luật BVMT 2005 đã đưa ra các điều khoản quy định việc quản lý và bảo vệ CLN sông Nội dung về BVMT nước sông theo Luật BVMT 2005: Mục 2, Chương VII gồm các Điều cụ thể là:
- Điều 59 quy định các nguyên tắc BVMT nước sông: (1) BVMT nước sông là
một trong những nội dung cơ bản của quy hoạch khai thác, sử dụng và quản lý TNN trong LVS (2) Các địa phương trên LVS phải cùng chịu trách nhiệm BVMT nước trong LVS; chủ động hợp tác khai thác nguồn lợi do TNN trong LVS mang lại và bảo đảm lợi ích cho cộng đồng dân cư
- Điều 60 quy định về kiểm soát, xử lý ô nhiễm, suy thoái môi trường nước
trong LVS
- Điều 61 quy định về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh đối với BVMT nước
trong LVS
- Điều 62 quy định về tổ chức BVMT nước của LVS.
Các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường liên quan đến bảo vệ CLN sông, hồ cho các mục đích sử dụng nước được ban hành lần đầu tiên vào năm 1995, sửa đổi năm
2001 và 2005 Năm 2008, Bộ TN&MT đã ký quyết định ban hành một số quy chuẩn đối với nước mặt và nước thải Tuy nhiên, các quy chuẩn liên quan đến trầm tích đáy và bùn thải vẫn chưa được xây dựng và ban hành
Luật Tài nguyên Nước (1998) có các quy định liên quan đến nước mặt, nước mưa, nước dưới đất và nước biển Luật này nghiêm cấm thải các chất thải độc hại, nước thải chưa qua xử lý hoặc nước thải đã qua xử lý nhưng chưa đạt TCCP cho phép vào nguồn nước Việc cấp phép xả thải phải căn cứ vào khả năng chịu tải của nguồn tiếp nhận Nước thải phải được xử lý đạt TCCP trước khi xả thải Song, việc áp dụng và thực thi Luật BVMT, Luật TNN và Hệ thống Tiêu chuẩn/Quy chuẩn Việt Nam về môi trường nhằm mục tiêu kiểm soát ô nhiễm và quản lý CLN vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập
Tại LVHTS Đồng Nai, sự phối hợp trong BVMT cũng như công tác quản lý CLN được thể hiện qua các cột mốc sau: