ở nước ta, căn cứ vào tính chất, mục đích của BHXH, Từ điển bách khoa Việt Nam đã định nghĩa: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi
Trang 1
LUẬN VĂN:
Hoàn thiện pháp luật về quản lý thu,
chi bảo hiểm xã hội
mở đầu
Trang 2
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp bị
ốm đau, thai sản, suy giảm khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết Chính sách BHXH mà trong đó thu, chi BHXH là những hoạt động chủ yếu đã được thực hiện ở nước ta ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trải qua hơn 50 năm qua; trong quá trình thực hiện, pháp luật BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước Mở đầu là Sắc lệnh số 54/SL ngày 1/11/1945 của Chính phủ ấn định những điều kiện và mức được hưởng lương hưu cho công chức khi hết tuổi lao động Từ đó đến nay, Đảng
và Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách cụ thể tổ chức thực hiện thu, chi BHXH nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và chủ sử dụng lao động Cụ thể là Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Về cơ bản theo nghị định này, các qui định về thu, chi BHXH và điều kiện tham gia, điều kiện hưởng BHXH được áp dụng đến năm 1994 Nhìn chung trong giai đoạn này, hoạt động thu, chi BHXH diễn ra trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Những qui định về thời gian, mức đóng BHXH; điều kiện
và mức được hưởng của từng chế độ mới chỉ quan tâm đến quyền lợi của người lao động, chưa tính đến khả năng cân bằng thu, chi BHXH cũng như việc hình thành quỹ BHXH tập trung, hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước ở thời kỳ này hoạt động thu BHXH còn rất hạn chế, vì vậy kinh phí để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động phần lớn do ngân sách nhà nước bao cấp, năm cao nhất lên đến 98% (năm 1997) Còn về tổ chức quản lý hoạt động BHXH lại phân tán do nhiều cơ quan khác nhau đảm nhận nên hiệu quả quản lý thấp
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã bắt đầu quá trình chuyển từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy nhiều quy định trong chính sách BHXH nói chung và trong hoạt động thu, chi BHXH nói riêng đã ban hành trước đây không còn phù hợp Để khắc phục tình trạng này và cụ thể
Trang 3hóa các quy định về BHXH trong Bộ luật Lao động, Chính phủ đã ban hành Điều lệ BHXH áp dụng đối với công chức, viên chức nhà nước và mọi người lao động theo loại hình BHXH bắt buộc kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 ban hành Điều lệ BHXH đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội và công an nhân dân Đây là sự thay đổi lớn và hết sức quan trọng trong quá trình phát triển, hoàn thiện chính sách BHXH nói chung và pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng ở nước ta để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sự thay đổi này trong thời gian qua đã thực sự đem lại hiệu quả và được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đánh giá cao
Việc ban hành chính sách và tổ chức quản lý hoạt động thu, chi BHXH ở nước
ta hơn 50 năm qua và nhất là trong thời kỳ đổi mới đã có tác dụng tích cực làm cho đội ngũ cán bộ, công chức, công nhân viên, những người phục vụ trong lực lượng vũ trang gắn bó với cách mạng, khuyến khích họ hăng say lao động sản xuất, chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nhờ thành công trong chính sách BHXH nói chung và trong hoạt động quản lý thu, chi BHXH nói riêng vẫn còn những hạn chế cần sớm được khắc phục, nhất là về mức đóng, mức hưởng để sao cho quỹ BHXH phải đảm bảo cân đối thu, thi và có điều kiện để đầu tư tăng trưởng
Nhằm góp phần khắc phục những hạn chế trên, tôi đã chọn đề tài: "Hoàn thiện
pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội" để viết luận văn tốt nghiệp cao học
luật
2 Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu thực trạng pháp luật về quản lý thu, chi BHXH ở nước ta qua từng thời kỳ để rút ra những mặt được, mặt chưa được, nguyên nhân và đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý thu, chi BHXH ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Luận văn lấy quá trình hình thành và không ngừng đổi mới các quy định của pháp luật về quản lý thu, chi BHXH ở nước ta làm đối tượng nghiên cứu
Trang 4
- Phạm vi nghiên cứu: Thu BHXH, xét duyệt hồ sơ hưởng chế độ BHXH và chi BHXH là những hoạt động chính của quá trình thực hiện chế độ chính sách BHXH cho người lao động tham gia và hưởng BHXH Trong phạm vi luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về quản lý hoạt động thu, chi BHXH
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật lịch sử và duy vật biện chứng
- Các phương pháp tổng hợp, phân tích thống kê, điều tra xã hội học và phương pháp so sánh…
5 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận về hoạt động BHXH nói chung và hoạt động thu, chi BHXH nói riêng
- Làm rõ thực trạng hoạt động thu, chi BHXH ở nước ta trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi BHXH ở nước ta trong giai đoạn từ nay đến năm 2010
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm xã hội và pháp luật về quản lý thu,
chi bảo hiểm xã hội
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi
bảo hiểm xã hội ở nước ta đến năm 2010
Trang 6
Chương 1
Những vấn đề chung về Bảo hiểm xã hội
và pháp luật về quản lý Thu, Chi Bảo hiểm xã hội
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm xã hội
1.1.1 Tính tất yếu của bảo hiểm xã hội
Cũng như các chính sách kinh tế - xã hội khác, sự hình thành chính sách xã hội bắt nguồn từ những yêu cầu bức xúc do thực tiễn đặt ra Thời cổ đại, để đảm bảo cuộc sống và chống chọi với thiên nhiên, con người thường phải tự lực là chính và có thêm
sự giúp đỡ, tương trợ nhau trong những lúc khó khăn, rủi ro Tuy nhiên, sự tương trợ lúc này chỉ mang tính tự phát theo bản năng và diễn ra trong một cộng đồng nhỏ, thường là một gia đình hoặc một nhóm gia đình
Xã hội loài người phát triển chuyển sang giai đoạn có phân công lao động, sản xuất lúc này phát triển hơn, quan hệ tác động lẫn nhau giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng cũng phát triển theo Tôn giáo bắt đầu xuất hiện, các thánh địa, nhà thờ, trại bảo dưỡng được thiết lập nhằm đạt được các mục đích riêng của từng tổ chức, nhưng trong
đó luôn có mục đích chung là từ thiện, giúp đỡ của các tín đồ, thành viên khi gặp khó khăn, rủi ro
Hình thức tương trợ lẫn nhau thời kỳ này đã mang tính tổ chức và có những quy định cụ thể hơn Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ thứ XVIII, lực lượng sản xuất đã bắt đầu xuất hiện những yếu tố phát triển của một ngành công nghiệp, lúc này hàng loạt người dân ở các vùng nông thôn vì các lý do khác nhau đã di cư ra thành thị để kiếm việc làm và dần trở thành công nhân Với mục đích bảo vệ quyền lợi của người lao động, một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, tình đoàn kết tương thân giữa những người làm thuê nảy nở dần ở một số nước Châu Âu những quỹ tương trợ đã được thành lập, tại Anh năm 1793 có Hội bằng hữu giúp đỡ hội viên khi ốm đau, thương tật trong quá trình lao động sản xuất
Trang 7Đến thời kỳ Cách mạng công nghiệp, lúc này số công nhân công nghiệp đông dần lên, giai cấp công nhân công nghiệp gồm những nông dân thoát ly từ nông nghiệp, nông thôn, từ sản xuất tự cung tự cấp, nay trở thành người làm công ăn lương, chỉ dựa vào tiền lương làm nguồn sống chủ yếu, có việc làm mới có lương để sống, cho dù đó chỉ là những đồng lương ít ỏi, nếu ốm đau, tai nạn, mất việc làm , thì cuộc sống của họ lập tức bị đe dọa
Nhằm giảm thiểu nỗi lo âu đó, nhiều hình thức trợ giúp xã hội đã nối tiếp nhau
ra đời Bên cạnh những Hội tương tế còn có những Quỹ tiết kiệm được Nhà nước khuyến khích thành lập Những quy định bắt buộc người sử dụng lao động phải chu cấp cho người lao động thuộc quyền quản lý khi bị ốm đau, tai nạn lao động, mất việc làm Những tổ chức BHXH của tư nhân, bảo hiểm sinh mạng và chi phí tang lễ cũng xuất hiện ngày càng nhiều Giai cấp công nhân càng đông đảo, nhiều sức ép đòi hỏi phải bảo vệ quyền lợi của người lao động đã tác động ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, xã hội của các quốc gia, buộc chính phủ các nước, nhất là các nước công nghiệp, không thể không quan tâm đến tình cảm của người lao động, phải từng bước cải thiện điều kiện lao động, rút ngắn thời gian làm việc trong ngày, có chế độ và hình thức thích hợp hơn để tỏ ra có chăm sóc đến người làm công ăn lương Điển hình, năm 1850, dưới thời Thủ tướng Bismark, nhiều bang của nước Đức đã giúp các địa phương thành lập quỹ BHXH ốm đau do người công nhân phải đóng tiền để được trợ giúp khi rủi ro Nguyên tắc bảo hiểm bắt buộc bắt nguồn từ đây và người được bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm
Sáng kiến về đóng phí bảo hiểm xã hội của chính quyền Bismark đã được nhiều nước Châu Âu tiếp nhận từ thập kỷ 30 của thế kỷ XX, sau đó liên tiếp các nước Châu
Mỹ La tinh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Canada đều áp dụng
Trên cơ sở thực tiễn áp dụng các cơ chế đa dạng bảo vệ người lao động, giảm thiểu những khó khăn, rủi ro, tháng 4/1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước số 102 về an toàn xã hội (quy phạm tối thiểu), trong đó BHXH là một cơ chế chủ yếu
1.1.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội
Trang 8Trong quá trình hình thành chính sách BHXH, chúng ta nhận thấy, lúc khởi đầu, BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, tự phát, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, dần dần do nhu cầu thực tiễn, các quy định, chính sách BHXH lần lượt ra đời ở các quốc gia khác nhau Việc ra đời các luật BHXH, một mặt nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, nhưng mặt khác, nó cũng mang lại lợi ích cho giới chủ Chính lợi ích hai mặt này đã góp phần không nhỏ để chính sách BHXH nhanh chóng được thực hiện ở các quốc gia Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có một khái niệm thống nhất về BHXH ở nước ta, căn cứ vào tính chất, mục đích của BHXH, Từ điển bách khoa Việt Nam đã định nghĩa:
Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội
Qua khái niệm về BHXH, ta thấy nổi lên hai điểm:
- BHXH được thực hiện theo quy định của pháp luật, nếu trước kia BHXH được hình thành một cách tự phát, thì sau này sự tự phát đó đã được thay thế bằng những chính sách, những quy định cụ thể của mỗi nước, những chính sách, những quy định này là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và chính trị của mỗi nước ở từng thời kỳ
- Nguồn tài chính để thực hiện BHXH là sự đóng góp bắt buộc của người được bảo hiểm, người sử dụng lao động và sự bảo trợ của Nhà nước Các nguồn hình thành này là hết sức quan trọng, nếu sự đóng góp bắt buộc của người lao động và chủ sử dụng lao động tạo nên quỹ BHXH thì sự bảo trợ của Nhà nước trong các trường hợp tỷ lệ lạm phát lên cao, sức mua của đồng tiền bị giảm sút cũng không kém phần quan trọng để bảo toàn quỹ
1.1.3 Chức năng của bảo hiểm xã hội
Là một chính sách xã hội quan trọng, BHXH có những chức năng sau:
Trang 9
- Một là, đảm bảo ổn định cuộc sống vật chất cho người lao động và gia đình
khi họ mất hoặc giảm khả năng lao động Một thực tế không thể tránh khỏi của phần lớn người lao động trong quá trình làm việc là những rủi ro do các nguyên nhân chủ quan
và khách quan khác nhau, làm cho thu nhập bị mất hoặc giảm sút Trong các trường hợp này nếu không có sự bù đắp từ quỹ BHXH cho phần thu nhập bị mất hoặc giảm sút thì điều kiện sống của người lao động và gia đình họ sẽ gặp nhiều khó khăn
- Hai là, phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người lao động tham
gia BHXH, quá trình này diễn ra theo hai cách:
+ Thứ nhất là phân phối lại thu nhập theo chiều ngang giữa những người lao
động trẻ, khỏe và những người lao động già yếu; giữa người lao động đang làm việc với những người lao động đã nghỉ hưu; giữa những người độc thân và những người lao động
có thân nhân phải nuôi dưỡng; giữa một bên là người lao động thường xuyên đóng BHXH nhưng chưa gặp rủi ro nên chưa hưởng, một bên là những người có đóng BHXH, gặp rủi ro như ốm đau; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… được trợ cấp trước, lúc này số tiền đóng BHXH của mọi người được chuyển giao cho một số ít người gặp rủi ro
+ Thứ hai là sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc, quá trình phân phối này
được thực hiện giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp Thông thường những người có thu nhập cao mức đóng phí BHXH của họ cũng cao, trong khi đó, điều kiện ăn uống, sinh hoạt của đối tượng này thường đầy đủ hơn những người có thu nhập thấp, do vậy họ ít bị ốm đau hoặc các rủi ro khác so với những người có thu nhập thấp
Sự chuyển giao tiền và sức mua của tầng lớp có thu nhập cao sang tầng lớp có thu nhập thấp thông qua phân phối lại theo chiều dọc là một mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế - xã hội hiện đại
- Thứ ba là gắn lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động với Nhà
nước, điều này càng đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Vì trên thực tế, nếu người lao động được bảo hiểm trước những rủi ro có thể xảy ra, họ sẽ yên tâm trong lao động, sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cho xã hội Ngược lại, người sử dụng lao động có phải bỏ ra một khoản phí đóng BHXH cho người lao động, thì bù lại họ nhận được những sản phẩm có
Trang 10chất lượng cao, giá thành rẻ từ người lao động Mặt khác, nếu không có sự can thiệp, quản lý của Nhà nước thông qua chính sách BHXH, thì trong nhiều trường hợp, người lao động bị đẩy ra khỏi cơ quan, doanh nghiệp mà không nhận được một sự bảo vệ quyền lợi nào Vì vậy, thông qua chính sách BHXH, mối quan hệ người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước càng thêm chặt chẽ, gắn bó hơn
- Thứ tư là đảm bảo an toàn xã hội, gắn bó người lao động với xã hội Dưới bất
cứ một xã hội nào cũng vậy, người lao động khó tránh khỏi những rủi ro trong quá trình lao động và chính lúc này, nguồn thu nhập của họ bị mất hoặc bị giảm sút, cần phải được sự trợ giúp Nếu trước đây, sự trợ giúp này mang tính tự phát, thì khi xã hội ngày càng phát triển, việc trợ giúp này đã dần được cụ thể hóa bằng các chế độ, chính sách cụ thể và do một hay một số tổ chức đứng ra chịu trách nhiệm, nhằm đảm bảo sự an toàn cho người lao động và gia đình họ Chính sự đảm bảo này đã gắn bó người lao động với
xã hội và càng thúc đẩy hơn nghĩa vụ của người lao động với xã hội
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động bảo hiểm xã hội
- BHXH hoạt động theo nguyên tắc đóng, hưởng, cộng đồng chia sẻ rủi ro; lấy
số đông, bù số ít, lấy của người đang làm việc trả cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH Đối với nước ta, khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường thì nguyên tắc này là hết sức cần thiết, vì chỉ có như vậy mới thực sự hình thành được quỹ BHXH, giảm "gánh nặng" cho ngân sách nhà nước, đồng thời đảm bảo sự công bằng giữa những người lao động tham gia và hưởng BHXH
- Mức hưởng phải thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người hưởng BHXH Việc quy định mức hưởng phải thấp hơn tiền lương là nguyên tắc bắt buộc của tất cả các nước, song thấp hơn bao nhiều còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi nước ở các thời kỳ khác nhau Nước ta quy định không được thấp hơn mức lương tối thiểu ở từng thời kỳ
- Quỹ BHXH phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong chính sách BHXH của các nước và càng đặc biệt nổi lên trong điều kiện của nước ta, bởi vì nếu không thực hiện nguyên tắc này, quỹ BHXH lại nhanh chóng trở về thời kỳ trước
Trang 11năm 1995, nghĩa là chỉ tồn tại trên danh nghĩa Nguyên tắc tự chủ tài chính mặc dù hết sức quan trọng, nhưng cũng chỉ mang tương đối và khi áp dụng thì bị giới hạn trong hai quy tắc chủ yếu:
+ Thứ nhất: Các nguồn quỹ BHXH chỉ được sử dụng vào những mục đích do
luật định như: chi các loại trợ cấp do luật định, phòng ngừa rủi ro và những chi phí quản
lý cần thiết khác, nghĩa là tránh bị phân tán, sử dụng vào những mục đích khác, dù các mục đích đó có chính đáng hoặc cấp bách đến đâu Quy tắc này có tính mệnh lệnh, không có gì phải bàn cãi
+ Thứ hai: Các nguồn dự trữ của quỹ phải được đưa vào đầu tư để bảo toàn giá
trị và tăng trưởng quỹ Việc đầu tư của quỹ phải đảm bảo các yêu cầu sau:
* An toàn: Mục đích của quỹ BHXH là đảm bảo chi trả lương hưu và trợ cấp
BHXH cho người lao động Vì vậy, quỹ BHXH dù có đầu tư vào lĩnh vực nào cũng phải đảm bảo an toàn cho khoản đầu tư đó Đảm bảo an toàn không phải chỉ là bảo toàn được vốn đầu tư về danh nghĩa, mà còn là bảo toàn được cả giá trị thực tế của đầu tư, điều này càng đặc biệt quan trọng trong các thời điểm có lạm phát, giá sinh hoạt tăng lên khiến sức mua của đồng tiền bị giảm sút và phải điều chỉnh lại lương hưu Nói cách khác, để đảm bảo an toàn cho quỹ BHXH thì phải lựa chọn lĩnh vực đầu tư để giảm thiểu rủi ro
* Hiệu quả: Hiệu quả của đầu tư (lãi đầu tư) là sự tăng lên toàn bộ giá trị đầu tư
được tính trong một giai đoạn nhất định, thường là một năm Lãi đầu tư làm tăng thu cho quỹ BHXH, đồng thời cho phép hạ tỷ lệ đóng góp hoặc ít nhất cũng không làm tăng
tỷ lệ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động
* Khả năng thanh toán, hay tính lưu chuyển của vốn: yêu cầu này trực tiếp liên
quan đến dự kiến lưu chuyển tiền mặt trong thu, chi của mỗi loại chế độ BHXH Bất kỳ một vốn đầu tư nào từ nguồn dự trữ của quỹ BHXH, đều phải sẵn sàng đổi thành tiền mặt và có thể rút được tiền một cách nhanh chóng, tránh cho những khoản đầu tư vướng vào những vấn đề tồn khoản
Trang 12
* Có ích cho kinh tế và xã hội, là một quỹ tài chính để thực hiện chính sách xã
hội, do đó trong quá trình đầu tư phải lưu ý đến việc nâng cao phúc lợi cho dân cư, phải
ra sức cải thiện chất lượng chung cho cuộc sống của đất nước
1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường
Như phần trên ta đã khẳng định, BHXH là một chính sách xã hội lớn nhằm góp phần đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân khác nhau Vì vậy, BHXH có một vai trò hết sức quan trọng đối với mọi người lao động ở tất cả các quốc gia trên thế giới
Với các nước đã có nền kinh tế phát triển thì chính sách an sinh xã hội nói chung và pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng ra đời và luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường Vì vậy, một trong những nguyên tắc cơ bản mà họ luôn phải tuân thủ
là mọi người lao động có thu nhập đều bắt buộc phải tham gia BHXH; mức hưởng BHXH được tính toán dựa trên cơ sở của mức đóng BHXH sao cho quỹ BHXH phải đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ BHXH cho người lao động, đồng thời còn
có phần quỹ "nhàn rỗi" để đầu tư tăng trưởng quỹ Việc can thiệp của Chính phủ vào quỹ BHXH là rất hạn chế, thường chỉ trong các trường hợp đặc biệt như tỷ lệ lạm phát quá cao, làm cho sức mua của đồng tiền bị giảm sút
Đối với nước ta, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc đổi mới cơ chế chính sách BHXH theo nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng BHXH lại càng trở lên cấp thiết đã làm nổi bật vai trò quan trọng của BHXH trong nền kinh tế thị trường Chúng ta
có thể thấy được điều này qua thực tiễn: Thời kỳ nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, quỹ BHXH chỉ tồn tại trên danh nghĩa, còn thực chất thì không, mọi khoản kinh phí chi trả BHXH đều do ngân sách nhà nước bao cấp,
do vậy hiện tượng chậm lương hưu của đối tượng từ 2-3 tháng, thậm chí là lâu hơn vẫn thường xuyên xảy ra làm ảnh hưởng đến đời sống của đối tượng đã khó khăn này càng khó khăn hơn Từ năm 1995, cơ chế, chính sách BHXH có sự thay đổi cơ bản, mà một trong những thay đổi ấy là người lao động chỉ được hưởng BHXH khi bản thân họ và đơn vị sử
Trang 13dụng họ phải đóng BHXH theo tỷ lệ do pháp luật quy định (người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng còn người sử dụng lao động đóng bằng 15% quỹ tiền lương) với qui định này từ năm 1995 đến năm 2003 quỹ BHXH đã có số thu trên 42.000 tỷ đồng để đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời cho đối tượng do quỹ BHXH đảm bảo Đến hết năm
2003 quỹ BHXH vẫn còn số dư trên 34.000 tỷ đồng để đầu tư bảo toàn, tăng trưởng quỹ Việc hình thành quỹ BHXH trên thực tế và với số thu ngày càng tăng, đã góp phần giảm đáng kể "gánh nặng" cho ngân sách nhà nước trong việc bao cấp chi trả các chế độ BHXH, để có điều kiện đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội cần thiết khác
Ngoài ra, hiện nay Chính phủ đang đẩy mạnh quá trình đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước theo hướng cổ phần hóa, giao khoán, bán, cho thuê doanh nghiệp… thì hiện tượng người lao động dôi dư, bị mất việc làm là điều không tránh khỏi, thậm chí còn là một số lượng lớn Trong điều kiện như vậy, nếu không có BHXH thì người lao động sẽ bị đẩy ra khỏi nơi làm việc mà không được đảm bảo về quyền lợi
Chỉ qua hai ví dụ trên chúng ta cũng đã làm rõ vai trò quan trọng của BHXH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay
1.3 Khái quát về pháp luật quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội
Chính sách BHXH đã được hình thành và tổ chức thực hiện ở nước ta ngay từ những ngày đầu thành lập nước Tuy nhiên, trong những năm đầu, chính sách BHXH mới chỉ giải quyết một số các yêu cầu cụ thể cấp thiết chứ chưa thực sự là một hệ thống chính sách đồng bộ và trong điều kiện này thì pháp luật về thu, chi BHXH cũng mới chỉ được quy định trong một số văn bản chẳng hạn theo Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/6/1946
về việc cấp hưu bổng thì từ 1/1/1946 công chức phải đóng lưu niễn (phí bảo hiểm hưu trí) bằng 6-10% tiền lương và từ năm 1947 bằng 10%, Nhà nước hỗ trợ thêm bằng 7-10% so với tổng quỹ lương công chức
Năm 1961, Điều lệ tạm thời về chế độ BHXH được ban hành và cũng từ đây chính sách BHXH của nước ta nói chung và pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói
Trang 14riêng mới được thực hiện một cách tương đối đầy đủ và đồng bộ với tư cách là một hệ thống chính sách Thời điểm này Điều lệ quy định chỉ cơ quan, xí nghiệp, công trường, lâm trường (tức chỉ có chủ sử dụng lao động) nộp BHXH bằng 4,7% so với tổng quỹ
tiền lương, còn người lao động không phải đóng BHXH [35] Mức nộp này kéo dài đến
năm 1986, sau đó ngày 30/6/1986 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 181/HĐBT quy định kinh phí trích nộp BHXH do Tổng Liên đoàn Lao động thu là 5% để chi trả cho các chế độ BHXH ngắn hạn là ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, còn số thu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản
lý là 10% để chi trả cho các chế độ BHXH dài hạn là hưu trí, tử tuất và mất sức lao động (trong số này để lại 2% cho cơ sở làm trợ cấp khó khăn cho công nhân viên chức)
Từ năm 1993 Chính phủ xác định rõ quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, trong đó người lao động là 5% và người sử dụng lao động đóng 15% tổng quỹ tiền lương Quy định này hiện vẫn đang được thực hiện [29], [30]
Trên đây là một số nét khái quát về sự hình thành và phát triển của pháp luật thu BHXH, còn về chi BHXH, Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH quy định chi cho các chế độ sau:
- Trợ cấp chôn cất và trợ cấp vì mất người chủ gia đình (tiền tuất)
Các chế độ trợ cấp này tùy vào điều kiện cụ thể, đối tượng sẽ được hưởng các mức khác nhau theo quy định của pháp luật Các chế độ trên được thực hiện cho đến năm 1994, từ năm 1995 Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 quy định lại chỉ còn 5 chế độ, chế độ mất sức lao động không còn thực hiện nữa
Trang 15- Về quản lý thu BHXH, không phải ngẫu nhiên mà các nhà hoạch định, xây
dựng chính sách BHXH định ra một tỷ lệ bất kỳ mà phải dựa trên các căn cứ pháp luật, trong đó có các căn cứ chủ yếu sau:
- Các chế độ và mức hưởng tối đa cho từng chế độ BHXH đã được Chính phủ quy định;
- Giá trị thực tế của mức tiền lương tối thiểu ở các thời kỳ khác nhau;
- Số người tham gia BHXH và dự kiến số tăng lên hàng năm
Trên cơ sở đó, các nhà hoạch định chính sách sẽ đề xuất tỷ lệ thu cụ thể để hình thành quỹ BHXH theo cơ cấu sau:
+ Phần thu của người sử dụng lao động;
+ Phần thu của người lao động;
+ Phần Nhà nước đóng góp, hỗ trợ thêm;
+ Phần thu khác
Đây là cơ cấu hiện tại, còn những năm trước đây cơ cấu này không phải lúc nào cũng có đủ các nội dung trên Chẳng hạn, có thời kỳ người lao động không phải đóng BHXH, lại có thời kỳ người sử dụng lao động không phải đóng BHXH Như vậy cơ cấu này không phải là cố định mà tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước qua từng giai đoạn phát triển Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì các nội dung trong cơ cấu quỹ BHXH như trên là không thể thiếu được, chỉ có điều tỷ lệ đóng góp của từng bên tham gia có thể có sự thay đổi cho phù hợp với từng thời kỳ Tiếp đến để đảm bảo các đối tượng tham gia đóng góp theo đúng tỷ lệ đã quy định thì pháp luật về quản lý
Trang 16thu BHXH còn phải đưa ra các quy định cụ thể để buộc các chủ thể tham gia phải thi hành nghĩa vụ đóng BHXH theo quy định
Về quản lý chi BHXH: Trong quá trình hoạch định chính sách thì các chế độ,
điều kiện và tỷ lệ được hưởng thường được xác định trước và cũng như pháp luật về quản lý thu BHXH; chế độ được hưởng, tỷ lệ hưởng cũng không thể tùy tiện định ra mà phải dựa trên các căn cứ pháp luật Các căn cứ đó là:
- Các nhu cầu vật chất tối thiểu để người lao động duy trì một cuộc sống bình thường, khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập vì một lý do nào đó (căn cứ này thường được lấy bằng mức lương tối thiểu ở từng thời kỳ)
- Những rủi ro chính mà người lao động thường mắc phải trong quá trình làm việc
- Căn cứ vào đặc thù riêng của người lao động phân theo giới tính và tuổi thọ bình quân của người dân
Căn cứ vào các nhu cầu trên và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước qua từng thời kỳ, các nhà hoạch định xây dựng chính sách sẽ định ra từng chế độ BHXH cụ thể với những điều kiện được hưởng cũng như tỷ lệ hưởng phù hợp
Về cơ bản, cơ cấu chi BHXH của nước ta nhìn chung là ổn định qua các thời
kỳ, chỉ trừ những năm từ 1961 (năm trước khi Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH có hiệu lực thi hành) trở về trước do điều kiện kinh tế quá khó khăn, đối tượng tham gia còn ít nên các chế độ được hưởng mới chỉ tập trung vào hưu trí, còn các chế độ khác chưa có điều kiện để thực hiện Hiện tại cơ cấu chi BHXH gồm:
- Chi trả chế độ ốm đau;
- Chi trả chế độ thai sản;
- Chi trả chế độ tai nạn, bệnh nghề nghiệp;
- Chi trả tiền tuất;
- Chi trả lương hưu;
- Chi trả mất sức lao động
Trang 17
Từ năm 2002 còn có thêm chi nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe và chi khám chữa bệnh cho các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) Pháp luật cũng quy định quỹ BHXH chỉ phải đảm bảo chi trả các chế độ trên cho những đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH từ năm 1995 trở đi, còn ngân sách nhà nước phải đảm bảo nguồn
để chi trả cho các đối tượng đã nghỉ làm việc để hưởng chế độ hưu trí và trợ cấp BHXH
từ năm 1994 trở về trước Như vậy, trong cơ cấu nguồn kinh phí để chi trả BHXH có hai phần: Phần của ngân sách nhà nước và phần của quỹ BHXH
1.3.3 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội
Chính sách BHXH nói chung và pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng ban hành trong thời gian qua, về cơ bản đã giải quyết được các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người lao động tham gia và hưởng BHXH, phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước qua từng thời kỳ
Đối với nước ta, chính sách BHXH được hình thành và thực thi trong những điều kiện kinh tế - xã hội hết sức khó khăn Vì vậy, các quy định của pháp luật về đảm bảo tổ chức thực hiện chính sách BHXH ở thời kỳ đầu thường chỉ là giải quyết được một hoặc một số ít các chế độ BHXH chứ chưa thể có một hệ thống chính sách đồng bộ được Mặt khác, nền kinh tế nước ta đã một thời gian dài hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, nên ở thời kỳ này chính sách BHXH nói chung và pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng cũng được hoạch định, xây dựng theo cơ chế này Các quy định của pháp luật về quản lý thu, chi BHXH một khi không được hoạch định và xây dựng cho đúng với quy luật của nó, tức là phải đảm bảo lấy thu bù chi và có phần dư để đầu tư tăng trưởng, tất yếu sẽ dẫn đến những khó khăn, hạn chế trong khâu
tổ chức thực hiện
Nhìn chung, các quy định của pháp luật về thu, chi BHXH ở thời kỳ này đã đóng vai trò quan trọng đối với việc ổn định đời sống của công nhân, viên chức và gia đình họ khi gặp rủi ro; đảm bảo an toàn xã hội Tuy nhiên, khi nền kinh tế chuyển đổi từ
cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường thì chính sách BHXH nói chung và pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, không còn phù hợp, thể hiện trên một số điểm chủ yếu sau:
Trang 18
- Đối tượng áp dụng BHXH còn hạn hẹp; đến trước thời điểm 1993 mới chỉ có 2,6 triệu công nhân viên chức thuộc khu vực Nhà nước được hưởng chính sách BHXH Còn khoản trên 2 triệu lao động làm công, ăn lương trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hàng chục triệu lao động là xã viên hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp chưa được tham gia và hưởng chính sách BHXH
- Mức đóng BHXH còn thấp, mặt khác việc tuân thủ quy định của pháp luật về thu BHXH chưa nghiêm, nên quỹ BHXH chưa đủ chi cho các chế độ BHXH Kinh phí chi trả BHXH hàng năm chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp Theo qui định hàng tháng các cơ quan, đơn vị đóng 15% tổng quỹ tiền lương để thực hiện BHXH, trong đó phần Nhà nước thu theo kế hoạch là 8%, còn 2% để lại cơ sở để trợ cấp khó khăn cho người lao động Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thu 5% để chi cho 3 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Quy định là vậy, nhưng do việc tổ chức thu phân tán, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài nên trên thực tế số thu được là rất ít Số chi BHXH do ngân sách nhà nước phải cấp bù ngày càng tăng, thường là trên 70%
- Chính sách BHXH làm thay cả các chính sách xã hội khác như: chính sách ưu đãi những người tham gia kháng chiến; chính sách về kế hoạch hóa gia đình; tinh giảm biên chế; lấy thời gian công tác quy đổi để hưởng BHXH, trước khi về hưu được nâng lương; tỷ lệ hưởng BHXH cao so với mức đóng…
- Trợ cấp ốm đau trả thay tiền lương không phụ thuộc vào thời gian nghỉ ốm dài hay ngắn và không phân biệt giữa những người làm việc lâu năm với người làm việc ít năm
- Trợ cấp thai sản được hưởng chung là 6 tháng không còn phù hợp với tình hình sử dụng lao động nữ, đặc biệt là những đơn vị sử dụng nhiều lao động nữ
- Chi trả trợ cấp hưu trí, mất sức lao động xuất hiện nhiều bất cập Chẳng hạn như: mức trợ cấp thay tiền lương khi nghỉ hưu thấp, không đảm bảo cuộc sống của người nghỉ hưu 40% số người về hưu có mức lương hưu ngang với mức lương tối thiểu Việc giảm tuổi đời, giảm số năm công tác để hưởng chế độ hưu trí đã dẫn đến độ
dài bình quân nghỉ hưu dài hơn độ dài làm việc Qua khảo sát của Bộ Lao động -
Trang 19Thương binh và Xã hội, trong 950.000 người hưởng hưu ở thời điểm 1992 có 80% chưa hết tuổi lao động, 10% dưới 45 tuổi; thậm chí nhiều người về hưu ở độ tuổi 37, 38 Trong 359.000 người nghỉ mất sức lao động thì dưới 10% là thực sự ốm đau, mất sức,
số còn lại vẫn còn khả năng lao động bình thường [24]
Trước những hạn chế trên, nếu chính sách BHXH nói chung và pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng không được sửa đổi, bổ sung thì ngân sách nhà nước cũng sẽ không còn khả năng để tiếp tục chi trả cho các chế độ BHXH nữa Để khắc phục các hạn chế trên, ngày 22/6/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/CP quy định tạm thời chế độ BHXH, đây có thể được coi là bước chuyển lớn nhất trong chính sách BHXH để phù hợp với nền kinh tế thị trường, nét đổi mới cơ bản ở đây là Chính phủ đã quy định rõ người lao động và chủ sử dụng lao động phải đóng BHXH mới được hưởng quyền lợi BHXH Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng để hình thành quỹ BHXH tập trung, hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước, có khả năng đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ BHXH và phần dư ra để đầu tư tăng trưởng
Tiếp theo Chính phủ lại có những sửa đổi, bổ sung chế độ chính sách BHXH cho phù hợp với tình hình đổi mới ngày càng nhanh của đất nước, bằng việc ban hành Điều
lệ BHXH áp dụng cho cán bộ, công chức, công nhân viên nhà nước và mọi người lao động kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 áp dụng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, bình sĩ quân đội
và công an nhân dân
Việc ban hành và thực hiện Điều lệ BHXH mà trong đó nguyên tắc quan trọng nhất là có đóng BHXH mới được hưởng quyền lợi BHXH trong hơn 9 năm qua đã đem lại những kết quả rất tích cực, số thu BHXH ngày càng lớn, số chi do ngân sách nhà nước cấp giảm dần, sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động trong việc tham gia BHXH đã cơ bản được đảm bảo… Tuy nhiên, để đáp ứng xu thế phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế thì quy định của pháp luật về quản lý thu, chi BHXH trong thời gian qua cũng đã bộc
lộ một số hạn chế, trong đó tập trung chủ yếu vào:
Trang 20
- Đối tượng tham gia BHXH tuy đã được mở rộng và phát triển nhưng vẫn còn hạn hẹp Hiện cả nước có khoảng trên 40 triệu lao động, trong đó khoảng trên 10 triệu lao động có quan hệ lao động nhưng mới có gần 6 triệu người tham gia BHXH bắt buộc
và số này chủ yếu vẫn là lao động thuộc khu vực nhà nước; số lao động làm việc ở các
cơ sở sản xuất, kinh doanh ngoài quốc doanh, kể cả các doanh nghiệp liên doanh và 100% vốn đầu tư nước ngoài tham gia BHXH còn thấp, chỉ chiếm khoảng 15 - 20% trong tổng số lao động phải tham gia theo luật định Hạn chế này đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chi trả và tốc độ tăng trưởng của quỹ BHXH
- Mức hưởng của người lao động chưa tương ứng với mức đóng, quy định mức hưởng hiện nay tuy cao, những người về hưu đời sống vẫn khó khăn, do giá trị thực tế của tiền lương nước ta còn thấp
- Quyền lợi về BHXH của người lao động chưa công bằng, người đóng ít về hưu sớm, hưởng chế độ thời gian dài, ngược lại người đóng BHXH dài chưa hưởng chế
độ hưu hoặc mới hưởng một vài năm đã chết mà không có thân nhân đủ điều kiện hưởng tuất hàng tháng thì chỉ được hưởng tối đa 12 tháng lương hoặc trợ cấp Chính sách chưa khuyến khích người lao động đóng cao hưởng cao
- Các quy định của pháp luật về xử lý các vi phạm về nghĩa vụ đóng BHXH chưa chặt chẽ, chưa có cơ chế rõ ràng do vậy tỷ lệ thất thu BHXH còn rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chi trả và tăng trưởng của quỹ BHXH
Trước những hạn chế, bất cập trên, đòi hỏi chính sách BHXH nói chung và quy định của pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện để phù hợp với tình hình mới của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa
Tóm lại, thực tiễn hoạt động thu, chi BHXH qua từng thời kỳ, nhất là từ thời kỳ
đổi mới của đất nước, chúng ta thấy rằng việc phải thường xuyên sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các quy định của pháp luật về thu, chi BHXH là tất yếu khách quan và là nhu cầu cần thiết để tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật về chính sách BHXH nói chung
và các quy định pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng Minh chứng cho kết luận trên ta có thể tham khảo qua con số sau: Theo thống kê chưa đầy đủ của Bảo hiểm xã
Trang 21hội Việt Nam, từ 1946 đến 2003 nước ta đã có trên 200 văn bản xây dựng mới, văn bản sửa đổi, bổ sung về lĩnh vực BHXH để chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện Có thể nói, BHXH là một trong những lĩnh vực có nhiều văn bản nhất của nước ta
1.4 Kinh nghiệm thực tiễn của một số nước về hoạt động bảo hiểm xã hội 1.4.1 Hoạt động Bảo hiểm xã hội của Công hòa Liên bang Đức
So với các nước trên thế giới, Cộng hòa Liên bang Đức là nước có lịch sử ra đời
và phát triển BHXH sớm nhất Ngay từ năm 1850, dưới thời thủ tướng Bismark, điều luật BHXH đầu tiên đã ra đời và thực hiện ở nước Đức Cho đến nay, chính sách BHXH
ở Đức bao gồm các chế độ cụ thể sau:
- Bảo hiểm thất nghiệp;
- Bảo hiểm y tế;
- Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cho người già và người tàn tật;
- Bảo hiểm ốm đau;
- Bảo hiểm tai nạn lao động;
- Bảo hiểm hưu trí
Hoạt động BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức thực hiện theo ba hệ thống chính là:
Trang 22dưới thời thủ tướng Bismark, đây là hình thức tự chịu trách nhiệm, cũng như độc lập tương đối với sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, nhưng lại chịu sự giám sát của Nhà nước về tính hợp pháp của các biện pháp quản lý Dưới đây, chúng ta có thể thông qua hoạt động của quỹ hưu trí viên chức Liên bang để hình dung ra phần nào hoạt động thu, chi BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức
Quỹ hưu trí viên chức liên bang là một trong 27 tổ chức hoạt động trên lĩnh vực bảo đảm chế độ hưu trí cho người lao động ở Cộng hòa Liên bang Đức Cơ quan quản
lý cao nhất gồm một Hội đồng gồm 60 người, trong đó 30 người là giới chủ và 30 người của tổ chức công đoàn đại diện cho người lao động Hội đồng này bổ nhiệm Ban điều hành, từ Ban điều hành sẽ quyết định tuyển chọn cán bộ, công nhân viên chức làm việc cho tổ chức (năm 2001, tổ chức này có 27.000 cán bộ, công chức) Hoạt động tài chính trong năm của Quỹ hưu trí viên chức liên bang diễn ra như sau:
Vào mùa hè hàng năm, các chuyên gia của Chính phủ Liên bang, Tổ chức BHXH, Tổng cục Thống kê dự kiến nhu cầu tài chính của năm tới theo phương pháp ước tính: căn cứ vào những số liệu của Tổng cục Thống kê có liên quan đến số người lao động đang làm việc, số người đang nhận lương hưu, ước tính số người sẽ tham gia BHXH và nhận lương hưu vào năm tới, cũng như những số liệu về thất nghiệp, ốm đau,
tử vong xảy ra và các số liệu kinh tế quốc dân vĩ mô khác để ước tính tỷ lệ thu, chi BHXH cho năm tới Trên cơ sở này, vào mùa thu, Chính phủ Liên bang sẽ đưa ra quyết định chính thức về tỷ lệ thu, chi BHXH trong năm tới là bao nhiêu bằng một nghị định
có hiệu lực pháp luật Đến đây, công việc của Quỹ hưu trí viên chức liên bang mới thực
sự bắt đầu, từ thu phí BHXH đến chi trả cho các đối tượng hưởng lương hưu theo quy định của Chính phủ
ở Cộng hòa Liên bang Đức, ngoài các tổ chức quản lý hoạt động BHXH của Nhà nước, còn có các tổ chức của tư nhân, xí nghiệp đứng ra thực hiện các chế độ BHXH Điểm đặc biệt của hoạt động BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức là quỹ BHXH thông thường chỉ đủ dùng để chi trả cho các đối tượng hưởng BHXH trong năm; chi cho hoạt động của bộ máy quản lý và một khoản để dự trữ gọi là dự trữ trần Do sự ổn định của nền kinh tế và sức mua của đồng tiền, nên khoản dự trữ trần thường là chỉ đủ để chi
Trang 23cho các đối tượng do quỹ đảm bảo trong một tháng, từ năm 2001 rút xuống chỉ còn 0,8 tháng Vì vậy khái niệm quỹ BHXH không tồn tại ở Cộng hòa Liên bang Đức
Cộng hòa Liên bang Đức không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng một lúc nhiều chế độ, mà thông thường mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm thu, chi cho một chế
độ nhất định Điểm đáng lưu ý về chính sách BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức là những người được gọi là công chức nhà nước (những người được đề cử vào bộ máy quản lý Nhà nước) không phải là đối tượng đóng BHXH, nhưng họ nhận được lương hưu khi hết tuổi lao động, khoản này Nhà nước lấy từ nguồn thu thuế để trả Hiện nay, tuổi nghỉ hưu của người lao động ở Cộng hòa Liên bang Đức nam là 65 tuổi, nữ là 55 tuổi
1.4.2 Hoạt động bảo hiểm xã hội ở Thái Lan
Cho đến nay Thái Lan vẫn còn hai Luật An sinh xã hội (tức BHXH) đang cùng
có hiệu lực Một đạo luật ban hành năm 1990 và một đạo luật ban hành năm 1994 (sửa đổi, bổ sung một số điều trong đạo luật năm 1990 và được gọi chính thức là Luật An sinh xã hội lần thứ 2)
Về các chế độ BHXH, Điều 54, Luật An sinh xã hội năm 1990 quy định 7 chế
Trang 24Nguồn: Luật An sinh xã hội của Thái Lan
Riêng hai chế độ phụ cấp con và trợ cấp tuổi già theo quy định của Luật An sinh xã hội, đến năm 1999 mới thi hành
Việc quy định người tham gia BHXH không thống nhất ở các chế độ, cụ thể: đối với các chế độ trợ cấp mất khả năng lao động, hưu trí, tử tuất ốm đau và thai sản,
Trang 25những người bắt buộc phải tham gia là những người làm việc trong các doanh nghiệp có
từ 10 lao động trở lên, còn đối với chế độ tai nạn lao động là những người làm việc trong các ngành công nghiệp hoặc các hãng thương mại có từ 10 lao động trở lên, các ngành khác không bắt buộc Tuổi nghỉ hưu ở Thái Lan quy định chung cho cả nam và
nữ đối với các viên chức chính phủ từ Trung ương đến địa phương; với quân đội, cảnh sát là 60 tuổi; các đối tượng khác là 55 tuổi Điểm đáng lưu ý ở đây là, Luật An sinh xã hội không áp dụng đối với các quan chức chính phủ và các viên chức thường xuyên, các viên chức tạm tuyển làm việc theo ngày và theo giờ của chính quyền trung ương, chính quyền tỉnh và chính quyền địa phương; trừ các viên chức tạm tuyển làm việc theo tháng Các đối tượng này được điều chỉnh bằng một đạo luật khác, theo đó họ chỉ phải đóng 3% tiền lương tháng để nhận được chi phí điều trị khi ốm đau và lương hưu do Chính phủ đảm bảo sau khi đã đủ các điều kiện về tuổi đời và thời gian phục vụ
1.4.3 Hoạt động bảo hiểm xã hội ở Trung Quốc
Ngay sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành một loạt những biện pháp có hiệu quả giải quyết thành công tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng do chính quyền Trung Quốc cũ để lại và đảm bảo cuộc sống cơ bản cho người dân Để tăng cường phát triển kinh tế và ổn định xã hội, dần dần nâng cao mức sống và lợi ích an toàn xã hội của công dân nói chung, Chính phủ Trung Quốc đã rất cố gắng thiết lập một hệ thống an toàn xã hội vững chắc và phù hợp với kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Sau những năm tìm tòi và thực hiện, một hệ thống
an toàn xã hội về cơ bản đã được thiết lập, chủ yếu bao gồm BHXH, cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội và trợ giúp xã hội; trong đó chính sách BHXH giữ một vai trò quan trọng
Về cải cách hệ thống BHXH, ngày 5/7/1994, ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thông qua Luật Lao động và có hiệu lực từ 1/1/1995, trong đó có chương IX quy định về bảo hiểm và phúc lợi xã hội, gồm 7 điều Điều 73 quy định 5 chế độ BHXH là: hưu trí, bệnh tật, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp và sinh đẻ Luật chỉ quy định những nguyên tắc chung nhất, còn quy định cụ thể
Trang 26thì giao cho chính quyền các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương đề ra những biện pháp thực hiện phù hợp với điều kiện của từng địa phương
Các chế độ BHXH nói trên chỉ áp dụng ở khu vực thành thị và ở các doanh nghiệp Đến nay, các địa phương ở Trung Quốc đã cụ thể hóa các chế độ, trong đó có hai chế độ là hưu trí (nay là dưỡng lão) và bảo hiểm thất nghiệp đã được xây dựng thành điều lệ Các chế độ khác về cơ bản còn là các quy định tạm thời nhưng hiệu lực cũng khá cao Về nguyên tắc, mỗi chế độ có một quỹ riêng Nguồn quỹ gồm hai khoản: Một khoản do chủ sử dụng lao động nộp và một khoản do người lao động đóng Riêng quỹ bảo hiểm tai nạn lao động thì do chủ doanh nghiệp đóng, người lao động không phải đóng Chỉ khi nào mất cân đối thu, chi do các nguyên nhân bất khả kháng, Nhà nước mới hỗ trợ từ ngân sách cho các quỹ, còn bình thường các doanh nghiệp và người lao
động phải tự đảm bảo Nói chung, các quỹ đều được chia làm hai phần: Phần thứ nhất
được đưa vào tài khoản cá nhân gồm toàn bộ số tiền do người lao động đóng và một
phần do chủ sử dụng lao động đóng; phần thứ hai là số tiền do chủ doanh nghiệp đóng
sau khi đã trích một phần đưa vào tài khoản cá nhân của người lao động, đây là phần quỹ chi chung trong những trường hợp cần thiết
Ta có thể hiểu được hoạt động BHXH ở Trung Quốc qua một chế độ cụ thể: Chẳng hạn chế độ hưu trí (chế độ dưỡng lão) Với nguyên tắc như trên, thành phố Thượng Hải qui định như sau:
- Mức đóng vào quỹ: Hàng tháng chủ doanh nghiệp đóng 22,5% tiền lương của người lao động, người lao động đóng 6% tiền lương của mình Như vậy, trong tài khoản riêng (tài khoản cá nhân) của mỗi người lao động có 6% do họ đóng và 5% được trích
từ 22,5% do chủ doanh nghiệp đóng, tất cả là 11% Khoản sử dụng chung còn lại là 17,5% (22,5% - 5%) Người lao động khi về hưu hàng tháng được hưởng như sau: 20% mức lương trung bình trong cả thời gian làm việc, cộng với 1/120 số tiền có trong tài khoản cá nhân (dự kiến người về hưu hưởng trung bình khoảng 10 năm, tức 120 tháng) Nếu những người "tiếp nối" giữa hai chế độ (trước cải cách và từ cải cách trở đi) thì cộng thêm phần quá độ, vì chế độ hiện hành mới có từ sau năm 1992 trở lại đây Trường hợp người về hưu chết, nhưng tiền trong tài khoản cá nhân vẫn còn, thì vợ, chồng, con
Trang 27cái (người thừa kế) được hưởng; nghĩa là, tiền còn trong tài khoản cá nhân, thì họ và gia đình họ sẽ được hưởng hết
Sau nhiều năm thực hiện chương trình Bảo hiểm tuổi già (hưu trí), ở Trưng Quốc, các cán bộ, công nhân viên chức tham gia đã tăng từ 86,7 triệu người vào năm
1977 đến 108,02 triệu người vào năm 2001 Vì vậy, con số những người được nhận lương hưu cơ bản cũng tăng lên từ 25,33 triệu đến 33,81 triệu, với mức lương hưu cơ bản trung bình hàng tháng của từng người tăng từ 430 tệ lên 556 tệ (khoảng 950.000 Việt Nam đồng) vào các năm tương ứng
Từ năm 1991, Trung Quốc bắt đầu triển khai hệ thống bảo hiểm tuổi già ở một
số vùng nông thôn, với nguyên tắc cơ bản là tiền đóng BHXH chủ yếu do người lao động phải tự đóng, ngoài ra được phụ thêm bằng quỹ vốn chung của tập thể và được hỗ trợ bởi các chính sách khác của Chính phủ Tuổi nghỉ hưu ở Trung Quốc tương tự ở
55 tuổi; riêng công nhân thì nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi
- Về tổ chức quản lý hoạt động BHXH, từ năm 1990 các chế độ BHXH bị phân tán và do nhiều cơ quan của Chính phủ đảm nhiệm, chỉ từ năm 1998 trở lại đây mới thành lập Bộ Lao động và An sinh xã hội để quản lý chế độ, chính sách BHXH, còn việc thực hiện cụ thể lại do từng địa phương thực hiện
Qua kinh nghiệm thực tiễn hoạt động BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức, Thái Lan và Trung Quốc, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Các nước luôn cố gắng thực hiện ngày càng nhiều và tốt hơn các chế độ BHXH nhằm đáp ứng những yêu cầu thiết yếu của người lao động khi gặp rủi ro, bị giảm hoặc mất thu nhập
- Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, các nước có những quy định cụ thể khác nhau về mức đóng, điều kiện được hưởng và mức hưởng
- Tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở các nước khác nhau cũng khác nhau, không có mô hình chung cả các nước; thông thường mỗi chế độ BHXH đều do một tổ chức thực hiện, ít có tổ chức thực hiện cùng một lúc nhiều chế độ khác nhau
Trang 28
- Riêng đối với Trung Quốc, mặc dù mới chỉ áp dụng một số chế độ BHXH ở khu vực thành thị và các doanh nghiệp, nhưng chính sách BHXH của họ đã thể hiện rõ một số mặt tích cực sau:
+ Đối với người lao động từ khi bắt đầu đi làm cho đến một thời gian nào đó,
họ hoàn toàn có thể biết được mình có bao nhiêu tiền trong tài khoản cá nhân của họ về BHXH Số tiền đó dù trước, dù sau (nhất là trong tài khoản dưỡng lão) họ hoàn toàn được hưởng, nên tự họ có sự điều chỉnh, sử dụng thế nào cho nó có hiệu quả nhất, do đó
cơ bản tránh được tình trạng phân bì người đóng ít hưởng nhiều, đóng nhiều hưởng ít hoặc không hưởng Người lao động biết được, ngoài số tiền do họ đóng thuộc sở hữu cá nhân của họ, họ còn được hưởng một phần từ đơn vị sử dụng lao động và từ quỹ chung, nên họ hăng say làm việc và đóng góp, hiện tượng chậm nộp hoặc trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH là rất hãn hữu
+ Về chi trả, vì mỗi người đã có một tài khoản cá nhân, nên khi đủ các điều kiện
để được hưởng BHXH, họ chỉ việc đến Ngân hàng hoặc Bưu điện để nhận tiền Nói cách khác, ngân hàng và bưu điện chịu trách nhiệm chi trả các khoản BHXH, không cần đến một hệ thống chi trả đông người, nhiều biên chế, khó bảo đảm an toàn tiền mặt
+ Mặc dù giao quyền trực tiếp cho các địa phương chủ động thực hiện chính sách BHXH, nhưng Nhà nước vẫn có vai trò rất quan trọng trong quản lý hoạt động BHXH, thông qua việc định hướng, xây dựng pháp luật, chính sách, khi cần thiết mới
hỗ trợ từ Ngân sách cho các quỹ Đồng thời, thực hiện nghiêm ngặt việc thanh tra, kiểm tra
Với cách quy định mức nộp, mức hưởng, tài khoản cá nhân, quỹ sử dụng chung như đã trình bày, Nhà nước, chủ doanh nghiệp và người lao động đều thấy khá rõ phần nào thuộc về ai, nên đã cơ bản khắc phục được tình trạng sử dụng sai mục đích, lẫn lộn giữa các quỹ của chế độ này sang quỹ của chế độ khác, hoặc bị thất thoát
Trang 29
Chương 2
Thực trạng pháp luật
về quản lý Thu, Chi Bảo hiểm xã hội
2.1 Nội dung chủ yếu của pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội
2.1.1 Về quản lý thu bảo hiểm xã hội
Nhìn lại các văn bản pháp luật quy định đối tượng tham gia và mức đóng BHXH từ khi nước ta thực thi chính sách BHXH ta thấy các quy định về quản lý thu, chi BHXH luôn có sự thay đổi cả về mức đóng, mức hưởng và tổ chức thực hiện, cụ thể là:
- Ngay từ năm 1946 đã thực hiện đóng BHXH; theo Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/6/1946 thì từ 1/1/1946 công chức phải đóng phí bảo hiểm hưu trí bằng 6-10% tiền lương, còn Nhà nước hỗ trợ thêm với tư cách là người sử dụng lao động bằng 7-10% so với tổng quỹ lương của công chức
- Đến năm 1962, Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH có hiệu lực thi hành lại quy định chỉ cơ quan, xí nghiệp, công trường, lâm trường, nông trường phải đóng BHXH hàng tháng với mức 4,7% so với tổng quỹ tiền lương, nhưng lại quy định rõ: Đối với cơ quan hành chính sự nghiệp, phần nộp này do ngân sách nhà nước cấp; đối với xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường thì phần này tính vào giá thành sản phẩm Như vậy, ở thời kỳ này người lao động không phải đóng BHXH
- Từ năm 1964 vẫn áp dụng mức đóng 4,7% nhưng lại tách ra 3,7% giao cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý để chi trả các chế độ ngắn hạn là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, còn 1% giao cho Bộ Nội vụ quản lý
để chi trả các chế độ dài hạn là hưu trí, tử tuất và mất sức lao động Mức nộp 4,7% này kéo dài đến 1986
- Từ 30/6/1986 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) có Quyết định số 187/HĐBT sửa đổi tỷ lệ trích nộp kinh phí cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Trang 30quản lý từ 3,7% lên 5%; còn 1% do Bộ quản lý lên 10%, trong đó dành 2% để lại ở cơ
sở làm trợ cấp khó khăn cho cán bộ, công nhân viên chức
- Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI nước ta thực hiện quy chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định số 233/HĐBT ngày 22/6/1990 Quy chế này ghi rõ: Người lao động và xí nghiệp cùng có nghĩa vụ đóng BHXH với mức ngang nhau, người lao động đóng bằng 10% tiền lương, xí nghiệp đóng 10% tổng quỹ tiền lương
- Tiếp đến Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP ngày 22/6/1993 quy định tạm thời chế độ BHXH đã xác định: Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước Người sử dụng lao động đóng bằng 15% tổng quỹ tiền lương, người lao động đóng bằng 5% tiền lương
Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành từ 1/1/1995 đã chính thức ghi nhận cơ chế đóng góp của ba bên và mức đóng như trên
Ngoài ra, do thay đổi về tổ chức, ngày 24/1/2002, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển Bảo hiểm y tế Việt Nam sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam, nên từ năm 2003 theo quy định của pháp luật về quản lý thu còn thêm 3% mức thu BHYT, trong đó người lao động đóng bằng 1% tiền lương, người sử dụng lao động đóng bằng 2% tổng quỹ tiền lương Như vậy, mức thu BHXH từ năm 2003 là 23% trong đó người lao động đóng 6% tiền lương, người sử dụng lao động đóng 17% tổng quỹ lương Mức thu 23% được thực hiện đến nay chưa có gì thay đổi
Về tổ chức thu và quản lý quỹ BHXH, thời kỳ đầu chức năng thu và quản lý quỹ
BHXH chưa được xác định rõ, chỉ đến khi có Nghị định số 39/CP ngày 22/3/1962 mới quy định nguồn thu và cơ quan chịu trách nhiệm Nguồn thu BHXH lúc này gồm:
+ Tiền do các cơ quan, đơn vị, các xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường… của Nhà nước nộp hàng tháng vào quỹ BHXH theo một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tổng quỹ tiền lương;
+ Tiền trợ cấp hàng năm của Nhà nước cho quỹ BHXH trong những trường hợp thật cần thiết;
+ Các khoản thu khác thuộc quỹ BHXH của Nhà nước
Trang 31Quy định của pháp luật về quản lý thu BHXH thời kỳ trước 1995 mặc dù đã có
cơ quan chịu trách nhiệm, nhưng cơ chế thực hiện lại không rõ nên đã phát sinh nhiều bất cập Cụ thể là phần quỹ do hệ thống Công đoàn thu và quản lý chỉ được phản ảnh trên sổ sách, còn thực tế là thực hiện phương thức khoán thu, khoán chi, nghĩa là đơn vị
sử dụng lao động tự chi trả cho người lao động khi đủ điều kiện hưởng các chế độ BHXH ngắn hạn, số còn lại mới nộp lên tổ chức công đoàn một tỷ lệ nhất định để chi hoạt động bộ máy quản lý Còn phần quỹ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý lại nhờ cơ quan thuế thu hộ (đối với các xí nghiệp, công, nông, lâm trường) phần đóng của đơn vị hành sự nghiệp thì do ngân sách nhà nước giữ lại ngay khi cấp lương cho đơn vị Còn các chế tài pháp luật đảm bảo cho việc thực hiện thu, nộp BHXH gần như không có Với cơ chế và tổ chức thực hiện như vậy, cộng thêm điều kiện sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp luôn gặp khó khăn, nên thời kỳ trước 1995 quỹ BHXH chỉ tồn tại trên danh nghĩa
2.1.2 Về quản lý chi bảo hiểm xã hội
- Thời kỳ đầu thành lập nước do có nhiều khó khăn về kinh tế nên nước ta mới chỉ thực hiện chi trả cho một chế độ BHXH - đó là chế độ hưu trí, việc chi trả cho chế
độ này được quy định trong Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/6/1946 Đến năm 1950 bằng Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 đã quy định rộng hơn các chế độ BHXH được ngân sách nhà nước đảm bảo chi trả đó là các chế độ: hưu trí, thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và tử tuất
- Sau khi hòa bình lập lợi ở miền Bắc, thực hiện Hiến pháp 1959, Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức
Trang 32nhà nước kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/11/19761 và Nghị định số 39/CP ngày 22/3/1962 quy định nội dung thu, chi của quỹ BHXH, trong đó đã ghi rõ: Quỹ BHXH của Nhà nước có nhiệm vụ đài thọ tất cả các khoản chi dưới đây:
- Trợ cấp khi công nhân viên chức nhà nước ốm đau;
- Trợ cấp khi nữ công nhân viên chức nhà nước sinh đẻ, thai sản, mất sức;
- Trợ cấp khi công nhân viên chức nhà nước về hưu;
- Trợ cấp chôn cất và tiền tuất khi công nhân, viên chức nhà nước chết;
- Các chi phí về công tác quản lý quỹ BHXH và quản lý sự nghiệp BHXH;
- Quỹ BHXH của Nhà nước không kết dư Nếu quản lý tốt mà hàng năm còn thừa tiền thì được phép dùng số tiền thừa đó chi vào việc xây dựng thêm các sự nghiệp BHXH
- Ngày 22/6/1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP quy định tạm thời chế độ BHXH với nội dung quan trọng là nhằm xóa bỏ tư duy bao cấp, ỷ lại trong lĩnh vực thu, chi BHXH mở ra loại hình BHXH bắt buộc và tự nguyện Theo Nghị định có 5 chế độ BHXH được pháp luật đảm bảo chi trả cho người lao động khi đủ điều kiện hưởng theo quy định là:
Ngoài việc quy định các chế độ BHXH và tỷ lệ được đảm bảo chi trả, pháp luật
về quản lý chi trong thời kỳ này đã có những quy định cụ thể về nguồn chi và cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm Nguồn kinh phí đảm bảo chi trả cho các chế độ BHXH được lấy
Trang 33
từ hai nguồn là ngân sách nhà nước (nguồn này để đảm bảo chi trả cho các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH từ năm 1994 trở về trước) và nguồn từ quỹ BHXH dùng để chi trả cho các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH từ năm 1995 trở
đi
Về tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện công tác chi trả BHXH, từ năm 1994
trở về trước là do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chi trả các chế độ dài hạn: hưu trí, tử tuất và mất sức lao động và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chi trả các chế
độ ngắn hạn: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Từ năm 1995 đến nay, việc chi trả các chế độ BHXH được tập trung về một đầu mối là Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Ngoài các quy định trên, từ năm 2003 các chế độ do Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện chi trả còn bao gồm thêm chế độ BHYT (Theo quy định của Tổ chức Lao động quốc tế thì chăm sóc y tế là một trong 9 chế độ An sinh xã hội và trên thực tế ở nhiều nước trên thế giới chế độ này đều do cơ quan BHXH đảm nhận Còn ở nước ta, chế độ này được thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước từ năm 1992 và do Bảo hiểm y tế Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế thực hiện từ khâu thu phí đến việc thanh toán tiền khám, chữa bệnh cho các đối tượng tham gia BHYT)
2.2 Thực trạng thi hành luật pháp về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội
2.2.1 Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội
Để phân tích và đánh giá khách quan kết quả thực hiện pháp luật về quản lý thu BHXH, ta có thể chia ra các thời kỳ sau:
2.2.1.1 Thời kỳ từ 1962 - 1994
ở đây ta không xem xét đến khoảng thời gian từ 1961 trở về trước là vì ở thời
kỳ này chính sách BHXH mới chỉ được thực hiện trong một phạm vi rất hẹp, đối tượng tham gia ít Thời kỳ có quy định cán bộ, công nhân viên chức nhà nước phải đóng BHXH nhưng trên thực tế không có cơ chế thực hiện, nguồn kinh phí để chi trả các chế
độ BHXH mà chủ yếu là chế độ hưu trí do ngân sách nhà nước đảm bảo
Trang 34
- Từ năm 1962 Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với cán bộ, công nhân viên chức nhà nước ban hành kèm theo Nghị dịnh số 218/CP ngày 27/12/1961 có hiệu lực và sau này là Nghị định số 161/CP ngày 30/10/1964 ban hành Điều lệ BHXH tạm thời đối với quân nhân Các nghị định này đã quy định rõ: Đối tượng tham gia BHXH là cán bộ, công nhân viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang và với mức đóng là 4,7% tổng quỹ tiền lương từ các cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường và lâm trường Quy định là vậy nhưng trên thực tế ở thời kỳ này có rất nhiều khó khăn, đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh, chia cắt hai miền Nam, Bắc Vì vậy, việc thực hiện chính sách BHXH cũng chưa có gì khả quan, đối tượng tham gia vẫn còn ít, cơ chế thực hiện cũng chưa có gì rõ ràng Mặt khác tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn gặp khó khăn nên hầu hết các đơn vị không có khả năng đóng góp để hình thành quỹ BHXH theo quy định của pháp luật
- Tiếp đến này 18/9/1985, cùng với việc cải tiến chế độ tiền lương, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT bổ sung, sửa đổi chế độ BHXH cho công nhân viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang với các sửa đổi, bổ sung quan trọng là: Nguồn tài chính để thực hiện chính sách BHXH một phần do các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng, phần còn lại do ngân sách nhà nước cấp Mức đóng theo quy định được nâng lên 13% so với tổng quỹ lương của xí nghiệp (Nghị định 218/CP quy định là 4,7%) Mặc dù Nghị định số 236/HĐBT quy định khá chặt chẽ trách nhiệm đóng góp của đơn vị, doanh nghiệp, nhưng thời gian này do các nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, mà chủ yếu vẫn là do các doanh nghiệp sản xuất khó khăn, làm ăn kém hiệu quả, cộng với cơ chế hoạt động BHXH bao cấp, nên số người tham gia và số tiền thu được từ các đơn vị, các doanh nghiệp là rất hạn chế; số tiền thu được chỉ đảm bảo một phần rất nhỏ trong số phải chi ra cho các chế độ BHXH, dẫn đến tình trạng ngân sách nhà nước tiếp tục phải cấp bù ngày càng tăng
- Từ năm 1993 chính sách BHXH đã có sự đổi mới căn bản, đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn, bao gồm cả những người làm việc hưởng lương hoặc tiền công ở những doanh nghiệp có sử dụng lao động từ 10 người trở lên không phân biệt khu vực Nhà nước hay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Về mức đóng BHXH cũng được nâng lên 20% (người lao động đóng bằng 5% tiền lương, người sử dụng lao động
Trang 35đóng bằng 15% tổng quỹ tiền lương) Tuy nhiên, trên thực tế số lao động tham gia BHXH không đáng kể, tính đến cuối năm 1993 mới có 2,6 triệu người tham gia Còn tình hình thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH cũng chưa có gì khả quan hơn, mới có rất ít đơn vị sử dụng lao động đóng BHXH, còn phần lớn người lao động vẫn chưa thực hiện Nguyên nhân có nhiều, nhưng trong đó nguyên nhân chính là chưa có cơ chế cụ thể để thực hiện, nhất là các quy định của pháp luật trong việc xử lý các cá nhân, đơn vị trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH Chúng ta có thể thấy được hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về quản lý thu BHXH ở các thời kỳ qua các số liệu ở biểu số 2.1 và số biểu số 2.2
Trang 36
Biểu số 2.1: Thu BHXH và phần ngân sách nhà nước cấp bù
để chi các chế độ BHXH ngắn hạn
(Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý từ 1962 đến 1994)
Năm Thu BHXH (%) NSNN cấp bù để chi BHXH(%)
Trang 37(Nguồn: Báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam)
Biểu số 2.2: Thu BHXH và phần ngân sách nhà nước cấp bù
để chi các chế độ BHXH dài hạn
(Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quản lý từ năm 1964 đến 1994)
Năm Thu BHXH (%) NSNN cấp bù để chi BHXH (%)
Trang 38(Nguồn: Báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
Qua số liệu của biểu số 2.1 ta nhận thấy, số thu BHXH do tổ chức Công đoàn quản lý qua các năm đạt khá cao Có kết quả này là do:
Trang 39
- Tổ chức Công đoàn thực hiện cơ chế khoán thu, khoán chi, tức là ủy quyền cho các đơn vị sử dụng lao động tự thu, tự chi các chế độ BHXH ngắn hạn Vì vậy, hoạt động quản lý thu BHXH do tổ chức Công đoàn chịu trách nhiệm chỉ được phản ảnh trên
sổ sách, chứng từ, còn thực tế tiền thu BHXH nằm lại đơn vị sử dụng lao động để chi trả cho người lao động Nên việc các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện việc thông báo cho tổ chức Công đoàn về tình hình thu, chi BHXH các chế độ ngắn hạn của đơn vị là rất đơn giản và hoàn toàn thực hiện được
- Số thu và chi cho các chế độ BHXH ngắn hạn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng thu và tổng chi BHXH
Nhìn vào biểu số 2.2 ta thấy tình hình ngược lại, tiền thu BHXH do cơ quan Lao động Thương binh và Xã hội quản lý đạt rất thấp; nguyên nhân của tình hình này là:
- Hoạt động BHXH diễn ra trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Trong
cơ chế này đơn vị sử dụng lao động đóng BHXH cũng được, không đóng cũng không bị
xử lý; mặt khác, trong quá trình sản xuất kinh doanh, không ít các doanh nghiệp gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ, Nhà nước liên tục phải bù lỗ, nên không có khả năng đóng BHXH Vì vậy, để đảm bảo chi trả cho các chế độ BHXH dài hạn, ngân sách nhà nước phải cấp bù ngày càng tăng, năm cao nhất lên đến 98% (năm 1987)
- Cơ quan quản lý quỹ BHXH là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, nhưng lại không phải là đơn vị trực tiếp thu BHXH, mà do cơ quan Tài chính, Thuế thu hộ; nhiệm vụ này chỉ là phần việc làm kết hợp chứ không phải là nhiệm vụ chính của các cơ quan này, do vậy không thể nào có kết quả cao được
- Về phương thức đóng, các đơn vị sử dụng lao động phải nộp vào cơ quan Tài chính hoặc thuế, không được thực hiện cơ chế khoán thu, khoán chi như việc thực hiện các chế độ BHXH ngắn hạn Vì vậy, ngoài lý do sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, không ít đơn vị, doanh nghiệp viện dẫn lý do này, lý do khác để né tránh khoản trích nộp này, bởi vì họ biết rằng không nộp nhưng khi người lao động do đơn vị quản lý đủ tuổi nghỉ hưu vẫn được giải quyết bình thường
2.2.1.2 Thời kỳ từ 1995 đến nay
Trang 40Trước tình hình quỹ BHXH chỉ tồn tại trên danh nghĩa, mọi khoản chi cho các chế độ BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm bảo và số này ngày một lớn do
số đối tượng đủ điều kiện được hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH ngày một tăng Nhà nước đã quyết định chuyển đổi hoạt động BHXH của nước ta từ cơ chế ngân sách nhà nước bao cấp để chi trả các chế độ BHXH sang cơ chế quỹ BHXH phải tự cân đối thu, chi dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, cộng dồn chia sẻ rủi ro, người lao động phải đóng BHXH mới được hưởng quyền lợi BHXH Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách thu, chi, xét duyệt hồ sơ hưởng BHXH tập trung vào một đầu mối; không phân tán
ra nhiều cơ quan như trước đây, tách hoạt động quản lý Nhà nước về BHXH ra khỏi hoạt động sự nghiệp BHXH Với những thay đổi căn bản trên, việc thực hiện pháp luật
về quản lý thu BHXH đã có những chuyển biến rất tích cực
Trước hết, từ 1/1/1995 các đối tượng bắt buộc phải tham gia BHXH theo luật định đã được mở rộng đáng kể, theo quy định các đơn vị có sử dụng từ 10 lao động trở lên không phân biệt thành phần kinh tế nhà nước hay ngoài nhà nước đều phải tham gia BHXH Gần đây nhất Nghị định 01/2003/NĐ-CP ngày 9/1/2003 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH tiếp tục mở rộng hơn nữa đối tượng tham gia BHXH bằng việc quy định cả các đơn vị có sử dụng dưới 10 lao động cũng phải tham gia BHXH Nếu trước năm 1995 số lao động tham gia BHXH mới chỉ đạt 2,6 triệu người thì con số này vào năm 2003 đã tăng lên tới 5,3 triệu người tăng 103%, trong đó 1,2 triệu lao động làm việc trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (bao gồm cả doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài)
Về tổ chức thực hiện quản lý thu BHXH, Nhà nước quy định rõ BHXH Việt Nam chịu trách nhiệm thu và quản lý quỹ BHXH để đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời cho các đối tượng đủ điều kiện hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH từ 1995 trở đi
Trên đây là một số nét chung quy định của pháp luật về quản lý thu BHXH, dưới đây chúng tôi sẽ đi vào phân tích thực trạng hoạt động thu BHXH từ 1995 đến nay
Về lý thuyết cũng như thực tiễn, hoạt động thu BHXH muốn đạt hiệu quả cao, ngoài các quy định chung của pháp luật về đối tượng tham gia, về mức đóng, còn đòi hỏi phải có sự gắn kết, cộng tác thường xuyên và tích cực giữa các chủ thể: người lao