1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên pot

94 925 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên
Trường học Trường Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 759,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những mặt đã đạt được, qua quá trình kiểm tra giám đốc án và xét xử phúc thẩm của TAND tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện có những thiếu sót của việc ADPL trong quá trình giải quyết,

Trang 1

LUẬN VĂN:

Áp dụng pháp luật trong giải quyết

án hôn nhân và gia đình của Tòa án

nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên

Trang 2

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta cần phải có con người xã hội chủ nghĩa, đó

là đòi hỏi tất yếu khách quan Nhưng muốn có con người XHCN thì phải có một gia đình mẫu mực, bởi gia đình quyết định một phần rất lớn tới bản chất con người Gia đình hiện nay còn được xem là tế bào của xã hội, do vậy muốn có một xã hội phát triển và lành mạnh thì cần phải có các gia đình tốt - gia đình văn hóa mới Gia đình là cái nôi sản sinh

ra con người, nuôi dưỡng và giáo dục con người cho xã hội, vì vậy Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua luôn luôn quan tâm tới vấn đề gia đình Luật hôn nhân và gia đình

có vai trò góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ HN và GĐ tiến bộ, nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc, bền vững Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về gia đình được ghi nhận tại Điều 64 Hiến pháp năm 1992: “Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ HN và GĐ theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những người công dân tốt, con cháu có bổn phận chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”

Mặc dầu đường lối chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã

đề cập như vậy, song hiện nay các vụ án về HN và GĐ vẫn phát sinh và có chiều hướng gia tăng, đòi hỏi Tòa án phải ADPL để giải quyết các loại án này Nghiên cứu về ADPL trong giải quyết án hôn nhân nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên trong gia đình Thực hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, tránh tình trạng phân biệt đối xử, tình trạng bạo lực trong gia đình

Trong hoạt động tư pháp thì hoạt động của Tòa án là trung tâm có vai trò quan trọng trong hệ thống cơ quan tư pháp và Tòa án là cơ quan duy nhất nhân danh nhà nước tiến hành hoạt động xét xử các loại án nói chung và HN và GĐ nói riêng Trong những năm qua, việc ADPL trong giải quyết án HN và GĐ đã giải quyết được những mâu thuẫn bất hòa trong gia đình, đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, bên cạnh những mặt đã đạt được trong quá trình ADPL giải quyết án HN và GĐ

Trang 3

vẫn còn những thiếu sót, như có vụ án trong quá trình giải quyết còn để tồn đọng dây dưa kéo dài, có vụ còn bị sửa, hủy gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên đương sự

ở tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua, số lượng án về HN và GĐ có phần tăng Đối với loại án này mỗi vụ án có nội dung đa dạng và tính phức tạp cũng khác nhau, nên việc ADPL để giải quyết loại án này gặp không ít khó khăn, trong nhận thức vận dụng pháp luật cũng như những khó khăn từ khách quan mang lại Tuy vậy, quá trình giải quyết án HN và GĐ ở Thái Nguyên trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định góp phần giải quyết các mâu thuẫn bất hòa trong hôn nhân, bảo vệ các quyền lợi các quyền lợi hợp pháp của đương sự Thông qua việc ADPL trong việc giải quyết án

HN và GĐ đã góp phần làm ổn định quan hệ trong hôn nhân, giữ gìn kỷ cương pháp luật, giữ ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần tăng cường nền pháp chế XHCN trên toàn tỉnh Thái Nguyên Đồng thời, hoạt động ADPL trong giải quyết án HN và GĐ, ngoài việc đấu tranh với các hành vi trái pháp luật nẩy sinh trong lĩnh vực về hôn nhân, còn phổ biến tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, từ sự hiểu biết pháp luật, nhân dân sẽ tham gia thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật, tố giác những hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân, đồng thời qua thực tiễn APPL trong giải quyết án HN và

GĐ sẽ phát hiện ra những thiếu sót trong pháp luật để có những đề xuất sửa đổi các điều khoản của pháp luật cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong từng giai đoạn cụ thể

Bên cạnh những mặt đã đạt được, qua quá trình kiểm tra giám đốc án và xét xử phúc thẩm của TAND tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện có những thiếu sót của việc ADPL trong quá trình giải quyết, nên dẫn đến một số vụ án bị sửa, hủy; một số ít vụ án còn bị dây dưa kéo dài, làm ảnh hưởng đến quyền lợi các đương sự Trong hoạt động xét xử, TAND tỉnh Thái Nguyên cũng đã bộc lộ một số tồn tại, như xét xử oan sai, án tồn đọng còn nhiều, còn có vụ án vi phạm thời hạn tố tụng Đặc biệt, một số vụ án do ADPL không chuẩn xác, nên còn bị sửa, hủy nhiều lần, kéo dài nhiều năm, gây ảnh hưởng đến đời sống, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhân dân khiếu kiện vượt cấp lên đến các cơ quan Trung ương Tồn tại trên là những lực cản cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền

Trang 4

Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài: "áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn

nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên" làm luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án nói chung và ADPL trong giải quyết án HN và GĐ nói riêng đã được giới khoa học pháp lý và nhất là những người trực tiếp làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài

như: TS Đặng Quang Phương (1999), "Thực trạng của các bản án hiện nay và một số

kiến nghị nhằm hoàn thiện các bản án", Tạp chí TAND số: 7, 8; Th.s Nguyễn Văn Cừ

(2000), “Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000”, Tạp chí Luật học số: 4; Trần Thị Quốc Khánh (2004), “Từ hòa giải trong truyền thống dân tộc

đến hòa giải ở sơ sở ngày nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11; Bùi Văn Thuấn

(2002), “Phụ nữ và pháp luật, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản riêng và

chung”, Nhà xuất bản Phụ nữ; Trương Kim Oanh (1996), "Hòa giải trong tố tụng dân sự", Luận văn thạc sỹ Luật học; Th.s Nguyễn Phương Lan (2005) "Một số ý kiến về vợ chồng nhận nuôi con nuôi", Tạp chí Luật học số 2; Th.s Nguyễn Hồng Hải (2003), "Bàn về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam hiện nay"; Khoa Nhà

nước và Pháp luật- Học viện CTQG Hồ Chí Minh (2004), "Lý luận chung về nhà nước và

pháp luật", Hà Nội…

Qua nghiên cứu những công trình nêu trên cho thấy, các tác giả chỉ đề cập mặt này hay mặt khác của việc ADPL trong quá trình giải quyết án HN và GĐ, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ việc ADPL trong giải quyết án HN và GĐ nói chung, cũng như ở Thái Nguyên nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Là việc ADPL trong hoạt động giải quyết án HN và GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên

Trang 5

* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình ADPL để giải

quyết án HN và GĐ của các TAND ở tỉnh Thái Nguyên, trong khoảng thời gian từ năm

2000 đến năm 2004

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích luận văn:

+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ADPL trong giải quyết án HN và GĐ

+ Đánh giá thực tiễn của việc ADPL trong giải quyết án HN và GĐ ở tỉnh Thái Nguyên

+ Đề ra những giải pháp đảm bảo việc ADPL trong giải quyết án HN và GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

* Nhiệm vụ của luận văn: Để thực hiện được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ

cụ thể sau đây:

+ Xây dựng khái niệm, ADPL trong giải quyết án HN và GĐ và phân tích các đặc điểm, nội dung, cũng như nêu lên các giai đoạn của việc ADPL trong hoạt động giải quyết án HN và GĐ

+ Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế của hoạt động ADPL trong giải quyết án HN và GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên và rút ra các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan của hạn chế

+ Nêu lên các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Tòa án; hoàn thiện các QPPL nhằm đảm bảo ADPL trong giải quyết án HN và GĐ; kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực của Thẩm phán, cán bộ Tòa án và HTND… nhằm đảm bảo việc ADPL trong giải quyết án HN

và GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, trong

đó có vấn đề ADPL giải quyết án HN và GĐ

* Phương pháp nghiên cứu:

Trang 6

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích tổng hợp thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ADPL trong giải quyết án HN và GĐ, làm rõ những đặc thù của loại án này ở tỉnh Thái Nguyên

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động ADPL giải quyết án HN và GĐ ở tỉnh Thái Nguyên và đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo ADPL trong hoạt động giải quyết án HN và GĐ tỉnh Thái Nguyên có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về hoạt động ADPL trong giải quyết

án HN và GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên Góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận về ADPL trong giải quyết án HN và GĐ, làm phong phú thêm những vấn đề lý luận trong lĩnh vực này

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác ADPL trong giải quyết án HN và GĐ, nhằm thực hiện nghiêm chỉnh luật HN và GĐ

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên luật và không chuyên luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng, cho những người đang trực tiếp làm công tác giải quyết án HN

và GĐ tại TAND nói chung và TAND tỉnh Thái Nguyên nói riêng

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 7

1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật

Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của cơ quan quản lý nhà nước bằng pháp luật ở nước ta hiện nay Pháp luật được ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống thì điều đó chứng tỏ công tác quản lý nhà nước kém hiệu quả

Do đó, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Vậy thực hiện pháp luật là gì? Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hành động thực tế của các chủ thể pháp luật Các QPPL rất phong phú cho nên hình thức thực hiện chúng cũng khác nhau Căn cứ vào tính chất của hoạt động, thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:

- Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật tự kiềm chế, không tiến hành những hoạt động hay hành vi mà pháp luật ngăn cấm

- Thi hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể tích cực thực hiện nghĩa vụ của mình theo pháp luật quy định

- Sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể tích cực chủ động thực hiện các quyền chủ thể của mình theo pháp luật quy định

- áp dụng pháp luật (hiểu một cách khái quát) là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước dựa vào pháp luật để trao quyền cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân để căn cứ vào các quy định pháp luật ban hành các quyết định

cá biệt làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật cụ thể

Quan niệm ADPL như vừa nêu trên được thể hiện rất rõ trong đời sống xã hội: Chẳng hạn để ADPL hình sự nhằm buộc kẻ phạm tội phải chịu trách nhiệm pháp luật hình sự thì nhà nước đã trao quyền cho Toà án và Toà án căn cứ vào các quy định cụ thể của pháp luật hình sự để xét xử ra một bản án (văn bản ADPL hình sự) buộc kẻ phạm tội

Trang 8

phải chịu một hình phạt nhất định Hoặc để bảo vệ an toàn giao thông, Nhà nước bằng pháp luật đã quy định cho các chiến sỹ cảnh sát giao thông có quyền áp dụng các quy phạm pháp luật giao thông ra các quyết định xử phạt hành chính đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật giao thông như vượt đèn đỏ, đi vào đường ngược chiều Ngoài

ra, trong một số trường hợp, Nhà nước cũng cho phép một số tổ chức xã hội được ADPL, như pháp luật về Hội cho phép một số tổ chức xã hội được ADPL ra các quyết định tuyển nhân viên vào làm việc trong tổ chức của mình

Trong các hình thức thực hiện pháp luật, thì ADPL là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, vì pháp luật ở đây được thực hiện bởi các chủ thể nắm quyền lực Nhà nước Nếu tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức

mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể tự thực hiện thì ADPL là hình thức luôn có sự tham gia của Nhà nước ADPL là hình thức rất quan trọng của thực hiện pháp luật Trong đó pháp luật tác động vào cuộc sống, vào các quan hệ xã hội để đạt được hiệu quả cao nhất, các quy định của nó đều được thực hiện triệt để, bởi vì ADPL luôn có sự can thiệp của nhà nước

Trong thực tế, nếu chỉ thông qua các hình thức thực hiện pháp luật như: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật, thì pháp luật có lúc không được thực hiện triệt để vì các chủ thể không tự giác thực hiện, bởi các hình thức này chỉ do các chủ thể pháp luật tự giác thực hiện mà không có sự bắt buộc thực hiện của Nhà nước

Nghiên cứu ADPL cho thấy có các đặc điểm sau:

Một là, ADPL chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành Pháp luật

quy định cho mỗi loại cơ quan nhà nước được quyền áp dụng một số loại văn bản pháp luật nhất định trong những trường hợp nhất định Chẳng hạn, chỉ có các cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Toà án mới được ADPL hình sự để điều tra, truy tố và xét xử kẻ phạm tội Còn UBND các cấp không được ADPL hình sự

Hai là, ADPL là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, thể hiện: Cơ quan

ADPL áp dụng theo ý chí đơn phương mà không phụ thuộc vào ý chí của bên bị áp dụng Việc thực hiện các quy định trong văn bản ADPL được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước

Trang 9

Ba là, ADPL là một hoạt động được tiến hành theo một thủ tục tố tụng rất chặt

chẽ Chẳng hạn, muốn ADPL hình sự phải thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật

tố tụng hình sự và Bộ luật hình sự

Bốn là, ADPL là một hoạt động sáng tạo Nghĩa là, khuôn khổ của pháp luật cho

phép người ADPL phải vận dụng tri thức khoa học của mình để ADPL sáng tạo mà không rập khuôn, máy móc

áp dụng pháp luật thường được thực hiện trong các trường hợp sau:

- Thứ nhất, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế bằng một chế tài thích hợp

đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Chẳng hạn, khi cần cưỡng chế một hình phạt tù đối với kẻ thực hiện hành vi phạm tội thì các cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đã dựa trên cơ sở pháp luật hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, ra bản án, ấn định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và buộc họ phải chấp hành hình phạt đã nêu trong bản án đó

- Thứ hai, khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát

sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước Chẳng hạn, Điều 55 của Hiến pháp năm 1992 quy định: "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân", nhưng quyền và nghĩa vụ đó chỉ phát sinh khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền tuyển dụng công dân đó vào làm việc

- Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên

tham gia QHPL mà các bên không tự giải quyết được Chẳng hạn, khi phát sinh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng dân sự mà hai bên không bàn bạc giải quyết được nên phải nhờ đến Tòa án và Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật ra một bản án xác định các quyền và nghĩa vụ giữa các bên

- Thứ tư, trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia

kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đó hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại một số sự việc, sự kiện thực tế Ví dụ: Việc xác nhận di chúc, chứng thực thế chấp, chứng nhận đăng ký kết hôn

Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra một khái niệm: ADPL là một hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà

Trang 10

nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội, các cá nhân được Nhà nước trao quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật để đề ra một văn bản ADPL làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật

1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình

Trước khi nguyên cứu khái niệm ADPL trong giải quyết HN và GĐ, ta cần làm rõ khái niệm HN và GĐ

1.1.2.1 Khái niệm hôn nhân và gia đình

* Khái niệm hôn nhân: Trước hết hôn nhân là hiện tượng xã hội, là sự liên kết

giữa người đàn ông và người đàn bà Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân mang tính giai cấp Dưới chế độ XHCN, hôn nhân là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời Sự liên kết đó phát sinh, hình thành do việc kết hôn và được biểu hiện ở một quan

hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng Quan hệ này là quan hệ giới tính, thực chất và ý nghĩa của nó biểu hiện trong việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, đáp ứng cho nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất trong đời sống hàng ngày Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị bằng pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình, phù hợp với lợi ích giai cấp mình, xã hội nào thì có hình thái hôn nhân đó và tương ứng với chế

độ hôn nhân nhất định Chẳng hạn, xã hội phong kiến có hình thức hôn nhân phong kiến, mang bản chất của hôn nhân phong kiến Trong xã hội tư bản có hình thức hôn nhân tư sản mang bản chất của xã hội tư sản Xã hội XHCN có hình thức của hôn nhân xã hội chủ nghĩa

ở nước ta hiện nay, hôn nhân theo Luật HN và GĐ Việt Nam là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật để chung sống với nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hoà thuận và bền vững Khoản 6, Điều 8 Luật HN và GĐ năm 2000 giải thích: "Hôn nhân là quan hệ giữa người vợ và chồng sau khi đã kết hôn"

* Khái niệm gia đình: Rộng hơn khái niệm hôn nhân, hôn nhân là mối quan hệ

giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, là tiền đề xây dựng gia đình Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau, gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát

Trang 11

sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Do vậy, gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã hội Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau mang tính chất và kết cấu của gia đình cũng khác nhau Gia đình XHCN là hình thái cao nhất trong lịch sử, chế độ XHCN quyết định sự xuất hiện và phát triển của gia đình XHCN Quan hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng trong gia đình XHCN phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội

ở Việt Nam Khoản 10, Điều 8 Luật HN và GĐ năm 2000 quy định: "Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau" [36, tr.13]

Như vậy, gia đình có thể gồm vợ chồng, con cái, anh chị em, cha mẹ, ông bà… cùng chung sống với nhau, có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng Trong quá trình

chung sống phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với nhau HN và GĐ là những hiện tượng xã

hội mà luôn luôn được các nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học nghiên cứu Hôn nhân

là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội, mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, nhà nước và xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng, HN và GĐ là phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh

tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp và chặt chẽ Trong tác phẩm

"Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước" (1884), Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh rằng: Chế độ gia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã hội đó và bước chuyển từ hình thái gia đình này lên hình thái gia đình khác cao hơn suy cho cùng được quyết định bởi những điều kiện vật chất của đời sống xã hội Bằng tác phẩm đó, Ph.Ăngghen đã làm thay đổi quan điểm trước đây về hình thái HN và GĐ trong lịch sử

Tại các Điều 9, 10, 11, chương X, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định việc kết hôn, để được công nhận hôn nhân hợp pháp; việc đăng ký kết hôn phải tuân theo các quy định của pháp luật và việc ly hôn cũng như giải quyết các quan hệ liên quan đến hôn nhân cũng được tiến hành theo trình tự pháp luật nhất định, các bước phải được tuân thủ theo Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết một vấn đề cụ thể thì được áp dụng theo Luật Hôn nhân và gia đình

Trang 12

1.1.2.2 áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình - Khái niệm

và đặc điểm

* Về khái niệm ADPL trong giải quyết án HN và GĐ:

Trong tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án

là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, mặc dù không quy định rõ Tòa án là cơ quan xét xử, nhưng trên tinh thần của Hiến pháp chúng ta cũng có thể hiểu Tòa án là cơ quan xét

xử Các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đã quy định rõ về chức năng xét xử của Tòa án, Điều 127, Hiến pháp 1992 đã quy định: "Tòa án NDTC, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN" [29, tr.171] Trên cơ sở Hiến pháp, Điều 1, Luật Tổ chức TAND quy định về chức năng xét xử của Tòa án: "Tòa án xét xử những vụ án về hình sự, dân

sự, HN và GĐ, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật" [29, tr.7]

Trong quá trình xét xử tòa án phải ADPL để giải quyết các vụ án Đối với các vụ

án HN và GĐ, Tòa án phải ADPL để giải quyết kể từ khâu phân loại đơn, thụ lý đơn, điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh, định giá tài sản… cho đến khi đưa vụ án ra xét xử

và tùy từng vụ án cụ thể mà phân loại giải quyết khác nhau như: Quyết định di lý, vụ án tạm đình chỉ, đình chỉ, công nhận hòa giải thành, công nhận thuận tình ly hôn hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử

Hoạt động giải quyết án HN và GĐ cụ thể được giao cho một Thẩm phán chịu trách nhiệm từ khi nhận đơn thụ lý Trình tự các bước giải quyết án HN và GĐ trước đây phải tuân theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1986, nay được áp dụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự nước CHXHCNVN năm 2004 Theo quy định khi đương sự gửi đơn đề nghị giải quyết vụ án HN và GĐ đến TAND cấp có thẩm quyền giải quyết, sau khi nhận đơn Tòa án tiến hành phân loại và thụ lý giải quyết theo trình tự tố tụng, như điều tra thu thập chứng cứ vụ án, lựa chọn QPPL, ra các quyết định hoặc ra bản án buộc các đương sự thi hành bằng nhiều hình thức như, tự nguyện thi hành hoặc có sự cưỡng chế thi hành của cơ quan thi hành án dân sự

Trang 13

Ngoài cơ quan Tòa án ADPL, giải quyết án HN và GĐ còn có sự tham gia của Viện Kiểm sát nhân dân (cùng cấp) trong giai đoạn điều tra Kiểm soát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự, như tham gia định giá tài sản, yêu cầu điều tra

bổ sung tham gia phiên tòa xét xử và được phát biểu về việc giải quyết vụ án, thực hiện quyền công tố tại phiên tòa Tuy nhiên, TAND là cơ quan có trách nhiệm chủ yếu trong việc giải quyết vụ án HN và GĐ Nếu Viện kiểm sát từ chối không tham gia giai đoạn điều tra và xét xử, thì vụ án vẫn được Toà án tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật Hầu hết trong các giai đoạn ADPL, hoạt động giải quyết án HN và GĐ do Tòa án trực tiếp giải quyết mà không phụ thuộc vào các chủ thể khác

* Đặc điểm của áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ của TAND:

áp dụng pháp luật của trong giải quyết án HN và GĐ có những đặc điểm như sau:

- áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, đó là hệ thống TAND Toà án là cơ quan có thẩm quyền duy nhất

có quyền ADPL để giải quyết án HN và GĐ Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ADPL để giải quyết các vụ án HN và GĐ

- áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ được tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ do pháp luật tố tụng dân sự và các QPPL của Luật Hôn nhân và gia đình quy định Khi tiến hành giải quyết một vụ án HN và GĐ, các trình tự xây dựng hồ sơ từ khâu thụ lý, điều tra, thu thập chứng cứ đến khi ra quyết định hoặc vụ án đưa ra xét đều phải tuân theo các bước như đã quy định trong Luật Tố tụng dân sự nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự

- áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ là một hoạt động mang tính quyền lực của nhà nước, Tòa án được nhà nước trao quyền để lựa chọn các QPPL và ADPL trong giải quyết án HN và GĐ

- áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ là một hoạt động mang tính khoa học và sáng tạo do Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện Chỉ có Thẩm phán, Hội đồng xét xử trực tiếp giải quyết vụ án HN và GĐ mới được áp dụng các QPPL, sao cho phù hợp và khoa học để giải quyết án HN và GĐ Trong khuôn khổ của pháp luật cho

Trang 14

phép, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ADPL sáng tạo, nghĩa là dựa vào trí tuệ và niềm tin nội tâm của mình để ADPL

- áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ diễn ra trên phạm vi rộng với nhiều vụ án đa dạng, phức tạp Tuy cùng một loại án về HN và GĐ nhưng tính chất từng

vụ án cũng khác nhau, trong các vụ án các đương sự có thiện chí cùng nhau hướng đến giải quyết vụ việc đơn giản có thể thực hiện việc giải quyết vụ án trong một thời gian ngắn, nhưng nếu có sự tranh chấp thì vụ việc phải tuân thủ theo các bước của Luật Tố tụng dân sự

Dựa trên cơ sở khái niệm ADPL và từ sự phân tích về ADPL trong giải quyết án

HN và GĐ nêu trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm: ADPL trong giải quyết án HN và

GĐ là một hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước mà trong đó nhà nước thông qua các Thẩm phán, hoặc Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân, gia đình và các quy định khác của pháp luật để ra một quyết định cá biệt, hoặc một bản án làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật về HN và GĐ

1.2 các giai đoạn và nội dung áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình

1.2.1 Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình

áp dụng pháp luật giải quyết án HN và GĐ nói riêng của TAND, là sự biểu hiện cụ thể của ADPL nói chung Do tính đa dạng của tranh chấp về HN và GĐ như một bên kiên quyết xin ly hôn, một bên kiên quyết xin đoàn tụ, tranh chấp con hoặc tranh chấp về tài sản trong hôn nhân… cùng những quy định về thủ tục tố tụng khi giải quyết các vụ án do pháp luật quy định, nên ADPL trong việc giải quyết án HN và GĐ có bốn giai đoạn sau:

Một là, phân tích những tình tiết khách quan của vụ án HN và GĐ làm rõ các đăng trưng pháp pháp lý của vụ án:

Đây là hoạt động đầu tiên trong các giai đoạn ADPL, giải quyết án HN và GĐ Trong hoạt động này, Tòa án phải xác định loại việc, thẩm quyền thuộc Tòa án cấp nào giải quyết, hoặc thông báo cho các đương sự quyền được lựa chọn Tòa án Do vậy, khi thụ lý

vụ án cần thu thập các thông tin liên quan đến vụ án như đơn phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú, sao nộp đăng ký kết hôn, xác định nơi có hộ khẩu cư trú hoặc

Trang 15

nơi cư trú cuối cùng của đương sự, nguyện vọng của các đương sự lựa chọn Toà án nào giải quyết và các giấy tờ khác có liên quan để xác định thẩm quyền giải quyết của Toà án

Để phân tích các tình tiết khách quan của vụ án HN và GĐ thì phải tiến hành điều tra xác minh, làm rõ nội dung vụ án Tuy nhiên, có những trường hợp không nhất thiết phải tiến hành điều tra, mà xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt và nghĩa

vụ chứng minh của các bên đương sự tự xuất trình chứng cứ, các đương sự tự thỏa thuận được các tranh chấp trong quan hệ HN và GĐ, thì vụ án cũng không phải tiến hành tất cả các hoạt động điều tra, đây cũng là đặc điểm riêng của vụ án HN và GĐ Ví dụ: Khi thụ lý giải quyết một vụ kiện xin ly hôn, Tòa án yêu cầu nguyên đơn và bị đơn cung cấp các loại giấy tờ có liên quan đến quan hệ hôn nhân, các đương sự tự viết vào bản

tự khai Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự tự thỏa thuận, định đoạt được các

mối quan hệ trong hôn nhân thì Tòa án ra quyết định công nhận việc thỏa thuận của họ

Trên cơ sở kết quả điều tra xác minh vụ án chủ thể ADPL phân tích những tình tiết khách quan của vụ án HN và GĐ, làm rõ các đặc trưng pháp lý của vụ án để tiến hành các bước tiếp theo giải quyết vụ án đó

Hai là, lựa chọn các QPPL về HN và GĐ, về dân sự, về tố tụng dân sự tương ứng

để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình

Nói chung việc lựa chọn QPPL để ADPL được tiến hành theo ý chí đơn phương của Toà án có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng, điều này được thể hiện rất rõ đối với việc ADPL trong giải quyết án hình sự và giải quyết vi phạm hành chính, nhưng đối với việc giải quyết án HN và GĐ về cơ bản cũng như vậy, song có một số trường hợp có thể trong khi giải quyết vụ án các đương sự có thể thực hiện quyền của mình theo pháp luật quy định sẽ thay đổi quan điểm, nên dẫn đến vụ án không phải tiếp tục điều tra, xét

xử mà có thể ra một trong các quyết định theo hướng khác phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể bị ADPL, nhưng lựa chọn các QPPL vẫn là do cơ quan toà án

Ba là, làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của QPPL hôn nhân gia đình và các QPPL khác khi đưa ra áp dụng đối với vụ án HN và GĐ

Đây là quá trình vận dụng tổng hợp các tri thức chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt là các tri thức pháp lý Để làm sáng tỏ tư tưởng nội dung các quy phạm liên quan đến lĩnh vực

HN và GĐ Giai đoạn này của quá trình ADPL nhằm nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng

Trang 16

của QPPL đưa ra áp dụng, để giải quyết án HN và GĐ Việc ADPL phải thông qua người có thẩm quyền khi ADPL

Bốn là, ra quyết định áp dụng pháp luật hoặc ra một bản án để giải quyết vụ án

HN và GĐ

Đây là giai đoạn thể hiện kết quả của ba giai đoạn trên, ở giai đoạn này Tòa án có thẩm quyền ra quyết định hoặc bản án để quy định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự đang có tranh chấp trong quan hệ hôn nhân Văn bản ADPL này thể hiện rất rõ năng lực, trình độ của Thẩm phán và Hội đồng xét xử khi ADPL Bởi vì, trong giai đoạn này các phán quyết cuối cùng mang tính pháp lý, phán quyết này chính là việc vận dụng các quy định pháp luật về lĩnh vực HN và GĐ để giải quyết án HN và GĐ

Quyết định ADPL phải phù hợp với QPPL đưa ra áp dụng chứ không thể xuất phát

từ ý chí chủ quan hoặc tình cảm cá nhân của người có thẩm quyền, nội dung quyết định bản án phải rõ ràng, chính xác

1.2.2 Nội dung hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình

Hoạt động ADPL trong giải quyết án HN và GĐ cũng rất đa dạng và phong phú, nhưng quy về những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, hoạt động ADPL trong thụ lý, điều tra, đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án:

 Thụ lý vụ án:

Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định có quyền khởi kiện

về việc HN và GĐ, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết Điều 27, 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định những loại việc mà Tòa án thụ lý giải quyết vụ án khi có đơn khởi kiện thuộc lĩnh vực HN và GĐ gồm:

- Ly hôn, tranh chấp về con nuôi, chia tài sản khi ly hôn

- Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

- Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ

- Tranh chấp về cấp dưỡng

- Yêu cầu hủy việc kết hôn trái phép

- Yêu cầu công nhân thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Trang 17

- Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

- Các tranh chấp khác và những yêu cầu khác về HN và GĐ mà pháp luật có quy định

Trong thực tế các loại việc tranh chấp về HN và GĐ khi các đương sự gửi đơn đến Tòa án viết rất đơn giản ít các thông tin để xem xét, thuộc loại tranh chấp nào, thuộc thẩm quyền Tòa án nào giải quyết

- Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, những chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy

vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì thông báo cho người khởi kiện biết để

họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí

- Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí

Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai tạm thu tiền án phí Nếu trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án phải thụ lý khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo, nếu có

Khác với pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Điều 37 quy định: "Nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án báo ngay cho nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí, trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nộp đơn Tòa án thụ lý vụ án kể từ ngày nguyên đơn nộp tiền", nhưng đối với Bộ luật Tố tụng dân sự tại Điều 167 quy định: "Tòa

án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện

và phải ghi vào sổ nhận đơn Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện Tòa án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu thuộc thẩm quyền của mình

Trang 18

Việc trả lại đơn thì được phân ra trong các trường hợp:

- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có năng lực hành vi tố tụng dân sự

- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của chính quyền nhà nước có thẩm quyền trừ trường hợp Tòa án bác đơn xin ly hôn, bác đơn xin thay đổi nuôi con thay đổi mức cấp dưỡng

- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện

- Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Như vậy, khi thụ lý đơn để giải quyết vụ án, Tòa án trước khi thụ lý cần phải xem xét nhiều vấn đề liên quan như các chứng từ liên quan đến vụ kiện, thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, thẩm quyền của Tòa án cấp nào được giải quyết, người khởi kiện có quyền khởi kiện hay không, có đủ năng lực dân sự không đồng thời Tòa án phải thụ lý theo đúng thời hạn của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định

 Điều tra vụ án:

Đối với vụ án HN và GĐ, quá trình điều tra vụ án thuộc trách nhiệm của Tòa

án, Chánh án phân công cho một Thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ án, điều tra thu thập chứng cứ, đây là giai đoạn rất quan trọng, khó khăn nhất trong quá trình giải quyết vụ án Thu thập được chứng cứ đầy đủ, khách quan thì Tòa án mới có thể phán quyết chính xác và đúng pháp luật Do đó, đòi hỏi Thẩm phán phải thận trọng khi thu thập chứng cứ như các bước chủ yếu sau:

- Thẩm phán tiến hành lấy lời khai đương sự theo Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự, chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng, đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những nội dung đương sự chưa khai

Trang 19

Việc lấy lời khai của đương sự cũng có thể được thực hiện tại trụ sở Tòa án, trong những trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án Sau khi ghi xong, biên bản ghi lời khai phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ Đương sự có quyền sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai, ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận và có dấu của Tòa án, nếu nhiều bản thì phải có dấu giáp lai Trường hợp biên bản ghi lời khai ở ngoài trụ sở Tòa án phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Uỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản Ngoài việc lấy lời khai của đương sự, khi xét thấy cần thiết Thẩm phán tiến hành lấy lời khai, nếu người làm chứng chưa đủ 18 tuổi hoặc năng lực hành vi dân sự của

họ bị hạn chế thì phải được tiến hành lấy lời khai với sự có mặt người đại diện hoặc người đang quản lý trông nom

Đối với vụ án ly hôn, khi có tranh chấp về con, nếu con từ 9 tuổi trở lên, khi giải quyết cần phải xem xét nguyện vọng của con

Từ kết quả lấy lời khai nếu thấy có mâu thuẫn thì tiến hành cho đối chất giữa các đương sự với nhau nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mâu thuẫn, việc đối chất phải được ghi lại thành biên bản có chữ ký của những người tham gia đối chất

- Tiến hành điều tra xác minh, trong những trường hợp và xét thấy cần thiết Tòa án tiến hành đến tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân, cơ quan công tác hoặc nơi cư trú của đương sự để xác minh nhằm làm rõ những vấn đề liên quan đến vụ án

Cùng với việc lấy lời khai như trên thì cũng tiến hành thu thập các tài liệu khác như:

- Đăng ký kết hôn

- Bản sao giấy khai sinh các con

- Các giấy tờ có ý nghĩa chứng minh về tài sản

- Các giấy vay nợ, giấy cho vay

- Các giấy tờ về nhà đất và các giấy tờ khác có liên quan đến vụ án

Bên cạnh đó, tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể mà Toà án quyết định trưng cầu giám định theo sự đề nghị của các bên đương sự hoặc theo đề nghị của một bên đương

sự Nếu trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng thì Tòa án ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại

Trang 20

- Định giá tài sản: Tài sản của các bên đương sự có tranh chấp về giá, Tòa án quyết định thành lập hội đồng định giá và tùy thuộc vào loại tài sản cần định giá mà tiến hành mời các thành viên hội đồng định giá cho phù hợp

Ví dụ: Định giá về nhà đất, ngoài thành phần đại diện cơ quan tài chính thì phải

có cơ quan địa chính, cơ quan xây dựng và có đại diện Uỷ ban nhân dân cấp phường,

xã, tổ dân phố nơi có tài sản định giá chứng kiến việc định giá Hoặc nếu định giá tài sản là ô tô thì phải có thành viên của Sở giao thông cùng tiến hành định giá, đồng thời phải có mặt các bên đương sự trong buổi định giá

- Đối với những chứng cứ thu thập ở nơi xa, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác

để Tòa án nơi khác hoặc cơ quan có thẩm quyền lấy lời khai của đương sự, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc có các biện pháp khác để thu thập chứng cứ Trong những trường hợp cần thiết pháp luật quy định cho áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ chứng cứ, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc đảm bảo việc thi hành án Các biện pháp khẩn cấp tạm thời như:

- Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục

- Buộc thực hiện trước một phần cấp dưỡng

- Kê biên tài sản đang tranh chấp

- Cấm chuyển dịch về quyền về tài sản đang tranh chấp

- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp

- Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước ở nơi gửi

- Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ

Quá trình điều tra cần tuân thủ nghiêm ngặt, chính xác các quy định của Bộ luật

Tố tụng dân sự thì mới đảm bảo tính khách quan, làm rõ bản chất sự thật khách quan của

Trang 21

+ Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện

+ Các đương sự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết tiếp vụ án

+ Nguyên đơn triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt

+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định

Nếu vụ án thuộc một trong các trường hợp nêu trên, Toà án tiến hành phân tích, đánh giá, làm rõ các tình tiết trong vụ án, đồng thời đối chiếu với pháp luật hiện hành, lựa chọn QPPL để áp dụng ra quyết định đình chỉ đối với vụ án đó

Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ, nếu đình chỉ theo các trường hợp như nêu trên, tiền tạm ứng án phí đương sự đã nộp được sung và công quỹ nhà nước Nếu trả lại đơn theo Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự tiền tạm ứng án phí được trả lại cho người đã nộp

- Trường hợp tạm đình chỉ giải quyết vụ án áp dụng Đ189 Bộ luật Tố tụng dân sự trong các trường hợp sau:

+ Một bên đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định người đại diện theo pháp luật

+ Nguyên đơn đề nghị tạm đình chỉ có lý do chính đáng

+ Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc chờ kết quả ủy thác điều tra, chờ kết quả giám định

+ Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định

Sau đó phân tích đánh giá, làm rõ các tình tiết trong vụ án, đối chiếu với pháp luật hiện hành, lựa chọn QPPL để áp dụng ra quyết định tạm đình chỉ đối với vụ án đó

Hậu quả của việc tạm đình chỉ, tiền tạm ứng án phí, lệ phí của đương sự được gửi vào kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án Quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm

Thứ hai, hoạt động ADPL trong trường hợp hòa giải thành

Trong trường hợp hòa giải thành, sau khi tiến hành thụ lý vụ án HN và GĐ, Tòa án tiến hành điều tra vụ án cũng tuân theo các bước như trường hợp vụ án đình chỉ và tạm đình chỉ, nhưng việc thu thập các tài liệu chứng từ có liên quan đến vụ án phải tùy thuộc vào tính chất của từng vụ việc đang giải quyết, những vụ án đơn giản thì nội dung điều

Trang 22

tra dễ dàng hơn những vụ phức tạp, khi đã điều tra đầy đủ làm rõ các tình tiết khách quan trong vụ án, thì Tòa án mới tiến hành hòa giải

Việc hòa giải phải tuân quy định tại Điều 180, 181, 185, 186 Bộ luật Tố tụng dân

sự Tòa án triệu tập các bên đương sự đến hòa giải, giúp các bên đi đến thỏa thuận với nhau

về các vấn đề đang tranh chấp Trước khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phải nắm vững các tình tiết nội dung của vụ án, cần chủ động chuẩn bị nội dung hòa giải Đồng thời phải thông báo cho các đương sự có liên quan, người đại diện của đương sự biết về địa điểm, thời gian, nội dung các vấn đề cần hòa giải Thành phần hòa giải cũng được pháp luật quy định gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, thư ký ghi nội dung biên bản hòa giải Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt trong phiên hòa giải, nhưng các đương sự khác đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải không ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt, nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý nếu vụ án phải xét xử, để họ tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

Sau đó phân tích đánh giá, làm rõ các tình tiết trong vụ án, đồng thời nắm được tâm tư nguyện vọng của các bên đương sự rồi tiến hành hòa giải ở đây việc hòa giải đòi hỏi Thẩm phán phải nắm vững kiến thức pháp luật, có sự hiểu biết sâu rộng

và có kinh nghiệm, cần phải kiên trì phân tích, động viên các bên hướng đến giải quyết những tranh chấp thì việc hòa giải mới đạt được kết quả Khi các bên đương sự

đã thỏa thuận được với nhau về các vấn đề tranh chấp, nội dung hòa giải phải được ghi lại thành biên bản và có chữ ký của các bên đương sự, của thư ký và chủ tọa phiên hòa giải theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự, hết 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Tòa án đối chiếu với pháp luật hiện hành lựa chọn QPPL áp dụng Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự để

ra quyết định công nhận việc hòa giải thành

Hiệu lực của quyết định công nhận hòa giải thành có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng có thể bị

Trang 23

kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

Thứ ba, hoạt động ADPL trong trường hợp thuận tình ly hôn

Trong trường hợp thuận tình ly hôn, khi tiến hành thụ lý vụ án HN và GĐ, tiến hành điều tra vụ án cũng phải tuân thủ các bước như trên, nhưng trong trường hợp này, vụ án ly hôn nên cần phải điều tra thêm về con cái như độ tuổi các con, nguyện vọng của con khi bố mẹ ly hôn, về tài sản, nợ chung, nợ riêng cũng phải được điều tra đầy đủ, rõ ràng Trong trường hợp này, vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn mà việc hòa giải không thành, các đương sự thực sự thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, họ tự nguyện ly hôn và thỏa thuận được với nhau các mối quan hệ trong hôn nhân, như thỏa thuận về chia tài sản, nợ chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, thì Tòa án lập biên bản ghi nhận lại nội dung của sự thỏa thuận đó, đồng thời đối chiếu với pháp luật hiện hành để lựa chọn QPPL và ADPL để

ra quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn của các bên đương sự

Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ rằng sự thỏa thuận đó là nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

Thứ tư, hoạt động ADPL trong trường hợp đưa vụ án ra xét xử bằng một bản án:

Điều 28 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, quy định thẩm quyền của TAND các cấp như sau:

- Phiên tòa sơ thẩm của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là TAND cấp huyện)

- Phiên tòa sơ thẩm của TAND cấp tỉnh

- Phiên tòa phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện bị kháng cáo kháng nghị theo quy định của pháp luật

- Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của TAND cấp huyện bị kháng nghị theo quy định của pháp luật

- Giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật

Trang 24

Căn cứ vào các quy định của pháp luật về phân cấp, phân từng loại vụ việc cho các cấp Tòa án giải quyết Trong việc giải quyết các vụ án HN và GĐ, TAND cấp huyện được giải quyết theo trình tự sơ thẩm và TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các vụ

án HN và GĐ theo trình tự từ sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của pháp luật

Thông thường những vụ án phải đưa ra xét xử thì tính chất của vụ việc cũng phức tạp hơn, mặt khác các đương sự cũng không có thiện trí hướng đến giải quyết các tranh chấp bằng con đường thương lượng, hòa giải Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án

HN và GĐ, điều tra, xác minh, thu thập các tài liệu chứng từ có liên quan đến vụ án, yêu cầu các bên chứng minh những vấn đề liên quan đến tranh chấp tuân theo các bước như

đã nêu ở trên Khi đã điều tra đầy đủ, làm rõ các tình tiết khách quan vụ án, nếu vụ án có tài sản phải định giá tài sản Sau đó tiến hành hòa giải, phân tích để các đương sự tự thỏa thuận với nhau, nhưng việc hòa giải không đi đến kết quả Sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của nội dung vụ án, đồng thời đối chiếu với pháp luật hiện hành để lựa chọn QPPL để áp dụng quyết định đưa vụ án ra xét xử

Trong trường hợp này, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử đây là quá trình chuẩn bị xét xử, ADPL để tiến hành xét xử vụ án HN và và GĐ phải tuân theo bước sau đây:

- Thủ tục bắt đầu phiên tòa gồm có:

+ Khai mạc phiên tòa

+ Giải thích yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch

+ Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt

+ Bảo đảm tính khách quan của người làm chứng

- Thủ tục hỏi tại phiên tòa

+ Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu

+ Nghe lời trình bày của đương sự

+ Thứ tự hỏi tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng

+ Công bố các tài liệu của vụ án, xem xét vật chứng, hỏi người giám định

Trang 25

+ Kết thúc việc hỏi tại tòa

- Tranh luận tại phiên tòa

+ Trình tự phát biểu tranh luận

+ Phát biểu sau khi tranh luận và đối chất

+ Phát biểu của Viện kiểm sát

+ Trở lại việc hỏi (nếu xét thấy cần thiết)

- Nghị án và tuyên án

+ Nghị án

+ Trở lại xét hỏi và tranh luận

+ Tuyên án, cấp trích lục cho đương sự và cơ quan có liên quan

Hoạt động ADPL của Hội đồng xét xử đối với vụ án HN và GĐ được hiện theo các trình tự như sau:

 Hoạt động ADPL theo trình tự sơ thẩm của TAND cấp huyện

Đây là lần xét xử đầu tiên đối với án HN và GĐ và hầu hết tất cả các loại án này đều được xét xử ở cấp huyện Trước đây, việc ADPL giải quyết án HN và GĐ ở cấp sơ thẩm của TAND cấp huyện, theo pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989,

từ ngày 01- 01- 2005 trình tự giải quyết án HN và GĐ được áp dụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004

Xét xử án HN và GĐ của TAND cấp huyện có số lượng vụ án nhiều, chiếm đa số trong toàn tỉnh và là cấp xét xử từ khâu chuẩn bị xét xử đến khi xét xử tại phiên tòa Nếu việc ADPL được chính xác thì kết quả vụ án không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình

tự phúc thẩm và trình tự giám đốc hoặc vụ án không bị dây dưa kéo dài, hạn chế tình trạng quá tải cho Tòa án cấp trên cũng như việc khiếu kiện vượt cấp

Đối với vụ án HN và GĐ, việc tranh chấp sau khi hòa giải không thành mà phải đưa ra tòa xét xử chủ yếu là tranh chấp về tài sản sau ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con, truy nhận cha cho con Giai đoạn hòa giải làm tốt thì sẽ hạn chế số lượng án và thời gian ở giai đoạn xét xử, tránh tốn kém tiền của nhà nước chi phí cho việc xét xử và công tác thi hành án sau này

Khi vụ án tiến hành đưa ra xét xử, phải tuân thủ theo các bước như đã nêu ở trên

Về nội dung vụ án cần được Hội đồng chuẩn bị chu đáo như nội dung cần hỏi, cách hỏi

Trang 26

như thế nào, nội dung nào cần hỏi trước Trong quá trình hỏi phải đảm bảo khách quan, đồng thời tuân theo trật tự pháp luật quy định về thủ tục hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án

Như vậy, ở trình tự phiên tòa sơ thẩm cấp huyện, vụ án được xét xử lần đầu tiên, vụ án trước khi đưa ra xét xử phải được điều tra một cách đầy đủ Tại phiên toà phải được thẩm vấn các đương sự một cách khách quan, các chứng cứ đều được đưa

ra xem xét, các bước tiến hành tố tụng được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc và tuân thủ theo các bước mà pháp luật quy định Việc ADPL phải chính xác thì mới đạt được kết quả xét xử cao nhất, hạn chế tới mức tối đa việc kháng cáo, kháng nghị lên Tòa án cấp trên và trách được án bị sửa, hủy

 Hoạt động ADPL theo trình tự sơ thẩm của TAND cấp tỉnh:

Một số vụ án HN và GĐ thuộc thẩm quyền TAND cấp tỉnh giải quyết được quy định tại Khoản 3, Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự: "Những tranh chấp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, cần ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, ủy thác cho Tòa án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện" Khoản 2, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự: "TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh lấy lên để giải quyết” Đây cũng là cấp sơ thẩm xét xử về án HN và GĐ đầu tiên nhưng thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh, do tính chất vụ án có tính phức tạp hơn, cần phải điều tra xác minh rộng hơn như ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài Tại Công văn số 128/NCPL ngày 14/12/1991 của TANDTC thì TAND tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án trong đó có án HN và GĐ như sau:

+ Khi có đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài

+ Người Việt Nam ở nước ngoài bao gồm những người mang quốc tịch Việt Nam đang sinh sống học tập và lao động ở ngoài lãnh thổ Việt Nam

Tại Công văn số 82/TANDTC ngày 07/11/1982 của TANDTC, những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện mà TAND cấp tỉnh lấy lên để giải quyết đó là các vụ

án trong đó có án HN và GĐ như:

+ Những vụ án vận dụng pháp luật, chính sách có nhiều khó khăn phức tạp

Trang 27

+ Những vụ án điều tra thu thập chứng cứ có nhiều khó khăn hoặc phải giám định

kỹ thuật phức tạp

+ Những vụ án việc xử lý có nhiều khó khăn, có ý kiến khác nhau về chủ trương

xử lý giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương

+ Những vụ án mà đương sự là cán bộ chủ chốt ở địa phương, những người có uy tín tôn giáo mà xét thấy việc xét xử ở TAND cấp huyện không có lợi về chính trị

+ Ngoài ra, TAND cấp tỉnh còn có thể theo yêu cầu của đương sự lấy những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện lên để xét xử nếu xét thấy có lý do chính đáng

Những loại vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của TAND tỉnh hoặc những vụ việc thuộc Tòa án cấp sơ thẩm, mà TAND tỉnh lấy lên để giải quyết theo trình

tự sơ thẩm của tỉnh không nhiều và chỉ tập trung ở một số thành phố lớn Khi giải quyết

vụ án theo trình tự sơ thẩm của TAND tỉnh cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, từ khi thụ lý đơn đến đến khi ra quyết định bằng bản án

 Hoạt động ADPL theo trình tự phúc thẩm của TAND tỉnh:

Sau khi TAND cấp huyện xét xử, quyết định bản án về HN và GĐ bị kháng cáo, bị kháng nghị, cần lưu ý việc kháng cáo, kháng nghị đảm bảo thời hạn luật định, như thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, đối với quyết định tạm đình chỉ là 7 ngày Đồng thời người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật, trừ những trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án

Phúc thẩm là một thủ tục ADPL để xét xử do TAND tỉnh trực tiếp tiến hành xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của quyết định, bản án HN và GĐ của TAND cấp huyện chưa có hiệu lực pháp luật vì có kháng cáo, kháng nghị Đây là lần xét xử thứ hai đối với vụ án, do vậy cấp xét xử thứ hai phải xem xét bản án một cách thận trọng, đối tượng của phúc thẩm là bản án, là quyết định sơ thẩm Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm phải là TAND cấp tỉnh

Giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thực tế chủ yếu là các vụ án do các đương sự thực hiện quyền kháng cáo, bởi kết quả bản án sơ thẩm không thể đáp ứng

Trang 28

nguyện vọng của một trong các đương sự, cá biệt một số ít đương sự cố tình gây khó khăn cho bên kia nên thực hiện quyền kháng cáo của mình để bản án bị dây dưa kéo dài Khi tiến hành giải quyết vụ án HN và GĐ ở cấp phúc thẩm, hoạt động ADPL xét xử phải tuân theo bốn giai đoạn như hoạt động ADPL ở cấp sơ thẩm, trong từng giai đoạn ADPL phải hết sức thận trọng, ngoài việc kiểm tra lại việc ADPL của TAND cấp huyện xem có được chính xác hay không, kết quả của bản án đã thấu tình đạt lý chưa… Quyết định của bản án phúc thẩm phải có sức thuyết phục cao hơn đối với TAND cấp huyện và các đương sự

Khi tiến hành ADPL xét xử phúc thẩm đối với vụ án HN và GĐ có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền:

+ Giữ nguyên án sơ thẩm

+ Sửa bản án sơ thẩm, nếu thấy việc điều tra đã đầy đủ, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án không đúng pháp luật

+ Hủy bản án sơ thẩm về HN và GĐ để xét xử sơ thẩm lại trong những trường hợp sau:

Việc điều tra của Tòa án cấp sơ thẩm không đầy đủ mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được

Thành phần Hội đồng xét xử không đúng quy định pháp luật

Có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng

+ Khi đương sự đề nghị

+ Khi có lý do chính đáng của đương sự

+ Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị và trong các trường hợp theo Điều 189; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự

Do vậy, khi xét xử theo trình tự phúc thẩm, TAND cấp phúc thẩm không chỉ đơn thuần ADPL để giải quyết vụ án, mà còn kiểm tra lại việc ADPL của TAND cấp huyện,

do đó cấp phúc thẩm khi ADPL cần phải xem xét kỹ lưỡng, thận trọng, khi xét xử sơ thẩm Hội đồng xét xử chỉ có một Thẩm phán, nhưng Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm gồm

3 Thẩm phán và quyết định của phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định

 Hoạt động ADPL theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm:

Trang 29

- Hoạt động ADPL theo thủ tục giám đốc thẩm đối với những quyết định, bản án

HN và GĐ đã có hiệu lực pháp luật: Căn cứ vào pháp luật và ADPL để xem xét lại bản

án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án

Những trường hợp xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm đó là quyết định, bản án về

HN và GĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có căn cứ sau:

+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc ADPL

Xét xử giám đốc thẩm không phải là cấp xét xử thứ ba, nên trình tự xét xử giám đốc thẩm cơ bản khác với xét xử sơ thẩm, phúc thẩm Trình tự kháng nghị cho đến việc xét xử giám đốc thẩm, bản án chỉ trải qua một cấp xét xử và không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm Khi phát hiện bản án, quyết định về HN và GĐ đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm như: Đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị gồm Chánh án TAND tỉnh, Viện trưởng VKSND tỉnh, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC Khi xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với vụ án HN và

GĐ Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có thẩm quyền sau:

+ Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định về HN và GĐ đã

có hiệu lực pháp luật

+ Giữ nguyên bản án, quyết định về HN và GĐ đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới

+ Hủy bản án, quyết định về HN và GĐ có hiệu lực pháp luật để điều tra xét xử lại

từ giai đoạn đầu

+ Hủy bản án, quyết định về HN và GĐ của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ vụ

án

Trang 30

Như vậy, hoạt động ADPL theo thủ tục giám đốc thẩm đối với án HN và GĐ có ý nghĩa rất lớn, đó là trình tự để tháo gỡ giải quyết những sai lầm của quyết định, bản án về

HN và GĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, đồng thời thông qua thủ tục giám đốc thẩm, giúp cho Tòa án cấp trên thấy được những sai sót của Tòa án cấp dưới trong hoạt động ADPL giải quyết án HN và GĐ Từ đó có những tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và có sự chỉ đạo hướng dẫn công tác nghiệp vụ trong việc vận dụng pháp luật đối với Tòa án cấp dưới để giải quyết án HN và GĐ

- Hoạt động ADPL theo thủ tục tái thẩm là xét lại quyết định, bản án về HN và

GĐ đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định, bản án, mà Tòa án và các đương

sự không biết được khi ra bản án, quyết định đó

Những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm những quyết định, bản án về

HN và GĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật như sau:

+ Phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án, mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án HN và GĐ

+ Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ

+ Thẩm phán, HTND, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật

+ Bản án của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào

đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ

Hoạt động ADPL của Hội đồng tái thẩm có các quyền đối với vụ án HN và GĐ như sau:

+ Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên quyết định, bản án HN và GĐ đã có hiệu lực pháp luật

+ Hủy bản án, quyết định về HN và GĐ đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định

+ Hủy bản án, quyết định về HN và GĐ đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án

Trang 31

Khi phát hiện có tình tiết mới của vụ án, đương sự hoặc cá nhân cơ quan, tổ chức khác có quyền phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị

Hoạt động ADPL theo thủ tục tái thẩm trong giải quyết án HN và GĐ cũng phải tuân theo trình tự Bộ luật Tố tụng dân sự Qua hoạt động ADPL theo thủ tục tái thẩm giúp cho Tòa án sửa chữa được những thiếu sót trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Ngoài việc giải quyết các vụ án theo trình tự sơ thẩm và phúc thẩm thì ADPL theo trình tự giám đốc thẩm và tái thẩm với mục đích nhằm để ADPL trong giải quyết các vụ

án về HN và GĐ được chính xác hơn

- Vấn đề chuyển quyết định, bản án HN và GĐ có hiệu lực pháp luật cho cơ quan thi hành án:

Trước đây thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án, nhưng ngày

01-6-1993 pháp luật thi hành án dân sự có hiệu lực thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sự năm

1989 thì thẩm quyền thi hành án thuộc cơ quan thi hành án dân sự Sau khi quyết định và bản án về HN và GĐ có hiệu lực, pháp luật quy định Tòa án phải có trách nhiệm chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự bản án và quyết định về HN và GĐ để cơ quan thi hành án có trách nhiệm thi hành Thời hạn chuyển giao quyết định và bản án được pháp luật quy định như sau:

+ Đối với xét xử sơ thẩm trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án, khi án có hiệu lực pháp luật Toà án phải gửi án văn cho cơ quan thi hành án

+ Đối với xét xử phúc thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định phúc thẩm cho

cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền

+ Đối với xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn năm ngày kể từ ngày ra quyết định, Hội đồng giám đốc thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền

Như vậy, trong thời hạn xem xét theo trình tự giám đốc thẩm và tái thẩm, nếu bản

án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, thì bản án có hiệu lực vẫn được đưa ra thi hành án

Trang 32

Kết luận chương 1

áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ của TAND là một lĩnh vực của ADPL nói chung Trong đó tác giả trình bày khái niệm, đặc điểm ADPL trong giải quyết

án HN và GĐ, đồng thời phân tích các giai đoạn của quá trình ADPL giải quyết án HN và

GĐ, nêu lên nội dung ADPL trong giải quyết án HN và GĐ, để làm cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng ở chương 2 và đề ra các giải pháp ở chương 3

Chương 2

thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết

án hôn nhân và gia đình của toàn án nhân dân

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc miền núi và Trung du Bắc Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía Đông Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Tây Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc ở vị trí này, Thái Nguyên là điểm tiếp giáp, là cầu nối giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng với các tỉnh vùng núi phía Bắc Vì vậy, về mặt quân sự, Thái Nguyên vừa là cửa ngõ đi vào vùng Việt Bắc, vừa là lá chắn, "là phên dậu của kinh thành Thăng Long"

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Thái Nguyên là tỉnh nằm trong căn cứ địa cách mạng Việt Bắc Trong kháng chiến chống Pháp, Thái Nguyên trở thành thủ đô kháng chiến của cả nước Từ năm 1956 đến năm 1976, Thái Nguyên là thủ phủ của khu

tự trị Việt Bắc Xuất phát từ yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực

Trang 33

hiện Nghị quyết ngày 21/4/1965 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tỉnh Thái Nguyên hợp nhất với tỉnh Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái

Ngày 29/2/1978, Quốc hội khóa VI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra nghị quyết tách hai huyện Ngân Sơn và Chợ Rã (nay là huyện Ba Bể) khỏi tỉnh Bắc Thái, sáp nhập vào tỉnh Cao Bằng Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, ngày 6/11/1996, tại

kỳ họp thứ 10, Quốc hội (khóa IX) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra nghị quyết về phân chia lại địa giới hành chính một số tỉnh, Bắc Thái được tách thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn

Tỉnh Thái Nguyên hiện nay có tổng diện tích tự nhiên là 3.541,1km2, với 9 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 7 huyện (Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa), thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công Toàn tỉnh có 180 đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn Địa hình Thái Nguyên chia làm ba vùng: vùng Trung du gồm: thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, các huyện Phổ Yên, Phú Bình; vùng núi gồm các huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ; vùng cao là huyện Võ Nhai Hệ thống đào tạo gồm 6 trường đại học, 16 trường cao đẳng, trung học dạy nghề

Định cư và sinh sống lâu đời trên vùng đất Thái Nguyên có 8 dân tộc chính với gần 1.084.000đ người Trong đó dân tộc Kinh có số lượng đông nhất (khoảng 75,5%), dân tộc Tày (khoảng 10,7%), dân tộc Nùng (khoảng 5,2%), dân tộc Dao (khoảng 2,5%), dân tộc Sán Dìu (khoảng 2,3%), các dân tộc khác (H.Mông, Hoa, Thái) chiếm gần 5% dân số của tỉnh Mặc dù mỗi dân tộc đều có đặc điểm riêng về tiếng nói, phong tục tập quán, nhưng tất cả đều có nét tương đồng, hòa nhập, tạo nên một cộng đồng đoàn kết gắn

bó trong đấu tranh chế ngự thiên nhiên, chống thù trong giặc ngoài Bảo vệ nền độc lập tự

do của Tổ quốc và xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tạo ra một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam Là địa bàn chiến lược quan trọng, Thái Nguyên sớm nhận được sự quan tâm của Đảng Ngay từ khi chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên trong tỉnh được thành lập cuối năm 1936, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, những người cộng sản Thái Nguyên đã lãnh đạo nhân dân hòa vào cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đòi tự do, cơm áo, hòa bình (1936-1939); vận động nhân dân trong tỉnh hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (1940); xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, thành lập

Trang 34

Trung đội Cứu quốc quân II - một trong những đơn vị tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; phát động đấu tranh vũ trang chống khủng bố, bảo vệ căn cứ địa cách mạng; khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh

Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thái Nguyên được chọn làm nơi xây Khu an toàn (ATK) tại huyện Định Hóa cho các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ ở và lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc trong cả nước Đây là một nhiệm vụ nặng nề nhưng cũng hết sức vẻ vang Để thực hiện nhiệm vụ trọng đại này, Đảng bộ Thái Nguyên đã quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến "toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh" của Đảng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân; khẳng định niềm tin cho nhân dân vào thắng lợi của cuộc kháng chiến; động viên nhân dân tích cực tham gia hoạt động kháng chiến Trải qua thực tiễn cách mạng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thái Nguyên hết sức tự hào vì đã hoàn thành xuất sắc trọng trách Đảng giao phó; bảo vệ tuyệt đối an toàn cho các đồng chí lãnh đạo cao cấp, các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước trước sự bao vây, tấn công, phá hoại của kẻ thù

Thái Nguyên còn là địa bàn đứng chân của các đơn vị bộ đội chủ lực, là nơi ra đời nhiều chủ trương chiến lược của Đảng và Chính phủ chỉ đạo toàn quốc kháng chiến Đặc biệt, tại Tỉn Keo thuộc xã Phú Đình (Định Hóa), ngày 6/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bám sát đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng, Đảng bộ Thái Nguyên tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên sức người, sức của trong nhân dân phục vụ sản xuất, chiến đấu, góp phần đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ thắng lợi

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 48.278 người con ưu tú của nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã lên đường cầm súng bảo vệ Tổ quốc, trong đó có 7.792 người đã anh dũng hy sinh, gần 5.000 người để lại một phần xương máu trên các chiến trường Hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm của Thái Nguyên được huy động cho kháng chiến trong điều kiện đời sống của nhân dân còn gặp muôn vàn khó khăn Tất cả điều đó

Trang 35

cho thấy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã được phát huy tới cao độ

Công lao và thành tích đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thái Nguyên trong hai cuộc kháng chiến đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận: 45 tập thể được tuyên dương danh hiệu "Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang", 18 cá nhân (có sinh quán, trú quán trên địa bàn tỉnh) được tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" và "Anh hùng lao động", 131 Bà mẹ được phong tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng"

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ Thái Nguyên tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được trong những năm kháng chiến, biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động dựng xây quê hương đất nước

Từ những đặc điểm về điều kiện vị trí địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội đã có những ảnh hưởng tới việc ADPL trong hoạt động giải quyết án HN và GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên như sau:

- ảnh hưởng do đặc thù về điều kiện địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du Bắc Bộ, giáp với 6 tỉnh phía Bắc, có diện tích tự nhiên 3.541,1km2, rộng hơn so với một số tỉnh ở cùng khu vực Bắc Bộ, với 9 đơn vị hành chính được chia thành 3 vùng: vùng trung du gồm 4 đơn vị hành chính, vùng núi có 4 đơn vị hành chính, vùng cao có 1 đơn vị Định cư và sinh sống trên vùng đất Thái Nguyên có 8 dân tộc khác nhau với sự phân bố vị trí địa lý như vậy gây không ít khó khăn cho công tác điều tra, xác minh, định giá, việc triệu tập các đương sự cũng gặp rất nhiều khó khăn (giao thông đi lại khó khăn, công tác văn thư chuyển chậm ), có những trường hợp rất vất vả mới tìm đến được nhà đương sự, nhưng từ xa thấy cán bộ Tòa án đến họ lại bỏ đi không tiếp, việc tiếp xúc lấy lời khai, điều tra ADPL đối với một

số trường hợp gặp rất nhiều khó khăn Với vị trí địa lý tiếp giáp với nhiều tỉnh nên có nhiều đầu mối giao thông qua tỉnh, bên cạnh đó còn có các vùng khai thác khoáng sản như vàng và các kim loại khác Do vậy, các loại tội phạm về an toàn trật tự xã hội đều gia tăng Khi loại tội phạm về hình sự tăng thì án HN và GĐ cũng tăng theo như lý do xin ly hôn, một bên đi cải tạo, một bên đi cai nghiện ở mỗi vùng khác nhau, những tranh chấp

Trang 36

trong quan hệ hôn nhân cũng khác nhau, do điều kiện sống ở các khu vực và các vùng nông thôn khác nhau, trình độ dân trí thấp, việc tuyên truyền giáo dục pháp luật chưa tốt, một số công dân nhận thức thấp, ít am hiểu về xã hội, ít có điều kiện xem sách báo, nghe đài, nên những kiến thức về pháp luật nói chung và Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng còn rất hạn chế Từ những điều kiện về vị trí địa lý, kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng đến quá trình ADPL trong giải quyết án HN và GĐ như ADPL trong thụ lý, điều tra thu thập chứng cứ đến giai đoạn xét xử đối với loại án này ở vùng cao, vùng núi gặp không ít khó khăn Khác với vụ án hình sự, khi chuẩn bị xét xử đối với các bị cáo được tại ngoại, Toà án báo gọi mà cố tình không đến thì Tòa án có quyền ra lệnh bắt giam để chờ xét xử, đối với án HN và GĐ thì pháp luật không cho phép làm như vậy, đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến một số vụ án bị kéo dài

- Từ năm 1996, do phân chia lại địa giới hành chính tỉnh Thái Nguyên mới được tách ra từ tỉnh Bắc Thái, một số cán bộ, Thẩm phán và lãnh đạo Tòa án chuyển lên công tác tại TAND tỉnh Bắc Kạn, nên đội ngũ cán bộ Tòa án của tỉnh Thái Nguyên thiếu về số lượng và chất lượng, cán bộ vẫn chưa được kiện toàn phù hợp với đòi hỏi thực tiễn, lượng thẩm phán trực tiếp ADPL để giải quyết các vụ án về HN và GĐ rất mỏng

Mặt khác, việc hướng dẫn cụ thể của các đạo luật còn chậm, tập huấn nâng cao công tác nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác xét xử còn ít, lượng thông tin về khoa học pháp luật đối với người dân còn thấp, các văn bản mới được thường xuyên ban hành, nhưng những văn bản đó đến tay những chủ thể ADPL còn chậm

- Ngoài những yếu tố về vị trí địa lý, về con người thì điều kiện cơ sở vật chất của ngành Tòa án cũng như kinh phí hoạt động cũng ảnh hưởng tới hoạt động của ngành Tòa

án nói chung và của TAND ở Thái Nguyên nói riêng Trong giai đoạn nền kinh tế của đất nước từ bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, trước những khó khăn của đất nước cũng

đã ảnh hưởng đến ngành Tòa án của tỉnh Thái Nguyên, như cơ sở vật chất, phương tiện làm việc còn nhiều thiếu thốn và bất cập, phòng xử án của các Tòa án cấp huyện chủ yếu

là nhà cấp 4 đã cũ, không tạo được vẻ uy nghi trang trọng của một phiên tòa Đến năm

2000 được sự quan tâm của nhà nước cho xây dựng lại, nên các huyện mới có trụ sở tương đối khang trang, các phương tiện để phục vụ cho công việc còn sơ sài, việc ứng dụng những công nghệ hiện đại, như tin học vào công tác quản lý của Tòa án ở nước ta còn

Trang 37

hạn chế, mỗi Tòa án cấp huyện chỉ có một máy tính phục vụ cho công tác văn phòng, chưa khai thác hết các tính năng tác dụng phục vụ cho công tác Hệ thống máy tính của Tòa án tỉnh và Tòa án cấp huyện chưa được nối mạng để phục vụ cho công tác chuyên môn Kinh phí dành cho hoạt động nghiệp vụ còn hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu công việc thực tiễn Số lượng án nói chung hiện nay tăng các vụ án về HN và GĐ càng ngày càng phức tạp hơn, song các chi phí khác như chi bồi dưỡng cho Hội thẩm còn thấp, chưa động viên khuyến khích họ tham gia xét xử Từ những điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình ADPL trong hoạt động giải quyết án

HN và GĐ

Như vậy, từ những điều kiện về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội, việc sáp nhập, tách tỉnh mới và điều kiện cơ sở vật chất đã tác động ảnh hưởng đến hoạt động của ngành Tòa án nói chung và việc ADPL trong hoạt động giải quyết án HN và GĐ nói riêng của tỉnh Thái Nguyên

2.1.2 Về cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên

Từ tháng 11/ 1996 tỉnh Thái Nguyên được tách ra từ tỉnh Bắc Thái một số cán bộ

và lãnh đạo chuyển lên công tác tại tỉnh Bắc Kạn Từ đó đến nay, hàng năm hệ thống tổ chức Tòa án ở tỉnh Thái Nguyên luôn được kiện toàn và chia làm 2 cấp: Cấp huyện có 9 Toà án, trong đó có 7 TAND huyện và 1 TAND thị xã, 1 TAND thành phố, cấp tỉnh có TAND tỉnh, trong đó có Tòa Hình sự, Tòa Dân sự, Tòa Lao động, Tòa Kinh tế, Tòa Hành chính, Phòng kiểm tra giám đốc, Phòng thi hành hành án hình sự và Văn phòng Tòa án Theo số liệu thống kê chính thức đến hết năm 2005, ngành TAND tỉnh Thái Nguyên có

143 cán bộ, trong đó có 61 Thẩm phán, Toà án tỉnh có 56 cán bộ, trong đó có 20 Thẩm phán, có 19 Thẩm phán trình độ đại học, 01 cao đẳng, về trình độ chính trị có 02 cử nhân chính trị, 01cao cấp chính trị, 13 trung cấp chính trị, có 05 cán bộ đang học cao học Luật tại Hà Nội TAND huyện có 87 cán bộ trong đó có 41 Thẩm phán; có 38 Thẩm phán trình

độ đại học, 03 Thẩm phán trình độ cao đẳng Trình độ chính trị: 01 cử nhân chính trị, 29 trung cấp chính trị, 100% các Thẩm phán là đảng viên và có trình độ chuyên môn nghiệp

vụ là Đại học, cao đẳng Ngoài ra, các TAND ở Thái Nguyên còn có 208 HTND ở cả 2 cấp Tòa án tham gia vào hoạt động xử xét theo quy định của pháp luật So sánh với thời điểm mới chưa tách tỉnh (11/1996), tổng số cán bộ Tòa án tỉnh Thái Nguyên là 129, trong

Trang 38

đó ở TAND tỉnh có 38 cán bộ, TAND huyện có 91 cán bộ Như vậy trong những năm qua, TAND của Thái Nguyên đã đạt được những thành tựu lớn trong việc xây dựng và kiện toàn bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ nhất là đối với TAND tỉnh, từ tổng số 129 cán

bộ đến nay đã tăng lên 143 cán bộ, không những tăng về số lượng cán bộ mà chất lượng cán bộ đã được nâng lên như trình độ nghiệp vụ về chuyên môn, cũng như trình độ về chính trị [55]

Chủ thể ADPL trong hoạt động xét xử án HN và GĐ của TAND tỉnh Thái Nguyên chỉ bao gồm các Thẩm phán và các thư ký Tòa án và thẩm tra viên Theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung Luật tổ chức tòa án năm 2002, ủy ban thẩm phán TAND cấp tỉnh gồm Chánh án, các phó chánh án và các Thẩm phán được Chánh án Tòa án tối cao bổ nhiệm tham gia Uỷ ban Thẩm phán theo đề nghị của Chánh án Tòa án tỉnh Hiện nay, Uỷ ban Thẩm phán của TAND tỉnh Thái Nguyên gồm có 6 Thẩm phán gồm có Chánh án, 02 phó chánh án và 03 Thẩm phán (đó là 01 chánh tòa dân sự, 01 chánh tòa hình sự và 01 trưởng phòng kiểm tra giám đốc) HTND của ngành Tòa án tỉnh có 208 người, trong đó HTND của Tòa án tỉnh có 32 người

Các TAND cấp huyện hoạt động theo nguyên tắc không phân công chuyên nghiệp trong giải quyết và xét xử các loại án, do vậy là chủ thể ADPL trong giải quyết tất cả các loại án Với số lượng từ 32 đến 41 Thẩm phán, trong năm từ năm 2000 đến 2004 TAND cấp huyện, cấp tỉnh Thái Nguyên đã giải quyết và xét xử 2.448 vụ án về HN và GĐ, số lượng án chủ yếu ở cấp huyện, thị xã, thành phố Tòa dân sự của TAND tỉnh Thái Nguyên đã giải quyết án HN và GĐ theo trình tự phúc thẩm 224, và giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm là 23 vụ án [57]

Như vậy, cơ cấu tổ chức của các TAND ở Thái Nguyên là khá chặt chẽ nên đã hoàn thành nhiệm vụ trong giải quyết án HN và GĐ Do số lượng án HN và GĐ tăng lên hàng năm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, nên cơ cấu tổ chức và biên chế Thẩm phán cũng cần tăng để đáp ứng được yêu cầu của công việc trong thời gian tới

Để đáp ứng yêu cầu giải quyết số lượng án tăng hàng năm, cũng như lượng án sẽ nhiều hơn khi tăng thẩm quyền xét xử cho TAND cấp huyện, trong những năm tới TAND ở Thái Nguyên đã chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để tạo nguồn bổ nhiệm Thẩm phán, hàng năm mỗi TAND cấp huyện được cử từ 1 đến 2 cán bộ có năng

Trang 39

lực, phẩm chất đạo đức tốt để học lớp đào tạo nghiệp vụ, xét xử tại Học viện tư pháp và

cử đi học trung cấp chính trị Bên cạnh đó, thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ giữa TAND tỉnh và TAND cấp huyện TAND tỉnh sẽ điều chuyển một số Thẩm phán có năng lực xuống làm Chánh án, phó chánh án cấp huyện, đề nghị bổ nhiệm một số cán bộ thư

ký đã có đủ năng lực phẩm chất để làm Thẩm phán cấp huyện Được sự đồng ý của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc tăng thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện Từ năm 2003 đến năm 2009, TAND tỉnh Thái Nguyên sẽ kiện toàn cơ sở vật chất, như phương tiện trụ

sở làm việc và chuẩn bị về công tác cán bộ để sẵn sàng đón nhận việc tăng thẩm quyền cho một số TAND cấp huyện, TAND thành phố, còn lại ở tỉnh Thái Nguyên

Để làm tốt công tác ADPL trong việc giải quyết án HN và GĐ của tỉnh Thái Nguyên thì trước hết phải làm tốt công tác tổ chức như đối với TAND ở tỉnh, về cơ cấu

tổ chức cần phải sắp xếp hợp lý, biên chế Thẩm phán cán bộ phải đáp ứng nhu cầu công việc, đối với Thẩm phán xét xử như án về hình sự hồ sơ vụ án đã có sẵn, chỉ đơn thuần ADPL trên cơ sở các văn bản quy định đối với các loại tội danh cụ thể, việc ADPL cũng

dễ dàng hơn, nhưng đối với Thẩm phán ADPL trong hoạt động giải quyết án HN và GĐ thì đòi hỏi cao hơn, ngoài những kiến thức pháp luật còn đòi hỏi có sự hiểu biết, có kiến thức xã hội sâu rộng, có năng lực trong công tác hòa giải… thì mới thực hiện tốt nhiệm

vụ của người Thẩm phán Bên cạnh đó, TAND tỉnh còn chú trọng bồi dưỡng những cán

bộ có năng lực và kinh nghiệm, có phẩm chất đạo đức tốt, được đào tạo chính quy để bổ nhiệm Thẩm phán TAND huyện nhất là đối với Thẩm phán làm công tác giải quyết án

HN và GĐ trong những năm tới thì mới đáp ứng nhu cầu thực tiễn

Trong những năm qua, tuy điều kiện còn nhiều khó khăn về đội ngũ cán bộ, kinh phí đào tạo, cũng như cơ sở vật chất còn thiếu thốn chưa đáp ứng cho hoạt động của ngành Tòa án, nhưng TAND ở Thái Nguyên đã khắc phục mọi khó khăn, dần dần từng bước xây dựng được một đội ngũ Thẩm phán làm công tác giải quyết án HN và GĐ hoàn thành nhiệm vụ giao Trong thời gian tới cần phải nâng cao hơn nữa về trình độ nghiệp

vụ cho Thẩm phán làm công tác giải quyết án HN và GĐ Làm tốt công tác ADPL trong hoạt động giải quyết án HN và GĐ là góp phần làm lành mạnh các quan hệ xã hội, làm

ổn định tình hình trật tự chính trị ở địa phương

Trang 40

2.2 Những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động áp dụng pháp luật giải quyết

án hôn nhân và gia đình của tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên

2.2.1 Những ưu điểm đạt được trong áp dụng pháp luật giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên

* về ADPL trong thụ lý và điều tra vụ án:

Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về HN và GĐ, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi nhận đơn khởi kiện về lĩnh vực HN và

GĐ Tòa án phải đối chiếu với những quy định của pháp luật để xác định những loại việc thuộc về lĩnh vực HN và GĐ như vụ án ly hôn hay xin tăng trợ cấp nuôi con…, vụ việc

đó thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh hay cấp huyện, Tòa án chỉ thụ lý, giải quyết

vụ án về HN và GĐ trong phạm vi thẩm quyền của mình Để xác định đúng thẩm quyền, đúng loại việc thì trước khi thụ lý xem xét ADPL phân loại đối với những vụ án về HN

và GĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, được quy định tại Điều 27, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự có những tranh chấp sau đây:

- Ly hôn, tranh chấp về con nuôi, chia tài sản khi ly hôn

- Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

- Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ

- Tranh chấp về cấp dưỡng

- Yêu cầu hủy việc kết hôn trái phép

- Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

- Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

- Yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn

- Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

- Các tranh chấp khác và những yêu cầu khác về HN và GĐ mà pháp luật có quy định

Ngày đăng: 27/06/2014, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
4. Chính phủ (1994), Nghị quyết số 184/CP ngày 30/11/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 184/CP ngày 30/11/1994
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1994
5. Chính phủ (1998), Nghị quyết số 83/1998 NĐ - CP ngày 10/10/11998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (1998)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
6. Chính phủ (2000), Nghị quyết số 35/2000/ QH 10 ngày 9/6/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 35/2000/ QH 10 ngày 9/6/2000
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
7. Chính phủ (2001), Nghị quyết số 70/2001/NĐ - CP ngày 30/10/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2001)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
8. Chính phủ (2001), Nghị quyết số 77/2001/ NĐ - CP ngày 22/10/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 77/2001/ NĐ - CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
9. Chính phủ (2001), Nghị quyết số 87/2001/NĐ - CP ngày 21/11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2001)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
11. Chính phủ (2002), Nghị quyết số 32/2002/ NĐ- CP ngày 27/3/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 32/2002/ NĐ- CP ngày 27/3/2002
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
12. Chính phủ (2002), Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2002)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
13. Phạm Thị Dần (2000), Điều tra trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sỹ Luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra trong tố tụng dân sự
Tác giả: Phạm Thị Dần
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2000
14. Ngô Anh Dũng (2002), "Sự cần thiết phải quy định thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự", Tạp chí tòa án nhân dân, (4), tr. 9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết phải quy định thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự
Tác giả: Ngô Anh Dũng
Năm: 2002
15. Ngô Vĩnh Bạc Dương (2001), "Vấn đề áp dụng hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự ở Việt Nam", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (8), tr.53-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề áp dụng hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Vĩnh Bạc Dương
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Trung ương III khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương III khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Nghị quyết Trung ương VII khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương VII khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết Trung ương VIII của Bộ Chính trị Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương VIII của Bộ Chính trị Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
22. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2006), Văn kiện Đại hội đạibiểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, tháng 01 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2006
23. Đại học Luật Hà Nội (1997), Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học Luật Hà Nội (1997), "Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1997
24. Nguyễn Minh Đoan (1996), "Những yêu cầu đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật", Tạp chí Luật học, (1), tr. 2 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Kết quả thụ lý giải quyết án HN và GĐ sơ thẩm cấp huyện, tỉnh năm 2001 - LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên pot
Bảng 2.2 Kết quả thụ lý giải quyết án HN và GĐ sơ thẩm cấp huyện, tỉnh năm 2001 (Trang 49)
Bảng 2.3: Thụ lý và giải quyết án HNGĐ sơ thẩm huyện, tỉnh năm 2002 [57] - LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên pot
Bảng 2.3 Thụ lý và giải quyết án HNGĐ sơ thẩm huyện, tỉnh năm 2002 [57] (Trang 50)
Bảng 2.4: Thụ lý và giải quyết án HNGĐ sơ thẩm huyện, tỉnh năm 2003 [57] - LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên pot
Bảng 2.4 Thụ lý và giải quyết án HNGĐ sơ thẩm huyện, tỉnh năm 2003 [57] (Trang 51)
Bảng 2.6: Kết quả giải quyết phúc thẩm hôn nhân & gia đình đối với án cấp huyện - LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên pot
Bảng 2.6 Kết quả giải quyết phúc thẩm hôn nhân & gia đình đối với án cấp huyện (Trang 53)
Bảng 2.7: Kết quả xét xử án ly hôn phúc thẩm tỉnh năm 2001 [57] - LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên pot
Bảng 2.7 Kết quả xét xử án ly hôn phúc thẩm tỉnh năm 2001 [57] (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w