Đội ngũ thẩm phán có trình độ, năng lực phục vụ cho công cuộc cải cách tư pháp phải là những người có kiến thức về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, có k
Trang 1LUẬN VĂN:
Đào tạo thẩm phán của Học viên Tư
pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp ở
Việt Nam hiện nay
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi thành lập cho đến nay công tác đào tạo các chức danh tư pháp nói chung
và công tác đào tạo chức danh Thẩm phán nói riêng của Học viện Tư pháp đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng Học viên Tư pháp đã không ngừng nâng cao trình độ của các giảng viên, hoàn thiện chương trình, đổi mới phương pháp, tăng cường cơ sở vất chất…để đào tạo và cung cấp cho ngành tòa án những cán bộ có trình độ chuyên môn, có năng lực trong hoạt động xét xử Tuy vậy, trong quá trình nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế, nhất là hội nhập kinh tế quốc tế, với chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhiều vấn đề, nhiều yêu cầu mới đang được đặt ra trước mắt cũng như lâu dài Trong quá trình hoạt động của mình các Thẩm phán được đào tạo trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành công nhưng khi đối mặt với những đòi hỏi của quá trình cải cách tư pháp hiện nay thì đội ngũ thẩm phán của chúng ta chưa đáp ứng được Tình trạng xét xử oan, sai tuy không nhiều nhưng vẫn còn, nhiều vấn đề liên quan đến xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài, sỡ hữu trí tuệ, thương mại quốc tế, các loại tội phạm hình sự xuyên quốc gia, hầu như còn mới lạ, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học vào nghiên cứu luật pháp quốc tế phục vụ cho hoạt động xét xử đối với nhiều thẩm phán
đã được đào tạo còn hạn chế Điều đó cho thấy đội ngũ thẩm phán đã được đào tạo chưa
đủ năng lực để đối mặt với những thách thức mới Trong bối cảnh đó, việc đào tạo được một đội ngũ thẩm phán có trình độ, có năng lực toàn diện và phẩm chất tốt để giải quyết tốt những yêu cầu xét xử của ngành tòa án do công cuộc cải cách tư pháp đặt ra trong thời
kỳ hội nhập kinh tế quốc tế là một yêu cầu vô cùng bức xúc Đội ngũ thẩm phán có trình
độ, năng lực phục vụ cho công cuộc cải cách tư pháp phải là những người có kiến thức về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, làm chủ các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, có phẩm chất đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ chức danh tư pháp nói chung và đội ngũ
Trang 3thẩm phán nói riêng Đồng thời đặt ra mục tiêu phải đào tạo: “Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ, tiến tới thi tuyển đối với một số chức danh” [2]
Công cuộc cải cách tư pháp của nước ta hiện nay đòi hỏi Học viên Tư pháp phải đào tạo một đội ngũ thẩm phán có trình độ, năng lực đủ khả năng xét xử các vụ án và giải quyết các vấn đề quan trọng khác của ngành tòa án trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài Tuy vậy việc đào tạo đội ngũ thẩm phán đáp ứng yêu cầu của công cuộc cuộc cách tư pháp hiện nay ở nước ta không đơn giản Cần phải tìm hiểu những vấn đề thuộc về phẩm chất và năng lực của đội ngũ thẩm phán, xác định các tiêu chí theo yêu cầu của cải cách tư pháp, cũng như cách thức để đạt được các tiêu chí đó Việc này đòi hỏi sự nghiên cứu, tìm hiểu cả về lý luận và thực tiễn Nhất là nghiên cứu quy trình đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp, tìm ra cách thức khắc phục những khiếm khuyết của quy trình đó Dựa vào các tiêu chí, đề xuất những giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm đào tạo đội ngũ thẩm phán đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay Trên quan điểm quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp quyền về cải cách hệ thống cơ quan tư pháp, quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống giáo
dục Những vấn đề trên đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu đề tài: “Đào tạo thẩm phán của Học
viên Tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ lâu công tác đào tạo thẩm phán đã được quan tâm và coi trọng nhằm đảm bảo xây dựng được một đội ngũ thẩm phán có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp Đào tạo thẩm phán đã được nghiên cứu trong đào tạo các chức danh tư pháp nói chung của Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và một số nhà khoa học khác, có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau:
* Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp Trường:
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ:
Trang 4- Đào tạo thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao, (2004)
- Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng môn đạo đức nghề nghiệp tư pháp cho các
- Cơ sở lý luận thực tiễn xây dựng tập hệ thống hóa các vụ án điển hình dùng làm
tài liệu cho công tác đào tạo các chức danh tư pháp, (2008)
- Hoàn thiện phương pháp đào tạo các chức danh tư pháp, (2009)
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường:
- Xây dựng chương trình đào tạo kiểm sát viên – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, (2004)
- Đào tạo các chức danh tư pháp phục vụ công cuộc cải cách tư pháp, (2006)
* Đề án xây dựng Học viên Tư pháp ngày 11/8/2003
- Luận án Tiến sĩ Luật học: Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán
của NCS Đỗ Gia Thư, năm 2006
- Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam hiện nay TS Trần Đình Thắng – NXBCTQG, năm 2009
Nội dung nghiên cứu của các công trình trên đây đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn quan trọng về đào tạo các các chức danh tư pháp nhưng chưa luận chứng một cách toàn diện cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất phương hướng giải pháp về đào tạo thẩm phán - Một chức danh đặc thù, có vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc cải cách
tư pháp ở nước ta hiện nay Mặc dù vậy các công trình khoa học đã được công bố trên sẽ là
những tài liệu có giá trị nghiên cứu khi viết luận văn này
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp
theo yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
4 Mục đích và nhiêm vụ nghiên cứu
Trang 5Đề tài đặt ra mục đích xác định một số nguyên nhân chủ yếu đã dẫn đến tình trạng hạn chế trong công tác đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp, trên cơ sở đó phát hiện, tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng hiệu quả của công tác đào tạo thẩm phán của
Học viên Tư pháp theo yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
Từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài đã đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như
sau:
- Phân tích cơ sở lý luận và đánh giá vai trò công tác đào tạo thẩm phán của Học
viên Tư pháp ở Việt Nam hiện nay
- Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp, qua đó chỉ ra những hạn chế bất cập cần khắc phục và tìm ra những nguyên nhân của những của
hạn chế đó
- Đề xuất các giải pháp đổi mới công tác đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp
theo yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ đề tài đặt ra luận văn đã dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và nhà nước về đào tạo
chức danh tư pháp trong đó có đào tạo thẩm phán, về cải cách tư pháp
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, trong đó các phương pháp sử dụng chủ yếu là: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn …Tuy nhiên do tính chất của từng chương, từng phần của luận văn mà có thể sử dụng một trong các phương pháp trên làm chủ đạo
Trong chương 1, phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp; chương 2 và chương 3, phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp kết hợp lý luận và
thực tiễn, phương pháp thống kê, so sánh…
6 Những điểm mới của luận văn
- Góp phần hệ thống hoá các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đào tạo thẩm phán
- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng đào tạo thẩm phán ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
Trang 6- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thẩm phán theo yêu cầu
công cuộc cải cách tư pháp, ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 10 tiết
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO THẨM PHÁN THEO
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo thẩm
1.2 Yêu cầu của cải cách tư pháp đối với công tác đào tạo thẩm phán ở
1.3 Đào tạo thẩm phán ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm 30
Chương 2: TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN VÀ THỰC TRẠNG
ĐÀO TẠO THẨM PHÁN CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP
2.1 Tình hình số lượng, chất lượng đội ngũ thẩm phán hiện nay 38
2.2 Thực trạng đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp 41
2.3 Kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân trong công tác đào
tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp 46
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC
ĐÀO TẠO THẨM PHÁN THEO YÊU CẦU CÁI CÁCH
3.1 Quan điểm đổi mới công tác đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp 58
Trang 7theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
3.2 Giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo thẩm phán
của Học viện Tư pháp ở Việt Nam hiện nay 62
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO THẨM PHÁN THEO YÊU CẦU
CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO THẨM PHÁN
1.1.1 Khái niệm đào tạo và đào tạo thẩm phán
1.1.1.1 Khái niệm đào tạo
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển học “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [34, tr.739]
Từ định nghĩa giáo dục trên cho thấy về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất, nhân cách Khác
với giáo dục, Đào tạo là “làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất
định” [34, tr.298] Đào tạo được xem là quá trình tác động đến con người làm cho người đó
lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định Như vậy khái niệm “đào tạo có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định” [35]
Đào tạo được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có
hệ thống, thông qua việc học tập, việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch
Ủy ban nhân lực Anh đã đưa ra định nghĩa: Đào tạo được xác định là một quá trình
có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện
để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó
Trang 9Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở cơ quan là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan [28, tr.529]
Từ phân tích các quan niệm khác nhau về đào tạo trên cho thấy, đào tạo có các đặc điểm sau:
- Đào tạo là một quá trình học tập có hệ thống, được tổ chức theo một quy trình cụ thể, với những bước đi thích hợp, có nội dung chương trình và yêu cầu đặt ra đối với giảng viên, học viên theo từng giai đoạn, được đánh giá qua các bài giảng, sự tiếp thu, các bài kiểm tra, thi tốt nghiệp
- Các yếu tố của quá trình đào tạo tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất Tạo nên một sự biến đổi về chất sau quá trình học tập của người học Giúp cho người học không những nâng cao trình độ, năng lực đáp ứng được yêu cầu đặt ra
mà còn trang bị những phương pháp, kỹ năng tạo nền móng để tiếp tục tiếp thu, vận dụng những kiến thức mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của nhân loại Hay nói một cách cụ thể đào tạo nhằm các mục tiêu sau: phát triển năng lực và nâng cao khả năng làm việc thực tế của người được đào tạo; giúp cho họ luôn phát triển để họ có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lực trong tương lai của tổ chức; giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới, do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho
họ có đầy đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm
1.1.1.2 Khái niệm đào tạo Thẩm phán
Ở Việt Nam thẩm phán là ngạch công chức thuộc cơ quan tòa án, đồng thời thẩm phán cũng là một Chức danh nhà nước, trong hệ thống cơ quan tư pháp Theo từ điển tiếng việt Chức danh của cán bộ công chức là tên gọi thể hiện cấp bậc, quyền hạn, nhiệm
vụ, của mỗi công chức Trong khoa học pháp lý thường sử dụng thuật ngữ chức danh tư pháp để chỉ những người có chức vụ quyền hạn trong hoạt động tố tụng Theo đó “chức danh tư pháp” là “tên gọi thể hiện vị trí chuyên môn, cấp bậc, chức năng đặc thù công việc của những người thường xuyên và trực tiếp tiến hành hoạt động tư pháp” [22, tr.18] Thẩm phán là chức danh tư pháp thể hiện vị trí chuyên môn, cấp bậc, quyền hạn nhiệm
vụ trong hệ thống tòa án nhân dân các cấp Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và hội thẩm nhân dân 2002 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp
Trang 10luật để thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền Tòa án” Như vậy khái niệm thẩm phán “dùng để chỉ những người làm công việc xét xử chuyên nghiệp, được tuyển chọn theo một quy trình chặt chẽ, làm việc thường xuyên trong cơ quan tòa án, thực hiện nhiệm vụ xét xử nhân danh nhà nước” [22, tr.22] Xét xử là hoạt động áp dụng pháp luật Các Mác đã khẳng định:
Đối với thẩm phán thì không có cấp trên nào khác ngoài luật pháp Thẩm phán có trách nhiệm giải thích luật pháp trong việc vận dụng vào từng trường hợp cá biệt, đúng như ông ta hiểu luật pháp khi xem xét nó một cách có lương tri…Thẩm phán độc lập không thuộc về tôi cũng không thuộc về chính phủ Thẩm phán xem xét hành động của tôi, trên cơ sở một đạo luật nhất định [17, tr.137]
Áp dụng pháp luật là hoạt động phức tạp, ở đây không phải là cứng nhắc mà là một quá trình tư duy sáng tạo, phải huy động tổng thể những hiểu biết cả về pháp luật và những hiểu biết tổng hợp về xã hội, con người để đưa ra phán quyết hợp với lẽ phải, sự công bằng Xuất phát từ tính chất khó khăn phức tạp và yêu cầu đạt đến độ chính xác cao của hoạt động xét xử, pháp luật quy định “khi tiến hành xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [19, tr.9] Nguyên tắc này xác định trách nhiệm của thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật một cách nghiêm chỉnh, không bị tác động từ bên ngoài, không bị tình cảm cá nhân và quyền lợi riêng tư ảnh hưởng đến việc xét xử Thẩm phán chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình Các phán quyết của thẩm phán thể hiện trực tiếp thái độ của nhà nước đối với các vụ án cụ thể, phản ánh trực tiếp và sâu sắc bản chất của pháp luật, bản chất nhà nước Ở đó con người tìm thấy lẽ công bằng, tính nhân đạo, pháp luật vì con người, cho con người, đề cao quyền con người trở thành hiện thực Qua đó cho thấy hoạt động xét xử của thẩm phán có vai trò rất lớn Trước hết sự ổn định của trật tự pháp luật trong nước, việc giữ vững kỷ cương của xã hội, sự tự
do và an toàn của con người…Việc xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội, không những có tác dụng trừng trị, giáo dục cải tạo các phần tử phạm tội mà còn góp phần ngăn chặn phòng ngừa các ảnh hưởng tiêu cực đối với nhà nước và xã hội
Trang 11Với vai trò là người trực tiếp áp dụng pháp luật, là nhân tố quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của ngành tòa án, do vậy một người để được bổ nhiệm vào chức danh thẩm phán trước tiên phải có đủ tiêu chuẩn cán bộ công chức Tiêu chuẩn cán bộ công chức là những quy định làm căn cứ tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lê nin thì tiêu chuẩn của người cán bộ phải hội tụ của hai yếu tố phẩm chất đạo đức và tri thức năng lực hoặc như Hồ Chủ Tịch thường nói ngắn gọn “có đức có tài” Ngoài ra người đó phải có các tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng với chức danh khi tuyển dụng Tiêu chuẩn để được bổ nhiệm thẩm phán là:
Công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật
và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có năng lực làm công tác xét xử, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao [24, tr.49]
Từ việc phân tích khái niệm thẩm phán và quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm thẩm phán như trên, đã phản ánh mục đích của việc đào tạo thẩm phán Đào tạo thẩm phán,
là một mô hình đào tạo mới ở Việt Nam Đây có thể được xem là mô hình đào nghề đặc thù – nghề luật Một nghề đòi hỏi người đó phải có trình độ chuyên môn pháp lý cao, có kiến thức xã hội sâu rộng, có năng lực xét xử, có đạo đức trong sáng, có lập trường chính trị và bản lĩnh vững vàng Với tính chất nghề “là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội” [35] thì mục tiêu xuyên suốt của đào tạo thẩm phán là một quá trình trang bị hệ thống và toàn diện kỹ năng nghề nghiệp cơ bản nhất, để học viên hội
đủ các tiêu chuẩn không chỉ về chuyên môn nghiệp vụ mà cả về phẩm chất, nhân cách
có thể đảm đương được nhiệm vụ xét xử các vụ án, và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền Tòa án sau khi được bổ nhiệm Quá trình đó không những phát triển có hệ thống, có phương pháp, các tri thức khoa học pháp lý, học viên đã được
Trang 12đào tạo và rèn luyện trước đó, mà còn tạo nền móng để tiếp tục tiếp thu, vận dụng những kiến thức mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của công cuộc cải cách tư pháp
ở nước ta hiện nay Từ các phân tích trên có thể định nghĩa: đào tạo thẩm phán là một
quá trình trang bị hệ thống và toàn diện kỹ năng nghiệp vụ xét xử và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, nguồn để bổ nhiệm vào chức danh thẩm phán của ngành tòa án
Tóm lại: với tư cách là một mô hình đào tạo nghề, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn lực
cho thực tiễn, nên ngoài sự kế thừa các vấn đề cơ bản của quá trình đào tạo chung như: mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện, đội ngũ giảng viên, thì trong quá trình đào tạo thẩm phán còn phải cụ thể hóa mục đích chung vào điều kiện riêng
và gắn việc đào tạo của nhà trường phù hợp với đặc điểm của hoạt động xét xử, phục vụ có hiệu quả cho sự phát triển của ngành tòa án và xã hội
1.1.2 Đặc điểm của đào tạo thẩm phán
Từ khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản sau đây về đào tạo thẩm phán
Thứ nhất: Đào tạo thẩm phán là đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo đội ngũ
cán bộ kế cận để bổ nhiệm thẩm phán, làm nhiệm vụ xét xử Đó là quá trình nâng cao trình độ, phương pháp, kỹ năng nghề nghiệp cho người được đào tạo Theo đó đối tượng đào tạo thẩm phán phải là công chức của hệ thống cơ quan tòa án nhân các cấp
đã tốt nghiệp cử nhân luật, có thâm niên công tác từ ba năm trở lên và có khả năng đảm đương được công việc xét xử của thẩm phán, sẽ được bổ nhiệm sau quá trình đào tạo
Từ các tiêu chuẩn nêu trên của đối tượng đào tạo thẩm phán, cho thấy đối tượng đào tạo thẩm phán hiện nay chỉ bó hẹp là những công chức đang đảm nhận nhiệm vụ như thư
kí, thẩm tra viên, chuyên viên…trong các bộ phận của hệ thống tòa án nhân dân các cấp, ở các địa bàn từ đồng bằng, đô thị đến nông thôn miền núi hải đảo Do bị bó hẹp
về tiêu chuẩn chỉ là công chức của ngành tòa án và do vị trí công tác có yêu cầu chuyên môn và nhiệm vụ, thuộc các địa bàn hành chính khác nhau nên về trình độ, năng lực, độ tuổi của đội ngũ công chức đào tạo nguồn để bổ nhiệm thẩm phán không đồng đều…
Trang 13Đây là đặc điểm của đối tượng đào tạo thẩm phán một trong những yếu tố giữ vai trò trung tâm để các cơ quan quản lý và thực hiện đào tạo xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo cho phù hợp,
Thứ hai: Đào tạo thẩm phán để thực hiện chuyên môn hóa, chuẩn xác, chức năng xét
xử nên nội dung, chương trình đào tạo luôn gắn với đặc trưng cơ bản của nghề nghiệp như tính chuyên nghiệp, kinh nghiệm trong hoạt động nghề nghiệp và nhu cầu phát triển của xã hội Đặc biệt phải xuất phát từ yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập, hợp tác quốc tế trong hoạt động tư pháp Đặc điểm này thể hiện tính mục đích rõ nét của đào tạo đồng thời đặt ra yêu cầu nội dung, chương trình của đào tạo thẩm phán không chỉ trang
bị và cập nhật đầy đủ những kiến thức mới về pháp lý, chính trị, kinh tế, xã hội mà cần đặc biệt chú trọng rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo về nghiệp vụ xét xử, tăng cường thực hành tác nghiệp, nâng cao nhận thức và trau dồi đạo đức nghề nghiệp cho học viên trong quá trình đào tạo Nội dung đào tạo thẩm phán có các đặc thù sau:
Mang tính nghề nghiệp cụ thể: không chỉ cung cấp các kiến thức kỹ năng về nghiệp
vụ xét xử mà còn bao gồm các kiến thức, pháp luật chuyên ngành, đạo đức nghề nghiệp bản lĩnh chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
Mang tính toàn diện: Cơ cấu hợp lý giữa lý luận và thực tiễn, gắn lý thuyết và thực hành, giữa bổ sung kiến thức chuyên môn nghiệp vụ với nâng cao nhận thức trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp, kiến thức bổ trợ về tin học và kiến thức pháp luật chuyên ngành, hội nhập kinh tế quốc tế
Cơ cấu chương trình và bố trí thời lượng phù hợp với đối tượng và từng nội dung đào tạo để đảm bảo tính thiết thực, hiệu quả của việc đào tạo, phù hợp với yêu cầu người học là những người đang đảm nhận công tác chỉ có thể tham gia một thời gian nhất định cho việc học tập nâng cao trình độ, bổ sung kiến thức
Tóm lại nội dung chương trình đào tạo thẩm phán theo hướng đào tạo nghề, đảm bảo người học sau khi tốt nghiệp khóa học có thể đảm nhiệm được nhiệm vụ xét xử của người thẩm phán, đạt mục tiêu của đào tạo đã được xác định
Thứ ba: Trong đào tạo chức danh tư pháp nói chung và đào tạo thẩm phán nói riêng,
xuất phát từ yêu cầu của công tác tư pháp đặc biệt là công tác xét xử luôn đòi hỏi công
Trang 14chức phải tuân theo trình tự thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định và sự chủ động sáng tạo trong việc triển khai nhiệm vụ, áp dụng chính xác pháp luật vào thực tiễn sinh động Do đó phương pháp đào tạo thẩm phán là những những phương pháp đào tạo hiện đại, rèn luyện, tạo được sự chủ động cho người học không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn có khả năng áp dụng kiến thức và nâng cao năng lực tư duy đánh giá độc lập trong công vụ đặc biệt là giải quyết các tình huống cụ thể Các phương pháp đào tạo được ưu tiên lựa chọn trong đào tạo thẩm phán là phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung tâm Đặc điểm này một mặt phản ánh tính đặc thù của đối tượng đào tạo thẩm phán là những cử nhân luật đã được trang bị đầy đủ hệ thống tri thức cơ bản, cơ sở và chuyên ngành Được tuyển dụng công chức theo ngạch công chức của hệ thống cơ quan tòa án, có thời gian trải nghiệm qua thực tiễn công tác Mặt khác phản ánh yêu cầu của mục đích, nội dung, cũng như tính chất phong phú phức tạp của quá trình đào tạo thẩm phán là đào tạo nghề trong đó coi trọng rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo về nghiệp vụ xét xử, tăng cường thực hành tác nghiệp, nên đòi hỏi trong quá trình đào tạo, đội ngũ giảng viên phải có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nghề nghiệp và đồng thời phải vận dụng các hình thức, phương pháp đào tạo linh hoạt nhằm phát huy cao độ tính tích cực, độc lập sáng tạo của học viên, gắn
“học đi đôi với hành” gắn phương pháp đào tạo với các thiết bị và phương tiện dạy học hiện đại, để truyền tải nội dung đào tạo đến đối tượng đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đã
đề ra
Thứ tư: Ở nước ta kể từ năm 1998 đến nay đào tạo thẩm phán được nhà nước xác
định chủ thể đào tạo là Học viện Tư pháp trực thuộc Bộ Tư pháp Điều 2 của Quyết định 23/2004/QĐ-TTg ngày 25/2/2004 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Học viện
Tư pháp, chỉ rõ: “Học viên Tư pháp là cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học trực thuộc
Bộ Tư pháp, hoạt động theo Điều lệ Trường Đại học” Cũng tại Điều 5 của Quyết định
số 23/2004/QĐ-TTg nêu rõ trách nhiệm phối hợp của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp trong công tác quy hoạch sử dụng cán bộ chức danh tư pháp, để xác định nhu cầu đào tạo hàng năm, làm cơ sở cho Học viên Tư pháp xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp nhu cầu sử dụng của ngành Với địa vị pháp lý là đơn vị trực thuộc Bộ Tư pháp, cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt
Trang 15động tư pháp nên hoạt động đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp đã được gắn kết, thống nhất trong công tác quản lý đào tạo, điều phối, xây dựng chiến lược phát triển chung, toàn diện lâu dài cho cả hệ thống tư pháp Đào tạo cán bộ tư pháp không còn là công việc riêng của từng ngành mà là công việc của toàn hệ thống Đây là bước hiện thực hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngành tư pháp, thể hiện một bước chuyển biến mới trong thực tiến đào tạo cán
bộ tư pháp nói chung và đào tạo thẩm phán nói riêng ở Việt Nam
Tóm lại: với tư cách là một mô hình đào tạo mới, Đào tạo thẩm phán có những đặc
điểm cơ bản của đào tạo nói chung, đồng thời mang những đặc điểm riêng có của mình như đã phân tích ở trên Các đặc điểm của đào tạo thẩm phán chúng có mối liên hệ qua lại với nhau Từ các đặc điểm của đào tạo thẩm phán sẽ giúp cho các cơ quan quản lý và thực hiện đào tạo xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo phù hợp
1.1.3 Nội dung, chương trình đào tạo thẩm phán
Nội dung đào tạo là những kiến thức, kỹ năng được truyền tải đến cho đối tượng đào tạo Nội dung đào tạo thẩm phán quy định hệ thống tri thức pháp lý chuyên nghành; quy định hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của thẩm phán.Về nguyên tắc khi xây dựng nội dung đào tạo nói chung, hay nội dung đào tạo thẩm phán nói riêng đều phải phải đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống, đảm bảo lôgíc khoa học chặt chẽ, cũng như sự cân đối giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục
Với tính chất đặc thù của đối tượng đào tạo, và mục tiêu của đào tạo nên cấu trúc nội dung đào tạo thẩm phán gồm: hệ thống tri thức chuyên nghành, hệ thống tri thức có liên quan trực tiếp đến hoạt động nghề nghiệp Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp: Kỹ năng được hiểu “là năng lực tự giác hoàn thành một hoạt động nhất định dựa trên sự hiểu biết và vận dụng những tri thức tương ứng Kỹ xảo là năng lực thực hiện một cách tự động hóa một thao tác hay một công việc nhất định nó thể hiện sự thành thạo trong hoạt động của con người” [30, tr.36]
Trang 16Cũng từ tính chất của hoạt động nghề nghiệp mà hệ thống kỹ năng được xác định gồm các kỹ năng chuyên biệt về nghiệp vụ xét xử như: kỹ năng phân tích và áp dụng pháp luật, kỹ năng điều khiển phiên tòa, kỹ năng soạn thảo văn bản tố tụng
Hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo: Đó là quá trình làm tăng khả năng độc lập, mang kiến thức đã biết vào một tình huống mới; phát hiện những vấn đề mới trong tình huống đã biết, phát hiện cách thức giải quyết tối ưu trong hàng loạt cách thức giải quyết cho học viên Gắn chặt hoạt động học tập với thực tế nghề nghiệp, không truyền nghề một cách máy móc, áp đặt
Những chuẩn mực về thái độ đối với xã hội và nghề nghiệp: đây là một nội dung đào tạo đang được đặt ra với yêu cầu trong điều kiện hiện nay trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về: “xây dựng đội ngũ thẩm phán thư ký tòa án, điều tra viên, kiểm sát viên, chấp hành viên, công chứng viên, giám định viên, luật sư có phẩm chất chính trị và đạo đức chí công vô tư, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, đảm bảo bộ máy trong sạch vững mạnh” [6, tr.90]
Nội dung của phần này chú trọng, bồi dưỡng rèn luyện những phẩm chất cơ bản nhân cách của người thẩm phán Giác ngộ đầy đủ về nghề nghiệp, phấn đấu nắm được nghề nghiệp ở trình độ ngày càng cao càng sâu, không ngừng cải tiến phương pháp làm việc nâng cao chất lượng, hiệu quả
Chương trình và các môn học: “chương trình đào tạo là bản thiết kế về hoạt động giảng dạy trong đó phản ánh các yếu tố mục đích, nội dung, phương pháp và kết quả giảng dạy Những yếu tố này được cấu trúc theo quy trình chặt chẽ về thời gian biểu” [29, tr.109] Một chương trình đào tạo dù ở cấp độ nào chương trình khung hay chương trình chi tiết chỉ có giá trị pháp lý khi được các cấp quản lý nhà nước về giáo dục có thẩm quyền phê duyệt Chương trình đào tạo thẩm phán được xây dựng và phê duyệt tại quyết định số 1269/QĐ-TTg ngày 18/11/2003 của Thủ tướng chính phủ Theo đó, thời gian đào tạo thẩm phán là 12 tháng được chia làm ba phần với số đơn vị học trình cụ thể:
Phần 1: chương trình đào tạo chuyên đề
Phần chuyên đề liên quan đến nghiệp vụ xét xử chiếm 10% tổng số đơn vị học trình, phần học này giúp học viên có những nhận thức chung về nghề Thẩm phán như: những
Trang 17khó khăn, thách thức và yêu cầu đặt ra đối với thẩm phán; ý thức trách nhiệm và trau dồi rèn luyện đạo đức nghề nghiệp; xác định vị trí và mối quan hệ giữa của từng chức danh Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư trong hoạt động tố tụng; bổ sung và cập nhật các kiến thức pháp luật cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp; giới thiệu một số vấn đề mang tính chất bổ trợ cho hoạt động nghề nghiệp của các chức danh tư pháp như các chuyên đề về văn hoá tư pháp, tâm thần học tư pháp, đánh giá kết quả giám định, nghệ thuật hùng biện
Phần 2: chương trình đào tạo kỹ năng
Bao gồm các môn học liên quan đến kỹ năng nghiệp vụ xét xử chiếm 60% đây là nội dung chính và quan trọng nhất của Chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử Mục đích của phần đào tạo kỹ năng là trang bị cho học viên một cách toàn diện và hệ thống các kỹ năng nghề nghiệp cơ bản của Thẩm phán để có thể xét xử được tất cả các loại án hình sự, dân
sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động
Phần 3: chương trình thực tập và thi tốt nghiệp
Phần này chiếm 30% tổng số đơn vị học trình Địa điểm thực tập sẽ tiến hành tại các Toà án địa phương Do đối tượng đào tạo là nguồn để bổ nhiệm Thẩm phán cấp huyện nên phần lớn thời gian thực tập sẽ được tiến hành ở Toà án cấp huyện Các nội dung thực tập chủ yếu liên quan đến án hình sự, hành chính và dân sự sơ thẩm Hoạt động thực tập được thiết kế nhằm tạo môi trường để học viên có điều kiện thực hành trong thực tế những thao tác nghiệp vụ đã được học tập Qua đó sẽ giúp cho học viên khái quát hóa các kinh nghiệm
Trang 18hoặc kỹ năng này thường được thể hiện dưới dạng việc làm của học viên” [29, tr.115] Chương trình đào tạo thiết kế theo modunle là hệ thống các modunle được kết nối với nhau theo các hình thức nhất định, Với cách thiết kế này khi hoàn thành các modunle đó, học viên đạt được mục tiêu học tập của mình
Trong chương trình đào tạo thẩm phán phần đào tạo kỹ năng tập trung ở ba môn học:
Kỹ năng giải quyết vụ án hình sự; kỹ năng giải quyết vụ án dân sự; kỹ năng giải quyết vụ
án hành chính Đây là ba môn học trang bị các tri thức và kỹ năng cần thiết như: kỹ năng thụ
lý, điều tra thu thập chứng cứ nghiên cứu hồ sơ, xét xử phiên tòa sơ thẩm, ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án của ba loại án hình sự, dân sư, hành chính Trong từng môn học có các bài học: “Bài học là đơn vị cơ bản tạo thành hệ thống môn học” [29, tr.124] Các bài học
kỹ năng đều được thiết kế: bài lý thuyết trang bị kiến thức pháp luật tố tụng trong một giai đoạn tố tụng của quá trình giải quyết vụ án Bài học tình huống thực hành kỹ năng qua hồ
sơ vụ án Bài học đối thoại - kiểm tra
Bài học kỹ năng theo module
ài hòa, Sáng tạo tư duy, Bản lĩnh hiện đại, Định hướng nhân văn, Phát triển chuyên nghiệp!
Giải quyết tình huống (Exercice )
Đối thoại (Discution)
Lý thuyết (Presentation)
Phát triển tình huống (Skill development)
Diễn án (Similuation)
MODULE BÀI HỌC
KỸ NĂNG
MODULE BÀI HỌC KỸ NĂNG
Tài liệu học tập (học liệu): “là nơi hiện thực hóa, vật chất hóa và là nơi tồn tại của nội dung dạy học” [29, tr.126] Tài liệu học tập có nhiều loại, trong chương trình đào tạo thẩm phán bộ giáo trình kỹ năng xét xử vụ án hình sự; kỹ năng xét xử dân sự, kỹ năng xét xử vụ
Trang 19án hành chính, hệ thống hồ sơ các vụ án, các bộ phiếu kỹ thuật, hệ thống ngân hàng đề kiểm tra thường xuyên, đề thi học phần Đây là những tài liệu tương ứng với ba bộ môn học và phục vụ cho một module bài học Hệ thống tài liệu này có vị trí đặc biệt quan trọng đối với cả học viên và giảng viên trong quá trình đào tạo thẩm phán, với mục tiêu chỉ cập nhật kiến lý thuyết cho học viên, nên hồ sơ tình huống là tài liệu học tập quan trọng để học viên rèn luyện kỹ năng giải quyết các vụ án trong thực tế
Nội dung, chương trình là phần tri thức và kỹ năng cần truyền thụ cho học viên trong quá trình đào tạo Đó là yếu tố trọng tâm của quá trình đào tạo, là sự thể hiện mục tiêu của nhiêm vụ đào tạo thẩm phán Có thể nói chất lượng hoạt động nghề nghiệp của học viên sau quá trình đào tạo được quyết định bởi “dạy cái gì” Vì vậy, nội dung chương trình đào tạo luôn là vấn đề đặt ra cho quá trình cải tiến nâng cao chất lượng đào tạo, là trung tâm chú ý của những người làm công tác quản lý giáo dục và cả những người đón nhận sản phẩm của quá trình đào tạo đó
Với cơ sở lý luận về hình thức của đào tạo nói chung, thì hình thức đào tạo thẩm phán hiện nay là đào tạo tập trung thời gian 12 tháng Đào tạo tập trung có ưu điểm là quá trình đào tạo được thực hiện một cách bài bản, tích cực và được chuẩn hóa Học viên có điều kiện tập trung mọi khả năng, sức lực và thời gian vào việc học tập không bị phân tán bởi những công việc khác nên có điều kiện nghiên cứu hồ sơ tình huống, đọc sách, tài liệu, giải
Trang 20bài tập về nhà, nhớ nhanh, nhớ lâu các kiến thức lý luận và thực tiễn được giảng viên truyền thụ Cách thức tổ chức đào tạo thẩm phán như sau:
Hệ thống giờ lên lớp, đây là hình thức đào tạo cơ bản gồm nhiều bài học lý thuyết và tình huống cụ thể, có quy định rất chặt chẽ về nội dung, kết quả, thời gian địa điểm học, số lượng học viên tham gia và được tiến hành theo thời khóa biểu nghiêm ngặt Những bài học trên lớp
kế tiếp nhau một cách hệ thống sẽ giúp cho học viên nắm được hệ thống tri thức và kỹ năng của môn học
Hình thức thảo luận: Là hình thức thường xuyên được sử dụng rộng rãi trong đào tạo nói chung, đặc biệt trong đào tạo thẩm phán Hình thức thảo luận được sử dụng trong các tình huống, thảo luận trên lớp, thảo luận nhóm nhỏ, Xemina Đây là hình thức giúp cho học viên đưa ra nhiều ý kiến quan điểm riêng của mình nhằm hướng đến mục đích chung Với hình thức này, sẽ tạo cơ hội cho giảng viên có thông tin phản hồi về học viên Giảng viên có thể thu được tri thức, kinh nghiệm qua suy nghĩ và sáng tạo của học viên bởi các học viên đào tạo thẩm phán là những người đã có trình độ và thực tế nghề nghiệp nhất
định
Hình thức tự học, đây cũng là hình thức giảng dạy cơ bản của đào tạo thẩm phán hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức kỹ năng do chính bản thân học viên tiến hành trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và giáo trình Hình thức này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy tính chủ động, năng lực độc lập sáng tạo trong nghiên cứu học tập, giúp học viên rèn luyện năng lực, hứng thú thói quen có phương pháp nghiên cứu khoa học, hoàn thiện hơn vốn kiến thức và hiểu biết của mình trong hoạt động đặc thù của nghề thẩm phán
Thực tập, kiến tập hình thức học tập có tính chất ngọai khóa được tiến hành ngoài giờ lên lớp Đây hình thức đào tạo quan trọng của đào tạo nghề giúp cho học viên củng cố, mở rộng, khơi sâu thêm tri thức về hoạt động nghề nghiệp đã được trang bị trong nhà trường, gắn liền giữa lý luận và thực tiễn
Tất cả các hình thức đào tạo thẩm phán trên đây đều có vị trí và chức năng nhất định trong hoạt động đào tạo thẩm phán Chúng có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau nhưng không thể thay thế nhau
Trang 211.1.5 Phương pháp đào tạo thẩm phán
Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “Metodos” có nghĩa là con đường, cách thức vận động để đạt tới mục đích nhất định “Phương pháp là hình thức tự vận động bên trong của nội dung” [33, tr.103], nó gắn liền với hoạt động của con người giúp cho con người hoàn thành được những nhiệm vụ phù hợp với với mục đích đã đề
ra Bởi vậy phương pháp bao giờ cũng mang tính mục đích, tính cấu trúc và luôn gắn liền với nội dung Hay có thể định nghĩa phương pháp đào tạo: “là những con đường, cách thức tiến hành đào tạo” [29, tr.145] Phương pháp đào tạo là hệ thống gồm một hay nhiều quy tắc được áp dụng có tác dụng hướng dẫn một loại hình hoạt động cụ thể nào đó để đạt được mục tiêu đào tạo Với định nghĩa đó, có thể hiểu phương pháp đào tạo ở hai cấp độ khác nhau Ở cấp độ thứ nhất là cách thức hình thành mục đích, soạn thảo và triển khai nội dung đào tạo, cách thức tổ chức hoạt động dạy và hoạt động học nhằm hiện thực hóa mục đích, nội dung dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả của quá trình đào tạo Ở cấp độ thứ hai phương pháp đào tạo là cách thức tiến hành các hoạt động của người dạy và người học nhằm hiện thực một nội dung dạy học đã được xác định
Phương pháp đào tạo hiện đại theo quan niệm của các nhà khoa học sư phạm trên thế giới hiện nay có các đặc điểm cơ bản sau: (i), gắn liền với ngành nghề đào tạo; (ii), có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học ; (iii), gắn liền với thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống; (iv) tính đa dạng và phù hợp với loại hình, quy mô, điều kiện đào tạo; (v) ngày càng gắn liền với các phương tiện và thiết bị dạy học hiện đại Phương pháp đào tạo hiện đại sẽ khắc phục được các khiếm khuyết của hệ thống các phương pháp đào tạo truyền thống là đào tạo nặng về truyền thụ và thông báo, chú trọng định hướng giảng dạy hơn là kết quả giảng dạy
Với tư cách là một hình thức đào tạo nghề, về bản chất phương pháp đào tạo thẩm phán không tách rời phương pháp đào tạo nói chung Xuất phát từ tính đặc thù trong mục đích đào tạo, đối tượng đào tạo và vận dụng linh hoạt các phương pháp đào tạo hiện đại, đồng thời quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới phương pháp đào tạo, đào tạo thẩm phán đã áp dụng các phương pháp tích cực, các phương pháp lấy
Trang 22người học làm trung tâm Các phương pháp được áp dụng trong đào tạo thẩm phán của Học viện tư pháp gồm:
Phương pháp Thuyết trình: là phương pháp mang tính truyền thống, có ưu điểm
truyền đạt khối lượng thông tin lớn, trong thời gian ngắn, với những lớp học đông học viên Phương pháp này vẫn được áp dụng trong các bài giảng lý thuyết của phần
chuyên đề và phần kỹ năng chung tại Học viện Tư pháp
Phương tình huống: một phương pháp đào tạo được triển khai khá phổ biến tại Học
viện Tư pháp Đây là một phương pháp đào tạo giảm được khoảng cách lý thuyết – thực tế, phù hợp với mô hình đào tạo nghề Yếu tố cấu thành chủ yếu của phương pháp đào tạo
mới này dựa trên các tình huống thực tế của cả học viên và giảng viên
Phương pháp sắm vai: (thực hành đóng vai bài tình huống hoặc bài diễn án) Phương
pháp này được sử dụng phổ biến cho tất cả các lớp đào tạo tại Học viện Tư pháp Phương pháp sắm vai là một kỹ thuật đơn giản nhưng hiệu quả, để giảng dạy những khái niệm cơ bản về quan hệ giữa người với người và để nhận thức được bản chất tại sao các cá thể phản ứng như vậy trong những hoàn cảnh khác nhau
Song giảng là giảng viên lý thuyết và giảng viên thẩm phán cùng giảng một bài học
trong cùng một lớp học Ở Học viện Tư pháp rất coi trọng việc kết hợp nhiều giảng viên cùng lên một lớp học, đây là một phương pháp giảng dạy có hiệu quả đối với đào tạo nghề, kết hợp nhuần nhuyễn lý thuyết và thực tiễn Tạo nên sự sinh động trong các bài giảng, bởi phong cách giảng khác nhau, tạo điều kiện cho các giảng viên cơ hữu và giảng viên kiêm
có cơ hội bổ sung kiến thức cho nhau Các phương pháp này đã chú trọng khai thác và phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực tham gia của học viên vào quá trình tương tác giữa người dạy và người học Điểm nổi bật của phương pháp dạy học này là dạy vì sự phát triển của người học, tôn trọng và thỏa mãn nhu cầu học tập của học viên, hướng đến sự phát triển mọi tiềm năng và sự sáng tạo của học viên
Các phương pháp được sử dụng để đánh giá kết quả học tập trong đào tạo thẩm phán: phương pháp đánh giá thông qua giải quyết hồ sơ; đánh giá thông qua khả năng nói; đánh giá thông qua khả năng viết; đánh giá thông qua thực hành theo nhóm, đánh giá kết quả học tập qua thi các học phần dưới hình thức làm bài thi là một tình huống vụ án Đây cũng
Trang 23là một phương pháp đánh giá kết quả học tập có hiệu quả dùng thực tiễn để kiểm nghiệm
lý thuyết của phương pháp đào tạo thẩm phán
Vì phương pháp đào tạo không phải là phạm trù mục đích, mà là phạm trù phương tiện Do vậy, yêu cầu khi sử dụng chúng vào thực tiễn như nào cho hiệu quả, hoàn toàn phụ thuộc khả năng của các chủ thể Đồng thời trong thực tiễn không có phương pháp nào tồn tại độc lập, không có kiểu phương pháp nào, nhóm phương pháp nào vạn năng Khi vận dụng cần phải linh hoạt trên cơ sở phối hợp, hợp lý theo chức năng của mỗi phương pháp, tùy theo mục đích, nội dung tài liệu, đặc điểm tâm lý học viên của một quá trình dạy học cụ thể Việc sử dụng đơn điệu một phương pháp dạy học, dù đó là phương pháp dạy học tốt nhất cũng mang lại hiệu quả không cao
Qua phân tích các nội dung cơ bản của phương pháp đào tạo thẩm phán cho thấy phương pháp đào tạo thẩm phán thể hiện rõ nét tính mục đích của đào tạo thẩm phán là đào tạo nghề Thể hiện tính đa dạng khoa học, hiện đại và gắn liền với xu hướng phát triển của đời sống thực tiễn Phù hợp nội dung, điều kiện phương tiện và đặc điểm đội ngũ giảng viên, nên đã có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, tính độc lập, tính sáng tạo, và khả năng nghiên cứu khoa học của học viên Phương pháp đào tạo thẩm phán là một phạm trù phương tiện do vậy trong quá trình sử dụng cần đổi mới và sáng tạo, bởi
đó là một trong yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo
Như vậy đào tạo nói chung và đào tạo thẩm phán nói riêng tồn tại với tư cách là một
hệ thống Qua nghiên cứu đào tạo thẩm phán chúng ta đã xác định được các thành tố cơ bản của nó bao gồm: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện Các thành tố này có vị trí, vai trò chức năng khác nhau, tuy nhiên chúng có mối quan
hệ biện chứng lẫn nhau trong cùng hệ thống Do đó khi đánh giá thực trạng công tác đào tạo thẩm phán, cần thiết phải xem xét đầy đủ đến các yếu tố này, trong đó đối tượng đào tạo đóng vai trò trung tâm và hướng tới mục tiêu đào tạo
1.2 YÊU CẦU CỦA CẢI CÁCH TƯ PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO THẨM PHÁN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.1 Nội dung cải cách tư pháp về đào tạo thẩm phán
Trang 24Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân – nhà nước được tổ chức quản lý theo pháp luật và
đề cao các giá trị nhân văn, tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân Với đặc trưng đó của nhà nước pháp quyền thì nhiêm vụ cấp bách hàng đầu là phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật nghiêm minh Do đó yêu cầu “cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp” [6, tr.95] là một đòi hỏi bức xúc ở nước ta Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, ngày 2 tháng 1 năm 2002, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết số 08/NQ-TW về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Nghị quyết số 08-NQ/TW của
Bộ Chính trị đã đề cập nhiều giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp bao gồm tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án, các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp như công chứng, giám định tư pháp, hộ tịch, lý lịch tư pháp, luật sư Trong đó cải cách tòa án là khâu đột phá bởi trong hệ thống các cơ quan tư pháp tòa án có vai trò đặc biệt quan trọng Mục tiêu của cải cách tư pháp là: xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự đất nước Một trong những nhân tố mang tính quyết định cho việc thực hiện thành công công cuộc cải cách tư pháp là xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân cả về số lượng và chất lượng Một nhiệm vụ vừa có tính cấp bách vừa có tính lâu dài Đội ngũ thẩm phán theo đánh giá: “còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ và năng lực nghiệp vụ; một bộ phận tiêu cực, thiếu trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, sa sút về phẩm chất đạo đức [28, tr.02], chưa đáp ứng kịp với yêu cầu và sự phát triển sôi động của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Để khắc phục tình trạng trên, Nghị quyết cũng đã khẳng định tầm quan trọng của công tác đào tạo,
bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho chức danh thẩm phán
Phát huy và tiếp nối những kết quả đạt được trong quá trình tổ chức thực hiện có hiệu quả của Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 2-6-2005, Bộ chính trị ban hành tiếp Nghị quyết 49-NQ/ TW về “chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”: Tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử không phụ thuộc vào đơn vị hành chính; về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch vững mạnh đã được khẳng định trong Nghị
Trang 25quyết 08-NQ/TW, tiếp tục được Nghị quyết 49-NQ/ TW xác định phương hướng: “xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý Nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ, tiến tới thi tuyển một số chức danh” Để thực hiện phương hướng này Nghị quyết đã đề ra nhiệm vụ cụ thể là:
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh
tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa [2, tr.06]
Nghị quyết số 49-NQ/TW tiếp tục khẳng định: “Đào tạo đủ số lượng cán bộ tư pháp
có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực” Các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp ở nước ta cũng đã từng bước được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật được quốc hội thông qua trong thời gian gần đây như Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001; Luật tổ chức tòa
án nhân dân năm 2002; Pháp lệnh Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân năm 2002 Đây là cơ sở pháp lý để xây dựng đội ngũ thẩm phán trong sạch vững mạnh đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cải cách tư pháp
Để xác định các yêu cầu đối với đào tạo thẩm phán, cần phải xuất phát từ mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của cải cách tư pháp trong thời gian tới và tiêu chuẩn hóa, Chức danh thẩm phán theo Pháp lệnh Thẩm phán Hội thẩm nhân dân Cụ thể đó là những phẩm chất cần phải có đối với một người khi được tuyển chọn để bổ nhiệm vào chức danh thẩm phán, là những đòi hỏi của nhà nước, xã hội đối với người thẩm phán trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay Đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp trong thời tới cần đáp ứng một số yêu cầu căn bản sau đây:
1.2.2 Những yêu cầu của cải cách tư pháp đối với công tác đào tạo thẩm phán
Trang 26Về số lượng: Theo quy chế của ngành tòa án:
Với số lượng án phải giải quyết như hiện nay một thẩm phán phải xét xử theo định mức năm vụ án trong một tháng, tức sáu mươi vụ án trong một năm, thì ngành tòa án phải bổ sung thêm một nghìn người trong một năm, trong đó cần bổ sung 450 thẩm phán, và 550 thư ký, cán bộ khác [26, tr.05]
Cũng theo phương hướng của Nghị quyết 49-NQ/ TW thì hệ thống tòa án nước ta sẽ được tổ chức bốn cấp (tối cao, thượng thẩm, phúc thẩm, sơ thẩm) khác hẳn so với hệ thống tòa
án ba cấp hiện hành (tối cao, tỉnh, huyện) Đây là một mô hình mới, khác hoàn toàn với tổ chức của hệ thống tòa án hiện nay Khi thực hiện mô hình này không đơn giản là việc chuyển đổi, hay thay đổi tên gọi, mà hàng loạt vấn đề liên quan sẽ đặt ra như: về nhiệm vụ, thẩm quyền, hình thức tổ chức bộ máy, về quản lý tổ chức và hoạt động của tòa án mỗi cấp; đặc biệt
là quy mô về biên chế cán bộ, cơ sở vật chất Việc thành lập và vận hành của hệ thống tòa án theo yêu cầu cải cách tư pháp sẽ tác động đến hoạt động đào tạo thẩm phán Trong đó nhu cầu
về số lượng được đào tạo để bổ sung nguồn bổ nhiệm thẩm phán cho ngành tòa án trong thời gian tới sẽ rất lớn Đây là nhiệm vụ quan trọng phải được các cơ quan quản lý đào tạo khảo sát
và xây dựng kế hoạch cụ thể để công tác đào tạo thẩm phán đảm bảo về mặt số lượng
Trong tiến trình cải cách tư pháp, yếu tố con người vừa là mục đích, vừa là động lực
có tính chất quyết định sự thành công hay thất bại Ngoài việc đào tạo đáp ứng nhu cầu về
số lượng thì đào tạo thẩm phán trong thời gian tới cần phải đặc biệt chú trọng đáp ứng những yêu cầu về chất lượng được thể hiện ở các mặt sau:
Về phẩm chất chính trị
Phẩm chất chính trị là quan điểm, tư tưởng, nhận thức và lập trường của một người về giai cấp, về Đảng, về lý tưởng Xã hội chủ nghĩa Đối với mỗi chế độ nhà nước muốn tồn tại và phát triển phải có đội ngũ cán bộ công chức trung thành, tận tụy với nhà nước đó Ý thức chính trị của người thẩm phán được biểu hiện là lòng trung thành với Đảng, với nhân dân, tinh thần yêu nước sâu sắc, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân vô điều kiện, kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có lập trường chính trị vững vàng Biết biến nhận thức chính trị của mình thành nhận thức của mọi người, tạo được lòng tin và lôi cuốn mọi người nghe theo…Để có được tư tưởng, quan điểm, lập trường và bản lĩnh chính trị, đòi hỏi thẩm phán
Trang 27phải có trình độ lý luận nhất định thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và rèn luyện Đây là nhiệm vụ luôn được gắn liền trong suốt quá trình học tập tại nhà trường cũng như quá trình công tác của người thẩm phán
cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm Họ cần lĩnh hội đầy đủ các chuẩn mực đạo đức khác theo yêu cầu đặc thù nghề nghiệp: tính công bằng, khách quan, vô tư trong hoạt động công vụ, chuẩn mực ứng xử trong giao tiếp, lương tâm trách nhiệm nghề
nghiệp
Các chuẩn mực đạo đức của người thẩm phán được biểu lộ qua ý thức với xã hội; qua thái độ công tác; qua hành vi đối với lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể Hoạt động xét xử là hoạt động công khai, mọi người dân đều có quyền và có thể giám sát hoạt động của thẩm phán Thông qua cách hành xử và tư cách của người thẩm phán mà họ đặt niềm tin vào công lý và công bằng xã hội Hồ Chủ tịch đã dạy: “Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch phải hiểu dân gần dân, giúp dân, học dân để giúp mình thêm liêm khiết, thêm công bằng” [15, tr.175] Người thẩm phán, trước hết là người gương mẫu trong cuộc sống, phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân,
sự suy thoái về tư tưởng thực dụng, tham vọng cá nhân, lối sống vị kỉ, sa đọa Mỗi thẩm phán không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn phải kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, dân tộc ta đã lựa chọn, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, quán triệt sâu sắc và đấu tranh bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trong
Trang 28lĩnh vực tư pháp Vì vậy tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp không thể tách rời với quá trình đào tạo thẩm phán
Về năng lực chuyên môn nghiệp vụ
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là một trong những tiêu chí quan trọng nhất, là căn
cứ hàng đầu để tuyển dụng, sắp xếp, bố trí vị trí công tác của công chức trong hệ thống cơ quan nhà nước Thẩm phán là một chức danh tư pháp, gắn liền với các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật Hoạt động xét xử của thẩm phán là hoạt động áp dụng pháp luật, có tính đa dạng phức tạp liên quan đến quyền con người, quyền công dân, bất kỳ một sơ suất nào cũng có thể gây thiệt hại và ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức Vì vậy thẩm phán không chỉ tinh thông về pháp luật mà còn phải nắm vững quan điểm đường lối của Đảng trong từng giai đoạn công tác, tích lũy kinh nghiệm thực tế
Từ các yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ phân tích trên đặt ra, trong quá trình đào tạo thẩm phán, ngoài những tri thức cơ bản, tri thức pháp luật chuyên ngành được đào tạo ở bậc đại học đã được tiêu chuẩn hóa, về tri thức và phương pháp cần phải được hệ thống lại Đồng thời phải cập nhật, bổ sung tri thức mới về pháp luật nội dung chuyên sâu như: sỡ hữu trí tuệ, kiến thức cơ bản về thương mại và tranh chấp thương mại quốc tế, xung đột pháp luật Chuyên đề liên quan đạo đức nghề nghiệp, tin học, ngoại ngữ Đặc biệt chú trọng rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ xét xử như: kỹ năng áp dụng pháp luật, phát hiện vấn đề, đánh giá chứng cứ, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng điều khiển thẩm vấn phiên tòa, kỹ năng soạn thảo các quyết định tố tụng Tăng cường hoạt động thực tập và ngoại khóa tại các cơ quan tòa án để bám sát các vấn đề đặt ra từ thực tiễn
Tóm lại: Chất lượng nguồn nhân lực là năng lực, trình độ chuyên môn, là phẩm chất
đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp hợp thành nguồn nhân lực Trong ba yếu tố phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực nghiệp vụ thì yếu tố năng lực nghiệp vụ chuyên môn là yếu
tố động có sự vận động biến đổi theo yêu cầu khách quan Xuất phát từ cơ sở đó và phương hướng thay đổi về hệ thống tổ chức tòa án, tiêu chuẩn hóa cụ thể đối với từng chức danh, từng loại cán bộ, Quan điểm của Đảng và nhà nước ta đòi hỏi công tác đào tạo thẩm phán trong thời gian tới phải có những thay đổi cho phù hợp Cụ thể cần phải nghiên cứu
đề ra định hướng, thực hiện các giải pháp nhằm đổi mới cơ bản về nội dung chương trình,
Trang 29hình thức và phương pháp đào tạo, bảo đảm đào tạo cung cấp cho ngành tòa án đội ngũ cán bộ đủ về số lượng đáp ứng yêu cầu về chất lượng phục vụ công cuộc cải cách tư pháp
1.3 ĐÀO TẠO THẨM PHÁN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 1.3.1 Đào tạo thẩm phán ở một số quốc gia
1.3.1.1 Ở Nhật bản
Trong lĩnh vực tư pháp, Nhật bản có một cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chung cho các chức danh tư pháp bao gồm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư Cơ quan có nhiệm vụ đào tạo các chức danh tư pháp là Viện Đào tạo và Nghiên cứu tư pháp (The Legal Training and Reach Intite) trực thuộc Tòa án tối cao Viện Đào tạo và Nghiên cứu tư
pháp được thành lập năm 1947 với chức năng sau:
- Đào tạo nghề cho những người sẽ được bổ nhiệm các chức danh như Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư
- Bồi dưỡng cho những người đã được bổ nhiệm Thẩm phán (riêng bồi dưỡng nghiệp
vụ cho Kiểm sát viên do Bộ tư pháp thực hiện và các Luật sư đang hành nghề thì do Hiệp hội luật sư Nhật Bản thực hiện)
- Thực hiện các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học pháp lý (cả pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng) phục vụ cho việc xét xử của hệ thống Tòa án Nhật Bản và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp
Để được tham gia khóa đào tạo nguồn bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư các khóa sinh phải trúng tuyển kỳ thi tư pháp quốc gia Điều kiện đăng ký dự thi kỳ thi tư pháp quốc gia thí sinh phải là người đã tốt nghiệp khoa luật của các trường đại học, tốt nghiệp đại học thuộc các nghành khác, thậm chí chưa tốt nghiệp đại học nhưng họ phải thi kiến thức đại học rồi mới được dự kỳ thi tư pháp quốc gia Kỳ thi quốc tư pháp quốc gia chia làm ba vòng trong năm, những người vượt qua ba vòng thi tư pháp quốc gia sẽ được đào tạo nghiệp vụ để trở thành Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư
Về chương trình đào tạo: các khóa sinh của ba chức danh được đào tạo chung một chương trình, các khóa sinh đều được trang bị kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán, Kiểm sát và Luật sư, trong chương trình đào tạo cũng hoàn toàn không có những chuyên đề dành riêng cho những khóa sinh muốn trở thành Thẩm phán, Kiểm sát viên hoặc Luật sư Cách
Trang 30bố trí chương trình như vậy nhằm trang bị cho khóa sinh nền kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp chung, hạn chế đựơc những bất đồng quan điểm khi các Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư tham gia vào cùng một vụ việc
Đội ngũ giáo viên của trường là các Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư đang hành nghề Họ là các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực của mình và được điều động hẳn về trường
để tham gia giảng dạy cho các khóa đào tạo bồi dưỡng với thời gian 3 đến 4 năm Hết nhiệm kì này họ lại quay về cơ quan cũ hoặc được thuyên chuyển đi địa phương khác và tiếp tục thực hiện công việc xét xử hoặc công tố Việc điều động giáo viên Thẩm phán do Tòa án tối cao thực hiện Bộ Tư Pháp điều động giáo viên là Kiểm sát viên, còn giáo viên
là các Luật sư thì do hiệp hội Luật sư Nhật Bản điều động
Hiện nay, Nhật Bản đang có những cải cách cơ bản trong lĩnh vực tư pháp mà một trong các nội dung trọng tâm là nâng cao chất lượng và số đội ngũ cán bộ tư pháp Để cải thiện một bước căn bản chất lượng đào tạo nghề cho Thẩm phán, Luật sư và Kiểm sát viên, Nhật Bản đã quyết định thành lập hệ thống cơ sở đào tạo pháp luật có chất lượng cao, đó là các “Law School” theo kiểu Nhật Các “Law School” này bắt đầu hoạt động từ năm 2004, nhằm trang bị kiến thức nghề nghiệp cơ sở cho những người chuẩn bị ứng thí vào kì thi tư pháp quốc gia để theo học tại viện Đào tạo và Nghiên cứu tư pháp.Với hệ thống Law School kiểu Nhật này, Nhật Bản hy vọng sẽ tăng số lượng luật gia nói chung và số lượng chức danh tư pháp nói riêng, đồng thời cải thiện một cách đáng kể chất lượng chuyên môn của đội ngũ này
1.3.1.2 Ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có một hệ thống đa dạng các cơ sở đào tạo pháp luật cơ
sở (cử nhân luật) và đào tạo nghề cho các chức danh tư pháp Bộ Tư pháp có các trung tâm đào tạo cán bộ tư pháp cao cấp ở Bắc Kinh và Chongqing (China Training Centre for Senior International Legal Professionals)
Trung tâm đào tạo Luật sư ở Thượng Hải (China Training for International Lawyers-Shanghai); Tòa án nhân dân tối cao có Trường Thẩm phán quốc gia (National judges College); Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Trường Kiểm sát quốc gia (National Procurators College) Trung tâm đào tạo cán bộ tư pháp cao cấp trực thuộc Bộ tư pháp
Trang 31có chức năng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ Thẩm phán, Luật sư và Kiểm sát viên, Công chứng viên cho các địa phương thuộc Trung hoa lục địa, Hồng kông, Ma Cao, Đài Bắc Điều kiện để học trường này là các học viên phải có bằng cử nhân luật và có
thể sử dụng một ngoại ngữ Trường thẩn phán quốc gia: Trường thẩm phán quốc gia
được thành lập năm 1997 trên cơ sở hợp nhất trung tâm đào tạo thẩm phán cao cấp (thành lập năm 1991) và trường cán bộ Tòa án nhân dân (thành lập năm 1987) Trường Thẩm phán quốc gia đặt dưới sự quản lý của Tòa án nhân dân Tối cao Trường có chức năng nhiệm vụ sau:
- Tổ chức các lớp luân huấn cho các cán bộ Tòa án, trong đó có Thẩm phán để họ nhận bằng cử nhân 3 năm
- Nâng cao trình độ của Thẩm phán lên mức cử nhân luật bốn năm
- Liên kết các trường tổng hợp để đào tạo các Thẩm phán có trình độ trên đại học (7 năm)
- Đào tạo nghiệp vụ Thẩm phán (3 tháng)
- Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật và kỹ năng xét xử cho các Thẩm phán đương chức
- Bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ xét xử của Thẩm phán trong các lĩnh vực chuyên ngành
1.3.1.3 Ở Cộng hòa Liên bang Đức
Liên bang Đức, một người để được công nhận là luật gia phải đảm bảo đáp ứng 4 điều kiện sau: phải học trong một trường đại học; đạt kết quả trong kì thi quốc gia lần thứ nhất; có thời gian công tác thực tế trong lĩnh vực pháp luật; đạt kết quả trong kì thi quốc gia lần hai
Chỉ những người đã được công nhận là luật gia đầy đủ mới có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán, Kiểm sát viên hoặc mới có thể hành nghề Luật sư
Cộng hòa Liên bang Đức không có những thiết chế cố định dưới hình thức Trường hay Viện để đào tạo nghề cho Thẩm phán, Luật sư, Kiểm sát viên Để trở thành Thẩm phán, Luật sư hay Kiểm sát viên, những người đã đỗ kì thi quốc gia lần thứ nhất phải đăng
kí học một khóa đào tạo nghề với thời gian khoảng 2,5 năm Các khóa đào tạo này được tổ
Trang 32chức ở từng Bang Trước đây việc tổ chức các khóa đào tạo do Tòa án tối cao của Bang đảm nhiệm nhưng thời gian gần đây chức năng này đã chuyển cho Bộ Tư Pháp Bang Trong khóa học các học viên được đào tạo chung một chương trình, trong đó giới thiệu cả kĩ năng nghề nghiệp của Thẩm phán, Luật sư và Kiểm sát viên Các học viên được thực tập theo một chương trình chung tại các tòa án, Viện Công tố và các Văn phòng Luật
sư Tốt nghiệp khóa đào tạo Thẩm phán này, các học viên phải trải qua kì thi quốc gia lần hai Chỉ những người thi đỗ kì thi quốc gia lần hai mới có thể đăng kí hành nghề Thẩm phán, Kiểm sát viên hay Luật sư
1.3.1.4 Ở Cộng hòa Pháp
Ở nước Pháp, Trung tâm đào tạo tư pháp quốc gia được thành lập năm 1959 Trung tâm đào tạo tư pháp quốc gia đã trở thành Trường thẩm phán quốc gia năm 1972 và Trường được đặt dưới sự quản lý của Bộ trưởng Bộ tư pháp Nhiệm vụ chính của trường:
tổ chức các kỳ thi tuyển sinh; đào tạo nguồn thẩm phán; bồi dưỡng thẩm phán; quan hệ quốc tế Đối tượng đào tạo nguồn thẩm phán là những khóa sinh đủ điều kiện dự thi và trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn thẩm phán, hoặc đủ điều kiện không qua kỳ thi tuyển thẩm phán theo quy định của pháp luật Kỳ thi tuyển thẩm phán tổ chức qua ba kỳ thi, điều kiện
để được dự thi mỗi kỳ thi khác nhau
Kỳ thi thứ nhất: sinh viên, điều kiện bằng đại học có thời gian đào tạo 4 năm hoặc bằng của Học viện chính trị, dưới 27 tuổi
Kỳ thi thứ hai: công chức dưới 46 tuổi 5 tháng, có thâm niên công tác ít nhất 4 năm, không cần điều kiện về bằng cấp, đã dự thi không quá 3 lần
Kỳ thi thứ ba: Để tham gia thi tuyển, thí sinh phải chứng minh được là trong thời gian
8 năm đã có một hoặc nhiều hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực đầu tư hoặc đã đảm nhận một hoặc nhiều chức vụ dân cử, hoặc đã thực hiện chức năng tài phán với tư cách không chuyên nghiệp, dưới 40 tuổi
Trường đào tạo nghề đối với các chức danh sau: Thẩm phán tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng; thẩm phán tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp; thẩm phán điều tra; thẩm phán
về trẻ em; thẩm phán hình sự, thẩm phán phụ trách thi hành hình phạt; phó viện trưởng viện công tố bên cạnh tòa án sơ thẩm quyền hẹp.quyền ?
Trang 33Chương trình đào tạo Thẩm phán kéo dài 31 tháng được chia thành 02 giai đoạn Giai đoạn đầu tiên kéo dài 25 tháng gồm 3 tháng thực tập ngoài cơ quan tư pháp, 8 tháng học tại trường đào tạo Thẩm phán Bordeaux, học viên được đào tạo về phương pháp và kỹ năng làm việc của thẩm phán, được trang bị những kiến thức về văn hóa tư pháp Mười bốn tháng thực tập tại các tòa án học viên lần lượt thực tập ở tất cả các chức vụ Giai đoạn thứ hai kéo dài 6 tháng đào tạo chuyên sâu theo chức vụ, sau khi thi xếp hạng (trình độ và thứ hạng) học viên lựa chọn công việc tương lai của mình và được đào tạo chuyên sâu cho từng nhóm chức vụ đã lựa chọn Kết thúc khóa đào tạo, học viên thẩm phán trở thành thẩm phán chuyên nghiệp
1.3.2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm đào tạo thẩm phán của các nước trên thế giới
Công tác đào tạo luôn là yếu tố quyết định đến chất lượng của đội ngũ cán bộ nói chung và đối với chức danh thẩm phán nói riêng Vì vậy, các quốc gia đều đặc biệt chú ý
và quan tâm đến công tác này Tùy thuộc vào điều kiện riêng, mỗi quốc gia có những nguyên tắc, cách thức tổ chức, phương pháp và nội dung đào tạo khác nhau Qua phân tích kinh nghiệm đào tạo thẩm phán của một số nước trên thế giới có thể giúp chúng ta thấy được những khó khăn đã hiện hữu trong mỗi mô hình đào tạo và ở một khía cạnh khác cảnh báo chúng ta khó khăn còn xuất hiện đâu đó, cần thiết phải khắc phục Đồng thời cho
ta thấy các ý tưởng về các giải pháp thay thế và hệ quả của nó Một số bài học kinh nghịêm được rút ra từ các mô hình đào tạo thẩm phán của các nước trên thế giới:
Một là: Coi các chức danh tư pháp nói chung và chức danh thẩm phán là một nghề
đặc thù đòi hỏi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao Do đó phải được đào tạo cơ bản về pháp luật và đặc biệt phải qua khóa đào tạo nghề trong nhà trường Áp dụng hình thức thi tuyển để lựa chọn học viên đào tạo chức danh thẩm phán Mở rộng đối tượng được tham
dự kỳ thi và có những quy định nghiêm ngặt về điều kiện dự thi kỳ thi tư pháp quốc gia như: bằng cấp, thâm niên công tác, độ tuổi Sau khi được bổ nhiệm thẩm phán trong quá trình công tác phải thường xuyên được đào tạo lại và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ
Trang 34Hai là: Nội dung chương trình đào tạo thẩm phán phải luôn gắn liền với hoạt động
nghề nghiệp thẩm phán Quá trình đào tạo áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại để tăng tính độc lập, sáng tạo tích cực của học viên
Ba là: Xây dựng tiêu chuẩn chức danh cụ thể cho từng công việc trong bộ máy nhà
nước nói chung và cho chức danh Thẩm phán nói riêng, để làm cơ sở cho việc đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, đánh giá và là chuẩn mực để rèn luyện phấn đấu của Thẩm phán
Bốn là: Thực hiện thi tuyển vào các chức danh trong đó có chức danh thẩm phán Quá
trình thi tuyển được tiến hành bảo đảm nguyên tắc công bằng, minh bạch công khai, khách quan
Năm là: Có chế độ đãi ngộ xứng đáng, khen thưởng và kỷ luật thích đáng đối với
người được bổ nhiệm thẩm phán Tôn vinh, khích lệ sự phấn đấu và nâng cao vai trò trách nhiệm của thẩm phán trong xã hội
Việc nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác nhau trong đào tạo thẩm phán là
vô cùng cần thiết Tuy nhiên không có mô hình chung cho việc đào tạo thẩm phán ở tất cả các quốc gia, bởi mỗi nước có những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế văn hóa- xã hội khác nhau Bài học kinh nghiệm có thể áp dụng thành công ở nước này nhưng chưa chắc
áp dụng thành công ở nước khác Tuy nhiên về nội dung, chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo…là những vấn đề chúng ta có thể học hỏi để nâng cao chất lượng đào tạo
thẩm phán ở nước ta hiện nay
Trang 35Chương 2 TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN
VÀ THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THẨM PHÁN CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP GIAI ĐOẠN
Theo số liệu thống kê của ngành tòa án cho thấy số lượng các vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án trong những năm gần đây tăng mạnh trung bình mỗi năm tăng khoảng 15% Riêng năm 2007 tổng số các loại vụ án, toàn ngành tòa án đã thụ lý giải quyết 256.647 vụ tăng 23.806 vụ so với năm 2006
Nếu tính theo định mức xét xử hiện nay quy định đối với tòa án cấp tỉnh, cấp huyện trên các địa bàn và tổng số lượng vụ án phải thụ lý, xét xử với tỷ lệ gia tăng số vụ án hàng năm là 15% thì trong vòng năm năm tới ngành tòa án cần
bổ sung mỗi năm khoảng 1000 người trong đó có khoảng 500 thẩm phán thì mới đáp ứng yêu cầu về số lượng cho công tác xét xử [27, tr.07]
Trang 36Số lượng này vẫn thiếu so với yêu cầu xét xử hiện nay và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, nhất là khi tính đến việc thực hiện cải cách hệ thống tòa án tổ chức không theo đơn vị hành chính trong thời gian tới Ngoài ra còn phải tính đến thực tế là gần 30 năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức của ta hầu hết đều được đào tạo và tuyển dụng theo từng đợt, điều này dẫn đến tình trạng trong vòng 5 đến 10 năm tới, số lượng thẩm phán đến tuổi
về hưu có khả năng sẽ tăng đột biến Thực tế này đặt ra trong thời gian tới cần phải có kế hoạch đào tạo để tạo nguồn, và sử dụng tốt đội ngũ cán bộ đã được đào tạo nghiệp vụ xét
xử trong thời gian qua
2.1.2 Về chất lượng
2.1.2.1 Năng lực chuyên môn
92% thẩm phán tòa án nhân cấp tỉnh có trình độ đại học Luật, số còn lại có trình độ tương đương hoặc đại học khác Đây là những đảm bảo về tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn và phẩm chất chính trị, đạo đức của người thẩm phán Tuy nhiên, nước ta còn hơn
200 thẩm phán tòa án cấp tỉnh và tòa án cấp huyện chưa có trình độ đại học luật, thuộc diện nợ tiêu chuẩn trình độ, chuyên môn theo quy định Vẫn còn một tỷ lệ nhỏ thẩm phán chưa tốt nghiệp đại học (cấp tỉnh hiện còn 5.1%; cấp huyện còn 5,6%) [36] Trình độ tin học, ngoại ngữ, kiến thức pháp luật quốc tế của các thẩm phán nhìn chung còn thấp so với yêu cầu hiện nay
2.1.2.2.Về bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức
100% thẩm phán là đảng viên Bên cạnh những thẩm phán có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sạch, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp vẫn còn có những thẩm phán có biểu hiện tham những, tiêu cực Một số thẩm phán thiếu nhạy bén về chính trị, thiếu biện pháp đấu tranh, đường lối xử lý vụ án chưa gắn với tình hình đấu tranh phòng ngừa tội phạm ở địa phương, làm cho hiệu quả đấu tranh tội phạm, chống tham nhũng chưa cao Một số ít thẩm phán, có biểu hiện giảm sút ý chí chiến đấu, thoái hóa biến chất về phẩm chất đạo đức lối sống, lợi dụng chức vụ quyền hạn để tiếp tay cho bọn tội phạm.Thậm chí có thẩm phán còn lợi dụng quyền năng pháp lý của mình để làm sai lệch
hồ sơ vì động cơ vụ lợi cá nhân, dẫn đến làm oan, sai, xâm phạm nghiêm trọng đến